Thứ Năm, 31 tháng 1, 2013

KẾ HOẠCH TỔ CHỨC NGÀY THƠ VIỆT NAM



Ngày 26 tháng 01 vừa qua, Ban tổ chức Ngày thơ Việt Nam của Hội VHNT Đắk Lắk đã thông qua kế hoạch:
TỔ CHỨC NGÀY THƠ VIỆT NAM
TẾT NGUYÊN TIÊU QUÝ TỴ - NĂM 2013
TẠI ĐẮK LẮK

Thời gian
Chương trình
Nội dung
Người tham gia 
15/giêng
Kết hợp với Sở VH, TT & DL
Đêm thơ Nguyên tiêu tại Nhà VHTT tỉnh
Chủ trì và chịu trách nhiệm nội dung: Khôi Nguyên
Nhà thơ: Hữu Chỉnh, Phạm Doanh, Đặng Bá Tiến, Ngọc Bích, Lệ Hải
14/giêng
Đêm thơ tại trường DTNT Nơ Trang Lơng
Giao lưu
 Chủ trì : Hồng Chiến
Chịu trách nhiệm nội dung: Đặng Bá Tiến
Nhà thơ: Hữu Chỉnh, Phạm Doanh, Tiến Thảo, Đặng Bá Tiến, Lê Vĩnh Tài, Hoàng Thiên Nga, Y Phôn, Lê Nhật Thanh
12/giêng
Thơ với tuổi trẻ tại Trường CĐSP
Giao lưu
Chủ trì và chịu trách nhiệm nội dung: Niê Thanh Mai
Đặng Bá Tiến, Hữu Chỉnh, Trần Chi, Tiến Thảo, Lê Vĩnh Tài, Phạm Doanh, Hoàng Thiên Nga, Y Phôn, Dương Tấn Bình, Lê Nhật Thanh

Ban tổ chức

DÒNG SÔNG VẪN HÁT

Thác  Dray Nu

(Tiếp theo)



Trước đây nói đến căn cứ cách mạng Nam Ka, người ta thường nghĩ ngay đến vùng đất khô cằn, đường sá cách trở, khó khăn. Bốn bề là núi cao bao bọc, việc đi lại thông thương với bên ngoài chỉ có một cách duy nhất là đi bộ trèo đèo lội suối hoặc dùng voi để vận chuyển. Trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mĩ xâm lược, địa danh Nam Ka là nỗi kinh hoàng của bọn cướp nước và bán nước đồng thời là niềm tự hào của quân và dân ta. Sau ngày thống nhất đất nước, do điều kiện kinh tế còn khó khăn, ta chưa  làm đường lớn vào đây được. Phải đến tận khi có dự án nhà máy thủy điện Nam Ka, con đường rải nhựa, vượt qua núi cao, vực sâu để đến với vùng đất oai hùng một thuở, ô tô xe máy chạy đến tận khu vực hành chính của xã. Ông Trương Quang Hồng, Trưởng ban Quản lý dự án nhà máy thủy điện Buôn Tua Sar cho biết: nhà máy thủy điện Buôn Tua Sar là công trình thủy điện đầu nguồn sông Srê Pôk; theo thiết kế, hồ chứa nước của công trình thủy điện này có dung lượng 800 triệu m3, vốn đầu tư 2.500 tỷ, công suất nhà máy 86 mêgaW. Nếu so với các nhà nhà máy đã và đang thi công trên cùng dòng sông này thì công suất không phải lớn, nhưng có vai trò hết hết sức quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến các nhà máy thủy điện khác cũng như việc phòng chống lũ lụt, vì nó có nhiệm vụ điều tiết nước cho sông Srê Pốc và các nhà máy thủy điện phía đưới. Công trình chính thức khởi công ngày 25 tháng 11 năm 2004 và dự kiến hoàn thành trong năm 2010. Tôi lên thăm công trình được tận mắt chứng kiến cảnh thi công giai đoạn cuối, người xe hối hả làm việc dưới cái nóng oi bức mùa khô. Tình cờ tôi gặp một đoàn người dân tộc Êđê đi làm về đang rửa chân phía dưới chân đập, bà amí H’Jut vui vẻ cho tôi biết: Minh ưng lắm cái con đập này, nó làm cho sông bớt giận giữ, không lên cướp phá bắp lúa như trước đây nữa. Con đường nhựa từ thị trấn vào đây rộng lắm, đi được nhiều xe nên hàng hóa mang vào được nhiều, lại rẻ như ngoài phố, thích lắm. Trả lời câu hỏi của tôi: Công trình này có lấy mất nhiều ruộng rẫy không? Ồ, không nhiều đâu, đây là vùng toàn đá thôi, chúng xếp lại thành ghềnh đẹp lắm; nay nó chìm dưới nước cả rồi. Cả vùng chỉ có 4 hộ được tiền trả công làm rẫy; họ nhận tiền đền bù mua nhiều thứ đẹp lắm, vui lắm. Nhìn những khuôn mặt rạng ngời hạng phúc khi nói về công trình thủy điện đang xây như nói về chính công trình của mình; điều đó chứng tỏ công trình đã được sự đồng thuận của người dân trong vùng. Công trình khởi công, đường sá được làm mới, điện lưới kéo đến tận từng gia đình, trên đầu hồi nhiều nhà đã mắc chảo DTH, bắt sóng truyền hình từ vệ tinh. Nam Ka hôm nay đã có bước chuyển mình về mọi mặt; ngoài đường, điện ra, trường học cũng được đầu tư xây dựng khang trang. Mảnh đất heo hút khi xưa, nay đã trở thành một địa danh du lịch hấp dẫn để du khách đến thăm nhà máy thủy điện và ngắm nhìn đỉnh núi Nam Ca cao 1300 mét so với mặt nước biển, đứng soi bóng xuống mặt hồ; thăm căn cứ cách mạng Nam Ka oai hùng một thuở...
Rời  thủy điện buôn Tua Sar, tôi đến thăm công trình thủy điện Buôn Kup. Đây là công trình thủy điện lớn nhất được xây dựng trên sông Srê Pôk, có vốn đầu tư 5.000 tỷ đồng, công suất nhà máy 280 mêgaw, đường hầm dẫn nước vào nhà máy dài 4,7km (dài nhất Việt Nam và Đông nam Á). Tôi quan tâm đến công trình này vì hồ chứa nước án ngữ ngay sát các dòng thác nổi tiếng như: Dray Sáp 1, Dray Nur, Trinh Nữ… liệu hồ đang đóng cửa tích nước thì các dòng thác sẽ ra sao! Đứng trên con đập chính của nhà máy thủy điện Buôn Kup ngắm nhìn mặt hồ rộng mênh mông, mang nặng phù sa; xa xa về hướng đông bắc, cà phê xanh tốt mỡ màng trải dài xa tít tắp. Tôi hỏi ông Nguyễn Đức Khẩn thôn Quỳnh Ngọc, xã Ea Na, huyện Krông Ana, một lão nông rời quê Thái Bình vào đây lập nghiệp gần ba mươi năm về ý kiến của người dân khi công trình thủy điện xây dựng trên quê hương họ. Ông vui vẻ cho biết: Có cái hồ nước lớn thế này thì tốt quá chứ. Anh xem, cà phê bao quang bờ hồ rất cần nước tưới, nay thì không lo bị thiếu nước, độ ẩm tăng nên năng suất chắc chắn sẽ cao; khí hậu cũng tốt hơn cho sức khỏe con người, ấy là chưa kể sau vài tháng nữa việc kinh doanh, khai thác nguồn lợi thủy sản trên mặt hồ sẽ tạo việc làm cho nhiều hộ nông dân có thêm thu nhập. Nếu các bên liên quan đầu tư thoả đáng thì đây còn là điểm du lịch sinh thái lý tưởng, chắc chắn sẽ thu hút được nhiều du khách đến thăm.
Con đập ngăn nước cơ bản đã hoàn thành, chỉ còn một ít công nhân đang rải đá chuẩn bị rải nhựa và trồng cột đèn điện. Nhìn về phía hạ lưu, dù các cánh cửa đóng kín để tích nước, nhưng trên dòng chính, nước sông vẫn chảy khá mạnh. Tôi hỏi ông Trần Ngọc Ánh: Các cửa đập đều đóng kín, tại sao nước trên sông Srê Pok vẫn chảy nhiều như vậy? Anh nhìn phía chân con đập ấy, nước thấm qua đập đấy. Khi thiết kế, người ta không lường trước được hết các vết nứt của đá nên khi hồ bắt đầu tích nước mới phát hiện ra đập bị thấm nước, bên thi công đã thuê các chuyên gia đầu ngành về khoan, bắn bê tông hiện đại nhất nhưng vẫn không thể khắc phục được, đành phải chấp nhận! Công trình lớn như thế này mà đập nước bị thấm, lượng nước chảy ra sông đạt vận tốc từ 10 đến 12m/giây, liệu tuổi thọ công trình sẽ như thế nào về lâu dài. Như đoán được băn khoăn của tôi, ông Ánh cho biết thêm: Theo tính toán của các chuyên gia, nước chảy qua các kẽ đá ở sâu dưới lòng đất, không ảnh hưởng gì đáng kể đến công trình. Theo cách giải thích như thế, tôi biết vậy chứ mình đâu có chuyên môn trong lính vực này đâu! Xuôi sông Srê Pôk, tôi đến thác Dray Sáp 1 (tên gọi mới của thác Gia Long), cách đập thủy điện Buôn Kup khoảng 2 km; thác vẫn chảy nhưng  diện tích mặt thác bị thu hẹp lại đáng kể, sự hùng vĩ vần còn đó, song đã bớt đi nhiều sự hung dữ. Trời xế chiều, cầu vồng bảy sắc vẫn xuất hiện trên mặt thác. Anh bạn cùng đi với tôi chợt reo lên thích thú khi khám phá ra một điều hết sức mới mẻ về dòng thác: nước rất trong! Đúng thật, nước trong như lọc. Nếu ai đã từng đến thăm những dòng thác trên sông Sê rê pôk trước đây, cho dù đang trong mùa mưa hay cuối mùa khô, chúng ta thấy nước sông vẫn đục ngầu. Còn hôm nay, nước trong xanh, ta có thể nhìn thấy cả những chú cá đang lao mình đùa giỡn với thác. Đây lại là một điều thích thú nữa. Nước trong cũng phải thôi vì nó thấm qua chân con đập, len qua các kẽ đá từ sâu trong lòng đất trước khi trở lại với dòng sông nuôi các dòng thác. Thế là ngoài cả dự kiến của các nhà thiết kế khi hoạch định “nuôi” các dòng thác bằng cung cấp nước qua các van xả, giờ đây dòng sông tự nó tìm ra cách để tồn tại và vẫn cất tiếng hát vang khi qua các dòng thác.
Các công trình thủy điện trên dòng sông “chảy ngược” dù đã hoàn thành hay đang thi công đã góp phần làm phong phú thêm cảnh đẹp Tây Nguyên. Thật khó tin trên vùng đất chỉ có nắng và gió này đã có thêm những hồ nước lớn, không những là nguồn cung cấp điện phục vụ con người mà còn góp phần cải thiện mội trường và có ý nghĩa quyết định đến tăng năng suất cây trồng, tăng sản lượng cà phê, lúa, hoa màu… trên vùng đất mà nó đi qua. Xét cho cùng, chúng ta phải chấp nhận thực tế, một vài thác ghềnh nổi tiếng trên sông có thể bị mất đi hoặc kém dữ dội như xưa, nhưng đổi lại ta có được lợi ích to lớn phục vụ cuộc sống thì sự đánh đổi đó cũng chấp nhận được. Tôi tin cho dù mùa mưa hay mùa khô, dòng Srê Pôk vẫn hát, khúc hát oai hùng, mạnh mẽ, tự tin vì nó đang ngày càng phục vụ cuộc sống, phục vụ con người hữu ích hơn.   

