Thứ Bảy, 18 tháng 11, 2017

LỄ HỘI CỐM Ở XÃ EA TAM tác giả TRẦN THỊ SÔNG HƯƠNG - TẠP CHÍ CHƯ YANG SIN SỐ: 302 - THÁNG 10 NĂM 2017

TRANG CHUYÊN ĐỀ NHÂN KỶ NIỆM 30 NĂM THÀNH LẬP
HUYỆN KRÔNG NĂNG (1987 – 2017)


Xã Ea Tam nằm về hướng đông bắc của huyện Krông Năng, được thành lập từ năm 1989, chủ yếu là các sắc dân Tày, Nùng thuộc 6 tỉnh biên giới phía Bắc vào định cư.
Tuy xuất phát từ những vùng quê khác nhau, những nét văn hóa truyền thống có khác nhau, nhưng có một điểm chung, điểm tương đồng, đó là những truyền thống tốt đẹp của nền văn minh lúa nước. Nhiều tập quán, phong tục, lễ - hội gắn liền với các sản phẩm của lúa nước. Trong đó các nét đẹp và đặc sắc của văn hóa ẩm thực đã được đồng bào dân tộc thiểu số ở các tỉnh miền núi phía Bắc di cư vào làm ăn sinh sống ở Krông Năng – Đắk Lắk gìn giữ và phát triển.
Trong các sản phẩm được làm ra từ lúa nếp thì cốm được xếp vào một trong các sản phẩm đặc sắc nhất. Hội cốm của đồng bào dân tộc thiểu số ở các tỉnh miền núi phía bắc còn được gọi là “Tết con gái”. Các câu ca của đồng bào Tày, Nùng có liên quan đến hương cốm như:
Hương em như thể Cốm hương
Cách xa đến chín ngày đường vẫn thơm
Sự so sánh trên đã phần nào nói lên giá trị của ngày hội cốm, ngày Tết con gái, và có lẽ không có sự ngợi ca giá trị của người con gái nào cho bằng những câu ca nói trên…
Thời tiết ở Tây Nguyên vào khoảng tháng 9 âm lịch hàng năm thường hay mưa dầm, nhưng người dân ở đây, đặc biệt là các nam nữ thanh niên đã không quản ngại đường sá xa xôi, vất vả. Họ tập trung về nơi diễn ra lễ hội từ rất sớm để tham gia Lễ Hội Cốm do xã tổ chức với mục đích bảo tồn, gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.
Về ý nghĩa của ngày hội Cốm, ngày “Tết con gái”, ông Đinh Công Hưởng - Bí thư Đảng bộ xã Ea Tam cho biết: Lễ hội nhằm tôn vinh, ca ngợi các sản phẩm của lúa nước, tôn vinh người phụ nữ, đặc biệt là các thiếu nữ trong độ tuổi trăng tròn, những người đóng vai trò chủ lực trong việc sản xuất ra các sản phẩm từ cây lúa nước. Lễ hội còn mục đích tăng cường công tác đại đoàn kết các dân tộc, các bản làng trên địa bàn.
Trường tồn cùng với sự hình thành và phát triển của đất nước, lúa nếp luôn được coi là linh vật, là tinh hoa của trời đất, của tạo hóa. Gạo nếp luôn được dùng trong những dịp quan trọng, thiêng liêng; là sản phẩm không thể thiếu trong các lễ hội cúng tế trời đất, cúng tế ông bà tổ tiên, cưới hỏi, mừng nhà mới.v.v… Hội Cốm thường được tổ chức vào ngày 9 tháng 9 âm lịch hàng năm, ngày này thường rơi vào tiết Hàn lộ (khí trời mát mẻ) hoặc tiết Sương giáng (bầu trời luôn có nhiều sương, có năm có mưa bụi). Tuy nhiên khi di cư vào Tây Nguyên, do thời tiết khác hẳn nên ngày hội cũng phải chuyển dịch cho phù hợp.
Mở đầu cho hội Cốm, các chị em phụ nữ cùng nhau ra đồng ruộng chọn cắt những bông lúa đạt tiêu chuẩn cho việc chế biến các sản phẩm của Cốm. Cần lưu ý khi chọn nếp làm cốm phải chọn giống “nếp cái hoa vàng” chính gốc ở các tỉnh miền núi phía Bắc. Khi cắt phải chọn những bông lúa vừa đến độ chín, đầu hạt lúa hơi ngả sang màu vàng, người dân thường gọi là “gié lúa đỏ đuôi” và thân lúa khi cắt phải có độ dài chừng 40 phân. Các chị cho biết: Sở dĩ thân lúa phải cắt dài vì nó còn được bện làm chổi quét bàn ghế, quét nhà sàn; chổi được làm từ thân cây lúa nếp rất bền và quét dọn rất sạch… Các chị lớn tuổi cũng tâm sự: Khi mới vào định cư ở Tây Nguyên, hàng năm cứ đến tháng 9 âm lịch là người cứ nao nao nhớ đến mùa hội cốm, nhớ thời con gái cùng nhau đi thu hoạch lúa nếp từ làng này sang làng khác như kiểu vần công đổi công hiện nay…
Khi những bông lúa nếp được đưa về, mọi người tập trung tuốt lúa, đem ngâm vào nước lạnh để vớt đi những hạt lép, giữ lại những hạt chắc, mẩy như người con gái trong độ tuổi trăng tròn. Tiếp đó lúa được đem luộc chín, vớt ra quạt cho nguội rồi đem rang. Công đoạn này phụ thuộc vào sự khéo léo và kinh nghiệm của các chị, nếu luộc và rang chưa chín thì khi giã, nếp sẽ bị nát; nếu luộc và rang chín quá, khi giã vỏ trấu sẽ dính vào cốm. Rang xong, để nguội rồi đem giã, dần, sàng đủ 9 lần cho sạch trấu, cốm mới có màu sắc đẹp. Cốm ngon, đạt tiêu chuẩn phải hội đủ các yếu tố: Xanh, dẻo, dẹp (mỏng) và thơm.
Những phụ nữ giỏi, đảm đang có thể chế biến cốm thành hàng chục món khác nhau như: Hương cốm, cốm gừng, cốm đậu xanh muối, cốm làm bánh tét nhân đường, cốm chuối, cốm lam, cốm rang đường, cốm ép… Ngoài ra, từng vùng miền còn có bí quyết riêng để cốm thơm ngon và có màu sắc tự nhiên của cây lá núi rừng. Hội thi còn chấm điểm cao cho những đội có đông người tham gia giã cốm. Điểm kỹ thuật cao nhất sẽ thuộc về đội có từ 8 người đến 16 người cùng giã - đông người nhưng giã không va vấp, ra vào nhuần nhuyển, âm thanh giã cốm nghe như tiếng nhạc. Hội thi cũng chấm điểm cao cho đội có trang phục đẹp, khi đội mâm cốm dâng lên cúng tổ tiên, ông bà đi đứng nền nã, có phong cách.
Khi những nam thanh nữ tú của xã Ea Tam dâng mâm cúng của thôn, của bản làng mình lên bàn thờ Tổ quốc ở đình làng rồi đem đến cho ban giám khảo chấm điểm, có thể nói rằng trong mâm cúng của họ đã có những bài Then, câu Lượn, có cả bóng dáng của núi đồi Tây Nguyên hùng vĩ, có cả tình cảm bao la của người nông dân cần cù, chịu thương, chịu khó, biết chắt lọc những điều kỳ diệu của thiên nhiên để làm nên những sản vật mang đậm màu sắc của quê nhà.
Lễ hội cốm ở xã Ea Tam là một trong những nét văn hóa truyền thống đặc sắc của đồng bào dân tộc thiểu số các tỉnh miền núi phía Bắc đang sinh sống trên mảnh đất Krông Năng. Nét đẹp này cần được duy trì nhằm giúp cho nhân dân các dân tộc tăng cường hơn nữa sự đoàn kết, yêu thương, học hỏi, giúp đỡ lẫn nhau trong đời sống, trong sản xuất và trong sinh hoạt…

Thứ Hai, 13 tháng 11, 2017

 KÝ ỨC VỀ MỘT VÙNG ĐẤT tác giả TRẦN VĂN TƯƠNG - TẠP CHÍ CHƯ YANG SIN SỐ: 302 - THÁNG 10 NĂM 2017

TRANG CHUYÊN ĐỀ NHÂN KỶ NIỆM 30 NĂM THÀNH LẬP
HUYỆN KRÔNG NĂNG (1987 – 2017)



