Chủ Nhật, 12 tháng 7, 2015

SỐ 273&274 tác giả ĐÔNG YÊN




CHI HỘI MỸ THUẬT THÀNH TÍCH
BÊN NGOÀI THÀNH TÍCH


Nghe nói vào Hội Mỹ thuật Việt Nam/ Hội VHNT tỉnh là để cùng đồng nghiệp sáng tác, hoạt  động, học hỏi lẫn nhau, vào Hội là góp phần mình vào sự nghiệp văn học nghệ thuật của đất nước… Các họa sĩ, nhà điêu khắc rủ nhau vào, nghĩ vào Hội như hạt tìm đất nở hoa, thỏa mãn nguyện vọng cống hiến cho đời.
1.Thành tích trong Hội
Vào Hội rồi được theo Hội đi dự trại sáng tác, đi tham quan thực tế, đi triển lãm mỹ thuật khắp nước, dự hội họp bàn về mỹ thuật đất nước, thỉnh thoảng còn được lãnh đạo bắt tay, vỗ vai, ân cần trao đổi rằng mỹ thuật là quý lắm, nên làm ra thật nhiều tranh ảnh phục vụ nhân dân. Họa sĩ xúc động, thầm ước nguyện làm được như ông Tố Hữu bên thơ, như ông Phan Tứ bên văn, v.v... Thỉnh thoảng được gặp gỡ, ngồi họp cùng các họa sĩ đàn anh cứ sướng rêm rêm, nghĩ rằng rồi mình cũng trở thành họa sĩ của nhân dân… Vào Hội  rồi  là phấn đấu cật lực. Các họa sĩ Đắk Lắk đều đặn nhận giải thưởng to nhỏ trong cả nước, cầm hoa khôi nguyên qua các kỳ triển lãm đình đám. Nhiều họa sĩ đã đi những bước dài theo đúng nghĩa về sáng tạo và không gian hoạt động. Những cuộc triển lãm mỹ thuật “vạm vỡ” nhất như Triển lãm Mỹ thuật toàn quốc, Triển lãm Mỹ thuật của Hội Mỹ thuật Việt Nam tập hợp các họa sĩ “hầm hố” của cả nước đều có sự góp mặt của họa sĩ Đắk Lắk.
Bảng thống kê thành tích giải thưởng của họa sĩ Đắk Lắk dài thậm thượt theo những cuộc triển lãm, cuộc thi khắp nơi, hằng năm mà theo thông cáo báo chí thì cuộc nào cũng có ý nghĩa quan trọng cả.
Những thành tích mỹ thuật của Hội VHNT được xem như của một tỉnh. Hoạt động trong khuôn khổ của tổ chức Hội cũng bài bản, nghiêm chỉnh giống các cơ quan nhà nước. Hằng năm cũng có báo cáo hoạt động mà năm nào cũng hoan hỉ; cũng có khen thưởng năm nào cũng hoành tráng. Nhiều hội viên là phó thường dân, tham gia Hội lại lâng lâng cảm giác mình là người nhà nước. Tổ dân phố thấy mặt trên truyền hình cứ phục lăn, bảo lâu nay, xóm mình có cán bộ X nặn tượng, cán bộ Y vẽ tranh mà mình không biết. Chi hội Mỹ thuật cứ như là một tập hợp những tinh hoa của mỹ thuật Đắk Lắk. Những cống hiến ấy nhiều lần được khen thưởng, cũng ngang ngang như công nhận tập thể thi đua, nghe cứ sướng rân. Họa sĩ ôm vai nhau, lớp trước, lớp sau nhỏ to chia sẻ. Cảm động lắm.
Nhưng hoạt động ở Hội cũng ít thay đổi, chưa được xã hội chú ý. Họa sĩ ra sức vẽ để phục vụ nhân dân với tiền túi họa sĩ  bỏ ra làm tranh, tiền dân bỏ ra làm triển lãm nhiều kinh khủng. Vậy mà công chúng không đến xem tranh, các cơ quan chính quyền không mua tranh. Muốn “tham mưu” cho địa phương những ý hay về mỹ thuật cũng chẳng được. Thấy cảnh phố phường lòe loẹt, xây dựng dinh thự kệch kỡm, đập phá những kiến trúc yêu kiều, có lấy danh nghĩa phản biện của Hội mà can ngăn cũng chẳng ai nghe. Hội mà không theo được những lý tưởng cao cả như trên là nỗi buồn của họa sĩ. Phải làm sao cho mọi người biết đến Hội mình? phải đổi mới Hội mình! Nghe tha thiết,  ưu tư, lo như nhân viên lo công ty phá sản!
2. Thành tích ngoài Hội
