Thứ Sáu, 26 tháng 6, 2015

SỐ 273&274 - tác giả NGUYỄN VĂN THIỆN

Tác giả NGUYỄN VĂN THIỆN



NHÌN LẠI 5 NĂM TRUYỆN NGẮN
TRÊN CHƯ YANG SIN: TIN YÊU VÀ HI VỌNG…



Năm năm là một khoảng thời gian dài, đủ để những giọng nói kết tinh, định hình thành phong cách. Năm năm qua, Tạp chí Chư Yang Sin không ngừng đổi thay, từ hình thức đến nội dung, trong đó, góp một phần rất lớn làm nên diện mạo độc đáo của Tạp chí, đó là thể loại truyện ngắn.
Nhìn nhận một cách bao quát, Đắk Lắk có một lực lượng các cây bút văn xuôi đủ mạnh để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của bạn đọc. Một thế hệ đi trước với những tên tuổi quen thuộc như Nguyễn Hoàng Thu, H’Linh Niê, Kim Nhất… là những giọng nói chững chạc đủ sức lĩnh xướng, tiếp theo là Khôi Nguyên, Nguyên Hương, Hồng Chiến, tiếp nữa là Niê Thanh Mai lặng lẽ bền bỉ đóng góp từng trang viết nồng ấm hơi thở của cuộc sống.
Tạm dừng trước thể loại tiểu thuyết, truyện dài, đòi hỏi dài hơi, dày dặn vốn sống Nguyễn Hoàng Thu, Khôi Nguyên, Hồng Chiến đóng góp cho văn chương tỉnh nhà những truyện ngắn sắc sảo, những trang bút ký đậm dấu ấn của vùng đất Tây nguyên đang từng ngày thay da đổi thịt. Tôi biết, hiện các nhà văn tỉnh nhà cũng đang ấp ủ những dự định sáng tác dài hơi hoặc đang âm thầm viết mỗi ngày. Chắc chắn, trong thời gian tới, sẽ có nhiều tác phẩm văn xuôi phản ánh cuộc sống, vẻ đẹp, bản sắc của vùng đất Tây nguyên được công bố trên Tạp chí, được đến với bạn đọc trong tỉnh và trên cả nước.
Mấy năm nay, được giao nhiệm vụ biên tập truyện ngắn cho Tạp chí, tôi vẫn thường mong ngóng giọng văn điềm đạm mà hóm hỉnh của Nguyên Hương, nhẹ nhàng sâu lắng mà nhiều trăn trở của Niê Thanh Mai, tiếc rằng, số lượng tác phẩm được gửi đến còn hơi ít, chưa tương xứng với mong đợi của bạn đọc! Vậy nên, xin được nói đến nhiều hơn về lực lượng văn xuôi kế cận, những niềm hy vọng, những giọng nói góp phần làm nên bản sắc của Tạp chí Chư Yang Sin.
Đó là những gương mặt trẻ, từ 25 đến 30 tuổi, phong cách và đầy triển vọng, là hội viên của Hội VHNT Đắk Lắk. Thực ra, họ đến với văn chương từ khá sớm, họ dự 3, 4 hoặc 5 trại viết Hương Rừng hoặc Hạ Xanh do Hội VHNT tỉnh tổ chức. Và giờ, họ đã trưởng thành!
H’Xíu Hmôk trưởng thành hơn trong chính những đề tài quen thuộc: Sự trăn trở của buôn làng Êđê trong cơn lốc hội nhập. Nhân vật trong truyện, không có gì đặc biệt, cốt truyện cũng không có gì đặc biệt, nhưng điều hấp dẫn trong truyện ngắn H’Xíu chính là sự đằm thắm của tình cảm dành cho quê hương. Hy vọng, sang năm mới, ở một độ tuổi thanh xuân tràn đầy sức sống, H’Xíu lại dành thời gian để thủ thỉ với bạn đọc về buôn làng mình, như dòng suối, như gió ngàn, kể chuyện về thảo nguyên mênh mông.
Người tạo ấn tượng đặc biệt nhất cho bạn đọc văn xuôi Chư Yang Sin chính là H’Siêu Byă. Cô gái ra đi từ dưới chân núi Chư Prông, đang học ở Sài Gòn, bất ngờ một ngày nào đó, cất lên tiếng hát của thảo nguyên, làm mê đắm lòng người. Nghe tiếng cây rừng reo, thác nước đổ, điệu khan nức nở, nhưng không bắt chước được đâu. Truyện ngắn của H’Siêu tràn ngập những hình ảnh và âm thanh của núi, không chỉ bởi trí tưởng tượng không giới hạn, sự hồn nhiên trong trẻo, mà còn bởi khả năng sử dụng ngôn ngữ đặc biệt của tác giả, một người Êđê kể chuyện.
Trong những năm qua, bạn đọc cũng nhiều lần được nghe những âm thanh mới mẻ, một giọng kể chuyện nhẹ nhàng, đằm thắm của những cây viết trẻ, những  hội viên mới gia nhập Hội VHNT tỉnh nhà: Nguyễn Anh Đào, Lâm Hạ, Ánh Nguyệt… Đọc truyện của họ, chúng ta càng thấy tin yêu hơn vùng đất này. Bạn đọc có quyền hy vọng và chờ đợi nhiều hơn nữa ở thể loại truyện ngắn, vốn là một thể loại chủ đạo của các tạp chí văn học nghệ thuật.
Kỳ thực, 5 năm qua, với uy tín của mình, Tạp chí Chư Yang Sin đã thu hút khá nhiều cây bút văn xuôi trong cả nước gửi bài tham gia. Trung Trung Đỉnh, Lê Minh Phong, Vũ Thị Huyền Trang, Phạm Ngọc Thanh,… Những giọng văn từ các tỉnh thành khác nhau cũng đã góp phần làm cho thể loại truyện ngắn trên tạp chí thêm đa thanh, đa giọng.
Trên tinh thần trân trọng mọi phong cách, ưu tiên ghi nhận những nỗ lực cách tân làm mới các thể loại văn học, trong những năm qua, Tạp chí cũng đăng tải nhiều truyện ngắn dịch từ nước ngoài, và những truyện ngắn lạ, hấp dẫn của Đinh Thị Như Thúy, Lê Vĩnh Tài, Trần Hương Giang… Chính điều đó cũng góp phần tạo ra sức hấp dẫn riêng, khó lẫn của Tạp chí Chư Yang Sin.
Qua thử thách của thời gian, các giá trị đích thực sẽ tồn tại bền vững. Những người làm Tạp chí tin tưởng rằng, rồi đây, không chỉ riêng thể loại truyện ngắn mà tất cả các tác phẩm thuộc mọi thể loại được đăng tải, được đưa đến với bạn đọc, sẽ là những đặc sản đậm đà hương vị của đại ngàn, của mảnh đất bazan huyền thoại đầy quyến rũ.
Nên chăng, trong thời gian tới, lãnh đạo Hội VHNT nên có kế hoạch để tổ chức một số cuộc thi, ví dụ, thi viết truyện ngắn trên Tạp chí Chư Yang Sin. Đó không chỉ là sân chơi để những người viết quen thuộc là hội viên thi thố tài năng mà còn là dịp để phát hiện thêm những cây bút mới, bổ sung cho lực lượng sáng tác văn xuôi của địa phương.