Thứ Hai, 28 tháng 1, 2013

DÒNG SÔNG VẪN HÁT


THÁC Đray Nu




Bút ký của HỒNG CHIẾN

Nhắc đến Dak Lak người ta nghĩ ngay đến vùng đất được mệnh danh là xứ sở cà phê Việt Nam. Quả đúng như vậy, nếu có dịp bạn theo quốc lộ 14A từ Gia Lai qua, hay quốc lộ 26A dưới Khánh Hòa lên, hoặc Quốc lộ 27A bên Đà Lạt về, đến địa phận Dak Lak bạn sẽ thấy những cánh rừng cà phê bạt ngàn, trải dài như vô tận. Cây cà phê sinh trưởng trên mảnh đất ba zan trù phú này phần đa thuộc nhóm cà phê có tên khoa học là Rubusta người dân ở đây gọi nôm na là cà phê vối (vì lá giống với lá cây vối người Việt thường lấy lá nấu nước uống), khác xa so với cà phê các nơi bởi sự đồng đều về chiều cao và tán. Thường thường cây cà phê vối khi đưa vào kinh doanh cao 1,2m tán rộng xấp xỉ 1,4m; nếu cây nào trên 10 tuổi có thể cao tới 1,5m, tán rộng hơn 2m một tý. Mùa hoa cà phê nở tất cả các kẽ lá đều bung ra những chùm hoa trắng tinh khôi, thơm ngát. Mùa hoa cà phê nở cũng là mùa con ong đi lấy mật và mùa bướm bướm về. Không biết loài bướm ở đâu ra mà nhiều đến thế, chúng bay kín trời, màu sắc rực rỡ, bay qua các lô cà phê hàng tháng trời không hết. Nếu ai có dịp tới Dak Lak được chiêm ngưỡng một lần điệu vũ của các loài bướm và hít thở hương thơm của hoa cà phê sẽ trọn đời không quên. Còn người dân sinh ra và lớn lên ở Dak Lak dù vì cuộc sống mưu sinh phải đi xa, nhưng đến mùa hoa cà phê nở cũng háo hức tìm đường về dù chỉ một ngày để thả hồn mình với hoa với bướm rồi đi cho đỡ nhớ.
Nhưng Dak Lak không chỉ có cây cà phê làm say đắm lòng người, mà thiên nhiên còn ban phát cho nơi đây một dòng sông khác lạ, dòng sông chảy ngược. Thông thường ở đất nước Việt Nam chúng ta “trăm sông đổ một biển Đông”, mọi con sông đều từ phía tây chảy xuôi ra biển Đông; riêng sông ở Dak Lak lại chảy ngược, sông bắt nguồn từ phía đông chảy ngược qua phía tây và đổ về sông Mê Kông thuộc địa phận Vương quốc CamPuChia, đó là sông Srê Pôk. Sông Srê Pôk có hai nhánh chính, một nhánh được đặt tên là Krông Ana (theo tiếng Êđê là sông Cái hay còn gọi sông Vợ) bắt nguồn từ dãy ChưYangSin thuộc dải Trường Sơn chảy qua các huyện Krông Pak, Krông Bông và Krông Ana trước khi hợp dòng với sông Krông Knô tạo thành sông Srê Pôk. Nhánh thứ hai bắt nguồn từ tỉnh Lâm Đồng chảy qua địa phận hai tỉnh Dak Nông và Dak Lak trước khi hòa với dòng sông Krông Ana được đặt tên: sông Krông Knô (theo tiềng Ê đê là sông Đực hay còn gọi là sông Chồng); nếu sông Krông Ana hiền hòa, tạo ra những cánh đồng lúa nước rộng lớn, phì nhiêu nơi nó chảy qua thì ngược lại, dòng sông Krông Knô tương đối hung dữ; nó len lỏi qua các dãy núi cao, tạo nên lắm thác ghềnh trước khi ùa vào dòng Krông Ana hình thành sông Srê Pôk. Có lẽ vì “vợ chồng sông” lâu ngày bị chia cắt nên khi chúng gặp nhau đã quấn quýt lấy nhau, gầm thét lao về phía tây tạo nên nhiều thác nổi tiếng như: Thác Đray Sap, Đray Nur, Trinh Nữ, Đray H’Linh… thác nào cũng đẹp, thơ mộng và hung vĩ. Trước đây, khi vùng đất quang thành phố Buôn Ma Thuột còn hoang vu, rừng còn nhiều thú dữ, nhưng ông vua cuối cùng của triều đại nhà Nguyễn – Bảo Đại đã bắt quân dân phục dịch băng rừng lội suối đến thác Đray Sap thưởng thức. Trước cảnh đẹp của thác, ông vua nổi tiếng ăn chơi một thời không ngớt trầm trồ thán phục và lấy ngay tên ông nội của mình đặt tên cho thác, từ đó dòng thác được mang tên: thác Gia Long. Nhắc lại điều ấy để bạn đọc có thể hình dung ra dòng thác hùng vĩ như thế nào!
Sau ngày thống nhất đất nước ngành du lịch Dak Lak tổ chức nhiều tua du lịch đến các dòng thác trên dòng Srê Pôk và thu hút được đông đảo khách du lịch trong và ngoài nước. Đặc biệt từ khi bước qua thế kỉ XXI, với chính sách mở cửa của Đảng và nhà nước ta, nền “công nghiệp không khói” ở Dak Lak có bước phát triển vượt bậc và cũng được đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng tương đối tốt, thu hút ngày càng đông du khách đến thăm, góp phần đáng kể nguồn thu ngân sách cũng như tạo cho nhiều người dân nơi đây có thêm việc làm. Vì thế khi đến Dak Lak du khách không chỉ được thưởng thức ly cà phê thơm ngát chính hiệu mà còn được đi thăm những dòng thác xinh đẹp, đến rồi không muốn về.
Trong những tháng đầu năm 2009, một số báo đưa tin: Các dòng thác trên sông Srê Pôk bị khai tử! Nghe nói giật mình, tôi quyết tâm đi một chuyến xem sao. Theo như sở Công Thương Dak Lak cho biết: trên sông Srê Pôk ngoài nhà máy thủy điện Đray H’Linh được xây dựng từ thập niên 80 của thế kỷ trước vẫn vận hành tốt, hiện nay có 3 nhà máy thủy điện đang thi công và sắp hoàn thành là: nhà máy thủy điện Buôn Tua Sar, nhà máy thủy điện Buôn Kup, nhà máy thủy điện Srê Pôk 3, ngoài ra còn có 2 nhà máy đã được duyệt dự án, sẽ thi công vào thời gian sắp tới là: nhà máy thủy điện Srê Pôk 4 và nhà máy thủy điện Srê Pôk 5.  Dòng sông chảy ngược quả là giàu tiềm năng để khai thác “than trắng”, biến nó thành điện phục vụ sự nghiệp “hiện đại hóa đất nước”. Nhưng những nhà máy thủy điện mọc lên nhiều như vậy có ảnh hưởng gì đến các dòng thác nói riêng và cuộc sống của người dân trên địa bàn Dak Lak nói chung? Cũng có người cho rằng xây dựng các nhà máy thủy điện còn cần phải tính đến diện tích mặt hồ vì đất đai có ít, xây dựng các hồ chưa nước lớn sẽ chiếm mất nhiều diện tích đất thì không có lợi về kinh tế lâu dài. Tôi mang thắc mắc này trao đổi với ông Trần Ngọc Ánh – Trưởng phòng Tổ chức kiêm Chánh văn phòng Ban quản lý thủy điện 5. Ông cho biết: Trong thập niên 60 của thế kỷ trước, nhà thơ Tố Hữu từng viết: “Hỏi đâu thác nhảy – cho điện xoay chiều”; để xây dựng các nhà máy thủy điện, người ta chủ yếu dựa vào các dòng sông có thác, các nhà máy thủy điện được xây dựng trên sông Srê Pôk cũng theo một quy luật ấy cả. Theo như tính toán, các dòng thác vẫn bình thường sau khi nhà máy đi vào hoạt động vì công ty cam kết để tối thiểu lượng nước chảy qua thác là 8 đến 10 m3/ giây. Hiện nay đập chứa nước của thủy điện Buôn Kup đã hoàn thành đang tích nước để chuẩn bị chạy thử, nước trên các thác Gia Long, Dray Nur, Đray Sáp… vẫn chảy bình thường. Tôi phân vân bán tín bán nghi nên quyết tâm đến thăm các công trình thủy điện trên dòng Srê Pok xem sao.
(Còn nữa)

