Thứ Năm, 13 tháng 7, 2017

GIỚI THIỆU TẠP CHÍ CHƯ YANG SIN SỐ: 298 - THÁNG 6 NĂM 2017 VĂN HỌC NƯỚC NGOÀI

DI SẢN ĐẾN MUỘN


Năm Hester lên hai, một chiếc đàn hộp quay tay khò khè sẽ khiến mắt nó lấp lánh và lộ má lúm đồng tiền mỗi khi cười, rồi năm 20 tuổi, bản nhạc “Lời cầu nguyện của thiếu nữ”(1) do một nữ sinh chơi sẽ làm tâm trí cô ngây ngất ngập tràn.
Đối với Hester, cả thế giới dường như toàn là những giai điệu. Ngay cả những đám mây trên trời cũng chậm rãi lướt đi đầy buồn chán theo một hành khúc trang nghiêm trong đầu cô, hay nhảy múa trong một điệu polka chậm vui tươi vang lên chỉ dành cho đôi tai cô mà thôi. Và khi cô nhìn thấy ánh hoàng hôn từ ngọn đồi phía sau nhà mình, bao giờ cũng có tiếng nhạc – chậm rãi và nhẹ nhàng nếu màu sắc dịu nhẹ hoặc huy hoàng đến phi thường nếu gió thổi tung những đám mây bão khiến chúng tả tơi trên nền trời màu đỏ tía. Toàn bộ những điều này chỉ diễn ra trong đầu Hester mà thôi.
Trong cuộc sống của Hester lúc nào cũng có một ngăn nhỏ dành cho âm nhạc. Cuộc sống thường ngày của cô là một vòng luẩn quẩn không bao giờ chấm dứt nào là rửa bát đĩa và trông em – lúc đầu là giúp mẹ, sau này là cho chính mình. Cô chẳng có tiền để đi học nhạc, không có thời gian mà tập piano. Trái tim ngây ngô của Hester căng lên với nỗi ghen tị cay đắng bất cứ khi nào cô nhìn thấy cuộn giấy chép nhạc đáng thèm muốn vung vẩy trong bàn tay một người bạn nào đó. Lúc ấy “điệu bộ giả vờ” ưa thích của cô đó là giả bộ đang đi tới lớp học nhạc với một cuộn giấy nâu phỏng theo một cách cẩn thận treo lơ lửng từ một sợi dây trên ngón tay.
Giờ Hester đã 40. Hai thằng nhóc và một cô bé chín tuổi khỏe mạnh khiến chị phải nuôi ba miệng ăn và chăm lo mớ tất không bị thủng lỗ cho sáu đôi chân lanh lợi. Chồng chị mất được hai năm rồi và cuộc sống thì khá chật vật. Chị nghiêm khắc uốn nắn mấy thằng bé chỉ với các biện pháp đầy yêu thương và quan tâm, nhưng còn đứa bé gái – chà Penelope nên được đi học nhạc vì bản thân nó cũng muốn!
Trong suốt chín năm kể từ khi Penelope đến trong đời mình, chị thường xuyên bỏ những đồng hào và 25 xu, thỉnh thoảng là nửa đô-la, vào một cái bình cũ bằng đá để trên kệ trên cùng trong chạn thức ăn. Nền kinh tế thật là ảm đạm và gay go tới mức khiến chị chỉ có thể tiết kiệm được vài đồng xu, và ảnh hưởng của nó lại hiện lên quá rõ ràng ở số quần áo bị lộn trái và vá chằng chịt của chị tới mức không cần phải nhắc gì đến cái dáng người còm cõi và đôi gò má nhợt nhạt của chị. Penelope giờ đã lên chín, và Hester nghĩ rằng đã tới lúc bắt đầu tiêu số tiền để dành được rồi.
Đầu tiên là chuyện cây đàn – tất nhiên là phải đi thuê rồi. Hester bắt tay vào việc đi kiếm nó trong tâm trạng hạnh phúc ngất ngây vì đó là sự bù đắp cho những năm dài hi sinh của mình.
Nhiệm vụ của chị tỏ ra không khó khăn mấy. Chị góa Butler sắp đi về miền nam nghỉ đông còn hơn cả vui mừng khi để chiếc piano của mình lại cho Hester trông nom và một đô-la tiền thuê mà mới đầu Hester cứ nài nỉ trả cuối cùng lại được giảm xuống còn một nửa, như vây chị góa Butler cũng hài lòng lắm rồi còn Hester thì vui và biết ơn lắm lắm. Xong việc, Hester quay bước tiến về ngôi nhà màu trắng nơi cô giáo dạy nhạc Margaret Gale sống.
Cô Gale, một người cẩn thận, chu đáo nhưng kinh nghiệm lại có hạn, chấp nhận bất kì ai có thể trả 35 xu một giờ, và thế là cô ân cần ghi tên của học trò mới của mình “Penelope Martin” vào cuốn sách dành cho sáng thứ bảy lúc 10 giờ. Sau đó Hester về nhà cho con gái mình biết về niềm hạnh phúc sắp diễn ra với con bé.
Có điều lạ là suốt bao năm qua chị đã ấp ủ cái bí mật về chiếc bình đá và chưa bao giờ cho Penelope biết về số phận cao quý của nó hết. Giờ chị mường tượng ra niềm vui của đứa trẻ, vô tình đặt cái tôi chín tuổi khát khao âm nhạc của bản thân vào Penelope.
“Penelope à,” chị dịu dàng gọi.
Có tiếng bước chân hối hả nhẹ nhàng chạy xuống cầu thang không lót thảm sau nhà và Penelope, thở hổn hển, mặt hồng hào và mỉm cười xuất hiện nơi ngưỡng cửa.
“Vâng con đây.”
“Đi với mẹ nào,” Hester nói, giọng chị đầy vẻ long trọng nghiêm nghị trong nỗ lực kiềm chế không hét lên tin vui của mình trước thời hạn.
Người phụ nữ dẫn đứa trẻ đi qua nhà bếp và phòng ăn rồi mở cửa phòng khách, ra hiệu cho con gái đi vào căn phòng tối tăm. Màu hồng trên má Penelope nhạt đi.
“Mẹ ơi! Có… có chuyện gì thế? Con… hư gì sao?” cô bé ấp úng.
Những thớ cơ căng lên của chị Martin giãn ra và chị cười cuồng loạn.
“Không đâu con yêu! Mẹ… mẹ có điều muốn nói với con,” chị vừa đáp vừa kéo đứa trẻ lại gần mình và vuốt thẳng mái tóc rối tung của nó. “Có điều gì con muốn làm… hơn bất cứ thứ gì khác trên đời không?” chị hỏi, rồi không thể giữ bí mật lâu hơn được nữa, chị thốt lên, “Mẹ có được nó rồi Penelope à! Ôi mẹ có được nó rồi!”
Cô bé vùng ra khỏi vòng tay kìm giữ mình và hăng hái nhảy múa quanh phòng.
“Mẹ! Thật sao? Lớn bằng con à? Nó sẽ nói được chứ… nói “bố” và “mẹ” đấy?
“Cái gì!”
Có gì đó trên gương mặt mất hết tinh thần của Hester khiến cho đôi chân nhảy tung tăng đứng khựng lại.
“Nó… nó là một con búp bê phải không?” đứa trẻ nói lắp.
Bàn tay Hester trở nên lạnh lẽo.
“Một… một con búp bê!” chị thở hổn hển.
Penelope gật đầu – niềm vui trong mắt nó tắt hẳn.
Người phụ nữ im lặng một lát rồi chị ngả đầu ra sau hơi run rẩy và cười gượng.
“Một con búp bê đấy! Con à, nó hay hơn búp bê nhiều so với mức con tưởng tượng ra đấy. Đó là một cây đàn piano con à, một cây-đàn-piano!” chị nhắc lại với vẻ oai vệ, toàn bộ sự hăng hái lúc trước trở lại với chị lúc mới chỉ nhắc đến cái từ ma thuật ấy thôi.
“Ồ!” Penelope lẩm bẩm với vẻ hơi thích thú.
“Và con sẽ học chơi nó!”
“Ồ!” Penelope lại nói với vẻ kém thích thú hơn.
“Chơi đàn! Cứ nghĩ tới việc đó là thấy vui rồi!” Giọng người phụ nữ dần trở nên buồn bã.
“Học đàn sao? Ý mẹ là như Mamie hả?”
“Đúng vậy con yêu.”
“Nhưng… nó phải tập luyện và…”
“Tất nhiên rồi,” Hester nôn nóng chen ngang. “Đó là phần hay nhất… tập luyện.”
“Mamie không nghĩ vậy đâu,” Penelope hoài nghi nói.
“Thế thì Mamie không biết rồi,” Hester đáp lại đầy kiên quyết, dũng cảm chống lại cơn ớn lạnh đang dần khiến chị sởn gai ốc. “Đi nào con, giúp mẹ dọn chỗ cho cây đàn khi nó đến nào,” chị nói xong rồi băng qua căn phòng và chuyển một cái ghế qua một bên.
Nhưng khi chiếc đàn đến nơi, Penelope hăng hái tới mức thậm chí người mẹ cũng chỉ có thể mong được như vậy và nhảy nhót loanh quanh với sự hân hoan đáng tự hào. Thế nhưng sau khi đứa trẻ đã rời khỏi nhà rồi Hester mới cung kính tiến vào căn phòng tối đen và ngắm nhìn thỏa thích giấc mơ thành sự thật của mình.
Vừa mừng vừa sợ chị chìa tay ra và chạm nhẹ bốn đầu ngón tay vào một phím đàn bằng ngà, rồi chị chạm ngón trỏ vào một phím khác thấp hơn một chút. Âm nghịch tai vang lên khiến chị cảm thấy lo âu mơ hồ, và chị nhẹ nhàng lướt ngón trỏ trên phím đàn tới khi sự hòa âm của một hợp âm quãng sáu khiến mắt chị nhòa lệ.
“Ôi giá mà mình có thể!” chị thì thầm và ấn hợp âm lần nữa, chăm chú lắng nghe những rung động lúc chúng tắt dần trong căn phòng yên tĩnh. Rồi chị rón rén đi ra ngoài và đóng cửa lại.