Thứ Năm, 25 tháng 6, 2015

SỐ 273&274 - tác giả H’SIÊU BYĂ

Tác giả H’SIÊU BYĂ


NGƯỜI CÂM
Truyện ngắn


Họ vẫn thường gọi em là con đĩ.
Bước chân em dính đầy nước miếng, nước mũi của các bà, các chị “Xe tung, sét đánh cái con đĩ ấy đi, chân này đạp thuyền, tay kia vịn ghe, đi thuyền hết đất người này sang đất người nọ”.
Kệ chứ! Em quen tai rồi. Em thà chịu những lời mắng nhiếc độc như con rắn hổ mang kia còn hơn cong cái lưng gùi lúa, đi rẫy cháy tóc, lấy củi đen da. Thỉnh thoảng em cũng có buồn. Đó là khi gã câm ném mạnh cái nhìn về phía em. Cái nhìn của dòng Sêrêpốk yên tĩnh buổi sáng, dịu êm buổi trưa, dữ dội buổi chiều. Em giấu nỗi buồn của mình vào những chiếc khăn dang dở. Giá như gã cũng nhổ nước miếng vào lối đi thì em đã bớt nhiều suy nghĩ rồi.
Gã thương em như thương những chùm phong lan gỡ được trên cây cao mang về. Buổi chiều nhập nhoạng ít người, gã lẻn qua nhà em đặt nhẹ nhàng nó lên đầu sàn. Sàn nhà rung rung bước chân người con trai muốn ngồi chung bếp lửa với người con gái. Bà nghiêng đôi tai ho to: “Ai đang đứng dưới sàn? Nhà tôi nước trong bầu đã hết, củi trong hốc chẳng còn, chiếu mua của người Lao đã mòn, mua của người Chăm đã cũ, củ khoai, hạt bắp đã treo hết trên bếp làm giống. Nếu không chê xin mời khách lạ lên nhà ngồi chung?”. Cánh cửa yên ắng, sàn nhà yên ắng, bà nằm xuống gối mệt mỏi thở như cơn gió thổi dài trên đồi cỏ khô…
Bà ít nói. Thỉnh thoảng thả nhiều trận ho sặc sụa. Em ghét tiếng ho của bà. Nó nhắc nhở em phải kiếm tiền mua thuốc. Đồi bắp trái nhỏ xíu lơ phơ dưới cái nắng cháy khét M’đrăk không đủ chi trả cho mỗi lần cõng bà ra trạm xá. Bà rên hừ hừ và lặng câm trong thế giới của riêng mình. Bà thích dệt vải bằng đôi tay run run và mò mẫm. Những đường chỉ vụng về xiên xẹo dài ngắn trên tấm váy làm bà vui. Có gì vui? Em la toang toác mấy con gà mổ trộm lúa, mắng nhiếc con heo đang hả hê cà mình dưới cột sàn. Em ngồi lên tảng đá xù xì cạnh giếng và nức nở…
Buôn em về đêm vắng vẻ như nghĩa địa sau ngày bỏ mả.
Buôn em về đêm hoang hoải như tiếng chim pơrơtơk níu váy bạn tình.
Em lấy tấm váy chùi nước mắt đằng trước, ướt sũng.
Em xoay tấm váy đằng sau chùi nước mắt, dính đầy.
Em khóc cho em, cho lối đi dính đầy nước miếng, nước mũi của các bà, các chị. Những đêm nằm trong tay chồng người khác làm em cay xè sống mũi. Em không cảm nhận được mùi mằn mặn yêu thương từ những bao cà phê mà những gã đàn ông ném phịch vào góc nhà. Họ chọc sàn nhà sột soạt những âm thanh to rỗng như gió lùa giữa hai khe đá. Dúi vào ngực em những tờ tiền nhàu nhĩ xanh xám mùi phân bò. Gió từ núi thổi ào ạt qua hiên đánh thức sàn nhà dài rung răng rắc. Em nín thở, trở mình. Bà bò ra gian bếp hơ lửa, lửa cây Kla, Ble nũng nịu dưới lớp tro bật dậy, mở mắt to, tiếng ho khàn tràn qua gian bếp, chạy ngược lên gian khách, xuống cầu thang rồi tan biến ngoài trời sầm sẫm. Mưa đêm lất phất. Ở mái nhà nào đó có tiếng người chủ nồi cơm xì xầm với chồng “Cây cà phê đang vui ama Y, H ạ. Mai tui chạy lại chỗ người Kinh mượn ít bao phân…”.
Sáng mai mờ sương, mặt trời giấu mặt chưa muốn dậy. Trong nhà, ngoài đường sầm sập bước chân người. Người ngồi gian khách, người ngồi gian bếp, người ngồi chỗ này dài đến chỗ kia. Họ đến tắm cho bà bằng nước giếng đầu tiên của ngày. Bà đi nhẹ nhàng như cơn gió mùa hoa, như tiếng chim pơrơtơk mùa nắng. Bà sửa soạn trong chuyến hành trình xa xôi chân đi bộ không biết bao nhiêu ngày đường mới tới. Bà bỏ quên đứa cháu ngoại và tấm váy dệt chưa xong đường chỉ. Vai em tựa vào gã câm như dây leo oằn èo tựa vào gốc cổ thụ vững chắc. Gã vỗ về và chóp chép miệng. Trong âm thanh ú ớ ấy, em nhìn thấy màu tình yêu long lanh. Có những người đến với mình không ồn ào như tiếng con ve kêu, con bò lớn rống, họ lặng lẽ, nhẹ tênh như hoa Blông trắng xóa ôm lấy bầu trời rạng chiều.
Nhà dài trống, gió lùa ù ù như tiếng sáo. Thỉnh thoảng em thấy bóng của bà chập chờn ngồi hơ lửa. Tóc búi cao, lưng cong cong, hai bàn tay áp sát vào ngọn lửa xanh đỏ. Khi, em thấy bà ngồi dệt váy, những cuộn chỉ đen, dài quấn quanh bụng “Sống một mình không thể đánh chiêng. Cười một mình chẳng có ai nghe. Không ai đi xe một bánh hết con đường dài…”. Bà muốn em bắt chồng, bắt gã câm cho nhà dài có tiếng bước chân của đàn ông, cho chuồng gà có người lót ổ. Và em nhớ gã câm hơn nỗi nhớ của con trâu nhớ cỏ non, dê con nhớ đọt măng trong rừng.
Hôm nào đó, em không nhớ nữa. Con gà trống vắt vẻo trên cây cao cất tiếng gáy lanh lảnh, một đoàn mười mấy người lạ chạy xe ầm ầm trong buôn. Bụi chạy lung tung đoạn đường dài từ đường cái lớn đến bến nước. Xe zíp màu trắng đi trước, xe zíp màu đen đi sau, xe zíp màu đỏ đi chính giữa. Người trẻ trong bon nhìn, người già trong buôn ngó, đàn ông bỏ li cà phê ra dòm trước hiên, đàn bà bỏ chai nước túm tụm liếc mắt “Ya! Ai thế nhỉ? Mới tờ mờ sáng sớm, qua đất lạ mà không hỏi già làng, uống nước lạ mà không hỏi trưởng bon”. Xe dừng chạy chỗ nhà amí Buk, mẹ của gã câm. Trong buôn bắt đầu rục rạo “Thấy không? Họ bước chân lên cầu thang nhà amí Buk đấy. Kìa! Đừng mở to con mắt hết cỡ như muốn ăn người ta như thế. Hôm nay đi đổi công cho nhà amí Buk, mọi chuyện sẽ sáng mắt thôi”.
Xe zíp đi, gã câm đi.
Không một người nào trong buôn biết được sự vội vã trong bước chân của gã câm và đoàn người lạ sáng hôm ấy. Amí Buk không nói, các con không nói. Chỉ biết rằng họ u sầu, lo lắng, mắt đảo đi chỗ khác mỗi khi người già hỏi chuyện. Đêm đến, lửa ở gian bếp bập bùng, người lớn trong nhà amí Buk chụm đầu vào nhau nói những lời xì xầm to nhỏ. Lời to nói về vụ lúa không đủ ăn đến mùa mưa, cành cà phê héo quắt nhìn đi nhìn lại trông giống con cá khô ngoài nhà chợ. Lời nói nhỏ rỉ rả về gã câm, người con nuôi của nhà này. Lo chớ, gã rời bon mấy ngày nay rồi. Nuôi từ khi còn chưa biết tự mặc quần áo cho đến khi uốn cán cuốc cong, uốn cán rựa thẳng. Thế mà người Kinh nói lời một, lời hai đã theo họ về dưới miền xuôi. Amí Buk không muốn trong buôn biết chuyện. Miệng họ dài lắm, họ đi kể với người này người nọ, buôn này buôn nọ rồi thế nào cả vùng Mđrăk cũng biết, gã câm không phải từ váy bà chui ra.
Thằng nhỏ Klơi hay sang nhà em mượn lửa. Nó rù rì với em nhiều chuyện ở trường. Người nhỏ thường giữ không kín chuyện. Nó kể phun nước miếng trắng xóa hai bên mép về gã câm, về nỗi niềm của amí Buk. Nó say sưa cho đến khi nghe tiếng gọi bên kia đường: “Wơ Klơi, trời chưa tối hay sao mà bây giờ mày đi mượn lửa chưa về”. Một mình. Em ngồi vân vê mái tóc mặc kệ dòng suy nghĩ chạy ngược chạy xuôi.
Sau ngày bà mất, em không để ý đến âm thanh sục sạo dưới gầm sàn. Người đàn ông Êđê sợ bồi thường của cải hơn sợ tình yêu dành cho vợ bị phản bội. Không sợ sao được, trong lễ hỏi cưới, ngón tay con gái con trai móc chặt với nhau: “Sợi chỉ đỏ đã buộc ở chân gà trống đỏ. Sợi chỉ trắng đã buộc ở chân gà trống trắng. Dao có rồi còn đi kiếm sắt. Cá có rồi còn đi bắt nữa. Con bò lớn sẽ đốt, con trâu bự sẽ thui, vàng 10 chỉ sẽ trao, ruộng 10 sào sẽ gửi.” Thế nên khi những tiếng chọc sục sạo không được đáp trả. Họ lặng thinh, chân này đá chân kia xiêu vẹo mất dạng trong màn đêm tối hơn chiếc váy đang chờ ở hiên nhà.
Dạo này, em hay tủm tỉm với giấc ngủ mơ hồ. Em thấy nhà mình đầy bọn trẻ nhỏ. Tiếng khóc như bị con ong chích, con kiến cắn. Om sòm và ồn ĩ. Những cánh tay tròn tròn như củ sắn quàng qua vai, ôm vào cổ. Chúng níu váy, kéo áo và dụi dụi vào ngực nũng nịu đòi cà rem ngòn ngọt bốc khói. Chúng bò khắp nhà, vứt những chai nhựa rổn rảng, bật tiếng cười khanh khách như người ta cù vào nách, vào lòng bàn chân. Dưới sàn, thấp thoáng lưng gã câm. Gã ngồi vót tre đan gùi mới. Cạnh đó, con heo đang ủi ủi đất, con gà cục tác đòi ăn, những chùm phong lan xanh đỏ rủ tóc bên hàng rào từng chùm…
Em cười một mình.
Em không thích lối đi của mình dính đầy nước miếng, nước mũi của các bà các chị nữa.
Em cũng không sợ nắng mạnh của mảnh đất M’đrăk làm cháy tóc, đen da.
Ngọn lửa hừng hực đang nuôi nấng giấc mơ đêm.
Sương lãng đãng mở lối phía trước. Tiếng xe zíp nổ, tiếng cười nói trong nhà amí Buk nổ lênh loang khắp buôn làng. Thằng nhỏ Klơi không sang nhà mượn lửa,  nó mượn thứ khác, nó mượn đôi bàn tay em: “Này chị! Anh em về rồi, con người Kinh nhưng không chịu ở với người Kinh. Nó nói nó nhớ đồng cỏ và nhớ chị. Người đàn bà sạch sẽ, tóc có màu đi xe zíp muốn nhìn thấy chị. Nhanh nào, cứ để nồi cơm cho cái cột nhà coi cho”…