Thứ Bảy, 26 tháng 1, 2013

NHẬT KÝ MỘT CHUYẾN ĐI


(Tiếp theo)
Sáng ngày 29 chúng tôi đến ghềnh Đá Đĩa thuộc địa phận tỉnh Phú Yên, đây là di tích đã được xếp hạng. Từ đất liền nhô ra biển một mỏm đá không lớn lắm, chu vi khoảng sáu bảy chục mét thôi nhưng được sắp xếp hoàn toàn bằng những khối đá ngũ giác có các cạnh khá đều nhau, mỗi cạnh dài hơn 30 cm một tý; đứng xa nhìn ta có cảm giác nó như một tổ ong vàng khổng lồ. Tôi chợt nhớ đến thác Dray Sap cũng có những cột đá hình dáng kích cỡ giống y hệt thế này. Thiên nhiên thật kỳ diệu, từ  ghềnh Đá Đĩa thuộc tỉnh Phú Yên cách xa thác Dray Sap tỉnh Dak Lak hàng mấy trăm cây số sao lại có những cột đá đĩa giống nhau đến vậy! Biển xanh biếc, từng cơn sóng ồ ạt thi nhau chạy vào tung những ngọn nước cao ngất trườn lên mặt ghềnh như muốn đánh bóng cho các tảng đá đĩa. Văn nghệ sỹ Dak Lak thi nhau bấm máy, đâu đó xen lẫn tiếng xuýt xoa: đẹp, đẹp quá! Nhưng phải nói thật: tiếc cho một danh thắng còn thiếu cơ sở vật chất phục vụ khách tham quan du lịch, thiếu sự đầu tư  cho cơ sở hạ tầng; bên cạnh tấm bia được đắp bằng xi măng ghi rõ ngày tháng ghềnh Đá Đĩa được công nhận di sản quốc gia, chỉ có một căn lều chiều ngang độ 3m, dài 6m, trên lợp lá, xung quanh thưng… gió, không một bóng người. Mải mê chụp hình, ghi chép, mặt trời lên đỉnh đầu anh em mới vội vã quay về, khi đi đến gần thành phố Tuy Hòa, nhà thơ Lê Vĩnh Tài thông báo: Mấy anh ở Hội đang đợi chúng ta về ăn bữa cơm liên hoan chia tay. Nhà văn Huỳnh Thạch Thảo và nghệ sỹ nhiếp ảnh Trần Quỳ ra tận xe đón đoàn, Bữa cơm trưa thân mật thắm tình bè bạn, nồng ấm tình cảm gia đình, làm ai cũng say, cái say của tình bạn nghệ sỹ.
 Chiều tối đoàn đến thị xã Cam Ranh, các bạn cộng tác viên của tạp chí được thông báo trước đến khá đông, có những người ở xa trên chục Km như Thùy Liên phải nhờ chồng giữ con, đội mưa đến gặp; hay cô gái làm thơ vàø thích đùa - Lam Hạnh tuổi đời còn rất trẻ; có người tuổi chưa nhiều như tác giả thơ Trần Quang Phong mang dáng dấp của người trung niên, chưa uống đã… say! Quây quần đọc thơ, kể chuyện đến tận khuya không dứt ra được. Người được các cây bút trẻ Cam Ranh nhắc nhiều nhất là nhà thơ Lê Vĩnh Tài và nhà thơ Đinh Thị Như Thúy, những người rất quen trên văn đàn nhưng chưa được gặp mặt, nay bên nhau như thể không dứt ra được. Hồng Minh rất vô tư nhận xét: Anh Tài khác xa so với em tưởng tượng khi chưa gặp. Nhà thơ Tôn Nữ Ngọc Hoa của đoàn Dak Lak hỏi lại: Có phải em thất vọng vì Tài không có râu? Dạ! Mọi người cười ồ lên trước sự vô tư của các bạn trẻ Cam Ranh. Có lẽ say với không khí văn chương mà đoàn Dak Lak ai cũng đọc thơ, toàn những bài tủ của mình; nhạc siõ Sỹ Hùng tuy tuổi đã cao nhưng có lẽ say với không khí nên không những đọc thơ, hát mà còn trổ tài kể chuyện thi với các bạn Cam Ranh làm cho đêm giao lưu như thêm ấm cúng hơn, mặc dù về khuya trời đổ mưa mỗi lúc một nặng hạt. Riêng tôi cũng phải trả lời những thắc mắc: Tại sao bọn em gửi bài nhiều mà lâu không thấy được đăng?
Sáng hôm sau rời thị xã Cam Ranh tiếp tục hành trình về thành phố Phan Rang – Tháp Chàm. Thành phố vào những ngày nghỉ lễ nên “cháy phòng”; mọi cố gắng nhờ bạn bè liên hệ khách sạn đều không thành công, trong lúc khó khăn chưa biết làm thế nào thì nhà thơ Lê Công Hương thông báo: Bạn mình công tác ở Ban tuyên giáo Tỉnh ủy đã liên hệ được hai phòng ngủ tại Bộ chỉ huy quân sự tỉnh. Thật mừng song cũng hơi ngại khi phải vào ở ngay trong cơ quan quân sự. Nhưng sự tiếp đón chân tình của cán bộ chiến sĩ nơi đây đã làm yên lòng anh chị em văn nghệ. Tuy hơi chật nhưng tiện nghi không kém bất kỳ một khách sạn nào, làm ai cũng vui và nhất trí ở lại thêm một đêm nữa trước khi lên Đà Lạt. Hai ngày ở Phan Rang rồi vào thành phố Phan Thiết, lại quay ra Phan Rang, trời vẫn đổ mưa tầm tã, nhiều nhà dân hai bên quốc lộ 1A bị chìm trong nước, những người nông dân trồng nho, thanh long be bờ tát nước trong gió mưa làm mủi lòng các văn nghệ sỹ, ai cũng xuyt xoa. Nhà văn Đỗ Trọng Phụng nhận xét: Người nông dân ở vùng nào cũng cực vì sản xuất phụ thuộc quá nhiều vào thiên nhiên; các ông thấy đấy mưa gió thế này làm sao có thể giữ nổi không bị úng ngập. Trời vẫn mưa, tác giả thơ Lê Hưng Tiến – Hội VHNT tỉnh Ninh Thuận đội mưa chạy xe máy đến tình nguyện dẫn đoàn đi tham quan. Trên con đường về thăm thôn Đá Trắng gần thành phố Phan Rang, đường rải nhựa chỉ rộng khoảng 5m thôi nhưng người dân chiếm mất gần một nửa phơi lúa. Trời dần dần tối, xa xa trên các thửa ruộng đã gặt lác đác vài con cò trắng lẻ loi đứng ngửa mặt nhìn trời (cũng lạ, tại sao cò trắng nơi đây không đi theo đàn như ở Dak Lak); trên đường những người đồng bào Chăm lầm lũi bước theo những chiếc xe bò chất đầy lúa đi xiên xiên qua những hạt mưa bay làm lòng tôi thấy nao nao. Lúa đã nhiều, nhà xây mô đen cũng lắm, nhưng người nông dân vẫn còn lam lũ lắm lắm.
Trưa mùng 2 tháng 5 chúng tôi đặt chân tới thành phố Đà Lạt, trời vẫn lất phất mưa. Đón chúng tội tại trụ sở Báo Sài Gòn thường trú, nhà thơ Nguyễn Thanh Đạm – Tổng biên tập báo Lâm Đồng thông báo: Các bạn thông cảm, hiện nay không còn phòng nên ở tạm đây vậy. được phòng nghỉ trong những ngày này là tốt quá rồi - nhà thơ Hoàng Thiên Nga đỡ lời. Đà Lạt khí hậu khác hẳn Ban Mê cũng như các tỉnh mà đoàn Dak Lak vừa đi qua. Lạnh. Sắp đến mùa hè nhưng ai cũng run vì lạnh, đành ghé chợ Đà Lạt mua áo ấm. Mỗi người tranh thủ chọn cho mình một bộ tránh rét và để răng khỏi va vào nhau, ai cũng tấm tắc: đúng là Đà Lạt! 14 giờ, chúng tôi lên xe đến trụ sở Hội VHNT Lâm Đồng. Thành phố du lịch vừa làm lễ đón nhận đô thị loại một nên không khí còn vui nhộn lắm; đường phố đầy hoa và kín người đi lại, mặc cho trời vẫn lắc rắc mưa. Trụ sở Hội VHNT Lâm Đồng là một tòa biệt thự cũ xây từ thời Pháp, tuy không bề thế như trụ sở Hội VHNT Phú Yên nhưng lại có vẻ đẹp riêng của nó, rất Đà Lạt. Thật bất ngờ khi các anh ở Hội VHNT Lâm Đồng đã có mặt đông đủ đợi đoàn. Nhà thơ Trần Ngọc Trác – Chủ tịch Hội, khỏe khoắn và hơi mập một chút so với trước đây; Nhà thơ  Phạm Quốc Ca – Phó chủ tịch, tóc bạc thêm mấy phần, chắc công việc quản lý ở Trường Đại học Đà Lạt đã vất vả nay phải gánh thêm trọng trách của Hội nữa, người sút đi cũng phải; nhà văn Lê Công – Phó chủ tịch, Tổng biên tập tạp chí LangBiAn có vẻ sút đi nhiều, da sạm đen; và còn nữa các nhà văn, nhà thơ của Hội VHNT Lâm Đồng như: nhà thơ Phạm Vũ,  nhà thơ Minh Hạnh, vợ chồng nhà thơ Nguyễn Vĩnh… bắt tay đoàn và cười. Không khí ấm cúng như người trong một gia đình. Sau phần nghi thức xã giao, hai đoàn có cuộc giao lưu, mọi người thay nhau trình bày những tác phẩm mới nhất của mình. Trong niềm vui chung, có lẽ người vui nhất là nhà thơ Hoàng Thiên Nga và nhà thơ Đinh Thị Như Thúy; hai cô sinh viên trường đại học Đà Lạt năm nào nay trưởng thành, trở lại chốn xưa gặp lại bạn tâm giao và gặp được thầy giáo cũ: Nhà thơ – Tiến sĩ Phạm Quốc Ca. Nhìn cảnh thầy trò cùng xúc động, cùng đọc thơ, cùng nâng ly, lòng như ấm lại giữa cái rét của Đà Lạt. Trời tối lúc nào không biết, phải đến lúc chia tay nhau, các anh chị của Hội VHNT Lâm Đồng cùng hẹn ngày gặp lại tại Ban Mê. Trời vẫn lắc rắc mưa, nhưng lòng mỗi người như ấm lại, các anh chị ở Hội VHNT Lâm Đồng đã cho đoàn VNS Dak Lak thêm ngọn lửa để tiếp tục gặt hái những kết quả tốt đẹp sau chuyến đi thực tế sáng tác này. Buổi giao lưu để lại ấn tượng vô cùng tốt đẹp cho mỗi người và cứ mong sẽ có dịp tái ngộ.
Ngày mùng 4 tháng 5, đoàn VNS Dak Lak rời thành phố Đà Lạt đầy hoa và lòng mến khách để trở về Buôn Ma Thuột. Trời vẫn se se lạnh, nhưng không còn mưa nữa, mọi người đùa: Trời cũng chiều lòng người! Thành phố hoa lùi lại phía sau, những cánh rừng thông cũng lùi lại phía sau và những rừng cà phê tươi tốt lại hiện ra trước mắt mọi người – Dak Lak. Không đâu có những cánh rừng cà phê mượt mà xanh tốt như Dak Lak. Thế là đã trở về nhà sau chuyến đi sáu ngày vòng qua năm tỉnh, chắc chắn các anh chị em trong đoàn sẽ thu hái được rất nhiều tư liệu để có những tác phẩm văn học không những cho hôm nay mà còn cho cả mai sau. Những tư liệu có được sau chuyến đi chắc chắn sẽ là nguồn vốn hết sức quý giá để các văn nghệ sỹ dùng trong một khoảng thời gian dài không chỉ một vài năm. Cảm ơn Hội VHNT Dak Lak đã tạo điều kiện cho các văn nghệ sỹ có một chuyến đi bổ íc. Cảm ơn các hội VHNT tỉnh bạn: Phú Yên – Lâm Đồng và những người yêu thơ, cộng tác viên của tạp chí ChưYangSin ở các tỉnh: Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận… đã tận tình giúp đỡ đoàn có một chuyến đi thành công. 
(Hết)