“Lúc ấy chỉ thấy rừng và rừng, rừng tranh bạt ngàn, thời tiết rất lạnh, sáng nào ngủ dậy cũng phải đốt lửa…”. Người bạn bằng tuổi tôi đã thốt lên câu nói trên, đó là ấn tượng đầu tiên của anh, khi đến đây anh ấy 22 tuổi thì nay đã 50, những người khi đến đây ở lứa tuổi 50 hoặc 60 nay đã thành cụ ông cụ bà. Câu chuyện về thủa bình minh của xã thường được các cụ nhắc lại khi gặp nhau ở các bữa kỵ, bữa giỗ. “Mình cứ tưởng như mới ngày hôm qua, ông có nhớ đợt cháy rừng nớ không? Toàn bộ lán ở, tranh tre chất đống để chuẩn bị làm nhà cháy sạch, may mà bà con còn chạy về kịp cứu một ít đồ đạc ra khỏi lán…” - cụ Hải nhớ lại với khuôn mặt đầy hoài niệm. Bạn bè lứa tuổi với tôi khi xe từ Huế đến Buôn Hồ, rất ngạc nhiên bởi lần đầu thấy được cây cà phê, loại thức uống đầy kỷ niệm của chúng tôi với các quán cà phê nhạc ở Huế.
“Dân cày đường nhựa” tôi không nhớ rõ là từ đâu có danh xưng này, do người dân địa phương ở đây đặt cho chúng tôi, hoặc do ai đó buột miệng gọi đùa. Nghe ra có vẻ mỉa mai, nhưng danh xưng đó rất đúng với đa số dân xã Phú Xuân lúc ấy. Những người dân thành thị lần đầu tiên đến với rừng, lần đầu tiên thực sự cố làm quen với những dụng cụ lao động nông thôn như cuốc, rựa, rìu… với những công việc: Đẵn cây, cắt tranh để dựng nhà ở, phát quang, vỡ đất, gieo trỉa... Tất cả mọi công việc được làm trong cảm giác ngỡ ngàng mới mẻ. Vừa làm vừa học vừa rút kinh nghiệm. Tôi không bao giờ quên được cảm xúc khi thu hoạch vụ mùa đầu tiên, cái cảm giác ngon đến lạ lùng với những sản phẩm mộc mạc đơn sơ lần đầu tiên do bàn tay mình cày cuốc, gieo trỉa. Những cảm giác lần đầu thật khó tả, với rừng, với gió đại ngàn, bụi đỏ, những giỏ phong lan hoang sơ, tiếng kêu của thú rừng lạ lẫm giữa đêm. Những ấn tượng ấy hoà quyện vào nhau còn đơn sơ trong tôi cho đến tận bây giờ. “Buôn Hồ chào quê hương mới, Buôn Hồ tiến tới bạn ơi, thắng gian lao ta dựng cuộc đời ” bài hát mà nhạc sỹ Quang Hào sáng tác khi đến vùng đất mới. Tôi nhớ lại người bạn trong cơn sốt rét rừng vẫn cố đến với buổi sinh hoạt Chi đoàn thanh niên và hát vang lên cho đến lúc vã mồ hôi. Có nhiều bài hát theo ta đến hết cả cuộc đời, bài hát Buôn Hồ hành khúc của anh Quang Hào có vị trí như vậy, đối với chúng tôi những thanh niên của thủa ban đầu ấy.
Tôi nhớ lại những học sinh chân ngập trong bùn đỏ, với áo quần đẹp, hoặc chưa lành lặn vẫn hồn nhiên đến trường. Các em lớn học cấp III ở trường huyện phải đi xa hơn, lúc ấy là thị trấn Buôn Hồ. Hàng tuần các em phải về nhà lấy lương thực, bới theo củ khoai, củ sắn, những thứ tốt nhất mà ở nhà dành dụm được. Những em học sinh của năm tháng gian khổ đó nay có em đã rất thành đạt. Tôi biết lúc đó có nhiều  thầy cô giáo phải bỏ tiền lương của mình mua sách vở giúp cho các em học sinh ham học mà điều kiện còn quá thiếu thốn, đêm đêm còn phải đốt đèn dầu đến những tụ điểm để dạy học xóa mù chữ dưới các lán lợp tranh mà xung quanh phên thưng chưa đủ kín.
Những người đi khỏi xã đã lâu, khi trở lại rất ngạc nhiên và ấn tượng về sự thay đổi nơi đây. Một sự thay da đổi thịt kỳ diệu, con đường đất ở lộ chính bây giờ đã là tỉnh lộ 3 chạy suốt gần hết chiều dài của xã, ngày từ Buôn Hồ vào Phú Xuân ngang qua xã Krông Năng, trước đây là con đường vắng vẻ, thì nay đã là một thị trấn bề thế. Hàng ngày, trên con đường đó, xe cộ giao thông không ngớt. Ai đó muốn đi Huế, Nghệ An, Nha Trang, TP. Hồ Chí Minh… có thể đón xe ngay cửa ngõ nhà mình, mà điều đó cách đây mười năm không ai nghĩ đến. Trường học, trạm xá, trụ sở UBND xã khang trang sạch đẹp. Ở khu trung tâm của xã mở ra nhiều hàng, quán bày bán từ cây kim sợi chỉ đến những đầu đĩa hát và máy truyền hình đời mới hiện đại. Ánh điện sáng khắp nơi, điện nhấp nháy ở các quán cà phê mang chút hơi thở thị thành. Tôi nhớ cách đây một vài năm, đồng chí chủ tịch UBND xã đọc thư chúc tết bà con nhân dịp Tết Nguyên Đán có câu: “Tương lai Phú Xuân còn ở phía trước, nhưng nhìn lại chặng đường đã qua chúng ta không khỏi tự hào...” quả đúng như vậy, với những ai đã từng hiểu đời sống những năm tháng đầu tiên của bà con nơi đây, lúc chưa đủ cơm ăn áo mặc, đau chưa đủ thuốc, thì những gì hiện có ở Phú Xuân hôm nay quả là một bước đổi mới.
Mỗi chiều khi nhìn các cháu học sinh đi học trong bộ áo quần đồng phục tươm tất, đẹp đẽ, nhìn đám thanh niên cưỡi những chiếc xe máy đời mới, hóng gió trên trục lộ của xã, tôi bỗng nghĩ: Có bao giờ các em nghe kể lại, để hình dung cuộc sống của những năm tháng đầu tiên trên vùng đất này không?






GIÀ LÀNG AÊ CHIÊN SAY MÊ BẢO TỒN NHẠC CỤ DÂN TỘC tác giả H’PHI LA NIÊ - TẠP CHÍ CHƯ YANG SIN SỐ: 302 - THÁNG 10 NĂM 2017

TRANG CHUYÊN ĐỀ NHÂN KỶ NIỆM 30 NĂM THÀNH LẬP
HUYỆN KRÔNG NĂNG (1987 – 2017)

                                     
                                                                    
