Chủ Nhật, 31 tháng 7, 2016

GIỚI THIỆU CHƯ YANG SIN SỐ 287 - tác giả TRẦN BĂNG KHUÊ






MỘT CÁI CHẾT TRÊN CHIẾC LOA
                                                                                                            Truyện ngắn


1.
Chiếc loa phát thanh buổi sáng ngay đầu ngõ, vừa mới dằn từng câu một lạ kì, “Cái chết ấy, chỉ mới diễn ra hôm qua đây thôi”, rồi tắt lịm. Không có bản nhạc quen thuộc nào cất lên sau đó nữa. Tất cả đều lặng im phăng phắc. Bọn ve sầu hình như tuyệt chủng trong mùa hè. Chẳng ai rảnh rỗi nhớ về chúng với những điều sến sẩm của thời tuổi trẻ hão huyền. Họ bận nghĩ ngợi về câu nói rất lạ phát ra từ chiếc loa phường hàng ngày.
Gió bắt đầu lùa rất mạnh. Mái tôn sầm sập. Trong vòng vài phút. Rồi, im phăng phắc. Trời quang. Không một gợn mây xám. Ai đó thì thào, “chuyện gì diễn ra thế nhỉ?”. Không có tiếng trả lời. Chẳng ai biết phải trả lời ra sao. Rõ ràng vậy. Câu trả lời chưa bao giờ là chuyện đơn giản.
Tôi ngước mặt nhìn lên chiếc loa. Bên cạnh chúng chỉ có mớ dây điện chằng chịt, rối mù bắc ngang ngửa. Một vài chú chim sẻ đang cố bấu chặt đôi chân nhỏ xíu của mình chuyền qua chuyền lại trên các đường dây điện. Những mảnh ghép đó quyện lại, khiến tôi liên tưởng đến một bức tường thép gai vô hình. Tôi ngắm chiếc loa lần nữa, hi vọng âm thanh của chúng sẽ quay trở lại. Dù chỉ là một giọng nói nào đó phát ra những lời kì quặc, nói về một cái chết. Cái chết nào nhỉ? Bọn se sẻ đã bay đi mất, chỉ còn một đến hai con vẫn quay qua quay lại loay hoay trên đường dây diện chằng chịt cắt ngang bầu trời.
“Có khi nào, lửa bốc lên từ những sợi dây đen ngòm ấy và đốt chết chúng không nhỉ”, tôi bất giác tự hỏi. Hôm nay tôi không đến quầy báo như thường lệ.
2.
Chủ nhật.
Các quầy báo giấy đã soạn sửa nhận nhật báo về, bấm ráp cho kịp bán trong ngày.
Thông tin lạ kì ngắn gọn từ cái loa đầu ngõ vẫn còn rền rỉ, ám ảnh chập chờn trong đầu tôi. “Hẳn là phải có chuyện gì đó chẳng hay ho gì vừa xảy ra”, tôi đứng ngay sạp báo quen thuộc, vẫn không ngớt suy nghĩ. Lật vội tờ báo ngày, tôi thấy dòng tin chạy tít khá dài “Đêm qua, tại đường x, số nhà y, phường z, thành phố n vừa xảy ra một vụ án”, sau đó, nội dung chẳng có gì, ngoài một khoảng trống đã được bôi đen đầy bí ẩn. Tôi lại dợm nghĩ, nhưng khẳng quyết rằng, “họ dứt khoát sẽ đăng lên tờ báo của mình vào cuối tuần sau về vụ việc này”.
Tôi rời khỏi quầy báo và đến quán cà phê ngã tư như thường lệ vào lúc chín giờ sáng ngày chủ nhật. Gió. Một cơn gió tạt vội, hất đống lá khô bên vệ đường tấp cả bụi mù mịt vào quán. Một vài người lấy tay che mắt, bịt mũi. Gió hẳn là không bao giờ có mùi. Tờ báo trên tay tôi rơi xuống đất. Gió lật trang báo, dòng tít kì quặc ấy tiếp tục nhảy nhót dưới hàng chữ đậm, chúng làm mờ cả mắt tôi vì mực in bị nhòe.
“Không phải là một cái chết đơn giản nhỉ?”, tôi lẩm bẩm một mình. Những người ngồi xung quanh liếc nhìn tôi, rồi cắm cúi. Họ không đọc báo. Họ đang chăm chú với các loại smartphone (hoặc là họ đọc theo cách khác, có thể lắm chứ). Nhưng, chắc chắn, chẳng ai quan tâm đến cái chết ấy đâu. Những cái chết, đôi khi không thể nào tìm thấy câu trả lời, vì sao lại chết.
Bàn kế bên tôi thì thào thì thào, tiếng thì thào lớn dần, rồi họ cãi qua cãi lại. Tôi nghe lõm bõm câu được câu mất, nhưng rõ ràng họ có nhắc đến cái chết. Chuyện một gã đàn ông tóc dài, một người đàn bà tóc ngắn đã bị chết cháy trong đêm qua vì cùng nhau chơi trò đốt tiền trong quán bar. Quái đản thật. 
3.  
Sáng nay, tôi không đến cơ quan sớm. Tôi muốn tạt qua quầy báo để tìm kiếm câu trả lời. Bà bán báo lâu năm, có khuôn mặt rất sắc, tôi sợ phải nhìn thẳng vào từng điểm trên khuôn mặt ấy. Mỗi lần, chọn báo xong, tôi rút tiền đưa và không nhìn bà. Tôi rời khỏi quầy báo một cách nhanh nhất. Nhưng, lần này, tôi buộc phải ở lại. Bà ta đang nói về chuyện chiếc loa phường gần nhà bà ấy phát một cái tin kì lạ rồi tắt ngỏm với một khách mua báo khác. Báo không đăng những tin ấy đâu. Rồi, sau đó, bà ta tiếp tục huyên thuyên về một vụ chết chóc khác trên một tờ báo mà tôi không thích. Có thể, đây là chiêu câu khách mua báo của bà ta. Cũng chẳng hề hấn gì hoặc liên quan gì đến tôi. Nhưng, cách kể của bà ta khiến tôi phải chậm lại việc rút tiền chỉ để thỏa trí tò mò của mình.
Ngay trong đêm qua đây thôi. Đại thể như thế này, đơn giản là như thế này, không cần phải dài dòng gì cả chú ạ, Sau một đêm mê ngủ, tại cung đường x, tọa độ y, một đôi nam thanh nữ tú quấn lấy nhau trần truồng. Họ đã đốt hết bóng tối vào đêm qua, để được trần truồng như adam eva cắn chung một trái táo đỏ bằng nụ hôn đầy lửa. Dưới phần tin tức có kèm theo một ghi chú nhỏ: Bên cạnh xác đôi nam nữ ấy, còn mập mờ một dấu vết màu đen khá lớn, có hình dáng của một con người in hẳn xuống nền đất lạnh.
Tôi nghĩ về chiếc loa phường ngay đầu ngõ nhà mình, hẳn là cái chết ấy rồi. Những cái chết không rõ ràng, không bao giờ được công bố vì một lí do nào đó.
4.
Ngày hôm sau, tôi lại đến quầy báo quen thuộc ấy.
Tôi xem lướt những trang đầu. Vì chúng chỉ là những tin tức linh tinh. Sau cùng, hẳn sẽ là mục văn chương, phần tôi quan tâm nhất. Những hình ảnh minh họa cho câu chuyện của một tác giả nào đó đập vào mắt tôi. Đường dây điện, những con chim se sẻ bấu chặt đôi chân trên nền trời màu xám, chiếc loa, tất cả đều được lồng ghép vào nhau bằng một thứ màu rất tối.