Thứ Sáu, 25 tháng 1, 2013

NHẬT KÝ MỘT CHUYẾN ĐI





Ghi chép của HỒNG CHIẾN

Vào một buổi sáng đẹp trời, chúng tôi rời Buôn Ma Thuột xuôi theo quốc lộ 26A về phía thành phố Nha Trang – tỉnh Khánh Hòa; không khí mát mẻ vì đêm qua trời đổ cơn mưa khá lớn. Mùa này Dak Lak có mưa như trời cho nhà nông thêm vàng, cà phê không phải tưới, ruộng rẫy thoát khỏi khô hạn. Tới km 61 thuộc địa phận huyện Ea Kar, xe rẽ phải vào con đường đất rất khó đi, đầy “ổ voi ổ trâu” và một thứ mùi khó chịu ập vào xe. Nhà thơ Lê Vĩnh Tài ngồi bên tôi vội nói: Đóng cửa xe lại để bật máy lạnh. Nghệ sỹ nhiếp ảnh - nhà thơ Đặng Bá Tiến cười buồn: Chúng ta đến địa phận nhà máy Tinh bột mỳ Ea Kar rồi đấy. Ngày cắt băng khánh thành rất đông quan khách về dự, sau buổi lễ ông Giám đốc Nghiêm Minh Tiến mời tất cả ở lại nhà máy dùng bữa cơm thân mật, nhưng nhiều người vội vã ra xe về ngay vì cái mùi đặc trưng này. Mọi người ồ lên ngạc nhiên.
Vượt cầu Krông Năng, nhà máy Tinh bột mỳ xây khá bề thế hiện ra qua khung cửa kính. Nhờ có nhà máy này mà nhiều hộ nông dân của các huyện Ea Kar, M’Đrăk, Krông Năng thoát khỏi đói nghèo; nhưng những người dân xung quanh khu vực nhà máy đang phải gánh chịu sự ô nhiễm môi trường khá nặng; không biết đến bao giờ mới cải thiện được. Qua nhà máy tinh bột mỳ, nhà thơ Hoàng Thiên Nga thông báo: Chúng ta sắp vào Khu Bảo tồn thiên nhiên Ea Sô. Mọi người ồn ào cả lên vì địa danh nổi tiếng qua vụ án săn động vật quý hiếm của ông Đại Hùng bị Hạt Kiểm lâm khu bảo tồn Ea Sô bắt năm 2003. Vụ săn bắn hai con Min trong khu bảo tồn làm tốn không ít giấy mực của cánh báo chí; vụ án kết thúc kẻ phạm pháp dù đương chức là giám đốc một sở của thành phố lớn hay là đại gia cũng phải cùng nhau ra trước vành móng ngựa. Luật pháp được thực thi.
 Còn tôi vốn là dân gần như “bản địa” ở đây (vì có hơn 20 năm sống và công tác tại huyện Ea Kar), trong những năm từ 1987 đến 1992 khi chờ Tòa án tối cao xét xử trả lại công bằng; vì mưu sinh, tôi đã lội khắp các cánh rừng của huyện Ea Kar. Trong một lần vào đồi Cô Đơn, tôi gặp một con vật: đầu trâu, chân bò, to như con voi; anh bạn cùng đi là sỹ quan Ban tuyến huấn Sư 333 bảo: “Bò xám” đấy! Tôi về viết một mẩu tin gửi báo Tiền Phong, không ngờ một mẩu tin ngắn hơn 100 từ đã làm chấn động giới khoa học trong nước, mấy hôm sau Viện trưởng Viện tài nguyên và Môi trường, Giáo sư - Tiến sỹ Phạm Huy Huỳnh lặn lội từ Hà Nội vào tận nhà hỏi thăm và nhờ dẫn đường vào rừng Ea Sô tìm “bò xám”. Sau một tuần lang thang trong rừng, vị Giáo sư khả kính tóc bạc trắng, tuổi gần bảy mươi nói với tôi: Căn cứ vào các dấu chân đo được trong rừng, nhiều khả năng đây là dấu chân bò xám vì nó to hơn và tròn hơn so với dấu chân min. Sau đó Giáo sư cóù bản báo cáo khá chi tiết gửi cho UBND huyện Ea Kar và UBND tỉnh Dak Lak, đánh giá của mình về khu rừng này. Qua trao đổi với Giáo sư - Tiến sỹ Phạm Huy Huỳnh, tôi mới biết vài nét về con vật mang tên “bò xám”: con vật này đầu trâu, mình bò, thân hình to lớn, con trưởng thành có thể nặng từ 2,5 đến 3 tấn; nó được một nhà khoa học Pháp phát hiện và chụp ảnh lần cuối cùng vào năm1930 trên đất CamPuChia và từ đó đến nay không ai còn nhìn thấy nó nữa; giới khoa học nghi đã bị tuyệt chủng. Còn con min đầu trâu, mình trâu, chân bò trọng lượng nhỏ hơn khoảng 1 đến 1,5 tấn có tên trong sách đỏ Việt Nam thuộc nhóm A, đây là loại động vật quý hiếm. Khoảng hai tháng sau khi Giáo sư - Tiến sỹ Phạm Huy Huỳnh về Hà Nội; một đoàn 7 nhà khoa học các nước: Vương quốc Anh, Vương quốc CamPuChia và Việt Nam đã vào rừng Ea Sô điều tra; sau một tháng làm việc, đoàn kết luận không có bò xám nhưng đây là khu rừng đa hệ sinh thái cần được bảo vệ nên đề nghị và được cấp trên chấp nhận, Khu bảo tồn thiên nhiên Ea Sô đã ra đời như vậy.
Xe chúng tôi vượt cầu sông Hai, chạy qua khu nhà làm việc của Ban quản lý Khu bảo tồn được xây dựng khá khang trang. Con đường tỉnh lộ nối hai tỉnh Phú Yên - Dak Lak chạy qua Khu bảo tồn thiên nhiên Ea Sô, phần đường từ sau cầu sông Hai xuôi thành phố Tuy Hòa làm khá tốt. Phía bắc đường được trồng khá nhiều cây keo tai tượng cao quá đầu người, phía nam ngay sát đường là những đám rẫy gieo mè xanh mơn mởn. Nhà thơ Đinh Thị Như Thúy ngạc nhiên hỏi: Sao Khu bảo tồn thiên nhiên lại gieo mè nhiều thế? Câu hỏi của Thúy làm mọi người lặng đi vì thực tế đang được thấy và không biết phải trả lời như thế nào. Cuối địa phận tỉnh Dak Lak, công trình thủy điện Krông H’Năng có vị trí gần đường đang hối hả thi công, con đập chính ngăn nước sắp hòan thành, xe tấp nập nối đuôi nhau xuôi ngược. Bức tranh công nghiệp khai thác “vàng trắng” đang thực thi ở đây đã sắp hoàn chỉnh, nhưng một phần khu bảo tồn thiên nhiên Ea Sô sẽ bị ngập nước, một diện tích không nhỏ đất đai sẽ chìm dưới lòng hồ; đây cũng chính là nỗi băn khoăn của nhiều văn nghệ sỹ Dak Lak khi cho rằng: chúng ta ồ ạt xây dựng các nhà máy thủy điện, liệu có tính đến một diện tích đất đai rất lớn chìm dưới dòng nước, hiệu quả kinh tế về lâu dài như vậy có khả quan không?
Gần 12 giờ trưa chúng tôi đến thành phố Tuy Hòa, nhà văn Huỳnh Thạch Thảo - Phó chủ tịch Hội VHNT Phú Yên, Tổng biên tập tạp chí Văn Nghệ Phú Yên đón chúng tôi đưa về khách sạn Công Đoàn. Tôi không ngờ nhà văn trẻ này lại có nét phong trần đến thế, tuổi còn kém tôi xa, nhưng tóc đã bạc quá nửa. Anh khác hình ảnh mà tôi đã hình dung qua những lần trao đổi điện thoại. Sau bữa cơm thân mật do Hội chiêu đãi, chúng tôi kéo nhau về văn phòng Hội. Đoàn văn nghệ sỹ Dak Lak nhiều người ngạc nhiên như không thể tin ngôi nhà ba tầng đồ sộ được xây ngay sát biển là trụ sở của Hội VHNT tỉnh. Căn nhà đẹp quá, vị trí cũng thật lý tưởng: một bên là quảng trường, một bên là biển, gió lồng lộng thổi… Văn phòng Hội tọa lạc trên tầng hai khá rộng, đoàn Dak Lak 11 người ngồi chưa hết nửa chiếc bàn hình ô van, phần còn lại là các văn nghệ sỹ tỉnh bạn. Nhà văn Đào Minh Hiệp – Chủ tịch hội VHNT Phú Yên báo cáo sơ qua vài nét về tỉnh: dân số hơn 800 ngàn người, hội viên của Hội hơn 200, cơ sở như các bạn đã thấy, trên tầng ba có 4 phòng khách vì đang sửa lại hệ thống nước nên không thể bố trí cho đoàn ở lại được… Nghe Chủ tịch Hội báo cáo trụ sở hội có hẳn 4 phòng khách trang bị đầy đủ tiện nghi, làm đoàn VNS Dak Lak càng thêm sửng sốt. Vâng! Thật sự sửng sốt! Một tỉnh mới thành lập, dân số chỉ sem sém cỡ một nửa dân số tỉnh Dak Lak thế mà có một cơ ngơi làm việc như trong mơ. Trông người lại ngẫm đến ta...! Nhà văn Huỳnh Thạch Thảo cho biết thêm về tạp chí Văn nghệ của Hội: tháng rưỡi ra một số, mỗi số in 600 bản, trong đó một nửa được phát hành theo yêu cầu của bạn đọc; kinh phí dành riêng cho tạp chí hơn 200 triệu, tạp chí có tài khoản riêng, con dấu riêng.… Vốn là “dân” cùng làm tạp chí văn nghệ như nhau, các anh có cái hơn đồng nghiệp Dak Lak là Tạp chí được tự chủ về kinh phí hoạt động, biên chế nhân sự nhiều hơn, tuy số lượng phát hành cũng sàn sàn như nhau (Phú Yên 3 tháng hai số, còn Dak Lak mỗi tháng một số với 500 bản). Thư ký tòa soạn  tạp chí Văn Nghệ Phú Yên – Huỳnh Văn Quốc cũng có những trao đổi hết sức chân tình về hoạt động của tạp chí nói chung và công tác cộng tác viên nói riêng. Hai tạp chí của hai hội Dak Lak và Phú Yên đều có chung một điểm giống nhau: cộng tác viên các tỉnh bạn rất nhiều. Cuộc gặp mặt - giao lưu giữa đoàn VNS Dak Lak và Hội VHNT Phú Yên đã đến lúc phải chia tay. Tôi nhận lời chuyển đề nghị của các anh về lãnh đạo hội VHNT Dak Lak sẽ kết hợp cùng tổ chức một trại sáng tác chung giữa hai tỉnh trong thời gian gần nhất.
Chiều, nhà văn Huỳnh Thạch Thảo dẫn đoàn lên thăm tháp Nhạn – một di tích độc đáo của người Chăm ở tỉnh Phú Yên. Tháp Nhạn tọa lạc ngay trên đỉnh núi Nhạn, cao khoảng trên chục mét, có cấu trúc gần với tháp Bà - Nha Trang. Sân tháp được lát gạch vuông đỏ au khá rộng, là nơi hàng năm được Hội VHNT tỉnh tổ chức Ngày Thơ Việt Nam tại đây. Xung quang gò, cây cối xanh tốt, nhiều cây có đường kính khá lớn, xen kẽ là những chùm hoa lạ làm cho người đến thăm thấy thêm phần linh thiêng. Đứng ở chân tháp nhìn về phương bắc có thể thấy toàn bộ thành phố Tuy Hòa với những tòa nhà cao tầng rất đẹp vây quanh cánh đồng lúa xanh mượt mà ở giữa; quay về phía đông nam là một cây cầu dài đang thi công chạy sát mép biển, nối hai bờ sông. Thành phố giống như một bức tranh đẹp nhưng chưa hoàn thiện. Muốn vào trong tháp để thắp hương, mọi người phải lách mình qua một người phụ nữ  đứng tuổi với một quầy hàng nho nhỏ bán bánh trái và một con chó nhỡ án ngay cửa tháp. Một danh thắng gần trung tâm thành phố, rất đông du khách đến thăm quan, trong đó có cả người nước ngoài, vậy mà… tôi thấy man mác buồn. Không biết các cơ quan quản lý khu di tích nghĩ gì khi để hình ảnh này cứ tiếp tục tái diễn trước du khách đến đây.

