Thứ Sáu, 16 tháng 10, 2015

GIỚI THIỆU CHƯ YANG SIN SỐ 277 - tác giả TRƯƠNG BI




TRUYỀN THUYẾT VỀ SỬ THI M’NÔNG
  

Từ bao đời nay, đồng bào M’nông còn lưu truyền trong cộng đồng bon làng mình một kho tàng ót n’drong(sử thi) vô cùng quý báu. Theo ngôn ngữ M’nông: Ót có nghĩa là hát, kể; n’drong có nghĩa câu chuyện xa xưa. Ót n’drong được lưu truyền bằng ngôn ngữ truyền miệng thông qua các cuộc sinh hoạt văn hóa hát kể sử thi giữa nghệ nhân với cộng đồng buôn làng và giữa ông bà, cha mẹ với con cháu (gọi là gia truyền). Ót n’drong được kể trong mọi không gian khác nhau: Không gian lễ hội, không gian nhà dài trệt, không gian chòi rẫy, không gian đi rừng, không gian đánh cá, không gian chăn thả đàn trâu bò, nghĩa là chỗ nào có không gian thuận lợi là có thể kể ót n’drong.
Nghệ nhân hát kể ót n’drong trong cộng đồng người M’nông hiện tại không nhiều, nhưng họ có một trí nhớ rất kỳ lạ. Có nghệ nhân thuộc gần hai trăm câu chuyện sử thi với hàng vạn câu vần ót n’drong. Họ có thể kể suốt bảy ngày đêm mà vẫn chưa hết một bài sử thi. Điển hình là nghệ nhân Điểu Klung, Điểu Klưt, Điểu Glôi, Thị Jach, Điểu Xiêng, Điểu M’Piôih, Điểu N’Jông…
Người M’nông thường truyền tụng câu ca thể hiện sự yêu thích của mình khi nghe kể ót n’drong:
Buổi sáng kể chuyện nương rẫy
Buổi chiều kể chuyện củi nước
Buổi trưa kể chuyện anh hùng
Buổi tối kể chuyện Ndu, Tiăng…
Khi tìm hiểu về nguồn gốc sử thi M’nông, chúng tôi được các già làng kể cho nghe một truyền thuyết như sau: Xưa kia khi trời đất mới hình thành, ông Trời cử hai vị thần là Tông Par và Tang Par đi đo trời đất. Đo đất xong, hai thần trở về trời để đo bầu trời. Hai thần đo bầu trời suốt bảy ngày đêm mà không hề nghỉ ngơi nên mệt quá vì đói và khát, liền rủ nhau đi tìm thức ăn và nước uống. Hai thần đang đi thì gặp một vị thần trông coi ranh giới giữa trời và đất. Vị thần này mời hai thần Tông Par và Tang Par vào nhà ăn trái cây và uống nước. Với lòng hiếu khách, vị thần này mang ra một đĩa đào tiên, một bình nước tiên mời thần Tông Par và Tang Par. Nhưng vị thần này lại mang nhầm bình rượu tiên ra mời. Vì đói và khát, nên hai thần Tông Par và Tang Par ăn uống ngon lành. Ăn uống xong, hai thần Tông Par và Tang Par ngà ngà say, liền cùng nhau hát ót n’drong vang khắp bầu trời. Tiếng hát của hai thần ngân nga trầm bổng nghe du dương như tiếng nhạc, như tiếng cồng, tiếng chiêng làm cho các vị thần, chim thú trên trời kéo đến nghe rất đông. Kỳ lạ thay, hai vị thần vừa hát vừa uống rượu tiên thì giọng kể càng hấp dẫn. Vì uống rượu nhiều quá nên hai thần vừa đi vừa hát, vừa diễn tả những động tác của những nhân vật trong chuyện. Không ngờ hai thần đi đến bờ rào nơi ranh giới giữa trời và đất, bất ngờ bước hẫng chân và rơi xuống mặt đất tại vùng núi Gô N’tôk đầu suối Dak Huych (nay thuộc xã Đak Huych, tỉnh Dak Nông) và trúng  ngọn cây krăk gôr (loại cây giống cây si). Nhờ cây đỡ nên hai thần không hề gì. Nhưng vì say rượu nên hai thần vẫn hát ót n’drong say sưa. Tiếng hát của hai vị thần vang khắp núi rừng làm cho chim thú kéo đến vây quanh cây krăk gôr để nghe hát ót n’drong càng ngày càng đông. Tiếng hát của hai thần vang đến các bon làng của người M’nông, các tộc người M’nông cũng lũ lượt kéo đến nghe. Tộc người Bu Nong (M’nông Nong) vì ở gần nên đi đến trước. Họ nghe hai thần Tông Par và Tang Par hát ót n’drong trọn vẹn từ đầu đến cuối các câu chuyện. Hai thần còn bày cho người Bu Nong cách hát kể ót n’drong và còn tặng cho họ bức tượng thần biết hát kể ót n’drong. Còn các tộc người M’nông khác đến sau, như M’nông Preh, Biăt, Gar, Rơ Ông, R’Lâm… đến sau, nên chỉ nghe được vài câu chuyện cuối của ót n’drong. Vì lúc này hai thần đã tỉnh rượu và đang chuẩn bị bay về trời. Chính vì vậy mà từ bao đời nay trong cộng đồng người M’nông chỉ có người Bu Nong (M’nông Nong) là biết hát kể ót n’drong, còn các tộc người khác rất hiếm người biết hát kể ót n’drong. Ở tộc người Bu Nong không chỉ đàn ông biết hát kể mà có cả đàn bà, các chàng trai, cô gái được già làng truyền dạy cũng biết hát kể ót n’drong cho mọi người trong cộng đồng cùng nghe.
Các già làng Bu Nong còn kể rằng: Trong kho tàng ót n’drong có truyền thuyết “Kể dòng con cháu mẹ Chếp” nó chính là ót n’drong mẹ đã sinh ra hàng trăm câu chuyện ót n’drong khác. Truyền thuyết này đã kể lại lịch sử hình thành và phát triển của người M’nông. Từ bà tổ đầu tiên là bà mẹ Chếp đã sinh ra trăng sao, cây cỏ muôn loài, sau đó mẹ Chếp sinh ra mẹ Chắp, mẹ Chắp sinh ra mẹ Chau, mẹ Chau sinh ra mẹ Grên, mẹ Grăn. Từ các bà tổ ấy đã sinh ra 53 dòng họ M’nông khác nhau. Mỗi dòng họ do một bà mẹ đứng đầu, các con lấy tên của mẹ làm họ. Dòng họ cuối cùng do mẹ Rõng đứng đầu đã sinh ra người anh hùng Tiăng. Lúc đầu chàng Tiăng sinh ra từ một quả trứng bằng đá, nên đặt tên là Tiăng con Tiăp. Chàng Tiăng lớn lên thấy không thích hợp với tên của mình nên đã đầu thai vào 37 bà mẹ khác nhau. Ở mỗi bà mẹ, chàng đều có anh em ruột thịt và được tặng nhiều vật quý, như: ché thần, kèn thần, khiên thần, gươm thần, gùi hoa, cồng vàng, cồng bạc, khung dệt bằng bạc… Khi về già, nhớ lại những kỷ vật quý giá ấy, chàng Tiăng đã cùng anh em, con cháu đi đòi lại những vật quý ấy, nhưng các bon làng là anh em cùng mẹ khác cha của chàng không trả, thế là chiến tranh cướp tài sản, cướp vật quý, cướp người đẹp, cướp vùng đất cư trú diễn ra triền miên. Mỗi cuộc chiến tranh là một câu chuyện ly kỳ, nó nối chuỗi với nhau thông qua các nhân vật chính, như: Chàng Tiăng, Tang, Yang, Lêng, Ndu, mẹ Rõng, cha Kông và các vị thần bảo vệ bon làng chàng Tiăng là thần Lết, thần Mai cùng nhiều nhân vật anh hùng khác, tạo nên hàng trăm câu chuyện nối liền nhau trong kho tàng ót n’drong,  hiếm thấy ở các dân tộc bản địa Tây Nguyên. Từ bao đời nay ót n’drong đã được lưu truyền trong cộng đồng như một báu vật văn hóa không bao giờ phai mờ trong ký ức của người M’nông.
Vừa qua,trong chương trình dự án “Điều tra, sưu tầm, biên dịch, bảo quản và xuất bản kho tàng sử thi Tây Nguyên” (từ 2001-2007) do Viện Khoa học Xã hội Việt Nam (nay là Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam) chủ trì, đã phối hợp với các tỉnh Tây Nguyên tiến hành điều tra và sưu tầm được trên 500 tác phẩm sử thi của các dân tộc bản địa Tây Nguyên, trong đó có trên 200 tác phẩm sử thi M’nông. Trong hội nghị nghiệm thu chương trình dự án trên, các nhà nghiên cứu folklore đã đánh giá cao kết quả đạt được của chương trình. Cũng trong hội nghị này, các nhà khoa học đã xếp sử thi M’nông vào loại sử thi liên hoàn (hay còn gọi là sử thi phổ hệ, sử thi chuỗi). Qua kết quả này càng làm sáng tỏ những truyền thuyết trên về kho tàng ót n’drong đã và đang tồn tại trong cộng đồng người M’nông như một báu vật, cần phải gìn giữ và phát huy trong cuộc sống đương đại.