Mặt khác, ông X nặn tượng, ông Y vẽ tranh không phải là cán bộ. Thường ngày, các ông kiếm sống bằng  làm thiết kế mỹ thuật, dạy mỹ thuật, hoặc bán tranh. Không thực sự chủ động nhưng các họa sĩ và nhà điêu khắc đã trực tiếp hoặc gián tiếp làn thay đổi không gian sống, thay đổi bộ mặt thẩm mỹ của  địa phương. Trên cánh đồng mênh mông của mỹ thuật ứng dụng, các họa sĩ cày sâu, cuốc bẫm không ngơi nghỉ. Họ cật lực làm việc để kiếm sống, đáp ứng nhu cầu xã hội cần sự sáng tạo, đổi mới về thẩm mỹ, nên họ cũng góp phần nâng tầm cái nhìn thẩm mỹ của cộng đồng lên, từng bước. Tâm huyết và tài năng nghề nghiệp đã giúp họ thành công.
Một số họa sĩ  đi dạy mỹ thuật ở các trường phổ thông, các nhà văn hóa. Công việc  nhọc nhằn này phải luôn cần cảm hứng từ trái tim nghệ sĩ – thứ này không đưa vào kế hoạch được. Sản phẩm của họ là thế hệ mới có thị hiếu thẩm mỹ tốt hơn lớp trước – thứ này cũng không thể  kể lể trong các văn bản. Nhưng chúng ta có thể cảm nhận qua sự thay đổi về thẩm mỹ những năm gần đây từ sự thanh lịch của không gian sống, sự bay bổng của nhịp sống hàng ngày, từ vẻ đẹp của từng ngôi nhà, thời trang lớp trẻ đến… bó hoa bên ngôi mộ người vừa quá cố… Chúng ta có thể cảm nhận một thế hệ 9X, 10X có thẩm mỹ tốt, hội nhập với thế giới văn minh đang hình thành.
Đóng góp của các họa sĩ cho đời sống thẩm mỹ của địa phương là to lớn, nhưng lại không nằm trong báo cáo thành tích của cơ quan nào. Bù lại, dân chúng ghi nhận họa sĩ này vẽ thật chất lượng, họa sĩ kia trang trí nội thất bắt mắt lắm; đánh giá rõ ràng, đo lường cụ thể bằng số đơn hàng, bằng xấp tiền dày mỏng. Mặt khác, khi gây ra những thảm họa thẩm mỹ, quá lắm, họa sĩ cũng chỉ nhăn nhó giải thích rằng… rằng việc rồi cũng qua vì không có cơ quan nào ngó ngàng, kiểm điểm.
Có họa sĩ chẳng nhớ đến triển lãm, giải thưởng, vào Hội, ra Hội. Vì hoàn cảnh gia đình, vì chuyên môn, nhiều hội viên phải hoạt động vượt ra ngoài địa bàn tỉnh. Nhưng vì lòng yêu nghề, vẽ để cùng chơi với họa sĩ, chơi với anh em  mà vẫn  ngơ ngác trước sự “ hướng tới” cuộc triển lãm này, những đề tài đang “hot” ở cuộc thi nọ; hậu quả là có tranh hay, có tranh dở, có tranh cực đẹp mà không biết vẽ cho… ai khen và làm sao khen cho đúng. Có đồng nghiệp bảo sao phí, sao gàn, thậm chí sao ngu thế ? Đủ cả, chẳng biết thế nào là đúng. Chỉ biết, đồng nghiệp rất thích mấy kẻ này. Cả bọn hùa nhau bắt vào hội kẻo tội. Mấy bận “giúp đỡ” mà  “đối tượng” không làm nổi cái hồ sơ vào Hội, lâu ngày quên mất, cứ tưởng là hội viên rồi, hoặc có còn là hội viên không? Chơi với nhau không phân biệt trừ… lúc đi họp. Người nơi khác, có khi biết đến Đắk Lắk qua mấy anh chị này, khen vẽ đẹp, mua tranh, tượng của họ. Không quan tâm họ có là hội viên hay không.
3. Sáng tác, hoạt động mỹ thuật của Chi hội Mỹ thuật Đắk Lắk xem thế không chỉ gói gọn trong báo cáo hàng năm của Hội. Nó phong phú, sinh động lắm, tương ứng với sự phát triển của địa phương. Hoạt động mỹ thuật như vậy là lành mạnh, gắn liền với đời sống một cách tự nhiên. Hoạt động trong Hội, ngoài Hội đều vì chuyên môn, vì tình đồng nghiệp. Gặp nhau, dù ở hội họp hay giữa đường, là tay bắt mặt mừng, là hỏi chuyện đang làm gì? vẽ gì?… Những cuộc báo cáo thành tích ngang hông như thế thường  trung thực, có kèm theo nụ cười hạnh phúc, có kèm theo trào nước mắt chua cay.