Bà bán báo không còn nhếch mép để khoe khoang về những cái chết trong các vụ án gần đây trên báo nữa. Bà ném cái nhìn về phía tôi. Đôi mắt sắc lạnh của bà, đôi chân mày xăm màu xanh rờn rợn của bà khiến tôi chỉ muốn rời quầy ngay lập tức.
5.
Mẹ tôi vẫn cắm cúi trong vườn. Những nhát cuốc của mẹ bổ phầm phập xuống đất. Mẹ thấy tôi về, liền hào hển vừa thở vừa nói, “may quá, tối qua trời mưa, đất mềm hẳn”, rồi sau đó mẹ lại đệm thêm vài lời kì quặc, “sáng nay chiếc loa phường ngay ngõ nhà mình sao chỉ phát mỗi câu ấy rồi tắt ngỏm nhỉ?”.
Tôi lẳng lặng chào mẹ rồi lủi ra sau bếp, quẳng tờ báo vào lò than. Tờ báo bén lửa. Cháy loang ra tạo thành từng mảng xác tro đen kịt. Khói ngập ngụa. Khói tràn vào cuống họng tôi, chạy xuống phổi. Rát bỏng.
Bất giác, tôi không muốn nghĩ về cái tin lạ kì ngắn ngủi phát trên loa vào buổi sáng hôm nọ nữa. Tôi thấy đói. Tôi nhớ ra, hình như trên bàn còn có một quả táo đỏ. Nhưng, gần cả tuần rồi, mà chúng chưa hỏng. Hay thật. Tôi liếc nhìn quả táo, cảm giác muốn ăn bỗng nhiên biến mất. Quả táo thì không, chúng vẫn tồn tại hiển nhiên trên mặt bàn. Hình như, chúng sẽ không bao giờ hỏng. Đầu lưỡi tôi dờn dợn dư vị của những quả táo. Chúng đắng nghét và có mùi khét như những câu chuyện cổ tích cũ kỹ khiến tôi buồn nôn.
6.
Mặt trời lại đốt lửa trên những ngọn cây cao ngất.
Một cây gạo.
Một cây phượng đỏ.
Khi mặt người còn mê ngủ, họ, hẳn sẽ chẳng bao giờ muốn nghe về những cái chết kì quặc nào khác xung quanh mình.
Đêm qua, hình như mưa rất lớn, sấm rất to. Đường dây điện đã xẹt lửa.
Sáng dậy, thấy mẹ loay hoay quét trước ngõ. Mẹ nhìn lên đường dây điện, lẩm bẩm vừa đủ để tôi nghe thấy, “tội nghiệp bầy se sẻ bé bỏng”.





Thứ Năm, 28 tháng 7, 2016

CHUYỆN LẠ BÊN SÌNH - HỒNG CHIẾN




          Cây mai già đứng bên bến nước nghiêng mình tung những chiếc lá vàng cuối cùng theo cơn gió quay cuồng gào thét bước qua. Những cành cây không còn một chiếc lá đong đưa vờn theo gió báo hiệu sáu tháng mùa mưa đã qua, chuẩn bị đón một mùa khô nữa sẽ đến. Mùa khô cũng là những ngày bắt đầu của một năm mới và lũ học trò phổ thông lại được nghĩ mấy ngày xã hơi sau những kỳ thi hết học kỳ căng thẳng, vất vã.
          Lẽ ra H’Chí không phải vào rừng một mình, nhưng Ama đi công tác xa, Amí đang mệt mà người đau nhiều quá. Amí phàn nàn mãi chuyện người lớn bây giờ nhậu nhiều quá, lại uống toàn rượu tây nồng độ quá cao làm cho gan không chịu nổi nên nó hư. Vì cái gan hỏng làm cho da người vàng như nghệ, bụng to như đàn bà có bầu. Thuốc tây tốt đó nhưng gặp căn bệnh này bó tay không chữa được, vì vậy họ mới cần đến amí giúp đỡ. Từ lâu rồi, không biết các cụ tổ từ đời nảo, đời nào truyền lại cho con gái trong dòng họ những lá, vỏ, rễ, củ... của các loại cây mọc quanh nhà hoặc trong rừng có thể cứu được con người khỏi bệnh. Có lẽ chỉ ở rừng Tây Nguyên này mới có loài cây chữa được bệnh về gan. Nhiều người ở thành phố đi ôtô đẹp như trong tranh đến xin thuốc chữa bệnh gan. Nhưng ông to bụng nhiều quá, cây thuốc ở gần không còn nên đành phải đi rừng xa.
          Dòng họ Niê biết khu rừng phía sông Hai, sông Ba có nhiều cây thuốc quý nhưng không ai dám vào vì sợ không tìm được đường ra. Người trong vùng vẫn gọi cánh rừng ấy là “rừng lạc”, “rừng thiêng”. H’Chi có lần hỏi thầy giáo chủ nhiệm về hiện tượng lạ của khu rừng này; thầy bảo: do rừng nhiều cây cổ thụ che lấp cả ánh mặt trời, đất rừng bằng phẳng, không có đồi núi cao xen vào, khe suối lại ít; vì vậy người ta vào rừng không biết mặt trời ở đâu, không biết phương hướng Đông - Tây ở phía nào nên dễ bị lạc. Nhưng mọi người quên một điều, gió quê ta thổi theo mùa; mùa mưa gió thổi từ tây qua đông, còn mùa khô ngược lại. Nếu vào rừng không tìm được hướng thì đốt thuốc lên, nhìn hướng khói bay sẽ biết phương hướng mà về. Tin cái lời thầy nói và cũng muốn làm vui cái bụng của amí, làm đẹp cho cái bụng cánh đàn ông ham nhậu, H’Chi quyết định vào rừng thiêng hái thuốc.
          Người dân tộc Ê Đê vào rừng như người ra ruộng, ra rẫy nhà mình vậy thôi, sau lưng đeo chiếc gùi đan bằng tre, mây, song kết hợp có thể gùi được bốn chục ký, trên vai bao giờ cũng có cây xà gạc. Ama mua cho H’Chi con dao này được nửa mùa rẫy rồi. Ama bảo: con gái được mười lăm mùa rẫy là lớn rồi đấy, đi rừng phải có xà gạc mới cho phù hợp.
          Cây xà gạt của người Ê Đê, lưỡi thép dài độ hai lăm, ba mươi xăng - ti-mét, tra vào cán lằm bằng cây song dài độ một mét, đó là vật bất ly thân của tất cả mọi người dân khi vào rừng. Cây xà gạt không chỉ là dụng cụ lao động bình thường mà còn là thứ vũ khí tùy thân quan trọng. Khi di chuyển trong rừng xà gạt luôn luôn được vác trên vai và điều đó làm cho các loài thú dữ như: Hổ, Báo, gấu... không dám tấn công con người từ phía sau. Loài thú dữ ăn thịt bao giờ cũng rình, chờ con mồi đi qua bất ngờ lao ra để vồ, tư thế bổ từ trên trời xuống. Vì vậy với chiếc xà gạt vác trên vai, lưỡi dao quay về phía sau lưng giống như một cái rừng nên chúng sợ không dám vồ.