Thứ Năm, 15 tháng 10, 2015

CHỢ BẮP QUÊ TÔI - BÚT KÝ của HỒNG CHIẾN



CHỢ BẮP QUÊ TÔI
Bút ký

Ai có dịp theo đường Quốc lộ 26 từ các tỉnh phía đông lên thành phố Buôn Ma Thuột hoặc ngược lại, chắc chắn sẽ không quên dừng chân ở chợ Bắp 47, một địa danh cách thành phố Buôn Ma Thuột 47 km về phía đông để thưởng thức bắp luộc, đặc sản làm nên thương hiệu một cái chợ nổi tiếng trong cả vùng.

Cái tên “chợ Bắp 47” có từ bao giờ, cũng không ai nhớ cả; những du khách lưu thông trên Quốc lộ 26 có dịp đi qua km 47 – lộ giới cách thành phố Buôn Ma Thuột 47 km về phía đông, thuộc xã Ea Kly, huyện Krông Pắc; thường dừng lại bên gốc cây đa cổ thụ mọc bên đường nghỉ ngơi, thưởng thức vài quả bắp luộc được đun trong những chiếc nồi lớn lúc nào cũng bốc hơi nghi ngút. Người bán hàng nhẹ nhàng mở nắp, gắp ra rổ dăm quả bắp nước còn chảy tong tong, rơi xuống mặt đất tạo nên những đám khói nho nhỏ; người thưởng thức cứ vừa lột vỏ vừa xuýt xoa vì nóng. Quả bắp được lột hết vỏ để lộ ra những hạt trắng ngần, đều đặn chen nhau đứng như được một bàn tay tài hoa gắn vào từ đầu đến cuối bắp không còn một chỗ trống. Đưa lên miệng gặm vài hạt, ta thấy những hạt bắp mềm và dẻo như tự nó chạy vào trong lưỡi; vị ngọt bùi, mùi thơm của quả bắp tươi vừa chín đến lan dần trên mặt lưỡi, tỏa hương lên mũi làm người thưởng thức lâng lâng, ăn mãi không chán. Bắp luộc nơi đây cách ăn ngon nhất là cầm nguyên cả quả để gặm dăm bảy hạt một lần mới ngon, còn dùng tay bóc từng hạt ra ăn sẽ mất ngon. Ăn bắp xong, du khách thưởng thức thêm ly nước bắp luộc vừa thơm, vừa ngọt, một vị ngọt đặc trưng của bắp nếp ở vùng Ea Kly mới bẻ về luộc ngay, làm con người sảng khoái, quên đi cả một chặng đườn dài vừa phải vượt qua và sẵn sàng đi tiếp chặng đường mới. Đấy bắp ở chợ Bắp 47 là vậy!
            Những năm đầu sau giải phóng 1975, cách “chợ Bắp 47” bây giờ gần 5 km cũng có một cây đa to mọc ở phía đông Quốc lộ 21A – sau này đổi tên thành Quốc lộ 26, người dân bản địa buổi sáng thường tập trung trao đổi hàng hóa, lâu dần thành chợ và không biết từ khi nào cái tên “Chợ 52” được xướng lên để khách thập phương qua lại biết tại km 52 (theo quốc lộ 21A cách thành phố Buôn Ma Thuột 52 km về phía đông) có một cái chợ. Lâu dần do đất đai trong vùng màu mỡ, người dân tứ phương đến sinh cơ lập nghiệp và đặc biệt sự có mặt của Sư đoàn 333 về đóng quân trên địa bàn làm nhiệm vụ xây dựng kinh tế đã góp phần biến vùng đất hoang vu thành những cánh đồng trù phú; chợ 52 dần dần trở thành trung tâm giao lưu lớn của cả vùng. Năm 1985, huyện Ea Kar được thành lập, chợ 52 trở thành thị trấn của huyện mới, tốc độ đô thị hóa có bước phát triển vựơt bậc. Theo thời gian chợ 52 với những lều quán tạm bợ, hình ảnh các chị, các mẹ mặc yeng còng lưng gùi những chiếc gùi hoa quả chất cao hơn cả đầu người - đặc sản của gia đình ra chợ đứng bán không còn nữa; dần đần thay bằng những ngôi nhà kiên cố, cửa hiệu sang trọng… và chủ của nó đa phần là người các dân tộc từ nơi khác đến.
            Khoảng đầu năm 1986, gốc cây đa to mọc phía tây Quốc lộ 26 gần km 47 bỗng nhiên được nhiều người qua lại dừng chân vì xuất hiện vài bà mẹ người dân tộc bản địa ngực địu con, lưng gùi hoa quả vườn nhà như: sầu riêng, mãng cầu, chuối… ra đứng núp bóng mát cây đa bán cho du khách đi qua. Người này bán được, người kia bắt chước làm theo, thế là cái chợ manh mún bắt đầu hình thành như một sự tất yếu để kế thừa chợ 52 trước đây. Có lẽ nhờ bóng cây đa to, du khách thích dừng chân nghỉ ngơi và đặc biệt được mua đặc sản của vùng đất Tây Nguyên do chính những người dân bản địa hiền từ, chất phác, thật thà đứng bán cuốn hút nhiều người. Lúc đầu chợ chỉ bán rau quả đựng trong gùi, người mua phải mua cả gùi mới bán; sau này theo thời gian, cái “chợ” bên gốc đa ấy người ta biết bán rau quả theo chục, theo mớ, theo bó… “Chợ” họp cả ngày từ mờ sáng cho đến lúc người bán bán hết hàng hoặc khi ông mặt trời đi ngủ về tây, người bán mới thu dọn đồ về. Theo thời gian Chợ 47 ngày một đông thêm và vài năm lại đây đã có gần 40 chiếc quán mọc lên, kéo dài từ gốc đa đến ngã ba đường vào Công ty cà phê 719. Các quán ở đây được dựng tạm bợ bằng bốn cây gỗ nhỏ đứng bốn góc, phủ tấm bạt lên trên, núp dưới bóng hàng cây cây trứng cá, cây muồng… xanh tốt tạo được không gian vừa thoáng mát lại thơ mộng. Trong quán, ngoài kê bàn ghế bình thường còn có thêm những chiếc võng mắc quanh các bàn nhỏ để du khách ngã lưng thư giản và thưởng thức bắp luộc. Điều đặc biệt ở đây, tất cả các quán mở ở khu vực này đều nối liền nhau như các ki ốt của chợ lớn và chỉ bán duy nhất một món đặc sản: bắp luộc và phục vụ giải khát; có lẽ vì thế nơi đây mới thành tên gọi: “chợ Bắp 47”. Ban ngày xe đi lại nhiều nên các quán đều rất nhộn nhịp người đến thưởng thức bắp luộc, chỉ có phía tây nam gốc đa còn lại một khoảnh đất không lớn lắm, dành riêng cho các chị, các mẹ bán hoa quả, tạo nên một nét bản sắc riêng của người dân Êđê nơi đây.

