Chủ Nhật, 24 tháng 9, 2017

GIỚI THIỆU TẠP CHÍ CHƯ YANG SIN SỐ: 301 - THÁNG 9 NĂM 2017 tác giả NGUYỄN VĂN THANH





TẤM GƯƠNG SÁNG NGỜI
VỀ ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG



Tổng bí thư Lê Hồng Phong tên thật là Lê Huy Doãn, sinh ra tại làng Đông, xã Hưng Thông, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An - thuộc lớp đảng đảng viên đầu tiên của Đảng, là Tổng bí thư thứ hai của Đảng, người học trò gương mẫu và xuất sắc của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Cuộc đời hoạt động cách mạng của đồng chí là tấm gương về đạo đức cách mạng, tình yêu gia đình, quê hương, đất nước, tinh thần hy sinh cho độc lập tự do Tổ quốc, hanh phúc của nhân dân.

Tổng bí thư Lê Hồng Phong là một người cộng sản kiên cường, nhà lãnh đạo tài năng.
Chiến tranh thế giới  lần thứ nhất kết thúc, để cứu vãn nền kinh tế suy thoái, thực dân Pháp thi hành chính sách vừa bóc lột nhân dân chính quốc, vừa ra sức bóc lột nhân dân thuộc địa, giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam vốn đã cực khổ lại càng cực khổ thêm. Trước tình cảnh ấy, tháng 1-1924, lúc chưa đầy 22 tuổi, đồng chí đã cùng Phạm Hồng Thái sang Xiêm (nay là Thái Lan) rồi sang Quảng Châu (Trung Quốc) tìm đường cứu nước. Tháng 4-1924, đồng chí gia nhập Tâm tâm xã, một tổ chức cách mạng do Hồ Tùng Mậu và Lê Hồng Sơn thành lập. Tháng 3-1925, đồng chí tham gia nhóm cách mạng đầu tiên gồm 9 người do Nguyễn Ái Quốc tổ chức và sau đó được kết nạp làm đảng viên Cộng sản dự bị. Cũng trong năm 1925, Lê Hồng Phong dự lớp huấn luyện chính trị do Nguyễn Ái Quốc vừa là người phụ trách đồng thời là giảng viên chính. Cũng năm đó, Lê Hồng Phong tham gia Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí hội và cùng với Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Sơn, v.v.. điều hành các công tác của Tổng bộ. Tiếp đó, với sự giới thiệu của Nguyễn Ái Quốc, Lê Hồng Phong được vào học Trường Võ bị Hoàng Phố. Trong thời gian này, Lê Hồng Phong còn tham gia hoạt động trong Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức ở Á Đông do Nguyễn Ái Quốc và một số nhà cách mạng châu Á thành lập.
Tháng 2.1926, Lê Hồng Phong được kết nạp vào Đảng Cộng sản Trung Quốc. Tháng 10.1926, đồng chí được cử sang Liên Xô theo học tại Trường Lý luận quân sự không quân ở Lêningrát (nay là thành phố Xanh Pêtécpua) và tiếp tục theo học Trường đào tạo phi công quân sự ở Bôrítxgơlépxcơ. Trong 3 năm (từ 1928-1931), đồng chí theo học tại Trường Đại học Phương Đông, được kết nạp vào Đảng Cộng sản Liên Xô và sau khi hoàn thành chương trình đại học, đồng chí đã được chuyển tiếp làm nghiên cứu sinh.
 Tháng 11.1937, Lê Hồng Phong bí mật về Sài Gòn, cùng Trung ương tích cực chỉ đạo việc thực hiện chủ trương chiến lược mới của Đảng. Nắm sát tình hình thực tế, Lê Hồng Phong đã cùng với Trung ương Đảng, đứng đầu là đồng chí Nguyễn Văn Cừ, quyết định chuyển Mặt trận thống nhất nhân dân phản đế Đông Dương thành Mặt trận thống nhất dân chủ Đông Dương (gọi tắt là Mặt trận dân chủ Đông Dương), nhằm tập hợp rộng rãi hơn nữa đông đảo quần chúng, tranh thủ hơn nữa mọi lực lượng có thể tranh thủ. Mặt trận dân chủ Đông Dương không chỉ bao gồm những lực lượng có tinh thần phản đế mà còn mở rộng đến các tầng lớp tư sản, địa chủ, các đảng phái cải lương ít nhiều tiến bộ, các thủ lĩnh dân tộc, tôn giáo, tán thành đấu tranh vì tự do, cơm áo, hòa bình. Mặt trận không chỉ bao gồm những người tán thành dân chủ thuộc ba nước ở Đông Dương, mà còn bao gồm cả những ngoại kiều, những người Pháp tán thành các khẩu hiệu đó. Trong điều kiện khó khăn và phức tạp của tình hình lúc bấy giờ, chủ trương thành lập Mặt trận dân chủ Đông Dương của Đảng là đúng, thu hút được rộng rãi mọi lực lượng. Vì vậy, phong trào đấu tranh của quần chúng tiếp tục phát triển và giành được những thắng lợi có ý nghĩa lớn. Trình độ giác ngộ của quần chúng cao hơn, trình độ tổ chức và lãnh đạo của các tổ chức Đảng vững vàng hơn, các khẩu hiệu đấu tranh chính xác, sát hợp hơn. Tháng 5-1938, lần đầu tiên ở Đông Dương, lễ kỷ niệm ngày Quốc tế lao động được tổ chức công khai. Riêng ở Hà Nội, cuộc biểu dương lực lượng ngày 1-5 đã có trên 25 000 người tham dự. Thắng lợi đó đã khẳng định việc thành lập Mặt trận dân chủ là việc làm kịp thời, đúng đắn.
Tổng bí thư Lê Hồng Phong là một Người Cộng sản kiên cường, nhà lãnh đạo tài năng là một tấm gương mẫu mực trong việc kết hợp giữa học và hành, lý luận và thực tiễn. Đồng chí Lê Hồng Phong còn là một nhà hoạt động quốc tế nhiệt thành. Ở đồng chí, thể hiện rất sâu sắc lòng yêu nước kết hợp với tinh thần quốc tế, cách mạng Việt Nam kết hợp với cách mạng thế giới.
 Khí phách bất khuất và tấm gương kiên trung hi sinh anh dũng của đồng chí Lê Hồng Phong.
Giữa lúc những chủ trương đúng đắn của Đảng đang được sự hưởng ứng mạnh mẽ của các tầng lớp nhân dân, thúc đẩy họ đấu tranh giành nhiều thắng lợi mới, thì Lê Hồng Phong bị bắt ngày 22-6-1938. Bọn mật thám dùng mọi thủ đoạn tra tấn, dụ dỗ nhưng đồng chí nhất quyết không khai. Không đủ chứng cớ để buộc tội, tòa án của đế quốc Pháp đành kết án đồng chí sáu tháng tù giam và ba năm quản thúc với lý do dùng thẻ căn cước giả. Trong thời gian bị quản thúc ở quê nhà, Lê Hồng Phong đã viết nhiều bài đăng trên các báo công khai của Đảng làm sáng tỏ những quan điểm của Đảng trong tình hình mới, nhằm tranh thủ tập hợp rộng rãi các lực lượng dân chủ và tiến bộ để đấu tranh đòi tự do, dân chủ, cải thiện dân sinh.
 Cuối năm 1940, khi đồng chí Nguyễn Thị Minh Khai bị bắt, đế quốc Pháp đã ghép thêm tội cho Lê Hồng Phong và đày ra Côn Đảo. Biết Lê Hồng Phong là cán bộ lãnh đạo cao cấp của Đảng và là chồng của Nguyễn Thị Minh Khai, bọn trùm thực dân Pháp ở Nam Kỳ đã ra lệnh cho bọn chúa đảo phải tìm mọi cách hãm hại. Những đòn thù tàn ác, dã man đã làm Lê Hồng Phong kiệt sức dần và mất ngày 5-9-1942 khi vừa tròn 40 tuổi. Trước khi trút hơi thở cuối cùng, Lê Hồng Phong còn nói to lời trăng trối cho các bạn tù ở các phòng bên : "Xin chào tất cả các đồng chí. Nhờ các đồng chí nói với Đảng rằng, tới giờ phút cuối cùng, Lê Hồng Phong vẫn một lòng tin ở thắng lợi vẻ vang của cách mạng" .
40 tuổi đời, 20 năm hoạt động cách mạng liên tục, oanh liệt và đầy nhiệt huyết, đồng chí Lê Hồng Phong đã hiến dâng trọn đời mình cho sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng và dân tộc. Trong Báo cáo chính trị tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng năm 1952, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết về đồng chí Lê Hồng Phong cùng với những đồng chí là thế hệ cách mạng đầu tiên của Đảng là những người  “..đã đặt lợi ích của Đảng, của cách mạng, của giai cấp, của dân tộc lên trước hết… Các đồng chí ấy đã vui vẻ hy sinh hết thảy, hy sinh cả tính mệnh mình cho Đảng, cho giai cấp, cho dân tộc. Các đồng chí ấy đã đem xương máu của mình vun tưới cho cây cách mạng, cho nên cây cách mạng khai hoa, kết quả tốt đẹp như ngày nay”. Tại Lễ kỷ niệm 110 năm, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Cuộc đời của đồng chí Lê Hồng Phong trong như giọt sương mai, đẹp như ánh dương buổi sớm. Tấm gương chiến đấu kiên cường và sự hy sinh oanh liệt của đồng chí Lê Hồng Phong vì nền độc lập dân tộc, vì lý tưởng cộng sản sẽ sống mãi trong trái tim các thế hệ người Việt Nam chúng ta”.
Tấm gương sáng về tinh thần chiến đấu, hy sinh vì sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc của cố Tổng bí thư Lê Hồng Phong, đang cổ vũ, tiếp sức chúng ta giành thắng lợi trong sự nghiệp tiếp tục con đường đổi mới đất nước, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng văn minh.
Đặc biệt, hiện nay Đảng ta đang cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa", hơn báo giờ hết, chúng ta càng cần thấm  đẫm hơn những lời cố Tổng bí thư Lê Hồng Phong căn dặn:  
Khi đã học được lý luận thì “Những người Cộng sản phải hiểu chủ nghĩa Mác - Lê-nin và thực hành chủ nghĩa Mác - Lê-nin theo điều kiện hiện thực”.

