Thứ Bảy, 16 tháng 5, 2015

CHƯ YANG SIN SỐ 272 - tác giả NGUYỄN NGỌC PHÚ

BỮA CƠM CHIỀU
TRONG DINH ĐỘC LẬP


Cơm dã chiến nấu bằng bếp điện
Rau muống xanh như hái tự ao nhà
Trời còn đầy ắp hoa và pháo
Nhìn nhau chưa vội mở vung ra

Màu xanh - sân cỏ xanh mải miết
Quây quần đồng đội đến vui chung
Hàng cây so đũa cùng ta đó
Ăn bữa cơm ở đích cuối cùng

Khách thường thương mấy anh nhà báo
Theo tăng băng dốc mấy mươi ngày
Sáng chiếm núi Bông, chiều Cửa Thuận
Vượt đèo Phước Tượng buổi chiều mây.

Tăng vẫn dàn theo hình chiến đấu
Xích còn vương đỏ đất Phan Rang
Vừa mới vào mâm, anh nuôi bận
Chia thêm tổng - thống - ngụy - đầu - hàng.

Kìa gắp đi anh, ai nấy giục
Có gắp chi đâu, mải ngắm trời
Tự do xanh quá, mênh mông quá
Vượt mấy ngàn bom mới tới nơi.

Bỏ lại đằng sau bao trận đánh
Kịp vào thành phố sáng tên Người
Độc lập theo tăng vào cổng chính
Cờ treo trên đỉnh nước non ơi!

Ta trẻ như cờ ta trẻ lắm
Ta reo trời đất cũng reo cùng
Ta no cười nói, say đôi mắt
Bát canh ngày hẹn cũng mênh mông.
   1975
Hữu Thỉnh
Lời bình:
Ngày đại thắng 30.4.1975 còn âm vang mãi đến hôm nay. Những bức ảnh lịch sử, những thước phim nóng hổi, những bài ca hào hùng, những trang ký sự chiến tranh còn vương mùi khói đạn. Nhà thơ Hữu Thỉnh - người lính trực tiếp cầm súng với tư cách là phóng viên mặt trận đã có mặt tại dinh Độc Lập và anh ghi lại "Bữa cơm chiều trong dinh Độc Lập" thật độc đáo và cảm động trong giây phút thiêng liêng ấy. Góc nhìn của nhà thơ soi rọi đến từng chi tiết, nhưng góc mở của tâm hồn thì nới rộng vô biên. Bài thơ viết thật giản dị có sự phát hiện tinh tế khi anh nhận ra "Hàng cây so đũa cùng ta đó". Nhà thơ Hữu Thỉnh  thảng thốt "Trời còn đầy ắp hoa và pháo/ Nhìn nhau chưa vội mở vung ra". Giữa chói lọi sắc hoa chiến thắng với bữa cơm dã chiến nấu bằng bếp điện anh đã nhận ra "Rau muống xanh như hái tự ao nhà". Chỉ một câu thơ ngắn đã lẫy ra được phía sâu thẳm của tâm hồn người lính thi sĩ. Cái gạch nối giữa chiến trường và hậu phương được rút ngắn lại. Đó cũng là nét đặc trưng thuần Việt của anh lính Cụ Hồ. Giữa bốn bề chiến trận chỉ mấy phác họa nhanh nhà thơ đã dựng dậy được thần thái không khí cuộc chiến thật ác liệt" “Tăng vẫn dàn theo hình chiến đấu - Xích còn vương đỏ đất Phan Rang" và "Độc Lập theo tăng vào cổng chính" - một tư thế đàng hoàng của người thắng trận. Lại nữa, ống kính tâm hồn của nhà thơ chiến sĩ này đã thu được một cận cảnh rất giá trị thật hóm hỉnh bất ngờ "Vừa mới vào mâm, anh nuôi bận/ Chia thêm Tổng thống - Ngụy - đầu hàng". Bữa cơm chiều 30.4 tại dinh Độc Lập thật đặc biệt có đủ thành phần từ anh lính bộ binh, thiết giáp đến phóng viên nhà báo và có cả kẻ bại trận là Tổng thống Ngụy. Bài thơ vừa có nét trầm tĩnh đằm sâu vừa đắm say bay bổng:" Có gắp chi đâu, mãi ngắm trời/ Tự do xanh quá, mênh mông quá". "Tự do xanh quá" gợi lên cho ta cái khát khao sự sống tự do của vòm trời xanh, của sân cỏ mải miết, của màu quân phục xanh. Nhà thơ Hữu Thỉnh không nén được niềm vui quá lớn, anh đã reo lên" Tự do xanh quá" là sức xanh trỗi dậy từ tâm hồn người lính trẻ. Chỉ tiếng reo thôi đã cắt nghĩa được vì sao chúng ta chiến thắng không cần phải lý giải nhiều lời, tất cả đều được ghi lại bằng cảm giác ấn tượng của tâm hồn. Đó chính là chất thơ lung linh lan tỏa từ hiện thực khắc nghiệt của đời sống. Nếu không có cái thảng thốt ấy thì bài thơ giống như một ghi chép báo chí giảm hẳn sức truyền cảm thuyết phục. Khổ cuối cùng là khúc vĩ thanh đến cao trào tưởng như không dứt ra được thì đột nhiên tứ thơ lắng lại bằng câu kết khép lại thật tâm trạng:"Bát canh ngày hẹn cũng mênh mông" - chan chứa thêm niềm đắm say nhân hậu trong ngày chiến thắng…
                                                                        

Thứ Ba, 12 tháng 5, 2015

CHƯ YANG SIN SỐ 271 - VĂN HỌC NƯỚC NGOÀI

Helon Habila sinh tại Kaltungo, bang Gombe ở miền đông nam Nigeria. Ông tốt nghiệp đại học Jos và đại học East Anglia ở Anh. Hiện ông dạy khoa Sáng tác tại đại học George Mason ở Faifax, bang Virginia, Hoa kỳ.
Tiểu thuyết đầu tiên của ông “Waiting for an Angel - Chờ một thiên thần”, được giải thưởng Commonwealth Writers Prize dành cho sáng tác mới (Khu vực châu Phi năm 2003) và giải thưởng Caine Prize năm 2001. Năm 2000 ông được giải thưởng dành cho thơ “MUSON Poetry Prize”. “Measuring Time – Đo thời gian” là tiểu thuyết thứ hai của ông, sau đó là tiểu thuyết “Oil on water – Dầu trên nước”. 