Trong suốt giờ học đầu tiên vào buổi sáng thứ bảy đó, chị Martin cứ quanh quẩn gần cửa phòng khách, tay chân chị không chịu làm mấy công việc thường nhật. Tiếng thì thầm khe khẽ của cô giáo và những nốt nhạc thỉnh thoảng vang lên đối với Hester là cái nghi lễ bí ẩn trước điện thờ linh thiêng và chị lắng nghe với cảm giác tôn thờ. Khi cô Gale đã đi rồi, chị Martin liền lao tới bên Penelope.
“Thế nào rồi con? Cô ấy nói gì? Chơi cho mẹ xem cô ấy đã dạy con gì nào,” chị phấn khích thúc giục.
Penelope hất đầu tự mãn và liếc nhìn mẹ mình vẻ khinh miệt.
“Khiếp! Mẹ à, bài học đầu tiên có gì nhiều đâu. Con phải tập luyện nữa.”
“Tất nhiên rồi,” Hester thừa nhận vẻ giảng hòa; “nhưng tập như thế nào? Tập cái gì?”
“Đó, đó, rồi từ đó tới đó,” Penelope vừa nói vừa chỉ ngón tay trỏ hồng hào vào những phần nhất định của trang sách trước mặt.
“Ồ!” Hester nói nhỏ và nhìn những nốt nhạc bằng ánh mắt tha thiết. Rồi chị rụt rè, “Chơi… nốt đó đi.”
Với vẻ ngạo mạn hoàn toàn tin chắc vào bản thân Penelope đánh nốt đô.
“Nốt đó nữa.”
Ngón tay thứ hai của Penelope đánh nốt pha.
“Nốt đó, nốt đó và đó nữa,” Hester yêu cầu nhanh.
Gò má Penelope ửng hồng nhưng ngón tay nó không hề ngập ngừng. Hester hít thật sâu.
“Ôi, con học nhanh quá!” chị kêu lên.
Con gái chị do dự một lát.
“À thì… con… con học nốt nhạc ở trường rồi,” cuối cùng nó cũng thừa nhận và quay sang nhìn mẹ mình.
Nhưng với Hester ngay cả sự thú nhận này cũng không làm giảm đi vầng hào quang rực rỡ quanh đầu Penelope. Chị lại hít một hơi thật sâu nữa.
“Nhưng cô Gale có nói gì khác nữa không? Kể hết cho mẹ đi – từng chút một,” chị thèm thuồng nhắc lại.
Đó không chỉ là bài học đầu tiên của Penelope mà còn của cả Hester nữa. Đứa trẻ, với cảm giác phấn khởi và uy quyền khi đột nhiên được thăng chức từ học sinh lên giáo viên, thận trọng nhắc lại từng điểm trong bài học, và người phụ nữ hồi hộp lắng nghe với vẻ nhún nhường và chăm chú một cách sốt sắng. Sau đó vẫn mang vẻ tự mãn ung dung, Penelope tập gần một tiếng đồng hồ nữa.
Tới thứ hai khi bọn trẻ đều đang ở trường, Hester lẻn vào phòng khách và rụt rè ngồi xuống trước cây đàn.
“Mình nghĩ… mình gần như chắc chắn là có thể làm được rồi,” chị vừa thì thầm vừa xem xét cuốn sách để mở trên giá nhạc với đôi mắt khát khao. “Dù sao thì mình… mình cũng sẽ thử!” chị cương quyết nói.
Và Hester thử thật, không chỉ lúc đó thôi mà còn vào thứ ba, thứ tư và cứ thế tới thứ bảy – cái thứ bảy hôm có buổi học thứ hai.
Sau đó các tuần nhanh chóng trôi qua. Nhiệm vụ của Hester có vẻ nhẹ nhàng hơn và gánh nặng của chị ít nặng nề đi bởi vì giờ đã có cái chỗ nương tựa luôn hiện hữu đó rồi – chiếc đàn ấy. Thật kì diệu khi năm phút tập thang âm lại có thể xua đi biết bao cơn đau đầu và nỗi đau khổ; và khi thực sự không thể ở trước cây đàn, trong chị vẫn còn lại kí ức và hi vọng.
Trong hai tuần đầu Penelope tập luyện theo giờ được phân với sự nhẫn nại, có được nhờ việc này còn mới mẻ. Đến tuần thứ ba, “giờ tập” rút ngắn đi trông thấy, và đến tuần thứ tư thì chỉ còn có 30 phút.
“Thôi nào con, đừng quên tập đàn đấy,” thỉnh thoảng Hester lo lắng nhắc.
“Ôi trời ơi!” Penelope sẽ thở dài và Hester quan sát nó với ánh mắt bối rối lúc chị thất vọng kéo chiếc ghế tập đàn ra.
“Penelope,” một hôm chị đe dọa, “nhất định mẹ sẽ cho con thôi học – con đâu có thích nó đâu.” Nhưng chị choáng váng và hoảng sợ trước vẻ nhẹ nhõm lộ ra quá nhanh chóng trong ánh mắt của con gái mình. Hester không bao giờ đe dọa như vậy nữa, vì nếu Penelope không được học đàn nữa thì…
Hết tuần sang tháng, từng hợp âm ngắn và các đoạn giai điệu dần xuất hiện thường xuyên hơn trong giờ học của Penelope, và “bài tập” thỉnh thoảng được bổ sung vào bằng các “bản nhạc” – đơn giản nhưng vẫn đầy kiêu hãnh. Nhưng khi Penelope chơi bản “Đi xuống chỗ cối xay,”(2) người ta chỉ nghe thấy các nốt nhạc – chúng chính xác, nhịp nhàng và là một sự bắt chước tuyệt vời; còn khi Hester chơi nó, người ta có thể nghe thấy tiếng tiếng bánh xe nước kêu vù vù, tiếng rít của dòng suối ngầu bọt và gần như ngửi được mùi hăng hăng của mùn cưa, cảnh tượng hiện ra trong tâm trí quả thật rất sống động.
Lúc này những giấc mơ thuở ấu thơ trở lại trong Hester, ngón tay chị trôi nổi vào những giai điệu và hợp âm thứ êm ái không có trong sách tới khi toàn bộ cái tình yêu và niềm khao khát bị kìm hãm trong những năm tháng u ám, nhạt nhẽo trong quá khứ tìm thấy tiếng nói của mình nơi đầu ngón tay chị.
Những bản hành khúc trang nghiêm và điệu nhạc khiêu vũ vui nhộn của thứ âm nhạc hành lễ đó đã trở nên dễ dàng hoàn toàn tuân phục chị – lúc vui lúc buồn, lúc chậm rãi lúc nhịp nhàng, lúc lại nhanh thoăn thoắt với những hợp âm kì lạ và giai điệu vui tươi.
Máu trong người Hester chảy rần rần và má chị ửng hồng. Mắt chị mất đi vẻ khao khát còn môi chị không còn cau lại đăm chiêu nữa.
Tuần nào chị cũng học từ Penelope một cách chính xác và khi lũ trẻ ở nhà thì chị chỉ thực hành bấy nhiêu đó thôi. Chỉ khi chúng đã đi học rồi và chị được ở một mình thì niềm vui lớn lao mà khả năng ứng tác quý giá mới phát hiện ra này mới đến, chị có thể giải phóng trái tim và tâm hồn mình trên những phím đàn bằng ngà.
Một hôm chị đang chơi đàn như thế – quên cả thời gian, bản thân và rằng Penelope sẽ sớm đi học về – thì lũ trẻ vào nhà và kinh ngạc đứng khựng lại trên ngưỡng cửa phòng khách. Khi nốt nhạc thư thái cuối cùng tan vào tĩnh lặng, Penelope thả rơi sách vở và òa khóc.
“Sao thế con yêu?” Hester kêu lên. “Có chuyện gì sao?”
“Con… con không biết,” Penelope ấp úng nhìn mẹ mình với ánh mắt hoảng hốt. “Sao… sao mẹ không cho con biết?”
“Cho con biết gì kia?”
“Rằng… rằng mẹ có thể chơi như thế! Con… con đâu có biết đâu,” nó rên rỉ trong một cơn nức nở nữa mới bùng lên và ùa vào vòng tay người mẹ.
Hester xiết chặt vòng tay quanh thân hình nhỏ bé run rẩy và mắt chị rực sáng.
“Con à,” chị bắt đầu rất nhẹ nhàng, “từng có một cô bé – một cô bé giống như con vậy. Cô bé rất, rất nghèo và cả ngày cô ấy phải làm đủ thứ việc. Cô bé không có đàn piano, không được học nhạc, nhưng mà cô bé ao ước được có chúng biết bao! Cây cối, cỏ, làn gió và những đóa hoa ca hát cả ngày bên tai cô bé nhưng cô lại không thể hiểu được chúng nói gì được. Chẳng mấy chốc, sau bao nhiêu năm trời, cô bé này đã lớn lên và một đứa bé gái bé bỏng đến bên đời cô. Cô vẫn rất, rất nghèo, nhưng cô đã tiết kiệm và tằn tiện từng chút một bởi cô định rằng đứa bé gái này sẽ không phải mong mỏi thứ âm nhạc sẽ không bao giờ đến đó nữa. Cô bé sẽ được học nhạc.’
“Có phải là… con không?” Penelope thì thầm bằng đôi môi run rẩy.
Hester hít một hơi thật sâu.
“Đúng thế con yêu. Đã lâu lắm rồi mẹ từng là một cô bé và con là cô bé của ngày hôm nay. Rồi khi chiếc đàn đến đây, Penelope à, mẹ đã tìm thấy trong nó toàn bộ những bài hát mà gió và cây từng hát cho mẹ nghe. Giờ mặt trời tỏa sáng rực rỡ hơn và chim chóc ca hót du dương hơn – và toàn bộ thế giới này là của con – của con cả đấy. Ôi Penelope ơi, con không vui mừng sao?”
Penelope ngước khuôn mặt đẫm nước mắt lên và nhìn vào đôi mắt sáng rực của mẹ mình.
“Vui mừng? Ôi mẹ à!” cô bé nồng nhiệt kêu lên. Rồi giọng cô rất nhẹ nhàng, “Mẹ à… mẹ có nghĩ là mẹ… có thể dạy con không? ... Con muốn chơi được y như… y như thế!”.