          H’Chi bật cười một mình khi nghĩ tới những điều sơ đẳng, đơn giản nhưng thật quý giá mà cha ông truyền lại. Mãi nghĩ, đặt chân vào rừng lúc nào không biết. Cánh rừng thật đẹp, cây mọc từ bao đời như được người gieo trồng xòe tán che kín mặt trời, hiếm hoi lắm mới có được giọt nắng rơi xuống nền đất rừng ẩm ướt, mát lạnh. Càng đi, càng thấy rừng đẹp quá, đẹp hơn cả những trang sách thầy cô đã dạy. Vừa đi, vừa quan sát tìm cây thuốc chặt bỏ vào gùi, H’Chi vừa ngắm cảnh thiên nhiên hùng vĩ, thơ mộng. Bổng có tiếng la hét ồn ào ở phía trước vọng lại, làm H’Chi tò mò lần tới.
          Khu rừng có cây cối to cao là vậy mà bổng nhiên như có một bàn tay khổng lồ nào đó vét sạch đi một mảng rừng rộng lớn, để trơ lại một khu sình lầy thụt sâu xuống tới hơn hai mét so với mặt đất xung quanh, mặt sình mọc toàn một loài cỏ chỉ xanh rờn. Vây quanh khu sình, một bầy khỉ khá đông có bộ lông xám đen, đuôi ngắn tí tẹo; con rung cây, con đu cành, con nhảy chồm chồm trên mặt đất la hét inh ỏi cổ vũ cho mấy con khỉ khác không biết bằng cách nào đang ngồi vắt vẻo trên mấy hòn đá giữa sình. Bầy khỉ mãi chơi không biết H’Chi đến bên cạnh và phát hiện ra điều lạ: dưới đám sình cứ hai con khỉ ngồi lên một hòn đá đen bóng to hơn chiếc chiêng. Khác với đàn khỉ trên bờ, những chú khỉ ngồi trên mấy hòn đá hoàn toàn im lặng ra vẽ suy tư, hai tay bám chặt xuống hòn đá. Lạ chưa, hòn đá tự di chuyển được. Bốn hòn đá mang theo tám con khỉ, mỗi con phải trên hai chục ký chứ không nhỏ hơn đang nhích dần, nhích dần ra giữa sình nơi mọc một đám cây nhìn qua giống cây rau răm nhưng lá to và cao hơn nhiều. Hòn đá đầu tiên tiến đến sát bụi cây giống cây, hai con Khỉ vội vã giơ tay vơ lá, giật cây nhét vào mồm cho đến lúc cây và lá chống hai hàm lên để lộ những chiếc răng vàng khè, cáu bẩn. Lúc đó “hòn đá” mới từ từ quay vào bờ nhường chỗ cho “hòn đá” sau tiến đến. Nhìn hai con khỉ mồm nhét đầy lá cây thò cả ra ngoài; mắt trợn ngược, trông đến buồn cười. “Hòn đá” di chuyển vào gần bờ trong tiếng reo hò của bầy khỉ. Những con khỉ trên các cành cây đều vội vã xuống đất cố chen lấn ra sát mép sình đón hai con khỉ trở về.
          H’Chi không tin vào mắt mình khi nhìn thấy hai con khỉ vừa được kéo lên khỏi mặt sình vội móc lá trong mồm đưa cho một con khỉ đực to lớn, có bộ râu trắng như cước, con này cầm từng lá chia cho cả đàn. Bầy khỉ đông là thế, ồn ào là thế mà không con nào tranh giành của nhau những ngọn lá được lôi ra từ trong mồm hai con khỉ vừa đi lấy về. Mồm khỉ nhìn nhỏ chỉ bằng một nắm tay, vậy mà đựng được nhiều lá quá. Lạ thật, không biết vì sao chúng lại chia nhau những chiếc lá ấy nhỉ?
-         H... óc !
Bổng có tiếng khỉ thét lên có vẽ đau đớn làm H’Chi giật mình. Ngay sát mép sình, một con khỉ có lẽ vô tình trượt chân, liền bị một con rắn từ dưới đám cỏ bất ngờ lao lên cắn đúng vào chân lôi xuống. Con rắn da đỏ như lửa, đầu có mào như mào gà, màu vàng óng ả đang cố sức lôi con khỉ tội nghiệp xuống sình cỏ. Sau lúc bị bất ngờ, lũ khỉ vội quay lại, con này bám vào chân con kia như người Kinh chơi trò kéo co cố gắng cứu con khỉ bị nạn. Có lẽ do sức kéo của cả bầy khỉ quá lớn nên con rắn phải nhã mồi, con Khỉ bị kéo mất một mảng da chân, máu chảy ròng ròng, mắt trợn ngược, bọt mép xùi ra cả cục; chắc nọc độc con rắn đã ngấm vào thân. Bầy khỉ chí chóe, xô đẩy, chen nhau vào gần con khỉ bị thương, nhả lá trong miệng nhét vào mồm, đắp vào vết thương. Như có phép mầu, máu ngừng chảy, chỉ một lát sau con khỉ bị thương đã ngồi dậy, được đàn công kềnh kéo lên ngọn cây cao. Mấy con khỉ ngồi trên các hòn đá biết đi được bầy khỉ sắp hàng thành một dây khỉ, con này nắm chân con kia treo từ ngọn cây cao sát mép sình xuống gần mặt cỏ kéo lên. “Thang” làm bằng dây khỉ quả là một sáng kiến tuyệt vời của khỉ. Con ở dưới quay người lại leo qua thân các con khỉ khác lên cây và cứ tuần tự như vậy chỉ một chốc chúng đã tản ra trên các cành cây chia nhau những ngọn lá hái dưới sình rồi kéo nhau bỏ đi.
          Chờ bầy Khỉ đi khỏi, H’Chi lại chỗ con khỉ bị thương nằm lúc trước nhặt được mấy mảnh lá vương vãi và kêu lên thích thú .
-         Zàng ơi, cây này ở rẫy mình nhiều lắm mà!
Thật may mắn và bất ngờ tìm thêm được cây thuốc quý, H’Chi lại sát mép sình quan sát mấy “hòn đá” biết đi đang xúm lại ngay gần chỗ con rắn đỏ bất ngờ cắn khỉ lúc nảy. Lại thêm một điều ngạc nhiên nữa, những “hòn đá” biết đi đen bóng chính là những con rùa, trên mai của chúng có những ô như hình cánh hoa sen và đặc biệt hơn mai rùa cũng có hình như được một nhà điêu khắc tài ba chạm trỗ, đường viền quanh mai rùa là những hình cánh hoa sen hết sức cân đối. Bầy rùa đang xúm vào đống quả mít rừng ăn ngon lành. Chắc những quả mít rừng to như nắm tay người lớn được bọn khỉ mang đến đây tặng rùa đấy! Chúng khôn thật, vậy lá cây ấy có tác dụng gì nữa mà bầy khỉ phải liều lĩnh đến đây hái như vậy? Phải về hỏi amí mới được!

