Thứ Sáu, 30 tháng 5, 2014

THÔNG BÁO


Sáng ngày 30 tháng 5 năm 2014, tại Văn phòng Hội Văn Nghệ Đăk Lăk, Ban chấp hành Chi hội Văn Học đã tiến hành họp phiên toàn thể dưới sự chỉ trì của ông Nguyễn Hồng Chiến – Chi hội Trưởng và thư ký: ông Nguyễn Liên – UVBCH, Tổ trưởng tổ Văn xuôi.
Hội nghị đã thông qua một số việc quan quan trọng:
I/ Đề nghị hỗ trợ 8 tác phẩm năm 2014:
1 Đỗ Trọng Phụng Thủ lĩnh Nơ Trang Lơngt Tiểu thuyêt
2 Nguyễn Văn Thiện Nối dây Tiểu thuyêt
3 Mỹ Dung Thoát vòng ô nhục Tiểu thuyết
4 Tiến Thảo Một trăm bài thơ sen Tập thơ
5 Nguyễn Thị Bích Thiêm Đừng bao giờ bó tay chấm com Tập truyện
6 Lệ Hải Vòng tròn ảo Tập thơ
7 Linh Vũ Lão Ngư Tập thơ
8 Linh Nga & Niê Thanh Mai   Tập truyện

II/ Đề nghị xét kết nạp 02 hội viên mới:
1/ Tác giả Nguyễn Duy Xuân 
2/ Tác giả Lê Thành Văn

III/ Cử hội viên tham gia các trại sáng tác do Hội VHNT phối hợp tổ chức trong tháng 6&7/2014
1/ Trại sáng tác VHNT Ea Kar - trung tuần tháng 6
2/ Trại sáng tác Văn học "VÌ SỰ BÌNH YÊN CỦA NHÂN DÂN' - dự kiến cuối tháng 6 đầu tháng 7.
3/ Trại sáng tác "HƯƠNG RỪNG 6" - dự kiến trung tuần tháng 7.



Thứ Ba, 27 tháng 5, 2014

MỘT THOÁNG THIÊN ĐƯỜNG CÀ PHÊ MEHYCO - BUÔN MA THUỘT

Giới thiệu nét đẹp Ban Mê qua ống kính!






Lối vào THIÊN ĐƯỜNG CÀ PHÊ MEHYCO (ảnh trên)
Một số cảnh trong quán (ảnh dưới)




Thứ Năm, 22 tháng 5, 2014

CHÚ THÍCH ẢNH



Chụp được bức ảnh hoa cà phê nở đẹp, tác giả thích quá mang về tòa soạn khoe và nhờ bạn bè đặt tên hộ.
-         Cứ đặt cho nó cái tên: HOA CÀ PHÊ là đủ.
-         Nhìn bức ảnh này ai mà không biết hoa cà phê chắc chỉ có người khiếm thị - một người khác góp ý, theo mình đặt: KHOẢNG KHẮC BAN MÊ
-         Nghe chưa chuẩn lắm, theo mình nên đặt tên: HƯƠNG SẮC BAN MÊ
-         HƯƠNG CÀ PHÊ phù hợp với bức ảnh này, ông Phó tổng góp lời.
Mọi người gật gù đồng ý với cái tên cho “đứa con tinh thần” của tác giả. Bức ảnh được điền tên rồi treo lên tường, bỗng có tiếng nói cất lên phía sau mọi người:
-         Sao lại đặt tên HƯƠNG CÀ PHÊ? Mình có thấy hương đâu. 
Mọi người đều ngạc nhiên, quay lại thấy một vị công tác viên cao niên đến từ lúc nào, không ai biết vừa đưa ra nhận xét; tác giả liền hỏi:
-         Thế theo bác thì đặt tên là gì cho phù hợp?

-         À, m…ình, m… ình chưa nghĩ ra!

Thứ Ba, 20 tháng 5, 2014

KỶ NIỆM ĐẢO LÝ SƠN


Thăm đảo Lý Sơn


Đoàn VNS tỉnh Đắk Lak làm việc với Huyện ủy và UBND huyện đảo Lý Sơn 


Nhà văn Hồng Chiến - Phó chủ tịch thường trực Hội VHNT Dak Lak (bên phải ảnh) tặng quà lưu niệm quân và dân huyện đảo Lý Sơn 


Lãnh đạo Huyện ủy và UBND huyện đảo Lý Sơn chụp ảnh lưu nhiệm với đoàn VNS Đăk Lak. 


Cây BÀNG VUÔNG trên đảo Lý Sơn 


Cây PHONG BA trên đảo Lý Sơn 

Thứ Hai, 19 tháng 5, 2014

MỘT LẦN VỀ THĂM QUÊ BÁC

 Ao sen trước ngõ nhà Bác



Đoàn người xếp hàng dài như vô tận về thăm nhà Bác.


Căn nhà lá đơn sơ, nơi Bác cất tiếng khóc chào đời (ảnh trên)
Cây cam triễu quả trong vườn nhà Bác (ảnh dưới)


Chủ Nhật, 18 tháng 5, 2014

GIỚI THIỆU CHUYANGSIN số 261 - tác giả BÍCH THIÊM

Tác giả BÍCH THIÊM

Göûi moät ngöôøi

Göûi ngöôøi
daïo böôùc phöông Nam
aùng maây ñaàu nuùi
khoùi lam boài hoài…

ñöôøng ñi
muoân noãi xa xoâi
neûo veà mong ñôïi
tím trôøi coû hoang
lẫn vaøo soùng nöôùc meânh mang
ñiệäu buoàn xöù sôû leânh loang daï chieàu

nhôù ai
maây nuùi coâ lieâu
mộät doøng tin
biết bao ñieàu

chôi vôi…

Thứ Năm, 15 tháng 5, 2014

GIỚI THIỆU TẠP CHI CHƯ YANG SIN SỐ 261 - THÁNG 5 NĂM 2014










CÂU HỎI CỦA CHÁU!