M’đrăk, tháng tư năm 2015

Chủ Nhật, 21 tháng 6, 2015

SỐ 273&274 - tác giả VÂN TRANG



ĐỈNH CHƯ YANG SIN
ĐANG CAO DẦN

Chư Yang Sin - Tạp chí sáng tác nghiên cứu phê bình văn học, nghệ thuật của Hội Văn học - Nghệ thuật tỉnh Đắk Lắk ra số đầu tiên vào Xuân Ất Mùi - 1991, mang tên Văn nghệ Dak Lak; nhà thơ Hữu Chỉnh làm Tổng biên tập, nhà thơ Phạm Doanh làm Phó tổng biên tập; ra hai tháng một kỳ; khổ 20cm x 30cm. Đến số 16 (8.1993) được đổi tên thành Yang Sin. Đến số Xuân Giáp Tuất – 1994, lại đổi tên thành Cư Yang Sin; bắt đầu từ số này, Tạp chí phát hành mỗi tháng/kỳ. Số 26 (12.1994) Tạp chí mang tên mới: Chứ Yang Sin; nhà thơ Phạm Doanh được bổ nhiệm Tổng biên tập. Đến số Xuân Canh Thìn – 2000, Tạp chí lại thay tên: Chư Yang Sin, khổ 16,5cm x 24,5cm. Sau Đại hội IV (11.2006), nhà văn Khôi Nguyên được bổ nhiệm làm Quyền tổng biên tập cho đến nay.
Sau 15 năm thành lập, Tạp chí đã 5 lần thay tên, 3 lần đổi khổ; điều đó cho thấy khó khăn của những người làm tạp chí văn nghệ trên vùng đất được mệnh danh là thủ phủ Tây Nguyên. Nhưng dù khó khăn đến mấy, Tạp chí vẫn tồn tại và ngày một phát triển, từ hai tháng/kỳ tiến tới xuất bản mỗi tháng/kỳ.Đó là sự cố gắng lớn của lãnh đạo Hội và lãnh đạo Tạp chí.
Tiếp bước các bậc cha anh đi trước, sau Đại hội V, thay đổi thế hệ lãnh đạo mới, nhà văn Lê Khôi Nguyên được bầu Chủ tịch Hội phải đảm nhiệm luôn chức danh Quyền Tổng biên tập. Tạp chí Chư Yang Sin được giao hai biên chế, một thư ký tòa soạn kiêm họa sỹ trình bày, một nhân viên vi tính; kinh phí hàng năm được cấp 230 triệu đồng để in và phát hành 12 kỳ trong năm. Trước tình hình trên, tại kỳ họp thứ II, ngày 25.2.2011 BCH Hội khóa V đã cử nhà văn Nguyễn Hồng Chiến, Phó chủ tịch Thường trực Hội phụ trách Tạp chí. Tại cuộc họp BCH Hội lần thứ III, ngày 5.6.2011theo đề nghị của Thường trực Hội, Ban chấp hành nhất trí mời nhà thơ Đặng Bá Tiến về đảm nhận chức danh Tổng biên tập Tạp chí Chư Yang Sin; trong thời gian chờ hoàn tất thủ tục bổ nhiệm, tạm thời phân công giữ chức vụ Phó tổng biên tập phụ trách nội dung.
Thực hiện Nghị quyết BCH, từ tháng 7.2011, nhà thơ Đặng Bá Tiến về làm hợp đồng tại Tạp chí Chư Yang Sin với chức danh Phó tổng biên tập và hưởng mức phụ cấp… 400.000 đồng/tháng! Đây có lẽ là mức phụ cấp của Phó tổng biên tập một tạp chí (được Bộ Thông tin – Truyền thông cấp giấy phép hoạt động) có một không hai ở Việt Nam. Nhưng với tấm lòng vì phong trào của Hội nói chung và sự phát triển của Tạp chí Chư Yang Sin nói riêng, nhà thơ Đặng Bá Tiến vẫn vui vẻ chấp nhận và cùng lãnh đạo tòa soạn vạch ra kế hoạch hoạt động những tháng còn lại của năm 2011 và những năm tiếp theo. Với kinh nghiệm từng trải của người làm báo chuyên nghiệp lâu năm, am hiểu tình hình văn nghệ địa phương, nhà thơ Đặng Bá Tiến đã mạnh dạn đề xuất kiện toàn lại bộ máy tòa soạn, ổn định tổ chức và từng bước nâng cao chất lượng Tạp chí cả về hình thức lẫn nội dung. Trong những ngày đầu bắt tay vào việc, ưu tiên đầu tiên là phải sắp xếp công việc tòa soạn khoa học, theo hướng chuyên nghiệp, mỗi người đảm nhiệm một nhiệm vụ và giao thời gian tối đa phải hoàn thành công việc… Nhờ vậy tòa soạn đã hoạt động có hiệu quả hơn, đúng tiến độ thời gian đã vạch ra. Để thu hút bạn đọc, việc đầu tiên là phải làm sao cho Tạp chí “bắt mắt” trước hết là trang bìa, lãnh đạo Tạp chí và họa sỹ trình bày sau nhiều ngày tranh luận các phương án, cuối cùng đã thống nhất chọn một phương án trang nhã nhất; sau khi phát hành đã nhận được nhiều lời khen ngợi của hội viên cũng như bạn đọc trên cả nước. Tiếp thắng lợi bước đầu, lãnh đạo Tạp chí đã cho sắp xếp lại các chuyên mục truyền thống, mở thêm một số chuyên mục mới phục vụ nhiệm vụ chính trị cũng như đòi hỏi của thực tế và bạn đọc. Bước qua năm 2012, cơ bản các chuyên mục trên Tạp chí đã ổn định, nhưng để nâng cao chất lượng các tác phẩm được đăng tải phải đặt bài viết cho các văn nghệ sỹ có uy tín; đi tiên phong trong công việc này là nhà văn Niê Thanh Mai - Phó Chủ tịch Hội, phụ trách biên tập mảng văn xuôi. Nhờ cách làm này mà nhiều nhà văn, nhà thơ, nhà phê bình, nghiên cứu nổi tiếng… đã có bài đăng thường xuyên trên Tạp chí. Nhằm bồi dưỡng, nâng cao chất lượng bài viết cho hội viên, lãnh đạo Tạp chí đã đề xuất BCH cho tổ chức hội thảo, bàn biện pháp nâng cao chất lượng bài viết trên Tạp chí và mời nhà văn Đỗ Kim Cuông - Phó chủ tịch Thường trực Liên hiệp các hội VHNT Việt Nam vào trao đổi một số kinh nghiệm sáng tác và thời sự văn nghệ. Những biện pháp tích cực trên đã có kết quả  đáng phấn khởi, chất lượng các tác phẩm của hội viên gửi đến Tạp chí đã được nâng cao dần.
Tuy nhiên, để đạt được kết quả như trên, lãnh đạo Tạp chí cũng như các thành viên ban biên tập chịu rất nhiều áp lực từ hội viên. Nhiều người thắc mắc sao gửi nhiều bài không được đăng, tại sao đăng bài của tôi sửa mà không xin ý kiến… thậm chí có hội viên nặng lời với cả người biên tập. Nhiều hội viên không thông cảm với nổi khổ của người làm công tác biên tập hưởng mức lương 200.000 đồng/tháng (như biên tập Ảnh, Nhạc, Văn nghệ dân gian…), số tiền ấy chưa đủ trả một phần tiền xăng xe để đến nơi làm việc, nói gì đến bù đắp sức lực đã đổ ra; nhưng vì lòng yêu văn nghệ, yêu Tạp chí của chúng ta mà tình nguyện gánh vác công việc, với một mục đích duy nhất: Nâng cao chất lượng Tạp chí. Bài không đáp ứng được yêu cầu thì kiên quyết loại, hoặc buộc phải cắt, sửa… 
Nhờ các biện pháp nêu trên, chất lượng Tạp chí được nâng cao dần, số lượng phát hành cũng tăng lên. Thế nhưng, những người lãnh đạo Tạp chí vẫn day dứt vì mức trả nhuận bút cho tác giả quá thấp: Thơ 100.000 đồng/bài, truyện, nhạc chỉ vài trăm ngàn đồng/bài, trong khi đó tạp chí văn nghệ của nhiều tỉnh bạn trả nhuận bút một bài thơ từ 500.000 - 700.000 đồng, truyện ngắn trả trên 1.000.000 đồng/bài. Tuy lãnh đạo Tạp chí đã cố gắng hết mức, nhưng với nguồn kinh phí 230 triệu đồng/năm, chỉ đủ để xuất bản chín kỳ, từ kỳ thứ mười trở đi không còn kinh phí.  Trước tình hình trên, lãnh đạo Tạp chí đã làm văn bản báo cáo Tỉnh ủy và UBND tỉnh xin cấp thêm kinh phí để duy trì xuất bản. Nhà thơ Đặng Bá Tiến đề xuất: Nhân dịp này chúng ta phải trình bày luôn khó khăn về kinh phí, trong đó có cả việc chi trả nhuận bút chưa hợp lý. Sau khi văn bản được gửi đi, lãnh đạo Tạp chí thay nhau đi “gõ cửa” lãnh đạo chủ chốt của tỉnh để “tác động”. Đầu tháng 9. 2013, ông Hoàng Trọng Hải – Chủ tịch UBND tỉnh đã ký quyết định bổ sung kinh phí cho Tạp chí 3 tháng cuối năm, mỗi tháng 40 triệu đồng. Vì vậy cũng từ tháng 9. 2013 chế độ nhuận bút của Tạp chí được nâng lên: Thơ 250.000 đồng/bài, văn xuôi, nghiên cứu, chính luận, phỏng vấn… 500.000 - 550.000 đồng/bài. 
Không thỏa mãn với kết quả đạt được, lãnh đạo Tạp chí đề xuất với BCH Hội cho tổ chức một chuyến đi thực tế đến các tỉnh bạn học hỏi. Từ thực tế của Tạp chí Sông Hương, Tạp chí Nhật Lệ, Tạp chí Xứ Thanh, Tạp chí Văn nghệ Hải Dương, Tạp chí Đất Tổ mới thấy họ được cấp kinh phí cao hơn chúng ta rất nhiều: Tạp chí Nhật Lệ (Quảng Bình) 850 triệu đồng/năm, Tạp chí Sông Hương (Thừa Thiên - Huế) 1,5 tỷ đồng/năm, Tạp chí Đất Tổ (Phú Thọ): 1,7 tỷ đồng/năm, Tạp chí Văn nghệ Hải Dương, được Tỉnh ủy đặt mua mỗi kỳ 1600 cuốn để phát hành tới tất cả các cơ quan, đơn vị, chi bộ… trong toàn tỉnh. Về nhân sự, các tạp chí bạn đều có từ 7 -10 biên chế, đặc biệt Đất Tổ có tới 13 biên chế, tòa soạn được cấp nhà riêng, đầy đủ phòng ốc, tiện nghi làm việc… Sau chuyến đi thực tế với những tài liệu sưu tập được, lãnh đạo Tạp chí mạnh dạn làm văn bản đề xuất UBND tỉnh tăng ngân sách cho Tạp chí. Nhờ vậy năm 2014 Tạp chí Chư Yang Sin được cấp 520 triệu, năm 2015 được cấp 500 triệu.
Năm năm một chặng đường không, dài nhưng cũng đủ để khẳng định sự trưởng thành và phát triển của văn học nghệ thuật tỉnh nhà được phản chiếu qua tấm gương trung thực là Tạp chí Chư Yang Sin, với gần 60 kỳ xuất bản. Các tác phẩm được công bố trên Tạp chí có gần 60% là của hội viên, đa dạng về thể loại, phong phú về nội dung, có nhiều tác phẩm thể hiện sự tìm tòi, đổi mới trong sáng tạo, mang lại diện mạo mới cho văn học nghệ thuật tỉnh nhà.
Đạt được kết quả trên là nhờ BCH khóa V, cùng anh chị em hội viên ủng hộ, cộng tác; lãnh đạo Tạp chí biết kế thừa và phát huy những thành quả tốt đẹp mà các thế hệ đi trước đã trao truyền lại; lãnh đạo Tạp chí mạnh dạn đổi mới, phát huy dân chủ và đoàn kết nội bộ; nhờ vậy đã tạo nên sức bật mới góp phần quyết định nâng cao chất lượng Tạp chí, đáp ứng được nhu cầu thưởng thức văn học, nghệ thuật của bạn đọc trong và ngoài tỉnh.




Thứ Sáu, 19 tháng 6, 2015

CHƯ YANG SIN SỐ 273&274 - tác giả KHÔI NGUYÊN

Tác giả KHÔI NGUYÊN


40 NĂM TỪ MỘT VÙNG ĐẤT,
VÌ MỘT VÙNG ĐẤT


Nhắc đến Đắk Lắk, sẽ có nhiều người biết đây là xứ sở của hương cà phê thơm ngát, của vị mật ong ngọt ngào, của những rừng cao su với màu xanh bạt ngàn, của sự rộn ràng với mùa ăn năm uống tháng… và đặc biệt, đây là địa bàn chiến lược đang dần hiện lên diện mạo thủ phủ khu vực Tây Nguyên.
Sau chiến thắng Buôn Ma Thuột 10.3.1975 – đòn điểm huyệt ngụy quyền, tạo đà cho Đại thắng Mùa xuân 1975, thống nhất Tổ quốc – Đắk Lắk chỉ có 350.000 dân (bấy giờ gồm cả tỉnh Đắk Nông ngày nay) với các dân tộc bản địa chủ yếu là Êđê, M’nông, Lào… với nền kinh tế nghèo nàn, lối sống lạc hậu. Thị xã Buôn Ma Thuột lúc đó còn hoang sơ đến mức được mệnh danh là xứ “buồn muôn thuở”, “bụi mù trời”, “thủ đô tắc kè”… khiến những cán bộ được điều động tăng cường đến Đắk Lắk ngán ngẩm đến nỗi: “Hà chuồn, Nam lủi, Thái Bình bay…”
Sau 40 năm giải phóng, mặc dù đã tách tỉnh Đắk Nông, nhưng nay Đắk Lắk đã hơn 1,8 triệu dân (có hộ khẩu thường trú) thuộc 47 dân tộc của mọi vùng miền đất nước. 
Với bối cảnh như vậy, sự hình thành và phát triển văn học nghệ thuật ở Đắk Lắk như thế nào?
Trước năm 1975 Đắk Lắk chưa có một nền văn học nghệ thuật thực sự để các thế hệ sau kế thừa; vì thời ấy hầu hết các bài viết đều nằm trong sổ tay cá nhân của một vài tác giả để rồi sau giải phóng mới có điều kiện in ấn và công bố, như Hữu Chỉnh, Thiên Lương, Trúc Hoài…; đội văn nghệ quần chúng phục vụ kháng chiến chủ yếu sử dụng những ca khúc cách mạng đã được lưu truyền, không có văn nghệ sĩ chuyên nghiệp hoạt động ở Đắk Lắk.
Những năm 70 và 80 của thế kỷ XX, việc đi lại giữa các vùng miền hết sức khó khăn, từ Đắk Lắk đi sang các tỉnh khác lại càng khó khăn hơn, vì vậy việc tiếp cận, giao lưu văn học nghệ thuật giữa Đắk Lắk với các vùng miền khác là hiếm xảy ra. Muốn in ấn phải đi thành phố Hồ Chí Minh, nên Báo Đắk Lắk những năm đầu mỗi tuần 1 số, Tạp chí Văn nghệ của Ty Văn hóa Thông tin Đắk Lắk mỗi năm đôi ba kỳ, vô tuyến truyền hình một tuần 2 tối (từ 6 giờ đến 9 giờ) chuyển tiếp từ Đài truyền hình thành phố Hồ Chí Minh… Tới năm 1977, tập truyện “Thú rừng Tây Nguyên” của Thiên Lương, tập thơ “Niềm tin” (1985) của tác giả Vũ Nhật Hồng là những tập sách đầu tiên được in riêng.
Mặc dù các cấp lãnh đạo tỉnh Đắk Lắk vào những năm 70 và 80 thế kỷ trước rất quan tâm đến văn nghệ nhưng lực lượng văn nghệ sĩ quá mỏng. Cuộc vận động thành lập Hội Văn học Nghệ thuật Đắk Lắk lần thứ nhất kéo dài từ 1982 đến 1988 không đạt kết quả, phải tổ chức Cuộc vận động lần thứ hai. Đến tháng 9.1990, Đại hội thành lập Hội Văn học Nghệ thuật Đắk Lắk được tổ chức với số lượng hội viên ban đầu là 45 (kể cả hội viên danh dự). Điểm qua như vậy để thấy văn học nghệ thuật ở Đắk Lắk trong 15 năm đầu sau giải phóng hầu như còn mờ nhạt. Sự mờ nhạt này có nhiều nguyên nhân nhưng nguyên nhân, chủ yếu là vào thời điểm bấy giờ, lực lượng tăng cường chủ yếu nằm ở hai phương diện: xây dựng - quản lý (về mặt kinh tế) và an ninh quốc phòng; lực lượng văn nghệ sĩ vốn đã ít ỏi, lại phải lo bươn chải để kiếm thêm thu nhập bằng cách này hay cách khác, nên khó có thời gian thâm nhập vào đời sống thực tế, không có điều kiện để tiếp nhận những thông tin mới và sự giao lưu để học tập kinh nghiệm, không thể dồn tâm huyết cho việc sáng tạo văn học nghệ thuật… 
Đất nước bước vào công cuộc đổi mới, Đắk Lắk trở thành một vùng đất đầy tiềm năng, có sức hút mạnh mẽ. Nếu trong lịch sử của thế kỷ XX có ghi nhận về những cuộc di dân đến Đắk Lắk thì phải kể đến 3 cuộc di dân lớn. Thứ nhất là cuộc di dân vì nạn đói năm 1945 nên họ phải đến Đắk Lắk làm phu các đồn điền cao su, cà phê; thứ 2 là cuộc di dân 1954 của đồng bào miền Bắc di cư vào Nam; thứ 3 là cuộc di dân theo chủ trương của Đảng đi xây dựng vùng kinh tế mới hoặc những cuộc di dân tự do (vẫn đang hàng ngày hàng giờ diễn ra tại Đắk Lắk). Thế nên dân số Đắk Lắk tăng nhanh về mặt cơ học hơn sinh học. 
Sau 25 năm thành lập, hiện nay Hội Văn học Nghệ thuật Đắk Lắk có 220 hội viên, trong đó có 83 hội viên chuyên ngành Trung ương. Hội có 7 chi hội chuyên ngành (văn học, âm nhạc, nhiếp ảnh, kiến trúc, mỹ thuật, văn nghệ dân gian, nghệ thuật – biểu diễn) và 2 chi hội văn học nghệ thuât địa phương (huyện Krông Năng và các huyện phía đông Đắk Lắk).
Trên vùng đất có 47 dân tộc của trăm miền quê tụ hội, ngoài những bản sắc văn hóa bản địa còn có những sắc màu văn hóa của mọi miền đất nước từ những người đã chọn Đắk Lắk làm quê hương thứ hai bởi, họ “gánh theo tên xã tên làng”. Các văn nghệ sĩ Đắk Lắk được hoạt động sáng tạo văn học nghệ thuật trên một “mỏ giàu tài nguyên văn hóa”. Họ đã hòa mình vào cuộc sống và gắn bó máu thịt với mảnh đất này. Nếu như năm 1990, theo nhận xét của nhà thơ Nông Quốc Chấn: “Đọc các anh các chị ở Đắk Lắk, tôi thấy cứ nhàn nhạt như đang đọc của các tác giả ở đồng bằng Bắc bộ và Trung bộ, chưa thấy cái riêng của một vùng đất…” thì đến nay, văn học nghệ thuật Đắk Lắk không chỉ đã hòa được với tiếng nói chung mà còn mang đậm dấu ấn của một vùng đất. Mặc dù chẳng có “amí”, “ama”, “cồng chiêng”, “cái bụng”… trong tác phẩm nhưng nó vẫn mang hơi thở của cuộc sống ở xứ sở đa sắc tộc, đa văn hóa, thừa mưa nắng này.
Kể từ khi thành lập Hội Văn học Nghệ thuật (1990), đặc biệt từ khi có nguồn Quỹ hỗ trợ sáng tạo văn học nghệ thuật của Chính phủ (2004), mỗi năm Đắk Lắk có hàng chục đầu sách ra mặt bạn đọc, hàng trăm tác phẩm, công trình văn học nghệ thuật đoạt giải tại các cuộc thi, các cuộc liên hoan khu vực, trong nước và quốc tế. Nhiều văn nghệ sĩ Đắk Lắk được bạn bè trên cả nước biết đến… Và Đắk Lắk cũng đã trở thành điểm đến của nhiều văn nghệ sĩ trên cả nước để tìm niềm cảm hứng sáng tạo về đất và người nơi đây.
40 năm, một quãng thời gian đủ để con người từ thoát thai trưởng thành, thấu hiểu lý sự trong thiên hạ (tứ thập nhi bất hoặc) nhưng so với lịch sử thì chỉ như hạt cát giữa sa mạc, so với vũ trụ thì chỉ là một thiên thạch trong vô tận thiên hà; việc đánh giá, xác định vai trò vị trí của văn học nghệ thuật một vùng đất là rất khó. Chỉ dám nhận định rằng: Các hoạt động sáng tác của các hội viên khá sôi nổi, phong phú. Mỗi chuyên ngành, mỗi lĩnh vực đều thể hiện được khả năng tìm tòi sáng tạo của các văn nghệ sĩ. Mỗi cá nhân tác giả đều cố gắng nỗ lực hoàn thiện bản thân, nâng cao năng lực sáng tạo để đóng góp cho cuộc sống nói chung và sự nghiệp xây dựng, phát triển tỉnh nhà nói riêng, làm tròn trách nhiệm của người chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng văn hoá. Họ đã dùng tài năng và công sức, mang tiếng nói và hơi thở của con người ở một vùng đất để góp phần cho tiến bộ xã hội.
Ở Đắk Lắk, tiếng nói của văn học nghệ thuật cũng đã có những giá trị nhất định. Hàng năm, Hội VHNT phối hợp với các cơ quan, đơn vị trong tỉnh tổ chức từ 2 đến 3 trại sáng tác, nhiều chuyến đi thực tế tạo điều kiện cho các văn nghệ sĩ có nguồn cảm hứng sáng tạo; tổ chức nhiều buổi biểu diễn tại biên giới, vùng sâu phục vụ chiến sĩ và đồng bào; tổ chức các cuộc triển lãm để phục vụ nhu cầu thưởng thức văn hóa của nhân dân… có kinh phí để tổ chức trao giải thưởng hàng năm và giải thưởng VHNT Chư Yang Sin (5 năm/ lần), tổ chức Trại sáng tác dành cho thanh thiếu nhi để bồi dưỡng thế hệ kế cận (tới nay đã 25 Trại cấp tỉnh, 19 Trại của riêng huyện Cư Mgar)…