Thứ Sáu, 10 tháng 7, 2015

SỐ 273&274 tác giả HỒNG CHIẾN

Tác giả HỒNG CHIẾN



CUỘC CHIẾN TRONG RỪNG THIÊNG

Truyện ngắn


Buổi sáng, khi mấy chú gà nhà thi nhau cùng bầy gà rừng ca khúc nhạc o ó o… rộn rã chào đón bình minh cũng là lúc H’Sa chuẩn bị cơm nước, mang gùi vào rừng hái thuốc. Không biết từ bao giờ, dòng họ Niê Byă biết vào rừng hái lá, hoa và đào củ, rễ… mang về nhà trị bệnh cho mọi người trong vùng. Có lần ngồi bên bếp lửa, H’Wera hỏi ngoại, ngoại cười cười bảo:
- Ừ, hồi nhỏ như con ngoại cũng từng hỏi bà ngoại của ngoại như vậy, bà ngoại bảo trước đây cũng từng hỏi bà ngoại như vậy rồi, nhưng… mọi người chỉ nói có vậy thôi.
- A, con hiểu rồi, như vậy nghề hái thuốc của nhà mình có từ lâu, lâu lắm rồi nên không ai còn nhớ chứ gì!
Ngoại khẽ cốc yêu lên đầu rồi nói:
- Bé này được!
Rồi ngoại kể: Bà cố ngoại sinh được sáu người con, vừa đủ ba trai ba gái; các con trai lớn lên được các cô gái xinh đẹp của những gia đình giàu có trong vùng đến bắt về làm chồng; ở lại nhà chỉ còn ba chị em gái bắt chồng về sống chung với ngoại. Mí H’Sa sinh ra sau cùng nên được cưng chiều hơn và cũng là người duy nhất phải gánh trọng trách nối nghiệp dòng họ làm nghề hái thuốc giúp người. H’Sa là con đầu của mí H’Sa trong gia đình ba chị em, nhưng được ngoại cưng chiều nhất, chọn làm người thừa kế nghề thuốc gia truyền; vì thế từ khi còn nhỏ xíu ngoại đã cho theo đi hái thuốc qua các đỉnh núi cao chót vót hay các vách đá dựng đứng trên dãy Chư Yang Sin. Có chuyến sáng đi, tối về, có chuyến phải ngủ qua đêm trên núi cao để chờ bình minh lên mới hái được; vì thế ngủ đêm trên núi cao trở thành chuyện bình thường của những lần đi hái thuốc. Tìm lá thuốc cũng vất vả lắm, có những loại lá chỉ hái dùng làm thuốc khi mặt trời chưa mọc, có loài hoa phải hái khi có sương đọng trên cánh, lại có loại cây chỉ mọc trên vách đá cao dựng đứng phải hái vào giữa trưa… mỗi loại hoa, lá, cỏ, cây có một khoảng thời gian nhất định trong ngày mới hái làm thuốc được. Nhưng không phải bệnh gì gia đình H’Sa cũng chữa được; ngoài một số bệnh ngoài da, hay rắn độc cắn, thì chữa bệnh muộn con là công hiệu nhất. Cả vùng rộng lớn phía đông bắc núi Chư Yang Sin, rất nhiều buôn, nhưng mọi người chỉ đến nhờ gia đình H’Sa lấy thuốc; khi khỏi bệnh tùy lòng hảo tâm, người ta mang: rượu, gạo, gà, heo… đến trả công chứ gia đình không lấy tiền bao giờ; chữa bệnh làm phúc thôi mà.