Sáng qua, cháu gái học lớp 4 về hỏi ông:
-          Ông ơi, tại sao lúc nào ở nhà má dạy con học mà con chưa trả lời được, má lại quát lên: Sao dốt thế!
-          Giảng nhiều mà con chưa hiểu nên má con nóng mới nói vậy.
-          Nhưng má con cũng là giáo viên?
-          Vì má con là giáo viên nên mới nghiêm khắc với con, cũng chỉ mong con học giỏi thôi mà.
-          Nhưng sáng nay khi làm lễ phát thưởng, thầy Hiệu trưởng nhà trường trước khi trao tặng thưởng cho con còn giới thiệu với quan khách: Ông nội cháu là Nhà báo – Nhà văn H. đây!
-          À, đấy là thây Hiệu trưởng khen con là con của một gia đình có truyền thống ham học ấy mà, 
-          Nhưng sao thầy Hiệu trưởng chỉ nhắc dến ông  mà không nhắc đến ba má con?
Ông...!

Thứ Tư, 14 tháng 5, 2014

HOA ĐÁ BIỂN

Mời bạn cùng xem một số hình ảnh đẹp về đá trên bờ vịnh Vĩnh Hy thuộc tỉnh Ninh Thuận - nơi sẽ xây dựng nhà máy điện hạt nhân đầu tiên ở Việt Nam










Chủ Nhật, 11 tháng 5, 2014

CHUYỆN THẬT NHƯ BỊA: LỖI TẠI ÔNG!



Đi công tác xa về, ông đến thăm cháu nội, ba má bận dạy học nên các cháu ở nhà với bà ngoại. Vừa dừng xe trước cửa đã nghe tiếng quát, tiếng khóc trong nhà vọng ra ồn ào như chợ vỡ. Bước vào nhà thấy cháu lớn bị phạt úp mặt vào tường đang nức nở khóc; còn cô em vừa khóc vừa kêu: Nóng quá, nóng quá… mặc cho bà ngoại mồm quát, tay giữ chân, tay xoa thuốc.
-          Sao thế này chị?
Nghe tiếng ông nội, cả hai cháu gái được thể gào khóc to lên, bà ngoại phân trần:
-          Học lớp 3 rồi mà sao nó ngốc thế, bắt em cầm ly thủy tinh để chị rót nước sôi, ly vỡ làm bắn nước vào chân em.
-          À, lỗi này tại nội vì nội chưa dạy cháu việc này. Bé Ba ngồi im cho bà bôi thuốc mới hết đau;  còn Bé Hai qua xin lỗi bà rồi lại đây với ông.
Bé Hai mếu máo quay mặt lại xin lỗi bà, giọng vẫn ấm ức, nước mắt đầm đìa, có vẻ như oan ức lắm. Bé Ba chạy lại ôm chầm lấy cổ ông nhưng vẫn kêu khóc. Vừa vỗ về hai cháu, ông vưa căn dặn:
-          Nước sôi không thể đổ ngay vào ly tủy tinh được vì làm như thế ly sẽ vỡ do nước nóng quá.  Lẽ ra nội phải dặn các cháu từ trước thì hôm nay đâu có bị thế này, lỗi này tại nội.
-          Dạ!
Cả hai chị em đều trả lời ông cùng lúc. Ông hỏi thêm:
- Sao con rót nước sôi lại bảo em cầm ly?
- Dạ, con rót xong rồi em mới bưng lên thì li tách đôi làm bắn nước vào chân đấy ạ.
- Có nước lọc sao con không uống lại đi đun nước sôi làm gì?
- Mẹ điện về bảo ông nội xuống nên chúng con đun nước để pha tra mời ông ạ.
- Ông...!



Thứ Sáu, 9 tháng 5, 2014

NGƯỜI LỊCH SỰ!


Buổi chiều, mẹ tắm xong vào thấy bé Remi (năm tuổi) ngồi xem tivi, hỏi con:
-          Cái máy tính bảng của mẹ để ở đầu giường đâu rồi?
-          Khi nãy có chú áo đỏ vào lấy rồi.
-          Thấy người ta lấy đồ sao không gọi mẹ?
-          Con đang nghĩ!
-          Con nghĩ điều gì?
-          Cong nghĩ chú ấy là thằng ăn trộm.
-          Lớn bằng từng này rồi mà thấy người ta lấy đồ không kêu, chắc họ rủ cũng đi theo luôn đây?
Ông bố vừa đi làm về nghe thấy vậy liền quát lên và phát mấy cái vào mông con. Remi đau quá, òa lên khóc. Vừa lúc ông ngoại lên thăm, thấy cháu khóc mới hỏi chuyện, người con rể kể lại sự việc và nói thêm:
-          Con phải phạt để nó nhớ, không nhỡ ai đến phỉnh, rủ lại đi theo thì mất con.
Remi ôm lây ông nức nở nói:
-          Bố bảo con… hu hu!
-          Bố con bảo sao? Ông hỏi lại.
-          Người lịch sự thì…thi... không làm phiền khi người khác đang tắm… hu hu!

Thứ Hai, 5 tháng 5, 2014

ĐIỆN BIÊN TRONG TÔI (tiếp theo)