            Trong các quán bán bắp luộc ở chợ Bắp 47, chỉ riêng quán có vị trí ngay bên gốc cây đa diện tích lớn nhất, bao gồm gần hết diện tích bóng mát của cây đa lúc trưa đến; cô chủ quán ngoài 30 tuổi, có khuôn mặt trái xoan, nước da như màu mật ong rừng để lâu ngày, đôi mắt sắc và nụ cười rất tươi khoe những chiếc răng trắng, đều như hạt bắp nếp niềm nở đón khách. Tranh thủ khi ăn bắp, tôi hỏi cô chủ quán:
            -Em tên gì?
            -Anh cứ gọi em là Cô bán bắp cho dễ nhớ.
            -Nhà em có gần đây không?
            -Dạ, ở trong buôn phía bên kia đường đấy.
            -Em bán ở đây lâu chưa?
            -Quán này ngày trước của mẹ em, sau mẹ già giao lại cho em. Mẹ em là người đầu tiên bán bắp luộc ở đây đấy.
            Vui chuyện cô cho biết thêm: trước đây chỉ có mình mẹ cô bán bắp luộc, nhiều người thích ăn, mỗi ngày bán hết hai nồi to thì nghỉ không bán nữa, sáng mai mới luộc và bán tiếp. Mọi người thích ăn bắp ở đây là vì bắp được trồng trên đất đỏ ba zan ở tận cùng phía đông của cao nguyên Đắk Lắk, ảnh hưởng khí hậu miền biển Khánh Hòa. Trước đây người Pháp lấy suối Ea Knốp làm ranh giới phân định hai tỉnh Đắk Lắk – Khánh Hòa mà suối Ea Knốp chỉ cách km 47, xã Ea Kly theo đường chim bay khoảng 10 km; sau năm 1975 địa giới tỉnh mới được phân định lại, nhưng khí hậu thì vẫn thế. Người ta thấy nhà em bán bắp luộc đông khách nên bắt chước ra làm chòi luộc bắp bán. Quán nọ giáp quán kia, nay đã thành hai dãy quán chạy dọc hai bên quốc lộ, vui lắm. Cô chủ quán nói với vẽ hãnh diện.
Chợ Bắp 47 hình thành và phát triển như vậy đấy, nhưng tôi vẫn băn khoăn một điều: Tây Nguyên có hai mùa rõ rệt, mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa đương nhiên có nhiều bắp tươi để luộc bán cho du khách, nhưng còn mùa khô cả 6 tháng trời nắng chang chang như vậy lấy đâu ra bắp tươi mà luộc, bán cho du khách? Trong một lần đến làm việc với Công ty cà phê 719 đóng trên địa bàn xã Ea Kly, gần chợ Bắp 47; tôi trao đổi với ông Nguyễn Huy Bá – Phó giám đốc Công ty nỗi băn khoăn của mình về quả bắp tươi mà mùa khô vẫn có để bán ở đây. Ông cho biết: Vùng này có nhiều hồ nước, mùa khô người ta gieo bắp ở vùng đất thấp gần với hồ nước và bơm nước tưới thường xuyên; bắp có nước phát triễn tốt lắm. Tôi buột miệng thốt lên: À ra thế! Theo ước tính, để có bắp tươi phục vụ cho gần 40 quán bán quanh năm phải có hơn một trăm hộ chuyên canh bắp cung cấp và như thế đã có trên một trăm hộ thoát nghèo, vươn lên làm giàu vì có thu nhập ổn định, góp phần quan trọng làm vùng đất nơi đây thêm trù phú.

Chợ Bắp 47 giờ đây đã được rất nhiều người biết đến với đặc sản bắp luộc được bày bán quanh năm  phục vụ du khách không phải vùng nào cũng có. Người chưa biết muốn một lần thưởng thức cho biết, người thử một lần rồi lần sau có dịp đi qua nhất định sẽ dừng lại ăn cho đỡ nhớ và mua luôn vài vài chục mang về tặng anh em bạn bè những quả bắp ở chợ Bắp 47, đặc sản của một vùng đất đỏ ba zan ở tận cùng phía đông cao nguyên Đắk Lắk. Nói như thế, chợ Bắp 47 không chỉ có bắp luộc mà còn có nhiều nông sản do chính tay những người dân bản địa trồng trọt, chăm sóc, thu hoạch để trong những chiếc gùi xinh xinh chào mời du khách. Những người bán hàng hoa quả này đa số đều là những người phụ nữ cao tuổi, vui tính, niềm nở với khách hàng. Khách cứ xem thoải mái, mua cũng được mà không mua cũng không sao, trên môi những người bán hàng bao giờ cũng nở một nụ cười thân thiện. Có lẽ chính thái độ này của những người bán hàng đã làm đẹp thêm lên hình ảnh về một vùng đất, cuốn hút được nhiều du khách dừng chân nơi đây và hình thành nên một cái chợ đặc biệt… CHỢ BẮP 47.