Có lẽ cũng vì thế người trong buôn kính trọng gọi ông ngoại là già làng, người cai quản sắp xếp mọi công việc từ thờ cúng thần linh đến bắt chồng hay xử các cuộc tranh chấp, khiếu kiện… trong cái buôn hơn trăm nóc nhà dài, gần năm trăm hộ, hơn hai ngàn nhân khẩu. Mọi việc già làng quyết, mọi người phải tuân theo, không bàn cãi! Năm H’Sa tròn mười bốn tuổi, gia đình tổ chức một lễ cúng lớn để trao trọng trách người thừa kế dòng họ. Sau lễ đâm trâu cúng tế Yang (1) và các vị thần linh cùng dòng họ Niê Byă đang ở trên trời; bà ngoại dẫn H’Sa ra bến nước của buôn làm lễ cúng, thề độc: trọn đời im lặng, không cho ai biết ngoài người được chọn thừa kế sau này là con gái biết về các loại cây làm thuốc, và xin thần linh được hái sản vật của đại ngàn về làm phúc. Kể từ hôm ấy, H’Sa được một mình vào rừng, không phải theo ngoại nữa. Thấm thoắt đã gần qua một mùa rẫy, công việc lang thang trong rừng lâu ngày, nhiều lúc cũng cảm thấy cô đơn, nhưng dần dần thành quen và niềm vui, hạnh phúc chính là giúp người ốm bớt nỗi đau, có sức khỏe để làm việc; các cặp vợ chồng hạnh phúc, con cháu đầy nhà.
Mặt trời lên ngang vai, cũng là lúc H’Sa vượt qua hai ngọn núi cao đến gần vách đá dựng đứng bên vực sâu. Dưới lòng vực xếp toàn những khối đá lớn chồng chất lên nhau như đàn trâu rừng đang ngủ, phủ đầy rêu xanh. Trên các vách đá hai bên vực thỉnh thoảng có một bụi cây thân màu tím, lá vàng như nghệ mọc lên từ các hốc đá; đấy chính là cây làm thuốc quý, nhưng phải hái vào đúng trưa, khi ông mặt trời đứng trên đỉnh đầu không nhìn thấy hai bàn chân xếp sát nhau; khi ấy cây và lá cùng chuyển qua màu hồng, phải hái ngay. H’Sa dừng lại bên một hòn đá lớn, đặt gùi xuống, lấy trái bầu khô đựng nước định uống thì…
- Be… be… be!
Tiếng con sơn dương từ bên bờ vực vọng lại nghe như có điều gì hãi hùng, đau đớn lắm xảy ra với nó. H’Sa vội vàng khoác gùi lên lưng, cầm cây xà gạc, chạy lại phía bờ vực. Băng qua một mỏm đá, H’Sa đứng khựng lại khi nhìn thấy bầy sơn dương hơn chục con to lớn đứng trên các hòn đá to đang quay đầu nhìn chăm chú đám cỏ gianh rộng như chiếc chiếu xen giữa các tảng đá lớn, nơi con sơn dương cái đen bóng, đứng như bị cột chân, thỉnh thoảng lại kêu lên những tiếng tuyệt vọng. Thường ngày, sơn dương thoáng trông thấy bóng người từ xa đã chạy biến vào rừng, còn hôm nay chúng làm ra vẻ không thấy người đang đến, lạ thật. Tò mò, H’Sa bước nhanh lại gần con sơn dương cái, biết nó là con cái vì nó không có sừng; loài sơn dương chỉ có con đực mới có sừng. Thấy H’Sa lại sát bên cạnh, con sơn dương vẫn không bỏ chạy, đứng như hóa đá, mắt vẫn chăm chú nhìn vào đám cỏ gianh.