Bút ký của Hồng Chiến

...
Sáng hôm sau cả đoàn lên thăm Sở chỉ huy chiến dịch của ta đóng trên đỉnh núi. Cánh rừng nguyên sinh còn đây, cây cối cao vút che lối mòn dẫn du khách lên thăm căn cứ địa ngày xưa; con đường rừng lầy lội ngày ấy, nay được lát đá, đi như dạo trong công viên. Thấy đoàn lên, hơn chục cháu bé người Tày, khoảng chín mười tuổi chạy theo đoàn và rất vô tư, các cháu trở thành thuyết minh riêng cho đoàn. Cứ đến một căn hầm hay một mái chòi lợp cỏ gianh  bên đường, các cháu lại tranh nhau giới thiệu: Đây là chỗ ở của cụ Trần Đạo Thuý, kia là nơi ở của bộ phận thông tin, chiếc hầm này là của Ban cố vấn… Các em cứ hồn nhiên thuyết minh bằng tiếng Việt rất đúng giọng thủ đô, làm anh em văn nghệ sĩ Dak Lak cứ tròn mắt thán phục. Hầm của Sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên, được đào xuyên qua lòng một ngọn núi và đứng trên cửa hầm có thể nhìn thấy toàn bộ khu vực lòng chảo cánh đồng Mường Thanh. Cả khu vực chỉ huy được nối với nhau bằng giao thông hào, trong các điểm ở sâu trong lòng núi có cả chỗ ăn nghỉ cho các chiến sĩ bảo vệ và thông tin. Sở chỉ huy của Đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng chỉ một mái lều gianh nhỏ dựng trước cửa hầm, nền đất khá bằng phẳng. Qua lều là căn hầm nền đất, tường đất, chiều ngang hơn một mét, cao khoảng gần hai mét nằm sâu trong lòng núi, không có gạch, hay bê tông, mà tất cả bằng đất; bàn làm việc được kết bằng những nan tre, ghế ngồi đều bằng những cây rừng thân tròn đục lỗ chôn chân xuống đất. Thật tài tình và kỳ diệu khi binh chủng Công binh non trẻ ngày ấy thiết kế, xây dựng được cả một công trình ngầm đồ sộ, chỉ bằng sức người với dụng cụ thô sơ: cuốc, xẻng, xà beng… Hơn 60 năm qua đi, các công trình ấy đến nay chắc chắn vẫn làm cho du khách sửng sốt khi được tận mắt chứng kiến những tác phẩm nghệ thuật quân sự độc đáo này. Không biết những vị khách nước ngoài từng là bại tướng trong chiến dịch này, khi trở lại đây, tận mắt chứng kiến Chỉ huy sở của ta nằm ngay trên đỉnh đầu của họ và chỉ cách hầm chỉ huy địch khoảng 3 km đường chim bay mà không biết; họ sẽ nghĩ gì! Đây đúng là một công trình nghệ thuật về quân sự có một không hai trong lịch sử nhân loại.
Đây là đồi A1, nơi ta và địch quần nhau với những trận giáp đánh lá cà ác liệt; một quả đồi được chia đôi, một nửa ta giữ, một nửa địch chiếm. Quân Pháp có hầm ngầm bê tông cốt sắt, có đại bác, xe tăng, máy bay yểm trợ - còn ta chỉ lòng căm thù ngút cao và chí sắt đá “quyết tử cho tổ quốc quyết sinh”. Căn hầm bí mật ta đào xuyên vào giữa lòng núi, đặt gần 1000kg thuốc nổ và biến ngọn núi thành một hố sâu hình chiếc phểu vẫn còn đây, nó như một chứng tích huy hoàng ghi lại chiến công của quân đội ta. Một quả đồi không rộng lắm, thế mà ta đào hầm xuyên vào giữa lòng núi, ngay trước mũi chúng, chúng vẫn không biết. Tài thật! Có lẽ chiến thắng của quân đội ta trong chiến dịch này là tổng hợp những điều thần kì mà cán bộ và chiến sĩ chung tay làm nên. Còn bọn thực dân Pháp và các nước đế quốc cung cấp tiền bạc, vũ khí nuôi dưỡng cuộc chiến tranh Đông Dương nói chung và cứ điểm Điện Biên Phủ này nói riêng, không thể hiểu nổi làm sao lại có nhiều chuyện thần kì đến thế!

Hầm chỉ huy địch, xây dựng giữa cánh đồng Mường Thanh, được lợp tấm thép hình vòm như nửa ống cống úp xuống, trên chất bao cát, nền láng bê tông, có phòng ăn, bàn ghế đầy đủ như một phòng công sở ở Hà Nội. Tiện nghi là thế, vũ khí hiện đại là thế, nhưng rồi tất cả bọn chúng cũng phải lầm lũi cúi đầu nhìn xuống chân, giơ tay lên trời cầu xin sự khoan dung của các anh bộ đội mũ nan, dép lốp. Hôm nay ngồi trong căn phòng chỉ huy toàn bộ cứ điểm Điện Biên Phủ, lòng tôi dạt dào cảm xúc: từng mảnh đất nơi đây đã thấm bao mồ hôi, xương máu cha ông để làm nên một chiến thắng vĩ đại, đánh dấu chung sự sụp đổ của chế độ thực dân và khẳng định sức mạnh của một dân tộc quật cường, có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản quang vinh. Chiến thắng Điện Biên Phủ không những góp phần quyết định mang lại hoà bình cho khu vực bán đảo Đông Dương mà hơn thế còn khẳng định một xu thế mới, mở ra một kỷ nguyên mới cho các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Từ bài học kinh nghiệm Điện Biên Phủ - Việt Nam, các dân tộc bạn bè trên khắp thế giới đặc biệt là: châu Á, châu Phi và châu Mĩ La Tinh đã làm các cuộc cách mạng dân chủ thàng công, chấm dứt chế độ thực dân trên toàn thế giới.

Về thăm cứ điểm Điện Biên Phủ khi xưa và nay là thành phố Điện Biên tráng lệ với những ngôi nhà cao tầng, đường nhựa rải thảm bê tông phẳng lì, xe ô tô lớn nhỏ ngược xuôi. Hai bên đường, cửa hàng, cửa hiệu đua nhau mọc lên như giới thiệu với du khách sự phát triển mạnh mẽ của một thành phố du lịch. Nhìn cảnh, ngắm người và ngẫm nghĩ, lòng tôi bổng thấy rưng rưng: Tượng đài chiến thắng Điện Biên đúc bằng đồng, được cả nước hướng về, xây dựng nhân kỷ niệm 60 năm ngày chiến thắng, chỉ được một năm, bệ tượng đã nứt, bây giờ đang đào bới ra để gia cố lại. Chắc chắn qua sự cố này, sẽ có nhiều người băn khoăn như tôi: Tại sao lại vậy? Lỗi tại kỹ thuật, hay lỗi tại con người trong cơ chế thị trường hôm nay! Hàng quán tuy nhiều nhưng những mặt hàng thủ công mỹ nghệ  - đặc sản riêng của xứ Mường Thanh hầu như rất ít, giá như chúng ta tổ chức tốt hơn các làng nghề, nó vừa là nơi bảo tồn giá trị văn hóa đặc trưng của vùng miền, vừa tạo sự cuốn hút cho du khách. Và tại các khu di tích, chính quyền cũng như các cơ quan có trách nhiệm cần có đội ngũ hướng dẫn viên đáp ứng được nhu cầu của các đoàn khách trong nước và quốc tế; có như thế người thăm quan mới hiểu hết các giá trị di tích… Còn đó những băn khoăn, còn đó những trăn trở, nhưng tôi tin và hy vọng cán bộ, nhân dân thành phố Điện Biên sẽ sớm khắc phục được những tồn tại, thiếu sót và biết cách khắc phục để vươn lên, xứng danh với một vùng đất đã đi vào huyền thoại: Điện Biên Phủ oai hùng – một địa danh du lịch hấp dẫn không chỉ của riêng người Việt Nam mà của cả bạn bè quốc tế.