Thứ Tư, 14 tháng 10, 2015

GIỚI THIỆU CHƯ YANG SIN SỐ 277 - tác giả NGUYỄN QUANG THIỀU

Nhà văn NGUYỄN QUANG THIỀU


VIẾT VĂN LÀ HÀNH ĐỘNG
HƯỚNG TỚI CÁI ĐẸP*


Vừa qua, tôi có một buổi nói chuyện với học sinh, sinh viên Việt Nam tại Phòng thông tin, Đại sứ quán Hoa kỳ về hướng nghiệp với đề tài “ Làm thế nào để trở thành nhà văn”.
Tôi nói với các bạn trẻ rằng : Câu hỏi làm thế nào để trở thành nhà văn sẽ trở thành một câu hỏi cô đơn và lạc lõng trong xã hội Việt Nam hiện nay. Tôi đã đánh giá rất cao Phòng Thông tin sứ quán Hoa Kỳ khi chọn chủ đề này. Trên bề mặt xô bồ của đời sống, nó đúng là một chủ đề lạc lõng, nhưng trong sâu thẳm của giáo dục, nó là câu hỏi cần thiết và có thể là cấp bách với chúng ta.
Hiện thực cho thấy, hầu như chẳng có phụ huynh nào khuyên con cái mình trở thành nhà văn mà chỉ khuyên chúng trở thành bác sỹ, nhân viên ngân hàng, tài chính kế toán, quản lý khách sạn, hải quan, tiếp viên hàng không….Nghĩa là phải học những nghề có thể kiếm ra tiền một cách dễ nhất. Tôi thông cảm một phần với các bậc cha mẹ. Đó thực sự không hoàn toàn là lỗi của họ.
Với những vụ sát hại man rợ tận cùng xẩy ra ở Bình Dương và Nghệ An, tôi cảnh báo các bạn trẻ rằng : Nếu chúng ta không tìm cách ngăn chặn thì đến một ngày nào đó, chúng ta sẽ nghe tiếng gõ cửa và những kẻ sát nhân bước vào ngôi nhà chúng ta ra lệnh chúng ta làm những gì chúng muốn. Nếu không tuân lệnh, chúng sẽ sẵn sàng nổ súng. Chúng ta đừng bao giờ ngốc nghếch nghĩ rằng : Chúng ta ở trong một ngôi nhà kiên cố là chúng ta có thể an toàn. Khi xã hội không an toàn thì mỗi ngôi nhà chúng ta không có khả năng an toàn. Khi sông hồ quanh ta nhiễm độc thì bể nước trong ngôi nhà chúng ta với đủ các loại máy lọc tiên tiến nhất cũng sẽ bị nhiễm độc. Và cái gì sinh ra những tội ác man rợ tận cùng đang diễn ra trong xã hội chúng ta ? Mọi người có thể đưa ra nhiều nguyên nhân. Nhưng nguồn gốc của mọi tội ác sinh ra từ những con người vô cảm và không biết rung động trước cái đẹp của thiên nhiên và cái đẹp của con người. Chính việc giáo dục của chúng ta đã đóng góp một phần quan trọng trong giáo dục thẩm mỹ và nhân văn đã làm cho con người trở nên vô cảm và độc ác.
Tôi nói với các học sinh, sinh viên hôm đó về vai trò của văn học trong việc xây dựng nhân cách con người. Nếu có một lúc nào đó họ sa ngã thì cái đẹp mà một phần do văn chương mang lại sẽ làm cho họ biết sám hối. Tôi không khuyên họ trở thành nhà văn của một triệu bạn đọc nhưng hãy trở thành nhà văn của một bạn đọc đó là chính họ. Bởi khi họ viết văn cho dù dưới một hình thức nào đó thì đấy là hành động hướng tới cái đẹp và suy ngẫm về cái đẹp. Khi họ viết văn là họ có cơ hội nghe được bản thân mình rõ nhất và xem lại bản thân mình. Trong những năm qua, có một số người lên tiếng về việc quá nhiều người làm thơ và in thơ. Họ gióng hồi chuông về sự bình dân hóa thơ ca. Nhưng tôi nghĩ khác : Tôi thấy đó là một trong những dấu hiệu tốt trong đời sống tinh thần của chúng ta. Bởi khi viết những câu thơ thì hầu như tất cả những người viết đó đang hướng về những điều tốt đẹp. Những văn bản họ viết có thể không phải là một văn bản nghệ thuật thực sự nhưng hầu hết đó là những văn bản nhân tính. Và xã hội con người luôn cần những văn bản đó cho dù nó được xuất bản cho một triệu người đọc hay chỉ là một văn bản viết tay giấu kín trong hộc tủ của ai đó và thỉnh hoảng họ lại mang ra đọc một mình.
Một hai năm trước tôi đọc trên báo chí và thấy rằng có một số trường đại học muốn bỏ thi môn văn. Dạy văn và học văn không phải để sinh ra các nhà văn, nhà thơ mà là một trong những con đường đưa con người vào thế giới nhân tính. Một hiện thực là rất nhiều học sinh không còn thích học môn văn nữa. Lỗi đó không thuộc về học sinh. Lỗi đó thuộc về những nhà giáo dục cùng một phần của các bậc cha mẹ. Trong khi họ, các nhà giáo dục và các phụ huynh, nỗ lực hết mình để truyền đạt những kiến thức mang tính thực dụng cho con em họ thì họ đã bỏ quên việc nuôi dưỡng tâm hồn con em họ. Những đứa trẻ đó lớn lên sẽ trở thành những bác sỹ phẩu thuật rất giỏi, những ông chủ nhà băng lớn, những thương gia giàu có…nhưng lại là những kẻ vô cảm và dửng dưng với mọi số phận quanh họ.
Trong buổi nói chuyện, một sinh viên hỏi tôi: “Cháu có hai người bạn rất thân nhau. Một người giỏi văn. Nhưng khi lớn lên, người bạn của anh ta gặp khó khăn và anh ta đã phản bội lại bạn mình. Sao một người học giỏi văn lại đối xử với bạn mình không nhân văn như thế?”.
Câu hỏi vô cùng hay. Vậy thì tại sao ? Tôi trả lời sinh viên kia : Vì cách dạy văn lâu nay của chúng ta hoàn toàn giống như dạy cách sao chép một văn bản lý thuyết từ giáo án của thầy cô sang vở ghi chép của học sinh. Nó giống như học sinh dùng một cái usb “cắm vào” ổ máy của thầy cô rồi coppy vào cái máy của mình. Thao tác đó không hề được đi qua thế giới của những run rẩy, những thổn thức, những chia sẻ, những tưởng tượng, những dày vò và cả những lo sợ mơ hồ. Chính cái thế giới ấy mới làm nên tâm hồn con người. Cậu học sinh kia chỉ học một thao tác kỹ thuật sao chép đơn giản chứ không học cách cảm nhận cuộc sống và cách sống. Và kết quả như bạn sinh viên kia chứng kiến là điều hiển nhiên.