TRƯƠNG THỊ MAI HƯƠNG dịch



Chú thích:
(1)       Bản nhạc được viết cho piano của nhà soạn nhạc người Ba Lan Tekla Badarzewska-Baranowska.
(2)       Một trong những bài hát phổ biến nhất đầu thế kỉ 20 ở Mĩ.


GIỚI THIỆU TẠP CHÍ CHƯ YANG SIN SỐ: 298 - THÁNG 6 NĂM 2017 tác giả

PHẠM MINH TRỊ



HAI CÁ TÍNH HÒA TRONG MỘT NGƯỜI THƠ



Một người lúc nào cũng kè kè bên mình chiếc cặp da đen bóng to kềnh. Không hiểu bên trong đựng những thứ gì mà lúc nào cũng căng phồng. Chưa thấy người đã nghe tiếng. Khi nói cứ như lên đồng, nói liên tục không ngừng nghỉ cứ như sợ người nghe cắt ngang. Anh ta có thể ngồi hàng giờ huơ tay nói nhiều khi văng cả nước vào mặt người đối diện. Hể hả khi nói xong một điều nào đó chợt bần thần nghĩ. Rồi cẩn thận mở khóa cặp ra, chọn chọn một chút, cầm hai tay rất cung kính, một cuốn sách nào đó, mở ra hí hoáy viết. À thì ra, anh ta mới in một tập thơ, viết đề tặng bạn bè. Tóc lúc nào cũng mượt nhoáng, có lẽ bôi gôm. Ngồi một chút là sờ tay lên vuốt vuốt ý chừng xem tóc tai có còn nguyên nếp không đấy. Đi đâu cũng vậy, đặc biệt đi dự một buổi gặp mặt nào đó hay dự một hội nghị tổng kết, nhận giải thưởng… Anh ta nghiêm chỉnh lắm: Comle, caravat, giầy đen, xịt nước hoa. Nói vậy thôi chứ anh ta thật thà lắm, có điều gì anh ta cũng toang toác kể, kể bằng hết thì thôi, chuyện gì cũng kể không giữ kẽ. Chuyện tốt, chuyện xấu, chuyện may, chuyện rủi thậm chí kể xong anh ta còn thề độc nữa: “Tao mà nói dối đứt lưỡi chết ngay, ra đường xe tông” hoặc : “Tao mà nói dối tao làm con mày”. Đó chính là nhà thơ Đỗ Toàn Diện quê ở Cẩm Sơn, Cẩm Thủy, Thanh Hóa sinh ngày 6 tháng 5 năm 1957. Là hội viên của Hội văn học nghệ thuật Đắc Lắc. Và điều này nữa, rất mừng cho anh, anh đã được toại nguyện, thỏa nỗi khát khao, mong mỏi, đợi chờ từ lâu, anh vừa được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam (6/1/2017).
Muốn nói gì thì nói, bàn gì thì bàn, ý này, ý kia thế nào đi nữa thì thơ anh đã được khẳng định, đã đứng được trong lòng bạn đọc. Đương nhiên trong quá trình sáng tác ai mà chả vậy, quá trình ấy thường đi theo đồ thị hình Sin. Lúc gập ghềnh, khấp khểnh khi xuôi chèo mát mái. Anh bước vào con đường thơ từ thuở còn học sinh. Mất cha từ hồi còn nhỏ, đi đâu cũng bị bắt nạt. Nhiều lần như vậy, anh tự rút ra một kinh nghiệm ứng xử mà sau này nó dính chặt vào khó gỡ ra được. Đi đâu, tới đâu, anh cũng cố lên gân to tiếng trước, áp đảo đối phương, có vậy anh mới không bị bắt nạt. Thật khổ cho anh, anh đâu muốn thế, tâm hồn anh thực ra rất nhạy cảm nhiều khi yếu đuối. Anh sống thiên về tình cảm. Anh rất ghét sự áp chế. Anh nhìn đời với con mắt sắc sảo. Ngòi bút của anh không hề né tránh những hiện tượng tiêu cực diễn ra hằng ngày trong đời sống xã hội. Anh góp phần vào công cuộc chống tham nhũng bằng cách của mình: “Tôi nghe có mùi tham nhũng/ Phả ra từ miệng quan tham/ Tôi ngửi thấy mùi hối lộ/ Ngô nghê từ miệng kẻ phàm/ Buông lời thăm dò nông sâu/ Tham nhũng, hối lộ hiểu nhau/ Cán cân công lý xô lệch/ Kẻ nghèo biết dựa vào đâu?” (Mùi tham nhũng). Anh phát hiện ra cái bản chất của bọn tham nhũng cùng bầy hối lộ, hai đối tượng này hiểu nhau từ chân tơ kẽ tóc. Chỉ mấy câu ngắn gọn mà anh bắt chúng hiện ra rõ ràng từng nét, người đọc như tưởng bọn tham ô hối lộ đang đứng ngay trước mặt mình. Cái đáng quý trong mảng thơ phê phán những hiện tượng tiêu cực trong xã hội của anh là: Ẩn đằng sau những bực bội căm ghét, châm biến, giễu cợt là nỗi lòng thương cảm đối với đại đa số người dân. Một câu hỏi “Kẻ nghèo biết dựa vào đâu?” cứ xoáy sâu vào lòng người đọc hẳn nhiên là vậy nhưng nó còn xoáy mãi, xoáy mãi vào những người được dân trao cho quyền lực để bảo vệ công lý. Cái sự ngược đời có lẽ nhiều người thấy, nhiều người nhìn, nhiều người nghĩ, nhưng ít ai viết như anh: “Đầy tớ thời này sướng như vua/ Muốn làm đầy tớ cũng phải mua/ Ngông nghênh một ghế ông chễm chệ/ Ngất nghểu trên ngai hưởng lộc chùa.” (Chuyện lạ). Người đọc thấy phảng phất giọng của cụ Tú ngày xưa. Hiện tượng  mua chức, bán quyền dưới cái nhìn của anh cũng không kém phần sắc bén: “Hiệu trưởng lắm nơi phải đấu thầu/ Nhiều chỉ, nhiều cây ắt nhiệm màu/ Đâu cần năng lực, đâu bằng cấp/ Có tiền, có chức ắt rung râu”. Anh không quanh co, chỉ thẳng tên, gọi đúng chỗ: “Hàng ngũ Đảng còn lắm kẻ mọt sâu/ Lợi dụng chức quyền lấn người vô tội”. Có người cho anh là kẻ ngang ngạnh, chuyên chọc gậy, móc máy, xỉa xói… đúng anh là vậy, nhưng cái móc máy, xỉa xói… ấy đúng lắm, có lý lắm. Ở đời làm sao có cái giống người bất hiếu với bậc sinh thành và nịnh bợ đến mức mất hết nhân cách như thế này: “Ngày giỗ  bố mình quên chẳng biết/ Bố người, tường tận lạch nông sâu/ Phong bì to, nhỏ dâng tha thiết/ Em nguyện suốt đời làm ngựa trâu”. Những kẻ ấy đúng là ngựa trâu thật sự. Những kẻ uốn gối dẻo như kẹo cao su, lưỡi miệng ngọt như mía lùi ấy là đối với cấp trên còn với người dân thì: “Cửa quyền hách dịch hành dân/ Công việc đi lại mươi lần chưa xong/ Thủ tục hành chính lòng thòng/ Như dây quấn cổ trăm vòng siết lôi”(Hành chính-hành dân là chính). Cái cổ của dân dễ quấn quá, bởi dưới dân còn ai nữa mà hành. Tệ nạn cửa quyền quan liêu là những dây xích trói dân, siết dân. Anh ước ao: “Hỏi bao giờ hết ách gông/ Bao giờ tháo cũi sổ lồng cho dân.”