Điên Biên – Buôn Ma Thuột, 2005 – 2010

ĐIỆN BIÊN TRONG TÔI



Bút ký của Hồng Chiến



Thế hệ chúng tôi sinh ra trong khói lửa chiến tranh. Tiếng bom gầm đạn rú được nghe nhiều hơn tiếng ru của mẹ. Lớn lên một chút, khi nhận biết được những người xung quanh, bỗng giật mình vì toàn thấy người già và phụ nữ; còn thanh niên trai tráng đã nối gót nhau lên đường cầm súng đánh Mĩ, giải phóng Miền Nam. Hình ảnh những người đàn ông trung niên, phụ nữ không còn đủ tuổi và sức khoẻ để tuyển vào bộ đội thì hàng ngày ra đồng, trên vai họ ngoài cái cày, cái bừa còn có thêm khẩu súng trường K44, sẵn sàng nhả đạn vào bầy quạ sắt đến ném bom phá hoại. Khi máy bay Mĩ đến, người ta lấy ngay cái bừa, cái cày… phương tiện lao động thô sơ của người nông dân Việt Nam làm điểm tựa kê súng trút đạn lên đầu thù; lũ giặc lái không thể hiểu nỗi, làm sao mà ở đâu cũng có lưới lửa phòng không tầng tầng lớp lớp bủa vây chúng. Còn chúng tôi, mới chục tuổi đầu đã phải chứng kiến bao cảnh thịt nát xương tan: sau mỗi lần dứt tiếng bom nổ là cảnh máu người lại đổ, có lần người ta phải chặt cả một bụi tre to để lấy bộ ruột người xấu số bị bom hất lên đó. Các mẹ, các chị nước mắt trộn mồ hôi, dùng hai tay bới đất tìm nhặt từng mảnh vụn thân thể của 37 em học sinh lớp ba và cô giáo đang trong buổi học bị máy bay ném bom trúng vào giữa lớp. Ác liệt là vậy, nhưng cánh trẻ chúng tôi vẫn đến trường, mặc dù đầu phải đội mũ rơm, lưng đeo nùn rơm chống mảnh đạn của quân thù. Những tháng năm còn học cấp một (bậc tiểu học bây giờ), chúng tôi được làm quen với môn Lịch sử và rất tự hào về truyền thống dựng nước, giữ nước của cha ông với bao chiến công hiển hách. Lớn lên một chút nữa, tôi được biết ngay trong thời đại của mình, lớp cha chú đã có một trận đánh nổi tiếng: “Lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”. Chiến thắng ấy không chỉ manh tính quyết định giành lại độc lập tự do cho nửa nước Việt Nam mà còn góp phần to lớn vào sự cáo chung chế độ Thực dân trên toàn thế giới. Điện Biên Phủ - Việt Nam! Tiếng hô đầy ngưởng mộ, tự hào của bè bạn khắp thế giới trong các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, là biểu tượng khích lệ cho các dân tộc bị áp bức vùng lên. Tự hào về ông cha với những chiến công hiển hách đánh đuổi ngoại xâm, giành lại độc lập cho non sông đất nước; tự hào về một vùng đất anh hùng với những trận đánh oai hùng, lưu danh hậu thế và có lẽ vì vậy, tôi đã từng mơ ước được một lần đặt chân tới Điện Biên Phủ, để tận tay bốc một nắm đất thấm máu cha anh, đặt lên bàn thờ tổ tiên với tấm lòng thành kính ngưỡng mộ, biết ơn.
Học chưa xong cấp III, miền Nam được giải phóng với chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, Nam Bắc sum họp một nhà, cả nước vỡ òa trong niềm vui chiến thắng. Miền Nam trong những ngày đầu được giải phóng là một bãi chiến trường, nơi nào cũng hằn vết bom đạn cày phá. Theo tiếng gọi của Đảng, lớp thanh niên chúng tôi lại rời ghế nhà trường phổ thông vào Nam góp phần xây dựng lại quê hương, chống bọn phản động và đưa ánh sáng văn hoá đến cho người dân Tây Nguyên. Ước mơ về thăm Điện Biên Phủ đành phải gác lại.
Đầu tháng 7 năm 2005, tôi bất ngờ được Hội VHNT Dak Lak mời tham dự đoàn văn nghệ sĩ lên thăm Điện Biên Phủ; thế là, mơ ước bao nhiêu năm nay bỗng nhiên thành hiện thực. Đoàn có sáu người do NSƯT Vũ Lân làm trưởng đoàn, xuất phát vào một buổi sáng đẹp trời tại Buôn Ma Thuột; rong ruổi đường trường, ngày đi đêm nghỉ, ba ngày sau chúng tôi đến thị xã Sơn La. Ở lại thăm thuỷ điện Sơn La và giao lưu với lãnh đạo địa phương một ngày, đón thêm ba Hội viên dự Trại sáng tác Văn hoc - Nghệ thuật do Liên hiệp các hội VHNT Việt Nam tổ chức tại đây rồi tất cả cùng kéo nhau lên Điện Biên Phủ. Đường ngoằn ngoèo uốn khúc, cheo leo trên vách núi, như một sợi chỉ mỏng manh vắt qua các sườn đồi leo dần, leo dần lên cao. Bác Vũ Lân ngồi phía trên quay lại thông báo cho mọi người: “Đến đèo Pha Đin rồi đấy”! Mọi người ồ lên, quay mặt qua cửa sổ để nhìn cho rõ. Xe leo đèo, một bên là vách núi, một bên là thung lũng sâu thăm thẳm, như đi trên trời nhìn xuống vậy. Nhà văn Nguyễn Văn Thiện, giáo viên dạy văn trường cấp III Nguyễn Trãi cất tiếng đọc:
“Dốc Pha Đin chị gánh anh thồ
Đèo Lũng Lô anh hò chị hát”.
Chịu cho các cụ ta ngày xưa giỏi quá, dốc thế này mà vẫn gánh vác vượt qua được! Nhạc sĩ Sỹ Hùng ngồi bên cạnh thêm vào: “Khen các cụ thì khen cả ngày!” Ừ cũng phải thôi, trong chiến dịch Điện Biên Phủ, ta chủ yếu dùng sức người là chính. Kéo pháo, vận tải quân tư trang, vũ khí, hậu cần… tất tần tật đều bằng đôi vai người dân công hoả tuyến. Từ miền Thanh Nghệ ra hay đồng bằng trung du Bắc bộ lên, một chiến dịch vận tải rầm rộ được quân và dân ta thực hiện để phục vụ cho chiến dịch. Xe đạp, ngựa và đôi vai con người nối tiếp nhau băng rừng vượt suối, bất chấp mưa rừng, gió núi và cả bom đạn quân thù; nhân dân ta đã làm nên một kỳ tích vận tải thần kỳ, bí mật tuyệt đối, làm cho kẻ thù sửng sốt, khiếp sợ. Chắc chắn các cơ quan tình báo của hai đế quốc - thực dân tham chiến chính thức ở Điên Biên Phủ, không thể hiểu nổi vì sao giữa núi cao, vực sâu như thế mà quân dân ta vẫn vận chuyển được khí tài, lương thực… với một khối lượng khổng lồ mà bọn chúng không hề hay biết. Bọn đề quốc và thực dân, không thể hiểu nỗi là phải, cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc của người Việt Nam là cuộc chiến tranh nhân dân, mọi người dân nghe theo tiếng gọi của Đảng, đoàn kết xung quanh Đảng và hành động theo sự lãnh đạo của Đảng; đấy là sức mạnh đoàn kết của cả một dân tộc anh hùng cùng chung chí hướng đánh đuổi ngoại xâm.