Những năm 70 của thế kỷ trước chúng tôi học văn hoàn toàn khác. Tôi không bao giờ quên được những buổi lên lớp của các thầy cô dạy văn và đặc biệt là thầy Trần Mạnh Hưởng ở trường Cấp 3 Mỹ Đức, Hà Tây cũ. Thầy đã dẫn chúng tôi vào một thế giới mà chúng tôi chưa hề biết trước đó. Có những đêm tôi thao thức mãi với bài giảng của thầy Hưởng, cô Thái hay thầy Du ở lớp học trong ngày. Một điều gì đó thật kỳ diệu và lạ lùng đã dâng lên trong tâm hồn của chúng tôi. Nó đã bồi đắp tâm hồn chúng tôi từng ngày một cách lặng lẽ nhưng thật bền vững và lớn lao. Hãy làm một chính khách, một bác sỹ, một chủ nhà băng, một thương gia… ban ngày và hãy làm một nhà văn vào buổi tối trong ngôi nhà của mình. Hãy viết cho chính mình, viết bằng bút, bằng laptop hoặc bằng những suy ngẫm và cụ thể hơn bằng một hành động của yêu thương trước hết trong chính ngôi nhà của mình. Và sáng mai thức dậy, con đường bạn đi đến công sở đã là một con đường khác đầy cảm hứng, đầy đức tin và vô cùng bền vững hơn chính con đường bạn mới đi ngày hôm qua.


(*): Đầu đề của bài viết do BBT Tạp chí Chư Yang Sin đặt.

Thứ Hai, 12 tháng 10, 2015

GIỚI THIỆU CHƯ YANG SIN SỐ 277 - tác giả H’XÍU HMOK

Tác giả H’XÍU HMOK


MẸ ỐM
Tản văn                  



Sáng sớm một ngày nghỉ, con lên rẫy dọn cỏ với mẹ. Trời nắng như đổ lửa, con thấy mẹ không được khỏe. Mẹ ho liên tục, vừa làm vừa ho, con thấy mẹ yếu đi nhiều. Cái nắng hanh hao, oi bức được xoa dịu bằng cơn mưa bất chợt, may mà mẹ đem theo áo mưa, không thì hai mẹ con ướt hết. Hai mẹ con ngồi dưới gốc cây, co ro trong chiếc áo mưa. Con lơ đãng ngắm những hạt mưa rơi ồn ào dưới tán cây kơ nia, đưa tay hứng những giọt nước chảy dài trên chiếc áo mưa mờ mờ màu sữa, miệng liên tục hỏi mẹ những câu hỏi vì sao. Chỉ là cơn mưa bóng mây, mưa tạnh nhanh quá, ầm ào và vội vã. Mẹ rùng mình vì lạnh, đôi môi tái nhợt. Hình như mẹ bị ốm.
Mẹ nằm trên giường, sốt cao, nóng hầm hập. Toàn thân mẹ run rẩy, mẹ bảo thấy lạnh, đắp lên người chiếc chăn bông dày. Con đi mua thuốc cho mẹ uống. Cô dược sĩ hỏi con mua cho ai, con nói mua cho mẹ. Cô nhìn con cười, cẩn thận dặn dò con cách uống thuốc.
Viên thuốc đắng ngắt, lờm lợm nơi đầu lưỡi. Con thấy nhờn nhợn. Nhớ ngày trước, con cũng hay đau ốm vặt, nhưng lại cực kì sợ thuốc. Mỗi lần uống thuốc là mỗi lần con vật vã, mặt mũi nhăn nhó, nước mắt nước mũi chảy ròng ròng trông rất khổ sở. Bởi vậy con ghét uống thuốc, cứ canh chừng lúc mẹ không để ý là con giấu thuốc rồi vứt đi. Vậy nên mỗi lần con ốm là mẹ lại phải rất vất vả để chăm con và dỗ dành con uống thuốc. Bây giờ nhìn mẹ uống thuốc, dù không vật vã, khổ sở như con nhưng con vẫn còn nguyên cảm giác ghét và sợ thuốc, cổ họng con nhợn nhợn thật khó chịu.
Mẹ thiêm thiếp ngủ, con cặm cụi dọn nhà, cho lũ gà và ngan ăn, vuốt ve con mèo già và lẩm nhẩm bài hát vui cô giáo mới dạy. Con nhóm lửa, mặt mũi lem nhem vì khói và muội than trong bếp. Bố vắng nhà, chỉ còn mình con với mẹ. Con nhớ mỗi lần con ốm, không ăn được cơm, mẹ hay nấu cháo cho con ăn, món cháo đậu xanh ngầy ngậy, thơm phức. Con bảo con cũng sẽ nấu một nồi cháo giống vậy để mẹ ăn cho mau khỏe. Củi ẩm, khói tỏa dày đặc, mắt con cay xè, chảy nước. Khó khăn lắm con mới làm lửa cháy lên được. Than bắt đầu đỏ, những đốm lửa nổ lách tách. Nồi cháo sùng sục sôi, trào ra ngoài, tiếng lèo xèo, lụp xụp khiến mẹ tỉnh giấc. Mẹ gượng dậy khỏi giường, lần đi xuống bếp. Trong gian bếp khói mù mịt, mẹ thấy con ngồi lúi húi với nồi cháo, ngẩng mặt lên nhìn mẹ, mặt lấm nhọ tèm nhem. Mẹ bước lại chỗ con, nước mắt chực rơi, ôm con vào lòng, hỏi “Con đang làm gì đó?”. Con bảo, con nấu cháo cho mẹ ăn, nhưng mà con không biết nấu sao cho nó đặc giống mẹ hay nấu. Mẹ nhìn nồi cháo, là nồi cơm nhão thì đúng hơn. Mẹ cười, đứa con gái 8 tuổi của mẹ chưa biết nấu cháo, cho nhiều gạo nên không thành cháo. Mẹ cốc yêu đầu con gái, bảo thôi để đấy mẹ nấu cho. Con gái không chịu, nhất quyết bảo sẽ nấu cho bằng được nồi cháo để mẹ ăn cho mau khỏe. Vậy thì, mẹ ngồi đó hướng dẫn, con nấu nhé.
Tô cháo nóng hôi hổi, con gái múc đặt lên bàn mời mẹ. Mắt mẹ ngân ngấn nước. Mẹ thấy vui vì con gái mẹ đã lớn khôn rồi. Mẹ húp từng miếng cháo mà cảm thấy lâng lâng trong lòng. Con gái ngồi, chăm chú nhìn, chốc chốc lại hỏi, cháo ngon không mẹ, mẹ ăn nhiều vào nhé, cẩn thận nóng đấy. Con gái không biết, lúc ấy, mọi sự mệt mỏi, bệnh tật trong mẹ đã tan biến hết, mẹ cảm thấy yêu con gái của mẹ vô cùng.
Sáng nay, trời vừa hừng đông, tiếng gà gáy o o trên mái nhà. Mẹ trở mình thức giấc, con gái vẫn cuộn tròn trong chăn, ngủ ngon lành. Nhìn con ngủ, mẹ thấy bình yên lạ. Lâu lâu, con gái lại chép chép miệng như đang ăn gì đó. Mẹ ngắm con thật lâu, nghe tiếng con thở đều đều, nhịp nhàng. Chuông điện thoại reo, phá tan không gian yên ắng buổi sáng. Bố gọi điện báo sắp về tới nhà. Mẹ nhanh tay xuống bếp chuẩn bị bữa sáng. Lát nữa, khi bố về, mẹ sẽ kể cho bố nghe về tô cháo ngon nhất mà mẹ được ăn, tô cháo do con gái nấu.