Người đàn ông có dáng người cao, gầy, ánh mắt hiền lành ấy tôi vẫn gặp hàng ngày trên đường đi làm. Khi thì thấy ông đang tỉ mẩn cắt từng cành dâu tằm, khi thì lúi húi nhổ cỏ dại lẫn trong đám đậu, đám cây cà đắng bên đường. Người ta biết ông với cái tên Aê Chiên, già làng, uy tín của Buôn Hồ B thuộc xã Ea Hồ, huyện Krông Năng. Người Êđê khắp buôn gần làng xa biết đến ông ở vị trí của người đại diện trong các đám cưới hỏi của các cặp đôi trong các buôn, là người vun vén dạy những điều đúng đắn cho những người trẻ mới lập gia đình, là người có những bài cúng Yang hay nhất, “linh” nhất. Gia đình tôi cũng không phải ngoại lệ, mỗi khi cần làm lễ gì dù lớn hay nhỏ, mẹ đều đích thân đến tận nhà để mời ông đến cúng.
Vì là một người thường xuyên được xã mời đi diễn tấu cồng chiêng hoặc tham gia các hội diễn của huyện, tỉnh nên ông không lạ gì tôi. Mỗi lần gặp là ông lại kể chuyện ngày xưa, về những trăn trở của ông đối với văn hóa dân tộc mình, ông gửi gắm nhiều điều vào tôi và những người trẻ như tôi. Ông kể:
Từ khi còn là một cậu bé hàng ngày theo cha mẹ lên nương, lên rẫy, đêm đêm nghe các ông cậu, ông bác kể khan, hát đối đáp, tình yêu của ông với nhạc cụ của dân tộc ngày càng lớn dần. Từ tình yêu ấy, ông cứ theo người bác là anh trai ruột của mẹ đi khắp nơi để tìm vật liệu làm nhạc cụ. Được chứng kiến nhiều điều thú vị, những nét đẹp của dân tộc, được bác truyền lại những câu nói vần hay, những lời lẽ phải trái, để sau này ông dạy lại cho con, cho cháu, cho buôn làng.
Lớn lên một chút, ông được bác chỉ cho cách đánh chiêng, chỉnh chiêng sao cho âm thanh nghe vang nhất, hay nhất. Được bác dạy cho cách đẽo, gọt những ống nứa, quả bầu khô sao cho khi thổi lên âm thanh nghe trong trẻo, nhẹ bẫng.
Khi được hỏi làm thế nào để có thể nhớ hết những lời nói vần trong tất cả các luật tục của người Êđê, ông bảo tất cả muốn biết đều phải trải qua thời gian học hỏi, nghe một lần, rồi hai lần và nhiều lần, khi đã hiểu ngụ ý của câu nói thì tự nhiên câu nói ấy hiển hiện trong đầu mình thôi. Những người khi đứng ra đại diện cho nhiều người để nói chuyện phải luôn suy xét trong từng câu nói, một câu nói vần có thể nó hay, nhưng khi chưa hiểu ngụ ý nó muốn nói gì thì tuyệt đối không được dùng đến…
Căn phòng khách rộng khoảng hơn chục mét vuông, ngoài những chiếc gùi do người ta đặt ông đan còn có nhiều nhạc cụ mà lớp trẻ như tôi không biết tên, ông chỉ đâu là Đing Năm, đâu là Đing Buôt Choc, Brỗ, Gông, Đing Tak ta, Ky kpah… mỗi thứ có một âm thanh đặc trưng riêng, không giống nhau. Ông bảo ông làm được nhiều loại nhạc cụ lắm, nhưng do vật liệu để chế tác bây giờ khó kiếm, có những thứ phải đi đến những nơi khác để mua, nhạc cụ sau khi chế tác mà không sử dụng thì rất nhanh hư hỏng, rồi ông chỉ những nhạc cụ sau khi làm xong được ông treo trên tường, cũng chẳng có khi nào dùng đến. Ông cũng khoe với tôi tấm giấy khen giải A khi ông tham gia hội diễn nghệ thuật quần chúng cách đây gần 10 năm, từ đó đến giờ những loại nhạc cụ này được treo cẩn thận trên tường. Từng lời kể của ông cứ đều đều, buồn buồn như đang thì thầm cùng tiếng thở khó nhọc. Ông cũng từng vận động thanh niên trong buôn học đánh chiêng Kram, được một thời gian đầu, rồi ai cũng bận bịu với công việc xã hội, việc học hành, cuối cùng chỉ một người hàng ngày vẫn chạy sang trò chuyện, hỏi han ông như khi còn trẻ ông hay theo bác mình vậy, ông thấy mình lẻ loi trong hành trình lưu giữ nét đẹp của dân tộc giữa cuộc sống bộn bề có quá nhiều thứ phải lo… Ông tâm sự: Thời của bác chưa được học chữ nhiều như các cháu bây giờ, nên cả tuổi thơ của bác là những tháng ngày lẽo đẽo theo cha mẹ lên rẫy. Khi đã thanh niên rồi, bác đi theo anh trai của mẹ học cách làm nhạc cụ của dân tộc mình, vì bác mê những âm thanh đó lắm. Nhiều đêm đi ngủ mà chúng cứ văng vẳng bên tai như là có ai đó đang thổi bên cạnh mình vậy. Đâu có được ghi chép lại hay thu âm lại như bây giờ. Mình nghe, nhìn bằng tim thì mới nhớ được cháu ạ… Sức khỏe bác giờ yếu rồi, bác chỉ có một mong muốn duy nhất là có ai đó để bác truyền lại nghề chế tác nhạc cụ này, bác từng mong muốn nhà nước mình có thể hỗ trợ kinh phí hoạt động để mở các lớp hoặc câu lạc bộ truyền dạy cho thế hệ trẻ…
Trở về với công việc hằng ngày, tôi cứ trăn trở mãi về hình ảnh người đàn ông gầy yếu ấy một mình trên con đường gìn giữ văn hóa dân tộc cho con cháu, trong khi chúng tôi, những con người trẻ tuổi với bao nhiêu hoài bão xa xôi tận đẩu tận đâu.
Lần gần đây nhất tôi gặp ông là khi làm lễ bàn giao nhà sinh hoạt cộng đồng cho Buôn Hồ B sau khi được nhận kinh phí hỗ trợ sửa chữa từ dự án của nước ngoài. Muốn giới thiệu cho đoàn công tác nước bạn biết đến văn hóa của người bản địa, nhưng nghe nói ông mới bị bệnh nặng nên tôi suy nghĩ mãi mới dám ngỏ ý muốn ông cùng những người lớn tuổi của buôn biểu diễn vài tiết mục văn nghệ, có đánh chiêng, hát ay ray, biểu diễn nhạc cụ dân tộc. Nghe xong, ông mừng lắm, đôi mắt sáng bừng. Sáng hôm ấy khi tôi đến đã thấy ông cùng những người đàn ông có tuổi trong buôn đang lau chùi lại những chiếc chiêng, một vài thanh niên đang xúm lại xem, người thì giúp họ treo những chiếc chiêng lớn lên. Aê Chiên mặc chiếc áo truyền thống có nhiều nút trước ngực, ông đang gõ từng chiếc chiêng xem âm thanh đã chuẩn chưa, rồi ông cũng phân công cho những người khác rằng người nào đánh chiếc nào. Ông  cứ đi ra đi vào, ánh mắt không dấu được sự hồ hởi, vui mừng xen lẫn hồi hộp, tưởng chừng người đàn ông có ánh mắt buồn rượi với khuôn mặt xanh xao mà tôi gặp cách đây mấy ngày đã lột xác thành người khác, một người nhanh nhẹn, hoạt bát hơn… Bên hiên trước nhà cộng đồng có một nhóm bạn trẻ mặc áo Đoàn thanh niên đang xúm quanh hai người mặc áo truyền thống chỉ cách thổi cây đàn đing năm. Ông chỉ cho tôi số nhạc cụ ông mang từ nhà, có đến năm, sáu loại, một mình ông sẽ diễn tấu trong buổi sáng ấy.
Tiếng chiêng, tiếng Đing năm, tiếng Ky kpah xen lẫn tiếng cười nói rôm rả của những người lớn tuổi, những ánh mắt trầm trồ thích thú của thanh niên, tôi thầm nghĩ “ Bác sẽ không lẻ loi trên con đường ấy nữa đâu bác Aê Chiên ạ”.

Thứ Sáu, 10 tháng 11, 2017

VÀI NÉT VỀ VĂN HOÁ DÂN GIAN CỦA ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN KRÔNG NĂNG tác giả NGỌC MUỘN - TẠP CHÍ CHƯ YANG SIN SỐ: 302 - THÁNG 10 NĂM 2017

TRANG CHUYÊN ĐỀ NHÂN KỶ NIỆM 30 NĂM THÀNH LẬP
HUYỆN KRÔNG NĂNG (1987 – 2017)