- Ối, Yang ơi!
H’Sa buột mồm kêu lên khi thấy một con trăn, thân to như bắp đùi người lớn, cuộn tròn như một sợi dây thừng khổng lồ quấn chặt một chú sơn dương, chỉ còn thò ra một cái đầu. Con trăn uốn mình, các lớp vảy đen pha vàng óng ánh dưới nắng, cũng chuyển động theo. Vứt vội chiếc gùi khỏi vai, H’Sa lao lại bên con trăn, tóm lấy cái đuôi lôi ra; con trăn uốn mình quay tròn, bật đuôi đập vào ngực H’Sa đau điếng, ngã lăn ra đất. Không bỏ cuộc, H’Sa bật dậy lại lao đến dùng hai tay nắm lấy mẩu đuôi con trăn, giật mạnh, cố lôi cho thẳng ra. Con trăn oằn mình quay tròn như quân cù quay chậm, vặn chéo tay, buộc H’Sa phải buông tay ra và… vút, ngọn đuôi của nó lại đập trúng vào người làm H’Sa ngã vật xuống đám cỏ.
Nhớ lời ngoại kể chuyện: Người đi rừng không may bị trăn bắt phải bình tĩnh xử lý. Trăn là loại không có nọc độc như rắn, chúng cậy khỏe, núp ở bên đường chỉ chờ người hay thú đi ngang qua, lao ra cắn vào chân, bộ răng  trăn như lưỡi cưa, cong vuốt về phía sau có tác dụng giữ chặt con mồi, không tuột ra được khi đã cắn đúng bất kỳ con gì. Cái thân dài và mềm như một sợi dây chão sẽ nhanh chóng cuộn lại, quấn lấy con mồi như ta quấn quân cù rồi siết dần cho ngạt thở mà chết, khi đó trăn mới há miệng, nhả chân, ngoạm vào đầu nuốt dần từ đầu xuôi ra chân. Người bị trăn cắn vào chân, phải đứng im giơ tay ngang ra song song với mặt đất, để mặc cho trăn quấn; nhưng nhanh mắt, khi nhìn thấy đuôi trăn, tóm ngay lấy, bẻ thật mạnh, trăn gãy đuôi tức khắc mất hết sức lực, phải há miệng, nhả mồi, bỏ chạy ngay. 
H’Sa bật dậy, lao lại bên con trăn bây giờ đã cuộn thành hình như cái hoa chuối khổng lồ, nhiều màu sắc, đầu con sơn dương thò ra hình thành cái cuống của bông hoa chuối; chộp lấy mẩu đuôi con trăn to như cổ tay, dùng hết sức bẻ gập lại. Con trăn oằn mình, giật lên như bị đánh, vội duỗi thẳng người buông con sơn dương ra, trườn luôn vào hang đá, biến mất.