Lúc thoái trào thì làm cho toàn Đảng thấm nhuần tinh thần tự phê bình và phê bình nghiêm túc “sau mỗi cuộc tranh đấu vô luận thắng hay bại, cần phải nghiên cứu kỹ càng các nguyên nhân để làm bài học, chứ không vì một thắng lợi mà múa tay múa chân, rung đùi, lắc gối, cũng không vì thất bại mà khổ tâm, nản chí, đâm ra do dự, lung lay… Phải lấy vận động tự chỉ trích bôn-sê-vích là một công tác thường trực”. Hết lòng tin tưởng ở nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng, chỉnh đốn, giám sát Đảng, Lê Hồng Phong xác định: “Tốt nhất là kéo quảng đại quần chúng vận động tự chỉ trích”. Đồng chí Lê Hồng Phong cũng nhắc nhở chúng ta: “Kinh nghiệm lịch sử cho ta biết rằng: Vô luận một nư­­ớc nào, dân tộc nào, giai cấp nào, đảng phái nào, nếu trong nội bộ chia rẽ, hành động không nhất trí thì không thể tranh đấu một cách thắng lợi với địch nhân”. Đó là những di huấn chính trị rất có ý nghĩa đối với Đảng ta hiện nay.

Thứ Bảy, 16 tháng 9, 2017

GIỚI THIỆU TẠP CHÍ CHƯ YANG SIN SỐ: 300 - THÁNG 8 NĂM 2017

TRANG VĂN HỌC NƯỚC NGOÀI
John Picard là tác giả của tuyển tập truyện ngắn Little Lives (tạm dịch: Những kiếp người nhỏ bé) và một bài luận được trích dẫn trong cuốn The Best American Essays 2015. Ông nhận giải Tim McGinnis hạng mục truyện hài và nhận bằng thạc sĩ Văn học từ đại học North CarolinaGreensboro.
Nguồn: narrativemagazine.

CHUYỆN CỦA JANE
(Lược dịch)