NGƯỜI NHẬP CƯ



Có chút gì đó buồn buồn, gần như sầu thảm nơi vẻ đẹp của nàng, và từ lúc nàng mở cửa nhìn anh với vẻ cam chịu, Yakubu cảm thấy bị nàng thu hút. Giống như là nàng đã vươn tới lôi anh vào một vòng tròn trong đó chỉ có anh và nàng tồn tại.
“Cô là bà Osasa?”, anh hỏi. Nàng bật ra một tiếng reo vui khi nàng mở bì thư dày màu nâu anh đem lại cho nàng và thấy chiếc vé máy bay bên trong. Vẫn đứng, nàng đọc lá thư ngắn kèm theo vé.
“Tôi đến hôm qua và tôi sẽ đi lại vào tuần tới. Chồng cô muốn tôi trở về với cô”, Yakubu nói.
Anh đã không ngờ một người như Osasa hàng xóm của anh, gần năm mươi tuổi, lại có được người vợ trẻ như vậy. Nàng có thể chưa đến ba mươi. Khi nàng mời anh ở lại  ăn trưa anh nói vâng, dù anh đã định ăn trưa với bạn bè. Trong bữa ăn anh biết thêm về nàng: nàng là một y tá, không có con, sống chung với em dâu vì họ đã bán nhà hai năm trước khi Osasa sắp đi Mỹ sau khi được chương trình Định cư Đa dạng lựa chọn. Nàng hồn nhiên nói, “Anh ấy cần đem theo ít tiền vì tụi tôi không rõ nước Mỹ sẽ như thế nào”.
Họ ngồi nơi cái bàn ăn hình vuông, Naomi ở phía bên trái anh, đối diện với anh là em dâu của nàng ngồi sát bên đứa con gái năm tuổi tên Abigail, như để bảo vệ nó trước người lạ. Em dâu nàng đã từ chỗ làm về nhà vài phút sau khi anh đến, có con gái đi theo, và tỏ ra bất ngờ khi thấy một người đàn ông lạ nơi phòng khách. Chị ta đi qua mặt anh không nói một lời và từ chỗ ngồi của mình anh nghe được tiếng chị trong nhà bếp hỏi Naomi: “Anh ta là ai?”.
Chị ta có chiếc cổ cao gầy, chiếc cổ mà anh tránh không nhìn vì sự tàn tạ thể hiện rõ ở đó. Chị không nói nhiều, nhưng mắt chị đăm đăm nhìn chiếc phong bì lớn để chính giữa bàn. Và khi chị không nhìn vào phong bì thì chị thầm đánh giá về Yakubu. Anh nghĩ, chị ta thật là một người phụ nữ ảm đạm.
“Nước Mỹ như thế nào?”, Abigail hỏi và mẹ của cô bé nhắc ngay là bé không được nói trong khi ăn.
“Đó là một quốc gia lớn, có nhiều cơ hội”, anh nói.
“Còn anh tôi thì sao, chắc là bây giờ anh ấy giàu?”, người em dâu của Naobi hỏi. Yakubu trả lời thành thật và ngắn, hướng về Naomi, “Anh ấy có việc làm tốt, có hai chiếc xe – một để cho mình, còn chiếc kia thì chờ cô”.
Anh nói với nàng về căn hộ đẹp, mà nàng sẽ sớm gọi là nhà, về những người hàng xóm thân thiện tất cả đều chờ đợi nàng đến, nhưng anh không nói là chồng nàng sắp chết.
***
Họ lên đường vào một chiều chủ nhật trời mát. Trên máy bay, ngồi bên Naomi, Yakubu chợt trở nên thích nói. Anh muốn hỏi nàng về những dự định, những mong đợi của nàng, nhưng nàng rất buồn ngủ vì đã trải qua suốt tối hôm trước với bạn bè, nói lời chia tay, quá sôi nổi đến không ngủ được. Suốt hai năm nàng đã chờ đợi chuyến đi này, và bây giờ điều nàng chờ đợi đang diễn ra mà còn tưởng như không thực. Nàng ngủ li bì, chỉ thức dậy để ăn và đi vào phòng tắm. Anh xem phim, và giữa hai đợt chiếu phim thì anh lật xem tờ tạp chí của hãng hàng không. Anh nhìn nàng ngủ say bên cạnh và tự nhắc mình nàng là một người phụ nữ đã có chồng để ngăn mình vuốt mái tóc thắt bím của nàng. Anh nhớ đến năm đầu tiên anh ở Mỹ, cách đây bốn năm. Anh đã đi học để lấy bằng cử nhân MBA ở đại học MIT tại Boston. Năm đó trời tuyết dữ đến mức anh ở nhiều tuần trong phòng, ngồi bên lò sưởi, khổ sở muốn chết được vì tuyết trắng ngập tràn bên ngoài cửa sổ. Anh cảm thấy như là sắp tận thế. Từ đó về sau anh cảm thấy ghét mùa đông, và anh đã cắt đứt cuộc tình với cô bạn gái yêu tuyết đến mức viết những bài thơ về tuyết. Dù anh đã ở lại Boston sau khi tốt nghiệp, chẳng bao giờ anh nhận một việc làm ổn định vì anh muốn tự do tìm đến vùng khí hậu ấm áp ngay khi tuyết đầu mùa đổ xuống. Khi anh nhìn ra cửa sổ, thấy một màu trắng xóa, và bất chợt cảm thấy kinh hoàng, ngày hôm sau anh phải bỏ đi.
Sự di trú hàng năm của anh dần dà mang phẩm chất tiêu dao, anh đi từ thành phố này đến thành phố khác, nhận những công việc bổ khuyết, cố gắn kết với đất nước mênh mông này, tìm một điều gì còn chưa rõ. Gần đây anh để ý đến khía cạnh vô mục đích, vô lối của những chuyến đi của mình, và vì thế mùa xuân này khi anh dạy ở một trường đại học tại Minnesota, anh bắt đầu đắn đo với ý nghĩ ở lại suốt mùa đông, và nếu anh sống được như thế, anh có thể xin một việc làm ổn định.