Lên đến đỉnh đèo dừng lại nghỉ, chúng tôi bước xuống xe hít thở không khí trong lành mát mẻ của núi rừng. Đưa mắt nhìn ra xung quanh chỉ có trời mây và rừng, tuyệt nhiên không một bóng nhà. Tại đỉnh đèo, một bức tượng được khắc khá công phu, cao khoảng 4 mét, hoành tráng ghi lại chiến công vượt đèo của quân dân ta trong chiến dịch Điên Biên Phủ. Hơn chục thanh thiếu niên người dân tộc bản địa, mặc áo Chàm chạy lại vây lấy xe chúng tôi mời mua hàng. Các thứ được mời chào có: dưa, mật ong và những chú ong đang vừa bò, vừa lừ lừ nhìn mọi người. Những con ong chằn to như ngón tay út người lớn, mình mang những khoanh màu đen, xen lẫn màu nâu sẫm, có bộ rằng to, trông dữ tợn được nhốt trong lồng sắt hình chiếc đó đơm tép ở đồng bằng Bắc bộ. Một em trai khoảng hơn chục tuổi nói với tôi: “Ong này ngâm rượu tốt lắm, chỉ cần ba con ngâm một lít rượu là có thể chữa khỏi đau lưng, đau khớp đấy”. Tôi tò mò hỏi lại: “Làm sao em bắt được?” “Nó ở trong lòng đất ấy, chỉ có một cửa ra ngoài thôi, lấy cái này úp vào miệng lỗ, con ong bay ra khỏi tổ tự nhiên chui vào đây, khi thấy nhiều thì đậy miệng rọ lại, lấy mang ra đây bán cho vui thôi.” “Em không đi học à?” “Thầy cho nghỉ hè mà!” Tôi suýt bật cười vì câu hỏi vô duyên của mình và nói với em: “Tây Nguyên của mình loại ong này cũng có, nó độc lắm, có thể đốt chết cả con trâu rồi xé thịt tha về tổ đấy”. “A, loại ong này trong Nam cũng có à, hay quá nhỉ!” Chia tay những người bạn đường hiếu khách, chúng tôi tiếp tục lên đương.
(Còn nữa)

Thứ Bảy, 3 tháng 5, 2014

ĐẢO BÌNH BA - MỘT LẦN ĐẾN (tiếp theo)



MỘT LẦN ĐẾN ĐẢO BÌNH BA
(Tiếp theo)

Xuôi con đường nhựa, qua khu doanh trại quân đội trồng nhiều xoài, cây nào cũng rất sai quả, từng chùm quả phủ gần như kín cả cây trông rất đẹp mắt. Qua con đường hai bên trồng xoài, trước mắt tôi hiện ra mặt biển trong xanh nhìn rõ những hạt cát trắng tinh dưới làn sóng biển nhẹ nhàng vỗ bờ. Một đoàn thanh niên hơn hai chục người đang nô đùa trên bãi, thỉnh thoảng lại bật lên tiếng cười sảng khoái khi bắt được con ốc, con ghẹ chuyền tay nhau xem. Xa xa dãy núi thuộc Vườn Quốc gia Núi Chúa chạy ra chắn biển có các ngọn nhấp nhô in trên nền trời xanh. Mặt trời màu vàng nhạt xuống gần đỉnh núi, hắt bóng xuống mặt biển, tạo nên một bức tranh thủy mạc lộng lẫy đến bất ngờ; bức tranh ấy còn được điểm thêm hình của hai con tàu lớn đang đậu ở hai bên bóng mặt trời lung linh trên mặt nước. Từng làn sóng biển nhấp nhô đuổi nhau ập vào bờ, ngọn sóng nào cũng nhuộm ánh vàng lấp lánh, lấp lánh.