“Không thể như thế được?” cha nói.
Roger, anh bạn trẻ và bạn đồng hành phiêu lưu mạo hiểm của của cha bước vào lều. “Hai người cãi nhau đấy à?”
“Jane nói nó sẽ không về nước với chúng ta đâu.”
“Cái gì?”
“Nó định từ bỏ mọi thứ vì cái… con vượn người này.”
“Chính cái người bắt cô về cái ổ rừng rậm của hắn ta sao?” Roger nói với tôi.
“Đúng vậy,” tôi nói.
“Là lỗi của ta,” cha nói. “Nếu ta không mang con cùng đi săn thì việc này đã chẳng bao giờ xảy ra.”
“Ngược lại là khác,” tôi nói. “Con mang ơn cha đấy.”
“Tôi không thể để một cô gái, một người phụ nữ da trắng lại giữa vùng xích đạo châu Phi được. Nói lí với nó đi Roger.”
“Tôi e là đã quá muộn rồi, phải không? Cô đã khá quyết tâm rồi phải không Jane?”
“Đúng vậy.”
“Chúa ơi,” cha nói. “Ta sẽ nói gì với mẹ con đây?”
“Kể mẹ nghe sự thật,” tôi nói. “Nói với mẹ là con yêu Tarzan, Tarzan sống giữa loài khỉ.”
Tôi đứng tay trong tay với Tarzan lúc máy bay nâng độ cao lên trên đường viền cánh rừng.
“Jane có tiếc là đã không ở trên con chim bạc không?” Tarzan hỏi.
“Không hề, anh yêu ạ. Em đang ở chính xác ở nơi em muốn ở.”
“Tarzan muốn Jane được hạnh phúc.”
“Jane hạnh phúc mà. Jane chưa bao giờ hạnh phúc hơn.”
“Tới đây Cheetah.”
Con tinh tinh trèo lên vai Tarzan. Chúng tôi nhìn máy bay biến mất nơi đường chân trời, mối liên lạc duy nhất của tôi với thế giới văn minh đã bị cắt đứt. Tôi đã làm cái việc không người phụ nữ nào cùng loài và cùng địa vị xã hội với mình từng làm. Nhưng nhìn theo hướng khác thì tôi không làm gì khác thường hơn việc bám lấy bạn đời của mình.
Tôi đổi từ bộ đồ hiện đại gò bó sang một chiếc áo yếm và khố làm từ da thú. Từ một cành cây cao Tarzan sẽ lột sạch đồ tôi, quẳng tôi xuống cái hồ bên dưới và nhảy theo sau. Khi chúng tôi không rượt đuổi nhau khắp mặt nước thì tôi leo lên lưng chàng và cưỡi chàng như cưỡi cá heo. Khi đã lên bờ rồi, Tarzan sẽ đặt tôi nằm xuống một tấm đệm bằng lá cọ và bắt đầu làm tình mãnh liệt với cái khoái lạc đầy thú tính chàng khơi lên trong tôi.
Tuy nhiên cũng có một thời gian chúng tôi đều phải điều chỉnh. Tarzan không phải là người ngăn nắp gì. Xích mích nhỏ đầu tiên giữa chúng tôi liên quan đến việc sửa sang ngôi nhà cây, tiếp theo là về cách cư xử. Dần dần tôi xoay xở sửa được những thói quen vụng về của chàng trong khi lờ đi những vi phạm nhỏ về phép xã giao.
Dù muốn lắm nhưng vẫn có một phương diện trong bản tính của Tarzan mà tôi không thể bỏ qua: cách nói năng của chàng. Tôi tha thiết mong chàng bày tỏ về bản thân được nhiều hơn.
Một tối nọ tôi hích khuỷu tay đánh thức Tarzan. Nghe thứ âm thanh chói tai không ngừng của rừng già khi trời tối làm tôi không ngủ được.
“Mình nói chuyện đi,” tôi nói với Tarzan.
“Jane muốn nói chuyện gì?”
“Gì cũng được. Anh chọn đi.”
“Tarzan ngửi thấy mùi mưa trong gió.”
“Không phải như thế. Anh có một thời thơ ấu độc nhất vô nhị trong lịch sử nhân loại. Hẳn anh phải nghĩ gì về điều đó chứ. Anh có phiền lòng vì mình đã chịu thiệt thòi vì không có một tuổi thơ điển hình không?”
“Điển hình nghĩa là sao?”
“Bình thường. Trung bình.”
“Tarzan không nhớ(1).”
Tất nhiên là chàng có “nhớ” đâu vì chàng đâu biết một tuổi thơ điển hình có những gì.
“Anh từng là một đứa trẻ hoang dã. Dáng hình cha mẹ, bạn bè anh là khỉ. Anh nghĩ cách dạy dỗ như thế ảnh hưởng đến mình như thế nào? Em biết nó cho anh những khả năng thể chất vượt xa con người bình thường, như anh nghĩ nó ảnh hưởng đến quan điểm của anh về thế giới, triết lí sống của anh ra sao?”
Có gì đó rít lên trong đêm. Một làn gió nhẹ lay động lớp màn cửa. Tarzan im lặng.
“Anh còn thức đó không?” tôi hỏi.
“Tarzan còn thức.”
“Thế anh nghĩ sao? Rõ ràng là anh có nghĩ tới chuyện đó.”
Chàng lại không đáp. Đây là những câu hỏi lớn đòi hỏi phải có câu trả lời phức tạp mà chàng thiếu kĩ năng để nói cho rõ ràng. Sau hai tháng ăn ở với nhau Tarzan vẫn nói chuyện nghe như thổ dân. Vì biết chàng chưa đủ trình độ để nói chuyện sâu sắc nên tôi bắt đầu sửa ngữ pháp.
Mới đầu chàng có chút kháng cự.
“Jane không thích cách Tarzan nói sao?”
“Anh nói chuyện dễ thương lắm. Em yêu mọi thứ ở anh bao gồm cả thứ tiếng Anh bồi đó. Nhưng anh không muốn diễn đạt về bản thân đầy đủ hơn sao? Anh không muốn biết nhiều hơn 100 từ sao? Rồi anh không muốn đọc sao?”
“Tarzan đọc được mà.”
“Nhưng ở mức nào?”
“Ở trong rừng thì đọc gì đây?”
“Em mừng là anh khơi chuyện đó lên. Hôm qua em đã cho gửi thư cho cha kêu ông gửi hết số sách của em tới. Em cũng nói với ông về việc mua một cặp đèn dầu. Chúng mình sẽ có thể đọc vào buổi tối. Thế không hay sao?”
“Tarzan muốn bất kì thứ gì Jane muốn.”
“Anh muốn bất kì thứ gì em muốn. - Dùng đại từ đi. - Anh muốn bất kì thứ gì…”
Tôi dành hai giờ sau đó chất vấn chàng về vài điểm tinh tế hơn của ngữ pháp tiếng Anh đến khi chàng mệt lử rồi nói:
 “Anh không cần làm thế này thêm nữa,” Tarzan nói và vụt chạy đi.
“Anh dùng đại từ tốt đấy,” tôi gọi với theo.
Dù có giận dữ thì hôm sau chàng vẫn lại sẵn lòng làm học trò của tôi. Sự thật thì chàng không thể từ chối tôi điều gì hết.
Một buổi sáng nọ khi trèo lên cái thang cây với bó hoa mới hái, tôi thấy nhiều vật dụng trong nhà đang bay ra khỏi nhà cây. Tôi vội leo lên tới nơi.