Trên chiếc tắc xi từ phi trường anh thở dài khi nhìn lá của hàng cây yêu thích đang mất đi màu xanh của chúng. Sắp mùa thu rồi. Lá cây sẽ hồng, rồi đỏ, rồi nâu trước khi rơi xuống đất.
***
Naomi thức dậy lúc 5 giờ sáng và lặng lẽ ra khỏi giường, cẩn thận không làm thức chồng nàng đang ngáy ngủ. Mỗi ngày nàng có thể thức giấc đúng giờ y như vậy mà không cần đồng hồ báo thức. Nàng vào phòng tắm, tắm nhanh và thay đồ để đi làm. Đây là tháng thứ ba của nàng ở Mỹ và nàng đã tìm hiểu được đất nước này khắc nghiệt như thế nào để giữ vững sự sung túc tự thân của nó. Nàng đã lấy được bằng lái xe, và có hai việc làm – một ở nhà hàng MacDonald gần nhà và việc kia là làm y tá trong một dưỡng đường tư nhân. Khi nàng mặc đồ trong ánh sáng lờ mờ nàng cảm thấy mắt của Osasa dõi nhìn nàng. Nàng tránh nhìn mắt anh khi nàng đi lúc trời mờ sáng. Sự bực tức không chịu từ bỏ nàng từ khi nàng đến đây mà cứ âm ỉ trong ngực nàng. Không ai nói cho nàng biết gì hết. Ngày đến đây nàng nghĩ nàng đang gặp một người lạ khi gặp anh nơi cửa, anh cố gắng để đứng thẳng, mắt anh trũng, người gầy trơ xương. Nàng đã quay sang Yakubu đang cầm túi xách của nàng như muốn hỏi anh có gì nhầm lẫn không, và anh đã quay mặt đi, tránh nhìn mắt nàng. Đêm đầu tiên đó họ ngồi nhìn nhau, nàng biết được nhiều việc thật sự tệ hại như thế nào. Osasa mắc một chứng bệnh gan. Anh không có bảo hiểm sức khỏe, các bác sĩ cho là bệnh đã ở giai đoạn cuối, mà anh không có một xu trong nhà băng. Nàng đã không hỏi anh tiền bán nhà đã đi đâu, hay tại sao phòng quá ít đồ đạc như thế. Tất cả những gì nàng hỏi là: “Làm sao để em có việc làm?”.
Tuần lễ nàng đến Osasa có vẻ hồi phục tạm thời và tổ chức một tiệc bất ngờ đón mừng nàng. Khi nàng đi tìm việc làm về nhà thì thấy phòng khách đông người, Osasa ở giữa, tất cả nhìn nàng tươi cười, rồi mọi người chúc mừng nàng, cụng ly với nàng. Những khuôn mặt lạ. Nàng nhận ra người chủ nhà, ông Malum, và gia đình ông. Ông chủ nhà vóc người thấp, rậm râu, tuổi chừng sáu mươi và đã sống ở Mỹ hơn mười năm. Ông nói bằng giọng Mỹ, dù vậy khi ông sôi nổi giọng Nigeria cứ muốn trỗi lên. Ông kết thúc mỗi câu nói bằng chữ “You know”. Ông có năm người con, ba con là của cuộc hôn nhân đầu tiên và hai con từ cuộc hôn nhân thứ hai. Ông đã đến Mỹ bằng hộ chiếu du lịch và ở lại luôn. Vợ ông và ba con ông đến sau. Vợ ông không thích ứng được với cuộc sống mới. Bà cứ đi về Nigeria thăm nhà, và trong một chuyến về thăm như vậy bà không trở lại nữa. Sau khi ly dị ông lấy một người vợ Mỹ, tên Vanessa, bà này có một ngôi nhà hai tầng được thừa hưởng từ người chồng trước. Đó là ngôi nhà kiểu thuộc địa, cũ, tầng trệt cho Osasa và Yakubu thuê, hai hộ, với một phòng khách và nhà bếp.
“Cứ tự do trong nhà này, you know”, ông nói với Naomi trong khi lắc lắc bàn tay nàng. “Bây giờ cô là người nhà rồi, you know. Chúc mừng đến Hoa Kỳ. Đây thực sự là nước Mỹ. Cô rồi sẽ quen với mọi chuyện, you know. Mất chút thời gian”.
Vanessa, vóc người cao, mập, tóc đỏ, nhìn khá khôi hài trong bộ áo thụng của người Nigeria, mà rõ là bà mặc vì buổi tiệc. Yakubu ngồi ở một góc với ly rượu trong tay, mắt anh nhìn theo Naomi khi nàng đi quanh phòng để Osasa giới thiệu với mọi người. Anh cảm thấy ghét vẻ hả hê, lúc nào cũng cười của Osasa. Làm sao mà anh ta lại không thấy vẻ mệt mỏi của nàng, nụ cười gượng gạo và cứng nhắc của nàng khi nàng cứ nói nhỏ câu “Thank you” với những bộ mặt tươi cười. Anh đã thấy cũng cái nụ cười hả hê đó trên khuôn mặt của Osasa trong tuần lễ anh dọn đến ở làm hàng xóm của Osasa cách đây gần tám tháng. Anh nghe tiếng gõ cửa căn nhà của anh, và khi anh mở cửa thì thấy Osasa đứng đó với một nàng tóc vàng bồng bềnh. Anh ta để một tay sau lưng nàng tóc vàng, bàn tay úp lên mông nàng, áo sơ mi của anh ta mở phanh ngực, bộ ngực lông lá thể hiện nam tính, cái bụng bia phình ra ngoài chiếc áo sơ mi không cài khuy giống như một quả bầu bóng lưỡng.
“Tôi là Osasa. Tôi là hàng xóm của anh, đồng hương Nigeria. Tôi đến chúc mừng anh. Đây là Melanie, cục cưng của tôi. Nói hello đi Melanie”. “Hello”, Melanie nói.