Dầm mình xuống mặt nước mát, đi ra xa bờ, nước lên đến cổ mà vẫn nhìn thấy từng ngón chân của chính mình. Trên đám san hô màu trắng ngà có từng đàn cá bơi lội như trong thủy cung nhân tạo. Cá ở đây không lớn lắm, nhưng màu sắc sặc sỡ và rất dạn, nhiều con thúc cả vào chân, vào bụng người. Dưới làn nước trong như lọc, San hô mọc theo từng khóm và có nhiều loại khác nhau càng làm tăng thêm vẻ đẹp của bãi Ngang. Tại sao lại gọi tên “bãi Ngang?” Trước khi ra đây, tôi tò mò hỏi cô chủ nhà nghỉ, cô cũng lắc đầu không biết, vì từ nhỏ đã được nghe gọi như thế, giống như gọi đảo này là đảo Bình Ba vậy. Đứng ở bãi Ngang nhìn được toàn bộ cửa Lớn, nơi tàu thuyền ra vào vịnh Cam Ranh và chỉ nơi đây mới thấy cảnh hoàng hôn đẹp nhất đảo. Mặt trời nhạt dần, nhạt dần rồi khuất từ từ sau một ngọn núi đã trở màu xanh sẫm xa xăm.
Chưa đến năm giờ sáng, cả đoàn văn nghệ sĩ Đắk Lắk đã bật dậy kéo nhau ra xe để đến bãi Chướng ngắm mặt trời lên. Hôm qua đã hẹn chiếc ô tô 16 chỗ chở một vòng quanh đảo đón bình minh và thăm bãi Nồm giá 200 ngàn đồng. Anh lái xe còn trẻ, chắc tuổi độ hai bảy, hai tám nói giọng xứ Nghệ đưa đoàn ra bãi Chướng. Đến nơi trời vẫn còn tối, phương đông chỉ mới vài  đám mây hồng đâm ngang. Mặt biển còn nhiều bóng đèn nhấp nháy của các thuyền đánh cá đang trên đường trở về. Anh tài xế vui chuyện cho biết: quê ở tận huyện Hương Sơn, tỉnh Nghệ An; học xong phổ thông, nhập ngũ được chuyển về lực lượng Biên Phòng đóng tại đảo này; xong nghĩa vụ ở lại đây làm rể và lập nghiệp luôn. Hai vợ chồng trẻ được chính quyền xã ưu tiên cho thuê một lô đất gần cầu cảng dựng quán bán hàng; chồng không biết nghề biển nên mua chiếc xe chở khách tham quan chạy quanh đảo kiếm thêm đồng giúp vợ. Nhìn chung kinh tế gia đình tạm được. Anh cho biết thêm:
-         Các bác thấy mấy quán xây dựng dở giang xung quanh đây không? Có một vị cán bộ lớn ở trong đất liền ra đầu tư định mở khu du lịch tại đây, nhưng đảo này thuộc vùng quân sự nên không được xây dựng các khu vui chơi, giải trí nên công trình bỏ dở đó.

Thì ra vậy, sát mép biển có năm căn nhà gần nhau nền láng bê tông, hình bát giác; các cột đổ bê tông cốt thép đã bị cỏ và dây leo phủ kín, chắc bỏ hoang đã lâu. Phía sát chân núi một dãy nhà xây 7 phòng chưa có mái, dây leo bám đầy tường. Kinh phí đầu tư ban đầu vào đây chắc cũng khá nhiều, nay bỏ hoang, nhìn thấy tiêu điều quá. Mặt trời chưa lên, chúng tôi có thêm nhiều người gia nhập; người đi xe máy, người đi xe ô tô điện, ở đây họ gọi: xe túc túc – chở được hơn chục người một chuyến, cùng ra ngắm cảnh.
Phương đông những đám mây đen đổi màu chuyển dần qua màu vàng rồi màu hồng; mặt biển cũng sáng dần lên, những con sóng lớn từ biển đông ầm ầm lao vào vách đá, tung lên những hạt nước lớn cao đến vài mét. Hai dãy núi cách nhau khoảng gần 200m, cùng lao ra sát mép nước, có vách đá dựng đứng, vô tình tạo nên một thung lũng xuôi dần ra biển, có chiều ngang hơn 200 mét, được đặt tên: Bãi Chướng. Bãi Chướng trên bờ cao có một lớp cát dày, phía sát mép nước được phủ một lớp san hô trắng bị sóng đánh vụn ra như những hạt sỏi, trông rất đẹp. Hôm nay nhiều mây, những đám mây hồng chuyển sang màu vàng rực rỡ làm mặt biển như dát bạc. Từng luồng gió từ biển Đông lồng lộng thổi vào giật tung cả những vạt áo nếu không nhanh tay giữ; có lẽ vì những cơn gió như thế thổi vào đây nên bãi này được mang tên bãi Chướng. Hơn 7 giờ, mặt trời lên cao mới ra khỏi mây, cả đoàn tiếp tục lên đỉnh đảo ngắm cảnh các tàu đánh cá tấp nập trở về. Nhìn về phía đông nam, những chiếc tàu lớn đi vào vịnh để lại phía sau một luồng nước trắng phau, kéo dài.