Hôm trước tôi đã đổi ba bộ da ngựa vằn lấy vài món đồ sứ đã qua sử dụng nhưng còn khá tốt từ nhà buôn. Đứng bên một ô cửa sổ, Cheetah quẳng từng chiếc đĩa ra ngoài trong sự thích thú của Tarzan.
Tôi cố chộp lấy một cái đĩa ăn từ tay Cheetah, thế là diễn ra một cuộc giằng co kết thúc bằng món đồ bị vỡ.
“Thế đấy,” tôi hét lên. “Đó là giọt nước làm tràn li.”
“Thế nghĩa là sao?”
“Nghĩa là… nghĩa là hoặc Cheetah đi hoặc em đi. Hoặc Cheetah về lại rừng hoặc em đón chuyến bay đầu tiên – con chim bạc đầu tiên – về nhà.” Tất nhiên tôi không có ý đó. Tôi chỉ bực thôi.
“Tới đây Cheetah.” Cheetah vụt chạy tới nhảy vào vòng tay chủ. Tarzan quẳng con vật cào cấu và la hét ra ngoài cửa sổ. “Tốt hơn chưa?” chàng nói.
Tôi chưa bao giờ cảm thấy mình được yêu nhiều đến vậy. Chàng làm bất cứ điều gì tôi yêu cầu mà không hề phàn nàn. Không một người đàn ông nào tôi từng biết chịu lắng nghe tôi như chàng mặc cho chàng chẳng hiểu được phân nửa những gì tôi nói. Chàng làm những việc nho nhỏ cần có đối với bất kì cuộc hôn nhân nào. Tôi có được mọi thứ mình muốn ở một người chồng, trừ một chuyện, đối với tôi điều cốt yếu nhất và tuyệt đối cần thiết nhất đó là một đời sống tinh thần chung.
Tôi dùng giấy và đồ dùng học tập làm ra 500 tấm thẻ đọc để giúp Tarzan học từ vựng và cách chia động từ. Mỗi ngày bốn lần chúng tôi học hết cái đống dày cộm này. Thêm vào đó, tôi giới thiệu cho chàng tám phần của diễn ngôn; tôi đọc to những tác phẩm kinh điển cho chàng nghe. Nhưng phải đến khi tôi đọc cuốn Jane Eyre thì Tarzan mới bắt nhịp cùng tác phẩm. Trong phần về quãng thời gian đi học khó khăn của Jane ở Lowood, Tarzan chen ngang bày tỏ sự tức giận của mình trước cách cô ấy bị đối xử. Sự dữ dội của chàng làm tôi ngạc nhiên lắm lắm.
Tarzan bắt đầu tự đọc. Từ lần chúng tôi bàn luận về Jane Eyre chàng đã bộc lộ sự yêu thích rõ rệt đối với các tác phẩm về người thật việc thật, nhưng trước sự nài nỉ của tôi chàng vẫn tiếp tục giải quyết những tác phẩm văn học lớn.
“Anh nghĩ sao về Hamlet?”
“Nhiều từ khó quá.”
“Câu hỏi đây: Là do sự do dự hay sự loạn trí, điên dại của Hamlet gây ra biết bao nỗi buồn đau ở cuối vở kịch? Anh nghĩ là cái nào? Do dự hay loạn trí?”
“Chưa nghĩ tới chuyện đó.”
“Đáng ra phải nghĩ rồi chứ. Anh không thể đọc vở kịch mà không có quan điểm nào về trạng thái thần kinh của Hamlet được.”
“Nếu Jane muốn…”
“Nếu em muốn.”
“Nếu em muốn có quan điểm thì anh sẽ có quan điểm.”
“Anh à, đó không phải điều em muốn. Em muốn anh suy nghĩ về cách xử sự của Hamlet rồi cho em biết anh thật lòng nghĩ gì về nó.”
Tarzan mắm môi. “Hamlet…”
“Sao anh?”
“… lúc điên lúc không.”
“Nhưng lúc nào thì điên lúc nào không? Ví dụ như anh ta có điên khi tỏ ra đáng sợ với Ophelia không?”
“Anh đau đầu quá.”
“Về bản thân vở kịch thì sao? Anh không thấy nó hay sao? Keats nói, “Cái đẹp là sự thật, cái đẹp thật sự.” Anh có thấy là Hamlet, một nhân vật nghệ thuật, có thật và đẹp như hoàng hôn không?”
“Hamlet. Hoàng hôn. Giống nhau.”
“Anh nói đấy nhé!”
“Không khác nhau.”
“Giờ anh trịch thượng rồi đấy!”
“Tarzan nằm nghỉ đã.”
“Ôi em xin lỗi. Em không có ý đòi hỏi anh quá nhiều. Có lẽ vẫn còn quá sớm để học mĩ học.”
Tôi thừa nhận là mình nóng vội. Nhưng chàng vẫn học. Chàng làm vậy vì tôi. Tarzan là người sáng dạ, chàng là người luôn hành động. Đó là một lí do khiến tôi yêu chàng. Tôi không muốn chàng thay đổi điều đó. Tôi chỉ muốn và cần một người chồng có thể cùng tôi tung hứng một ý tường nào đó thôi.
Nhiều tháng ròng học hành căng thẳng cũng đã bắt đầu cho kết quả. Tôi quyết định lúc này phải dẹp văn học kinh điển qua một bên, giờ chàng đã rành tiếng Anh rồi nên sẽ cho chàng chuyên tâm vào những vấn đề triết học.
“Em có một chuyện hồi giờ vẫn luôn muốn hỏi anh,” tôi nói. “Anh có tin vào Thượng đế không?”
Tarzan liếc nhìn qua Cheetah đang ngồi giạng chân trên cửa sổ lột vỏ chuối. Tôi đã cho Cheetah thỉnh thoảng trở lại chơi vài ngày. Tarzan thọc tay phải vào khố ngập tới khớp thứ hai trên ngón tay, đó là tư thế chàng mang lấy khi cố tập trung.
“Có,” chàng đáp.
“Thật sao?”
“Cây cối, bầu trời, em, anh – tất cả đều không phải là tình cờ.”
“Anh biết tiến hóa là gì không?”
“Charles Darwin. Về Nguồn gốc muôn loài.” Tarzan đã trở thành độc giả trung thành của Bách khoa toàn thư Britannica.
“Vậy anh không nghĩ quần thể tiến hóa từ các loài cấp thấp hơn sao?”
“Không.”
Điều này làm tôi ngạc nhiên bởi vì tôi đã cho rằng Tarzan tin theo thuyết phiếm thần hơn là hữu thần.
Tới ngày kỉ niệm một năm cưới nhau, Tarzan và tôi vẫn cứ nói cùng những chuyện như cách tốt nhất để nấu thịt linh dương, trò chơi khăm mới đây nhất của Cheetah, trở trời. Mặc cho có điều kiện mới và thuận lợi ngày càng tăng để học tiếng, Tarzan vẫn không nói nhiều hơn trước bao nhiêu.
Trong khi đó, tôi biết được rằng Tarzan và tôi có sở thích rất khác nhau. Trừ các nhà văn khôi hài, chàng thấy văn học thế kỉ 20 rất chán. Chàng chế giễu nghệ thuật hiện đại, nhất là trường phái trừu tượng. Sau khi xem qua một cuốn sách in các tác phẩm nghệ thuật thời giữa thế kỉ, chàng nói là Cheetah cũng làm được vậy.
Tôi mời Cheetah về ở lâu dài trong nhà. Không khí đã trở nên hơi bất tiện, đôi chút căng thẳng khi chỉ có Tarzan và tôi cùng nhau suốt.