(Còn nữa)

Thứ Ba, 22 tháng 1, 2013

CHUYỆN GHI Ở NÚI HOA

(Tiếp theo và hết)


Tạm bit những người Thái mến khách, đoàn chúng tôi tiếp tục hành trình đến thăm buôn Ea Sang – xã Ea H’Đinh của người dân tộc Ê Đê. Hai bến nước của buôn vẫn mang đậm dấu ấn cổ xưa truyền thống: trên đầu nguồn nước là một cánh rừng nguyên sinh cây cối xanh tốt, nhiều cây cổ thụ thân to cả vòng tay người lớn; dưới bến nước vẫn những chiếc vòi nước được chắt lọc từ khe đá ra, chảy qua những ống nứa to như cổ tay, dòng nước trong veo, mát rượi. Những cô gái bản địa vai mang gùi đựng những trái bầu khô được nút bằng nắm lá chuối chen nhau lấy nước, thỉnh thoảng tiếng cười trong trẻo bật lên làm xao xuyến lòng người. Nước suối từ những trái bầu khô ấy được các cô gái chuyền tay nhau rót vào ché rượu cần và những người khách vừa cầm cần nhấm nháp những giọt rượu thơm lựng vừa thưởng thức những bài chiêng đón khách được tấu lên từ dàn chiêng của buôn. Tôi không thuộc nhiều tiếng Ê Đê, không rành lắm về âm nhạc nên Nghệ sĩ ưu tú Vũ Lân ngồi bên cạnh phải giải thích cho tôi biết trong những bài chiêng đang tấu lên kia đâu là cầu xin thần linh, đâu là chúc phúc, cầu may cho những người khách… Thật vui khi thấy cảnh sinh hoạt văn hóa cộng đồng vừa ấm áp đặc trưng của miền Tây Nguyên, vừa gần gũi chân tình, vừa mộc mạc như người dân nơi đây. Không riêng gì tôi, mà cả những bậc cao niên như nhà thơ Hữu Chỉnh, nhà thơ Văn Thảnh, nhà văn – nhạc sĩ Linh Nga Niê Kđăm… cũng bị cuốn hút vào điệu nhạc mê hồn. Các anh, các chị cùng đàn hát theo các nghệ nhân, không ai muốn dừng.
Theo lịch trình, đoàn chúng tôi tiếp tục đến thăm Kon H’Rinh – xã Ea H’Đinh, đây là một làng của người Xê Đăng, xưa kia là căn cứ cách mạng của ta trong những năm chiến tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Trời mưa sụt sùi, đường mới đổ đất cấp phối nên rất khó đi, đến nơi trời sụp tối. Thật không may lại bị mất điện, chủ nhà phải thắp đèn chạy bằng ắc quy và đốt lửa. Trong ảnh lửa bập bùng của những cây củi vừa được nhen lên, các bạn thanh niên nam nữ trong làng chưa lập gia đình nắm tay nhau kết thành vòng nhảy múa quanh đống lửa theo nhịp chiêng chào khách đúng phong tục người Xê Đăng. Y Mang, Phó phòng Văn hóa – Thông tin nói nhỏ với tôi: Đây là buôn của mình đấy, căn nhà sàn đối diện kia là nhà của mình!  Thế bà xã có sang đây không? Tôi hỏi; Y Mang cười không trả lời. Nhà thơ Hữu Chỉnh ngồi bên cạnh quay sang bảo: Cái cậu này… vợ Y Măng là H’Năm công tác tại Văn phòng Hội đồng nhân dân tỉnh ta nên ở trên Buôn Ma Thuột chứ! À ra thế, H’Năm tôi đã gặp nhiều nhưng lại không biết đó là vợ của anh. Y Mang vạm vỡ đúng hình mẫu người Xê Đăng. Qua những lần về hướng dẫn cho các cháu dự trại sáng tác thơ văn ở huyện, giờ giải lao, tôi thường ngồi nhìn anh tâm sự với các cháu dự trại; khéo chuyện, vui tính nên các cháu rất tích chú Y Mang, nhất là khi chú nói về các loại chiêng của từng dân tộc. Anh là lớp cán bộ trẻ, có năng lực, được đào tạo chính quy và tương lai sẽ còn phải gánh vác những trọng trách lớn hơn trong công cuộc xây dựng quê hương.
Trong tiếng chiêng rộn ràng, chủ nhà mời khách cùng múa hát quang bếp lửa và thưởng thức rượu cần. Tiếng chiêng, tiếng hát ngân dài xuyên qua màn đêm, xua tan đi cơm mưa dầm rả rích. Ngôi nhà sàn rộng là vậy mà vẫn cảm thấy chật chội vì già trẻ, gái trai cả làng kéo đến chung vui. Thật mừng cho một vùng đất trù phú, kinh tế phát triển lại có 26 dân tộc anh em ở khắp mọi miền đất nược về đây sinh sống, chung tay xây dựng đời sống ấm no. Và càng mừng hơn khi thấy bản sắc văn hóa của từng dân tộc vẫn tồn tại và phát triển. Điều gì làm nên kì diệu cho vùng đất này như vậy! Có lẽ đó chính là chủ trương, chính sách đúng đắng của Đảng và chính quyền địa phương nơi đây. Cách đây hơn mười năm về trước, ông trưởng phòng Văn hóa – Thông tin huyện Cư M’Gar Lê Đức Thắng (bây giờ đương chức Phó chủ tịch huyện), lên gặp nhà thơ Hữu Chỉnh - Chủ tịch Hội Văn học – Nghệ thuật Dak Lak lúc bấy giờ để đặt vấn đề mở trại sáng tác văn học cho các cháu thiếu niên nhân dịp hè. Nhà thơ Hữu Chỉnh hoan nghênh ý tưởng mới mẻ đó và tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ để Phòng Văn hóa – Thông tin huyện tổ chức thành công trại viết đầu tiên do Hội Văn học – Nghệ thuâït Dak Lak đỡ đầu. Hơn chục năm qua, có lẽ trên khắp mọi miền đất nước Việt Nam chúng ta chưa có nơi nào làm được như huyện Cư M’Gar; năm nào cũng  vậy, cứ mỗi độ hè về lại tổ chức mở trại sáng tác thơ văn cho các cháu thanh thiếu niên đang là học sinh phổ thông có năng khiếu văn học và khi trại hè kết thúc, các tác phẩm dự trại được tuyển chọn in thành tập Núi hoa. Từ cách nhìn nhận vấn đề đến cách thực hiện ý tưởng táo bạo, sát với tình hình thực tế như vậy nên phong trào văn nghệ của huyện luôn gặt hái những thành tích đáng tự hào qua các cuộc thi do tỉnh tổ chức. Cũng từ những trại sáng tác hè đã ươm mầm cho nhiều  thế hệ trở thành những nhà báo, nhà giáo dạy giỏi văn. Thế mới biết, cái quan trong là ở người lãnh đạo; họ biết nhìn xa trông rộng, áp dụng các chủ trương, nghị quyết vào cuộc sống một cách khoa học có sáng tạo sẽ tạo dựng được một phong trào sâu rộng và bền vững, góp phần quyết định làm giàu mạnh và phồn vinh cho cả vùng đất.
Sau hai mươi lăm năm thành lập, đến hôm nay Đảng bộ và nhận dân huyện Cư M’Gar có thể tự hào đã xây dựng được một vùng đất mạnh về kinh tế, vững về An ninh – Quốc phòng và đời sống Văn hóa – Giáo dục ngày một phát triển đúng theo chủ trương nghị quyết của Đảng đã vạch ra. Từ vùng quê khi hậu khắc nghiệt nhưng con người biết cải tạo biến nó thành trù phú phục vụ con người, đã mang lại hiệu quả tốt đẹp.  Có người nói: Thủ trưởng nào, phong trào ấy - quả đúng không sai! Vùng đất của huyện CưM’Gar, tỉnh Dak Lak không những kinh tế phát triển, cuộc sống nhân dân ngày một giàu lên theo năm tháng của công cuộc đổi mới và bên cạnh đó đời sống Văn hóa - Giáo dục cũng ngày một nâng cao là do có sự lãnh đạo sáng suốt của các cấp ủy đảng cũng như chính quyền địa phương; nhưng không thể thiếu những cá nhân suất sắc, dám nghĩ dám làm đã góp phần bảo tồn và phát triển bản sắc văn hóa các dân tộc anh em trên vùng đất Tây Nguyên. Hai mươi năm chưa phải là dài, nhưng cũng đủ để khẳng định một hướng đi đúng, một cách làm táo bạo của một tập thể đoàn kết, biết dựa vào dân và phát huy bản chất tốt đẹp của người Việt Nam. Trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội, huyện Cư M’Gar, tỉnh Dak Lak xứng đáng là một điểm sáng trong thời kỳ đổi mới để nhiều địa phương trong cả nước học tập.