Huyện Krông Năng là một địa bàn chiến lược quan trọng của tỉnh Đắk Lắk, có nhiều tiềm năng để phát triển về kinh tế, văn hóa, du lịch... Trong thời điểm hiện nay, việc giải quyết các vấn đề cơ bản về kinh tế - xã hội là nhiệm vụ trọng tâm thì việc giữ gìn và phát huy những giá trị văn hoá của cộng đồng các dân tộc trong huyện được xem là một nhiệm vụ quan trọng góp phần xây dựng vùng văn hóa Krông Năng - Đắk Lắk - Tây nguyên trong nền văn hoá Việt Nam đa dạng, đậm bản sắc dân tộc.
Với 24 dân tộc anh em đang sinh sống trên địa bàn 12 xã, thị trấn, đã tạo nên một bức tranh đa sắc màu, chứa đựng nhiều giá trị riêng về văn hóa của từng dân tộc trong cả cộng đồng dân cư. Chính điều này tạo cho Krông Năng có một hệ giá trị tinh thần phong phú, đa dạng có thể thúc đẩy phát triển văn hóa du lịch, góp phần ổn định cuộc sống cho nhân dân.
Để có cái nhìn tổng quát về hoạt động văn hoá của các dân tộc thiểu số ở Krông Năng, có thể chia ra thành hai nhóm: Nhóm bản địa (còn gọi là dân tộc tại chỗ) và nhóm chuyển cư từ các vùng miền trên cả nước.
Đồng bào tại chỗ trên địa bàn huyện Krông Năng đại đa số là người Êđê thuộc nhánh Êđê Adham, cũng một số ít tự nhận mình là Êđê Bih. Họ có phong tục tập quán và hệ thống lễ hội dân gian truyền thống cơ bản như cộng đồng Êđê. Các lễ hội theo lễ nghi nông nghiệp và vòng đời người được duy trì thường xuyên. Hàng năm, lễ cúng bến nước, lễ cúng được mùa, cúng về nhà mới… tuy có thưa dần nhưng vẫn còn tổ chức tại các buôn. Nhiều điệu múa dân gian được phục dựng để phục vụ các lễ hội và biểu diễn trong các dịp sinh hoạt cộng đồng. Đội nghệ nhân buôn Wiâo đã từng đạt nhiều huy chương vàng liên tục trong các năm gần đây ở cấp tỉnh và khu vực, được vinh dự mời đi tham gia giao lưu ở Làng văn hóa các dân tộc Việt Nam tại Đồng Mô - Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Hành trình di sản văn hóa tại Quảng Nam và tham gia giao lưu văn hoá Việt Nam - Thụy Điển tại thủ đô Hà Nội ...
Theo số liệu điều tra mới đây thì tại huyện Krông Năng có hơn 72 bộ chiêng quý với tuổi thọ trên 100 năm và hàng trăm bộ chiêng khác; đây là một kho tài sản vô cùng quý giá đang nằm trong các gia đình mẫu hệ Êđê; nhiều nghệ nhân tự chế tác ra các loại nhạc cụ như đàn Goong, Đing Tut, Ching Kram… các làn điệu dân ca như Eiray, hát K’ưt, các bài cúng, bài chiêng và các điệu múa; đặc biệt điệu múa: Mkăm Prôk là một giá trị nghệ thuật độc đáo riêng có của buôn Wiâo – Krông Năng mà không nơi nào trên địa bàn Đắk Lắk có được (Mkăm có nghĩa là: Tụ tập, đông người. Prôk có nghĩa: con sóc). Tên gọi của điệu múa một phần đã giải thích: Đây là một vũ điệu đông người, còn động tác của các thiếu nữ tham gia thì thoăn thoắt như con sóc rừng. Hình ảnh chàng Đăm San đại diện cho khát vọng sức mạnh, tay cầm khiên, tay cầm đao, giương oai, biểu diễn võ thuật đã được thể hiện rõ trong điệu múa của Lễ bỏ mả... Đây là một giá trị nghệ thuật đã được gìn giữ và bảo tồn vì hiện nay lễ hội bỏ mả đã thưa dần và có nguy cơ mất đi…
Ngoài dân tộc bản địa Êđê, huyện Krông Năng cũng có nhiều dân tộc khác chuyển cư từ các tỉnh thành trong cả nước đến đây làm ăn sinh sống.
Nhóm văn hóa Tày – Nùng (tập trung chủ yếu tại xã Ea Tam và các vùng lân cận) , nhóm văn hoá Thái - Mường tại xã ĐliêYa và rải rác khắp nơi trong huyện.
Tại xã Ea Tam, vào dịp rằm tháng giêng hàng năm đều tổ chức lễ hội văn hoá dân gian Việt Bắc. Đây là một lễ hội lớn thu hút ước tính hơn 10.000 lượt khách tham gia, tạo nên một nét văn hoá riêng mang đậm bản sắc của các dân tộc phía bắc chuyển cư vào Krông Năng làm ăn, sinh sống; các trò chơi dân gian như tung còn, đi cà kheo… xen lẫn với các trò chơi hiện đại tạo ra sân chơi bổ ích cho người tham gia lễ hội .
Đồng bào dân tộc Thái chuyển cư, đến sinh sống tại các xã ĐliêYa, Phú Xuân, Phú Lộc, Ea Tân, Tam Giang, Ea Dăh. Họ đã mang theo phong tục tập quán và những nét văn hoá riêng của họ, các nghi thức, lễ thức chính vẫn được duy trì. Nghề dệt thổ cẩm truyền thống vẫn còn lưu giữ với những hoa văn, họa tiết mang sắc thái riêng, đặc biệt có những nghệ nhân đã đạt giải cao trong hội thi; Đội nghệ nhân khua Loóng của thôn Ea Krái xã ĐliêYa đã được biết đến nhờ có các tiết mục biểu diễn xuất sắc trong các hội thi gần đây.
Tuy nhiên, cũng giống như các địa phương khác trong tỉnh, giá trị văn hóa các dân tộc trên địa bàn huyện Krông Năng cũng đang có nguy cơ bị mai một dần, một số ít giá trị còn có nguy cơ mất hẳn hoặc thất truyền; số lượng cồng chiêng ngày càng ít, lực lượng nghệ nhân có kinh nghiệm truyền dạy những bài chiêng cổ hầu hết đã lớn tuổi và mất dần theo năm tháng, nguy cơ thất truyền là không thể tránh khỏi; một số đông đồng bào theo đạo không còn sử dụng cồng chiêng và đã bán với giá rẻ, việc truyền lại cho lớp trẻ còn gặp nhiều khó khăn, bất cập. Các lễ hội truyền thống được tổ chức nhưng đã có sự tham gia của các phương tiện hiện đại vào lễ hội dân gian. Một số nghệ nhân chế tác nhạc cụ dân tộc tại các buôn Êđê quanh địa bàn thị trấn Krông Năng, xã Ea Hồ… đã quá lớn tuổi trong khi lực lượng trẻ đa số không mấy mặn mà với các nhạc cụ cha ông để lại mà tìm đến với nhiều phong cách của nền âm nhạc hiện đại, các hội thi, hội diễn, liên hoan vẫn chưa tìm ra được nhân tố trẻ mới …
Việc đầu tư kinh phí từ các đề án để bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống cho đồng bào các dân tộc khác trên địa huyện tuy có sự quan tâm nhưng vẫn chưa đủ mạnh; các hội diễn, hội thi, liên hoan chủ yếu là sự tham gia tự nguyện của quần chúng nhân dân, vì vậy, việc khai thác, bảo tồn phát huy vẫn chưa đạt hiệu quả như mong muốn.
Mới đây, Nghị quyết về phát triển du lịch huyện Krông Năng giai đoạn 2017 – 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 được ban hành đã mở ra một thời kỳ mới cho việc bảo tồn, phát triển văn hoá các dân tộc gắn với việc phát triển du lịch trên địa bàn. Danh thắng quốc gia Thác Thuỷ Tiên và một vài cảnh quan thiên nhiên được quan tâm, chú trọng đưa vào các tour du lịch. Bên cạnh đó, hình thức du lịch homestay (du lịch xanh) lưu trú tại các thôn, buôn đồng bào dân tộc, khám phá những giá trị văn hoá tinh thần sẽ là cầu nối cho việc phát huy giá trị văn hoá. Những bài chiêng được biểu diễn trong nhà dài cạnh những ché rượu cần ngây ngất men say; các món ẩm thực dân gian truyền thống, những điệu múa, lời ca, tiếng nhạc là điểm nhấn không thể thiếu cho du khách, bên cạnh đó, các nghệ nhân có một phần kinh phí để duy trì và phát triển một cách thường xuyên.
Xây dựng, tổ chức hoạt động mô hình thôn, buôn kiểu mẫu gắn với du lịch cộng đồng; thường xuyên tổ chức các hoạt động văn hóa cồng chiêng trong sinh hoạt cộng đồng, lễ hội, trong các hoạt động văn hóa du lịch cũng là một trong những nội dung chính mà huyện Krông Năng đang triển khai thực hiện để bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá dân gian truyền thống trên địa bàn.



Thứ Tư, 8 tháng 11, 2017

VÀI NÉT VỀ CƠM HẾN Ở XÃ PHÚ XUÂN HUYỆN KRÔNG NĂNG tác giả TRẦN CHI - TẠP CHÍ CHƯ YANG SIN SỐ: 302 - THÁNG 10 NĂM 2017

TRANG CHUYÊN ĐỀ NHÂN KỶ NIỆM 30 NĂM THÀNH LẬP

HUYỆN KRÔNG NĂNG (1987 – 2017)