40 năm, văn học nghệ thuật từ một vùng đất đã vượt qua gian khó để đi lên, cũng chỉ vì một vùng đất, vì sự góp phần vào sự nghiệp xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc, vì sự nghiệp xây dưng văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đât nước. Nhiều gian nan vẫn còn. Hy vọng Nghị quyết 33 của của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI, Chương trình thực hiện Nghị quyết 33 của Tỉnh ủy Đắk Lắk, văn học nghệ thuật Đắk Lắk sẽ có điều kiện hơn nữa để phát triển và hội nhập.

Thứ Năm, 18 tháng 6, 2015

SỐ 273&274 - tác giả NGUYỄN DUY XUÂN

Tác giả NGUYỄN DUY XUÂN



THÁNG NĂM VỀ QUÊ BÁC
Ghi chép



Tháng Năm này, tôi lại về thăm quê Bác.
Máy bay đáp xuống sân bay Vinh trong cái nóng hầm hập đầu hè. Tôi bắt đầu cảm nhận được mỗi lúc một rõ hơn cái không khí của đất trời quê hương thời trai trẻ đang bật dậy từ trong sâu thẳm trái tim mình. Chớm hè. Nắng gắt. Nóng hầm hập.
Nhà ga sân bay Vinh vừa được xây mới, khang trang, rộng rãi, xứng tầm một sân bay ở khu vực kinh tế năng động nhất của bắc miền Trung.
Như đã hẹn, chú em có mặt từ trước để đón tôi trở về. Vừa mới ra khỏi khu vực nhà ga sân bay, chiếc xe máy chở hai anh em đã bon bon trên con đường thảm nhựa thênh thênh, thoáng đãng, có cái tên là lạ: Đường Nghệ An – Xiêng Khoảng, nối thành phố Vinh với tỉnh Xiêng Khoảng của nước bạn Lào. Con đường này mới đưa vào sử dụng vài năm nay, điểm xuất phát của nó từ Quán Bánh xuyên qua Eo Gió thuộc dãy Thiên Nhẫn, thông ra quốc lộ 46; rút ngắn 1/3 đoạn đường từ sân bay Vinh về quê Bác.
Dù đã nhiều lần về thăm quê hương nhưng lần nào cũng vậy, lòng tôi vẫn xốn xang những cảm xúc khó tả. Xe vừa qua Eo Gió, đã thấy hình bóng quê nhà xa xa và dãy núi Tréc – lũy thép thời chiến tranh - huyền ảo trong sương khói. Trước mặt là làng quê Kim Liên.
Tôi bảo với chú em tranh thủ ghé thăm quê Bác trước khi về nhà. Chẳng mấy chốc chúng tôi đã dừng chân ở quê ngoại Hoàng Trù, thấy người xe đông nghịt. Thì ra, hôm nay là mồng một tháng năm. Đã gần 11 giờ trưa mà khách thăm vẫn nườm nượp, dường như chẳng mấy ai để ý tới cái nắng gay gắt đầu hè của miền quê xứ Nghệ. Tôi bồi hồi đứng trước ngõ vào nhà quê ngoại, ngắm nhìn khung cảnh quen thuộc với những dãy chè mạn hảo bao bọc hai bên lối đi được cắt tỉa tỉ mỉ thẳng tắp; những hàng cau rủ bóng im lìm dưới nắng trưa, bao năm nay như tiêu binh đứng xếp hàng trước ngôi nhà tranh mộc mạc. Khung cảnh thật yên bình.
Từ nhà ngoại, chúng tôi sang quê nội, hai làng cách nhau chỉ một quãng đồng. Chiếc xe máy đang bon bon bỗng chững lại. Chú em bảo tắc đường rồi. Sao? Tôi ngạc nhiên. Tắc đường ư? Chuyện tưởng chỉ có ở các thành phố lớn, vậy mà hôm nay, làng Sen cũng tắc đường. Đoạn đường dẫn tới nhà Bác chừng một cây số mà xe cộ nêm chặt. Phần lớn là xe khách chở các đoàn tham quan khắp mọi miền đất nước về đây, bỗng chốc dồn tụ lại, không hẹn mà gặp, thế là tắc đường. Tắc đường nhưng không có cảnh chen lấn hay bóp còi inh ỏi. Những chiếc xe cứ thế cõng trên mình hàng chục du khách, nhích từng tí một đưa họ đến nơi thiêng liêng mà cả đời mình hằng mong mỏi.
Chúng tôi gửi xe máy rồi đi bộ vào thăm nhà Bác. Nắng mỗi lúc một gắt. Một chút ngỡ ngàng vì tôi không tìm ra lối đi quen thuộc. Chú em biết ý bảo, bác đi lối cổng chính bên khu lưu niệm chứ lối cũ người ta rào chắn rồi. À ra thế. Vậy mà tôi cứ tìm cái lối cũ, con đường nhỏ mềm mại bên ao sen dẫn lối vào nhà Bác đã để lại ấn tượng khó phai mờ trong lòng bao du khách sau khi đặt chân đến nơi đây. Tôi thắc mắc tại sao lại thay đổi thế, chú em bảo để tiện cho việc bảo vệ khu di tích. Cảm giác của tôi lúc đó như tiếc nuối một cái gì đã vuột mất. Lúc nãy bên quê ngoại, chắc cũng là để tiện cho việc bảo vệ, người ta đã cho xây một đoạn tường rào ngăn phía tây lối vào nhà Bác. Tự dưng bỗng thấy không gian như hẹp đi. Vẫn biết có những cái cần phải thay đổi, phải hiện đại hóa để thuận tiện cho du khách ví như các dịch vụ, các tiện ích đi kèm, nhưng tôi nghĩ dù với mục đích gì thì trong vòng bán kính vài ba trăm mét tính từ tâm nhà Bác mở ra phía trước và hai bên, nên giữ nguyên trạng như nó vốn có cách đây trên 100 năm khi Người rời xa quê hương theo cha vào xứ Huế. Có như thế, mỗi lần du khách đến đây, dù là con cháu nước Việt hay bạn bè quốc tế đều có thể cảm nhận được một cách sâu sắc hồn cốt của làng quê nơi đã sinh ra bậc vĩ nhân của nhân loại.
Tôi chậm bước trên con đường bê tông với một bên là bờ rào mới dựng ngăn cách với ao sen, ở đó nổi bật trên cái nền xanh đậm của lá sen trải khắp mặt ao, lấp ló những bông sen phớt hồng đầu mùa, lòng bồi hồi muốn tìm lại cái cảm giác của mấy chục năm về trước, cũng đã từng đi trên con đường nhỏ này, đất cát phẳng phiu…
Nhà Bác đây, giản dị đơn sơ giữa một khu vườn rộng rãi bốn bề tỏa bóng cây xanh. Cây bưởi trước sân chi chít những chùm quả nhỏ trên cành. Tiếng cô thuyết minh giọng Nghệ nghe thật dễ thương, cái oi bức của trưa hè dường như cũng dịu bớt.
Lần này về thăm nhà Bác thấy có nhiều đổi thay. Khu Di tích Lịch sử Văn hóa Kim Liên   phục dựng thêm 3 ngôi nhà láng giềng của gia đình Bác tại làng Sen. Đó là nhà của các cụ Nguyễn Danh Khai, Vương Hoàng Mỹ và Hoàng Xuân Tiệng. Không gian làng quê xưa như được mở rộng ra, nhà Bác không còn “đơn độc” trong con mắt của du khách nữa. Tôi rẽ lối qua khu nhà lưu niệm bề thế, vào thắp hương tưởng nhớ Người rồi dạo một vòng quanh khuôn viên rợp mát bóng cây. Tôi để ý không còn thấy những tấm bảng gắn trên thân cây như mấy năm trước, ghi danh các vị quan chức về thăm đã trồng lưu niệm. Bỗng thấy khu vườn có vẻ như thoáng hơn. Chợt nghĩ, một cái cây dù đặt ở đâu, nào có làm rạng thêm danh giá người trồng nó. Huống chi trong vườn Bác, ai lại muốn khắc tên tuổi mình lên đó? Tôi thầm cảm ơn Ban quản lí khu di tích đã làm được cái điều tưởng như đơn giản nhất nhưng lại không dễ chút nào bởi nó “nhạy cảm” lắm, “tế nhị” lắm! Bỏ đi một chi tiết thừa, để cho không gian văn hóa đẹp hơn, ấy là một hành động dũng cảm rất văn hóa của người làm văn hóa nơi đây vậy.
Trời tháng năm càng về trưa càng nắng gắt. Dòng người và xe cộ vẫn đổ về làng Sen không ngớt. Nhìn biển số xe, tôi biết họ đến từ xa lắm, tận trên “quê hương cách mạng dựng nên cộng hòa” ở Pác Bó; nơi tít mù Tây Bắc có Điện Biên “lừng lẫy địa cầu”, tận thành phố Hồ Chí Minh xa xôi và Cà Mau mũi tàu đất nước vời vợi. Làng Sen những ngày này đúng là nơi hội tụ tâm hồn, tình cảm dân tộc. Cả nước non tụ họp quanh Người.
Trên đường về quê mẹ, chúng tôi dừng chân bên núi Chung, ngọn núi nhỏ gắn bó với tuổi thơ của Bác một thời. Núi Chung bây giờ rợp bóng cây xanh. Rừng nhân tạo đã bao phủ khắp địa danh có bề dày lịch sử - văn hóa này. Tôi lắng nghe trong gió tiếng thầm thì của đất trời Chung sơn. Và hình như cả âm hưởng của giọng thơ La Sơn Phu tử thuở nào: “Chung sơn tam đỉnh hình vương tự/ Kế thế anh hùng vượng tử tôn”. (*)
Mé đồi phía đông nam núi Chung đang hiện dần lên hình hài bề thế của một ngôi đền thiêng, nơi thờ tự gia tộc họ Nguyễn Sinh. Công trình này sau khi hoàn thành sẽ là một địa chỉ thiêng để du khách bày tỏ niềm kính phục, lòng tri ân đối với những bậc sinh thành ra người con ưu tú của dân tộc – Hồ Chí Minh.
Từ núi Chung về quê tôi chỉ còn ba cây số. Gần lắm rồi. Tôi cảm thấy tim mình đang rộn nhịp trong lồng ngực. Giờ này, chắc mẹ tôi hết ra lại vào trước ngõ, ngóng vọng đứa con xa biền biệt tháng năm trở về.
                                                       