          Bật lửa châm que hương mang theo, H’Chi đi ngược theo làn khói để ra khỏi rừng, vì lúc vào đi xuôi gió mà. Vui cái bụng vì hái được nhiều cây thuốc  như ý lại còn vô tình tìm thêm được cây thuốc mới, H’Chi tự nhủ ngày mai đến lớp nếu kể chuyện này cho các bạn nghe chắc chả ai có thể tin trong rừng thiêng lại xảy ra chuyện lạ đến thế. Nhưng nếu bạn không tin xin hãy đến đó một lần cho biết, vì đó là rừng thiêng mà!

GIỚI THIỆU CHƯ YANG SIN SỐ 287 - tác giả TRẦN THỊ ÁNH NGUYỆT

Nhà văn TRẦN THỊ ÁNH NGUYỆT



HOA HỒNG VÀNG
Truyện ngắn



Ánh mai dần phủ trên mình vạn vật một tấm lụa hồng nhạt. Cây cối như lung linh hơn khi khoác chiếc áo lấp lánh được đính bằng kim tuyến bởi những hạt sương long lanh. Những cơn gió xôn xao đẩy đưa hương nguyệt quế trong làn sương mỏng ẩm ướt và nồng nàn. Nhung đang tận hưởng không khí trong lành của buổi sáng tinh khôi, chợt tín hiệu của hộp thư lóe lên, cô nhẹ nhàng mở hộp thư.
- Hoa hồng vàng, chúc buổi sáng an lành.
- Vâng, chúc anh ngày mới như ý.
- Khởi đầu mỗi buổi sáng với nụ cười thật tươi em nhé, để bao muộn phiền thả cho gió cuốn đi.
Mười ngón tay gõ ràn rạt trên bàn phím với bao cảm xúc dâng tràn. Những lời thoại của anh và cô cứ kéo dài theo thời gian. Bốn năm trước, Nhung quen anh trên facebook. Khi ấy Thành, chồng Nhung đã làm cho trái tim cô đầy vết xước. Cô cũng giống bao người phụ nữ khác, luôn mong chồng yêu mình bằng tình yêu của hòn than rực cháy. Để giữ gìn hạnh phúc, cô làm sợi lạt mềm buộc chặt. Nhưng mọi niềm vui và hi vọng đều vỡ vụn sau một thời gian hai vợ chồng chung sống với nhau, anh như biến thành một con người khác. Nhiều lần, Nhung đã thủ thỉ vào tai chồng:
- Ngày yêu nhau, anh ngọt ngào như viên socola ấy. Em mong hai vợ chồng mình quấn quýt như đôi chim câu, luôn yêu thương nhau để thấm đậm trong tim tình chồng nghĩa vợ.
Thành liền gạt phắt:
- Ngày ấy, không ngọt ngào thì sao chiếm được tình cảm của em. Bây giờ đã là vợ chồng rồi nếu cứ ngọt ngào là để vợ ngồi lên đầu lên cổ à!
Mặc cho Nhung lý giải nhưng quan điểm cứng nhắc đó được bồi đắp theo thời gian, Thành ngày càng tỏ rõ là một người độc đoán và gia trưởng. Thành là dân kinh doanh, luôn vắng mặt cả ngày lẫn đêm. Những lúc hiếm hoi có mặt ở nhà thay vì lời nhẹ nhàng dành cho vợ, Thành luôn ném vào cô những lời nặng như đá khô khốc và trịch thượng. Mỗi lần, con bị ốm khóc đêm, Thành không chia sẻ nỗi nhọc nhằn mà còn dùng những lời chì chiết vợ: “Có mỗi chăm con mà cũng không nên hồn, đừng làm đàn bà nữa”.
Nhung tìm mọi cách tô đậm những yêu thương đã phai trong lòng chồng nhưng mọi cố gắng đều vô vọng, Thành luôn tạo một vực thẳm ngăn cách hai vợ chồng bằng sự hằn học được liếc mài của những ghen tuông vô cớ. Thành cho rằng, làm chồng là phải giữ được cái quyền tối thượng, luôn chứng tỏ mình là bề trên, trước mặt người lạ quát nạt vợ không thương tiếc. Nhiều lần, Nhung muốn tranh luận với Thành mong phần nào gỡ nút cho cuộc sống vợ chồng. Nhưng mỗi lần tranh luận với chồng, cô chỉ rước thêm muộn phiền, những lúc đó Thành như một quan tòa hăng hái buộc tội vợ một cách quyết liệt với cái kiểu nói như trói như buộc. Nhung đành nín nhịn khi nhìn vào ánh mắt hoảng hốt của đứa con gái mỗi lần nghe tiếng cha quát to để lấn át mẹ, sẵn sàng dùng vũ lực và ném đồ đạc khi mẹ nó tranh luận cho ra lẽ đúng sai. Càng ngày, cô càng thấy hạnh phúc mong manh quá, một trăm chỗ lệch kê sao cho bằng, kê không cẩn thận sẽ bị đổ và vỡ toang, cô miệt mài kê mà vẫn cứ đổ vỡ, rồi cô lại phải tự chắp vá. Nhung không nhớ đã bao lần cô khóc rồi lại tự lau khô nước mắt cho mình bởi Thành luôn vùng vằng bỏ đi khi nước mắt của cô rơi lưng chừng. Cô chỉ còn lại nỗi cô đơn sau rất nhiều dâng hiến. Đêm đêm nước mắt không ngừng chảy, thấm vào tận đáy lòng lạnh giá. Nhung tìm cách lãng quên bằng việc cần mẫn chăm chút cho cô con gái nhỏ, đắm mình trong tình mẫu tử, lấy việc viết lách làm nguồn vui. Thành luôn khó chịu và tuôn ra những câu cay độc mỗi khi Nhung miệt mài bên những trang viết. Tình yêu Nhung dành cho chồng rơi rụng theo thời gian.
Người xoa dịu nỗi buồn trong lòng Nhung là anh, như một sự sắp đặt của duyên phận, những truyện của cô đăng lên báo, anh đọc mà nghe như tiếng lòng của người đàn bà đang cố kìm nén tiếng thở dài chưa thể thoát ra từ lồng ngực. Anh muốn là người gom hết bao đau thương trong lòng cô như mùa đông gom hết gió rét, sương lạnh để cho xuân về trăm hoa đua nở. Mặc dù anh chỉ là người tình cờ đã tìm và làm quen với Nhung trên facebook. Những lời chia sẻ đầy ắp sự chân thành. Ở những dòng chia sẻ ấy, anh mong muốn mình tạo ra một phép lạ có thể chở che cho những tổn thương mà cô đang mang. Anh đã thắp lên trong cô ngọn lửa tưởng đã lụi tàn. Nhung lấy lại được thăng bằng trong cuộc sống, vơi dần sự cô quạnh, lòng dịu lại và tâm hồn được tái sinh. Cứ thế yêu thương được nối dài theo bước thời gian. Nhiều lần anh mong được cùng cô bước ra khỏi trang mạng ảo để gặp nhau giữa cuộc đời thực vì cô đã khiến anh thật sự rung động, hồi hộp và chờ mong. Nhưng với Nhung, tuy rằng cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc nhưng cô luôn cố gắng để làm tròn bổn phận của người vợ. Cô luôn cố giữ khoảng cách với anh, gói gọn những khát khao như một nốt trầm sau những phút giây phá rào, rồi lại bị những dằn vặt bởi cảm giác tội lỗi của một người đàn bà đã có chồng. Cô thương anh, người đàn ông đã một lần gãy gánh khi người vợ cũ đi du học và quyết tâm ở lại trời Tây, bao năm anh sống cô độc. Nhưng Nhung phải cho con cô có một gia đình đầy đủ, không thể nghe theo tiếng gọi trái tim để con phải chịu thiệt thòi. Nỗi lòng cô được giấu kín như màn đêm thăm thẳm, dịu dàng, đam mê và trắc trở. Nhiều lần, anh nói rằng: “Khi em đau nhất, không thể bước tiếp được, anh sẽ nắm tay đưa em đến nơi có một trái tim biết thắp lửa”. Rồi anh đưa cho cô một địa chỉ với lời nhắn gửi: “Nơi ấy luôn chờ đợi em”.
Đêm cao nguyên với những tiếng gió dài hun hút, rít lên từ một cõi sâu thẳm cô đơn dội vào lồng ngực. Nhung lặng lẽ nhìn ra màn đêm. Trong lòng cô dâng lên một nỗi nhớ mang hình trái tim, đang thao thức với  nỗi nhớ, bỗng tiếng con cô ú ớ rồi nức nở trong giấc mơ:
- Ba mẹ ơi, đừng bỏ rơi con…
- Con của mẹ ngủ ngoan, ba mẹ không bỏ rơi con đâu…
Cô vỗ nhè nhẹ vào lưng để con có giấc ngủ yên lành. Tiếng mở cửa lạch cạch, Thành về xộc thẳng vào phòng và lên tiếng.
- Cô ra đây!
Thành liền ném thẳng tờ báo trước mặt cô và gằn lên từng tiếng:
- Tôi đã cấm cô viết mà còn lén lút bêu riếu tôi. Mọi người khi đọc bài này đã bóng gió mỉa mai tôi. Thứ đàn bà thúi thây, cha mẹ cô không biết dạy dỗ nên mới mất nết với chồng, dám đưa tính cách của chồng lên mặt báo!
Đến lúc này, không thể nhịn, cô đứng phắt dậy, hít một hơi thật sâu, cứng rắn giọng ráo hoảnh:
- Anh có thể xúc phạm tôi nhưng cấm đụng đến cha mẹ tôi. Từ trước đến nay, tôi nhẫn nhịn và chịu đựng anh vì muốn con có đủ cả cha lẫn mẹ. Qua những ứng xử hàng ngày sẽ biết ai là người mất dạy…
Thành gầm lên như một con hổ, lao về phía cô:
- Hỗn láo, dám nói tao mất dạy hả?
Năm ngón tay hằn lên má Nhung. Người cô lạnh băng, trơ lì ra. Tình nghĩa vợ chồng hơn 6 năm cô đã cố vun đắp giờ đã vỡ vụn. Cô mở to mắt nhìn Thành như một người xa lạ. Không thể trì hoãn nữa, cô phải tự cởi trói cho mình, mắt cô hoang dại nhìn ra trời đêm. Đêm đã muộn, ánh sao le lói cuối trời rọi vào lòng cô ngổn ngang đổ vỡ. Cô nghe như tiếng của ai vọng ra từ đất, rơi xuống từ trời, là tiếng của anh đang gọi Nhung ở nơi ấy. Bóng đêm như dắt cô đến nơi mà anh vẫn thường nói “Nơi thắp lửa trái tim”. Ngôi nhà ấy đang ở trước mắt Nhung, cô như chìm trong mơ trong mộng khi những ngọn nến hoa lung linh tỏa sáng, vạn đóa hồng vàng, loài hoa mà cô yêu thích đang khoe sắc. Anh đang say sưa tấu lên bản “Sonat ánh trăng” để chào đón Nhung. Cô bỗng thấy thời gian như ngừng trôi, như chìm trong ánh sáng nhè nhẹ của những ngọn nến, giữa hư và thực, giữa quá khứ và hiện tại, giữa tình yêu và nỗi đau. Khi bản nhạc kết thúc, giọng anh trầm ấm.
- Anh luôn dõi theo em và đã biết tất cả. Anh đã chờ đợi giây phút này lâu lắm rồi. Tuy không phải là một người đàn ông hoàn hảo, nhưng anh hứa không để em rơi nước mắt.
Nhung xúc động, nước mắt lăn dài trên má. Giây phút này, cô đã từng ao ước. Cô sẽ bỏ lại sau lưng tất cả lễ giáo, những thị phi để đến với anh. Anh nhẹ nhàng nắm lấy tay Nhung, người cô run lên, mọi thứ quay cuồng. Trong tâm thức, Nhung đang nghe tiếng khóc, tiếng thét. Đúng rồi là tiếng khóc của con gái. Nhung ngoái đầu nhìn lại, sợi lạt mềm lơ lửng trước mắt cô.