CHUYỆN GHI Ở NÚI HOA





Ký của Hồng Chiến

Chuẩn bị kỷ niệm 25 năm ngày thành lập huyện Cư M’gar (23/01/1984 – 23/01/2009), Huyện ủy - Hội đồng nhân dân - Ủy ban nhân dân huyện phối hợp với Hội Văn học - Nghệ thuật tỉnh Dak  Lak mở trại sáng tác văn học tại địa phương nhằm tạo điều kiện cho các văn nghệ sỹ có dịp tận mắt trông thấy những danh lam thắng cảnh cũng như tiềm năng to lớn về du lịch nơi đây, đồng thời được chứng kiến cuộc sống mới của người dân đang ngày một đổi thay. Cách làm này của lãnh đạo Đảng – Chính quyền huyện Cư M’Gar ngay sau khi Bộ chính trị ban hành Nghị quyết 23 về Văn học – Nghệ thuật đã thể hiện sự nhanh nhạy của địa phương khi thực hiện nghị quyết, ghi dấu ấn quan trọng của văn nghệ đối với đời sống tinh thần xã hội. Trong những ngày dự trại, các nhạc sĩ, nhà văn, nhà thơ được nghe lãnh đạo chính quyền địa phương báo cáo vắn tắt tình hình kinh tế xã hội địa phương sau gần hai mươi lăm năm thành lập và đặc biệt là sự phát triển mọi mặt trong năm năm gần đây. Ông Lê Đức Thắng – Ủy viên thường vụ Huyện ủy, Phó chủ tịch Ủy ban nhân huyện, người cao lênh khênh nhưng hơi ốm, vui vẻ nói với các văn nghệ sỹ: Báo cáo xin chỉ ngắn gọn như vậy, còn thực tế như thế nào, xin mời các anh các chị đi thực tế sẽ rõ!
Cách làm việc khoa học và chân tình đã gây được thiện cảm của anh em văn nghệ sĩ đối với lãnh đạo dịa phương nói chung và đặc biệt vị Phó chủ tịch phụ trách khối Văn xã nói riêng. Trong những ngày dự trại, ông Lê Đức Thắng dẫn anh chị em Trại viên đi thực tế thăm thác Dray Dlông; dòng thác cao trên hai chục mét chia làm ba ngọn ầm ầm đổ xuống, tung bụi nước phủ mờ cả một đoạn suối dài. Dòng thác đẹp quá, nhưng tiếc chưa được khai thác. Đường vào thác còn ghập ghềnh khó đi, gai mắc cở che kín cả lối mòn xuống thác. Nếu được đầu tư đúng mức, chắc chắn đây sẽ là một khu du lịch được nhiều người ưa thích. Rời thác Dray Dlông chúng tôi tiếp tục đến thăm hồ chứa nước buôn Joong, xã Ea Kpan; một con đập hùng vĩ, mái đập dược lát bê tông, mặt đập rải thảm bê tông phẳng lỳ, trên bờ đập hai hàng cột đèn cao áp nối nhau chạy dài đến hút tầm mắt. Mặt hồ còn sót lại những cây cổ thụ chết khô dầm mình trong nước làm chỗ cho đàn cò trắng chen nhau đứng, tạo nên một bức tranh thủy mặc khá đẹp. Gần nơi xã lũ, đôi vạc màu nâu sẫm, cao lênh khênh lặng lẽ đứng suy tư, thỉnh thoảng mới lười nhác thọc chiếc mỏ dài xuống mặt nước gắp một chú cá lóng lánh ánh bạc giơ lên, lắc lắc rồi nuốt trửng. Trên trời xanh một con đại bàng sải cánh dài cả mét lặng lẽ bay lượn, thỉnh thoảng mới khẽ vẫy cánh chao nghiêng, bất chợt lao xuống mặt hồ chạm nhẹ vào mặt nước rồi bay lên; thật kì lạ, đôi chân nó đã tóm gọn một con cá khá lớn, màu hồng nhạt, đuôi còn cố tình khua khoắng trong không gian. Cảnh đẹp quá, mọi người mải mê nhìn, quên cả cơn dông đang sầm sập kéo đến. Gió, mưa ào ào trút nước xuống mặt hồ, mọi người mới vội vã chạy lại xe. Qua cửa kính, những hạt mưa bay xeo xéo lao xuống mặt hồ tạo thành một lớp vảy bạc  nhấp nhô trên mặt nước. Xa xa mấy chiếc thuyền của những người đánh cá đang hối hả vào bờ. Phía sau triền đập, những cánh rừng cà phê tươi tốt như mỡ màng hơn lên dưới những hạt mưa. Nhạc sĩ  Sỹ Hùng quay qua nói với tôi: Đây tổ chức du lịch sinh thái kết hợp câu cá thư giãn chắc đông khách phải biết! Anh Trần Ngọc Trí, Trưởng phòng Văn hóa – Thông tin huyện góp chuyện: Huyện cũng biết vậy nhưng chưa kêu gọi được đối tác đầu tư. Giá như có kinh phí chắc chắn đây sẽ là khu công nghiệp không khói mang lại nguồn thu lớn cho ngân sách địa phương. Thế huyện nhà cứ phải chờ đợi mãi như thế này ư? Tôi hỏi lại. Anh Ngọc Trí tươi cười trả lời tôi: Huyện có cái khó của huyện, nhưng chúng tôi tin các văn nghệ sĩ đã đến thăm mảnh đất này, chắc chắn một thời gian ngắn sau sẽ có nhiều người biết đến và đó sẽ là sự bắt đầu trở mình cho cả một vùng đất đầy tiềm năng này đấy. Tôi giật mình trước câu nói của anh Trưởng phòng - một cán bộ còn khá trẻ, các anh đã có cách tính riêng khi mở trại sáng tác văn học này. Tôi thấy vui vui nhưng cũng hơi lo vì không biết có đáp ứng được kỳ vọng của các anh – những người lãnh đạo địa phương không!
Rời đập, đoàn chúng tôi ghé thăm một bản của người Thái mới vào định canh ở thôn III. Tôi ngạc nhiên khi thấy đội văn nghệ của thôn chiêu đãi đoàn bằng những làn điệu hát Then, đàn Tính… Những diễn viên tóc bạc trắng, ngôi xen kẽ với thiếu nữ tuổi độ trăng tròn, hai – ba thế hệ kế tiếp nhau cùng thể hiện làn điệu quê hương mang từ các tỉnh Cao Bắc Lạng vào, làm say lòng những văn nghệ sĩ đất Tây Nguyên. Trên vùng đất  mới lập quê hương thứ hai, chính quyền địa phương sở tại vẫn khuyến khích và tạo điều kiện phát triển các nét đẹp truyền thồng Văn hóa – Văn nghệ các dân tộc anh em, không kể đó là dân tộc nào, ở vùng đất nào chuyển đến vì tất cả có chung một cội nguồn – Người Việt. Tiếng đàn Tính, tiếng hát Then ngân vút cao trên Cao nguyên Dak Lak là một minh chứng cho hướng chỉ đạo sâu sát và đúng đắn của Đảng và chính quyền các cấp nơi đây. Cuộc sống mới không những đầy đủ về vật chất, con cái được học hành đến nơi đến chốn mà cả những truyền thống văn hóa của cha ông để lại cũng được giữ gìn và phát triển. Đây quả là nét đẹp của vùng đất “Núi Hoa” này. 
(Còn nữa)

Chủ Nhật, 20 tháng 1, 2013

NHỮNG ĐỔI THAY TRÊN MỘT VÙNG ĐẤT

(tiếp theo và hêt)


Tôi thật bất ngờ trước cách tiếp đón của gia đình. Về một buôn người Êđê được chứng kiến vườn, nhà, tiện nghi sinh hoạt và cả phong cách sống như người thành thị, không ngạc nhiên sao được. Cuộc sống mới mà Đảng và Nhà nước mang lại làm đổi thay vùng đất Tây Nguyên giàu đẹp này. Sự thay đổi ấy diễn ra trong từng ngôi nhà, từng con người, từng phong cách sống, giao tiếp. Ba anh em vừa lai rai vừa tâm sự. Qua câu chuyện, tôi biết anh chủ nhà tên Y Tâm, quê tận  thành phố Buôn Ma Thuột “bị” vợ bắt về đây. Cuộc sống khi hai người mới lấy nhau vô cùng cơ cực. Vùng đất trù phú ngày nay, xưa kia là những cánh rừng nối tiếp nhau chạy dài đến hết cả tầm mắt. Sau giải phóng đồng bào lập hợp tác xã nông nghiệp, xây dựng cuộc sống mới, biến mảnh đất hoang vu thành mảnh đất thanh bình đầm ấm, cuộc sống ngày một ấm no, hạnh phúc. Thật khó tin một hộ gia đình người dân tộc bản địa, không những đủ ăn, có đầy đủ tiện nghi sinh hoạt hiện đại, mà sáu đứa con đều được học hành tử tế. Cô gái đầu có cái tên rất đẹp H’HaNa đang học năm thứ ba tại trường đại học Đà Lạt, cô thứ hai H’Vêra học xong lớp mười hai dứt khoát ở nhà ôn thêm năm nữa để thi vào đại học, chứ nhất định không đi học trung cấp; cậu thứ ba Y Za Nai học lớp mười một và cô thứ tư - H’Biểu học lớp mười, tại Trường nội trú Ama Trang Lơng, cô thứ năm H’Nhai học lớp chín và cậu út Y Thiêu học lớp tám gần nhà. Đoán được sự băn khoăn của tôi trước cuộc sống có phần sung túc của gia đình, Y Tâm cho biết thêm: “Mình từng làm cán bộ Công ty Bông Đắk Lắk, vận động nhân dân trong vùng trồng bông, góp phần giúp nhiều hộ gia đình nâng cao thu nhập, phá thế độc canh trước đây chỉ trông chờ vào ba cây trồng chính là lúa, bắp và cà phê. Còn bây giờ cây nông nghiệp được trồng đa dạng, nhiều loại giống mới được nhân dân đưa vào trồng, có năng suất cao góp phần làm giàu cho người dân trong vùng. Sắp tới đập Krông Buk Hạ hoàn thành, nhiều cánh đồng lúa trước đây chỉ trồng một vụ sẽ được thâm canh tăng lên hai, ba vụ, thu nhập của nhân dân trong vùng được nâng cao hơn nữa. Do kinh tế phát triển, người dân giàu lên, nhu cầu mua sắm cũng tăng cao nên ngày nay nhiều hộ bung ra mở tiệm buôn bán, phục vụ nhu cầu bà con không chỉ ở trong buôn mà vươn ra cả các vùng lân cận”.
Trời về chiều, tiếng công nông nối nhau gầm rú chở bắp, chở cà phê vừa thu hoạch về buôn. Nhà nào vào thời điểm này cũng thấy để trước sân từng đống bắp cao như núi, mảnh sân trước nhà rải kín cà phê. Nhìn từng đoàn xe tấp nập chạy về, trên xe chất đầy các bao tải vừa thu hoạch; ngồi vắt vẻo trên đống bao bì đó là những người với khuôn mặt rạng rỡ, miệng nở nụ cười tươi, lòng tôi cảm thấy vui vui vì biết đó là dấu hiệu của một vụ mùa bội thu. Đời sống đã thực sự thay đổi trước ngưỡng cửa của một năm mới sắp về.
Giờ đây cuộc sống của đa số người dân buôn Puăn A không những đủ ăn, có của để dành, xây dựng được những ngôi nhà khang trang, mà nhiều hộ đã trở nên giàu có. Nhiều nhà không những sắm đầy đủ tiện nghi phục vụ sinh hoạt gia đình, còn mua được máy móc phục vụ sản xuất, tăng năng suất lao động. Theo Y Tâm, cái quan trọng nhất để nâng cao mức sống cho bà con dân tộc nơi đây là tạo điều kiện và chỉ cho người dân biết cách làm giàu, chứ không phải cầm tay dắt người ta theo đi làm giàu, cho người ta tiền để người ta giàu. Ý tưởng như một triết lý ngẫm ra lại đúng. Người dân áp dụng khoa học để phát triển nền sản xuất hàng hóa, xoá đi nền sản xuất tự cung, tự cấp. Cơ chế thị trường đã và đang trực tiếp tác động đến đời sống người dân nơi đây. Cái được lớn nhất là đời sống đa số hộ được cải thiện và nâng cao, con em được học hành, đời sống dân trí được mở mang; song bên cạnh đó cái mất cũng rất đáng quan tâm như nhiều thanh niên bây giờ chỉ thích uống rượu, hát kraôkê mà quên đi truyền thống dân tộc, thậm chí không biết cả cách đánh chiêng của dân tộc. Ông Y Tó buôn trưởng thở dài và nói thêm: “Anh về trên ấy đề nghị với chị Linh Nga cho người về dạy cho cánh thanh niên học đánh chiêng với, chiêng còn đấy nhưng bọn trẻ quên hết rồi”.
Nỗi trăn trở của buôn trưởng cũng đúng thôi, cồng chiêng Tây Nguyên cha ông bao đời để lại được cả thế giới công nhận là “Văn hoá phi vật thể, kiệt tác của nhân loại” vậy mà người dân bản địa lại quên, không biết đến thì quả là có lỗi. Nhưng khôi phục lại như thế nào thì một mình buôn trưởng với Hội Văn hóa nghệ thuật Đắk Lắk không thể làm nổi, mà phải có sự đồng bộ của các cấp chính quyền cũng như cơ quan chuyên môn mà trực tiếp phải là phòng Văn hóa thông tin huyện. Là người dân tộc Ê Đê, có trong tay cả bộ chiêng quý giá mà không biết sử dụng thì đáng tiếc lắm thay. Thiết tưởng các cơ quan lãnh đạo văn hoá địa phương cần suy nghĩ nghiêm túc vấn đề này.
Cái may cho phong trào ở đây, cán bộ địa phương còn muốn giữ lại truyền thống văn hoá dân tộc, còn trăn trở với bản sắc dân tộc đang ngày môït mai một mà tìm cách khôi phục lại. Với tấm lòng vì dân, vì phong trào như thế, tôi tin một ngày không xa các buôn người dân tộc bản địa Tây Nguyên nói chung và buôn Puăn A nói riêng không chỉ nhà cửa khang trang, tiện nghi sinh hoạt trong gia đình hiện đại, mà sẽ còn rộn rã tiếng chiêng trong những ngày lễ hội truyền thống.