 Quê nhà 1.5, Buôn Ma Thuột 17.5.2015




 (*) Câu thơ của La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp (1723-1804): “Chung sơn tam đỉnh hình vương tự/ Kế thế anh hùng vượng tử tôn”. Nghĩa là: Núi Chung có 3 đỉnh, hình chữ “Vương”/ Con cháu đời đời nối nghiệp anh hùng.

Thứ Ba, 16 tháng 6, 2015

SỐ 273&274 - tác giả DUY HOÀN





Lính đảo nhớ làng Sen



Tháng Năm… mùa này biển lặng
Cây phong ba gom nắng gió đơm bông
Giông bão đi qua, lính đảo lại nặng lòng
Mơ về Kim Liên hái sen hồng dâng Bác
Được về làng Trù lắng nghe phường vải hát
Câu ví rộng dài như thuở Bác theo cha…

Mùa hạ ở Trường Sa cái nắng cũng cháy da
Thương núi Hồng, sông Lam cơn gió Lào ném lửa
Núi Chung ơi! Dấu chân nào một thuở
Trang sách nào… Bác lật tuổi thơ xưa?

Nhớ làng Sen, thương chiếc võng đung đưa
Tấm phản cha ngồi cùng cụ Phan… luận bàn việc nước
Nguyễn Tất Thành say thơ, lòng thầm ước
Nghĩa khí, thương đời như các bậc vĩ nhân…

Đêm ở Trường Sa vầng trăng thật gần
Các chòm sao như la bàn của những người lính thủy
Nhớ chuyện xưa: Cuộn dây thừng… và lời Người dung dị
Bác truyền lại cháu con sau năm tháng bôn ba

Tháng năm hồng thao thức phía đảo xa
Lính đảo nhớ làng Sen bước tuần tra rạo rực
Sinh nhật Người chúng con chưa về được
Nguyện giữ biển - trời như lòng Bác hằng mong…

Tháng 5.2015


Thứ Hai, 15 tháng 6, 2015

SỐ 273&274 - tác giả NGUYỄN THỊ BÍCH THIÊM


Tác giả NGUYỄN THỊ BÍCH THIÊM


BÔNG LAN Ở MỘT TRƯỜNG HUYỆN
                       

Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” kể từ khi được Đảng ta phát động đến nay đã được đông đảo quần chúng nhân dân hưởng ứng. Rất nhiều cá nhân, tập thể xuất sắc đã xuất hiện. Những cá nhân tiêu biểu ấy tựa như những bông hoa muôn màu sắc đang cùng nhau toả ngát hương thơm cho đời; mỗi đơn vị, cơ quan, làng xã, thôn, buôn… cũng giống như những khu vườn đang nở rộ những bông hoa đẹp.  Trường THPT Nguyễn Trãi, ngôi trường ở phía đông bắc huyện Cư M’Gar, tỉnh Đắk Lắk, cũng có những cá nhân xuất sắc như vậy.
Nói về tập thể những thầy cô giáo đang thầm lặng từng ngày, từng giờ cần mẫn, chăm chỉ cho sự nghiệp “trồng người” của mình ở nơi đây, không thể không nhắc đến một người: Cô giáo Trịnh Thị Phương Lan, Tổ trưởng tổ Ngoại ngữ kiêm Chủ tịch Công đoàn trường. Sinh năm 1976, chị có nét duyên ngầm của con gái  Phố Hiến. Ngay từ khi còn học trung học cơ sở, cô bé Lan với cặp mắt đen tròn ấy, ngoài việc học giỏi  còn rất hăng hái tham gia phong trào của Đoàn, Đội… Những cuộc thi học sinh giỏi, thi “Tiếng hát măng non”, của Huyện tổ chức cô bé đều tham gia và đoạt giải; điều đó khiến bố mẹ cùng hai em thêm vui và tự hào về người con, người chị của mình.
Sau 1975, bác ruột cô giáo Trịnh Thị Phương Lan - bà Phạm Thị Phượng đang là hiệu trưởng một trường THCS ở quê nhà được điều động vào Tây Nguyên để giảng dạy ở Trường trung cấp sư phạm Mẫu Giáo, sau đó chuyển sang công tác tại Sở Giáo dục và Đào tạo Đắk Lắk.  Do không có con nên bà đã về quê đón cô cháu gái của mình vào để bác cháu có nhau. Thế là năm 1990, cô bé Lan vừa học hết Cấp 2 (trung học cơ sở) đã trở thành “người Buôn Ma Thuột”, trong tà áo dài trắng của nữ sinh Trường THPT Buôn Ma Thuột. Với bản chất con nhà nghèo chăm chỉ, có tính tự lập cao, nên cô bé đã không làm bác mình thất vọng. Ba năm trung học phổ thông, rồi bốn năm là sinh viên của Trường Đại học Đà Lạt cũng trôi qua, cô học sinh nhỏ bé ngày nào đã nhận bằng đỏ tốt nghiệp đại học và năm 1998 về nhận công tác tại trường Cấp 2-3 Nguyễn Trãi (sau này là Trường THPT Nguyễn Trãi, huyện Cư M’gar) cho đến bây giờ.
Gần hai mươi năm  trôi qua, cô giáo Trịnh Thị Phương Lan đã trưởng thành rất nhiều; luôn luôn gương mẫu trong công việc chuyên môn, chịu khó tự học và nghiêm túc trong mọi công việc được giao. Năm 2006, cô được lãnh đạo trường tin tưởng đề bạt làm Tổ trưởng tổ Ngoại ngữ; năm 2007, được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam, rồi đảm nhiệm Chi uỷ viên, Chủ tịch Công đoàn trường. Với vai trò là Tổ trưởng chuyên môn, cô giáo Trịnh Thị Phương Lan đã chỉ đạo tổ Anh văn hoàn thành tốt nhiệm vụ 5 năm học liên tục từ niên khóa 2009-2010 đến niên khóa 2013-2014 liên tục đạt danh hiệu Tập thể Lao động tiên tiến và được Giám đốc Sở Giáo dục – Đào tạo Đắk Lắk tặng Giấy khen. Với vai trò là Chủ tịch Công đoàn nhà trường, cô cùng Ban chấp hành Công đoàn chỉ đạo thực hiện tốt mọi phong trào hoạt động do các cấp tổ chức; đạt giải cao trong các cuộc thi văn nghệ, thể thao; Công đoàn nhà trường nhiều năm liền đạt danh hiệu Công đoàn cơ sở vững mạnh xuất sắc.
Từ năm 2010 đến nay, cô liên tục đạt danh hiệu Chiến sỹ thi đua cấp cơ sở, được UBND tỉnh tặng Bằng khen. Tham gia viết sáng kiến kinh nghiệm, áp dụng công nghệ thông tin vào dạy học, được Sở Giáo dục và Đào tạo Đắc Lắc tặng Giấy khen vì có thành tích "Đạt giải Nhì cuộc thi dạy học theo chủ đề tích hợp năm học 2013-2014".
Gặp gỡ, nói chuyện với cô Trịnh Thị Phương Lan, tự nhiên tôi liên tưởng đến nhành hoa lan dịu dàng, kiên cường trong nắng gió, vẫn hàng ngày toả hương thầm lặng làm đẹp cho đời. Đúng như cái tên của mình, cô vừa dịu dàng, nhân hậu, vừa mạnh mẽ và năng động trong công việc, cuộc sống. Cô đã hoàn thành tốt vai trò người phụ nữ thời nay với những phẩm chất đáng quý: Tự trọng, tự tin, trung hậu, đảm đang.
Đáng quý biết bao khi có những cá nhân xuất sắc, những bông hoa tươi đẹp như cô Trịnh Thị Phương Lan và bao người khác đang hằng ngày hằng giờ thầm lặng toả hương thơm, làm đẹp cho đời. Các anh chị đã và đang cống hiến cho gia đình, quê hương, góp phần vào xây dựng Tổ quốc ta ngày càng giàu đẹp, văn minh hơn.
                                                         
  Núi Hoa, tháng 4/2015.