Về mặt sinh lí thì tôi chẳng mấy khi có hứng thú nữa dù không phải một lần Tarzan trách tôi vì xao nhãng nghĩa vụ làm vợ. Cuộc hôn nhân của chúng tôi đang gặp rắc rối. Một buổi chiều nọ sau khi đi bơi về, chúng tôi thấy ngôi nhà cây đã bị cướp phá – đồ đạc đổ vỡ, màn bị xé rách, kho thức ăn biến mất,
“Ôi Tarzan ơi,” tôi khóc nức nở. “Nhìn nhà mình mà xem.”
“Đừng buồn quá.”
“Thật là một cảnh hỗn loạn. Sao anh lại nói thế được chứ?”
“Mọi thứ diễn ra đều có lí do.”
Nói thế cũng như tát vào mặt tôi rồi. Tôi ghét cái thành ngữ nhàm tai đó. “Anh thực sự tin mọi thứ diễn ra đều có lí do sao?” tôi nói.
“Đúng vậy.”
“Từ khi nào thế?”
“Hồi giờ vẫn luôn như vậy.”
“Nhà của chúng ta bị hư hại nghiêm trọng.”
“Nó đâu có hư hại nghiệm trọng. Em nói quá lên rồi.”
“Phụ nữ bị cưỡng hiếp. Trẻ con chết đói. Đàn ông tàn sát lẫn nhau trên chiến trường. Mấy chuyện đó có lí do không?”
“Có lẽ mấy chuyện đó thì không.”
“Anh nói mọi thứ mà. Hãy nhất quán chứ! Tòa án dị giáo Tây Ban Nha, thảm họa Pompeii, nạn tàn sát người Do Thái Holocaust – tất cả diễn ra đều có lí do sao? Sao anh có thể tin được một điều như vậy chứ?”
“Anh có niềm tin.”
“Cái gì?”
“Anh có niềm tin.”
“Anh nghĩ thế có nghĩa là gì? Tin vào cái gì?”
“Vào cuộc sống. Vào Ngài.” Chàng hướng mắt lên trời.
“Anh lạc quan quá! Ngây ngô quá! Anh có niềm tin. Đó là cái nhìn thấu đáo của anh về bí mật của nỗi đau khổ của loài người sao? Đó là điều anh hiểu được từ điều kiện sống của con người sao?”
“Anh rất tiếc,” Tarzan nói.
“Về cái gì?”
“Anh lại làm em thất vọng rồi.”
Một tuần sau cuộc cãi vã này, trong tâm trí tôi cuộc hôn nhân của chúng tôi gần như đã chết, chúng tôi nằm trong nhà cây lúc này đã được sửa lại gọn gàng, chờ đợi vầng mặt trời hung bạo giữa hè mọc lên và nhiệt độ giảm xuống. Đang ngủ lơ mơ thì Tarzan duỗi tay ra và nói giọng chếnh choáng, “Anh thấy như một thanh kẹo cao su.”
Mắt tôi mở thật to. Tim tôi đập gấp gáp. Tôi quay sang nhìn Tarzan. Tôi muốn chắc chắn là mình nghe đúng. Nó cho thấy tôi muốn cứu vãn cuộc hôn nhân của mình tới mức tôi đã sẵn sàng bám víu bất kì thứ gì dù nhỏ nhặt ra sao mà có thể biến Tarzan thành người đàn ông mà tôi muốn. “Anh nói lại được không?” tôi bảo chàng.
“Anh thấy như một thanh kẹo cao su.”
“Anh yêu, nghe thi vị quá, trí tưởng tượng của anh đã có một bước nhảy vượt bậc rồi. Y như là một thanh kẹo cao su bị nhai quá lâu, cái nóng và độ ẩm đã làm chúng ta thấy nhớp nháp, bệ rạc, không còn mùi vị gì nữa, thậm chí là gần tan nát. Thật là một phép so sánh thích hợp tuyệt diệu.”
Tarzan nhìn tôi lắc đầu, cái nhìn của nỗi buồn không thể tả được hiện lên trên mặt chàng.
“Không phải điều anh nghĩ sao?”
“Không đâu Jane.”
“Ý anh là anh thấy muốn nhai một thanh kẹo cao su(2).” Trong số đồ đạc nhận được của chúng tôi có mấy gói kẹo hoa quả.
“Phải,” Tarzan nói. “Anh…”
“Đừng nói ra. Xin anh đừng nói ra mà.”
Tarzan ôm tôi cả đêm. Chúng tôi không nói gì hết mà cũng không phải làm vậy. Sáng ra tôi gửi thư cho cha kêu ông thuê một chiếc máy bay tới đón tôi ngay khi có thể.
Tôi nhớ rất rõ ngày cuối cùng chúng tôi bên nhau. Chúng tôi dậy khi mặt trời mọc, đi bơi lần cuối ở hồ, nấu bữa sáng cuối cùng. Tôi đứng trong bếp, lúc đó cái chảo bằng thép không gỉ bị móp trên bếp lò làm tôi chú ý. Sáng nào tôi cũng dùng cái chảo đó để nấu nước pha cà phê cho mình và trà ngọc giá cho Tarzan. Đó là những món đồ gia dụng xoàng xĩnh nhất nhưng lúc ấy nó tượng trưng cho toàn bộ khoảng thời gian chúng ở tôi sống với nhau mà giờ đã trôi vào dĩ vãng. Tôi chợt xúc động.
Tarzan đặt tay lên vai tôi và nói đùa: “Jane thấy tốt hơn khi đã ở trên con chim bạc.” Rồi chàng nói, vẻ vô cùng nghiêm túc, “Jane, em hiểu rõ là trong khi anh ủng hộ quyết định của em thì anh ước mình có thể nghĩ tới điều gì đó khác, bất kì điều gì để làm em đổi ý.”
Rồi kẻ thù không đội trời chung của những lời nói sáo rỗng nói, “Không phải do anh đâu, là do em.” Tarzan không có lỗi khi chàng không thể suy nghĩ theo lối trừu tượng, không thích sự nhập nhằng của cuộc sống, khi chàng thích Wodehouse hơn Beckett, Rockwell hơn Rothko. Nếu là với một kiểu phụ nữ khác mà trí tuệ toàn bích và sự cộng sinh về tinh thần không cần thiết thì chàng sẽ là người lí tưởng.
“Đi thôi,” tôi vừa nói vừa gạt đi nước mắt, “trước khi em đổi ý.”
Tôi không có ý đó. Tôi hoàn toàn tự tin là mình đang làm đúng.
Chúng tôi cưỡi một con voi tới đường băng tạm thời ở bìa rừng trước khi một đốm sáng hiện ra từ trong mây.
Chính Roger là người bước ra từ máy bay, người không lâu sau đó sẽ trở thành hôn phu của tôi. Roger là một nhà nhân loại học, nhạc sĩ nghiệp dư và nhà thơ. Trong nhiều năm sau đó tôi sẽ gặp những người đàn ông khác như Roger, toàn những kẻ ba hoa, người suy nghĩ sâu sắc cả - và họ là những người mà tôi lấy làm chồng. Nhưng rồi tôi chán nói chuyện. Tôi hài lòng với việc sống hết đời với sách vở và kí ức về họ.
Tôi thường nhớ lại buổi sáng xa xưa đó khi bước lên cầu thang dẫn vào con chim bạc. Từ chỗ ngồi tôi có thể thấy Tarzan và Cheetah bên dưới. Lúc chúng tôi bắt đầu lăn bánh trên đường băng, Tarzan chạy hết tốc lực tới cái cây gần nhất. Chàng trèo lên mãi, và chẳng mấy chốc đã ở trên không cách mặt đất 15 mét. Đứng trên một chạc cây mảnh dẻ, chàng vẫy cánh tay qua lại. Chàng vẫn vẫy lúc tôi đã mất dấu chàng.
Chàng là một con người tuyệt đẹp.
TRƯƠNG THỊ MAI HƯƠNG dịch