. Cái ao ước ấy chính là ao ước từ rất lâu rồi của mọi người. Nhân đây có một chuyện thật 100% không có chút xíu nào là bịa (vì anh đã thề nếu nói dối ra đường xe tông, đứt lưỡi). Đó là vào những năm 80, 90 của thế kỉ trước, cán bộ công nhân viên đều có chế độ nghỉ phép, riêng giáo viên có chế độ phép hè. Anh là một giáo viên, một hôm đem giấy phép, vé xe, bảng kê khai đầy đủ cả, đưa vào cho kế toán của Phòng Giáo dục để thanh toán. Người vây quanh kế toán đông lắm. Từ ngoài cửa anh chen vào hỉ hả đưa cho kế toán các chứng từ đã chuẩn bị sẵn, nào ngờ, cô ta liếc qua bảo của anh không thanh toán được. Vì sao ? anh hét to. Vé giả – kế toán cũng chỏng lỏn đáp lại. Tính anh ương ngạnh, mỗi khi có chuyện là mặt tai đỏ cả lên, mắt phóng ra những tia giận dữ. Anh giở thói dân rừng: Á, à mày bảo vé giả hả, nghe đây cho rõ. Thốt nhiên có người to tiếng, nói năng văng mạng như chỗ không người. Tất cả im phăng phắc trố mắt nhìn anh. Dõng dạc anh thẳng người ngâm nga: “Ngày nay, làm đĩ lên bà…”. Ông trưởng phòng ở đâu đó hốt hoảng chạy vào kéo tuột anh ra ngoài và nhẹ nhàng bảo: Thầy cứ về đi, đưa giấy tờ đây cho tôi. Và thế là ngay ngày hôm sau anh nhận được đầy đủ số tiền thanh toán phép hè năm đó. Chẳng biết vé xe thật, giả ra sao? Sự việc có thể  nói là nhỏ, nhưng công dụng của câu thơ châm biếm, đả kích tức thì của anh phát huy hiệu quả ngay. Khốn khổ thế, nhiều khi người ta cứ tự cho mình một cái quyền, cái uy nào đó mà hão huyền rằng mình ở vị trí ấy là xứng đáng với mình  lắm, rồi sinh ra đủ thứ phiền phức. Nói về quan liêu, tham nhũng thì quá nhiều chuyện bởi vì thực sự nó đã trở thành giặc nội xâm rất nguy hiểm, trực tiếp hàng ngày, hàng giờ đe dọa sự tồn vong của chế độ và vận mệnh của quốc gia. Chính nó làm nghèo đất nước, kéo lùi sự tiến bộ, làm băng hoại đạo đức, khiến tâm hồn vẩn đục, ô nhiễm, sự bất công trong xã hội ngày càng gia tăng và quan trong hơn là niềm tin của nhân dân đối với Đảng, đối với Chính phủ.
Anh không những lách ngòi bút của mình vào tệ quan liêu, tham nhũng vào những kẻ bán chức mua quyền, bất nhân bất nghĩa mà còn đưa ngòi bút của mình vào tệ nạn xã hội như chơi game, chát chít trên mạng… Tệ nạn này làm hư hỏng biết bao con trẻ: “Nào ngờ con chẳng học chăm/ Đua đòi game-chat nhố nhăng bỏ giờ/ Thân tàn, ma dại xác xơ/ Bỏ ăn… dứt bữa ngẩn ngơ cò gầy”. Đây chính là  lời cảnh tỉnh nghiêm khắc đối với những người làm cha, làm mẹ. Thói ăn theo, hùa theo dưới ngòi bút của anh nó sinh động hẳn lên, qua việc anh “Vịnh con chó”: “Chó vằn, chó vện, chó vàng/ Vào hùa với lũ chó khoang đốm đầu/ Suốt đời chỉ sủa gâu gâu/ Khom lưng, uốn gối, cúi đầu chủ sai.” Cái thứ người, loại người nào mà có tính ăn theo, hùa theo ắt nhiễm trong mình cái tính nịnh bợ đến mất tư cách như con chó mà anh đã giải phẫu ở trên. Thói dựa dẫm vào một cái quyền nào đó, một cái ghế nào đó, hoặc một ai đó cũng là một biến thể của sự cậy quyền thế để dậm dọa người khác, anh đã đóng dấu vào trán chúng nó: “Gần đèn thì bóng rất to/ Xa đèn thì bóng bị co rút vào/ Lắm người cái bóng to cao/ Nhưng óc lại nhỏ… bàn cào lại to” (Cái bóng). Thói lật lọng, dẻo mồm, dẻo miệng, hứa cho xong chuyện, anh cũng đưa vào thơ như một đối tượng cần phê phán, cảnh tỉnh: “Khi vay ngọn lưỡi có thần/ Đến khi trả, biến ân nhân thành thù”. Đây là một thực tế diễn ra hằng ngày, ở mọi nơi, mọi lúc. Chỉ một việc nhổ răng đơn giản mà dưới ngòi bút của anh trở thành một bài học làm người rất đáng suy nghĩ: “Đã từng gang miệng bao người/ Nhổ đi những chiếc răng tồi, răng hư/ Những hàm trắng, sạch vô tư/ Suốt đời ai dám mó vô được cằm” (Nhổ răng). Thói rập khuôn, sáo rỗng cũng được anh đưa ra phê phán, giễu cợt, mỉa mai: “Chỉ chuyên bắt chước tiếng người/ Cũng uốn lưỡi, cũng học đòi ba hoa/ Mua vui lòng trẻ, lòng già/ Cả đời quanh quẩn trong ba tấc lồng” (Con vẹt). Anh cũng trăn trở với thơ hiện đại: “Thơ hiện đại đến nỗi/ Người đương thời chẳng nhớ nổi một câu/ Thử hỏi mai sau cháu, con còn nhớ!/ Đọc một câu thơ lắm khi ngộp thở/ Nghệ thuật ngôn từ như hũ nút đêm sâu”. Và băn khoăn day dứt: “Thơ sẽ đi đâu?/ Và thơ về đâu?” (Thơ hiện đại). Một câu hỏi nặng tình đầy trách nhiệm của một nhà thơ trước hiện tượng thơ hiện đại. Đây là vấn đề lớn đòi hỏi một cơ sở lý luận vững vàng, một cách tiếp cận khoa học với một sự trải nghiệm dày dặn sâu rộng lúc đó mới có thể mổ xẻ, phân tích, đánh giá một cách tương đối chính xác, vì thế nên để một dịp thuận lợi nào đó để luận bàn cho thấu đáo. Ở đây, tôi chỉ muốn ghi nhận cái tình, sự trách nhiệm của một nhà thơ mà thôi. Ngòi bút châm biếm của Đỗ Toàn Diện ngày một lách sâu vào từng hiện tượng tiêu cực của đời sống xã hội. Dường như trong cuộc sống có cái gì tiêu cực xảy ra, ngòi bút của anh có mặt ngay tức khắc, không chần chừ, không lưỡng lự, không né tránh. Lâu nay, câu chuyện lợi ích nhóm được đưa ra rất nhiều trên các phương tiện truyền thông, ở đâu đó cũng loáng thoáng bàn bạc, rỉ tai. Riêng anh, có ngay bài Liên kết ma: “Bìa rừng cổ thụ vây quanh/ Giữa rừng lâm tặc biến thành đất hoang/ Kiểm lâm lắm kẻ giàu sang/ Ăn cướp hợp pháp nghênh ngang xe, nhà/ Đua nhau chặt phá rừng già/ Của công chúng giữ, ắt là mồi ngon/ Xơi ngay nóng hổi cho giòn/ Liên kết lâm-tặc chẳng còn gì hơn/ Kiểm lâm, thảo khấu, sơn tràng/ Bọn chúng một giuộc tan hoang rừng già”. Có lẽ, anh đâu chỉ nói mỗi nhóm liên kết ma: Kiểm lâm-thảo khấu-sơn tràng mà người đọc hiểu rằng còn rất nhiều kiểu liên kết ma mãnh ken dày trong đời sống xã hội. Tiếng nói của anh đánh động đến ý thức trách nhiệm  của mỗi công dân. Hiện tượng vỡ nợ  xảy ra thường xuyên khiến cho nhiều gia đình lâm vào cảnh tan vỡ: “Thôi! Bán hết nhà, lợn/ Cho vay để kiếm lời/ Ai dè! Tiền bốc hơi/ Con nợ chuồn. Cuỗm sạch/ Một cú lừa ngoạn mục/ Lúc ấy mới tỉnh ra/ Con nợ đã tếch xa/ Kêu trời thì đã muộn” (Kẻ vay lãi nặng).
Mảng thơ trào phúng của anh ít nhiều đã để lại ấn tượng cho người đọc bởi, đối tượng phản ánh phong phú, đa dạng dường như bất cứ hiện tượng tiêu cực nào trong đời sống xã hội ngòi bút của anh đều chạm tới. Song đáng tiếc nếu anh khắc chế được kiểu ham nói thì có lẽ tiếng nói sâu hơn và giá trị của tiếng nói ấy đắt hơn rất nhiều. Thơ châm biếm của anh mới chỉ có diện mà chưa có điểm nên người đọc còn thấy thiêu thiếu một cái gì đó, và có cảm giác luễnh loãng, dàn trải.