Chủ Nhật, 11 tháng 10, 2015

GIỚI THIỆU CHƯ YANG SIN SỐ 277 - tác giả NGUYỄN THANH TUẤN





TÍNH CHÍNH LUẬN VÀ GIÁ TRỊ LỊCH SỬ
CỦA BẢN TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP
NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA

            
Tháng 8 năm 1945, cách mạng nổ ra và thành công trên phạm vi cả nước. Ngày 19 Tháng 8, nhân dân Thủ đô Hà Nội giành được chính quyền, đánh dấu sự kiện Cách mạng tháng Tám thành công rực rỡ. Ngày 26.8, Chủ tịch Hồ Chí Minh từ chiến khu Việt Bắc về Hà Nội. Ngay sau đó, người tích cực soạn thảo bản Tuyên ngôn độc lập tại căn nhà số 48 - phố Hàng Ngang. Đây là áng văn chính luận có giá trị lịch sử to lớn. Thông qua đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh chính thức khai sinh ra Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam), đồng thời mở ra một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập, tự do và bình đẳng cho dân tộc.
Vấn đề lớn và khó khăn nhất được đặt ra ngay với Bác là: làm sao để khẳng định một cách đanh thép thành quả của một dân tộc đã trải qua hàng ngàn năm kiên dũng đấu tranh lật đổ ách thống trị của bọn thực dân - phong kiến và đập tan luận điệu xảo trá của thực dân Pháp đang nuôi dã tâm cướp đất nước ta một lần nữa. Với tài năng, trí tuệ, bản lĩnh và tâm huyết của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xuất sắc vượt qua trở ngại đó bằng một văn bản chính luận mẫu mực. Sự mẫu mực, hùng hồn trong văn phong, logic, đanh thép trong cách lập luận xuất phát từ việc xác định một cách rõ ràng đối tượng, mục đích và cách viết của Tuyên ngôn độc lập là gì.
Đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, việc xác định đối tượng, mục đích và cách viết là nhiệm vụ quan trọng đầu tiên khi đặt bút viết bất cứ cái gì, dù nó thuộc thể loại nào. Vì thế, khi tìm hiểu bản Tuyên ngôn độc lập, nhiệm vụ đầu tiên của người đọc là phải xác định đối tượng của nó là ai. Một công việc tưởng như không cần thiết và quá dư thừa, bởi lẽ ngay khi mở đầu Bác đã viết: “Hỡi đồng bào cả nước” và “Chúng tôi trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng”. Rõ ràng, đối tượng của Tuyên ngôn độc lập là toàn thể đồng bào cả nước và nhân dân khắp thế giới. Tuy nhiên, vấn đề không chỉ đơn giản có vậy và không dừng lại ở đó. Nếu chỉ đơn giản là viết cho đồng bào ta và nhân dân thế giới một cách chung chung thì Bác không cần phải sử dụng nhiều lý lẽ đến thế và cũng không cần phải trích dẫn những nội dung chính của bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ và bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791. Để hiểu rõ đối tượng, bản chất thực sự của đối tượng và mục đích của văn kiện lịch sử này, người đọc bắt buộc phải tìm hiểu thật kỹ bối cảnh lịch sử khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập.
Cuối tháng 8 đầu tháng 9 năm 1945, thực dân Pháp ở miền Nam đang núp dưới bóng quân giải giáp của đế quốc Anh nhằm thực hiện âm mưu chiếm đất nước ta thêm một lần nữa. Ở miền Bắc, quân Tưởng Giới Thạch - tay sai đắc lực của đế quốc Mỹ - đang chờ chực ở biên giới và sẵn sàng đổ bộ vào nước ta bất cứ lúc nào. Bên cạnh đó, mâu thuẫn trong phe đồng minh, giữa các nước: Anh, Pháp, Mỹ và Liên Xô có thể khiến cho Anh, Mỹ nhân nhượng cho Pháp quay trở lại tái chiếm Việt Nam. Để hợp pháp hóa âm mưu tiếp tục thôn tính đất nước ta, thực dân Pháp đã tung ra thế giới luận điệu vô cùng xảo trá rằng: “Pháp có công bảo hộ Đông Dương, phát xít Nhật nhảy vào Đông Dương nay đã đầu hàng đồng minh. Pháp trong phe đồng minh nay trở lại Đông Dương là đương nhiên và hợp lẽ”. Đến đây, ta mới thấy bản Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa không chỉ để đọc trước quốc dân đồng bào và nhân dân thế giới, cũng không phải chỉ để tuyên bố độc lập một cách chung chung mà để đập tan luận điệu xảo trá của quân xâm lược Pháp trước dư luận thế giới, đồng thời khẳng định quyền độc lập, tự do và toàn vẹn lãnh thổ của dân tộc.
Không phải ngẫu nhiên Chủ tịch Hồ Chí Minh mở đầu bản Tuyên ngôn độc lập của mình bằng những lý lẽ bất hủ của tổ tiên người Mỹ và người Pháp được trích dẫn trong hai bản tuyên ngôn nổi tiếng của họ. “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Bác giải thích: “Lời bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”. Cách lập luận này vừa khéo léo lại vừa cương quyết. Khéo léo vì Bác cho người đọc thấy rõ sự tôn trọng của mình đối với bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ và bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791. Kiên quyết vì thêm một lần nữa, Bác chính thức cảnh báo rằng: nếu họ cứ tiếp tục tiến công xâm lược Việt Nam thì chính họ chứ không phải ai khác đã phản bội và chà đạp lên lá cờ nhân đạo của tổ tiên mình và nhất định sẽ nhận thất bại nhục nhã. Mục đích cuối cùng của việc đưa ra các lý lẽ mang tính logic và thuyết phục này là muốn khẳng định độc lập, chủ quyền của dân tộc.
Trích dẫn nội dung hai bản tuyên ngôn của tổ tiên người Pháp và người Mỹ, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn muốn khẳng định với toàn thế giới rằng: ba cuộc cách mạng của Pháp, Mỹ và Việt Nam là ngang tầm nhau, ba bản tuyên ngôn và ba nền độc lập là ngang hàng nhau. Điều này cũng khẳng định uy thế của một dân tộc tuy bé nhỏ, nghèo nàn nhưng với trí tuệ và lòng quyết tâm của mình đã làm nên một cuộc cánh mạng vĩ đại vào bậc nhất thế giới. Cuộc cách mạng ấy cùng một lúc đã giải quyết được hai nhiệm vụ là dân tộc và dân chủ, trong khi cuộc cách mạng Mỹ năm 1976 chỉ đánh đổ được thực dân Anh, giành độc lập dân tộc, cuộc cách mạng Pháp năm 1791 chỉ lật đổ được chế độ phong kiến Pháp, thiết lập chế độ quân chủ. Nội dung bản bản Tuyên ngôn độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh còn có giá trị nhân bản sâu sắc. Từ quyền lợi của một con người, Bác đã phát triển nó thành quyền lợi của cả một dân tộc. Đây thực sự là phát súng mở đầu, báo hiệu phong trào bão táp cách mạng đã bùng lên mạnh mẽ ở các nước thuộc địa, từng bước lật đổ hoàn toàn Chủ nghĩa thực dân vào nửa sau thế kỷ XX.
Kẻ thù trực tiếp và nguy hiểm nhất đe dọa nền độc lập dân tộc khi bản Tuyên ngôn độc lập ra đời là quân xâm lược Pháp, để làm phá sản hoàn toàn âm mưu của chúng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra hệ thống lý lẽ đanh thép, bằng chứng thuyết phục và cách lập luận hùng hồn. Pháp huênh hoang với dư luận thế giới là có công “khai hóa” Đông Dương thì hơn bao giờ hết, tác giả đã vạch trần tội ác tày trời của chúng trong vòng tám mươi năm qua. Về chính trị, Pháp thủ tiêu mọi quyền tự do dân chủ, chia rẽ đất nước ta thành ba kỳ, dùng mọi thủ đoạn để phá hoại, không cho đất nước ta được thống nhất. Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học, thẳng tay đàn áp, chém giết một cách man rợ những người Việt Nam yêu nước thương nòi. Dìm các cuộc khởi nghĩa của nhân dân ta trong biển máu, đầu độc nhân dân bằng rượu cồn và thuốc phiện, làm cho suy kiệt giống nòi.
Về kinh tế, chúng ra sức vơ vét tài nguyên thiên nhiên của đất nước ta đến mức cạn kiệt, đồng thời bóc lột nhân dân đến tận xương tủy. Hành động tham lam và bất lương của chúng gây ra nạn đói khủng khiếp vào cuối năm 1944 đầu năm 1945, cướp đi mạng sống của hơn hai triệu người và hàng triệu người khác rơi vào tình trạng khắc khoải giữa chết và sống. Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý, bất công. Chúng cướp không nhà cửa, ruộng vườn, hầm mỏ… khiến nhân dân ta bần cùng, đói rét, nước ta xơ xác tiêu điều. Thực dân Pháp muốn kể công bảo hộ Đông Dương thì bản Tuyên ngôn chỉ rõ, đó không phải công mà là tội: “Mùa thu năm 1940, phát xít Nhật đến xâm lăng Đông Dương để mở thêm căn cứ đánh Đồng Minh, thì bọn thực dân Pháp quỳ gối đầu hàng, mở cửa rước Nhật vào nước ta. Từ đó dân ta chịu hai tầng xiềng xích: Pháp và Nhật, dân ta càng cực khổ, nghèo nàn”. “ Ngày 9 tháng 3 năm nay, Nhật tước khí giới của quân đội Pháp. Bọn thực dân Pháp hoặc là bỏ chạy, hoặc là đầu hàng. Thế là chẳng những chúng không “bảo hộ” được ta, trái lại, trong 5 năm, chúng đã bán nước ta hai lần cho Nhật. Tàn ác hơn, trước khi tháo chạy trong cơn điên cuồng giãy dụa, chúng còn giết thêm một số tù chính trị của Việt Nam ở Cao Bằng và Yên Bái.
Nếu thực dân Pháp tuyên bố rằng: Đông Dương là thuộc địa của chúng thì bản Tuyên ngôn chỉ rõ: sự thực là từ mùa thu năm 1940, Đông Dương không còn là thuộc địa của chúng nữa. Khi phát xít Nhật đầu hàng đồng minh, nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Việt Minh đã đứng lên đấu tranh cướp chính quyền từ tay phát xít Nhật chứ không phải từ tay Pháp. Đây là những lập luận có ý nghĩa hết sức quan trọng, là những bằng chứng xác thực hùng hồn mà kẻ thù không thể nào chối cãi được. Đây cũng là cơ sở dẫn đến lời tuyên bố của bản Tuyên ngôn: “Chúng tôi thay mặt Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam mới, đại diện cho nhân dân Việt Nam tuyên bố: thoát ly hẳn mọi quan hệ với Pháp, xóa bỏ mọi hiệp ước mà Pháp đã ký về Việt Nam, xóa bỏ mọi đặc quyền của Pháp trên đất Việt Nam”.
Tuyên ngôn Độc lập không chỉ đập tan những luận điệu xảo trá của thực dân Pháp mà còn khẳng định quyền độc lập dân tộc, quyền tự do dân chủ của nhân dân và bản lĩnh của Việt Nam trước quốc dân đồng bào và thế giới. Nếu Pháp có tội phản bội, hai lần bán rẻ đất nước ta cho phát xít Nhật thì ngược lại, nhân dân Việt Nam đứng đầu là Mặt trận Việt Minh đã anh dũng tự chống Nhật cứu nước. Nếu thực dân Pháp bộc lộ tính chất đê hèn, tàn bạo bằng hành động khủng bố, giết hại tù chính trị thì nhân dân Việt Nam không những không trả thù mà còn thể hiện sự khoan hồng, độ lượng. Ngay cả khi tàn quân Pháp thất thế, Việt Nam vẫn giúp đỡ quân đội Pháp rút khỏi các nhà giam của Nhật, tháo chạy qua biên giới.
Dân tộc Việt Nam đã phải chịu biết bao đau khổ dưới ách thực dân tàn bạo, một dân tộc đã kiên dũng đứng về phía đồng minh chống phát xít, chiến đấu cho độc lập tự do. “Một dân tộc luôn dương cao ngọn cờ nhân đạo, hòa bình và bác ái. Dân tộc đó xứng đáng được độc lập tự do, phải được độc lập tự do và thực tế đã thành nước độc lập tự do”. Tinh thần đoàn kết, gắn bó triệu người như một càng ngày càng được phát huy cao độ. Điều này, được thể hiện trong lời kết của bản Tuyên ngôn: “Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững nền độc lập, tự do ấy”.
Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa là văn bản có tính chính luận mẫu mực và giá trị lịch sử to lớn. Đây là bản anh hùng ca bất hủ của thời đại Hồ Chí Minh đã kế thừa và phát huy sâu sắc những áng “thiên cổ hùng văn” của dân tộc như: “Nam quốc sơn hà” của Lý Thường Kiệt, “Bình ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi. Tuyên ngôn độc lập còn là sự đúc kết kinh nghiệm của nhiều thế hệ, nhiều thế kỷ đấu tranh vì nhân quyền - dân quyền, vì độc lập tự do của dân tộc và nhân loại, thể hiện hùng hồn ý chí quyết tâm và sức mạnh Việt Nam.




Thứ Hai, 5 tháng 10, 2015

GIỚI THIỆU CHƯ YANG SIN SỐ 277 - tác giả DẠ YÊN





 Tác giả DẠ YÊN

TRONG THÀNH PHỐ
                    
Truyện ngắn


1.