(1) Miss out = chịu thiệt thòi. Tuy nhiên Tarzan lại hiểu ‘miss’ theo nghĩa ‘nhớ’.
(2) Hiện tượng đồng âm trong tiếng Anh. Tarzan nói: “I feel like a piece of gum”, ‘like’ ở đây vừa thể dịch theo hai cách là ‘như’ và ‘thích’.

Thứ Tư, 13 tháng 9, 2017

GIỚI THIỆU TẠP CHÍ CHƯ YANG SIN SỐ: 300 - THÁNG 8 NĂM 2017 tác giả TRƯƠNG BI



KHÔNG GIAN KỂ SỬ THI TRONG
LỄ KẾT NGHĨA ANH EM CỦA ĐỒNG BÀO ÊĐÊ

   Trong những năm tháng đi điền dã sưu tầm, nghiên cứu văn hóa dân gian ở địa bàn thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk, tôi vẫn còn nhớ mãi về một kỷ niệm được dự lễ kết nghĩa anh em và nghe kể khan (sử thi) trong những ngày diễn ra lễ này. Đó là, năm 2008 sau khi kết thúc mùa rẫy, già làng buôn Kô Tam, xã Ea Tu, thành phố Buôn Ma Thuột đã làm lễ kết nghĩa anh em cho hai gia đình ông bà Aê Nguê M'lô (vừa tròn 69 mùa rẫy), dân tộc Ê Đê, ông Aê Nguê M'lô là Trưởng ban Mặt trận buôn Kô Tam, với gia đình ông bà Nguyễn Bá Thanh (vừa tròn 70 mùa rẫy), dân tộc Kinh, định cư ở buôn KôTam gần 30 năm nay, ông Nguyễn Bá Thanh là Bí thư chi bộ Buôn Kô Tam.
   Theo phong tục của dân tộc Êđê, người nào muốn tìm người bạn tốt để kết nghĩa anh em thì phải nhờ người làm mối. Ông mối sẽ tìm hiểu tâm tư nguyện vọng, tình cảm, nết ăn ở, kể cả tìm hiểu đời sống kinh tế, ông bà, cha mẹ, anh em, dòng họ của bên mình sẽ kết nghĩa. Chính vì vậy mà ông bà Aê Nguê M'lô đã nhờ già làng buôn Kô Tam làm mối, trực tiếp đến gặp gia đình ông bà Nguyễn Bá Thanh để tìm hiểu và đặt vấn đề về việc gia đình ông bà Aê Nguê muốn chọn gia đình ông bà Thanh làm anh em kết nghĩa. Thật là may mắn, trong gần 30 năm sinh sống với bà con buôn Kô Tam ông bà Nguyễn Bá Thanh rất hiểu và rất có cảm tình với gia đình ông bà Aê Nguê M'lô, nên khi già làng đặt vấn đề thì ông bà Nguyễn Bá Thanh nhận lời ngay.
Sau đó ông mối về báo lại với ông bà Aê Nguê M'lô là bên gia đình ông bà Nguyễn Bá Thanh đã nhận lời. Thế là hai gia đình liền tiến hành gặp nhau để bàn về việc tổ chức lễ kết nghĩa anh em theo phong tục của người Êđê. Sau khi hai bên đã bàn bạc, thống nhất về nội dung, hình thức và chọn ngày lành, tháng tốt tiến hành lễ kết nghĩa, họ xin phép ông trưởng buôn, chủ bến nước, ông trưởng họ và chính quyền xã Ea Tu. Trong thời gian ba tháng (kể từ ngày xin phép chính quyền địa phương, chủ bến nước, ông trưởng họ), ông bà Aê Nguê M'lô chuẩn bị đầy đủ các lễ vật. Gồm có: một con heo thiến dài năm gang tay, 10 ché rượu cần, 1 gùi lúa nếp, 2 gùi lúa tẻ, một thúng đựng các loại hạt giống, con giống (lúa bắp, đậu, bầu, bí các loại, trứng gà, trứng vịt, heo con, gà con); các công cụ lao động (cuốc, dao, rìu...), các thứ này được chuẩn bị trước để chia đều cho hai gia đình trong lễ kết nghĩa.
Đến ngày lễ, tại ngôi nhà dài của ông bà Aê Nguê M'lô, các lễ vật đã được bày sẵn ở gian gar (phòng khách). Giàn chiêng Knah diễn tấu bài Iô Wit Hgum (gọi về sum họp), rộn ràng trầm bổng ngân vang khắp buôn làng, núi rừng mời gọi các vị thần linh, tổ tiên, ông bà và bà con gần xa về dự lễ. Trong âm thanh của tiếng cồng chiêng rộn rã, náo nhiệt, gia đình ông bà Aê Nguê M'lô cùng nhau đi ra tận cổng buôn làng đón gia đình ông bà Nguyễn Bá Thanh vào nhà mình. Vào đến nhà, hai gia đình được bố trí ngồi trên hai chiếc chiếu hoa đối diện nhau bên cạnh các ché rượu và lễ vật, trước sự có mặt đông đủ của già làng, ông trưởng họ, ông chủ bến nước, ông buôn trưởng, đại diện lãnh đạo của Ủy ban Nhân dân xã Ea Tu cùng bà con buôn làng.
Sau khi mọi người đã ngồi vào vị trí theo sự sắp đặt của người tổ chức, thầy cúng lấy rượu từ ché rượu cần thứ nhất vào một tô đồng, pha tiết heo, làm lễ cúng báo và mời các vị thần linh, tổ tiên ông bà về dự lễ kết nghĩa anh em giữa hai gia đình ông bà Aê Nguê M'lô và gia đình ông bà Nguyễn Bá Thanh. Dàn chiêng Knah lại vang lên rộn rã đưa lời cúng đến với các vị thần linh, tổ tiên, ông bà.
Nhịp chiêng vừa ngừng, không gian trở lại yên tĩnh, thầy cúng quay sang ông bà Aê Nguê M'lô và dõng dạc hỏi: Vợ chồng Aê Nguê M'lô có thực sự chọn gia đình ông bà Nguyễn Bá Thanh làm anh em kết nghĩa không?
Ông Aê Nguê M'lô đại diện gia đình vui vẻ trả lời: Vợ chồng tôi đã thực sự thương yêu, quý mến gia đình anh chị Thanh từ lâu rồi. Hoàn cảnh và tấm lòng của anh chị Thanh đã thôi thúc vợ chồng tôi muốn kết nghĩa anh em với nhau. Tôi xin hứa rằng, từ nay trở đi vợ chồng tôi cùng con cháu không bao giờ bạc đãi, hay có lời nói xúc phạm đến gia đình anh chị Thanh. Hai gia đình mãi mãi là anh em tốt của nhau, vui buồn có nhau, no đói hoạn nạn cùng nhau chia sẻ. Các con, các cháu trong hai gia đình là anh em một nhà. Đã là anh em một nhà thì không được lấy nhau, mà phải yêu thương giúp đỡ nhau trong cuộc sống.
Nói xong, ông Aê Nguê M'lô lấy chiếc vòng đồng từ quai ché rượu (do thầy cúng gài vào từ trước) đeo vào cổ tay phải của ông Nguyễn Bá Thanh. Bà vợ của ông Aê Nguê M'lô cũng lấy chiếc vòng đồng từ quai ché rượu đeo vào tay phải của bà vợ ông Nguyễn Bá Thanh, thể hiện tấm lòng của mình đã chọn mặt gửi vàng, chọn người anh em kết nghĩa thủy chung, bền vững lâu dài.
Tiếp đến, thầy cúng quay sang ông bà Nguyễn Bá Thanh và hỏi: Vợ chồng ông bà Nguyễn Bá Thanh có thực sự chọn gia đình ông bà Aê Nguê M'lô làm anh em kết nghĩa không?
 Ông Nguyễn Bá Thanh (đại diện gia đình), vui vể trả lời: Gia đình tôi đã về sống với bà con buôn KôTam hơn 30 năm nay. Vợ chồng tôi rất quý mến và có cảm tình với anh chị Aê Nguê M'lô. Anh chị Aê Nguê M'lô sống rất thật thà, chất phác, biết yêu thương đoàn kết với bà con trong buôn làng và đã dành tình cảm tốt đẹp chân thành đối với gia đình chúng tôi, nên chúng tôi chọn gia đình anh chị Aê Nguê M'lô làm anh em kết nghĩa. Chúng tôi nguyện sẽ thương yêu quý trọng gia đình anh chị Aê Nguê M'lô như anh em ruột thịt. Gia đình chúng tôi sẽ suốt đời đoàn kết, giúp đỡ gia đình anh chị Aê Nguê M'lô trong bất kỳ hoàn cảnh nào, dù no đói khổ cực đi chăng nữa cũng không bao giờ xa nhau, mà ngược lại càng yêu thương, quý trọng nhau hơn. Con cháu hai gia đình sẽ qua lại thăm nhau, giúp đỡ nhau trong cuộc sống và đối xử với nhau như anh em một nhà. Hai gia đình chúng tôi nguyện giữ mãi tình anh em kết nghĩa vững bền như núi Chư Yang Sin, luôn luôn tràn đầy như dòng sông mẹ Krông Ana và sông cha Krông Knô trên núi rừng Tây Nguyên hùng vĩ. Nói xong ông bà Thanh lại cầm vòng đồng đeo vào cổ tay phải của ông bà Aê Nguê M'lô, thể hiện tấm lòng chân thành của mình đối với người anh em kết nghĩa như "chọn mặt gửi vàng", bền vững từ đây.