Anh không chỉ có thơ trào phúng mà anh còn có cả một mảng thơ trữ tình. Về số lượng của mảng thơ trữ tình đến nay anh đã cho ra mắt bạn đọc ba tập (Thời yêu dấu - NXB Hội Nhà văn, 2005; Ước mơ nhà rông - NXB Văn học,2010; Dấu chân thời gian - NXB Hội Nhà văn, 2016). Điều này chứng tỏ sự say thơ của anh. Có lẽ, thơ đối với anh là khí thở, không thể thiếu và không thể vắng trong đời sống tư tưởng, tình cảm của anh. Cứ ngỡ rằng cái tạng của anh là tung hoành ở mảng thơ châm biếm ai ngờ thoắt cái từ bờ này anh nhảy sang bờ kia của dòng cảm xúc nhẹ nhàng thế. Cũng giống như các nhà thơ khác, ít nhiều khi thử bút, đều tựa vào nhựa sống của tình yêu nam nữ. Mỗi người đều có một cách tiếp cận riêng biệt, không ai giống ai nhưng đều chung nhau ở  độ say, độ mê đến nỗi quên cả bản thân mình. Anh cũng thế: “Đã có lần ta say/ Đi nhầm vào cõi mộng/ Lưới tình vây kín nẻo quay về” (Say). Anh cũng giống mọi người trai khi yêu cũng ước đủ thứ: “Ước gì, em mãi còn duyên/ Để tôi ngóng đợi một miền xa xăm” (Hy vọng). Cái lưới tình sao nó ghê gớm quá: “Anh lạc vào mê mải/Tìm em”. Anh cũng huênh hoang như bao gã trai si tình khác: “Chỉ em, đôi mắt em thôi/ Hớp hồn tôi suốt cõi người ngả nghiêng.” (Liều). Thú thực, nói về tình yêu nam nữ, ngòi bút của anh chưa chạm tới được sự riêng biệt chỉ mình mới có. Cái anh nói thì rất nhiều người đã nói mà có khi họ nói còn hay hơn. Thế mới biết một người làm thơ để thực sự là thi sĩ khó biết chừng nào. Nói thế, không phải là chê thơ anh mà mong mỏi một điều rằng: Bất cứ người làm thơ nào muốn bạn đọc nhớ lâu, thì người đó dứt khoát không được nản lòng vì như cụ Nguyễn từng cảnh báo những ai lăm le bước vào nghề chữ nghĩa: “Nghề viết lách khó lắm, cơ cực lắm”. Rất may, anh không có tính tự ái, mà rất thích được người khác góp ý, càng góp ý thẳng thừng bao nhiêu anh càng hớn hở bấy nhiêu. Theo tôi, anh đã hiểu được chân tướng của câu tục ngữ: “Học thầy không tày học bạn”. Chính sự kiên trì, lòng khao khát tìm tòi không ngừng nghỉ mà anh đã có những câu thơ hay về vùng đất anh đang sống: “Ta bước trên ngàn năm/ Nghe dòng Sê Rê Pôk thở” và “Họ thổi hồn vào ống lồ ô/ Và chắt lọc âm thanh vào ruột đá” hay “Tìm vết chân voi ngàn xưa hóa thạch/ Gió đại ngàn còn văng vẳng hồn chiêng” (Trên cầu treo Buôn Đôn). Nếu so sánh những câu thơ vừa trích với những câu nói về tình yêu nam nữ ở trên rõ ràng có sự phân cấp khác nhau rõ rệt. Mức độ cảm xúc nồng nàn hơn, ý thơ sâu hơn, tình đậm hơn. Nhưng đáng tiếc, lẽ ra anh đã có những câu thơ hay nhất về Tây Nguyên nếu anh không tham lam trong diễn đạt và biết chắt lọc ngôn từ hơn. Khi anh sử dụng các từ nối đã làm cho sức nặng và sự ám ảnh nhạt đi nhiều lắm. Tây Nguyên là quê hương thứ hai của anh, là máu thịt của anh. Anh đã cảm được nét đặc trưng của vùng đất bí ẩn và huyền thoại này: “Gió đại ngàn cứ thổi vào trống trải/ Nghe âm âm hồn sông núi hiện về”. Những con người sống trên vùng đất đỏ, được anh tái hiện thật sống động: “Những chàng Êđê giáo mác sáng ngời/ Bắp cuồn cuộn, ngực căng như cánh ná/ Cùng hò reo những âm thanh lạ/ Tiếng chiêng rền, đồng vọng thanh la”. Thơ anh ắp đầy yếu tố hiện thực, nhưng ẩn đằng sau các yếu tố hiện thực ấy là âm hưởng đặc trưng của vùng miền. Tượng nhà mồ là nét đặc trưng nổi bật của nền văn hóa Tây Nguyên. Nói về văn hóa Tây Nguyên mà không nói về tượng nhà mồ nghĩa là chưa hiểu rõ về nó. Và anh có những câu thơ về hình ảnh tượng nhà mồ đầy ấn tượng: “Da mật nhuộm mầu nắng gió/ Bó gối mắt vương nỗi sầu/ Suốt đời quẩn quanh bên lửa/ Vui buồn cần rượu vít cong/ Nỗi niềm khắc vào thớ gỗ/ Mắt quầng hun hút nỗi đau/ Chống cằm nhìn vào vô vọng/ Nổi chìm chẳng biết vì đâu?” (Dáng tượng nhà mồ). Có lẽ đây là một trong những bài thơ viết về tượng nhà mồ Tây Nguyên vấn vương nhiều suy nghĩ nhất của anh. Đây cũng là một dạng của “âm âm hồn sông núi hiện về”. Cái đáng để người đọc nhớ là anh đã khái quát được chiều sâu văn hóa của một miền đầy kỳ bí vào một hình ảnh thơ cụ thể tiêu biểu. Nếu mà anh để ý được điều này khi làm thơ có lẽ thơ anh bớt đi rất nhiều những điều vụn vặt những lỗi thơ không đáng có. Và tôi tin rằng thơ anh sẽ cô đọng hơn, người đọc nhớ thơ anh nhiều hơn. Ngay bài thơ này, là một trong những bài nổi trội mà anh vẫn không kìm hãm được tật ham trình bày. Đã có: “Mắt quầng hun hút nỗi đau” rồi mà sao kết bài anh lại viết: “Nổi chìm chẳng biết vì đâu?”. Chính câu thơ kết này đã làm toàn bộ bài thơ của anh tan loãng không còn sự đậm đặc của suy nghĩ nữa, mặc dù anh đã cố ý dùng kỹ thuật câu hỏi tu từ để kết bài. Trong thơ, nhiều khi kỹ thuật làm hỏng và không bao giờ thay thế được độ nồng cảm hứng. Anh rất yêu mảnh đất đã cho anh cảm hứng để làm thơ vì thế anh có những phát hiện rất tinh, sự phát hiện này đã đáp ứng được các yếu tố truyền thống và hiện đại giữa tả - kể và suy ngẫm: “Cối gạo truyền đời, vẹt mòn đáy cối/ Nhịp chày nóng hổi kéo bình mình lên” (Ngày mới từ những nhịp chày). Đọc xong mà hình ảnh thơ vẫn còn ngân lên mãi, có điều gì đó đang bung tỏa. Văn hóa Tây Nguyên đã lặn ngấm trong anh nên cho anh những câu thơ thực sự là thơ: “Gùi nước lòng khe, hái gió đỉnh trời”; “Khoét ống lồ ô, nghe hồn của gió”; “Đàn voi cõng tiếng cồng đi qua thời gian”. Những câu thơ đượm màu suy tư, đầy bóng dáng của hình tượng. Có thể nói những câu thơ vừa trích là những câu thơ lay động thực sự tâm thức người đọc. Giá mà bài thơ nào của anh cũng xuất hiện những câu thơ như thế thì hay biết chừng nào? Phải nói rằng, khi viết về con người, vùng đất, phong tục, văn hóa Tây Nguyên, anh đã đạt đến độ cá tính. Nói vậy có thể hơi quá chăng? Nhưng nếu anh biết kìm nén sự ham trình bày, tham kể tả, thích dài dòng thì thơ anh sẽ có nhiều câu thơ như vừa nêu. Thơ anh có cảm xúc, song đôi lúc cảm xúc còn dàn trải, mới tràn trề trên bề mặt mà chưa chịu lắng sâu. Thơ anh có tình mà đôi lúc thiếu đi độ sâu của suy ngẫm. Chính những điều trên mà người đọc khi đọc thơ anh nhiều lúc nó cứ xuội đi, ít găm lại trong tâm trí.
Dù sao đi nữa trong mấy mươi năm làm thơ của anh, anh đã in được dấu thơ của mình trên bản đồ thơ Đắc Lắc. Sức làm thơ của anh bền bỉ, anh biết giữ cảm hứng của mình vì thế cứ tính trung bình 2 hoặc 3 năm lại cho ra mắt bạn đọc một tập thơ. Đến nay (2017) tính cả in riêng, in chung anh có trong tay đến 14 tập thơ. Đây quả là một con số ấn tượng. Về giải thưởng anh có: Giải thưởng VHNT năm 2012 - Giải C; năm 2016-Giải B của Hội VHNT Đắk Lắk; Giải C - Giải thưởng Văn học- Nghệ thuật Chư Yang Sin của tỉnh Đắk Lắk lần thứ 2 (2008-2013). Năm Đinh Dậu này là năm anh nhớ nhất bởi hai dấu ấn không thể quên: Một, anh là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam; hai, anh về hưu. Nhưng mong rằng anh chỉ về hưu cái nghề dạy học mà thôi, còn anh đừng để thơ phải nghỉ hưu. Bạn đọc đang chờ những sáng tác mới của anh.