Trên đảo, thực vật chủ yếu là các loại: xương rồng, dứa dại, chà và... mọc lúp xúp quanh các hòn đá lớn, trông như vùng bán sa mạc. Con đường bê tông do quân đội thi công, xẻ các mỏm núi đưa du khách tham quan đi một vòng tròn qua phía đông đảo rồi trở lại cầu tàu. Sân cầu tàu, buổi sáng trở thành chợ hải sản, tấp nập người mua, người bán. Cá, ốc, cua, ghẹ, tôm, mực… những báu vật của biển khơi sau một đêm ngư dân trên đảo đánh bắt được đều hội tụ tại đây, còn tươi rói được bày bán thành hai dãy dài. Mấy bà trung niên thấy khách lạ đến liền chào mời: “Các bác thích ăn cứ mua rồi đưa vào quán đây bọn em nấu giúp”!
Từ cầu tàu đi sâu vào đảo khoàng hơn 300m, qua khu dân cư đông đúc đến bãi Nồm. Trên bờ biển bải Nồm có nhiều ngôi nhà hai, ba tầng làm nhà nghỉ cho khách tham quan, du lịch và bán cà phê. Bờ biển cát trắng tinh, thoai thoải xuôi dần ra xa, thỉnh thoảng có hòn đá lớn nhô lên trên mặt nước, sóng vờn qua, hắt lên không trung từng đám bụi nước. Nước biển trong xanh, thỉnh thoảng có bầy cá chạy qua thúc vào người đang tắm. Đứng trước bãi biển tôi chợt nhớ đến cô chủ nhà nghỉ nói với tôi khi ra đây: “Bãi Nồm là bãi tắm đẹp nhất đảo đấy.” Đến rồi mới biết cô nói không sai.
12 giờ 30, đoàn xuống tàu trở về đất liền. Ra cầu tầu chia tay chúng tôi có mấy người bạn vừa quen trên đảo và cả người sỹ quan bộ đội Biên phòng làm nhiệm vụ tại trạm Cầu cảng. Chỉ chưa đầy một ngày một đêm ở đảo thôi, nhưng tình cảm tưởng như đã gắn bó từ lâu rồi, bịn rịn không muốn rời xa. Người dân trên đảo Bình Ba vẫn còn đó sự chân chất, giản dị của vùng đồng bằng mến khách chưa bị cơ chế thị trường làm cho thay đổi. Phải chăng đó là truyền thống của những người dân chài ở Bình Định vào định cư tại đảo từ cuối thế kỷ XVI, đầu thế kỷ XVII lưu giữ đến ngày nay và vì thế mới đặt tên đảo là Bình Ba (Bình là Bình Định, một cách gọi để ghi nhớ tổ tiên vào lập nghiệp nơi đây) – một ông lão tôi gặp bên Lăng Nam Hải Bình Ba, giải thích như thế. Lăng Nam Hải Bình Ba được xây dựng cuối thế kỷ XVIII để thờ các ông: Nam Hải và Tiên Hiền, Hậu Hiền (những người có công khai khẩn đất đai, quy dân, lập ấp, tạo dựng xóm làng…) đã được các vua triều Nguyễn ban tặng năm đạo sắc phong và năm 2006 được UBND tỉnh Khánh Hòa xếp di tích cấp tỉnh.

Đảo lùi dần rồi khuất hẳn sau mặt biển. Xa rồi, nhưng vẫn mong cho dù thời gian có thay đổi nhưng những con người nơi đảo vẫn không đổi thay, họ vẫn giữ được nét văn hóa truyền thống tốt đẹp của người Việt xưa và chính điều đó cùng với phong cảnh tuyệt đẹp nơi đây sẽ tạo nên sự hấp dẫn riêng, lôi kéo du khách trong nước đến với đảo, góp phần làm cho đảo Bình Ba ngày một trù phú hơn, giàu đẹp hơn để rồi ai chưa đến sẽ mong được đến, đã đến một lần lại muốn đến lần nữa, lần nữa…
Hẹn gặp lại nhé: đảo Bình Ba! 
(Hết)

ĐẢO BÌNH BA - MỘT LẦN ĐẾN


MỘT LẦN ĐẾN ĐẢO BÌNH BA


Đúng 13 giờ 30 phút, con tàu kéo một hồi còi dài chào tạm biệt cảng Ba Ngòi hành trình ra đảo Bình Ba, thuộc xã Cam Bình, thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa. Trời trong xanh, không một gợn mây, ông mặt trời dội xuống những tia nắng nóng gắt. Mặt nước biển xanh thẩm thỉnh thoảng đẩy những con sóng nhỏ đùa giỡn trên mặt nước, ập vào mạn thuyền, tung lên những hạt nước nhỏ li ty như mưa. Trên vịnh neo đậu nhiều tàu rất lớn, trông xa như những ngôi trường cao tầng đứng im lìm soi mình trên mặt biển. Tôi cũng đã đi nhiều nơi, tới nhiều vùng biển khác nhau của tổ quốc, nhưng không nơi nào giống nơi đây: ngoài cảng dùng cho tàu chở khách dân sự và các tàu đánh cá neo đậu đông đúc, còn các cảng khác chỉ có tàu lớn ăn hàng, một số tàu đậu rải rác khắp mặt vịnh.
Đứng trên mũi tàu nhìn về hướng đông, thấy một dãi đất nhô lên khỏi mặt biển mờ mờ; cô Thùy Liên - một hành khách đi cùng, là người dân đang sinh sống trên đảo nói với tôi:
-         Đảo Bình Ba đấy anh!
-         Nhìn thấy đảo rồi à! Tôi ngạc nhiên reo lên.
-         Từ cảng ra tới đảo chừng 12 hải lý thôi ạ.
Thùy Liên trả lời và giải thích thêm, giúp tôi hình dung ra vịnh Cam Ranh như một nửa chiếc chén bẻ đôi để ngữa; phía bắc và đông bắc vịnh có dãy núi cao lao ra biển, tạo nên một bức tường thiên nhiên chắn gió, đây là vành chén thứ nhất; phía nam, một dãy núi thuộc Vườn Quốc gia Núi Chúa vươn ra biển, tạo nên vành chén thứ hai; còn miệng chén quay ra biển đông, có đảo Bình Ba đứng chắn. Nhờ đảo Bình Ba và hai dãy núi cao bao bọc ở hai phía, tạo nên vịnh Cam Ranh thanh bình, nơi đây không những là vịnh để tàu thuyền tránh bão và “ăn” hàng mà còn là một vùng giàu có về thủy sản. Quả thực nhìn kỹ trên mặt nước biển, có rất nhiều phao, báo hiệu sự có mặt của những vành lưới được thả.
Thùy Liên, khỏang ba mươi tuổi, nước da bánh mật, khuôn mặt trái xoan trông khá xinh. Cô cho biết gia đình ở đảo đã nhiều đời, công việc của người phụ nữ trên đảo chủ yếu làm thiên chức người vợ, người mẹ, một số ít người tham gia buôn bán; gần đây có nhiều người ở các địa phương tìm đến thăm đảo nên một số chị em rủ nhau mở thêm quán bán hàng ăn, giải khát ven cầu cảng; vì thế, buổi sáng phải tranh thủ vào đất liền mua đồ để tối bán cho khách vãng lai. Ngoài đảo cũng có dịch vụ nhà hàng nổi dành cho khách nhiều tiền muốn dùng đặc sản, ngắm biển đêm, các anh chị thích thì có thể ra đó thưởng thức đặc sản nổi tiếng nhất của đảo Bình Ba: tôm hùm. Thùy Liên cho biết thêm: đảo Bình Ba phía bắc cách bán đảo Cam Ranh chỉ độ 500 mét, vì thế cách đây mấy năm nhà nước đã đầu tư kéo điện cao thế từ đất liền đưa ra đảo qua chỗ này, nhân dân thoát cảnh đèn dầu và có điều kiện sử dụng các phương tiện sinh hoạt hiện đại như: tivi, tủ lạnh, máy điều hòa nhiệt độ... cuộc sống người dân trên đảo thay đổi nhiều từ khi có điện lưới quốc gia. Cửa biển chung với bán đảo Cam Ranh, dân địa phương gọi đây là cửa Nhỏ chỉ dành cho tàu thuyền đánh cá ra vào; còn phía nam đảo, nơi có bãi Ngang nhìn ra cửa Lớn, các tàu to đi lại như tàu ngầm, tàu chiến ta mới mua cũng đi qua đường đó.
 Đảo Bình Ba rõ dần, tôi quay sang nói với Thùy Liên:
-         Đảo nhà mình nhìn giống như một trái tim, phần nhỏ ngâm dưới nước biển.
-         Hay quá, em chưa nghe ai nói thế bao giờ!
-         Em thấy đúng không?
-         Dạ! Làng Bình Ba ở ngay chỗ cuống trái tim đấy anh. Đảo Bình Ba có diện tích trên 3 km2, dân số chưa đến 5.000 người tập trung ở bốn thôn là: Bình Hưng, Bình An, Bình Ba Đông và Bình Ba tây; tuy chia thôn như vậy, nhưng đa số sống quây quần nơi cầu cảng và một phần kéo dài qua bãi Nồm. Ngày xưa trên đảo không có trường học, ai muốn học chữ phải qua tận thị trấn Ba Ngòi hay vào thành phố Nha Trang học; còn nay ở đảo đã có trường mẫu giáo, trường tiểu học và cả trường trung học cơ sở nữa, bọn nhỏ bây giờ đi học thuận tiện lắm.