Những ngày sau đó Yakubu quen với cách sống khoái lạc chủ nghĩa của người hàng xóm: Osasa ngủ suốt ngày, để rồi đến tối thì thuê một chiếc limousine đưa anh ta đến sòng bạc, ở đó anh ta đánh bạc suốt đêm, rồi về nhà vào lúc bình minh với một trong nhiều cô bồ. Đôi khi anh ta ngồi với cô bồ ở phòng khách, khoe cô ta với bất kỳ ai tình cờ đi ngang qua. Tất cả các cô gái có những cái tên tương tự nhau: Melanie, Melisa, Melinda, và có cùng đôi mắt thản nhiên đó, cũng mái tóc vàng xù đó, cũng đôi vú lớn quá khổ đó trong cái áo ngực nhỏ đó. Yakubu ngạc nhiên vì sự ham hố khoái lạc của người đàn ông, lại ở cỡ tuổi đó. Cứ như thể quê hương mới này là một cái bánh khổng lồ và anh ta sẽ ăn không ngừng nghỉ cho tới khi ăn hết cái bánh. Yakubu tự hỏi tiền đâu mà anh ta xài cho xe limousine và sòng bạc. Rồi đột nhiên Osasa ngã bệnh, và lần đầu tiên Yakubu biết còn có một bà Osasa ở Nigeria, khi anh về thăm nhà Osasa muốn anh làm ơn đưa bà ấy theo khi anh trở lại.
***
Bốn tháng sau bữa tiệc, vào ngày 15 tháng 12, đợt tuyết đầu tiên trong năm rơi, và không cần mở cửa sổ Yakubu cũng biết quang cảnh là như thế này: Cây oằn mình dưới sức nặng của tuyết, đường sá bị lấp cả tấc bởi tuyết trắng. Anh đi ra nhà bếp để làm một tách cà phê, và từ hành lang anh thấy Naomi qua khung cửa nhà bếp mở. Nàng một mình, mặc bộ đồ y tá, áo gió của nàng vắt trên một chiếc ghế - nàng sắp đi làm và hẳn đã dừng lại để uống vội một tách cà phê. Hai bàn tay nàng ôm cái tách, đang nhìn tuyết treo trên những nhánh cây bu lô trụi lá ngoài cửa sổ. Anh cảm thấy tim đập nhanh khi nhìn nàng từ cửa. Anh thường cố tránh lối đi của nàng, để giấu cảm xúc bối rối luôn luôn có nơi anh mỗi khi nàng ở gần. Anh vui với cách nàng nhanh chóng ổn định nhiều việc cấp thiết, về cách nàng đã học hỏi để tự lo theo cách nước Mỹ đòi hỏi mọi người mới đến. Nhưng bất kỳ khi nào họ gặp nhau, trong nhà bếp, hay trong phòng khách nơi nàng thỉnh thoảng ngồi một mình để xem truyền hình, anh để ý thấy một vẻ bối rối, ngượng ngập và thỉnh thoảng tổn thương trên mặt nàng khi nàng nhìn anh. Anh có thể nói là nàng muốn nói chuyện, để tâm sự với anh. Giờ thì chắc nàng đã biết về quá trình của chồng nàng trong hai năm ở Mỹ. Cách đây mấy tuần nàng đã gõ cửa phòng anh và hỏi anh có biết một cô gái tên là Melodie hay không. Ngay lập tức anh biết đó là một trong những cô bồ tóc vàng của Osasa. “Có gì không?”.
“À, cô ta đến, gõ cửa, và khi tôi mở cửa cô ta có vẻ ngạc nhiên rồi cô ta nói cô ta nhầm nhà… Tôi nghĩ có lẽ anh là người cô ta đến tìm”.
Họ đang đứng trước cửa căn hộ của anh. Đầu nàng cúi xuống, nàng đang mặc đồng phục y tá, giày trắng. “Lúc ấy anh không có nhà”.
“Tôi không nhớ cái tên đó”, anh nói. Anh thấy được những thắc mắc hiện trên mặt nàng, theo cách mắt nàng nhìn mặt anh, mong anh nói thêm, nhưng đồng thời cũng mong anh đừng nói gì cả. Nàng có vẻ mệt mỏi, thiếu ngủ. Anh thay đổi đề tài. “Tôi thấy cô đã bắt đầu một công việc khác”.
“Dạ. Osasa đã nói chuyện với một người bạn điều hành một cơ sở điều dưỡng”.
Họ đứng đó, nàng với đầu hơi cúi xuống, anh tựa người vào khung cửa, một quyển sách trong tay anh. Anh muốn với toàn bộ trái tim mình là cầm tay nàng, đưa nàng vào căn hộ của anh, khép cửa lại và không bao giờ mở ra nữa. Sau cùng nàng thở dài và nói, “Giờ tôi phải đi làm”.
“Vâng”, anh nói.
Anh bước vào nhà bếp và nói nhỏ, “Cuối cùng ở đây rồi cũng tuyết”.
Nàng vội cúi đầu xuống và lau mắt trước khi quay sang anh với một nụ cười. Anh thấy vệt nước mắt rõ ràng bên dưới hai mắt nàng. Anh ngồi xuống bên cạnh nàng và cầm tay nàng. “Có chuyện gì sao, chồng cô ổn không…?”, anh hỏi. Có phải là tim anh đã rộn ràng hy vọng về một thời điểm?
“Anh ấy khỏe… như thường lệ. Tôi đang nhìn tuyết và cảm thấy buồn. Tôi không biết tại sao, ngoài ra tôi chỉ cảm thấy mệt, như thể tuyết rơi lên tôi, đè tôi xuống”.
“Tôi cũng cảm thấy vậy mỗi khi trời tuyết”, anh nói. “Tôi không thể chịu nổi”.
Họ ngồi như thế một lúc, nhìn tuyết ngoài cửa sổ, rồi nàng đứng dậy lấy tách cà phê đem lại bồn rửa. Anh đứng dậy đi theo nàng. Khi anh lại gần nàng quay lại nhìn anh vẻ thắc mắc, nhưng anh không nói gì. Anh ôm nàng trong tay anh và hôn nàng, sau một thoáng ngập ngừng môi nàng đáp lại môi anh. Rồi nàng đặt tay nàng lên ngực anh đẩy nhẹ anh ra. Anh lùi lại nhìn nàng lấy áo gió rồi bước ra ngoài.
Đó là một nụ hôn từ biệt. Anh đã quyết định rời đi tìm một nơi ấm hơn trong buổi sáng.