Hắn sắp nổi tiếng, hắn thầm nghĩ, và đắm chìm trong những khoảng khắc tưởng tượng ra giây phút mình giành được cái vinh quang ấy. Nhưng cái sự tưởng tượng này có cơ sở xác đáng, vài tác phẩm của hắn đã xuất bản, được giới phê bình đánh giá cao, có khả năng sẽ gây tiếng vang lớn, và có thể sẽ được chọn là tác phẩm văn chương quan trọng nhất trong năm, theo lời một biên tập viên nào đấy thì có cơ may còn được chọn dịch ra vài thứ tiếng trên thế giới. Hắn đang ngồi trên bệ phóng và chỉ chờ đợi giây phút được châm ngòi. Hắn ngỡ, đời mình sẽ có ngày rực rỡ như pháo hoa.
Một ngày đẹp trời, hắn ngồi trong một quán cà phê sang trọng nhất nhì thành phố - để tìm không gian sáng tác - thì nhận được một cuộc điện thoại từ phía nhà xuất bản, một địa chỉ uy tín.
“Em chào anh, em là biên tập viên của BBB, bên em rất ấn tượng với cuốn tiểu thuyết gần đây nhất của anh, và đang tìm thông tin tiểu sử tác giả, mong được anh hợp tác.”
Hắn mừng quá đi chứ, đắc chí, nhưng vẫn không để lộ ra điều ấy, phải dửng dưng, khí chất của người nổi tiếng phải thế, phải tập dửng dưng trước mọi sự. Hắn ậm ừ ra vẻ đang suy nghĩ.
“Chắc anh còn nhớ em, hôm ra mắt cuốn Ccc của anh, em có đến tham dự, có gửi anh danh thiếp rồi đấy ạ. Em là Ddd, tóc vàng, mặc váy hồng, ngồi hàng ghế số hai từ trên xuống, hàng số bảy từ dưới lên”.
Hắn nhớ lại buổi ra mắt sách, cô gái cười duyên với chiếc răng khểnh và nốt ruồi trên khóe môi, phải nói cô ta khá xinh.
“Bên em cần một tác phẩm mới mang tính đột phá, sáng tạo, anh có thể gởi sớm được không ạ?”.
Đây chính là điều hắn chờ đợi, ngại ngần gì mà không gật đầu.
Hắn mở hộp thư và gửi ngay cho cô nàng tóc vàng tác phẩm hắn mới viết xong, đảm bảo đúng tiêu chí “khơi những nguồn chưa ai khơi”. Hắn cười thỏa mãn, trả tiền nước, một ly cam vắt tám mươi ngàn đồng.
Đêm ấy, hắn lại tưởng tượng mình đang ngồi trên một bệ phóng, cô gái tóc vàng cầm trên tay cái bật lửa chuẩn bị châm ngòi, và trên đầu hắn là một trời pháo hoa.

2.
Hắn ăn bún bò nơi đầu ngõ, thì có điện thoại, của tóc vàng.
“Anh ơi, tác phẩm mới của anh khá ổn, nhưng hình như vẫn còn thiếu một điều kiện cần thiết nào đấy để trở thành tác phẩm lớn. Anh có thể đầu tư viết một tác phẩm vừa lạ, vừa độc đáo, lại gần gũi với quần chúng, phải gần gũi với quần chúng anh ạ, được không anh?”.
Hắn tức phồng mang trợn má, miếng giò đang gặm dở cứ rung lên giữa hai hàm răng. Hắn muốn chửi tóc vàng, chửi luôn cả cái ban tiên tập của bọn BBB đấy không biết thẩm định là gì cả. Hắn nhả miếng giò, định lấy hơi để chửi, nhưng giọng tóc vàng cứ gọi là ngọt, hình ảnh của tóc vàng cứ hiện ra trong đầu hắn với đôi môi gợi cảm và cái nốt ruồi. Hắn tợp ngụm trà, dịu giọng, ậm ừ.
“Thế anh nhé, chúng em sẽ đợi tác phẩm của anh”.
Hắn xụi lơ, bỏ lại tô bún với miếng giò gặm dở, gọi tính tiền.
“Ba mươi nhăm nghìn, trà miễn phí cho chú”.
Hắn toan đứng dậy, đã thấy mụ chủ quán đổ tô bún còn dở vào xô nước rác, hắn nhìn đăm đăm, mụ quay lại cười hềnh hệch.
“Về nuôi lợn, cho đỡ phí”.

3.
Đầu tư, từ đâu?
Hắn nhớ lại lời tóc vàng, “một điều kiện cần thiết nào đấy”, tóc vàng nói hắn phải đầu tư vào tác phầm lần này, nhưng phải tìm cái điều kiện chết tiệt ấy ở đâu bây giờ. Thành phố chật kín người, thở cũng phải dè xẻn sợ người ta cướp mất hơi thở mình nói chi những chuyện lớn lao. Những tác phẩm hắn cho ra đời toàn nhờ công hắn tìm tòi lùng sục khắp nơi hang cùng ngỏ hẻm trong thành phố, có khi phải đi thực tế miền núi cả tháng trời chứ chẳng đơn giản. Thời buổi này, nhà văn nhà veo mọc ra như nấm, dễ đâu mà viết đua được với sức trẻ đấy. Hắn mở ti vi, toàn tin giật gân, hắn chuyển sang xem ca nhạc. Cô ca sĩ nước ngoài chẳng vận gì trên người, ngồi trên một quả lắc đu đưa và hát. Một ý tưởng lóe lên trong đầu hắn, sự tự do tuyệt đối trong sáng tạo nghệ thuật của người nghệ sĩ. Hắn vỗ đùi, chạy ra đầu ngõ.

4.
Xóm ngoại thành, chẳng cách thành phố là mấy nhưng nhìn tiêu điều, cách nhau có một cây cầu mà ngỡ xa hàng trăm cây số. Dưới chân cầu ánh đèn mờ mờ, vài cô gái đứng vẫy tay làm dáng. Hắn lơ. Mụ chủ quán rõ khéo, chỉ cho hắn cái nơi đến là xú uế.
“Chú muốn thế, muốn khác lạ mà chẳng ai dị nghị, chỉ có mỗi chốn ấy.”
Chẳng hiểu thế nào mà khi nhìn thấy cô ca sĩ khỏa thân ngồi trên quả lắc, hắn lại nhớ đến cái xô nước rác nuôi lợn của mụ chủ quán bún giò. Theo lời mụ thì nơi đây tụ hợp đủ mọi thành phần, ăn xin, trộm cắp, gái gú, và cả giết mổ, mụ thường lấy thịt từ một lò mổ nơi xóm này, rẻ mà chất lượng khỏi phải bàn.
Hắn nghĩ, trên đời này còn có cái rẻ mà chất lượng ư?

5.
Hắn thuê trọ trong một dãy năm phòng lụp xụp, nhất định ở nơi này hắn sẽ tìm ra được “một điều kiện cần thiết nào đấy”, và hoàn thành một bản thảo hết chỗ chê, tóc vàng sẽ phải rối rít mà khen ngợi tài năng của hắn. Quyết định của hắn, hành động táo bạo này của hắn chắc chắn chưa có nhà văn nào làm trước đó. Hắn cười, đi vào giấc ngủ, đợi ngày mai.

6.
Tảng vảng sáng, hắn ra quán nước đầu chợ ngồi uống trà. Hắn thân thiện với chị bán nước, nói rõ dự định của mình. Ban đầu, nhìn bộ dạng hắn, chị có hơi ngỡ ngàng, nhưng có lẽ do quen với những điều kì dị nơi này, chị vẫn tươi cười rót trà cho hắn. Khi biết hắn là nhà văn, và muốn tạo dựng một tác phẩm lớn nên phải hi sinh bản thân mình, phải bứt phá ra khỏi những ràng buộc để viết, chị rất ngưỡng mộ. Hắn ung dung ngồi nói chuyện, hỏi han về mọi người nơi xóm chợ. Cuối buổi, hắn đứng dậy tính tiền, chị chủ quán nước gạt đi.
“Bõ bèn gì vài cốc nước, chú cứ thoải mái để còn sáng tạo. Thú thực, ban đầu tôi cứ ngỡ chú tưng tửng như mấy người kia, biết đâu chú là nghệ sĩ lớn”.
Vừa nói, chị vừa hướng mắt về phía góc chợ, nơi tụ họp của những người điên ngồi gặm cỏ. Họ trần như nhộng.
Hắn cười gượng gạo, cầm tiền đi thẳng về dãy trọ.
Hắn cũng trần truồng, như họ.