Thứ Tư, 3 tháng 6, 2015

SỐ 272 - tác giả LÊ VĂN HÒA

Nhà văn NIÊ THANH MAI

HÌNH TƯỢNG NGƯỜI ÊĐÊ “XUỐNG PHỐ”
TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA NIÊ THANH MAI




Niê Thanh Mai là nhà văn trẻ của núi rừng Tây Nguyên hùng vĩ. Chị viết nhiều về dân tộc Êđê trong bối cảnh văn hóa đang chịu sự “xâm thực” từ nhiều góc độ của nền kinh tế thị trường. Một trong những hình tượng nhân vật tiêu biểu trong truyện ngắn của chị đó chính là những con người Êđê rời buôn làng đến với thị thành. Tôi tạm gọi là hình tượng người Êđê “xuống phố”. Hình tượng nhân vật này trong tác phẩm của Niê Thanh Mai góp phần thể hiện rõ mạch ngầm tư tưởng truyện ngắn của nhà văn.
Đọc Niê Thanh Mai, ta thấy rõ ra đi hay ở lại? đi rồi có quay về nữa hay không? là vấn đề mà nhân vật của chị luôn trăn trở. Và dĩ nhiên, nữ nhà văn cũng băn khoăn thật nhiều.
Cùng một con đường “xuống phố”, nhưng nhân vật trong truyện ngắn của Niê Thanh Mai chia làm ba nhóm khá rõ ràng. Nhóm thứ nhất là những người con ưu tú của núi rừng tạm xa buôn làng để ra thành thị tiếp nhận nguồn tri thức mới. Nhóm thứ hai “xuống phố” vì mong muốn đổi đời, vì không đủ sự kiên nhẫn gắn bó với quê hương, buôn bản. Nhóm thứ ba là những người ban đầu “xuống phố” vì mục đích cao đẹp, nhưng cuối cùng đã đánh mất mình nơi phố thị phồn hoa. Thông qua cái kết của những số phận này, Niê Thanh Mai bộc lộ rõ quan điểm của nhà văn về việc làm thế nào để bảo tồn, phát triển văn hóa Êđê cũng như xây dựng cuộc sống văn minh trên quê hương yêu dấu.
Ở nhóm nhân vật thứ nhất, tất cả đều có chung một hướng suy nghĩ và hành động: Ra đi tiếp thu cái mới, cái tiến bộ, văn minh để mai này trở lại phục vụ buôn làng. Tâm thức ấy trở thành sức mạnh để nuôi dưỡng tình yêu quê hương, gia đình, để quyết tâm thực hiện điều mình đã hứa. Về phương diện này, nhân vật của Niê Thanh Mai quả thật rất chung thủy với nơi đã tiễn mình “ra phố”, cũng rất có trách nhiệm với lời thề son sắt của mình.
H’Mây (truyện “Mai rừng”) sinh ra trong môt gia đình nghèo khó. Em “lớn lên trong ngôi nhà sàn cũ kĩ không biết có từ bao giờ… Sàn nhà làm bằng thân nứa…”. Mây lại chỉ có mỗi thằng Phiên lớn hơn hai tuổi là bạn. Tuổi thơ của chúng là những ngày sục sạo, khám phá trên nương rẫy, có khi vào tận rừng xa. Kỉ niệm thân thương của Mây là lời hứa đầy con trẻ mà cũng vô cùng trách nhiệm của Phiên trong một lần chúng tìm thấy một khoảng xanh mướt mai rừng: “Mai rừng đấy... Hồi cha tao còn sống, cha dắt tao đến đây, chặt cành đem xuống chợ bán có tiền mua thịt lợn cho mí, mua áo mới cho tao. Mai mốt tao cũng giống cha, tao sẽ mua áo mới cho mày…”. Rồi Mây lên tỉnh học, Phiên lo lắng, hoài nghi “Mày học cao rồi biết có chịu về buôn mình nữa không?”. Nhưng cô sinh viên y khoa ấy quả quyết “Nhất định em sẽ trở về”. Bởi đơn giản “Em đi đâu cũng là con gái buôn mình chứ”, và bởi khoảng mai xanh mướt dù bị người nơi khác về chặt trộm nhưng Phiên đã học cách chăm mai và bù lại cái đẹp cho núi rừng, cũng là để thực hiện lời hứa với Mây ngày ấy.
Cùng chung tư tưởng như H’Mây, chúng ta bắt gặp Phin trong “Những buổi chiều”. Mặc dù “Nhà Phin thuộc hộ nghèo nhất buôn” nhưng “Phin học giỏi lắm”. Tốt nghiệp đại học Y, cô may mắn được bệnh viện tỉnh giữ lại làm việc. Ấy vậy mà cô lại “muốn về buôn như lời hứa với mí năm xưa”. Và cũng bởi quan niệm “Ai cũng muốn làm ở bệnh viện trên tỉnh thì người trong buôn mình ốm đau ai chăm hả cha?”. Đằng sau câu nói mộc mạc ấy là cả một trái tim son sắt với quê hương yêu dấu của mình. Trong thời buổi mà các giá trị có phần bị đảo lộn, người người tất tả theo lợi danh, những con người như Mây, như Phin đã gợi nhắc trong ta tình quê, tình đất.
Nhóm nhân vật thứ hai “xuống phố” như một cách thức để trốn chạy cuộc sống thực tại của mình tại buôn làng. Đó có thể là thực tại nghèo khó, cơ cực về vật chất; lại cũng có thể là thực tại bị xa lánh, dè bỉu của mọi người; hoặc bất mãn với người thân, gia đình, làng bản…
Trong “Về bên kia núi”, nhân vật Xuân “không muốn ở mãi một xó rừng” – nơi mà “con đường mòn gập ghềnh và dốc. Mùa khô bốc từng nắm bụi ném vào mặt người…”. Xuân muốn lên phố như bạn của cô, muốn đi “đôi dép cao nghều nghệu, gót nhọn hoắt, chênh vênh như người ta chơi trò cà kheo”, muốn mặc  “áo xanh lông két, váy mềm lòe xòe”… Và rồi Xuân dứt áo ra đi. Bỏ lại sau lưng “xó rừng” với tình yêu chân thành của Plin, bỏ lại mí và em mong ngóng mình rời bỏ phố phường để “về bên kia núi”. Bà Xuân mất, không ai biết Xuân ở đâu để báo tin. Xuân biệt tăm từ đó.
Nhân vật tôi trong “Trở về lưng chừng núi” bước xuống cầu thang với câu nói “Em lên chợ phố. Em muốn ra chợ phố” cũng một phần bởi vì những miếng cơm “chấm với muối vừng mặn chát ở đầu lưỡi”, vì khi chạy vào giữa đám trẻ chăn bò đang nhảy nhót và hét hò ầm ĩ, chúng “sựng lại” và “dắt bò đi nơi khác”, vì đêm đêm phải nghe “tiếng hát não nuột của mí”, vì “ở đây buồn”, vì cả buôn không ai ghé vào nhà mí – cái nhà mang mầm bệnh hủi… Người anh trai của nhân vật tôi cũng từng bộc bạch “Tao cũng muốn đi khỏi xó rừng này”.
Nhóm nhân vật thứ ba, vốn dĩ là những con người tốt. Nhưng cuộc sống giàu sang và nhiều cám dỗ nơi phố phường đã khiến họ đổi thay. Tiêu biểu nhất có lẽ phải nhắc tới Y Quy trong tác phẩm “Suối của rừng”. Sau một thời gian học tập ở thành phố, Y Quy đã phụ tình H’Lanh để đến với người con gái “có ngôi nhà to sừng sững giữa phố”, trút bỏ trang phục truyền thống dân tộc mình và khoác lên người “bộ quần áo sáng lóa”, “tay mang đầy nhẫn vàng”. Bị gia đình phản đối, Y Quy “dắt người yêu đi như chạy ra khỏi nhà”, gặp H’Lanh “chỉ nhìn rồi phóng xe đi”. Cuộc sống mới có ma lực mạnh mẽ làm Y Quy dễ dàng vứt bỏ nghĩa tình thiêng liêng và tình yêu trong sáng, phản bội lời hứa của chính mình!
Có thể thấy ánh sáng phố thị đã mở ra cho nhân vật của Niê Thanh Mai niềm đam mê. Phải nói rằng khát khao vươn đến cuộc sống văn minh không phải là điều đáng để phán xét ở họ. Ngược lại, cần cổ vũ cho hướng đi đầy tích cực ấy. Phải là người mạnh mẽ, dám nghĩ dám làm mới có thể từ bỏ nếp sống quen thuộc đã ăn sâu vào máu thịt xưa nay để tìm về cái mới. (H’Leng trong “Đi qua mùa đêm” là một người như vậy. “Nước da trắng hồng, mắt tròn và to đen như hai hột nhãn… nụ cười rạng rỡ như cây mỡ hoa đỏ trên rừng…” H’Leng được chọn là một trong bảy cô gái rót nước vào ché rượu cần to nhất trong lễ cúng Kăm Jil. H’Leng có cái nhìn khác mọi người về nghệ thuật nên sẵn sàng “cởi áo cho người ta chụp hình ngoài suối”. Với H’Leng “chụp ảnh là làm đẹp cho đời mà”. Vì thế dù bị ngăn cản, cô vẫn nhất quyết rời buôn). Vậy thì vấn đề là người ta đón nhận, tiếp thu cái mới ấy để làm gì và sẽ thay đổi ra sao khi mang trong mình những dấu ấn thị thành?
Câu trả lời có trong lời kết cho những câu chuyện của Niê Thanh Mai.
Phin và H’Mây trở về buôn làng, đem kiến thức học được từ thành phố để phục vụ bà con dân bản, góp sức mình làm đẹp cho quê hương. Hạnh phúc của họ cũng là hạnh phúc của gia đình, làng bản. Đó là một hạnh phúc đủ đầy.
Xuân mãi mãi không dám trở về bên em và mí. Ngay cả một cái nhìn của em, Xuân cũng không đủ can đảm mà đón nhận. Bởi có lẽ ngày bước chân ra đi Xuân không nghĩ sẽ gặp lại em trong hoàn cảnh trớ trêu này: “Hình như có hai người đàn bà đang túm tóc nhau. Họ hét vào tai nhau những tiếng tục tĩu lanh lảnh… Chị dừng cuộc vật lộn nhau bằng bộ dạng tơi tả. Tóc chị rối tung. Áo quần nhiều vết toạc…”
Tôi trong “Trở về lưng chừng núi” dù “nói tiếng Kinh sõi, hút thuốc lá bằng hai ngón tay xòe cong, mặc váy mỏng và ngắn”, “đi giày cao gót” nhưng cũng không giấu được bàn chân ba ngón, bàn tay ba ngón vì hủi. Cô đi khỏi buôn vì không muốn chứng kiến sự ghẻ lạnh của mọi người. Nhưng về thành phố, cô không những mất đi dáng vẻ hình hài mà còn mất dần nhân phẩm. Để rồi nhận lại sự miệt thị của người đời: “Cô thông minh lắm. Nhưng tôi không ngủ miễn phí với một con hủi”. Và hiện thực phũ phàng được phơi bày: “Tôi không thể né tránh sự trở về trên chuyến xe sáng mai”.
Từ một hoàn cảnh khác, Miên trong truyện ngắn “Xó rừng” vốn dĩ là một cô gái ngoan và đẹp, lại rất có duyên bán hàng. Chỉ vì nghe lời đường mật của một khách du lịch mà từ bỏ gia đình, từ bỏ trang phục Êđê. Rồi cuối cùng cũng phải trở về quỳ dưới đất tạ tội cùng mẹ khi cái thai lớn dần trong bụng.
Đường về bớt chông chênh hơn cho những người con của núi rừng “xuống phố” trong truyện của Niê Thanh Mai có lẽ là con đường của Win trong “Ngày mai sáng rỡ”. Ngày trước Win lên phố học và không muốn trở về vì người ta xì xào mí bỏ bùa thầy giáo trẻ, khiến thầy không đoái hoài tới cô giáo người kinh mà say mê mí. Mí đã nói không ưng thầy giáo nữa nhưng lại vẫn gặp thầy. Win cản không được mí, cũng không ngăn được những tiếng xì xào. Nên Win không về, để không phải nghe bàn tán. Nhưng tình yêu gia đình và quê hương trong Win luôn thường trực. Nên khi nghe điện thoại của em gái gọi lên, Win đã “chạy băng băng ra bến xe buýt” để về nhà. Và khi hiểu mí, hiểu thầy, Win lại “đi tìm ai đó cho mí của Win”.
Cũng có trường hợp, con đường hồi buôn, hồi bản của nhân vật được Niê Thanh Mai thể hiện theo kĩ thuật văn chương mới. Chị cho người đọc cái nhìn rất nhòe mờ. Đó là con đường của H’Linh (trong “Giữa cơn mưa trắng xóa”). H’Linh xuống phố làm nhân viên quán Karaoke và được ông chủ “nhặt về” để “dạy dỗ đứa con gái chủ nhà dưới phố”. Cô trở về thăm gia đình trước cái nhìn tò mò của rất nhiều người. Bởi H’Linh khác quá. Về nhà, về buôn mình đấy mà cái gì với Linh cũng “quen và lạ”. Giày cao, đường mấp mô nên phải cởi giày xách trên tay. Đôi mắt bồ câu trong veo giờ đã thành “sáng quắc”. Nước da “nâu mịn khỏe khoắn” nhường chỗ cho “màu trắng mai mái xanh”. Má hồng lấn màu má con gái Êđê rám nắng. “Môi đỏ loe” chẳng giống màu hoa móng rồng. H’Linh không nhớ cha bao nhiêu tuổi… Nhưng “H’Linh chưa kịp quên cái gì, chỉ sắp quên thôi”… H’Linh thăm nhà một hôm rồi lại xuống núi. Cô vác theo cả bức tượng khỉ mặt sầu đặt vào vườn ông chủ. Và cũng là đặt cuộc đời cô vào bàn tay một kẻ giàu có, quyền uy. Ấy vậy mà hạnh phúc không mỉm cười với H’Linh vì ông chủ không còn khả năng chăn gối. H’Linh uống rượu và thấy lờ mờ kí ức hiện về, thấy anh rể nhổ bức tượng khỉ mặt sầu trong vườn ông chủ. Cô giằng lại nhưng không được. Anh rể vác bức tượng khỉ mặt sầu đi giữa trắng xóa cơn mưa…
Dĩ nhiên, trong sáng tác của Niê Thanh Mai, có những người “xuống phố” đã không thể trở về. Bởi họ đã hoàn toàn biến chất. Y Quy thất bại với giấc mơ vợ đẹp, nhà sang đã quay về buôn tìm H’Lanh (người yêu cũ, nay đã có gia đình, chồng bị tai nạn tật nguyền) và muốn nối lại tình cũ. Tệ hại hơn khi bị từ chối, Y Quy còn muốn dùng vũ lực để cưỡng bức H’Lanh. Nhưng hành động ghê tởm ấy đã bị chồng H’Lanh kịp thời ngăn cản. Y Quy mãi không thể trở lại buôn làng.
Như vậy, chúng ta thấy nhà văn trẻ Niê Thanh Mai đã thể hiện rõ quan điểm của mình qua hình tượng những con người Êđê “xuống phố”. Với chị, “xuống phố” tiếp nhận văn minh là điều đáng làm; nhưng hành động ấy chỉ có giá trị và được cộng đồng thừa nhận khi họ biết trở về, đem tri thức thu nhặt được xây dựng quê hương làng bản. Mọi sự phỉ báng, xa rời truyền thống dân tộc và thoái hóa, biến chất trước tác động của yếu tố mới đều bị khước từ. Hoặc là con người ấy sẽ thất bại, trở về trong đau khổ. Hoặc là mãi mãi sẽ tha hương.
Trong một xã hội đầy biến động, cái mới và cái cũ đan xen; làm thế nào để văn hóa Êđê (mở rộng ra là văn hóa các dân tộc thiểu số khác) không bị mai một nhưng vẫn có thể tiếp nhận văn minh từ các dân tộc khác để phát triển cộng đồng và mỗi cá nhân? Sự va đập của văn hóa Êđê trước văn minh đô thị sẽ để lại hậu quả thế nào? Xu thế “hướng ngoại”, “li hương” có phải hoàn toàn phù hợp hay không? Tất cả những câu hỏi ấy có lẽ phần nào đã được nữ nhà văn giải đáp thông qua hình tượng người Êđê “xuống phố”.