Cuối năm 2017 này xã Phú Xuân tròn 40 tuổi, với một vùng đất sắp bước vào kỷ niệm 40 năm ngày thành lập xã sẽ có rất nhiều chuyện để bàn, để nói và để nhớ… Nhưng không hiểu tại sao cứ nghĩ về Phú Xuân là tôi lại nhớ đến câu thơ của Nguyễn Khoa Điềm:
…Họ đắp đập be bờ cho người sau trồng cây hái trái
Họ gánh theo tên xã tên làng trong mỗi chuyến di dân…
Đúng vậy, cách đây 40 năm, những người dân thành phố Huế trong đợt di dân lớn vào Tây Nguyên đã gánh theo cái tên Phú Xuân mà Chúa Nguyễn Hoàng đã đặt cách đây 700 năm vào huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk. Đi kèm với cái tên đó, họ cũng gánh theo cả những phong tục, tập quán, gánh theo cả “giọng điệu mình cho con tập nói”…Vì vậy, lớp trẻ ở Phú Xuân hiện nay vẫn cứ cái giọng Huế trọ trẹ của cha ông ngày nào để đi học, đi làm khắp cả nước kèm với thói quen “trời hành” của mình, đó là thói quen ăn cay. Ăn cay đến mức mà những người Huế xa quê được gắn một “chứng minh thư” mới: Người Việt gốc Ớt.
Quả thực, người Huế ăn cay đến mức mà người xứ khác cũng lắc đầu và tiêu biểu nhất trong các món ăn “cay kinh khủng” đó thì “Cơm Hến” được xếp vào loại thượng thừa. Theo nhà văn Trần Kiêm Đoàn, ăn cơm hến cũng có “ăn dòng”“ăn theo”: Ăn dòng là những người Huế chính thống, sinh ra từ miệt vườn An Hòa, An Lăng, An Cựu, Bao Vinh, Vỹ Dạ, Chợ Dinh, Chợ Nọ trở vào thành phố, đó là những người mới sinh hôm trước, sáng hôm sau đã có O bán cơm hến gánh triêng gióng, nồi niêu  ngồi lù lù ngay trước cửa nêm cơm hến rồi. Còn ăn theo là dân Huế thuộc phận gái chữ tòng hay thân trai dài lưng tốn vải từ quê lên tỉnh học hoặc trong Quảng ra thi rồi “lỡ bước sang ngang” mà ở lại đất thần kinh… Vậy cơm hến ở xã Phú Xuân huyện Krông Năng thì như thế nào? Nó có gì khác so với vùng đất cố đô cách 700 cây số mà họ đã di dân?
Cơm hến là món cơm đạm bạc của con nhà nghèo mà theo cụ Trần Văn Tường - Giáo sư Hán văn trường Đại học sư phạm Huế, thì chỉ có canh hến chan với cơm nguội, thêm một chút rau tươi và gia vị. Có thể ban đầu do nghèo khó, do tiết kiệm nên người ta dùng lại cơm nguội còn thừa từ đêm hôm trước cho buổi sáng hôm sau, tuy nhiên cơm nguội để qua đêm sẽ se mình lại, không dính vào nhau, không nhão nhoét, không làm cho các loại rau sống tím giập, bớt dòn và gia vị bớt hương thơm. Tại xã Phú Xuân vì không có những gánh cơm hến truyền thống do những O, những chị với chiếc áo dài cũ kỹ, với tiếng rao lanh lảnh đi rao bán khắp các ngõ hẻm mà chỉ có một vài quán cơm hến (tất nhiên là có kèm thêm những thức ăn đồ uống khác nữa). Các quán này do khách hàng không thường xuyên, khi thì đông, khi thì vắng khách nên chủ quán không dám chủ động nấu nhiều cơm để nguội. Nhiều khi khách không gặp may, gặp lúc quán đông người nên đành ăn cơm hến khi cơm đang còn nóng…
Về hến ở Huế có thể khẳng định ngay rằng: Hến ngon nhất ở Huế là hến cồn. Cồn Hến là cách nói nôm na của người dân, trong thuật phong thủy nó chiếm vị “Tả Thanh Long” rất quan trọng trong Dịch lý của kiến trúc kinh thành Huế. Tại xã Phú Xuân cách kinh thành Huế 700 cây số, lại trong thời bao cấp thì lấy đâu ra cái vị ngọt thanh và mùi thơm độc đáo của hến cồn. Đến đây ta mới thấy hết tinh thần sáng tạo của những mệ, những O bán cơm hến ở Phú Xuân; không có hến nhỏ, ngon của cồn hến thì tìm kiếm tại chỗ những loại hến to, thậm chí lấy những con “Vọp Vọp”, con Trai to gần bằng bàn tay luộc lấy nước rồi xắt nhỏ ra thay hến. Thiếu bắp chuối sứ, bạc hà… thì thay bằng các loại rau khác như rau má, môn nước… Ngoài ra, một số loại rau có mùi vị đặc biệt vẫn có thể dùng như tía tô, diếp cá, rau húng… tùy theo sở thích của từng người - “…Ngay cả Thúy Kiều khi vắng cũng còn thay Thúy Vân vào được nữa là cơm hến…” miễn sao những “người Việt gốc ớt” xa quê vẫn cảm nhận được hương vị cơm hến quê nhà là quý lắm rồi! Nhớ lại những lần tôi rủ rê những người bạn “tha phương tứ xứ” của tôi gồm cả dân Bắc, dân Quảng, dân Nam… đi ăn cơm hến ở Phú Xuân, các bạn tôi nhận lời đi một cách rất hào sảng, nhưng tất cả đều khéo léo thủ thêm những chiếc khăn tay để lau mồ hôi. Nhiều người nói: Đi ăn riết rồi cũng quen, cũng thấy ngon, đặc biệt là nhiều loại rau sống khác nhau được xắt nhỏ, trộn lại để vào đĩa nhìn rất tươi mắt và tạo được mùi hương riêng không lẫn vào đâu được, nhưng mặt khác thì vẫn có cảm giác như Tôn Ngộ Không đang bị nhốt trong lò bát quái của Thái thượng lão quân, vì vậy khăn tay là vật không thể thiếu khi ngồi ăn cơm hến.
Cơm hến ngoài chức năng điểm tâm cây nhà lá vườn, nó còn mang tính tiết kiệm cao của người Huế. Giá cả tô cơm hến tại Phú Xuân hiện nay giao động từ mười đến mười lăm ngàn đồng, nếu so với đời sống hiện nay tại Krông Năng thì giá cả đó vẫn dễ chịu và chấp nhận được. Đặc biệt nếu đem so sánh với một tô bún giá từ ba mươi đến bốn mươi ngàn đồng tại Buôn Ma Thuột thì cơm hến ở xã Phú Xuân huyện Krông Năng sẽ được xếp vào diện no, ngon, bổ, rẻ…
Có lẽ đối với những người Huế xa quê và cả những người yêu Huế hình như đều có tô cơm hến nằm ở đâu đó trong những ô ngăn ký ức của mình trên bước đường tha hương… Trên vùng đất mới Phú Xuân này, người Huế do được sống tập trung nên ít nhiều đều lưu giữ được những nét truyền thống, và một trong những nét truyền thống đó là những món ăn tinh hoa hoặc giản dị, trong đó cơm hến tuy là món ăn bình dân, giản dị nhưng lại được xếp vào hạng khó quên và cũng “chẳng nơi nào có được”.
Phú Xuân như một bến đỗ cho những người Huế xa quê và những người yêu Huế ở Đắk Lắk thỉnh thoảng cập bến, tiếp thêm năng lượng, tiếp thêm sức mạnh để rồi lại tiếp tục vững bước trên con đường tha hương lưu lạc của mình.

* Những chữ in nghiêng hoặc nằm trong ngoặc kép là trích tư liệu.

Thứ Ba, 7 tháng 11, 2017