Thứ Hai, 10 tháng 7, 2017

GIỚI THIỆU TẠP CHÍ CHƯ YANG SIN SỐ: 298 - THÁNG 6 NĂM 2017 tác giả

PHẠM MINH TRỊ



HAI CÁ TÍNH HÒA TRONG MỘT NGƯỜI THƠ



Một người lúc nào cũng kè kè bên mình chiếc cặp da đen bóng to kềnh. Không hiểu bên trong đựng những thứ gì mà lúc nào cũng căng phồng. Chưa thấy người đã nghe tiếng. Khi nói cứ như lên đồng, nói liên tục không ngừng nghỉ cứ như sợ người nghe cắt ngang. Anh ta có thể ngồi hàng giờ huơ tay nói nhiều khi văng cả nước vào mặt người đối diện. Hể hả khi nói xong một điều nào đó chợt bần thần nghĩ. Rồi cẩn thận mở khóa cặp ra, chọn chọn một chút, cầm hai tay rất cung kính, một cuốn sách nào đó, mở ra hí hoáy viết. À thì ra, anh ta mới in một tập thơ, viết đề tặng bạn bè. Tóc lúc nào cũng mượt nhoáng, có lẽ bôi gôm. Ngồi một chút là sờ tay lên vuốt vuốt ý chừng xem tóc tai có còn nguyên nếp không đấy. Đi đâu cũng vậy, đặc biệt đi dự một buổi gặp mặt nào đó hay dự một hội nghị tổng kết, nhận giải thưởng… Anh ta nghiêm chỉnh lắm: Comle, caravat, giầy đen, xịt nước hoa. Nói vậy thôi chứ anh ta thật thà lắm, có điều gì anh ta cũng toang toác kể, kể bằng hết thì thôi, chuyện gì cũng kể không giữ kẽ. Chuyện tốt, chuyện xấu, chuyện may, chuyện rủi thậm chí kể xong anh ta còn thề độc nữa: “Tao mà nói dối đứt lưỡi chết ngay, ra đường xe tông” hoặc : “Tao mà nói dối tao làm con mày”. Đó chính là nhà thơ Đỗ Toàn Diện quê ở Cẩm Sơn, Cẩm Thủy, Thanh Hóa sinh ngày 6 tháng 5 năm 1957. Là hội viên của Hội văn học nghệ thuật Đắc Lắc. Và điều này nữa, rất mừng cho anh, anh đã được toại nguyện, thỏa nỗi khát khao, mong mỏi, đợi chờ từ lâu, anh vừa được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam (6/1/2017).
Muốn nói gì thì nói, bàn gì thì bàn, ý này, ý kia thế nào đi nữa thì thơ anh đã được khẳng định, đã đứng được trong lòng bạn đọc. Đương nhiên trong quá trình sáng tác ai mà chả vậy, quá trình ấy thường đi theo đồ thị hình Sin. Lúc gập ghềnh, khấp khểnh khi xuôi chèo mát mái. Anh bước vào con đường thơ từ thuở còn học sinh. Mất cha từ hồi còn nhỏ, đi đâu cũng bị bắt nạt. Nhiều lần như vậy, anh tự rút ra một kinh nghiệm ứng xử mà sau này nó dính chặt vào khó gỡ ra được. Đi đâu, tới đâu, anh cũng cố lên gân to tiếng trước, áp đảo đối phương, có vậy anh mới không bị bắt nạt. Thật khổ cho anh, anh đâu muốn thế, tâm hồn anh thực ra rất nhạy cảm nhiều khi yếu đuối. Anh sống thiên về tình cảm. Anh rất ghét sự áp chế. Anh nhìn đời với con mắt sắc sảo. Ngòi bút của anh không hề né tránh những hiện tượng tiêu cực diễn ra hằng ngày trong đời sống xã hội. Anh góp phần vào công cuộc chống tham nhũng bằng cách của mình: “Tôi nghe có mùi tham nhũng/ Phả ra từ miệng quan tham/ Tôi ngửi thấy mùi hối lộ/ Ngô nghê từ miệng kẻ phàm/ Buông lời thăm dò nông sâu/ Tham nhũng, hối lộ hiểu nhau/ Cán cân công lý xô lệch/ Kẻ nghèo biết dựa vào đâu?” (Mùi tham nhũng). Anh phát hiện ra cái bản chất của bọn tham nhũng cùng bầy hối lộ, hai đối tượng này hiểu nhau từ chân tơ kẽ tóc. Chỉ mấy câu ngắn gọn mà anh bắt chúng hiện ra rõ ràng từng nét, người đọc như tưởng bọn tham ô hối lộ đang đứng ngay trước mặt mình. Cái đáng quý trong mảng thơ phê phán những hiện tượng tiêu cực trong xã hội của anh là: Ẩn đằng sau những bực bội căm ghét, châm biến, giễu cợt là nỗi lòng thương cảm đối với đại đa số người dân. Một câu hỏi “Kẻ nghèo biết dựa vào đâu?” cứ xoáy sâu vào lòng người đọc hẳn nhiên là vậy nhưng nó còn xoáy mãi, xoáy mãi vào những người được dân trao cho quyền lực để bảo vệ công lý. Cái sự ngược đời có lẽ nhiều người thấy, nhiều người nhìn, nhiều người nghĩ, nhưng ít ai viết như anh: “Đầy tớ thời này sướng như vua/ Muốn làm đầy tớ cũng phải mua/ Ngông nghênh một ghế ông chễm chệ/ Ngất nghểu trên ngai hưởng lộc chùa.” (Chuyện lạ). Người đọc thấy phảng phất giọng của cụ Tú ngày xưa. Hiện tượng  mua chức, bán quyền dưới cái nhìn của anh cũng không kém phần sắc bén: “Hiệu trưởng lắm nơi phải đấu thầu/ Nhiều chỉ, nhiều cây ắt nhiệm màu/ Đâu cần năng lực, đâu bằng cấp/ Có tiền, có chức ắt rung râu”. Anh không quanh co, chỉ thẳng tên, gọi đúng chỗ: “Hàng ngũ Đảng còn lắm kẻ mọt sâu/ Lợi dụng chức quyền lấn người vô tội”. Có người cho anh là kẻ ngang ngạnh, chuyên chọc gậy, móc máy, xỉa xói… đúng anh là vậy, nhưng cái móc máy, xỉa xói… ấy đúng lắm, có lý lắm. Ở đời làm sao có cái giống người bất hiếu với bậc sinh thành và nịnh bợ đến mức mất hết nhân cách như thế này: “Ngày giỗ  bố mình quên chẳng biết/ Bố người, tường tận lạch nông sâu/ Phong bì to, nhỏ dâng tha thiết/ Em nguyện suốt đời làm ngựa trâu”. Những kẻ ấy đúng là ngựa trâu thật sự. Những kẻ uốn gối dẻo như kẹo cao su, lưỡi miệng ngọt như mía lùi ấy là đối với cấp trên còn với người dân thì: “Cửa quyền hách dịch hành dân/ Công việc đi lại mươi lần chưa xong/ Thủ tục hành chính lòng thòng/ Như dây quấn cổ trăm vòng siết lôi”(Hành chính-hành dân là chính). Cái cổ của dân dễ quấn quá, bởi dưới dân còn ai nữa mà hành. Tệ nạn cửa quyền quan liêu là những dây xích trói dân, siết dân. Anh ước ao: “Hỏi bao giờ hết ách gông/ Bao giờ tháo cũi sổ lồng cho dân.”. Cái ao ước ấy chính là ao ước từ rất lâu rồi của mọi người. Nhân đây có một chuyện thật 100% không có chút xíu nào là bịa (vì anh đã thề nếu nói dối ra đường xe tông, đứt lưỡi). Đó là vào những năm 80, 90 của thế kỉ trước, cán bộ công nhân viên đều có chế độ nghỉ phép, riêng giáo viên có chế độ phép hè. Anh là một giáo viên, một hôm đem giấy phép, vé xe, bảng kê khai đầy đủ cả, đưa vào cho kế toán của Phòng Giáo dục để thanh toán. Người vây quanh kế toán đông lắm. Từ ngoài cửa anh chen vào hỉ hả đưa cho kế toán các chứng từ đã chuẩn bị sẵn, nào ngờ, cô ta liếc qua bảo của anh không thanh toán được. Vì sao ? anh hét to. Vé giả – kế toán cũng chỏng lỏn đáp lại. Tính anh ương ngạnh, mỗi khi có chuyện là mặt tai đỏ cả lên, mắt phóng ra những tia giận dữ. Anh giở thói dân rừng: Á, à mày bảo vé giả hả, nghe đây cho rõ. Thốt nhiên có người to tiếng, nói năng văng mạng như chỗ không người. Tất cả im phăng phắc trố mắt nhìn anh. Dõng dạc anh thẳng người ngâm nga: “Ngày nay, làm đĩ lên bà…”. Ông trưởng phòng ở đâu đó hốt hoảng chạy vào kéo tuột anh ra ngoài và nhẹ nhàng bảo: Thầy cứ về đi, đưa giấy tờ đây cho tôi. Và thế là ngay ngày hôm sau anh nhận được đầy đủ số tiền thanh toán phép hè năm đó. Chẳng biết vé xe thật, giả ra sao? Sự việc có thể  nói là nhỏ, nhưng công dụng của câu thơ châm biếm, đả kích tức thì của anh phát huy hiệu quả ngay. Khốn khổ thế, nhiều khi người ta cứ tự cho mình một cái quyền, cái uy nào đó mà hão huyền rằng mình ở vị trí ấy là xứng đáng với mình  lắm, rồi sinh ra đủ thứ phiền phức. Nói về quan liêu, tham nhũng thì quá nhiều chuyện bởi vì thực sự nó đã trở thành giặc nội xâm rất nguy hiểm, trực tiếp hàng ngày, hàng giờ đe dọa sự tồn vong của chế độ và vận mệnh của quốc gia. Chính nó làm nghèo đất nước, kéo lùi sự tiến bộ, làm băng hoại đạo đức, khiến tâm hồn vẩn đục, ô nhiễm, sự bất công trong xã hội ngày càng gia tăng và quan trong hơn là niềm tin của nhân dân đối với Đảng, đối với Chính phủ.
Anh không những lách ngòi bút của mình vào tệ quan liêu, tham nhũng vào những kẻ bán chức mua quyền, bất nhân bất nghĩa mà còn đưa ngòi bút của mình vào tệ nạn xã hội như chơi game, chát chít trên mạng… Tệ nạn này làm hư hỏng biết bao con trẻ: “Nào ngờ con chẳng học chăm/ Đua đòi game-chat nhố nhăng bỏ giờ/ Thân tàn, ma dại xác xơ/ Bỏ ăn… dứt bữa ngẩn ngơ cò gầy”. Đây chính là  lời cảnh tỉnh nghiêm khắc đối với những người làm cha, làm mẹ. Thói ăn theo, hùa theo dưới ngòi bút của anh nó sinh động hẳn lên, qua việc anh “Vịnh con chó”: “Chó vằn, chó vện, chó vàng/ Vào hùa với lũ chó khoang đốm đầu/ Suốt đời chỉ sủa gâu gâu/ Khom lưng, uốn gối, cúi đầu chủ sai.” Cái thứ người, loại người nào mà có tính ăn theo, hùa theo ắt nhiễm trong mình cái tính nịnh bợ đến mất tư cách như con chó mà anh đã giải phẫu ở trên. Thói dựa dẫm vào một cái quyền nào đó, một cái ghế nào đó, hoặc một ai đó cũng là một biến thể của sự cậy quyền thế để dậm dọa người khác, anh đã đóng dấu vào trán chúng nó: “Gần đèn thì bóng rất to/ Xa đèn thì bóng bị co rút vào/ Lắm người cái bóng to cao/ Nhưng óc lại nhỏ… bàn cào lại to” (Cái bóng). Thói lật lọng, dẻo mồm, dẻo miệng, hứa cho xong chuyện, anh cũng đưa vào thơ như một đối tượng cần phê phán, cảnh tỉnh: “Khi vay ngọn lưỡi có thần/ Đến khi trả, biến ân nhân thành thù”. Đây là một thực tế diễn ra hằng ngày, ở mọi nơi, mọi lúc. Chỉ một việc nhổ răng đơn giản mà dưới ngòi bút của anh trở thành một bài học làm người rất đáng suy nghĩ: “Đã từng gang miệng bao người/ Nhổ đi những chiếc răng tồi, răng hư/ Những hàm trắng, sạch vô tư/ Suốt đời ai dám mó vô được cằm” (Nhổ răng). Thói rập khuôn, sáo rỗng cũng được anh đưa ra phê phán, giễu cợt, mỉa mai: “Chỉ chuyên bắt chước tiếng người/ Cũng uốn lưỡi, cũng học đòi ba hoa/ Mua vui lòng trẻ, lòng già/ Cả đời quanh quẩn trong ba tấc lồng” (Con vẹt). Anh cũng trăn trở với thơ hiện đại: “Thơ hiện đại đến nỗi/ Người đương thời chẳng nhớ nổi một câu/ Thử hỏi mai sau cháu, con còn nhớ!/ Đọc một câu thơ lắm khi ngộp thở/ Nghệ thuật ngôn từ như hũ nút đêm sâu”. Và băn khoăn day dứt: “Thơ sẽ đi đâu?