Thứ Ba, 2 tháng 6, 2015

SỐ 272 - tác giả NGUYỄN MINH HOẠT





MỘT VÀI KỸ NĂNG LÀM VĂN NGHỊ LUẬN
PHÂN TÍCH TÁC PHẨM VĂN HỌC



Lý thuyết làm văn nghị luận nói chung, kiểu bài phân tích tác phẩm văn học (PTTPVH) nói riêng còn có nhiều vấn đề chưa thống nhất. Trên cơ sở những quan điểm của các nhà nghiên cứu về dạng bài làm văn này và thực tế dạy học ở trường phổ thông, bài viết khái quát nội dung khái niệm, đặc điểm kiểu bài PTTPVH, đồng thời đưa ra các thao tác cơ bản và một số kỹ năng khi làm bài văn nghị luận PTTPVH. Nội dung của bài viết nhằm trao đổi, thảo luận với đồng nghiệp, bên cạnh đó giúp sinh viên ngành Ngữ văn và học sinh THPT có thêm tư liệu tham khảo, vận dụng vào thực tế học tập và công tác này.

Nghị luận PTTPVH (tròn vẹn hay trích đoạn) là loại bài phổ biến của học sinh trong quá trình học và thi cử. Loại bài này nhằm kiểm tra năng lực hiểu và cảm thụ văn học của người viết. Thực chất ở đây là người viết chỉ ra cái hay, cái đẹp về nội dung, nghệ thuật của một tác phẩm văn học nào đó. Tuy vậy, do tính chất, đặc trưng riêng biệt của văn học nên việc phân tích nói riêng và cách thức tiếp nhận tác phẩm văn học nói chung không đơn giản. Một mặt, đối với những kiệt tác văn học có sức sống lâu bền bao giờ cũng là sự khái quát sâu sắc của nhà văn về cuộc sống và con người. Những khái quát nghệ thuật ấy tiềm ẩn những ý nghĩa, nhiều phương diện từ cái biểu hiện để suy ra cái được biểu hiện. Vì thế, bất cứ ai, ở đâu, và khi nào cũng có thể tìm thấy hình bóng của mình trong đó. Cho nên, cùng một hình tượng văn học nhưng mỗi cá nhân, mỗi thời đại có một cách cảm nhận riêng. Mặt khác, lý thuyết làm văn, tiêu chí để đánh giá một bài văn lại càng phức tạp, có nhiều ý kiến khác nhau. Thực tế giáo viên và học sinh đang gặp không ít khó khăn trở ngại từ nội dung lý thuyết trừu tượng thiếu nhất quán cho đến phương pháp dạy và học tập làm văn.
Nghị luận văn học gồm nhiều kiểu bài: Giải thích, chứng minh, bình luận, phân tích… thế nhưng lý thuyết về các kiểu bài này còn nhiều vấn đề chưa được thống nhất. Một số  giáo viên còn lúng túng khi hướng dẫn học sinh phân biệt các kiểu bài và vận dụng trong bài làm văn; còn phần lớn học sinh chưa phân biệt được ranh giới và mối quan hệ biện chứng giữa các kiểu bài nên bài làm của học sinh còn nhiều lẫn lộn, hình thức diễn đạt gần giống nhau. Các loại sách tham khảo, SGK và kể cả đáp án các kỳ thi tốt nghiệp THPT, tuyển sinh cao đẳng - đại học cũng còn nhiều vấn đề cần trao đổi xung quanh lý thuyết làm văn, xác định tiêu chí kiểu bài phân tích và tiêu chí để đánh giá chất lượng một bài làm văn.
Từ những kinh nghiệm thực tiễn, tham khảo nhiều tài liệu và tiếp thu ý kiến của đồng nghiệp, bài viết này góp phần trao đổi với đồng nghiệp về dạy phân môn làm văn cho học sinh, giúp học sinh học tốt kiểu bài nghị luận PTTPVH.
1. Khái niệm phân tích tác phẩm văn học
Từ trước đến nay, ở cấp THCS và cấp THPT đã đưa nghị luận PTTPVH vào giảng dạy. Nhưng ở mỗi cấp học và một số tài liệu nêu khái niệm phân tích nói chung và PTTPVH trong nhà trường nói riêng còn có nhiều cấp độ chưa thống nhất.
Tuy nhiên có thể rút ra các nội dung cơ bản của khái niệm PTTPVH như sau:
- Chia tách đối tượng phân tích ra thành các khía cạnh.
- Xem xét một cách kĩ lưỡng các giá trị nội dung và nghệ thuật qua từng khía cạnh, đồng thời khám phá, tìm hiểu mối quan hệ bên trong và bên ngoài của chúng.
- Tổng hợp đánh giá các giá trị của đối tượng trong một kết luận chung.
Yêu cầu của thao tác phân tích là:
- Có thái độ khách quan, khoa học.
- Xem xét đối tượng một cách toàn diện, xác thực
- Cần có sự phán đoán tổng hợp liên tưởng chủ quan, nhưng phải dựa trên những căn cứ nhất định để tránh suy diễn tùy tiện.
2. Các thao tác cơ bản khi làm bài văn nghị luận PTTPVH
2.1. Chia đối tượng ra thành các khía cạnh
Dựa vào tính độc lập tương đối của nội dung và hình thức để chia tác phẩm thành các khía cạnh cho phù hợp.
* Đối với tác phẩm trữ tình:
- Thơ tứ tuyệt: Chia theo kết cấu các câu thơ trong bài thơ: khai – thừa – chuyển – hợp, hoặc chia thành hai phần để phân tích: hai câu đầu và hai câu cuối.
- Thơ thất ngôn bát cú Đường luật: có thể chia theo cấu trúc: đề – thực – luận – kết, hoặc chia theo kết cấu hình tượng. Chẳng hạn: có thể chia bài thơ Thu điếu của Nguyễn Khuyến thành hai vấn đề cảnh thutình thu để phân tích.
- Thơ tự do, thơ mới: có thể chia theo câu thơ, khổ thơ, đoạn thơ hay chia theo từng ý.
* Đối với tác phẩm tự sự:
- Chia theo từng khía cạnh của vấn đề được phân tích. Chẳng hạn:
+ Phân tích nhân vật: chia theo các khía cạnh như: ngoại hình – tính cách – nội tâm – hành động…hoặc theo kết cấu tính cách của nhân vật.
+ Phân tích giá trị của tác phẩm về nội dung hay nghệ thuật: dựa vào giá trị các nội dung của tác phẩm để chia thành các khía cạnh, những phần được chia này cũng là các luận điểm triển khai trong bài viết.
2.2. Xác định luận điểm:
Luận điểm là nội dung khái quát của từng phần được chia. Nó là các khía cạnh của nội dung trọng tâm. Các luận điểm chủ yếu nằm ở phần thân bài góp phần làm sáng tỏ nội dung trọng tâm.
Luận điểm có thể được diễn tả thành một câu văn (câu chủ đề) nằm trong đoạn văn. Nó có thể đứng đầu hay đứng giữa, đứng cuối đoạn văn. Có luận điểm lớn, luận điểm nhỏ hay luận điểm nhỏ hơn (tuỳ vào dung lượng của bài viết dài hay ngắn để triển khai luận điểm nhiều bậc hay ít bậc).
Ví dụ: Phân tích vẻ đẹp hình tượng nhân vật Huấn Cao trong tác phẩm Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân. Chúng ta có thể xác định các luận điểm chính: vẻ đẹp tài hoa – vẻ đẹp khí phách – vẻ đẹp thiên lương.
Các luận điểm chính có thể triển khai thành một đoạn văn, trong thân bài có nhiều đoạn văn tạo thành. Mỗi đoạn văn có: mở đoạn – thân đoạn – kết đoạn (nếu có đoạn tiếp theo thực hiện thao tác chuyển đoạn để gắn kết ý trong bài văn).
2.3. Sử dụng dẫn chứng:
Dẫn chứng là những câu thơ, đoạn thơ, khổ thơ, từ ngữ, hình ảnh, vần, nhịp, thanh, thể loại… và các biện pháp tu từ đối với tác phẩm trữ tình; các tình tiết, chi tiết, cách kể, cách tả, cách xây dựng nhân vật, tình huống, sự kiện… đối với tác phẩm tự sự.
Việc lựa chọn dẫn chứng phải chính xác, tiêu biểu, có giá trị nội dung và nghệ thuật, phù hợp và làm sáng tỏ các luận điểm. Dẫn chứng phải có chiều sâu (phân tích lý giải các dẫn chứng quan trọng), và có chiều rộng (số lượng, phạm vi dẫn chứng phải phù hợp).
Cách nêu dẫn chứng phải theo thời gian, hoàn cảnh ra đời của dẫn chứng, theo diễn biến sự kiện, theo không gian. Nêu các dẫn chứng đơn giản đến các dẫn chứng phức tạp…
Các dẫn chứng phải được trình bày ở các kiểu như: Trích nguyên văn dẫn chứng (nội dung phải chính xác và được đặt trong ngoặc kép); trích một số từ ngữ tiêu biểu, các từ được trích cũng nằm trong ngoặc kép; khái quát nội dung dẫn chứng bằng lời văn của người viết. Khi trình bày dẫn chứng cần kết hợp các kiểu trên.
Dẫn chứng phải được phân tích làm rõ luận điểm: Phân tích dẫn chứng là trình bày những giá trị nội dung, hình thức và ý nghĩa của dẫn chứng (dẫn chứng đó có tác dụng như thể nào trong việc diễn tả tâm trạng hay thể hiện phong cách tác giả hay diễn đạt một vấn đề tư tưởng…).
2.4. Liên tưởng mở rộng vấn đề:
Bằng chất liệu ngôn từ, tác phẩm văn học bao giờ cũng được khái quát từ các chi tiết hiện thực đời sống. Cuộc sống sinh động được chắt lọc, lựa chọn và khúc xạ qua tư duy của nhà văn để tạo nên những hình tượng nghệ thuật độc đáo có sức sống riêng. Tiếp xúc với một tác phẩm văn học là tiếp xúc với một thế giới nghệ thuật, có mối quan hệ với hiện thực, phản ánh hiện thực, nhưng không trùng khít với hiện thực vì nó có quy tắc sáng tạo riêng. Khám phá, tìm hiểu một tác phẩm văn học là chúng ta tìm hiểu những giá trị của nghệ thuật và cuộc sống mà nhà văn đem lại.
Vì vậy, khi phân tích một tác phẩm văn học, trên cơ sở các giá trị mà tác phẩm thể hiện người viết cần liên tưởng mở rộng các hình tượng nghệ thuật với đời sống thực tiễn để tạo tầm nhìn sâu sắc hơn, thấy được mối liên hệ giữa nghệ thuật và cuộc sống.
Từ một hình tượng khái quát trong tác phẩm chúng ta có thể liên tưởng đến những vấn đề cụ thể trong đời sống. Từ một nhân vật trong tác phẩm với những đặc điểm về ngoại hình, tính cách, số phận… chúng ta có thể liên tưởng đến một tầng lớp người trong xã hội. Từ những yếu tố riêng của một con người được miêu tả trong tác phẩm có tính điển hình quy luật chúng ta có thể liên tưởng đến những cái chung của cộng đồng, xã hội.
Liên tưởng mở rộng hình tượng trong tác phẩm văn học ra ngoài đời sống một cách phù hợp thể hiện trình độ nhận thức khái quát vấn đề nghệ thuật của người viết.
2.5. Tổng kết, nhận định, đánh gia:ù
Mục đích phân tích văn học là để nhận định, đánh giá xác đáng một hiện tượng văn học. Vì vậy, sau khi tiến hành phân tích theo hướng đề ra, bài viết phải đề xuất nhận định đánh giá hiện tượng văn học như:
- Tính độc đáo (cấu tứ mới lạ, đổi mới so với truyền thống)
- Giá trị nhận thức (mức độ nông, sâu so với vấn đề nêu ra)
- Giá trị tư tưởng (thái độ đối với nhân dân, đất nước, con người)
- Giá trị nghệ thuật (mức độ tài nghệ, sức thuyết phục, gợi cảm, phong cách).