                                                               VÕ HOÀNG MINH dịch


Chủ Nhật, 10 tháng 5, 2015

CHƯ YANG SIN SỐ 272 - tác giả H’XÍU HMOK

Tác giả H’XÍU HMOK



VẪN CHỜ NHỮNG MÙA XUÂN

Truyện ngắn                           


Cánh cửa bật mở, nàng chầm chậm bước vào, đôi mắt nhìn quanh một lượt như đang tìm kiếm một ai đó. Đôi mắt long lanh, và sâu thăm thẳm. Hàng mi cong vút, càng làm cho đôi mắt có cảm giác sâu hơn. Mái tóc dài, uốn nhẹ, xõa ngang lưng. Nàng mặc chiếc áo dạ màu vàng chanh, cái màu sặc sỡ có vẻ quá đối nghịch với khung cảnh xung quanh đang rất đỗi trầm lặng, hay bởi cách nàng mở cửa đã khiến cơn gió được dịp ùa vào thổi tung căn phòng đang khá ấm cúng và yên ắng. Có những ánh mắt trộm nhìn nàng, những ánh mắt biết nói, ánh mắt mời chào, và cả ánh mắt ghen tị.
Lần đầu tiên anh gặp nàng như thế. Trong một quán cà phê nhỏ ở góc phố, cái quán quá đỗi quen thuộc với anh. Anh thích không gian nho nhỏ vài cái bàn kê gần gần nhau, những chiếc ghế trắng muốt, chiếc khăn trải bàn ca-rô sọc đỏ đen, một bình hoa nho nhỏ chỉ cắm một loại hoa sa-lem tím. Anh thường đến đó, không cần nhìn quanh, vào thẳng cái bàn quen thuộc anh vẫn ngồi mỗi lần đến. Và điều đặc biệt, mà anh chẳng bao giờ bận tâm, là chiếc bàn ấy, bất cứ lúc nào anh đến, cũng luôn là bàn trống, cho dù hôm đó quán có đông khách đến thế nào đi chăng nữa. Cô chủ quán (cũng có thể là người phục vụ) luôn mang đến cho anh một ly cà phê sữa đá, bất kể thời tiết nóng hay lạnh, như thể cô ấy đã biết sẵn đó là sở thích của anh vậy. Ly cà phê đặc sánh, ngọt dịu, vị cà phê lan ra nơi đầu lưỡi, hương vị ngọt ngào đến lạ lùng. Anh thích hương vị ấy, chẳng biết vì sao.
Một buổi chiều, sau giờ tan sở, anh lại tìm đến góc bàn quen thuộc, nhưng hôm nay, anh ngạc nhiên, và có chút bỡ ngỡ. Góc bàn quen thuộc của anh, đối diện chiếc ghế trắng muốt anh vẫn hay ngồi, có bóng dáng của một cô gái. Là nàng. Anh nhìn quanh, cố tìm một chiếc bàn trống, nhưng có vẻ hôm nay khách đông hơn mọi ngày, các bàn khác đều đã có người ngồi cả. Anh điềm tĩnh bước lại gần chiếc bàn trải tấm khăn ca-rô sọc đỏ đen, hơi lung túng, anh định mở lời. “Anh cứ ngồi tự nhiên, vốn dĩ, đây là chỗ quen thuộc của anh mà, đúng không?”. Đôi mắt nàng ngước lên nhìn anh, cái nhìn sâu thăm thẳm, nhưng không thể đọc nổi trong đó đang chất chứa điều gì. Anh bối rối, kéo chiếc ghế trắng và ngồi vào đó một cách vụng về, như cậu nhóc lần đầu được vào một nhà hàng sang trọng năm sao nào đó.
- Anh uống gì? Để em mời anh nhé.
- Tôi
Anh chưa nói hết câu, cô gái phục vụ (cũng có thể chính là cô chủ quán) đã bước tới, nhẹ nhàng đặt ly cà phê sữa đá trước mặt anh.
Nàng cười mỉm, không nói thêm câu gì. Anh ngồi đối diện, cầm ly cà phê đưa lên miệng, trong đầu đang mông lung suy nghĩ, không định hình ra điều gì cụ thể. Anh vừa nhấp ly cà phê trên tay, giọng nàng vang lên, nhẹ như gió thoảng.
- Anh có người yêu chưa?
Suýt nữa ngụm cà phê trong miệng khiến anh bị sặc, vị cà phê hôm nay đắng, như có vị khét đọng lại đầu lưỡi. Chưa để anh trả lời, nàng tiếp tục, như thể đang thì thầm với chính mình. “Tự nhiên em thấy buồn… anh rảnh không? Em muốn uống cái gì đó mạnh chút”. Giọng nàng nhẹ, nhưng buồn. Lần đầu tiên, khi nhìn thẳng trong ánh mắt nàng, anh thấy đôi mắt sâu thăm thẳm của nàng chứa đựng nỗi buồn, nỗi buồn đến buốt lạnh, chạm vào một góc tối trái tim anh, thức tỉnh một ký ức ủ ê. Anh thanh toán tiền, rồi theo nàng bước ra khỏi quán. Có cơn gió nhẹ lùa qua, thổi chiếc chuông gió treo trước cửa kêu leng keng.
***
Cái kỳ tích Quang Huy, chàng thanh niên có cái dáng cao lêu nghêu nhất trại trẻ đậu một lúc hai trường đại học danh tiếng ở thành phố khiến cho trại trẻ “Hi vọng” xôn xao, vui mừng. Mừng nhất là các mẹ, những người đã từng bước dìu dắt và khích lệ cậu suốt 12 năm qua. Mọi người vẫn nhớ ngày cậu được đưa vào trại trẻ này, lúc đó cậu mới hơn 6 tuổi. Dáng người nhỏ nhắn, gầy còm, làn da tái mét, đen nhẻm. Người ta tìm thấy cậu ở một góc đường, có lẽ là lả đi vì đói, và người ta đem cậu đến trại trẻ, sau một quãng thời gian cố gắng tìm tung tích người thân của cậu. Tỉnh dậy sau một đêm lạnh giá, cậu bé nhìn quanh, bắt gặp ánh mắt trìu mến đang nhìn mình, bỗng nhiên cậu òa khóc. Các mẹ dỗ dành, ôm cậu vào lòng. Mẹ Hằng vỗ về cậu “Nín đi con trai, không sao hết, các mẹ ở đây sẽ thương yêu con…”. Từ ngày ấy, cậu bé trở thành một thành viên của trại trẻ, không biết, trong sâu thẳm tâm trí của đứa trẻ 6 tuổi có khắc ghi kí ức gì về gia đình hay người thân của mình hay không, nhưng với cậu, trại trẻ này chính là gia đình, các mẹ ở đây là những người mẹ, người dì thân thương nhất.