Con sơn dương tội nghiệp chắc phải nặng gần ba chục ký ngã lăn ra đất, đầu cố vùng dậy, hai chân sau đạp đạp lên cỏ gianh mãi vẫn không đứng lên được, máu ở chân bên phải chảy đỏ cả đám cỏ. H’Sa lấy lá mang theo trong người, nhai nát, đắp vào vết trăn cắn. Con sơn dương vẫn đưa chân đạp, như cố gượng dậy để chạy trốn. Vỗ vỗ vào lưng, con sơn dương, H’Sa bảo:
- Ngoan nào, ngoan nào để chị giúp cho!
Lạ thay, con sơn dương nằm im không giãy giụa nữa, để mặc H’Sa xoa thuốc lên các vết răng trăn cắn. Một lúc sau máu thôi chảy, H’Sa vỗ vào đầu nó và bảo:
- Đứng dậy nào!
Vừa nói, H’Sa vừa đẩy vào lưng con sơn dương, hình như nó hiểu ý: quỳ hai chân trước xuống, hai chân sau co lại, lật úp thân lại rồi run rẩy đứng lên; nó cố lần thứ nhất… ngã; cố lần thứ hai… lại ngã; lần thứ ba thì… nó đứng lên được bằng bốn cái chân của mình; lúc đầu còn xiêu vẹo, sau một lúc… đứng thẳng được và khẽ húc cái đầu vào váy của H’Sa như con cún con. Vỗ vỗ vào đầu nó, rồi bảo:
- Thôi về với amí của mày đi, theo đàn kiếm ăn nhưng phải cẩn thận đừng để trăn tóm lần nữa nhé!
- Be, be, b…e!
Tiếng kêu như nghẹn ngào không muốn rời xa người làm H’Sa cảm động cúi xuống ôm lấy cổ sơn dương, thủ thỉ:
- Chị hiểu rồi, đi đi nào, ngoan lắm!
- Be be b…e!
Con sơn dương mẹ đứng như hóa đá phía sau, chứng kiến cuộc chiến đấu không khoan nhượng của con người với trăn để giải thoát cho con nó, đến bây giờ mới bật lên tiếng kêu thảnh thốt, làm H’Sa giật mình quay lại.
- A, amí của mày đang chờ này, đi đi thôi. Còn trách chị sao không xử con trăn hả? Con trăn sai rồi, chị cảnh cáo nó thế là được, phải để nó sống với chứ. Thôi đi đi.
H’Sa nói xong vỗ nhẹ vào mông con sơn dương. Sơn dương con tung chân chạy lại bên hòn đá amí nó đang đứng, rồi quay đầu lại kêu lên một tiếng lớn:
- B…e!
- B…e!
Bất ngờ, một dàn đồng ca cùng ngân lên với tiếng b…e, vọng vào vách đá ngân dài vút lên tận trời xanh. H’Sa giật mình nhìn lên các hòn đá lớn xung quanh thấy bầy sơn dương đông đúc đứng đó từ bao giờ đang chăm chú nhìn mình. Con sơn dương đầu đàn, to nhất, đứng trên hòn đá lớn nhất bỗng tung hai chân trước lên trời khua khua, kêu lên một tiếng: b…e, như cảm ơn rồi tung mình như bay vào rừng xanh, cả đàn nối đuôi nhau rời khỏi các mỏm đá.