Những lời tổng kết, nhận định, đánh giá nâng cao giá trị của sự phân tích, đem lại tính mục đích cho sự phân tích. Nó phải phù hợp với sự phân tích, tránh khập khiễng, phân tích một đằng kết luận một nẻo.
3. Một số kỹ năng làm văn nghị luận phân tích
3.1Phân tích đề:
a. Các dạng đề ra
Nghị luận phân tích thuộc loại đề hiểu và cảm tác phẩm văn học. Loại đề này nhằm kiểm tra trình độ tiếp nhận tác phẩm văn học của học sinh với hình thức chính là phân tích (trước đây có khái niệm bình giảng – một kiểu riêng của phân tích). Thường có các kiểu đề phân tích như:
- Phân tích một bài thơ tròn vẹn. Ví dụ: Phân tích bài Thơ duyên của Xuân Diệu.
- Phân tích một nhân vật. Ví dụ: Phân tích nhân vật Chí Phèo trong tác phẩm cùng tên của Nam Cao. Hoặc: phân tích nhân vật Huấn Cao trong tác phẩm Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân.
- Phân tích một tác phẩm văn xuôi (thường là để làm sáng tỏ một phương diện nào đó về nội dung và nghệ thuật). Ví dụ: Phân tích tính sử thi của truyện ngắn Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành. Hoặc: Một trong những sáng tác nghệ thuật đặc sắc của Kim Lân trong truyện là đã xây dựng một tình huống truyện độc đáo và hấp dẫn hãy phân tích truyện Vợ nhặt để chứng minh cho ý kiến trên.
- Phân tích một hình tượng. Ví dụ: Phân tích hình tượng “sóng”  trong bài thơ sóng của Xuân Quỳnh. Anh (chị) có cảm nhận gì về tâm hồn người phụ nữ trong tình yêu qua bài thơ này. Hoặc: Phân tích hình tượng cây xà nu trong truyện Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành.
- Phân tích một hình ảnh. Ví dụ: Phân tích hình ảnh đầu súng trăng treo trong bài thơ Đồng chí của Chính Hữu.
- Phân tích một tâm trạng. Ví dụ: Phân tích tâm trạng nàng Kiều qua đoạn thơ Trao duyên trong Truyện kiều. Hoặc: Phân tích tâm trạng bà cụ Tứ trong truyện Vợ nhặt của Kim Lân.
Như vậy, phạm vi nghị luận thể loại phân tích gồm: Phân tích bài thơ; phân tích một vấn đề nào đó của tác phẩm văn xuôi; phân tích nhân vật; phân tích một hình tượng; phân tích một hình ảnh; phân tích một tâm trạng; so sánh hai tác phẩm văn học.
b. Phân tích đề ra
- Xác định thể loại của đề ra
Đề ra thường có yêu cầu thể loại trực tiếp trên câu chữ như: anh (chị) hãy phân tích… đề ra còn ở dạng gián tiếp về thể loại như: cảm nhận, cảm tưởng, nhận xét, suy nghĩ…của anh (chị). Thực ra, ở loại đề này người viết sử dụng thao tác chủ yếu là phân tích, khám phá, tìm hiểu các giá trị của tác phẩm. Việc xác định đúng thể loại bài viết sẽ có cách làm phù hợp  theo yêu cầu của đề ra.
- Xác định luận đề (trọng tâm) của bài làm
Trọng tâm của bài làm là nội dung khái quát, cô đọng, được diễn đạt bằng một vài câu văn bao hàm được nội dung yêu cầu của đề ra. Nó có mặt ở mở bài, được lý giải ở thân bài thông qua các luận điểm và được nhắc lại ở kết bài. Cách xác định trọng tâm:
+ Đối với tác phẩm trữ tình: Phân tích một bài thơ, trọng tâm chính là chủ đề của bài thơ; phân tích một đoạn thơ, trọng tâm là khái quát nội dung của toàn bài thơ và vị trí, chủ đề của đoạn trích.
+ Đối với tác phẩm tự sự: Phân tích nhân vật trọng tâm là đặc điểm khái quát của nhân vật; phân tích giá trị của tác phẩm như: nghệ thuật, nhân đạo, hiện thực, sử thi, lãng mạn, cổ điển, hiện đại… trọng tâm là khái niệm của giá trị được biểu hiện trong tác phẩm; phân tích tình huống, ý nghĩa biểu tượng, trọng tâm là nội dung khái quát của tình huống và nội dung cái được biểu hiện của biểu tượng; phân tích tác phẩm, một vấn đề của tác phẩm theo định hướng (có nội dung nhận xét, ý kiến đánh giá về tác phẩm ở đề ra), trọng tâm là nội dung của lời nhận xét đánh giá đó.
+ Phân tích so sánh hai tác phẩm, hay hai nhân vật, hoặc hai đoạn thơ, trọng tâm là nội dung khái quát điểm giống và khác nhau của hai đối tượng so sánh.
Xác định đúng trọng tâm để triển khai các ý xoay quanh trọng tâm và cùng làm sáng tỏ trọng tâm giúp cho bài viết logic, mạch lạc, chặt chẽ.
- Định hướng phạm vi tư liệu
Tư liệu là yếu tố quan trọng trong bài văn nghị luận. Đó là các dẫn chứng, các chất liệu giúp người viết có cơ sở khách quan để phân tích, đánh giá tổng hợp các giá trị của tác phẩm.
Tư liệu thường là các vấn đề liên quan đến trọng tâm của bài làm. Nó có trong văn học và trong đời sống. Có tư liệu bắt buộc (các dẫn chứng nằm trong phạm vi tác phẩm) và tư liệu mở rộng (các dẫn chứng nằm ngoài tác phẩm, có chung đề tài, chủ đề, giai đoạn sáng tác hay phong cách của nhà văn với nội dung đang được lý giải).
3.2. Mở bài, kết bài trong nghị luận phân tích
a. Mở bài
Mục đích của mở bài là giới thiệu vấn đề sẽ viết, sẽ trao đổi bàn bạc trong bài. Vì thế mở bài, thực chất là trả lời câu hỏi: Anh (chị) định viết, định bàn bạc vấn đề gì?
- Nguyên tắc: Nêu đúng trọng tâm (luận đề) của bài làm, chỉ nêu những ý khái quát, kết cấu thành một đoạn văn (khoảng 5 đến 8 dòng).
- Cách mở bài:
+ Giới thiệu dẫn dắt vấn đề
+ Trực tiếp: Đi thẳng vào vấn đề qua xuất xứ, hoàn cảnh sáng tác. Giới thiệu theo hình thức này thường ít sai nhưng hành văn kém hấp dẫn.
+ Gián tiếp: Nêu ra những ý liên quan đến vấn đề cần nghị luận để khêu gợi rồi mới bắt vào vấn đề ấy. Tuỳ vào mối liên hệ giữa nội dung phần giới thiệu và trọng tâm của bài viết có thể xác định cách giới thiệu theo kiểu gián tiếp bằng hình thức diễn dịch, quy nạp, tương liên, đối lập… Giới thiệu theo kiểu này dễ phát huy được sở trường của hành văn hay nhưng dễ sa đà, vòng vèo xa trọng tâm, lời giới thiệu không khớp với trọng tâm.
+ Kết hợp gián tiếp và trực tiếp.
+ Nêu trọng tâm: Đây là vấn đề chính sẽ bàn trong thân bài
+ Phần chuyển ý xuống thân bài: Nêu phương thức nghị luận và phạm vi tư liệu sẽ trình bày hay trích dẫn đoạn trích.
Để có một mở bài hay cần tránh: Dẫn dắt vòng vo quá xa; ý dẫn dắt không liên quan gì đến vấn đề sẽ nêu; nêu vấn đề quá dài dòng, chi tiết, có gì nói hết luôn rồi thân bài lại lặp lại những điều đã nói ở mở bài.
Để có một mở bài hay cần phải: Ngắn gọn: dẫn dắt thường vài ba câu, nêu vấn đề một vài câu và giới hạn vấn đề một câu; đầy đủ: Đọc xong mở bài, người đọc biết được bài viết bàn về vấn đề gì? trong phạm vi nội dung tư liệu nào? thao tác chính vận dụng ở đây là gì? độc đáo: Mở bài phải gây được sự chú ý của người đọc với vấn đề mình sẽ viết bằng cách nêu vấn đề khác lạ, giữa câu dẫn dắt và câu nêu vấn đề phải tạo được sự bất ngờ; tự nhiên: Sử dụng từ ngữ  cần độc đáo, mới lạ nhưng phải giản dị, tự nhiên gần gũi với văn hoá đời sống và tâm lý tiếp nhận, tránh sự vụng về, gượng ép gây cho người đọc có cảm giác giả tạo.
b. Kết bài
- Nguyên tắc: Thể hiện đúng quan điểm đã trình bày ở thân bài (miêu tả lại trọng tâm); chỉ nêu những ý khái quát, thiên về tổng kết, đánh giá vấn đề; kết cấu thành một đoạn văn (khoảng 5 đến 8 dòng).
- Cách kết bài
+ Khái quát nội dung bài viết
+ Miêu tả lại trọng tâm
+ Liên hệ, tổng kết đánh giá vấn đề (ở phương diện đời sống  và văn học nghệ thuật).
- Một số kiểu kết bài tiêu biểu.
+ Tóm lược (tóm tắt quan điểm của người viết ở thân bài)
+ Phát triển (mở rộng thêm vấn đề đặt ra trong đề bài)
+ Vận dụng (nêu ra phương hướng áp dụng cái tốt, cái hay hoặc khắc phục cái xấu, cái dở của hiện tượng hay ý kiến nói trong bài văn vào cuộc sống).
+ Liên tưởng (mượn ý kiến tương tự của dân gian, của một người có uy tín hay lời bình luận, đánh giá về tác phẩm, đối tượng phân tích ở SGK, tài liệu nghiên cứu có giá trị để thay cho lời tóm tắt của người làm bài).
Ngoài ra người viết có thể vận dụng một số kiểu kết bài như:         
Kết bài theo lối điểm nhãn (dừng lại ở những chi tiết đắt, có giá trị nghệ thuật của đối tượng phân tích từ đó bình luận mở rộng gợi ra những rung cảm cho người đọc).
Kết bài theo lối bình luận mở rộng và nâng cao luận đề của bài viết, từ tổng kết đến phát triển nâng lên, từ tóm tắt đến rút ra bài học theo nhiều lớp, lớp này gối lớp kia cho tới kết thúc.
Kết bài theo lối đầu cuối tương ứng – kết bài ứng với mở bài. Kết  bài láy lại mở bài mà không rơi vào tình trạng lặp lại nguyên văn lời lẽ ở mở bài, vì nó là sự luyến láy để nâng cao, khẳng định chắc chắn lần cuối cùng những gì đã nêu ở thân bài bằng một giọng đầy truyền cảm.
Kết bài mà như không kết: đó là những kết bài không giống bất kỳ một cách kết bài nào mà lý thuyết cơ bản đã nêu. Nó là những câu văn tự nhiên được gợi ra từ sự logic của bài viết và phù hợp với tâm lý tiếp nhận của người đọc, tạo nhiều liên tưởng sâu xa.
Một kết bài hay thật đa dạng và thú vị nhưng đều chung nhau những điểm nhất định: Đúng, nhưng phải sáng tạo, gây được ấn tượng và để lại dư vị trong người đọc. Kết bài hay vừa phải đóng lại, chốt lại, vừa phải mở ra, nâng cao và cứ ngân nga mãi trong lòng người.
Nghị luận PTTPVH là kiểu bài làm văn có vai trò, vị trí quan trọng trong dạy và học làm văn ở trường THPT. Thực tế hiện nay không ít học sinh còn nhầm lần về thể loại phân tích và các thể loại khác, một số giáo viên chưa cắt nghĩa rõ các khái niệm thể loại. Vì vậy kết quả bài làm văn của học sinh về phân tích chưa được khả quan, nhiều đáp án chấm bài thi tốt nghiệp THPT, tuyển sinh đại học, cao đẳng cũng còn nhiều vấn đề chưa thống nhất về yêu cầu thể loại. Việc nắm chắc khái niệm, phân biệt kiểu bài nghị luận phân tích có ý nghĩa thiết thực giúp học sinh thuần thục kỹ năng, thao tác kiểu bài nghị luận này để vận dụng vào thực tế làm bài viết đạt kết quả tốt.