/ Và thơ về đâu?” (Thơ hiện đại). Một câu hỏi nặng tình đầy trách nhiệm của một nhà thơ trước hiện tượng thơ hiện đại. Đây là vấn đề lớn đòi hỏi một cơ sở lý luận vững vàng, một cách tiếp cận khoa học với một sự trải nghiệm dày dặn sâu rộng lúc đó mới có thể mổ xẻ, phân tích, đánh giá một cách tương đối chính xác, vì thế nên để một dịp thuận lợi nào đó để luận bàn cho thấu đáo. Ở đây, tôi chỉ muốn ghi nhận cái tình, sự trách nhiệm của một nhà thơ mà thôi. Ngòi bút châm biếm của Đỗ Toàn Diện ngày một lách sâu vào từng hiện tượng tiêu cực của đời sống xã hội. Dường như trong cuộc sống có cái gì tiêu cực xảy ra, ngòi bút của anh có mặt ngay tức khắc, không chần chừ, không lưỡng lự, không né tránh. Lâu nay, câu chuyện lợi ích nhóm được đưa ra rất nhiều trên các phương tiện truyền thông, ở đâu đó cũng loáng thoáng bàn bạc, rỉ tai. Riêng anh, có ngay bài Liên kết ma: “Bìa rừng cổ thụ vây quanh/ Giữa rừng lâm tặc biến thành đất hoang/ Kiểm lâm lắm kẻ giàu sang/ Ăn cướp hợp pháp nghênh ngang xe, nhà/ Đua nhau chặt phá rừng già/ Của công chúng giữ, ắt là mồi ngon/ Xơi ngay nóng hổi cho giòn/ Liên kết lâm-tặc chẳng còn gì hơn/ Kiểm lâm, thảo khấu, sơn tràng/ Bọn chúng một giuộc tan hoang rừng già”. Có lẽ, anh đâu chỉ nói mỗi nhóm liên kết ma: Kiểm lâm-thảo khấu-sơn tràng mà người đọc hiểu rằng còn rất nhiều kiểu liên kết ma mãnh ken dày trong đời sống xã hội. Tiếng nói của anh đánh động đến ý thức trách nhiệm  của mỗi công dân. Hiện tượng vỡ nợ  xảy ra thường xuyên khiến cho nhiều gia đình lâm vào cảnh tan vỡ: “Thôi! Bán hết nhà, lợn/ Cho vay để kiếm lời/ Ai dè! Tiền bốc hơi/ Con nợ chuồn. Cuỗm sạch/ Một cú lừa ngoạn mục/ Lúc ấy mới tỉnh ra/ Con nợ đã tếch xa/ Kêu trời thì đã muộn” (Kẻ vay lãi nặng).
Mảng thơ trào phúng của anh ít nhiều đã để lại ấn tượng cho người đọc bởi, đối tượng phản ánh phong phú, đa dạng dường như bất cứ hiện tượng tiêu cực nào trong đời sống xã hội ngòi bút của anh đều chạm tới. Song đáng tiếc nếu anh khắc chế được kiểu ham nói thì có lẽ tiếng nói sâu hơn và giá trị của tiếng nói ấy đắt hơn rất nhiều. Thơ châm biếm của anh mới chỉ có diện mà chưa có điểm nên người đọc còn thấy thiêu thiếu một cái gì đó, và có cảm giác luễnh loãng, dàn trải.
Anh không chỉ có thơ trào phúng mà anh còn có cả một mảng thơ trữ tình. Về số lượng của mảng thơ trữ tình đến nay anh đã cho ra mắt bạn đọc ba tập (Thời yêu dấu - NXB Hội Nhà văn, 2005; Ước mơ nhà rông - NXB Văn học,2010; Dấu chân thời gian - NXB Hội Nhà văn, 2016). Điều này chứng tỏ sự say thơ của anh. Có lẽ, thơ đối với anh là khí thở, không thể thiếu và không thể vắng trong đời sống tư tưởng, tình cảm của anh. Cứ ngỡ rằng cái tạng của anh là tung hoành ở mảng thơ châm biếm ai ngờ thoắt cái từ bờ này anh nhảy sang bờ kia của dòng cảm xúc nhẹ nhàng thế. Cũng giống như các nhà thơ khác, ít nhiều khi thử bút, đều tựa vào nhựa sống của tình yêu nam nữ. Mỗi người đều có một cách tiếp cận riêng biệt, không ai giống ai nhưng đều chung nhau ở  độ say, độ mê đến nỗi quên cả bản thân mình. Anh cũng thế: “Đã có lần ta say/ Đi nhầm vào cõi mộng/ Lưới tình vây kín nẻo quay về” (Say). Anh cũng giống mọi người trai khi yêu cũng ước đủ thứ: “Ước gì, em mãi còn duyên/ Để tôi ngóng đợi một miền xa xăm” (Hy vọng). Cái lưới tình sao nó ghê gớm quá: “Anh lạc vào mê mải/Tìm em”. Anh cũng huênh hoang như bao gã trai si tình khác: “Chỉ em, đôi mắt em thôi/ Hớp hồn tôi suốt cõi người ngả nghiêng.” (Liều). Thú thực, nói về tình yêu nam nữ, ngòi bút của anh chưa chạm tới được sự riêng biệt chỉ mình mới có. Cái anh nói thì rất nhiều người đã nói mà có khi họ nói còn hay hơn. Thế mới biết một người làm thơ để thực sự là thi sĩ khó biết chừng nào. Nói thế, không phải là chê thơ anh mà mong mỏi một điều rằng: Bất cứ người làm thơ nào muốn bạn đọc nhớ lâu, thì người đó dứt khoát không được nản lòng vì như cụ Nguyễn từng cảnh báo những ai lăm le bước vào nghề chữ nghĩa: “Nghề viết lách khó lắm, cơ cực lắm”. Rất may, anh không có tính tự ái, mà rất thích được người khác góp ý, càng góp ý thẳng thừng bao nhiêu anh càng hớn hở bấy nhiêu. Theo tôi, anh đã hiểu được chân tướng của câu tục ngữ: “Học thầy không tày học bạn”. Chính sự kiên trì, lòng khao khát tìm tòi không ngừng nghỉ mà anh đã có những câu thơ hay về vùng đất anh đang sống: “Ta bước trên ngàn năm/ Nghe dòng Sê Rê Pôk thở” và “Họ thổi hồn vào ống lồ ô/ Và chắt lọc âm thanh vào ruột đá” hay “Tìm vết chân voi ngàn xưa hóa thạch/ Gió đại ngàn còn văng vẳng hồn chiêng” (Trên cầu treo Buôn Đôn). Nếu so sánh những câu thơ vừa trích với những câu nói về tình yêu nam nữ ở trên rõ ràng có sự phân cấp khác nhau rõ rệt. Mức độ cảm xúc nồng nàn hơn, ý thơ sâu hơn, tình đậm hơn. Nhưng đáng tiếc, lẽ ra anh đã có những câu thơ hay nhất về Tây Nguyên nếu anh không tham lam trong diễn đạt và biết chắt lọc ngôn từ hơn. Khi anh sử dụng các từ nối đã làm cho sức nặng và sự ám ảnh nhạt đi nhiều lắm. Tây Nguyên là quê hương thứ hai của anh, là máu thịt của anh. Anh đã cảm được nét đặc trưng của vùng đất bí ẩn và huyền thoại này: “Gió đại ngàn cứ thổi vào trống trải/ Nghe âm âm hồn sông núi hiện về”. Những con người sống trên vùng đất đỏ, được anh tái hiện thật sống động: “Những chàng Êđê giáo mác sáng ngời/ Bắp cuồn cuộn, ngực căng như cánh ná/ Cùng hò reo những âm thanh lạ/ Tiếng chiêng rền, đồng vọng thanh la”. Thơ anh ắp đầy yếu tố hiện thực, nhưng ẩn đằng sau các yếu tố hiện thực ấy là âm hưởng đặc trưng của vùng miền. Tượng nhà mồ là nét đặc trưng nổi bật của nền văn hóa Tây Nguyên. Nói về văn hóa Tây Nguyên mà không nói về tượng nhà mồ nghĩa là chưa hiểu rõ về nó. Và anh có những câu thơ về hình ảnh tượng nhà mồ đầy ấn tượng: “Da mật nhuộm mầu nắng gió/ Bó gối mắt vương nỗi sầu/ Suốt đời quẩn quanh bên lửa/ Vui buồn cần rượu vít cong/ Nỗi niềm khắc vào thớ gỗ/ Mắt quầng hun hút nỗi đau/ Chống cằm nhìn vào vô vọng/ Nổi chìm chẳng biết vì đâu?” (Dáng tượng nhà mồ). Có lẽ đây là một trong những bài thơ viết về tượng nhà mồ Tây Nguyên vấn vương nhiều suy nghĩ nhất của anh. Đây cũng là một dạng của “âm âm hồn sông núi hiện về”. Cái đáng để người đọc nhớ là anh đã khái quát được chiều sâu văn hóa của một miền đầy kỳ bí vào một hình ảnh thơ cụ thể tiêu biểu. Nếu mà anh để ý được điều này khi làm thơ có lẽ thơ anh bớt đi rất nhiều những điều vụn vặt những lỗi thơ không đáng có. Và tôi tin rằng thơ anh sẽ cô đọng hơn, người đọc nhớ thơ anh nhiều hơn. Ngay bài thơ này, là một trong những bài nổi trội mà anh vẫn không kìm hãm được tật ham trình bày. Đã có: “Mắt quầng hun hút nỗi đau” rồi mà sao kết bài anh lại viết: “Nổi chìm chẳng biết vì đâu?”. Chính câu thơ kết này đã làm toàn bộ bài thơ của anh tan loãng không còn sự đậm đặc của suy nghĩ nữa, mặc dù anh đã cố ý dùng kỹ thuật câu hỏi tu từ để kết bài. Trong thơ, nhiều khi kỹ thuật làm hỏng và không bao giờ thay thế được độ nồng cảm hứng. Anh rất yêu mảnh đất đã cho anh cảm hứng để làm thơ vì thế anh có những phát hiện rất tinh, sự phát hiện này đã đáp ứng được các yếu tố truyền thống và hiện đại giữa tả - kể và suy ngẫm: “Cối gạo truyền đời, vẹt mòn đáy cối/ Nhịp chày nóng hổi kéo bình mình lên” (Ngày mới từ những nhịp chày). Đọc xong mà hình ảnh thơ vẫn còn ngân lên mãi, có điều gì đó đang bung tỏa. Văn hóa Tây Nguyên đã lặn ngấm trong anh nên cho anh những câu thơ thực sự là thơ: “Gùi nước lòng khe, hái gió đỉnh trời”; “Khoét ống lồ ô, nghe hồn của gió”; “Đàn voi cõng tiếng cồng đi qua thời gian”. Những câu thơ đượm màu suy tư, đầy bóng dáng của hình tượng. Có thể nói những câu thơ vừa trích là những câu thơ lay động thực sự tâm thức người đọc. Giá mà bài thơ nào của anh cũng xuất hiện những câu thơ như thế thì hay biết chừng nào? Phải nói rằng, khi viết về con người, vùng đất, phong tục, văn hóa Tây Nguyên, anh đã đạt đến độ cá tính. Nói vậy có thể hơi quá chăng? Nhưng nếu anh biết kìm nén sự ham trình bày, tham kể tả, thích dài dòng thì thơ anh sẽ có nhiều câu thơ như vừa nêu. Thơ anh có cảm xúc, song đôi lúc cảm xúc còn dàn trải, mới tràn trề trên bề mặt mà chưa chịu lắng sâu. Thơ anh có tình mà đôi lúc thiếu đi độ sâu của suy ngẫm. Chính những điều trên mà người đọc khi đọc thơ anh nhiều lúc nó cứ xuội đi, ít găm lại trong tâm trí.
Dù sao đi nữa trong mấy mươi năm làm thơ của anh, anh đã in được dấu thơ của mình trên bản đồ thơ Đắc Lắc. Sức làm thơ của anh bền bỉ, anh biết giữ cảm hứng của mình vì thế cứ tính trung bình 2 hoặc 3 năm lại cho ra mắt bạn đọc một tập thơ. Đến nay (2017) tính cả in riêng, in chung anh có trong tay đến 14 tập thơ. Đây quả là một con số ấn tượng. Về giải thưởng anh có: Giải thưởng VHNT năm 2012 - Giải C; năm 2016-Giải B của Hội VHNT Đắk Lắk; Giải C - Giải thưởng Văn học- Nghệ thuật Chư Yang Sin của tỉnh Đắk Lắk lần thứ 2 (2008-2013). Năm Đinh Dậu này là năm anh nhớ nhất bởi hai dấu ấn không thể quên: Một, anh là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam; hai, anh về hưu. Nhưng mong rằng anh chỉ về hưu cái nghề dạy học mà thôi, còn anh đừng để thơ phải nghỉ hưu. Bạn đọc đang chờ những sáng tác mới của anh.