7.
Hắn quyết định sẽ không khoác lên người bất cứ vật gì, chỉ riêng cái bản thể người nguyên sơ của hắn đi lại, ăn ngồi, và viết. Một nhà văn trần truồng khi viết, trần truồng để viết, không gói mình vào quần áo tất vớ, không cần những không gian sang trọng gợi tình. Hắn cứ thế mà viết, hắn sẽ viết về cái thực trạng tối tăm nơi xóm chợ này, những cô gái tha phương  dưới chân cầu sống bằng nghề dạng háng, những người điên chỉ biết gặm cỏ và cười, một cái lò mổ lợn thối um với anh bán thịt gầy nhẳng… Xã hội làm sao mà tiến bộ khi những nơi như thế này còn tồn tại, những con người này còn dật dờ sống bên lề thế giới. Ban đầu hắn cũng lo, ngộ nhỡ có ai tới mà bắt hắn vì cái sự trần truồng của hắn, nhưng đúng là chẳng có ai ngó nghiêng gì tới hắn cả, ở nơi này, mọi điều kì dị đều được dung chứa. Nhờ thế mà hắn có thể trần truồng mà viết, mà ôm giấc mộng được nổ tung như pháo hoa. Với một cơ thể không che đậy, hắn cam đoan chỉ viết những gì hắn thấy, hắn nghe, hắn tin tưởng. Sức mạnh của hắn, tính khí của hắn chỉ dành để hội tụ vào mười đầu ngón tay, chữ tràn ra, nối đuôi nhau. Một tác phẩm lớn chuẩn bị chào đời, từ một trạng thái phôi thai hoàn hảo.

8.
“Sách của chú gần xong chưa?”
Chị chủ quán nước dợm hỏi, hắn cười đắc chí bảo chỉ còn vài chục trang nữa thôi. Sách mà ra đời, hắn sẽ nổi danh, hắn sẽ công khai về nơi mình sáng tạo, để chính quyền địa phương, chính quyền trung ương quan tâm đến xóm chợ này, để mà cải thiện, mà nâng cấp, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân nơi đây. Hắn lại nhớ lời tóc vàng, “phải gần gũi với quần chúng”. Ôi, hắn ăn ở nơi xóm chợ này, hắn trần truồng giữa những con người khốn khổ nơi đây, thì còn ai gần gũi với quần chúng hơn hắn nữa?

9.
Trong xóm có đám ma, một cô gái dưới chân cầu qua đời, bị AIDS. Chẳng biết cô ở xứ nào, nhưng đã về đây thì coi như người của xóm, ma chay mọi người cùng lo, tươm tất. Còn cái tình người nơi này, hắn sẽ viết thêm một chương trước chương kết. Những con người nơi đây, tuy thấp hèn nhưng chưa mất hẳn lương tri, vẫn còn cái đẹp hiện diện đâu đó. Tuyệt vời, hắn reo lên, quá tuyệt vời, còn gì có thể tuyệt vời hơn những con chữ của hắn nữa chứ.

10.
Anh bán thịt tháo tạp dề, gọi một cốc vối.
“Chào anh nhà văn trần truồng”.
Hắn cười chào lại, bắt chuyện cởi mở. Danh xưng này ban đầu hắn hơi ngượng, nhưng giờ lại thành quen tai, nghe thinh thích. Từ trẻ con, người già, kể cả những người điên gặm cỏ cũng chào hắn bằng danh xưng ấy. Hắn tự hỏi, những người điên khi chào hắn, vì họ thấy mọi người đều chào hắn, hay chỉ vì họ thấy hắn giống mình?
“Anh quả là một người đặc biệt”.
Hắn mừng thầm khi nghe lời khen ngợi từ anh bán thịt. Từ ngày trần truồng, hắn ít nói chuyện với anh vì thấy anh hơi kín tiếng, lò mổ của anh lại gần dãy trọ, cứ bốn giờ sáng là những tiếng rú của đàn lợn bị chọc tiết vang lên, ghê rợn. Tiếng rú đó ám ảnh hắn, làm hắn lạnh đốt sống lưng, có hôm hắn định mặc quần áo vào nhưng vì đã quyết, hắn chịu rét mà dựa lưng vào tường, lôi máy tính ra gõ. Hắn dành hẳn một chương viết về cái lò mổ lợn, về tiếng rú lúc bốn giờ sáng.
“Nhưng tôi vẫn chẳng thể biết được anh có chút giá trị nào không”.
Hắn trợn ngược mắt, cái anh mổ lợn này đến là xấc xược.
“Giá như anh là một con lợn, tôi ví dụ thôi nhé, thì tôi định giá anh dễ dàng lắm. Tôi làm lông, chọc tiết, moi ra bộ lòng, từ miếng thịt đùi, miếng bả vai đến miếng sườn, đều có giá của nó, mỗi thứ lại làm đủ các món khác nhau. Lòng xào lòng luộc lòng nấu cháo, sườn rim sườn xào chua ngọt sườn kho… thôi thì đủ loại. Đơn giản như món khoái khẩu mỗi sáng của anh là bún giò thôi, thì ở đây là hai mươi nghìn một tô, còn trên thành phố thì ba mươi nhăm đến bốn mươi nghìn.”
Hắn rợn tóc gáy.
“Đằng này, anh là nhà văn, mà lại là một nhà văn trần truồng. Chưa biết tác phẩm của anh có ra tấm ra món không, chứ anh cứ trần truồng mà chỉ viết về những thứ được phủ vải liệm sặc sỡ thì chả bõ”.
Nói xong anh bán thịt đứng dậy trả tiền, chị chủ quán nước từ chối, anh dúi vào tay chị tờ bạc xanh mệnh giá hai mươi ngàn đồng.
“Cả đàn con nheo nhóc, của đâu mà cứ cho không mãi thế”.
Chị chủ quán cất tiền, thở dài.
“Cử nhân hẳn hoi, thế mà đời phũ phàng, thành thằng chọc tiết lợn”.
Hắn nhìn theo dáng đi khật khưỡng của anh bán thịt, hắn vẫn chẳng thể tin nổi đôi bàn tay cầm con dao bầu chọc tiết ấy đã từng nhận bằng cử nhân. Chân hắn bủn rủn, giữa trưa nắng gắt, hắn lại thấy lạnh buốt nơi sống lưng.
Chiếc tạp dề màu cháo lòng nằm chỏng chơ trên bàn.

11.
“Chú không trần truồng nữa à?”
Hắn chẳng biết trả lời chị chủ quán nước ra sao, đành ậm ờ bảo sách sắp viết xong, hắn thấy chẳng cần thiết phải trần truồng nữa. Hắn dè dặt nhìn về phía hàng thịt, anh bán thịt lợn đã có vợ, một cô tóc đỏ dưới chân cầu từng hành nghề dạng háng.
“Rõ khổ, con bé ấy bất hạnh lắm, cha mẹ mất cả, phải tha hương”.
 Hắn đã dành hẳn một chương để viết về những cô gái ấy, hắn viết, nếu các cô biết suy nghĩ, biết liêm sỉ thì ắt hẳn sẽ biết tìm một việc lương thiện. Nhưng hắn chưa bao giờ nghĩ vì sao các cô phải dạng háng, cũng như anh bán thịt, hắn từng viết, muốn có một lò giết mổ an toàn, phải cần những người mổ lợn tuân thủ vệ sinh an toàn thực phẩm, nhưng hắn chưa bao giờ nghĩ, lò mổ cần một cử nhân.
Còn những người điên gặm cỏ, hắn chưa bao giờ bận tâm đến họ. Hắn cho rằng họ chỉ cần một trại tâm thần. Còn hắn, trần truồng như họ, nơi nào sẽ dành cho hắn?

12.
Hắn xóa hết những trang đã viết, đau đớn.
Hắn gọi cho tóc vàng, bằng một giọng buồn thảm, hắn kể cho tóc vàng nghe những gì mình đã viết, khi đang trần truồng.
“Vậy anh muốn là một nhà văn trần truồng viết về những tấm áo đẹp, hay muốn là một nhà văn mặc chiếc áo đẹp viết về những điều trần truồng?”.
Hắn khóc nức nở.

13.
Bốn giờ sáng, hắn vẫn còn đang mơ.
Hắn mơ thấy mình ngồi trên cầu trượt, bên chiếc xích đu là tóc vàng ngồi với tư thế của cô ca sĩ  đu đưa trên quả lắc, váy hồng tung bay trong gió.
Dưới chân cầu trượt, vài đứa trẻ con, trần truồng, đang gặm cỏ non.