Tiếng chiêng, tiếng tù và lại trầm bổng ngân vang. Thầy cúng mời ông bà Aê Nguê M'lô và ông bà Nguyễn Bá Thanh đến ngồi bên ché rượu cần thứ nhất (tính từ ngoài cửa vào). Họ ngồi đối diện nhau, tay cầm cần rượu. Rồi thầy cúng đọc lời khấn: À ơ Yang! Nay tôi mời thần bên Đông, mời thần bên Tây, mời thần Trời, thần Đất, mời thần bảo vệ sức khỏe, mời thần cây Đa, mời thần cây Sung, thần Núi, thần Bến Nước... Tôi xin mời các thần về chứng kiến lễ kết nghĩa anh em của gia đình ông bà Aê Nguê M'lô với gia đình ông bà Nguyễn Bá Thanh. Cầu xin các đấng thần linh hãy giúp cho hai gia đình này sức khỏe dồi dào, làm ăn gặp nhiều điều lành, điều tốt, và xua đuổi cái xấu ra khỏi gia đình họ. Giúp cho họ nương rẫy tốt tươi, lúa bắp đầy kho, đầy bồ, trâu bò chật bãi, heo gà đầy sân, chiêng ché đầy nhà, con cháu đầy đàn, cuộc sống no đủ, bình yên, hòa thuận, ơ Yang!
Sau lời khấn, thầy cúng mời hai gia đình uống rượu giao cảm với thần linh. Rồi thầy cúng chia đều hạt giống, con giống, công cụ lao động cho hai gia đình trước sự chứng kiến của mọi người.
Tiếng chiêng, tiếng tù và lại trầm bổng ngân vang. Thầy cúng mời hai gia đình ông bà Aê Nguê M'lô và ông bà ông Nguyễn Bá Thanh cùng bà con trong dòng họ, trong buôn làng cùng nhau uống rượu rượu cần (nữ trước nam sau). Mọi người lần lượt cầm cần và trao cần cho nhau thành một dãy dài theo nghi thức Mnăm Ring (nối cần rượu cho nhau). Trước khi cầm cần rượu, mọi người lần lượt trao vòng đồng cho ông bà Aê Nguê và ông bà Nguyễn Bá Thanh, chúc cho tình anh em kết nghĩa của hai gia đình mãi mãi vững bền.
Sau nghi thức Mnăm Ring, chủ nhà mời hai gia đình và bà con họ hàng trong buôn cùng khách quý ăn cơm, uống rượu trong tình cảm đầm ấm thân thương. Mọi người vừa ăn uống vừa diễn tấu cồng chiêng, diễn tấu nhạc cụ đing túut, đing năm, đing tạk tar và hát dân ca vui vẻ.
Đến tối, khi mọi nghi lễ đã tạm dừng, chủ nhà mời nghệ nhân kể khan cho hai gia đình và bà con buôn làng cùng nghe, nhằm tạo không khi vui tươi ấm cúng trong lễ kết nghĩa anh em. Theo phong tục của người Êđê, chủ nhà buộc một ché rượu, mang ra một con gà trống choai cúng báo xin phép các vị thần linh, tổ tiên, ông bà được kể khan để mừng lễ kết nghĩa anh em. Tiếp đến chủ nhà cầm cần rượu hít một hơi dài, rồi trao cần mời pô khan (nghệ nhân kể khan) dùng rượu. Pô khan cầm cần rượu hít một hơi dài rồi trao lại cần rượu cho chủ nhà. Chủ nhà cầm cần rượu mời bà con cùng dùng rượu. Sau đó, pô khan đến ngồi bên cạnh bếp lửa và nói: Hôm nay mình kể khan "Đăm Săn" cho bà con nghe, rồi ông đằng hắng và cất cao giọng kể. Cũng như những cuộc kể khan khác, khi lời khan ngân vang khắp không gian ngôi nhà dài, như ru, như hát từ tấm lòng của ông bà xưa đối với con cháu. Người nghe ngồi im phăng phắc say sưa lắng nghe như hóa thân vào những nhân vật trong chuyện. Trong quá trình ngồi nghe, ai có việc cứ nhẹ nhàng ra về. Ai muốn trao đổi việc gì thì ra hiệu cho nhau. Ai muốn uống rượu, uống nước cứ nhẹ nhàng, trật tự đi uống rồi trở về vị trí như cũ. Mọi người ai cũng trật tự, im lặng, tôn trọng nhau giữ cho không gian hát kể khan yên tĩnh, sâu lắng để lời khan bay xa, bay cao.
Lời khan cứ vang mãi, dẫn dắt người nghe vào những tình tiết ly kỳ huyền ảo của câu chuyện. Thế rồi, con gà trống đầu hiên nhà cất tiếng gáy vang báo hiệu trời sắp sáng. Pô khan, dừng lại và nói: Chuyện còn dài, mời bà con nghỉ, tối lại nghe tiếp.
Lúc này chủ nhà chuẩn bị bữa cơm sáng. Ăn uống xong hai gia đình cùng nhau về thăm nhà của ông bà Nguyễn Bá Thanh. Đến nhà ông bà Nguyễn Bá Thanh, thầy cúng lại làm lễ cúng sức khỏe cho hai gia đình ông bà Aê Nguê M'lô và ông bà Nguyễn Bá Thanh. Chúc hai gia đình giữ mãi tình anh em kết nghĩa. Sau đó hai bên giao lưu thăm hỏi sức khỏe ông bà, cha mẹ, con cháu, anh chị em, bà con trong dòng họ một cách chân tình, ấm cúng vui vẻ như anh em một nhà. Đến chiều mọi người lại kéo về nhà ông bà Aê Nguê M'lô. Sau bữa cơm chiều, mọi người lại tiếp tục được nghe kể khan Đăm Săn. Sáng hôm sau hai gia đình lại đi gặp mặt thăm hỏi ông bà, cha mẹ, anh chị em, con cháu, bà con trong dòng họ của ông bà Aê Nguê M'Lô. Đến tối, mọi người lại nghe kể khan tại nhà ông bà Aê Nguê M'lô.
   Khan Đăm Săn kể rằng: Ở một buôn nọ có hai chị em H'Nhí và H'Bhí vô cùng xinh đẹp, họ được thừa hưởng một gia tài khổng lồ của ông bà để lại. Lớn lên, thực hiện lời căn dặn của ông nội, hai nàng nhờ anh mình đi hỏi chàng Đăm Săn về làm chồng. Lúc đầu chàng Đăm Săn không chịu, nhưng về sau do áp lực của gia đình, của ông trời, chàng mới chịu làm chồng hai nàng H'Nhí và H'Bhí.
 Cưới xong, chàng về sống bên nhà vợ, chấp nhận tập tục mẫu hệ, nhưng chàng luôn luôn có những hành động chống lại tập tục này. Hàng ngày chàng bỏ bê việc nhà, lúc thì rủ bạn bè thi đẩy gậy suốt ngày này sang ngày khác, quên ăn, quên uống; lúc thì đi ra sông bắt cá, lúc thì đi săn trong rừng sâu, lúc thì đi phát cây làm rẫy... Ở nhà các M'tao Grứ, M'Tao M'xây, M'tao Ak, M'tao Pui, M'tao Ea... Lần lượt đến bắt vợ của chàng Đăm Săn. Thế là chàng Đăm Săn phải chiến đấu với các M'tao để cứu vợ mình. Sau khi đánh thắng các M'tao, buôn làng của chàng càng hùng mạnh, giàu sang không ai bằng. Nhưng Đăm Săn không chịu ngồi yên hưởng thụ, mà chàng lại rủ tôi tớ đi chặt cây rừng. Chàng chặt trúng cây linh hồn của hai người vợ, làm cho hai nàng tự nhiên lăn ra chết. Chàng phải lên ông Trời xin thuốc thần về cứu sống lại hai người vợ. Rồi chàng lại bỏ mặc hai người vợ ở nhà, tự mình phi ngựa đi tìm nữ thần Mặt trời để cầu hôn về làm vợ lẽ. Trước sự can ngăn của mọi người, chàng vẫn để ngoài tai tất cả. Một mình một ngựa chàng vượt qua nhiều rừng rậm, sông sâu, núi thẳm. Cuối cùng chàng đã tìm đến được nhà Nữ thần Mặt Trời để cầu hôn, nhưng bị Nữ thần từ chối. Chàng thất vọng, buồn bực quay ngựa trở về và bị chết chìm trong vũng lầy giữa rừng sâu. Một mùa rẫy sau, người chị của chàng Đăm Săn sinh được một người con trai và đặt tên là Đăm Săn. Cậu bé Đăm Săn lớn lên, thay cậu mình lấy hai nàng H'Nhí và H'Bhí làm chồng theo tục Chuê Nuê (nối dòng) của ông bà để lại. Chuyện Đăm Săn, là bài ca về người anh hùng lý tưởng. Đồng thời khẳng định tục Chuê Nuê của người Êđê là một sức mạnh của cộng đồng, không ai có thể cưỡng lại được mà phải tuân theo thì cuộc sống mới yên ổn, hạnh phúc no ấm.