Chàng thanh niên chọn theo học ngành thiết kế ở Đại học Kiến trúc, ra trường với tấm bằng loại ưu và nhanh chóng xin được một công việc ở một công ty có vốn đầu tư nước ngoài. Công việc bộn bề, nhưng anh vẫn dành thời gian rảnh rỗi về thăm các em nhỏ và các mẹ ở trại trẻ “Hi vọng”. Nhìn cánh cổng thân thương đã gắn bó với anh suốt thời gian dài, nay lỗ chỗ tróc vôi, có lẽ lâu lắm rồi nó không được tu sửa. Anh lại thấp thoáng nhớ lại suy nghĩ của mình từ những ngày còn đi bán báo dạo. Khi đó, mỗi lần đi ngang một công trình xây dựng cao tầng nào đó, cậu nhóc ngày ấy lại ngước lên, đếm từng tầng của tòa nhà và tự hỏi, khi nào mình sẽ có thể tự tay xây dựng được một ngôi nhà cho riêng mình như thế. Đến giờ, khi đã đi làm và cầm những đồng lương tự làm ra được trong tay, niềm ước ao ngày nào vẫn đau đáu trong anh. Suốt thời đại học, một phần vì mặc cảm tự ti, một phần vì không muốn vướng bận suy nghĩ, anh lao vào học và tất bật “chạy sô” làm thêm để tự lo việc học, anh rất ít khi đàn đúm với đám bạn, chuyện yêu đương lại càng không. Tất nhiên, trong một góc sâu thẳm trong trái tim mình, anh cũng thầm tương tư một cô bạn, là hoa khôi trong lớp. Nhưng tình cảm thầm kín ấy, anh chỉ cất cho riêng mình, không có cơ hội thổ lộ vì cô gái ấy sau đó đã ra nước ngoài định cư với gia đình. Mối tình đầu là tình đơn phương, lời yêu còn chưa kịp ngỏ, anh tự cười thầm rồi cũng tặc lưỡi cho qua. Đến khi anh gặp nàng…
***
Nàng ngồi đó, tự tay rót những ly rượu thật đầy, ngửa cổ lên dốc cạn. Rồi nàng cười nhạt, cái cười lạnh lùng, khô khốc, chứa cả sự căm hận hay trách cứ nào đó. Nàng không nói, anh cũng không hỏi. Anh giành lấy ly rượu trong tay nàng, “tôi nghĩ cô uống nhiều rồi đấy”. Nàng lại cười, cái cười rũ rượi, và buồn. Anh đưa ly rượu lên môi, ly rượu đắng, cảm giác lạnh nhói sống lưng, anh cũng dốc cạn. Đắng, và cay, lan tràn nơi cuống họng…
Anh đưa nàng về, nàng say quắc, gục đầu trên vai anh, đôi mắt nàng khép hờ, hơi thở nàng phả ra nhè nhẹ. Nhà nàng ở đâu? Anh không biết, cũng không biết phải hỏi sao, khi nàng đang say như vậy. Anh đưa nàng về phòng trọ, đặt nàng lên giường, rồi anh bước tới bàn làm việc, gục đầu lên bàn ngủ luôn đến sáng.
Mùi nấu thức ăn đánh thức anh dậy vào buổi sáng, anh giật mình nhìn đồng hồ, đã gần 8 giờ, anh cuống cuồng lao vào nhà vệ sinh, nhìn sâu vào chiếc gương trong nhà tắm, giật mình thấy bộ dạng của mình trông mới thảm hại làm sao…
Bước ra khỏi nhà tắm với cảm giác thoải mái, anh tìm bộ đồ yêu thích nhưng không thấy. Nàng bước tới, tươi cười nhìn anh vẻ ngượng ngịu như người bị bắt quả tang khi làm chuyện gì có lỗi, trên người đang diện đúng bộ đồ mà anh thích.
- Thật ngại quá, nhưng quần áo em bẩn hết rồi, em mượn tạm bộ này của anh, xin lỗi vì em hơi tự tiện…
Anh nhìn nàng, trong bộ đồ rộng thùng thình, khuôn mặt mộc, mái tóc buộc cao, lòa xòa vài cọng tóc vương trên trán, trông nàng tươi tắn, đáng yêu và trẻ trung hơn rất nhiều so với nàng mà anh nhìn thấy trong quán cà phê. Anh chợt giật mình, hơi lúng túng trước ánh mắt khó hiểu mà anh chạm phải khi nhìn vào khuôn mặt nàng.
- Nếu anh thấy khó chịu thì em sẽ thay ra ngay, em xin lỗi…
- Ơ không phải… tôi… tôi không có ý đó… chỉ là… chỉ là…
- Là sao…? Nàng nhìn anh lém lỉnh - Chỉ là anh chưa thấy ai mặc đồ đàn ông đẹp như em đúng không?
Anh đỏ mặt, lúng búng. Nàng nháy mắt tinh nghịch, nhìn anh rồi cười sảng khoái, có lẽ, anh cảm nhận được, chưa bao giờ nàng cười sảng khoái đến vậy.
Hai người cùng nhau ăn sáng, bữa sáng do nàng chuẩn bị. Phòng anh cũng gần chợ nhưng anh ít khi tự nấu ăn, đa số là đi ăn tiệm. Đàn ông độc thân mà, thế là nhanh mà khỏe nhất. Vậy mà phòng trọ anh vẫn có đồ nấu ăn, anh nghĩ mình cũng có cái lạ, một phút nổi hứng nào đó, anh cũng tự vào bếp xào xào nấu nấu rồi bày ra để ăn, cũng tự khen mình có tài nấu nướng vì mình nấu mình cũng nuốt được, nhưng ăn một mình buồn lắm, nên anh lại thôi, không buồn nấu nướng làm gì. Hai người vừa ăn vừa trò chuyện, cảm giác như hai người đã quen thân từ lâu lắm chứ không phải mới quen ngày hôm qua. Sực nhớ ra hôm nay là chủ nhật, anh có hẹn về thăm mẹ Hằng và các em ở trại trẻ “Hi vọng”. Sau một chút suy tư, anh hỏi nàng hôm nay có rảnh không thì đi cùng anh. Nàng mỉm cười, gật đầu đồng ý, không hỏi là đi đâu.
Trời chớm sang đông, gió hiu hiu thổi, phả hơi lạnh tê tái. Chiếc xe bon bon lao đi, chiếc khăn choàng cổ bay bay trong làn gió. Nàng ngồi sau lưng anh, thả hồn bồng bềnh theo những đám mây trôi trên trời. Xe qua đoạn đường vắng, nàng nghịch ngợm dang hai tay trong không trung, xõa tung chiếc khăn choàng cổ bằng vải voan, mắt nhắm lại. Có lẽ nàng đang bay, lơ lửng trong một không gian nào đó của riêng nàng. Qua kính chiếu hậu, anh trộm ngắm nàng, trong lòng có gì đó xao xuyến, thoáng qua trong đầu anh suy nghĩ, ước gì con đường cứ kéo dài mãi, dài mãi để chuyến đi này không phải dừng lại. Bất giác, anh thấy đôi môi nàng khẽ mỉm cười, một nụ cười rất quen mà anh từng gặp đâu đó…
Cánh cổng mở rộng, các em nhỏ chạy ùa ra đón, mẹ Hằng từ trong văn phòng bước ra, nụ cười rạng rỡ, đôi mắt có chút cảm xúc lạ khi nhìn thấy nàng bước theo sau anh. Nàng dịu dàng bước phía sau, nhưng không giấu được sự nghịch ngợm khi nô đùa cùng đám trẻ nhỏ. Nàng chia cho các em một vài món quà và bánh kẹo mà hai người đã mua trước khi tới đây. Lũ trẻ nhỏ chơi với nàng một cách thân thiết, với những trò chúng vốn đã quen thuộc, và nàng nhập cuộc một cách nhanh chóng, cứ như thể, cái trò này cũng quá quen với nàng vậy.