QUAN NIỆM MỚI MẺ VÀ HIỆN ĐẠI VỀ TÌNH YÊU QUA BÀI THƠ SÓNG CỦA XUÂN QUỲNH tác giả VĂN THÀNH - TẠP CHÍ CHƯ YANG SIN SỐ: 302 - THÁNG 10 NĂM 2017





(Đọc Sóng của Xuân Quỳnh, SGK Ngữ văn 12, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2016)



Xuân Quỳnh là nhà thơ của những khát khao cháy bỏng trong tình yêu và hạnh phúc bình dị đời thường. Với một tâm hồn nhân hậu, nồng nàn và tha thiết, Xuân Quỳnh đã để lại một sự nghiệp thi ca khá bề thế trong nền văn học dân tộc. Tác giả là một trong số ít các nhà thơ nữ trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mỹ có một phong cách nghệ thuật độc đáo, xứng đáng với Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật mà Nhà nước ta vừa trao tặng năm 2017. Bài thơ Sóng là thi phẩm nổi tiếng của Xuân Quỳnh được đưa vào giảng dạy trong nhà trường phổ thông. Với tác phẩm này, nhà thơ đã cất lên một tiếng nói rất mới mẻ và hiện đại về tình yêu qua cái tôi trữ tình tác giả, đó cũng chính là tâm hồn của người phụ nữ trong thời đại mới.
Tình yêu là đề tài muôn thuở của văn chương kim cổ. Với thơ ca, sứ mệnh mang vác cây thập giá tình yêu lại càng trĩu nặng hơn bao giờ hết. Có lẽ từ khi có con người xuất hiện với những rung động thiết tha, mãnh liệt về tình yêu đôi lứa, thơ ca đã bay về trú ngụ giữa hồn người, để rồi ca hát đắm say hay khóc cười nổi trôi cùng duyên phận. Nữ sĩ Xuân Quỳnh sinh ra dường như là để yêu thương bằng một trái tim bỏng cháy, rất đỗi chân thành và mãnh liệt trong tình yêu. Nhiều thi phẩm viết về đề tài tình yêu của chị đã đằm sâu trong lòng bạn đọc suốt nửa thế kỷ qua như Thuyền và biển, Thư tình cuối mùa thu, Tự hát... Và nữa,  Sóng cũng nằm trong dòng thủy lưu ấy, cuộn trào một âm bản tình yêu.
Tuy nhiên, mỗi thời đại, mỗi cá tính tác giả, tình yêu lại mang một màu sắc và quan niệm riêng. Nhà thơ Xuân Quỳnh, thông qua hình tượng ẩn dụ sóng, đã phát đi một thông điệp rất mới mẻ và hiện đại về tình yêu với nhiều cung bậc khác nhau. Bằng những rung động hồn nhiên, chân thành và tha thiết, tác giả đã bộc lộ một cái tôi tràn đầy khát vọng đắm say, một cái tôi luôn chủ động kiếm tìm trong tình yêu để vươn đến cái bao la của sự tự do bằng sức mạnh của niềm tin trong sáng. Quan niệm mới mẻ và hiện đại về tình yêu của Xuân Quỳnh là dấu hiệu của sự vượt thoát khỏi những ràng buộc khắc nghiệt mà lễ giáo phong kiến lâu nay đã kìm hãm tình yêu tự do trong sáng của con người.
Đọc bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh, điều làm cho người đọc thú vị chính là nghệ thuật sử dụng hai hình tượng song hành, sóng đôi xuyên suốt bài thơ của tác giả: Sóng và em. Hai hình tượng ấy có khi tách rời nhau, có lúc lại bổ sung cho nhau, nhưng tất cả đều thể hiện vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ trong tình yêu, nhất là nhà thơ muốn biểu đạt một quan niệm mới mẻ và hiện đại của mình về tình yêu đôi lứa. Bằng phương thức ẩn dụ qua hình tượng sóng, những chuyển động tâm hồn, những khao khát tình yêu nồng nàn, tha thiết của cái tôi trữ tình tác giả trở nên cụ thể và sống động hơn. Nhưng dường như chưa thỏa, đặc biệt là khi mạch cảm xúc trào dâng mãnh liệt, Xuân Quỳnh đã sử dụng trực tiếp hình tượng "em" để giãi bày, tâm sự. Như vậy, hai hình tượng "sóng" và "em" đã đi suốt bài thơ như một sự hóa thân, nhập vai của cái tôi trữ tình tác giả, nhờ đó làm cho bài thơ lung linh và sống động hơn nhiều.
Trong hai khổ thơ đầu, tác giả đã phát hiện các trạng thái đối lập của con sóng biển, đó cũng chính là những cung bậc cảm xúc khác nhau của người phụ nữ khi yêu, từ đó bộc lộ niềm khao khát khám phá, tự nhận thức chính mình để vươn đến những chân trời bao la phía trước:
Dữ dội và dịu êm
Ồn ào và lặng lẽ
Sông không hiểu nổi mình
Sóng tìm ra tận bể
Quan niệm mới mẻ và hiện đại của Xuân Quỳnh trong khổ thơ trên nằm ở sự tự nhận thức và phát hiện. Có thể người phụ nữ truyền thống vẫn có khả năng nhận diện sự khác thường trong tâm hồn mình khi yêu như một lẽ tự nhiên về mặt cảm xúc, nhưng dám vượt qua sự hữu hạn của không gian sinh tồn, vươn mình ra bể khơi để khám phá chính mình của con sóng kia chỉ có thể là cảm thức của một tâm hồn phụ nữ hiện đại. Chính cái tôi tràn đầy khát vọng, mạnh mẽ và tha thiết ấy đã giúp cho Xuân Quỳnh có cái nhìn thấu suốt, lắng sâu hơn về tình yêu qua thời gian vô tận của ngàn xưa và cả ngàn sau:
Ôi con sóng ngày xưa
Và ngày sau vẫn thế
Nỗi khát vọng tình yêu
Bồi hồi trong ngực trẻ
Đến đây, nhà thơ đã không che giấu niềm khát vọng thường trực trong trái tim tuổi trẻ về tình yêu khi nhận thức được con sóng biển kia cũng muôn đời dào dạt, lúc "dữ dội", khi "dịu êm" ngàn năm rồi vẫn không thay đổi. Con sóng biển tự nhiên qua khổ thơ này đã được nhân cách hóa và trở nên vô cùng sống động. Phải nói rằng, chính nhà thơ đã đặt trái tim tình yêu vào lòng sóng biển khơi xa, soi ngắm nó từ ngàn năm trước rồi đến ngàn năm sau bằng một nỗi niềm yêu đương rạo rực. Con sóng biển dạt dào ngoài đại dương bao la đã hóa thân vào lồng ngực trẻ để đập mãi cái nhịp bồi hồi thương nhớ xuyến xao.
Như vậy, trong hai khổ thơ đầu, quan niệm mới mẻ và hiện đại của Xuân Quỳnh nằm ở khả năng phát hiện và nhận thức, dám vượt thoát để khám phá chính mình mà vươn đến một tình yêu cao rộng. Đến khổ thơ 3 và 4, quan niệm ấy là nỗi bâng khuâng đi tìm cội nguồn của con sóng tình yêu. Bằng các câu hỏi tu từ đặc sắc, nhà thơ đi truy tìm nguồn gốc của con sóng ngoài đại dương kia do đâu mà có. Chân thành và ngây thơ, tác giả tự hỏi rồi đành bất lực khi nhận ra sự vô cùng vô tận của thiên nhiên và tình yêu muôn thuở của con người. Cái tôi trữ tình lãng mạn Xuân Quỳnh càng khao khát khám phá bao nhiêu lại quay trở về thú nhận sự bất lực của mình bấy nhiêu:
Trước muôn trùng sóng biển
Em nghĩ về em, anh
Em nghĩ về biển lớn
Từ nơi nào sóng lên?