Thứ Tư, 27 tháng 7, 2016

QUY CHẾ XÉT GIẢI HÀNG NĂM HỘI VHNT DAK LAK Nhiệm kỳ 2015 - 2020

UBND TỈNH ĐẮK LẮK
HỘI VĂN HỌC NGHỆ THUẬT
       -----------e&f---------

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
                              -------------e&f-----------

                       Đắk Lắk, ngày 28 tháng 6 năm 2016

                             
QUY CHẾ
XÉT TẶNG GIẢI VĂN HỌC NGHỆ THUẬT HÀNG NĂM
(Ban hành kèm theo Quyết định số 16/QĐ-VHNT, ngày 28 tháng 6 năm 2016)


- Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Hội Văn học Nghệ thuật quy định trong Điều lệ Hội Hội Văn học Nghệ thuật Đắk Lắk đã được Đại hội lần thứ VI thông qua và Uỷ ban Nhân dân tỉnh Đắk Lắk phê duyệt theo Quyết định số  2760/UBND ngày 15 tháng 10 năm 2015.
- Căn cư Nghị quyết hội nghị lần thứ IV Ban chấp hành Hội Văn học Nghệ thuật Đắk Lắk khóa VI, ngày 25 tháng 6 năm 2016.
- Ban chấp hành khóa VI, nhiệm kỳ 2015 – 2020 Hội Văn học Nghệ thuật Đắk Lắk ban hành Quy chế xét giải hang năm, nhiệm kỳ 2015 – 2020 như sau:

Điều I – Những quy định chung:
Mục đích:
Giải thưởng văn học nghệ thuật hàng năm của Hội VHNT Đắk Lắk là giải thưởng dành cho các tác phẩm, công trình văn học nghệ thuật có chất lượng cao nhằm động viên đội ngũ văn nghệ sĩ là hội viên Hội VHNT Đắk Lắk nhiệt tình, hăng say sáng tạo VHNT.
Điều II – Cơ cấu, chức năng và quyền hạn của các bộ phận:
1. Hội đồng Giải thưởng:
Hội đồng Giải thưởng gồm các thành viên của Ban Thường vụ Hội VHNT Đắk Lắk.
Hội đồng Giải thưởng chịu trách nhiệm ấn định cơ cấu giải thưởng (tuỳ theo chất lượng và số lượng tham gia dự giải của mỗi chuyên ngành để ấn định mức giải: A-B-C; tuỳ theo nguồn ngân sách mỗi năm của Hội cho phép để định mức thưởng cho mỗi hạng giải), ấn định thời gian xét và trao giải; tổ chức các cuộc họp liên quan đến công tác xét và trao giải.
 Hội đồng Giải thưởng có quyền quyết định về số lượng thành viên Ban Giám khảo của mỗi chuyên ngành VHNT; căn cứ vào đề xuất của Hội đồng Giám khảo để quyết định trao giải.
2. Hội đồng Giám khảo:
- Hội đồng Giám khảo có nhiệm vụ giúp Hội đồng Giải thưởng trong quá trình xét tặng giải thưởng VHNT hàng năm của Hội VHNT Đắk Lắk.
- Hội đồng Giám khảo là các thành viên của Hội đồng Nghệ thuật.
- Mỗi chuyên ngành có một Ban Giám khảo hoạt động độc lập dưới sự chỉ đạo của Hội đồng Giải thưởng. Khi cần thiết, Hội đồng Giám khảo có thể triệu tập họp các Ban Giám khảo để thống nhất việc đề nghị trao giải.
- Ban Giám khảo làm việc trên nguyên tắc tập trung, dân chủ, bình đẳng, chí công vô tư trong quá trình xét, xếp loại tác phẩm, công trình VHNT tham gia dự giải
- Thành viên Ban Giám khảo không được tham gia việc bình xét giải cho tác phẩm của mình.
Điều III – Các tiêu chí để xét tặng giải VHNT hàng năm:
1. Tác giả, tác phẩm gửi tham gia  xét tặng giải thưởng:
- Đối tượng gửi tác phẩm dự giải là hội viên Hội VHNT Đắk Lắk, trong thời gian dự giải không bị hình thức kỷ luật nào.
- Một tác giả có thể gửi tác phẩm tham gia dự xét giải ở nhiều chuyên ngành khác nhau.
- Mỗi tác giả chỉ được nhận giải thưởng cao nhất trong số các tác phẩm tham gia dự xét giải của mình ở mỗi chuyên ngành.
- Tác phẩm tham dự giải phải là những tác phẩm được công bố, trình diễn, xuất bản… trong khung thời gian quy định của giải thưởng.
2. Đơn vị tính đối với tác phẩm dự xét giải cho từng tác giả:
- Âm nhạc: tập sách, 1 tác phẩm có quy mô lớn hoặc từ 3 đến 5 tác phẩm, đã được công bố trên báo chí hoặc được trình diễn từ cấp tỉnh trở lên (gửi bản in hoặc băng đĩa thể hiện).
- Thơ: là tập sách đã được xuất bản (nếu là tác phẩm lẻ: 8 tác phẩm). 
- Văn xuôi: là tập sách đã được xuất bản (nếu là tác phẩm lẻ: 4 tác phẩm). 
- Lý luận phê bình: là tập sách đã được xuất bản (nếu là tác phẩm lẻ: 3 tác phẩm). 
- Sân khấu – Điện ảnh: là những tác phẩm được công bố lần đầu trong thời gian quy định của giải thưởng (gửi băng đĩa - từ 1 đến 4 tác phẩm).
- Nhiếp ảnh: tác phẩm lẻ hoặc bộ tác phẩm đã được triển lãm hoặc đăng tải, giới thiệu trên báo chí (không quá 04 tác phẩm lẻ hoặc không quá 02 bộ tác phẩm – kích cỡ: 30cm x 45 cm, ảnh vuông kích cỡ 30cm x 30cm, ảnh panorama chiều dài nhất không quá 45cm).
- Mỹ thuật: tác phẩm hoặc một cụm, bộ tác phẩm (bản gốc) đã được triển lãm (không quá 5 tác phẩm lẻ hoặc 3 cụm, bộ tác phẩm).
- Kiến trúc: bản thiết kế tổng thể, ảnh toàn bộ công trình đã xây dựng xong, ảnh bố trí nội thất tiêu biểu (không quá 3 tác phẩm).
- Sưu tầm - Nghiên cứu văn hoá dân gian: công trình đã được công bố (sách hoặc băng đĩa - không quá 3 tác phẩm).
3, Quy định về tiêu chuẩn để đánh giá tác phẩm:
* Tác phẩm tham gia dự xét giải phải đảm bảo:
- Giá trị về nội dung tư tưởng: đúng quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước.
- Giá trị về nghệ thuật: có sự tìm tòi, sáng tạo trong cách thể hiện.
- Giá trị phổ cập, phục vụ, giáo dục, tuyên truyền đồng bào các dân tộc trong tỉnh. Ưu tiên những tác phẩm có đề tài phản ánh về Đắk Lắk, chiến tranh cách mạng hoặc những chủ điểm lớn trong năm.
- Gửi tham dự đúng thời gian yêu cầu của Ban Tổ chức.
* Những tác phẩm không được tham gia xét giải:
- Nội dung tư tưởng thiếu lành mạnh, không phù hợp với thuần phong mỹ tục của dân tộc, trái với chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước. 
- Những tác phẩm công bố ngoài khung thời gian quy định.
- Những tác phẩm của các tác giả không phải là hội viên của Hội.
Điều IV – Những quy định khác:
- Khi gửi tác phẩm phải kèm theo bản fotocopi hoặc giấy xác nhận... về việc đã công bố tác phẩm.
- Nếu tác giả cố tình gửi những tác phẩm hoặc công trình VHNT đã được công bố ngoài khung thời gian quy định để tham dự (trừ những tác phẩm lẻ đã công bố trước đó mà nay được tập hợp thành tập sách, đĩa CD, bộ hoặc cụm tác phẩm) khi bị phát hiện, mặc dù đã được trao giải, Hội đồng Giải thưởng có quyền tước giải và đình chỉ tác giả dự giải từ 3 đến 5 năm tiếp theo, thông báo trước toàn thể hội viên.  
- Trong quá trình thực hiện, nếu nảy sinh những vấn đề mới, Hội đồng Giải thưởng có quyền xem xét và điều chỉnh cho phù hợp.
Quy chế này có hiệu lực kể từ ngày ký.