Nghe lời tâm sự có đôi chút tự hào của Thùy Liên làm tôi háo hức muốn tàu chạy nhanh hơn để được tận mắt thấy hòn đảo đã từng được nghe nhiều mà chưa một lần đến... và giờ đang hiện rõ dần. Xung quanh đảo, nhìn từ phía tàu chạy vào hình như chỉ thấy toàn những tảng đá khổng lồ, trắng toát chen nhau mọc từ biển lên, tạo thành bức tường chắn sóng; phía cảng của đảo nổi bật một ngôi nhà cao năm tầng có dòng chữ “Nhà nghỉ Hạnh Pháp”, còn xung quanh chỉ là những ngôi nhà nhỏ hơn, thấp thoáng sau những tán cây bàng, cây si... Phủ khắp đảo một màu vàng nhạt của các cây thấp và cỏ dại xen lẫn những tảng đá lớn. Phía trước cầu cảng, nhiều thuyền đánh cá neo đậu và cả những căn nhà nổi nuôi tôm hùm, nhà hàng... thể hiện một vùng quê bình yên, trù phú.

Tàu cập bến, chia tay Thùy Liên, cô dặn: “Nếu lần sau các anh ra chưa có chỗ nghỉ thì đến nhà em nhé, nhà có máy điều hòa nhiệt độ, quạt và các tiện nghi đủ tiêu chuẩn như khách sạn, giá chỉ 70 ngàn đồng một người một đêm thôi. Nhà em kia kìa!” Bắt tay tạm biệt, tôi nói vui: Một cách quảng cáo rất ấn tượng.
Chiều, cả đoàn văn nghệ sĩ Đắk Lắk ra bãi Ngang ngắm cảnh hoàng hôn theo như giới thiệu của cô chủ nhà nghỉ Hạnh Pháp. Mấy anh em thả bộ theo con đường nhựa  mới làm đi dạo ven bờ biển chứ không đi xe máy hay xe ô tô, xe túc túc mà người dân nơi đây chào mời vì muốn ngắm cảnh biển và chụp hình. Bờ biển được xây kè đá cao, phía trước kè có nhiều tảng đá lớn nhô lên trên mặt nước biển đang lúc thủy triều xuống. Một đám trẻ nhỏ len lõi qua các hòn đá để mò, bắt những con ốc, con ghẹ... bóng các cháu đổ dài trên mặt biển; thấy đẹp quá, tôi và nghệ sĩ Nguyễn Huy Lộc chĩa máy ra bấm lia lịa. Bỗng có người vỗ vai, tôi giật mình quay lại thấy một người đàn ông chắc khoảng trên sáu chục tuổi, râu tóc bạc phơ, nở một nụ cười hiền hậu hỏi:
-         Các anh ở xa mới tới đây lần đầu à?
-         Dạ, anh em em ở Đắk Lắk xuống ạ.
-         Dân xứ sở cà phê xuống thăm biển, vào làm một ly cho vui đi.

Miệng nói, tay chỉ vào ngôi nhà bên cạnh đường, nơi có bảy người đàn ông đang ngồi bên hiên nhà nhâm nhi. Trước sự nhiệt tình của chủ nhà, cả hai chúng tôi vào nhập mâm. Trên mâm toàn đồ hải sản tươi: mực, tôm, cá hấp và bánh đa cuốn với rau thơm. Ông chủ nhà nói: “Chiều tối chúng tôi đi biển, giờ làm vài ly cho vui; mấy khi gặp các anh đến chơi, xin mời cụng ly”. Mọi người nâng ly, tôi cũng phải nâng và cố cạn ly đầu rồi xin phép đi vì không uống được rượu. Mọi người trong mâm cười bảo: mấy khi gặp nhau, vui là chính, còn uống thì tùy. Không khí đầm ấm của những ngư dân nơi đây lần đầu gặp gỡ, giống như ở quê tôi ngày mùa gặp con cháu về chơi vậy; gần gũi và thân mật. Nghệ sĩ Nguyễn Văn Lộc ở lại nhậu, còn tôi vì muốn ngắm hoàng hôn nên xin đi trước, mấy người đều không nỡ giữ, bắt tay thật chặt tạm biệt.
(còn nữa)