Sóng bắt đầu từ gió
Gió bắt đầu từ đâu?
Em cũng không biết nữa
Khi nào ta yêu nhau.
Đây là hai khổ thơ có thể xem là hay nhất của bài thơ, kết tinh vẻ đẹp nghệ thuật đặc sắc, phản ánh sự hồn nhiên và trong sáng của tâm hồn người phụ nữ qua cái tôi trữ tình tác giả. Sự bế tắc của Xuân Quỳnh trước những câu hỏi ngàn đời về tình yêu làm ta liên tưởng đến nỗi niềm của nhà thơ Xuân Diệu khi cố công đi cắt nghĩa ái tình: "Làm sao cắt nghĩa được tình yêu/ Có nghĩa gì đâu một buổi chiều/ Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt/ Bằng mây nhè nhẹ, gió hiu hiu" (Vì sao). Quan niệm khám phá tận cùng, khao khát tìm hiểu đến bến bờ vô tận của tình yêu chính là nét mới mẻ, độc đáo của nữ sĩ Xuân Quỳnh trong hai khổ thơ trên. Đó chính là cá tính mãnh mẽ, một cái tôi giàu khao khát, đắm say trong hạnh phúc và tình yêu.
Từ khát vọng khám phá cội nguồn của con sóng tình yêu, nhà thơ tiếp tục thể hiện cảm xúc và những quan niệm mới mẻ, hiện đại về tình yêu từ nỗi nhớ thương và tấm lòng chung thủy. Khi yêu nhau, có lẽ điều ta dễ nhận ra sớm nhất là tình cảm nhớ nhung tha thiết với người mình yêu. Nó bổi hổi bồi hồi, nó da diết cháy bỏng, nó nồng nàn hơn cả mọi nồng nàn. Chẳng thế mà từ trong ca dao, ông cha ta đã có những câu thơ tràn đầy nỗi nhớ, thiết tha và mãnh liệt: "Nhớ ai bổi hổi bồi hồi/ Như đứng đống lửa như ngồi đống than", "Nhớ ai như nhớ thuốc lào/ Đã chôn dưới đất lại đào lộn lên", "Nhớ ai ra ngẩn vào ngơ/ Nhớ ai ai nhớ bây giờ nhớ ai". Dường như có bao nhiêu đôi lứa yêu nhau trên cõi đời này là có bấy nhiêu nỗi niềm và sắc thái nhớ thương, thương nhớ. Đến Xuân Quỳnh, mượn hình tượng con sóng ngoài đại dương, bằng một cảm xúc chân thành, hồn nhiên, tác giả đã bộc lộ một nỗi nhớ thương dạt dào, sôi nổi và cũng sâu lắng đến vô cùng. Con sóng nổi trên bờ, con sóng ngầm dưới nước, khi cuồn cuộn tràn trề, lúc âm thầm lặng lẽ, vượt qua không gian xa cách, xáo trộn cả thời gian thức ngủ thông thường để tìm đến bến bờ hẹn ước:
Con sóng dưới lòng sâu
Con sóng trên mặt nước
Ôi con sóng nhớ bờ
Ngày đêm không ngủ được.
Nghệ thuật so sánh ở đoạn thơ trên thật tự nhiên nhưng đã phát huy hiệu quả nghệ thuật rất đặc biệt. Con sóng nhớ bờ, thao thức không ngủ được khiến cho nỗi nhớ trong tình yêu càng thêm sinh động và cụ thể. Nhưng dường như vẫn chưa đủ, chưa thỏa, chưa diễn tả hết nỗi niềm của chủ thể trữ tình tác giả, Xuân Quỳnh đã đẩy nỗi nhớ thương lên đến cao trào mãnh liệt chưa từng có khi đưa hình tượng "em" xen vào. Nhờ đó, khổ thơ đã phá vỡ cấu trúc quen thuộc, kéo dài thêm hai câu nữa để diễn tả nỗi nhớ da diết, cuộn trào của con sóng tình yêu. Qua đó, tác giả cũng bộc lộ một cảm thức rất mới mẻ và hiện đại trong tình yêu. Nỗi nhớ ở đây bất tận qua không gian, thời gian; xuyên thấm từ hiện thực cho đến giấc mơ, có lẽ nỗi nhớ trong tình yêu chưa bao giờ tràn trề và đắm say đến thế:
Lòng em nhớ đến anh
Cả trong mơ còn thức
"Cả trong mơ còn thức" là một cách diễn đạt rất mới lạ. Nỗi nhớ ấy gắn liền với quan niệm về lòng thủy chung trong sáng vô cùng. Chính tư tưởng đó đã mang lại sắc thái biểu cảm rất mới mẻ và hiện đại. Sự thủy chung trong tình yêu là có thể sống chết vì người yêu, vượt qua tất cả những cách trở không gian và thời gian. Tình yêu thủy chung phải được biểu hiện qua thách thức, là một cuộc kiếm tìm vô tận, giữa muôn ngàn hướng trong cõi đời rộng lớn, khi yêu người phụ nữ chỉ có duy nhất một phương để tìm về, đó là phương anh - một phương duy nhất của đời em:
Dẫu xuôi về phương Bắc
Dẫu ngược về phương Nam
Nơi bào em cũng chỉ
Hướng về anh - một phương
Thể hiện lòng thủy chung trong tình yêu, Xuân Quỳnh đã đưa hình tượng "em" lên trước hình tượng sóng. Khổ 6 nói em hướng về anh, khổ 7 mới nói sóng hướng về bờ "dù muôn vời cách trở". Hình như lúc cảm xúc đang quá trào dâng mãnh liệt, nhà thơ đã viết trong vô thức nỗi lòng của mình nên câu chữ cứ thế đan tràn trên mặt giấy. Em và sóng, sóng và em đã nhập thân, biến hóa một cách tự nhiên để tác giả giãi bày tình cảm mình nồng nàn, tha thiết. Mạnh bạo và quyết liệt trong quan niệm về tình yêu và hạnh phúc, nhà thơ cũng để cho lòng thủy chung vượt qua những lề thói thông thường, giống như tất cả con sóng ngoài đại dương kia cứ phải đến được bãi bờ, vỡ tung mình ra mới thỏa lòng khao khát:
Ở ngoài kia đại dương
Trăm ngàn con sóng đó
Con nào chẳng tới bờ
Dù muôn với cách trở
Sự chung thủy đã hóa thành niềm tin và khát vọng tuyệt đối không rào cản nào có thể cách ngăn, không có không gian dài rộng nào là không thể vượt qua. Phải đặt bài thơ Sóng vào những năm cả nước đánh Mĩ, biết bao chàng trai ngoài Bắc vào Nam kháng chiến, chúng ta mới nhận ra sức sống tâm hồn, vẻ đẹp thuỷ chung của một dân tộc thể hiện qua tâm hồn người phụ nữ trong tình yêu mà tác giả Xuân Quỳnh đã sẻ chia, gởi gắm.
Về mặt nghệ thuật, biện pháp đối lập, phép lặp cú pháp: "Con sóng dưới lòng sâu/ Con sóng trên mặt nước", "Dẫu xuôi về phương Bắc/ Dẫu ngược về phương Nam"; sự phá vỡ cấu trúc số câu trong khổ thơ thứ 5 (6 câu so với 4 câu ở các khổ thơ khác) cùng với cách diễn đạt giàu sắc thái cá nhân: "Cả trong mơ còn thức"... cũng góp phần thể hiện sự mới mẻ và hiện đại trong quan niệm tình yêu của tác giả. Đó là một tâm hồn cuồng nhiệt, sôi nổi; một trái tim say đắm, nồng nàn là nét cá tính rất riêng của nhà thơ Xuân Quỳnh không trộn lẫn, nhờ đó mà quan niệm về tình yêu cũng sâu sắc và độc đáo hơn.
Không những sôi nổi và mãnh liệt trong tình yêu, Xuân Quỳnh là thi sĩ của nhiều nỗi niềm trăn trở và suy tư sâu sắc. Bài thơ Sóng được viết lúc nhà thơ mới bước qua tuổi hai mươi lăm (1967), song người đọc đã bắt gặp một tâm hồn giàu suy tưởng và triết lí về tình yêu, về cuộc đời rất mới mẻ và hiện đại. Nhận thức được sự hữu hạn, bé nhỏ của kiếp người và sự mong manh của tình yêu đôi lứa, Xuân Quỳnh đã đưa tư tưởng của bài thơ lên một chiều kích mới qua một cảm thức thời gian nhiều trăn trở:
Cuộc đời tuy dài thế
Năm tháng vẫn đi qua
Như biển kia dẫu rộng
Mây vẫn bay về xa.
Chính nhận thức được sự vô cùng vô tận của thời gian và sự ngắn ngủi của đời người, Xuân Quỳnh đã ký thác vào đó một khát vọng sống vô cùng mãnh liệt và cao đẹp. Vì vậy, khát vọng dâng hiến và hòa nhập trong tình yêu là một cảm thức rất mới mẻ và hiện đại của Xuân Quỳnh. Tình yêu không vị kỷ mà phải mở rộng về phía vô biên. Tình yêu lứa đôi cũng phải gắn với tình yêu cuộc đời mênh mông rộng lớn:
Làm sao được tan ra
Thành trăm con sóng nhỏ
Giữa biển lớn tình yêu
Để ngàn năm còn vỗ...
Bài thơ khép lại nhưng cảm xúc và quan niệm về tình yêu của nhà thơ vẫn như những con sóng triền miên vỗ hoài không dứt. Đó là khát vọng sống, khát vọng hiến dâng hết mình trong tình yêu thông qua một cảm quan hiện đại mà Xuân Quỳnh là nhà thơ đại diện cho phái nữ đã cất lên tiếng lòng rất mực nồng nàn và cháy bỏng. Quả vậy, quan niệm mới mẻ và hiện đại về tình yêu của Xuân Quỳnh bên cạnh bài thơ Sóng còn thể hiện qua nhiều thi phẩm khác nữa mà bốn câu thơ sau trong bài Tự hát là sự gói gút nhiều nhất hồn thơ đắm đuối của thi nhân:
Em trở về đúng nghĩa trái tim em
Là máu thịt đời thường ai chẳng có
Vẫn ngừng đập khi cuộc đời không còn nữa
Nhưng biết yêu anh cả khi chết đi rồi.
Có lẽ ngôi sao chiếu mệnh cuộc đời Xuân Quỳnh là ngôi sao có thiên hướng ban phát ánh sáng bằng thơ, bằng nhạc giữa cõi mê li nồng thắm ái tình. Xuân Quỳnh sinh ra đã yêu một cách chân thành, hồn nhiên và mãnh liệt; chết đi rồi vẫn dành trọn trái tim mình để đắm đuối yêu thương. Sóng - một thi phẩm ra đời giữa cuộc kháng chiến chống Mỹ vô cùng ác liệt, song đã thể hiện một quan niệm mới mẻ và hiện đại của tác giả về tình yêu. Xét trên bình diện tư tưởng, đó là một đóng góp mang hơi thở rất riêng của nhà thơ nữ tài hoa và độc đáo này. Qua đó, người đọc nhận ra vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ khi dám vượt qua những buộc ràng thế sự, những lễ giáo ngưng đọng hàng ngàn năm để cất lên tiếng nói nhân văn, nồng nàn và say đắm trong tình yêu. Cảm thức hiện đại và tiến bộ ấy của Xuân Quỳnh qua bài thơ Sóng như đóa hoa lạ và thấm đẫm sắc hương mà ai đã một lần chiêm cảm dễ gì quên được.