Tháng 10 năm 2006


Thứ Bảy, 19 tháng 1, 2013

NHỮNG ĐỔI THAY TRÊN MỘT VÙNG ĐẤT



Ghi chép của HỒNG CHIẾN

Tôi được cử về buôn Puăn A công tác. Đây là buôn kết nghĩa với Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh. Có lẽ lần đầu một cán bộ toà soạn tạp chí được cử đi “nằm vùng” nên ai cũng quan tâm, lo lắng. Phó chủ tịch Hội, nghệ sỹ ưu tú Vũ Lân, yêu cầu bộ phận tài vụ chuẩn bị tiền bạc, các chế độ tốt nhất có thể ưu tiên cấp cho tôi và còn lưu ý thêm: phải cấp riêng tiền điện thoại di động để thường xuyên liên lạc về cơ quan. Anh Chính Hữu, Chánh văn phòng hội giao cho tôi một tập giấy tờ đã chuẩn bị sẵn và dặên: “Cố gắng hoàn thành nhiệm vụ nhé”. Còn chị Linh Nga Chủ tịch Hội bắt tay thật chặt dặn thêm: “Về dưới đó có gì khó khăn tìm chị H’Ka - Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Ea Phê nhờ chị ấy giúp đỡ. Ở buôn kết nghĩa có hai học trò cơ quan ta đỡ đầu, Hồng Chiến phải tìm gặp xem tình hình các em hiện nay thế nào!”.
Xe rời Buôn Ma Thuột rồi mà lòng tôi còn lâng lâng trước sự chu đáo của mọi người. Đường từ thành phố về xã Ea Phê, huyện Krông Pak chỉ độ 38 km. Ủy ban nhân dân xã đóng gần quốc lộ 26A có khuôn viên tương đối rộng rãi, thoáng mát, tọa lạc trên đó là căn nhà làm viêïc hai tầng được thiết kế khá đẹp. Tiếp tôi tại Ủy ban xã lại chính là chị H’Ka mà chị Linh Nga đã dặn. Thoáng nhìn bề ngoài, chị H’Ka có dáng giống một cầu thủ bóng chuyền: to, cao, mạnh mẽ, có lẽ là người trực tính và quyết đoán. Sau khi xem giấy tờ, chị H’Ka hỏi thăm sức khỏe chị Linh Nga và các anh chị trên văn phòng Hội vì lâu ngày chưa gặp. Biết tôi lần đầu đi công tác phong trào chị dặn dò khá chu đáo các công việc cần lưu ý khi về vận động quần chúng tại buôn. Ngoài cửa, mấy người thập thò chờ đến lượt được tiếp. Chị mời tôi uống nước và đợi buôn trưởng đưa về. Qua trao đổi, tôi thấy có cảm tình với người nữ cán bộ địa phương tận tình, chu đáo và dễ gần, khác với vẻ bề ngoài trông rất nghiêm khắc. Trước khi xuống đây công tác, tôi cứ tưởng người phụ nữ Êđê làm đội trưởng công tác nổi tiếng trong thời kỳ mới giải phóng là con người khô khan, sắt đá. Gặp và làm việc mới thấy chị là người rất chu đáo, cẩn thận trong công việc. Có những người cán bộ năng nổ như thế này thì địa phương không thể không xây dựng và giữ được danh hiệu điển hình tiên tiến nhiều năm liên tục của xã Ea Phê. 
Uống chưa xong ly nước đã có người đàn ông tuổi trên năm chục bước vào phòng. Chị H’Ka đứng dậy giới thiệu: “Đây là anh Y Tó - buôn trưởng buôn Puăn A, còn đây là anh Hồng Chiến ở chỗ chị Linh Nga được cử về buôn ta công tác. Anh đưa về buôn bố trí chỗ ở cho anh ấy nhé”. Sau cái bắt tay thân mật tạm biệt chị Phó Chủ tịch, tôi đi theo ông Y Tó.
Nếu tính từ quốc lộ 26A vào nhà buôn trưởng chỉ độ hơn một km, nhưng rất khó đi vì xe ô tô, máy cày chạy quá nhiều, mặt đường toàn “ổ trâu”. Căn nhà buôn trưởng gồm ba gian, mái lợp tôn, thưng ván xung quanh, nền láng xi măng bóng lộn. Giữa nhà kê bộ xa lông thẻ trang nhã, được chạm trổ tinh vi, góc nhà để chiếc ti vi màn hình phẳng màu đen. Buôn trưởng lấy phích pha trà, mùi trà Bắc Thái thơm ngào ngạt chứng tỏ chủ nhà là người sành uống trà. Vừa trò chuyện, vừa quan sát xung quanh, tôi bị bất ngờ trước những gì được thấy.
 Theo như cách trang trí trong nhà và cả cách quy hoạch vườn, ao, tôi đoán chắc kinh tế gia đình cũng phải khá lắm. Trước đây tôi chỉ nghe đến xã Ea Phê là một xã điển hình tiên tiến không chỉ của huyện, của tỉnh mà còn của cả nước mà vẫn không hình dung ra nó như thế nào. Nay được đếùn một buôn, quan sát xung quanh tôi giâït mình nhận ra nét rất quen của các làng quê miền Bắc. Những nhà xung quanh được thiết kế vườn khá giống nhau: bên nhà là vườn cây ăn trái xen cà phê, xa hơn một chút là ruộng rau xanh mượt mà. Trước đây khi chưa về công tác tại toà soạn, tôi cũng thường la cà xuống các buôn người dân tộc bản địa sinh sống, họ có nét chung: sống rất đoàn kết. Những ngôi nhà sàn dài hàng chục gian được làm sát gần nhau, nhà này cách nhà kia chỉ độ ba bốn mét là cùng, cây cối được dọn sạch sẽ, quang đãng, đứng dưới gầm nhà sàn có thể quan sát được hếât toàn bộ các nhà trong buôn; còn ở đây thật khác, nét khác của buôn là nhà cửa được bao bọc xung quanh bằng những mảnh vườn tươi tốt. Nhà sàn xen lẫn nhà trệt xây theo kiểu Thái Lan thấp thoáng sau những vườn cây. Ngồi trao đổi công việc với buôn trưởng một lúc, tôi xin được đến nhà H’Vêra, cô gái vừa học xong lớp 12 và có tham gia trại sáng tác văn học dành cho thanh thiếu niên người dân tộc thiểu số hè vừa qua.
Ngôi nhà ngói hai gian, năm phòng xây theo kiểu Thái khá bắt mắt. Giữa phòng khách kê bộ xa lông nệm bọc da, trong tủ kê sát tường là một dàn karaôkê hiện đại. Tiếp chúng tôi, người đàn ông trung niên đậm người, tuy không cao lắm nhưng trông có vẻ lanh lợi, hoạt bát, khuôn mặt cương nghị và đặc biệt có cặp mắt rất thông minh. Nghe ông buôn trưởng giới thiệu, chủ nhà xiết tay tôi thật chặt và nói: “Anh ở chỗ chị Linh Nga à! Chị ấy có khỏe không? Nhân dân mong chị về thăm lắm đấy”. Quay ra cửa sổ, anh gọi cô con gái vào pha nước. Cô con gái đậm người rất giống bố, bước vào cửa, tôi nhận ngay ra cô bé H’Vêra. Có lẽ H’Vêra cũng bất ngờ khi thấy tôi xuất hiện trong nhà mình, nên tròn mắt nhìn trước khi cất tiếng chào. Amí H’Vêra người hơi gầy rất giống cô gái người Kinh, nếu không được giới thiệu trước ta có thể nhầm chị với một cô thôn nữ vùng quê miền Trung. Chị mang két bia Sài Gòn trắng đặt bên bộ xa lông và đĩa thịt heo nướng lên bàn nói: “Mấy khi anh về thăm, mời ba anh em lai rai cho vui”.
(Còn nữa)

Thứ Sáu, 18 tháng 1, 2013

HỘI NGHỊ TỔNG KẾT CÔNG TÁC HỘI VÀ TRAO GIẢI THƯỞNG NĂM 2012

Sáng ngày 17 tháng 01 năm 2013, tại hội trường Trung tâm tuyên truyền Ban tuyên giáo Tỉnh ủy Đăk Laawsk, Hội VHNT tỉnh đã tiến hành hội nghị Tổng kết công tác Hội và trao giải thưởng hàng năm của Hội.
Thêm chú thích
Nhà văn Khôi Nguyên - Bí thư Đảng đoàn, Chủ tịch Hội VHNT Đăk Lăk báo cáo tổng kết năm 2012 (ảnh trên); Toàn cảnh Hội nghị (ảnh dưới)

Thêm chú thích
Nhà văn Đinh Hữu Trường - Nguyên Chủ tịch Hội khóa IV, phát biểu tại Hội nghị (ảnh dưới)
Thêm chú thích
Các tác giả đạt giải A tại buổi lễ trao giải (ảnh dưới)
Thêm chú thích
 Chú thích ảnh trên (từ trái qua): Nhà thơ ĐẶNG BÁ TIẾN,  Nhà văn TRÚC HOÀI, Nghệ sĩ HUY LIÊM, Nghệ sĩ Nhiếp ảnh QUANG KHẢI, Họa sĩ HỒ HẬU

Thứ Tư, 16 tháng 1, 2013

NGƯỜI GIỎI NGOẠI NGỮ NHẤT


Ảnh tôi đây bạn ạ!