Nghe đâu, từ sau lần gặp gỡ bất ngờ ấy, mỗi khi H’Sa lên rừng hái thuốc lại thấy bầy sơn dương quây quần xung quanh, đi theo và… không lâu sau, xuất hiện vị cứu tinh, giúp những cặp vợ chồng muộn con có người nối dõi như ý; người ấy không phải Yang, nhưng mọi người trong vùng xem là hiện thân của Yang vì khi được người ấy hái cho một nắm lá rừng về ăn thì sau chín tháng mười ngày nhà sẽ có thêm em bé. Người con gái giỏi như Yang ấy chính là H’Sa, người hái thuốc nam ở núi Chư Yang Sin thuộc dòng họ Niê Byă.
Mùa đông năm Giáp Ngọ - 2014


SỐ 273&274 tác giả TRẦN ANH




NHỚ MỘT LỜI CHÀO MỪNG 20 NĂM TRƯỚC
     

Cách đây 20 năm, Hội VHNT Đắk Lắk tổ chức Đại hội lần thứ II (12.1995). Tôi còn nhớ khách Trung ương tham dự đại hội có nhà thơ Nông Quốc Chấn - đại diện cho Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam, nhà văn Kiều Vượng - đại diện cho Hội Nhà văn Việt Nam và Báo Văn nghệ; khách các tỉnh bạn có nhà thơ Y Phương từ Cao Bằng, nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo từ Thừa Thiên – Huế, nhà thơ Thanh Quế từ Quảng Nam – Đà Nẵng, nhà văn Cao Duy Thảo từ Khánh Hòa, nhà thơ Văn Công Hùng từ Gia Lai, nhà văn Nguyễn Trung An từ Lâm Đồng, họa sĩ Nguyễn Viết Huy từ Kon Tum và nhiều nhà văn, nhà thơ khác mà tôi không nhớ hết.
Nhiều nhà văn, nhà thơ của tỉnh bạn đã đăng đàn phát biểu chào mừng. Nhưng ấn tượng với tôi nhất là nhà thơ, nhạc sĩ Nguyễn Trọng Tạo. Hồi ấy anh còn chưa đến năm mươi, nhìn rất trẻ trung, phong độ và đã rất nổi tiếng về các tác phẩm thơ và nhạc, như bài thơ dài Tản mạn thời tôi sống, bài hát Làng quan họ quê tôi…Anh đã là thần tượng của đông đảo người yêu VHNT trong cả nước, nhất là những người trẻ, trong đó có tôi (lúc ấy là phóng viên Báo Lao Động, đồng thời là hội viên của Hội VHNT Đắk Lắk) . Vì vậy, khi nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo phát biểu tôi đã rất chú ý, bật máy ghi âm cẩn thận để lấy tư liệu viết bài về Đại hội. Anh nói vo, không hề chuẩn bị bằng văn bản, nhưng rất hấp dẫn. Khi anh nói xong cả hội trường vỗ tay ào ào. Trong hồ sơ tài liệu nghề báo của tôi còn lưu đoạn phát biểu như sau: “Anh em văn nghệ sĩ Thừa Thiên - Huế chúng tôi sống bên dòng sông Hương như cô gái mềm mại và thơ mộng. Các bạn văn nghệ Đắk Lắk sống trên dải đất cao nguyên như chàng trai cường tráng và hào hùng. Chúng ta cùng chung một tình yêu nghệ thuật chân chính. Mỗi lần đến Đắk Lắk tôi đều gặp màu đỏ tươi ròng của đất ba-zan bao la. Đấy là màu đỏ của máu, màu đỏ của hoa, màu đỏ của hàng triệu trái tim gắn bó máu thịt với đất đai với truyền thống của mình. Đấy cũng là màu đỏ của hàng trăm trái tim các văn nghệ sĩ ở đây. Rất nhiều, rất nhiều những tác phẩm của các bạn đã dang rộng cánh bay khắp đất nước, đến với văn nghệ sĩ Thừa Thiên - Huế chúng tôi, giúp chúng tôi hiểu thêm, yêu thêm mảnh đất và con người Đắk Lắk; đồng thời cũng khích lệ chúng tôi có thêm những sáng tác mới. Người xưa nói: “Núi không phải tại cao, nổi tiếng là bởi có Tiên. Sông không phải tại sâu, linh thiêng là bởi có Rồng”. Chính các bạn và nhân dân Đắk Lắk đã làm cho núi nổi tiếng, làm cho sông linh thiêng. Tôi xin chân thành cảm ơn anh chị em văn nghệ sĩ ở đây đã mang đến cho chúng tôi và nhân dân những giá trị tinh thần vô giá của vùng đất cao nguyên đầy nắng, đầy gió, đầy sức sống độc đáo này.
Xin chúc cho tình đồng nghiệp mãi mãi tươi đẹp và bền vững như rừng xanh núi đỏ”…
Đã dự 4 kỳ Đại hội của văn nghệ Đắk Lắk, đã nghe nhiều đại biểu đăng đàn chào mừng Đại hội, nhưng cho đến nay tôi vẫn thấy phát biểu của nhà thơ, nhạc sĩ Nguyễn Trọng Tạo là văn chương nhất và tình cảm nhất. Điều đó khiến tôi nhớ mãi.