CỦA ĐỂ DÀNH truyện ngắn của HỒNG CHIẾN



          Ông mặt trời đỏ như hoa plang từ từ vén mây nhô lên trên ngọn núi phía đông. Mấy đám mây chắc mắc cỡ cũng hồng hào cả lên, bay dần về phía tây rải ánh nắng vàng rơi xuống lá cà phê lấp lánh như dát bạc.
Đêm qua trời bất chợt đổ mưa, cơn mưa không dài nhưng nặng hạt làm không khí trong lành hẳn lên. Gió nhè nhẹ thổi qua, lật từng lá cà phê xanh thẫm như giới thiệu với trời đất từng chùm quả xanh sậm, to bằng ngón tay út, căng tròn. Cũng lạ, hàng năm cứ đến tháng ba, khi cơn mưa đầu mùa ập đến sau những ngày mùa khô nắng rát, cây cà phê trở mình, từ kẽ lá bung ra chùm hoa trắng tinh khôi, thơm ngát. Ong, bướm đổ về chao lượn, vẽ nên bức tranh kỳ thú và lộng lẫy trên cánh rừng cà phê bạt ngàn của Tây Nguyên. Thế rồi thời gian trôi qua, những cơn mưa thưa dần, báo hiệu mùa thu sắp hết, mùa đông đến gần; lá cà phê chuyển từ màu xanh non qua mầu xanh đen như ngầm giới thiệu quả cà phê sắp chín. Cuối đông, quả cà phê màu xanh sẫm chuyển dần qua màu vàng nhạt rồi đỏ rực lên, đấy là lúc thu hoạch. Lũ chồn hương khoái cà phê chín, không biết chui từ đâu ra cứ ung dung leo lên cành chọn những quả chín đẹp nhất mở tiệc, ăn đến căng tròn cả bụng.
Rừng cà phê Tây Nguyên các cây chỉ cao ngang đầu người, cành lá đan vào nhau không cho ánh nắng chui xuống mặt đất. Vùng đất Ea Kty rộng cả ngàn ha chỉ có một cây đa khổng lồ, thân to đến bảy người lớn nối tay ôm chưa hết. Xung quanh gốc đa còn có những rễ cây to như những cột đình mọc từ trên cành, chọc xuống mặt đất để giữ cái tán lá khổng lồ che mát cho cả một vùng rộng lớn đứng vững trước mưa gió. Từ xa, có thể thấy cây đa như một cái ô lớn nổi bật trên rừng cà phê. Người già bảo rừng cà phê bây giờ trước đây là rừng già của đại ngàn; nhưng vì cần đất trồng trọt, con người phá rừng lấy đất trồng cà phê, duy nhất cây đa còn sót lại mà thôi.
Sáng nay đàn chim chào mào bay đến cây đa sớm nhất, cả bọn tản ra, đứng lên lá đa thưởng thức từng quả đa to như ngón tay người lớn màu tím. Khi ăn chúng chuyện trò rôm rả, cái mũ nhọn hoắt đen bóng đội trên đầu cứ giơ lên, giật xuống liên tục. Có lẽ quả đa nhiều nước quá nên thỉnh thoảng có những giọt nước màu hồng vương vãi lên chiếc khăn choàng trắng đeo nơi cổ chim, óng ánh như chuỗi hồng ngọc. Toàn thân chim khoác áo màu nâu nhạt, phần dưới bụng màu trắng, dưới khóe mắt có một túm lông đỏ như quả ớt chín dính vào, dưới đuôi có một đám lông màu đỏ, có lẽ vì thế người ta gọi chúng bằng cái tên ngồ ngộ: Chào Mào Đỏ Đít. Chim chào mào sống theo đàn, mỗi đàn vài chục con, khi kiếm ăn thường hay cất tiếng hót làm cảnh vật cũng như xinh đẹp hơn lên.
Ào, ào, ào… tiếng động như có một cơn gió lớn ập đến, các lá đa khua vào nhau làm những quả đa chín quá thi nhau rơi xuống mặt đất như mưa. Bầy chim cu xanh không biết từ đâu bay đến, sải cánh che lấp cả ánh mặt trời trước khi đáp xuống ngọn cây đa. Chim cu xanh nhìn hình dáng giống chim bồ câu nhà nhưng toàn thân khoác áo choàng màu xanh lá cây, mỏ vàng như bôi nghệ, đầu cánh có viền vàng; riêng đối với chim trống phía cổ còn được trang điểm một chiếc khăn màu gạch, còn chim mái không có. Chim đi theo bầy đông đến cả ngàn con, con nào cũng to gấp đôi, gấp ba chim cu gáy, leo trèo như sóc. Quả đa chín là món ăn ưa thích của chim cu xanh nên chúng tóm từng quả một nuốt chửng chứ không từ tốn xẻ nhỏ, ăn từng miếng một như chào mào.
Bầy chim chào mào hình như đã dùng xong bữa điểm tâm nhảy xuống mấy cành cây nhỏ phía dưới trò chuyện rôm rả. Một chú chắc là em út của bầy, nghiêng nghiêng cái đầu nói:
-         Toàn là lũ to xác vậy mà ngủ muộn, người ta ăn xong rồi mới tới.
-                     Chưa hẳn vậy đâu, có thể họ ở xa, phải đi một quãng đường dài mới tới đây đấy!
Một con chim chào mào khác có vẻ chim chị, trả lời. Một con Cu Xanh đang ăn gần đó, cúi xuống góp chuyện:
-         Chúng tôi ở xa lắm, từ trên dãy núi mờ mờ phía nam kia tới đấy.
-         Xa vậy cơ ạ?
Chào Mào em ngạc nhiên, tròn xoe đôi mắt đen láy ra nhìn, kêu lên. Cu Xanh nói tiếp:
-                     Chúng tôi thức giấc cùng với mấy đám mây vàng phía đông, vậy mà đến bây giờ mới tới đây đấy.
-         Xa thế, làm sao biết hôm nay cây đa có quả chín mà tới?
-                     Có gì đâu, tất cả các cây trong vùng có quả chín vào thời gian nào, họ hàng chúng tôi đều ghi nhớ, rồi sắp xếp lịch đến thưởng thức thôi mà.
Nghe Cu Xanh trả lời, chị em Chào Mào cùng đồng thanh kêu lên:
-         Tài thật, tài thật.
-         Có gì mà khen tài, mùi quả chín theo gió bay qua cả mấy cánh rừng, ai mà chẳng biết.
Bầy Sáo Nâu không biết đến dự tiệc từ lúc nào cũng góp chuyện. Sáo Nâu phủ trên đầu bộ lông đen nhánh, cổ và ngực đen nhạt, choàng thêm chiếc áo nâu tím từ lưng qua bụng, riêng viền cánh có màu đồng điểm thêm vài chiếc lông trắng làm nổi bật chiếc đuôi dài màu đen. Sáo Nâu giơ chiếc mỏ vàng ươm có chòm lông vàng kéo dài từ bên mép đến phần dưới mắt, như được một họa sỹ khéo tay vẽ thêm vào, nói tiếp:
-                     Chúng tôi cũng ở rất xa, nơi có những cây cao chót vót để nhìn ngắm đất trời thỏa thích chứ không như các bạn Chào Mào chỉ thích những lùm cây thấp bé đâu. Ơn trời, chúng tôi có thể ngưởi thấy mùi quả chín cách xa đến bốn ki lô mét đấy.
-                     Ô, Sáo Nâu tài quá, vậy anh có biết vì sao mấy bác Phượng đứng ở sân trường học đang xanh tốt thế, bỗng nhiên lá bạc dần, bạc dần rồi chuyển qua màu vàng và rụng tơi tả. Những quả cây xanh tươi giờ cũng đổi sang màu nâu đen, co quắp lại như đang đau đớn lắm không?
Chào Mào em giơ cái mỏ sừng đen bóng lên hỏi, Sáo Nâu ậm ừ trả lời:
-         Hình như, hình như là… bác ấy ốm đó.
-                     Sao tất cả các cây phượng lại bị ốm cùng lúc như mắc căn bệnh hiểm nghèo vậy?
-         Bíp bìm bịp, bíp bìm bịp; các bạn nói sai rồi!
Tất cả ngạc nhiên nhìn xuống phía dưới, nơi có cành thấp nhất xem ai vùa nói. Thì ra đó là Bìm Bịp – người ta lấy tiếng kêu để đặt tên cho loài chim chuyên chui lủi trong các đám lá, bụi cây rậm rạp bắt rắn và lớp thú nhỏ như chuột, nhái… đánh chén. Bìm Bịp từ đầu đến đuôi lông màu đen, riêng đôi cánh màu nâu đỏ, mắt màu đỏ tươi, còn cặp chân đen cháy; ít khi chịu đứng im, cái đuôi cứ giật lên, giật xuống liên tục.
-                     Nếu cây phượng không ốm thì sao lá rụng, quả cây đang đẹp thế cũng khô đét lại, sắp chết đến nơi rồi đấy.
Sáo Nâu không vừa lòng, hỏi lại. Bìm Bịp cười nhạt, bảo:
-                     Kiến thức nông cạn quá, phải học thêm nhiều nữa mới hiểu được sự đời. Nay đã gần cuối mùa mưa ở phương nam cũng là lúc kết thúc mùa thu, bước qua mùa đông. Mà mùa đông bác Phượng đi ngủ không chăm sóc được quả của mình nên mới buông xuôi để lá rụng, quả khô đấy mà.
-                     Làm gì có chuyện người mẹ vì buồn ngủ mà để con mình khô héo?
Chào Mào chị ngạc nhiên kêu lên, Bìm Bịp nghiêng nghiêng cái đầu như khoe chiếc mỏ cong, cứng như sắt thủng thẳng trả lời:
-                     Bác ấy đau đến rụng hết cả lá của mình rồi thì làm sao còn giữ nổi quả được nữa. Có thế mà cũng không hiểu?
-                     Cũng có lý!
Sáo Nâu tỏ vẻ đồng tình, trả lời. Cu Xanh chắc đã xong bữa sáng, nhảy xuống bên cạnh Chào Mào góp chuyện:
-         Cả nhà nói có phần đúng nhưng cũng có chỗ chưa đúng.
-         Sao đúng lại còn chưa đúng?
Chào Mào em ngạc nhiên kêu lên, hỏi lại. Cu Xanh trả lời:
-                     Mùa đông đến bác Phượng phải bỏ hết lá, đi ngủ để tránh rét. Khi ấy các quả cây trên cành là “của để giành” của bác ta đấy?
Cu Xanh nói dứt lời, Bìp Bịp nóng nảy văn lại:
-                     Quả cây ấy, bác ta có ăn được không, có mua bán, đổi chác cho ai được không mà bảo “của để giành”? Vô lý, hết sức vô lý!
-                     Cũng giống như loài chịm chúng ta, khi đẻ trứng rồi ấp; những quả trứng xinh đẹp đến thời gian nhất định phải vỡ ra mới có các chú chim con, phải vậy không? Quả cây cũng vậy, đến một chu kỳ nhất định, quả phải khô để bung hạt rơi xuống đất, mọc thành cây mới, tạo thế hệ mới – đó không phải “của để giành” thì là gì!
-                     A, giờ thì em hiểu rồi, “của để giành” là con - con là “của để giành”. Các quả phượng phải khô mới nứt vỏ cho hạt rơi xuống mặt đất, khi đủ độ ẩm hạt sẽ nảy mầm, giống như quả trứng ấp đủ ngày sẽ nở thành chim con vậy; đó là quy luật của tự nhiên chứ không phải cây Phượng ốm. Hay quá!
Chị em Chào Mào reo lên vui vẻ vì khám phá được một điều kỳ diệu. Bìm Bịp đỏ mắt lên, chắc là cũng vui mừng được mở rộng tầm hiểu biết, nhưng e thẹn liền kêu ầm lên: “Bíp bìm bịp, bíp bìm bịp”, rồi xòe cánh lao luôn xuống đám cà phê phía dưới biến mất.
Gió ào ào thổi đến, rừng cà phê nghiêng mình vờn theo gió. Cây đa lắc lư, khẽ nghiêng mình cho những quả đa chín quá rơi xuống mặt đất nghe lộp bộp, lộp bộp. Trên các cành cây, lũ chim hình như cũng phải xòe cánh ra để giữ thăng bằng rồi bỗng nhiên cùng cất tiếng hót, như một bản hòa tấu gửi vào không trung tràn đầy nắng ấm.
Tháng 9 năm 2017