                                                                        
                                                                          TM. BAN CHẤP HÀNH



Thứ Ba, 26 tháng 7, 2016

GIỚI THIỆU CHƯ YANG SIN SỐ 287 - tác giả PHẠM THỊ THÚY QUỲNH




MỘT ÁNH TRĂNG THỪA
Truyện ngắn


1.
Tới nửa đêm mưa mới ngừng lại, sau dinh thự quan Án, nước rỏ giọt đánh ting tang trên những ang nước nơi căn bếp lúp xúp, cũng là chốn ăn ngủ của mẹ con Lụa. Vì chuẩn bị chậm bữa cơm chiều, thị đã phải ăn mươi đòn phất trần của bà chủ. Bà cứ vụt thẳng tay, không nương tình, làm giờ này lưng thị rát đỏ như phải bỏng, chẳng nằm đàng hoàng được, cứ lật úp người mà rên hừ hừ.
Cái Gái đút từng thìa canh thừa mới giấu hâm lại vào miệng u, chốc chốc lại nấc lên. Lụa thấy mình như sắp chết đến nơi, người đã mỏi lắm mà không sao trở mình nổi.
- Con đỡ u ngồi dậy nhá? – Cái Gái bảo.
Lụa không nói gì, con thị đặt bát canh sang một bên rồi se sẽ vực u nó dậy.
- Con đi múc cho u gầu nước mưa, u xót ruột. – Lụa vuốt vuốt ngực.
- Con chẳng, nước mưa độc lắm.
- U biết, nhưng u nóng ruột quá, con cứ múc cho u một hớp thôi cũng được.
Cái Gái lắc đầu quầy quậy:
- U thương con, u gắng ăn nốt bát canh này cho ấm người.
Lụa thở dài thườn thượt, thị thực không thể đổ bệnh được, đổ bệnh ở đây chỉ có nước chết. Rồi ai sẽ cho con thị ăn?
Lụa bỗng giật mình đánh thót, phải, giờ thị cảm thấy mình yếu lắm, dù trước đây vẫn nghĩ bản thân là mạnh khỏe. Nhỡ thị chết rồi, cái Gái phải làm sao? Giờ nó đã mười bốn, vài tháng nữa thôi là bước vào độ trăng, càng ngày càng xinh xẻo, giờ đã biết ngượng rồi…
Lụa cầm tay con mình, ngắm nghía nó một lượt thật kỹ. Giá như con thị được gả vào một nhà tử tế thì tốt biết mấy. Nhưng thị nợ nhà cụ Án nhiều quá, biết làm sao được đây, dễ đời thị, đời cái Gái, đời con đời cháu cái Gái cũng không trả hết được. Lụa lại thở dài, không hiểu sao nước mắt cứ chực trào ra, nhưng đâu rơi xuống được, chỉ nghèn nghẹn tưng tức nơi cổ họng.
Ngày mừng thọ của quan Án, gia chủ quyết định làm theo sinh nhật lối Tây, mở một bữa tiệc thật to, thật lớn để cả Kinh thành biết mình là tân thời. Thiệp mời được đám người hầu gửi đi khắp các nhà quan lớn, hạng có máu mặt, thậm chí còn đăng một mẩu tin trên báo Hà Thành. Và người ta đồ rằng, ấy là sự kiện hiếm có, quan trọng.
Trước, một bản hòa tấu giữa kèn ta, kèn Tây, kèn Tàu không đáng để nhắc tới. Sau, một cuộc khiêu vũ của đám cậu ấm, cô chiêu với những bộ trang phục đầy màu sắc kèm vô vàn kiểu dáng lẫn hòa.
Trong lúc ánh sáng kinh thành thu hết về nơi đây thì trên tấm phản gỗ đã lên nước đen bóng, hai kẻ tới từ phố Khâm Thiên đã chuẩn bị xong đàn, trống, phách. Chờ tới khi cuộc tiệc tùng nhộn nhịp Âu hóa đã lắng, một góc kia mới bắt đầu nảy tiếng ngọc xuống sàn.
Kép đàn so dây, rồi gảy lên những hơi lạnh buốt. Khách khứa nghe, ai nấy đều rùng mình. Nhưng không dám đánh phiền vào chàng trai đang mải mê với tiếng cầm kia, khi trông thấy chàng rơi vào trạng thái của một kẻ bị thánh thần chọn nhập. Đào nương gõ phách, môi khép ngâm mấy tiếng thật dài rồi hát: “Kẻ về người ở…/ Bồi hồi thay… Lúc phân kỳ/ Khéo quấy người…Hai chữ… Tình si/Lửa ly biệt bừng… bừng không lúc nguội!” Giọng thánh thót đánh động cả thần tiên, tiếng tròn trịa khiến người ai nấy ngẩn. Gia chủ cùng khách khứa đều lim dim mắt, tưởng như trong vũ trụ phồn hoa một khoảnh riêng đây. Hát hết bài “Ca tự biệt”, quan khách mãi mới sực tỉnh cơn mộng, rồi đồng loạt vỗ tay tán thưởng.
Bấy giờ, quan Án mới đứng dậy, nâng ly rượu Tây khắp lượt mà rằng:
- Tiếng ca nương đã tròn, mà tiếng đàn lại thêm tuyệt diệu. Chư vị, buổi vui hôm nay mừng tôi mà cũng mừng cho một cổ vật đã tìm được nơi nương náu. Rồi, quan ngừng lại một lát để lấy hơi và tiếp lời:
- Truyền rằng về thời Lê – Trịnh có một nghệ nhân làm đàn Đáy mà tài đã được xếp vào bậc thần. Khắp ca lầu tửu quán trong Kinh, hễ cứ dùng đàn của ông thì nhất nhất đều nổi tiếng khó sánh kịp. Thế nhưng thói đời suy vi, lễ học băng hoại, cầm nghệ đi xuống. Dần dần, ông chán ngán thế sự, lui về Tản Viên ở ẩn, không rời khỏi đó nửa bước. Ngày nọ, chúa Trịnh nghe tiếng bèn cho quân lính đến đòi, nghệ nhân ấy chỉ lắc đầu không tuân mệnh. Chúa mới phát cuồng mà quát: “Lôi nó đến, không làm thì đập đầu nó, ta cho nó ăn cứt!”. Nghệ nhân biết khó mà thoát khỏi kiếp nạn, bèn quyết định làm cây đàn cuối cùng của đời mình. Rồi, ông lại nghĩ: Sử dụng chất liệu nào đây? Ta đã chán ngán những vật thể thường thường do chính tay mình tạo tác, ta phải tạo ra một chiếc Vô đề cầm(*) truyền kỳ độc nhất vô nhị. Thêm một hớp rượu, quan chỉ vào cây đàn Đáy mà bảo.
- Và, nghệ nhân ấy đã hiến mình cho người học trò bản thân yêu quý nhất…
Cổ vật này lưu lạc, thực không dễ kiếm chút nào…
Quan khách sực hiểu ra, ai nấy đều tái mặt, tránh mắt khỏi cây cầm. Song, tựa như một vật có uy lực, lát sau, họ buộc phải níu song nhãn – bấy giờ đã bị niềm nỗi tò mò làm cho đờ đẫn – trở lại với những dây gân. Không rõ là ai chợt thốt:
- Hay là hát thêm một khúc. Tắt hết tạp âm đi!
Hồ không nghe thấy, kèn Tây, Contrerbasse vẫn phát những âm inh tai, lơ lớ, nhai nhại. Chúng nhân bắt đầu nhao nhao, ép nhạc công dừng lại, thậm chí có kẻ còn buông lời thóa mạ, có lẽ đã vô tình tổn thương tới trái tim của kẻ kéo đàn(?).
Không gian chợt thu mình im ắng, trầm ngâm tựa cổ tự một gian. Đàn buốt não nùng âm vẳng, mãi mãi để cho nhân thế biết tới một mẩu cố sự tưởng như vô lí nọ.
Ca nương rùng mình, buông lời:
“Buồn sực nhớ đài trang cảnh cũ
Nhớ trượng phu trong dạ bàn hoàn
Mái tây sơn sương tỏa mấy lần
Thân cái nhện không vò mà cũng rối…”
Có ai cảm thán:
- Giá mà được nghe tiếng đàn này, giọng hát này thì hẳn cụ Bá sẽ tỉnh lại. Cụ vốn là người mê cô đầu…
“Chỉn tại tơ hồng trêu quấy nỗi
Há rằng dây đỏ ghét ghen chi…”(**)
Một kẻ khác gật đầu, đón lời:
- Quả vậy. Nghe đâu thầy bói phán năm nay nhà cụ gặp vận đen, đại hung đấy, vớ vẩn có tang như chơi! Nhưng cũng không phải không có cách, ấy là cụ phải cưới về nhà một bà vợ mới, may ra mới thoát được.