Phía bên ngoài cánh cổng, chiếc lá vàng bay bay trong gió. Trời vào đông, cái lạnh se sắt.Tia nắng vàng len lỏi qua tán cây khẳng khiu. Những gốc cây già sừng sững vươn cành lên trời cao bất chấp cái lạnh lan theo gió thổi qua. Quanh đây, sự sống đang chờ từng ngày, để đón tia nắng mùa xuân tràn về.

Thứ Tư, 6 tháng 5, 2015

CHƯ YANG SIN SỐ 272 - tác giả NGUYỄN THỊ BÍCH THIÊM






ĐỢI NGƯỜI

Truyện ngắn


Đợi người trong hội chiều nay
Ngả nghiêng 
Cái nắng
Cũng say bóng tròn
“Mình còn son
Ta cũng còn son”
Mà sao chẳng tới
Quả còn
hẫng tay...
Người đàn ông đen đúa, mái tóc bờm xờm, khoác chiếc áo bộ đội cũ kĩ, nhàu nhò, chân đất, vừa đi vừa ngân nga những câu thơ úa màu bụi đất, úa màu nỗi buồn.
Trong đám lễ hội nô nức này, đôi mắt đã có nét mờ đục của ông cứ dõi nhìn về phía con đường đất đầy bụi đỏ, con đường ngoằn ngoèo len lỏi giữa những vạt đất trống đầy cỏ dại.
Ông tìm ai, giữa đám đông ồn ào này? Chả biết nữa.
Dòng thác mùa này không ầm ĩ xô chảy, mà chỉ còn róc rách êm êm. Vài đôi bạn dắt nhau đi dọc thác. Đôi trẻ chụp ảnh cho nhau, rồi cười giòn giã. Đôi lớn tuổi hơn thì ngồi bên mé nước, người đàn ông lấy tay khoát nước, rửa mặt và lấy ra chai rượu, trong khi người phụ nữ đi cùng thì bày trên chiếc khăn vải lanh mềm mại một gói xôi, một chai nước và một gói thịt gà luộc...Người đàn ông khẽ khàng xé thịt gà và đưa cho người phụ nữ, và cũng nhận lại một miếng gan gà luộc với ánh mắt nồng nàn...
Người đàn ông, nhân vật chính của tôi, thoắt bỗng ngừng ê a khi nhìn thấy ánh mắt đầy vẻ ân cần, chăm chút ấy. Hình như ánh mắt ấy đốt lòng ông bởi một kỉ niệm nào xa xưa khi mà ông cũng như họ bây giờ...
Ông đi qua đám mổ trâu. Mấy người đàn ông đang xả thịt con trâu mộng. Bếp lửa đỏ rực. Chiếc bàn gỗ có bó tỏi xanh tốt, lá nõn nà. Mùi khói bếp, mùi thịt, mùi rượu cay nồng, như xé lưỡi.
Ông đi qua đám quay heo. Những tảng thịt vàng ươm, thơm mùi lá mắc mật. Mấy ông bạn già lao xao kéo ông vào. Nhấp một ngụm rượu, ăn một miếng thịt, ông lại vơ vẩn đi sâu vào trong đám thi giã bánh dày, bánh chưng. Những bắp tay con trai, những eo thon con gái, những áo chàm xanh thẫm, những má hồng mắt đen lúng liếng hay e thẹn ngập ngừng...Tiếng nói, tiếng cười rộn rã mà sao chưa nghe thấy câu sli, câu lượn ngày nào...
Làn gió ào qua. Bụi đất mờ con đường trước mặt. Mờ con đường sau lưng.
Ngụm rượu Mèo của đôi bạn mời khi nhờ ông bấm giùm họ kiểu ảnh dường như đang ngấm. Đầu ông lâng lâng. Ánh mắt nhoè mờ. Và giọng khàn rè trong nỗi niềm thổn thức. Bà ấy- người bạn tình lỡ dở một thời của ông- sao mãi vẫn chưa đến? Triền đồi phía bên kia, nơi đã từng in cái chấm áo chàm xiêu xiêu của bà ngày nào- sao chiều nay nhiều nắng thế... Loáng những nắng là nắng. Nhưng nhức. Nhoi nhói và cứ lễnh loãng những làn khói bếp của mấy người bán bắp luộc khi chiều.
Hũ măng chua ngâm ớt và mắc mật ông đã tự tay làm, để đem cho bà. Qủa còn ngày nào ông ném bà bắt được rồi trao lại cho ông. Bó rau bò khai xanh mởn ông hái ven suối và cả nhánh tỏi non mà ông nhổ nơi góc vườn...Tất cả là để cho cuộc gặp gỡ với bà hôm nay. Một năm có mỗi tháng giêng. Một tháng giêng có mỗi ngày này có chợ để cho mình gặp nhau... Mà sao bà vẫn chưa đến, bà ơi?
"Nhì à...Nhòi ờ...." (này này, em ơi...)
Câu sli nào cứ bảng lảng trong đầu ông…Ông nhìn ra phía bên kia triền núi, lão bạn khi nãy đứng chờ cùng ông đã gặp được bạn. Họ dắt tay nhau  ngược lên trên con dốc, nơi mà giờ bóng núi đã ngả gần hết vạt cỏ vàng xuộm. Nhấp một ngụm rượu, ông lặng ngồi, đăm đắm nhìn sang phía bên kia triền núi.
Ngày ấy, ông và bà ở hai bản cách nhau có một con suối nhỏ. Lớn lên cùng nhau, chăn trâu, mót hồi, kiếm củi… rồi đi học cùng nhau. Cả hai “tình trong như đã, mặt ngoài còn e”. Ông không dám nói. Còn bà, cũng không dám mở lời. Cứ thế, cho đến khi Quân, gã bạn thân của ông, đi bộ đội về được một tuần đã nhờ người mối sang hỏi bà về làm dâu. Bà đã nhận lời. Không biết vì tự ái khi thấy ông cứ lẳng lặng, im im, hay vì cái vẻ rạng rỡ và hai chữ “bộ đội” của Quân nữa. Sau đó, ông xin đi thoát li và rồi cũng lấy vợ - cô bạn cùng cơ quan. Thời gian như nước suối bào mòn viên đá, rồi công việc bề bộn với những lo toan thường nhật…khiến ông dường như quên đi câu chuyện buồn của mình. Chỉ những dịp như thế này, hình ảnh bà với mối cảm tình dở dang lại ùa về, khiến lòng ông bổi hổi. Và thế là tờ mờ sáng ông đã đeo cái tay nải hoà vào dòng người đến phiên chợ này. Vợ ông cũng đã đi. Bà ấy cũng có người của bà ấy. Ông không buồn, vì từ xa xưa, các người già cũng đã như vậy rồi. Mình có bạn, bà ấy cũng có bạn. Bằng nhau mà. Biết là không thay đổi được gì, nhưng tục lệ này giúp ông được nói ra những điều hồi trẻ ông đã không nói được…
- Ông ơi! Về đi! Tối nhiều rồi!
Ông ngẩng lên. Vợ ông đang đứng trước mặt. Vai đeo túi vải chàm đã cũ, không nhìn ông cũng biết có chai rượu, mấy cái bánh ngải xanh xanh và cuộn sợi đay tước dở.
- Về đi, đừng đợi nữa. Chắc ché (chị) ấy không đến rồi.
Vừa cúi xuống gỡ hoa cỏ bám đầy trên vạt váy, bà nói, giọng nhẹ như gió thoảng:
- Mỗi năm một tuổi. Cái lưng không còn thẳng, cái chân run rồi…Có đi cũng khó. Chả biết hội sau mình còn đi được không…
Ngoảnh nhìn lần nữa khoảng sân trống giờ chỉ còn đôi người đang vội vã ra về, ông lững thững đi sau vợ. Bà quay lại, nắm tay ông. Làn gió núi tràn về đùa rối cả hai mái tóc đã nhuốm bạc của hai người. Bà cất giọng khẽ thủ thỉ câu sli:
“Vằn nảy noọng pay háng mừa đăm
Dạng mừa khoắt tha vằn bấu tẻo”
(Hôm qua em đi chợ về muộn
Giơ tay vẫy ông mặt trời không trở lại)
Thốt nhiên, ông bấu chặt vai bà, rên lên:
- Mình đừng hát câu hát ấy nữa. Buồn lắm. Tôi xin mình hát câu nào vui đi.
- Ừ, tôi nghe mình đây: Nhì à…song lầu…nhì à…song hàu mí khai, khai hào puốn… ơ ơ… ứ… ờ…
(Mình à…hai chúng mình…Mình à…Tình cảm không bán đâu mình nhé)
Giọng bà nhẹ thênh thênh. Bất giác ông cũng ư ư hát theo.
Bóng núi sẫm tím dịu dàng. Và gió lại lao xao…