 Cứ thế, lễ kết nghĩa anh em diễn ra bao nhiêu ngày thì mọi người được nghe kể sử thi bấy nhiêu tối. Về dự lễ kết nghĩa anh em, mọi người được tận mắt chứng kiến những nội dung diễn ra trong lễ, được uống rượu cần, ăn những món ăn truyền thống của người Êđê, và đặc biệt được nghe kể khan (sử thi) suốt mấy đêm liền. Nghe kể khan trong lễ kết nghĩa anh em là một sinh hoạt văn hóa truyền thống, nhằm tôn vinh các tác phẩm sử thi trong kho tàng văn hóa của người Êđê, làm cho nó được lưu truyền, bảo tồn, sống mãi với mọi thế hệ. Qua đây, góp phần giáo dục phẩm chất, khí phách, tinh thần dân tộc và ước mơ cao đẹp về một xã hội tương lai bình yên, giàu đẹp cho mọi thành viên trong cộng đồng.

Thứ Hai, 11 tháng 9, 2017

GIỚI THIỆU TẠP CHÍ CHƯ YANG SIN SỐ: 300 - THÁNG 8 NĂM 2017 tác giả HÀ QUẢNG




TIỂU THUYẾT “CÕI HỒNG” CỦA BÙI MINH VŨ

  
Bùi Minh Vũ sinh ra và lớn lên ở một làng quê thuộc vùng biển xã Đức Lợi, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi, nhưng từ năm 1982, anh đến định cư lập nghiệp và sinh sống tại thành phố Buôn Ma Thuột. Anh là nhà thơ, nhà sưu tầm truyện cố M’nông, nhà biên khảo văn hóa dân gian Tây Nguyên… Bùi Minh Vũ đã ra mắt bạn đọc 14 tác phẩm và sắp in 2 tác phẩm nữa. Vừa rồi anh rẽ lối “sang ngang” thử nghiệm vào thể loại tiểu thuyết và cuốn tiểu thuyết “Cõi hồng” của anh do Nhà xuất bản Hội nhà văn Việt Nam ấn hành vào tháng 5. 2017.
Tiểu thuyết “Cõi hồng” có 3 chương, gồm 132 trang. Trong tác phẩm này, anh lấy mảnh đất Tây Nguyên đầy nắng và gió để làm không gian nghệ thuật. Vì vậy, chúng ta bắt gặp hình ảnh Tây Nguyên trong “Cõi hồng” của Bùi Minh Vũ vào mùa khô “Tây Nguyên bước vào mùa khô. Nước cạn kiệt. Cái nóng râm ran không oi bức như Sài Gòn nhưng hanh heo không kém Quảng Trị…” (trang 36). Bùi Minh Vũ đi nhiều, biết nhiều nên anh có sự so sánh cái nóng của Tây Nguyên với Sài Gòn, với Quảng trị thật thú vị như vậy.
Trong tác phẩm “Cõi hồng”, Bùi Minh Vũ đưa hàng chục nhân vật vào trong tác phẩm, có những kẻ là côn đồ du côn, đến những anh cán bộ tham quyền nhũng nhiễu hách dịch; là những thanh niên, thanh nữ đương thời thích xăm hình vào những nơi có độ nhạy cảm và những người lính sau khi rời quân ngũ không tìm được việc làm ổn định cho cuộc sống đời thường… Những lễ hội của đồng bào các dân tộc Êđê, M’nông ở Đắk Lắk cũng được anh đưa vào trong tác phẩm này.
Chính vì vậy, khi đọc tiểu thuyết “Cõi hồng” của Bùi Minh Vũ, ta cảm thấy như đang sống ở vùng đất Tây Nguyên và biết được nhiều nét sinh hoạt của người dân; đặc biệt là các phong tục tập quán của đồng bào các dân tộc, được Bùi Minh Vũ thể hiện thật sâu sắc trong mùa lễ hội.
Từ một không gian rộng lớn, Bùi Minh Vũ đưa người đọc đến thành phố Buôn Ma Thuột, nơi anh và gia đình đang sinh sống học tập và làm việc. Thành phố hiện lên trong ngòi bút của tác giả thật thơ mộng: “Buôn Ma Thuột vào đêm, không khí trong lành như thủy tinh xanh. Các quán cà phê đông khách, người ra vào dập dìu. Tôi ghé vào quán cà phê Dubai, nơi tôi và Hưng uống ly cà phê đêm trăng cuối. Từ đây nhìn ra ngoài đường phố Hai Bà Trưng sang trọng với vô số xe ô tô đắt tiền. Đánh bóng cho cung đường này là nhiều khách sạn hạng sang…” (trang 41). Đọc những câu văn như vậy trong “Cõi hồng” của Bùi Minh Vũ chúng ta mới thấy anh sống rất sâu và trân trọng yêu thương đối với thành phố Buôn Ma Thuột thân yêu này.
Trong không gian nghệ thuật đó, tác giả để cho các nhân vật của mình hoạt động một cách thoải mái tự nhiên. Các nhân vật, Bùi Minh Vũ đưa vào trong “Cõi hồng” đều có cá tính, có hoàn cảnh và số phận riêng. Chúng ta có thể bắt gặp các nhân vật ấy hàng ngày trong cuộc sống hiện nay: nơi làm việc, trên đường phố, trong công viên, tại nhà hàng, ở khách sạn, hay các quán cóc cạnh vỉa hè… Người đọc sẽ cảm nhận  riêng về các nhân vật này được Bùi Minh Vũ đưa vào trong tác phẩm của mình tùy theo suy nghĩ và mức độ tiếp nhận của mỗi người.
Trong hệ thống nhân vật ấy, chúng ta bắt gặp Thân và Hưng. Đây là hai nhân vật để lại ấn tượng nhiều nhất trong lòng người đọc và đấy cũng chính là hai nhân vật xuyên suốt theo chiều dài của tác phẩm. Hưng là sinh viên mới ra trường, Hưng mơ ước được đứng trên bục giảng làm cô giáo để truyền thụ kiến thức cho các em học sinh, nhưng ước mơ đấy của Hưng chưa có điều kiện thực hiện được. Hưng phải đi làm gia sư kiếm tiền để sinh sống trang trải hằng ngày cho bản thân và gia đình, đột nhiên Hưng trở thành đối tượng hưởng thụ cho tên côn đồ bợm trợn.
Vì vậy mở đầu tác phẩm người đọc cảm thấy lạnh toát mồ hôi khi đọc hai câu văn của tác giả nói về cái chết của Hưng “Gần nhà hàng T&T sang trọng trên đường Nguyễn Khuyến, nơi tập trung những người có tiền đến để thưởng ngoạn du hí, có một cô gái ra đi đêm qua. Đó là em” (trang 1). Về thế giới bên kia nhưng giấc mơ của Hưng vẫn cháy bỏng, may đâu Hưng gặp được một ông già chỉ hướng để Hưng có điều kiện thực hiện giấc mơ làm cô giáo của mình nơi cõi âm.
Câu chuyện tưởng chừng kết thúc ở đấy, nhưng tác giả Bùi Minh Vũ tiếp tục cho người đọc thấy được hình ảnh của Hưng qua giấc mơ, nối tiếp giấc mơ một cách lờ mờ trong tâm trí của Thân. Thân là người yêu của Hưng. Thân từng là người lính vào sinh ra tử đầy dũng khí nhưng Thân phải “bó tay”, bất lực trước cuộc sống thực tại, bất lực trước công việc được sắp  xếp một cách vô cảm; chàng đành buông xuôi trước những cuộc tranh giành quyền lợi, chán chường trước những cảnh ăn hối lộ, những kẻ nịnh trên nạt dưới; công chức, viên chức có những kẻ làm những việc bất lương.
Trong cuộc sống như vậy Thân đành đánh rơi công việc đời thường khi nào mà chàng không hề hay biết. Nhưng trong tâm trí của Thân lúc này, hình bóng của Hưng vẫn in đậm, hình bóng ấy cứ vẩn vơ chìm sâu vào giấc ngủ, in sâu vào nỗi nhớ của Thân, làm cho tâm trí của Thân  miên man vất vơ, vất vưởng như điên như dại.
Từng câu văn, từng trang chữ mà Bùi Minh Vũ gửi gắm trong tác phẩm “Cõi hồng” là tiếng gọi của trái tim chân thành mong ước cuộc sống được bình yên, những kẻ gian ác phải bị pháp luật trừng trị, những kẻ hiền lành chất phác sẽ được hạnh phúc; và giấc mơ bình dị nhất của con người phải đạt được. Xã hội công bằng văn minh, mọi người thấy được niềm vui trong cuộc sống, mọi người có được việc làm ổn định. Người người được hạnh phúc, nhà nhà được yên vui.
Trong tác phẩm “Cõi hồng” Bùi Minh Vũ tạo những nét nhòe của không gian, thời gian nghệ thuật và tính cách nhân vật cứ xen ngang, xuất hiện chập chùng gợi cảm giác cho người đọc muốn tìm một hình bóng cuối cùng đích thực mà tác giả muốn gửi gắm trong tác phẩm. Bên cạnh đấy chúng ta thấy hàng chục nhân vật mà Bùi Minh Vũ đưa vào trong tác phẩm có hoàn cảnh nghiệt ngã để từ đó tác giả thể hiện tính cách của nhân vật; ý thức của nhân vật vươn lên trong cuộc sống. Điều đặc biệt là người đọc cảm nhận chất thơ trong trang văn “Cõi hồng” của Bùi Minh Vũ. Có lẽ Bùi Minh Vũ là nhà thơ khi chuyển sang viết văn xuôi chất thơ vẫn còn đọng lại và theo sát anh từ đầu đến cuối tác phẩm. Chính điều ấy đã tạo cho người đọc có cái cảm giác nhẹ nhàng khi tiếp nhận “Cõi hồng”.
Tác phẩm “Cõi hồng” của Bùi Minh Vũ đã ra đời, bạn đọc tiếp nhận rộng rãi. Đủ thành phần, đủ lứa tuổi và trình độ của mỗi người cũng khác nhau. Người tiếp nhận mặt này, người tiếp nhận mặt kia. Có người khen mặt này, có người chê mặt kia nhưng đối với tôi, tác phẩm “Cõi hồng” của Bùi Minh Vũ là một tác phẩm đáng trân trọng; chúng ta nên tiếp nhận “Cõi hồng” với niềm cảm thông chia sẻ của một nhà thơ bước đầu thể nghiệm trên tác phẩm văn xuôi, của một thể loại không hề dễ dãi và người viết phải dày công tìm tòi khám phá, đầy đủ bút lực, phải có kiến thức tinh thông và vốn sống phong phú.