                                                           Truyện ngắn của HỒNG CHIẾN


Người ta thường nói “học vẹt” hay “nói như vẹt” để ám chỉ những người học thuộc bài mà  chẳng hiểu gì điều mình đã học, hay là kẻ bẻm mép mà thôi. Điều đó thật oan uổng cho dòng họ nhà tôi lắm. Đừng thấy chúng tôi có thể bắt chước được tất cả giọng nói của muôn loài mà tưởng “chỉ biết bắt chước” đơn thuần, không suy nghĩ; nhầm to đấy ạ! Nếu không thông minh chịu khó thì không bao giờ có thể hiểu được tiếng của muôn loài; kể cả người. Chẳng hạn chúng tôi có thể nói “Nhà có khách! Nhà có khách !” mỗi khi có người lạ đến nhà. Thấy trẻ em nghịch ngợm thường hỏi: “nghịch gì đấy! nghịch gì đấy!”vv… Nghĩa là chúng tôi biết phân biệt ý nghĩa của từng câu nói đã học và không bao giờ nhầm lẫn. Điều đó chứng tỏ rằng họ hàng nhà vẹt chúng tôi thật sự có biệt tài trong việc học ngoại ngữ. Nói như vậy không có nghĩa, họ hàng chúng tôi không cần học, hay ít học cũng biết được đâu mà ngược lại , việc học tập thật vất vả. Nếu không tin mời bạn đến thăm quê hương tôi nhé!
            Dòng họ nhà vẹt rất đông, sống ở nhiều quốc gia trên thế giới và loài người biết thuần dưỡng chúng tôi từ rất lâu đời. Màu lông của chúng tôi cũng khác nhau: Lông màu trắng, màu vàng, màu đỏ và màu xanh biếc; mỗi màu lông có vẽ đẹp riêng của nó. Ở Việt Nam chỉ có chung một màu áo xanh. Họ hàng vẹt ở Tây Bắc to lớn hơn loài vẹt miền trung và Tây Nguyên. Ở cao nguyên Dak Lak có hai dòng riêng biệt nhau, một dòng thuộc loại to lớn, thân hình phải bằng quả trứng gà bình thường nặng từ 150 đến 200 gam; một dòng nhỏ bé hơn chỉ nhỉnh hơn ngón tay cái người lớn một chút, dòng họ này hiện nay còn ít chủ yếu sống ven bờ sông lớn và khe suối sâu. Tôi không giám mời bạn làm một cuộc du lịch thám hiểm họ hàng loài vẹt chúng tôi mà chỉ muốn mời bạn tới thăm gia đình tôi – loài vẹt lớn Tây Nguyên để hiểu đúng câu thành ngữ: “Nói như vẹt” .
            Dạ! Xin được giới thiệu với bạn về cuộc sống gia đình tôi ở Tây Nguyên. Cứ mỗi độ xuân sang khi những hạt mưa cuối cùng còn sót lại trên bầu trời rụng xuống mặt đất, nhường chỗ cho ánh nắng chan hòa rãi khắp nơi là lúc vẹt tách bầy làm tổ. Từng đôi uyên ương dắt nhau đi tìm cây làm nhà. Thường thường tiêu chuẩn tối thiểu của cây được chọn xây tổ là cây còn sống khỏe mạnh, có thân lớn; xung quanh phải thoáng, không có hoặc ít có cây lớn mọc gần. Tiêu chuẩn này họ hàng tôi thường chọn cây “lồng bàn”, một loài cây có lá gần giống lá bàng, mọc trên các đồi cỏ gianh hay trảng trống ở Tây Nguyên. Tìm được cây vừa ý ba má tôi phải chọn cành để làm cửa vào ra. Cành được chọn phải to, hơi nghiêng để nước mưa hay sương đêm không lọt vào. Với cái mỏ rắn chắc như thép, ba má tôi thay nhau đục thân cây thành một lỗ tròn như quay bằng com pa và sâu vào thân cây tới gần nửa mét. Phía trong bao giờ cũng rộng có thể đủ chỗ cho bốn năm má con (tất nhiên là ba tôi phải ở ngoài gác cửa) sống thoải mái. Loài vẹt đẻ hơi nhiều, một tổ bao giờ cũng đủ bốn trứng, nhưng nở ra chỉ hai, ba là cùng; hiếm hoi lắm mới có tổ nở cả bốn con. Mới lọt khỏi vỏ trứng, chúng tôi đã đòi ăn ầm ĩ. Ba tôi vất vã bay ngược, bay xuôi lo đủ miếng ăn cho cả nhà; Má tôi vừa canh chừng kẻ trộm vừa phải luôn miệng trả lời các câu hỏi của anh em tôi.
Thêm chú thích
            So với anh chị, tôi là người nở ra sau cùng nên bao giờ cũng bé hơn; song không vì thế mà được chìêu chuộng hơn đâu. Tôi vẫn phải theo học như các anh chị. Từ bài học đầu tiên về chữ o tròn như quả trứng… vẹt, đến cách phát âm chữ cái, cách chào hỏi xã giao vv… và vv… có nghĩa là tất tần tật mọi thứ trên đời đều phải học. Từ mờ sáng cho đến lúc mặt trời đi ngủ, mẹ tôi bắt chúng tôi học ra rả cả ngày. Vì thế ai đến cách nhà tôi hàng trăm mét cũng biết nhà tôi rồi. Cuộc sống gia đình tôi tuy vậy nhưng cũng gặp vô vàn khó khăn, nguy hiểm; nhiều lúc cái chết rình rập ngay bên cạnh.Tôi nhớ hôm đó trời mới vừa sáng, ba tôi đi làm chưa lâu; bỗng nghe tiếng má la thất thạnh ngay ngoài cửa:
-          Cướp! Cươp! Cướp!
Tôi định thò đầu ra cửa xem có chuyện gì xảy ra mà ầm ĩ như thế , liền bị ông anh giáng cho một cú vào đầu ngã lăn. Nhìn vẽ mặt nghiêm trọng của anh và chị, tôi không giám hé môi kêu khóc như mọi bận bị bắt nạt. Bỗng một mùi hôi nồng nặc phả vào một cái lưới dài ngoằng thọc vào cửa. Anh tôi vội vã xô tôi  ra sau, còn mình đứng ra trước cửa chờ đón con quái vật đầu bẹp, mắt nhỏ tí tẹo, có cái lưỡi dài ơi là dài từ từ xông vào nha, chậm rãi nhích từng tí, từng tí một. Chị tôi thét lên một tiếng té xỉu; còn anh tôi cố xù mấy chiếc lông măng mới mọc ở cổ, cất cao đầu, giơ cái mỏ bé tẹo lên định lăn xã vào quái vật. Con quái vật bò qua cửa lọt vào nhà nhằm anh tôi lao tới. Tôi sợ quá nhắm mắt lại chờ chết. Ngoài kia tiếng má tôi kêu khóc thảm thiết, tiếng mấy bà hàng xómhò hét om sòm. Bỗng tiếng ba tôi thét lên :
 -K…é…t!
Cùng lúc, con quái vật oằn mình tỏ ra đau đớn, phun ra một búng nước tanh ngòm rôi vội vã bỏ chạy ra khỏi cửa. Tiếng la hét: “Đánh! Đánh!” vang lên của các cô bác láng giềng đang kịch chiến với con quái vật. Anh tôi quay lại nói như xin lỗi
- Đừng giận anh chuyện lúc nẫy nhé! Lần sâu nếu có chuyện gì em…đừng…có… ra… ngoài. Hai…đứa…phải…nghe…lời…ba…má!
Giọng anh đứt quãng, rồi lịm dần. Chị tôi gào lên:
- Ba má…ơi!
Tôi lao ra định ôm lấy anh. Anh xua tay:
- Không…đụng…vào…a…nh!
Anh lảo đảo bước ra cửa, chị em tôi chạy theo ra và bóng anh vụt biến mất cùng với tiếng thét hãi hùng của mẹ: “Con ơi!”
Đau thương tang tóc trùm lên gia đình, làng xóm. Sinh được người con đã khó, giữ cho chúng khôn lớn, trưởng thành càng khó hơn. Thoáng chốc kẻ thù đã cướp mất người anh yêu quý của tôi, người đã dám mang thân đón nhận chất độc vào mình và ra đi vĩnh viễn để cho các em được sống. Má tôi ốm liệt giường, tất tật mọi việc nhà cửa nhờ cậy vào ba. May có mấy bác hàng xóm thay nhau giúp đỡ chứ không biết rồi sẽ ra sao. Thời gian trôi qua, tôi đã khoác trên mình bộ áo xanh biếc, nơi cổ tôi có thêm chiếc khăn quàng màu gạch, còn cánh phụ nữ không bao  giờ có. Chiếc mỏ cứng cáp màu vàng tươi rắn chắc là tứ vũ khí tự vệ quan trọng của họ chúng tôi. Còn chị tôi có chiếc mỏ đen bóng như sừng, bộ váy áo một màu xanh biếc. Tất cả hành trang của tuổi mới lớn đầy ắp con tim, chờ ngày tung cánh, hòa nhập  cộng đồng.
Chị gái tôi
            Cuối cùng, ngày ấy cũng đến. Đó là một ngày trời trong xanh không một gợn mây. Các ông bố, bà mẹ tró chuyện râm ran trước khi vào khai giảng năm học mới. Bài học bắt đầu bằng những cái vẫy cánh yếu ớt, chậm chạp, sau nhanh dần nhanh dần; chị tôi lao vút ra, chơi vơi giữa trời xanh. Đến lượt mình, tôi cố bình tĩnh tung cánh bay từng đọan ngắn giữa tiếng reo hò, cổ vũ của cả xóm.
Thêm chú thích
      
 Kể từ hôm đó ngôi nhà thân yêu chỉ còn trong kỉ niệm, không ai trở lại đó nữa. Tất cả mọi người trong cái xóm nhỏ, đồi tranh tập hợp đông đến cả ngàn, bay rợp trời. Vừa học vừa làm kiếm sống nên dòng họ nhà Vẹt chúng tôi đi tới đâu ai cũg biết bởi những câu chuyện trao đổi không dứt. Và cái lớp lau nhau vừa mới vào đời lại phải dài lưỡi ra học, học tất cả những điều cần thiết cho cuộc sống. Nếu không học tập hàng ngày để có thể nói được hàng chục thứ tiếng thì ai còn gọi họ hàng chúng tôi là”Vẹt” có phải thế không các bạn !