                                                     Tháng 3.2015


Thứ Bảy, 2 tháng 5, 2015

CHƯ YANG SIN SỐ 272 - tác giả NGUYỄN VĂN THIỆN

Tác giả NGUYỄN VĂN THIỆN



SEN HỒNG

Truyện ngắn


Mình nói, hoa gì mà đẹp thế? Đó là mình đang giả vờ, ta biết mà, nhưng kệ mình, ta đang bận. Mùi bùn làm ta ngây ngất, vào đúng buổi trưa nắng xõa trên đồi. Tiếng chim gì không biết, mà thắc thỏm, đều đều, như từ đâu trong quá khứ xa xăm,vọng về, cháy khét mùi tóc râu giang nắng. Ta chăn trâu, tát đìa, bẫy chim, bỏ cơm trưa đuổi bắt một tiếng chim trước cửa mùa hè, xa lắm!
Ta nằm xuống đây, lưng mỏi, phía bên này, và chú chuồn chuồn ớt, đỏ như một giấc mơ trưa, cánh mỏng, phía bên kia. Chuồn chuồn rung rinh cánh, rất nhẹ, như một cái giật mình, rồi lại đứng im, nhìn bóng mình dưới nước. Trên đôi cánh ấy, còn hằn rõ những mạch máu li ti tuổi dài rộng sông hồ, và mở ra, như một trang vở học trò dưới nắng. Bài học nào cho tháng Tư màu đỏ, chuồn chuồn ơi! Sao trang vở học trò lại không có một câu thơ nào màu áo trắng, một giấc mơ màu xanh hay một nét mi đen nhánh? Mặc cho ta hổn hển với cái bóng của mình, đôi cánh mỏng hình như đang ngủ, lặng thinh. Ta cúi sát xuống nước, định hôn vào đôi cánh ấy, nhưng lưỡng lự, rồi lại thôi. Nhỡ ra, mặt ao giật mình, đôi cánh giật mình. Hãy để mọi thứ ngủ say, trong một buổi trưa đầy nắng, tiếng chim xa, như một điệu ru hời thăm thẳm…
Chú cá nhỏ từ dưới sâu bất chợt ngoi lên, ngơ ngác nhìn, mắt đẹp như một giọt sương trong veo. Sống trong hồ này đã lâu, thế bạn có biết ngoài kia, có lúc đầy giông bão? Có những tháng Tư rớm lệ mắt người? Có những mùa hè lửa đỏ thiêu thân? Dĩ nhiên, đôi mắt trong veo ấy sẽ trả lời rằng, không biết. Nhưng có hề gì. Hãy lặn xuống thật sâu để hít thở mùi thơm của bùn, của đất. Là ta đang chuyện trò với đôi mắt thân thương. Nhưng mình lại đột ngột cắt ngang: “Lặn xuống và bay lên thì bên nào thích hơn?”. Ta không dám chắc. Khi tiếng chim đã mang gương mặt của quá khứ, khi mắt cá đã mắc vào những mắt lưới vô hình vây bủa, thì phía nào có lẽ cũng như nhau…
Chỉ có điều, ở đây, không có một con đò…
Mình nói với ta, mình không chịu được cảm giác chòng chành, mà đò thì chòng chành lắm, suốt đời luôn ấy. Ừ thì nằm xuống đi, trên tàn là sen đầu hạ, xanh như một nỗi u hoài, mình nhé! Để ta còn đuổi theo một màu hồng phơn phớt, đang trôi ở phía bên kia. Rồi có tàn không, những tím vàng xanh đỏ? Rồi có mất không, những ấm áp, xao động, tin yêu? Có là vĩnh hằng không, mặt hồ yên lặng kia, hay chỉ là một cơn ngủ quên trước ba đào sắp sửa? Đứa trẻ nào biết được thế nào là mất mát buồn đau, khi nó chưa kịp ra đời. Tình yêu, làm sao nó biết trước được thế nào là trắc trở cắt chia, khi một lời chứa chan chưa kịp thốt ra?...
Cánh hoa phơn phớt ấy, từ đâu dạt đến, hay từ một lần đã biết cháy lên tráng lệ lung linh và quyết định phai tàn khi mùa xuân vừa dứt áo ra đi?
Mình nhắc: Nếu không phải là giấc mơ thì cũng…
Ta biết rồi, đường vẫn còn xa lắm…
Một câu thơ ở thì tương lai, có thể là rất đẹp. Một bông hoa ở thì tương lai, có thể là gì? Ngày xưa đi học, cô giáo dẫn bước qua một chiếc cầu ngang suối. Suối thuở ấy còn rất trong, cô giáo thuở ấy còn rất đẹp, đẹp cả trong mưa phùn gió bấc căm căm. Mà tiếng cô thì rất nhỏ và rất nhẹ: “Hãy nắm chắc cây gậy này nhé…”. Ta bước đi mà không dám ngoảnh lại nhìn, không phải vì phía trước gập ghềnh mà vì phía sau nặng trĩu yêu thương. Trong đời, có ai hơn một lần mắc nợ, như ta. Mẹ mớm ngọt ngon, cha mớm tin yêu, còn mình, vừa từ đâu bay đến, với đôi cánh hồng ấm áp, cạnh ta? Ta biết uống gì vào buổi trưa nay để say, để không còn biết tỉnh, để suốt đời ngủ quên với tiếng chim, với cá, với hoa, với trong xanh, trên mặt hồ này?
Có một chú chim bói cá, đang nhìn xuống từ trên cao. Bộ lông sặc sỡ hòa lẫn vào màu trời xanh biếc. Chỉ có chiếc mỏ là màu đỏ, nhọn như một lưỡi gươm, bất động, chỉ xuống mặt hồ. Bói cá có lẽ không biết tôi đang có mặt ở đây, hoặc biết nhưng không thèm để ý. Sự tồn tại bất ngờ của chúng tôi tại nơi này, không nằm trong mối quan tâm của lưỡi gươm kia. Cái chết, đang dành cho những chú cá dưới mặt hồ sâu. Tôi đợi một cú đâm ngoạn mục. Nhưng không thấy. Hình như bói cá đang ngủ, hoặc đã no nê, hoặc đã chán chê việc đâm chém tàn sát, đang cúi đầu hối cải ăn năn! Dưới nước, lưỡi gươm màu đỏ kéo dài ra theo vệt nước loang loáng. Có những mặt hồ tua tủa bóng gươm đao. Có những dòng sông là bãi chiến trường. Có những đàn cá bỏ nước ra đi.
Dù sao, bói cá trưa nay, không hiểu lý do gì đã không muốn làm mặt hồ xao động. Bên cạnh ta, mình vẫn mơ màng nhìn theo đôi cánh dễ thương của chú chuồn chuồn ớt mà không biết rằng, chuồn chuồn đã ngủ từ lâu…
Có lẽ mệt rồi, tôi cũng phải ngủ thôi. Miệng giục mắt, mắt giục môi, môi giục phổi, phổi giục tim, nhưng vẫn không tài nào ngủ được. Chuồn chuồn màu đỏ, hoa sen màu hồng, bói cá màu xanh, mắt cá long lanh, ngó sen màu trắng, chúng tôi trốn nắng, tìm nhau về đây, bên mặt hồ này. Mình nói mơ màng: “Gió và mưa sắp về, ở đâu xa lắm…”.
Trên trời cao, những bông mây đang nở hoa, không hề có dấu hiệu nào của cơn giông sắp sửa. Nhưng từ trong gió, đã nghe hơi nước mặn mòi. Cánh chuồn đỏ thắm khẽ chao như một cái rùng mình, cánh hoa hồng như một cánh buồm căng lên đợi gió. Dưới sâu, những chiếc vây cũng đã giương lên, và trên cao, lưỡi gươm màu đỏ chĩa hẳn về phía chân trời. Hình như đang sắp sửa…
Ừ, nếu vậy thì chúng tôi cũng sắp sửa… Tôi cúi nhìn bóng mình dưới nước, nước trong như gương. Lâu rồi, tôi không kịp soi gương, không kịp nhìn lại để tự biết mình là ai. Dưới nước, không phải là tôi! Không phải mặt này, không phải tóc này, không phải thân này. Tự bao giờ, tôi đã thay đổi, vậy mà không nhận ra, không hề biết?
Dưới mặt hồ trong xanh, bóng một cây cổ thụ um tùm đổ xuống. Hoa sen hồng như mắt. Mỏ bói cá như môi. Cánh chuồn chuồn như má. Cá xanh mượt như da. Mây trời dài như tóc. Sau lưng, trời bao la…