- Lại có chuyện như thế à?
- Chẳng biết con cái nhà ai vô phúc…
Song, biết mình lỡ lời, y vội vàng lảng sang chỗ khác, tránh khỏi cái nhìn của quan Án bấy giờ đã thoáng nét hoang mang. Vì cụ Bá thực gia cảnh rất khá, quyền thế không kém ai, nhưng ấy là trước kia, khi cụ còn mạnh. Hiện, cụ phải nằm một chỗ, mọi chuyện trong nhà đều do sáu bà vợ thay nhau gánh vác, đảm đương.
Quan Án ngắm nhìn con gái mình là tiểu thư Đan Khuê, cử chỉ lời nói đều toát ra vẻ Tây học. Mẫu gia đình đổi mới là điều quan mong ước, và nó đang làm ngài hài lòng. Thế nhưng… Không hiểu sao, ngài bỗng thấy lo lo.
- Lạy quan, bà cả nhà cụ Bá đã tới, bà đang ở ngoài cổng ạ. – Thằng hầu rón rén bước vào, báo tin.
Quan Án giật mình, hai mắt tối lại: “Dù trong Kinh, ngài được người Tây bảo hộ, nhưng liệu có chắc mình không bị nhắm tới? Giả như có kẻ nào khích tướng từ bên ngoài có phải hỏng cho gia đình này không!”
Quan luống cuống:
- Sao mày để bà lớn chờ ngoài ấy, mau ra mời bà vào, nhớ nói năng lễ phép, biết phỏng?
- Dạ.
Vầng trăng giờ đi vắng, dải Ngân hà chỉ còn lại là nỗi tiếc nhớ trong lòng những kẻ yêu đêm, để ngoài kia mưa giăng sụt sùi tỉnh thức, thằng hầu xòe chiếc dù che cho quý bà nọ. Mình mẩy nó ướt lướt thướt, cum cúp theo sau người nọ.
- Chào quan Án. – Bà cả mỉm cười.
Chủ nhân nâng một ly rượu, mời phu nhân nọ, cũng cười:
-  Chào chị. Tôi nghe nói mấy hôm nay cụ Bá không được khỏe, chẳng hay giờ
cụ đã được bằng cũ hay chưa?
- Cảm ơn quan đã hỏi thăm, nhà tôi vẫn đang chạy thuốc. – Bà cả lắc đầu, ra chiều buồn rầu nói. Nhưng rồi, khi rượu chạm môi, bà bỗng chững tay lại, ngước mắt nhìn về phía đám đông đối diện và hỏi. – Không hay con cái nhà ai kia?
Quan Án ngạc nhiên, song liếc nét mặt của bà cả, không hiểu vì sao lại vui vẻ bảo:
- Nó là con sen Gái.
Ngoài kia, cái Gái đương thoăn thoắt bưng bê, dọn dẹp, không mảy may sai sót hay thất thố. Bà cả mỉm cười, lại rời mắt nhìn tiểu thư Đan Khuê. Quan Án giật mình đánh thót, con gái ngài mới bước vào tuổi mười sáu...
Bà cả tươi cười bảo:
- Tôi có việc này muốn nhờ quan, chẳng hay có được hay chăng?
Đã mấy ngày nay, cái Gái vẫn bần thần về việc mình sẽ bị gả đi để làm thiếp của cụ Bá, mặc dù tuổi nó không phải dành cho những suy nghĩ ấy, không phải dành cho những lo toan ấy.
- U ơi, sao lại vô lý thế hở u? – Gái nức nở hỏi.
Lụa ôm con vào lòng, lau nước mắt cho nó.
- Không sao đâu con.  – Lụa vuốt tóc cái Gái.
Mặc dù cụ Bá đương lâm cơn ác bệnh, nhưng biết đâu, nếu lời thầy bói là đúng thì đời nó sẽ thay đổi.  Nó có thể thay u trả món nợ kiếp kiếp cho quan Án. Và cũng biết đâu đấy, vợ quan vốn hay ỷ thế sẽ phải lễ phép mà kính trọng u nó, kính trọng nó. Biết đâu đấy…
Lụa bật cười.
Gái về nhà cụ Bá vào chiều mưa hai hôm sau.
Trong nhà bếp,  Lụa lấy trang sức phấn son mà bà Án gửi đưa để điểm trang cho nó. Xong việc, thị hết cân chỉnh mảnh gấm trên tóc con, lại vuốt phẳng bộ áo tấc. Mặt thị đỏ gay, môi mím chặt lại. Vì là cưới lấy may nên không có đám cưới rình rang, nhất là giờ ở nhà chồng, con gái thị chỉ nhận lấy cái danh mợ bảy và không biết cụ Bá – giờ đang rên hừ hừ trên giường vì chứng ho lao kia sẽ theo chầu tổ tiên lúc nào.
- Lạy u, con đi… – Cái Gái rơm rớm, quỳ xuống lạy u nó. – Con đi rồi con sẽ về.
- Ừ…
Chần chừ một lát, Gái cắp chiếc nón quai thao và bị vải, đi một mạch. Ra khỏi cổng sau, anh đầy tớ nhà cụ Bá đang đợi. Đường vắng tanh, mấy cành cây khô gãy chỏng chơ dưới đất, đám lá chuối thì đập phần phật vào thân. Gái che chiếc nón thật thấp. Thấy nó, người đầy tớ liếc cái bọc vải, hỏi:
- Cái gì đấy?
- Quần áo của tôi.
- Thôi, lạy cô, vứt hết đi! – Người đầy tớ ngoẹo đầu nói. – Trời thì mưa, mang đồ lỉnh kỉnh làm gì? Tới nhà cụ chủ thì gì cũng có, mời cô cứ việc dùng.
Gái rơm rớm:
- Tôi xin anh, giữ cho tôi làm kỷ niệm.
Anh đầy tớ sốt ruột, đảo mắt một cái, buộc lại cái sợi dây chuối trên chiếc áo tơi rồi bảo:
- Nào, đưa đây, không cụ bà mắng. Đi nhanh!
- Đội ơn anh. – Gái không dám khóc, nó đi theo người kia, không dám ngoái lại.
Xung quanh, ngoài tiếng mưa, không một tiếng động nào khác, Lụa bấy giờ mới dám mở mắt ra. Thị ngơ ngác nhìn cánh cửa trống hoác trông ra bụi cây um tùm, đứng dậy đóng chặt cửa bếp. Chặn thêm vào đó chiếc ghế mây, đẩy lại đống rơm, nhen lửa nấu bữa chiều. Nước mắt vòng quanh mi rỏ xuống cổ, chan vào niêu cơm. Thị ôm ngực, ngồi bệt xuống, lửa vẫn cháy bừng bừng.
Mưa tạnh, đầu trời thừa một ánh trăng.
Ngoài kia, anh đầy tớ thoăn thoắt dẫn đường cho người vợ lẽ mới của cụ Bá mà sau này cả thiên hạ sẽ phải gọi là bà bảy. Gái chốc chốc ngoái lại phía sau, chỉ thấy một vùng mênh mông nước. Bước chân xa mãi, nhà cũ không về được. Phân trâu bết vào đám cỏ hai bên đê. Đường trơn như mỡ chỉ mong kéo người trượt ngã. Anh đầy tớ - nhân một lúc Gái không để ý, đã len lén quẳng bọc vải đi. Vật ấy lăn tròn, mắc phải một cành củi khô liền bung ra, đám quần áo nâu lăn lóc xuống ruộng, bê bết bùn đen…
Ngay sau khi cưới vợ bé được hai hôm thì cụ Bá cũng cưỡi hạc về Tây, thảy mọi người đều bàn tán người vợ mới này là điềm xấu. Dần dà, một tháng, hai tháng, họ cũng quên mất cô. Bà cả bấy giờ nghiễm nhiên nắm trong tay mọi quyền hành, toàn bộ gia sản và ruộng đất do chồng để lại – trở thành nỗi ganh tị của hầu hết phụ nữ kinh thành.
Trời tối rồi, trăng tạt nghiêng hắt xòa trên nền đất đã khô đi nhiều. Lụa cắp thúng rau cho lợn ăn bên hông, chân thoăn thoắt trở về. Không rõ tự bao giờ, con gái thị đã đứng trước cổng sau để đợi. Thị vui mừng khôn xiết, hai tháng chưa gặp con, thị nhớ nó chừng nào. Nhưng, trái lại, vừa trông thấy Lụa, mợ bảy đã nhào ra ôm lấy thị, rơi nước mắt:
- U ơi!
Cánh tay của Lụa vòng ra sau lưng con, song không dám ôm tì nó vào người mình, chỉ để hờ như vậy:
- Con về, bà cả có biết không?
Mợ bảy không trả lời, chỉ nức nở:
- U ơi, u cho về với u, u nhớ!
Lụa buông con ra, đặt thúng rau xuống, lau nước mắt cho nó:
- Mày làm sao thế hả con, về thế nào được mà về!
- Con trốn ra…
- Mày điên rồi con ạ. Bà cả mà biết thì mày rục xương. Về, về ngay! – Lụa giật mình, thốt lên.
Mợ bảy càng gào khóc dữ dội, vạch tay áo lên, chỉ thấy trên đó đầy những vết lằn roi tấy ửng. Ruột Lụa buốt buốt.
- Lạy u, u cho con về.
- Giờ mày là con người ta rồi, u muốn cũng chẳng đặng.
- Con sẽ tới xin quan Án… Làm trâu làm ngựa con cũng chịu.
Lụa ngoảnh mặt, đẩy con gái sang một bên. Tiếng mợ bảy tắc nghẹn, không còn nghe rõ. Mợ vẫn níu chặt lấy áo mẹ, búi tóc xổ ra, dưới ánh trăng, lại trông như ma quỷ hiện hình. Lụa rảy không được, bèn cầm dao chặt một nhành cây mỏng bên tường rào. Thị quay đầu, tay cứ thế quất thẳng vào người mợ bảy. Tiếng kêu ré xé toạc màn đêm, nó buông thị ra, rồi lại bấu chặt lấy. Lụa càng đánh tợn hơn:
- U bảo rảnh rỗi thì sẽ tới thăm mà mày còn giở thói hư đốn. Bây giờ mày có đi không thì bảo!
Tiếng roi xé gió vun vút. Mợ bảy nấc nghẹn, thả vạt áo của Lụa ra, nhìn u mình một cái rồi bỏ chạy. Lụa thẫn thờ vứt roi đi, mọi âm thanh lắng xuống – im lặng tuyệt đối – không còn ai, không còn ai nữa cả. Thị lau một giọt nước ấm nơi hốc mắt, đi vào nhà.
Đầu trời thừa một ánh trăng, đổ lên tấm thân xiêu vẹo của mợ bảy đang lê gót trên vỉa hè. Đàn ca vang lên giữa không gian, giờ này cũng chỉ còn phố Khâm Thiên là nhộn nhịp. Mợ bảy ngẩng đầu, vô thức bước về hướng phát ra tiếng phách, bóng lưng mất hút vào giọng ca nương.
Ba hồi trống vang lên dõng dạc, mây nhiễm bẩn là là liệng đường cung lướt sát trên các ngọn cây cổ thụ, tạt ngang đầu thành, chạy trốn đi mãi. Để rồi, một tiếng nổ bất đồ rền vang. Sấm đấy. Mà chớp đây. Sấm chớp cùng nhau kéo tới, xé nát bầu trời, đánh tan những đám mây đen nhơ nhớp, và rồi, thoáng chốc, cơn mưa rào đã đổ xối xả. Mưa tanh ngập ngụa một mùi khăn khẳn kéo lê dọc vỉa hè, kéo tràn bờ đê, cuốn trôi mọi vật cản đường, làm sạch hết thảy các kênh mương, con lộ.
Cố chạy cho kịp trận giở mặt của trời, Lụa lập cập cắp cái nón rách cố chạy tới nhà cụ Bá. Song, mưa to quá, thị đành ghé vào hiên trước của một tiệm may tân thời. Tiệm đóng cửa vắng tanh, ngoài treo biển báo “Hôm nay xin nghỉ”. Thấp thoáng sau tấm rèm xanh màu lục ngọc che chắn, mỗi dịp ánh chớp lóe lên là mỗi dịp những đường riềm, đường may tỉ mẩn lượn trên các tấm vải sặc sỡ nhân cơ hội hiện ra mà khoe khéo với đời.
Lụa kéo cao hai ống quần thụng nâu, ngồi bệt xuống đất, cắp nón che lên đôi bàn chân nứt toác với những móng chân bết bùn cáu bẩn. Nước từ chỗ dột thủng trên mái chìa cứ thế rỏ xuống, khiến đầu thị ướt nhẹp, từ hai bên gò má xuống tới cổ hằn những vệt nâu vằn vện.
Hai bên vệ - Nơi giao nhau giữa vỉa hè và cái quan giờ đã biến thành đôi dòng suối nhỏ, róc rách chảy xuống cống. Trước mặt kia là tòa soạn báo Hà Thành, bên cạnh có một quán phở.  Phở ở đây, loại có thịt thì một hào một bát, còn loại không thịt thì năm xu một bát, trong quán lác đác mấy đầu người lố nhố hít hà bát nước dùng nóng bốc mùi thơm của quế và đại hồi hòng ấm người. Lụa nuốt nước bọt rồi ngoảnh sang chỗ khác.
Đã một năm kể từ khi cái Gái theo cụ Bá, đã tám tháng kể từ cái đêm ấy, nhưng Lụa lại không nghe được bất kỳ một tin tức nào từ con. Thân phụ nữ về nhà chồng như bát nước đổ đi, thị đành phận tới thăm lén cũng được.
Ngoài đường, mấy mụ vừa tan chợ chiều buộc váy đụp lên ngang bắp chân, đội thúng tất tả chạy về. Âm thanh của bánh xe khẽ cuộn, lão xích lô cúi mặt nhìn đường, chân trần sũng nước, đưa một quý phu nhân về dinh thự. Thế nhưng mưa to quá, chiếc ô trên tay mợ cứ chực bay mất, tấm áo dài gấm dính bết vào cơ thể gần như phô bày tất cả.
- Dừng, dừng ở đây cho bà.
Lụa sững người, lập tức ngước mắt nhìn lên, vì giọng nói này sao mà quen thuộc đến thế?
- Dạ. – Lão xích lô khựng đường kéo, thưa một tiếng rất vang.
Nhanh chóng, lão dạng hai chân ra làm trụ, đôi cánh tay gầy tựa khúc cây chùng thấp, khẽ đặt tay kéo xuống đất để khách khỏi hãi vì bất ngờ. Mợ bảy, khác hẳn với đêm tới tìm mẹ  – Với vẻ điệu đàng nhất – bước khỏi xe, tránh mình vào hiên tòa soạn báo Hà Thành, cất giọng hỏi:
- Hết bao nhiêu?
- Dạ, con xin bà sáu hào.
- Sáu hào? – Mợ giật giọng – Lão định cứa cổ nhà tôi phỏng? Thuê con sen thạo việc, lương tháng nhiều lắm cũng chỉ bảy hào. Hai hào, có lấy thì lấy!
Lụa giơ tay định vẫy con, song bỗng thừ người ra, cánh tay trượt xuống. Lão xích lô vuốt mặt, ngoẹo cổ khum lòng bàn tay lại khẩn khoản:
- Bẩm, con còn phải trả tiền cho ông cai xe đầy đủ, không thì chết.
- Ba hào.
- Lạy bà, mong bà thương cho. Bình thường chạy từ Khâm Thiên về đây đã ngót đồng hai, huống chi con hộ tống bà từ tận Gia Lâm.
- Bốn hào, được chưa? Lằng nhằng mãi thế!
Lão xích lô chắp tay vái lấy vái để, nước mắt nước mũi trào cả ra, cái nón bị gió tạt nhưng vướng dây nên cứ vướng ở cổ, lão luôn miệng:
- Lạy bà, con còn cháu nhỏ. Lạy bà, lạy bà…
Mợ bảy nhíu mày, lắc đầu chặc lưỡi, liếc mắt cau có nhìn lão xích lô một hồi,
cuối cùng cũng móc trong túi ra sáu hào, rồi vừa đẩy vừa xua:
- Đây, đi đi!
Lão cập rập xin tạ rồi lại lọc cọc kéo xe đi. Bỗng nhiên, một chàng nào bước ra từ tòa soạn, ôm lấy mợ bảy. Không rõ y rót vào tai những gì mà mợ ra chiều thích thú lắm, tủm tỉm níu theo cánh tay ấy vào bên trong.
Nụ cười trên môi Lụa đông cứng lại, thị ngửa cổ, lồng ngực tưng tức, nước bẩn lại tuôn đầy mặt. Lạnh quá. Hình như cũng một đêm khác, khi quằn quại ở ổ rơm nhà quan Án để sinh cái Gái, trời cũng trí trá đầy ác tâm như vậy.
Nước luồn vào mắt Lụa, cay xè, chảy xuống môi đượm vị mặn chát và luồn vào cổ áo, thấm vào xương tủy hòng làm người ta lên cơn sốt.
Đến nửa đêm, người trong tòa soạn đã về hết, mợ bảy và người nọ bắt xích lô.
Xe ngoặt lại, thẳng hướng Khâm Thiên mà chạy.  Lụa vơ vội cái nón che mặt. Cô vợ mới của cụ Bá ném xuống chân Lụa ba hào, trước khi tiếng lọc cọc mất hút vào màn đêm, tiếng hát ngọt vẫn đọng lại:
“Đời người… Đời người thử ngẫm mà hay/ Trăm năm là ngắn… Một ngày dài ghê!”(***)
Đầu trời thừa một ánh trăng tuôn tràn nhờn nhợt, xé một vệt dài kéo đến chân trời.

Chú thích:
(*) Đàn Đáy hay còn có tên khác Vô đề cầm.
(**) Trích “Lời tiểu thiếp tự tình” của Nguyễn Công Trứ.

(***) Hai câu trong bài “Đời đáng chán” của Tản Đà.