Thứ Bảy, 8 tháng 7, 2017

GIỚI THIỆU TẠP CHÍ CHƯ YANG SIN SỐ: 298 - THÁNG 6 NĂM 2017 tác giả

 PHẠM TUẤN VŨ



HÌNH TƯỢNG TIẾNG GÀ TRƯA TRONG BÀI THƠ CÙNG TÊN CỦA XUÂN QUỲNH



Không phải ngẫu nhiên mà tiếng gà lại xuất hiện thường xuyên trong thơ ca nước ta. Dài theo hành trình thơ Việt, từ những bài ca dao của cha ông thuở xưa cho đến những vần thơ hiện đại, hình ảnh tiếng gà gáy có một vị trí khá đặc biệt. Có điều này bởi lẽ, tiếng gà là âm thanh bình dị, quen thuộc trong đời sống thường ngày, gần gũi trong tâm thức người Việt. Hình ảnh tiếng gà xuất hiện khá phổ biến, được thể hiện thành công trong nhiều bài thơ, gắn liền với những tình cảm tốt đẹp về quê hương, đất nước, tuổi thơ.
Tiếng gà trưa là một bài thơ hay viết về tiếng gà, đồng thời là tác phẩm tiêu biểu cho phong cách thơ Xuân Quỳnh: Nhẹ nhàng, lắng sâu mà nồng nàn, tha thiết. Bài thơ hoàn thành vào ngày 2.7.1965, được đưa vào tập Hoa dọc chiến hào (1968), là một trong những tác phẩm xuất sắc của thơ Việt Nam thời kỳ kháng chiến chống Mỹ. Hiện nay, bài thơ được đưa vào giảng dạy ở chương trình Ngữ văn 7 (tập 1).
Bài thơ bắt đầu từ hình ảnh một tiếng gà và kết thúc cũng bằng hình ảnh tiếng gà. Trong suốt 43 dòng của bài thơ, cùng với điệp ngữ “tiếng gà trưa” được nhắc lại 4 lần, tiếng gà là hình ảnh lặp lại liên tục, trở thành âm thanh chủ đạo trong tác phẩm. Trong bài thơ này, Xuân Quỳnh đã rất thành công trong việc khắc họa tiếng gà thành một hình tượng nghệ thuật sinh động, giàu sức biểu cảm, có sức sống lâu bền trong lòng độc giả.
Không gian thực tại trong tác phẩm là “xóm nhỏ” “trên đường hành quân xa” nơi người lính dừng lại nghỉ chân. Thời gian thực tại là một buổi trưa nắng. Âm thanh nổi bật trong khung cảnh này “tiếng gà trưa”. Có nhiều thời điểm trong ngày xuất hiện tiếng gà nhưng tác giả đã chọn thời điểm buổi trưa. Bởi không gian trưa bao giờ cũng yên ắng và tiếng gà trưa thường lắng sâu trong tâm khảm mỗi người. Đó sẽ là âm thanh mở ra không gian và thời gian tâm tưởng - hoài niệm, âm thanh gọi về bao kỷ niệm tuổi thơ trong lòng người lính.
Trước Cách mạng Tháng Tám, có một tiếng gà trưa gọi về trong nhân vật trữ tình “tôi” bao kỷ niệm về người mẹ có “nét cười đen nhánh sau tay áo” trong thơ Lưu Trọng Lư được thể hiện với một giọng thơ buồn thương, da diết: Xao xác gà trưa gáy não nùng/ Lòng rượi buồn theo thời dĩ vãng… (Nắng mới). Trong thơ ca 1954-1975, cũng có một tiếng gà trưa “gọi về tuổi thơ” với những kỷ niệm êm đềm bên người bà được trong thơ Xuân Quỳnh thể hiện bằng giọng thơ nhớ thương, trìu mến. Nhưng có một điểm khác nhau quan trọng: Nếu như tiếng gà trưa trong Nắng mới chỉ xuất hiện một lần và chỉ một chi tiết nhỏ, là một trong nhiều tác nhân của tâm trạng, cảm xúc thì trong Tiếng gà trưa, tiếng gà trưa được nhấn mạnh bằng cách lặp lại nhiều lần, là chi tiết mấu chốt và là tác nhân duy nhất khơi dậy dòng tâm tư, ký ức. Tiếng gà vang vọng suốt bài thơ dài 43 dòng, trở thành một hình tượng nghệ thuật đặc sắc mà Xuân Quỳnh đã dụng công khắc họa:
Trên đường hành quân xa
Dừng chân bên xóm nhỏ
Tiếng gà ai nhảy ổ:
“Cục… cục tác cục ta”
Nghe xao động nắng trưa
Nghe bàn chân đỡ mỏi
Nghe gọi về tuổi thơ
Một chi tiết thú vị nữa là tiếng gà trưa trong bài thơ của Xuân Quỳnh không phải là tiếng gáy của gà trống (phổ biến hơn, có độ vang lớn nên dễ gây sự chú ý hơn) mà là tiếng gà mái “nhảy ổ”. Có lẽ hình ảnh những “con gà mái mơ”, “con gà mái vàng” cùng “ổ rơm hồng những trứng” thân quen với tuổi thơ và kỷ niệm về bà hơn. Hơn nữa, khác tiếng gáy “ò ó o” dõng dạc và mạnh mẽ, tiếng “cục… cục tác cục ta” nghe thân thương, gần gũi, đầm ấm hơn nhiều. Một chi tiết nhỏ thôi nhưng cũng đủ để thấy được sự nhạy cảm, tinh tế trong lựa chọn nghệ thuật của nhà thơ.
Từ những tiếng “cục… cục tác cục ta” thân thương ấy, vào một khoảnh khắc vô tình nghe được tiếng gà khi “dừng chân bên xóm nhỏ”, trong lòng người lính có biết bao kỷ niệm theo tiếng gọi ùa về. Kỷ niệm về tuổi thơ, về bà liên tục được tái hiện trong dòng tâm tưởng của nhân vật trữ tình.
Đó là nỗi lo lắng rất đỗi hồn nhiên vì sợ bị lang mặt do tò mò mà nhìn gà đẻ của người cháu khi bị bà mắng:
Tiếng gà trưa
Có tiếng bà vẫn mắng:
- Gà đẻ mà mày nhìn
Rồi sau này lang mặt!
Cháu về lấy gương soi
Mà trong lòng lo lắng
Đó là hình ảnh bà lom khom, khum tay soi trứng đã trở nên rất đỗi thân quen trong tâm trí của người cháu:
Tiếng gà trưa
Tay bà khum soi trứng
Dành từng quả chắt chiu
Cho con gà mái ấp
Đó là những lo lắng về đàn gà của bà khi gió mùa đông tới, là ước mơ gà bán được để bà có tiền sắm quần áo tết cho cháu mình:
Cứ hàng năm hàng năm
Khi gió mùa đông tới
Bà lo đàn gà toi
Mong trời đừng sương muối
Để cuối năm bán gà
Cháu được quần áo mới
Đó còn là cả giấc ngủ tuổi thơ êm đềm với bao hạnh phúc len về trong những giấc mơ ánh hồng sắc trứng:
Tiếng gà trưa
Mang bao nhiêu hạnh phúc
Đêm về cháu nằm mơ
Giấc ngủ hồng sắc trứng
Tất cả những kỷ niệm ấy đều được khơi nguồn từ “tiếng gà ai nhảy ổ” nhà ai và gói trọn trong tiếng gà tuổi thơ thân thuộc. Tiếng gà là tác nhân khơi nguồn ký ức, nơi quy tụ kỷ niệm tuổi thơ và chất xúc tác làm bung tỏa cảm xúc. Cho nên không phải ngẫu nhiên điệp ngữ “tiếng gà trưa” lặp lại 4 lần ở đầu mỗi khổ thơ, đồng thời là 4 câu đặc biệt 3 chữ trong một bài thơ ngũ ngôn dài đến 43 dòng mà không cần phải thêm bất cứ một chữ nào (chẳng hạn số từ, định ngữ,… nhằm tránh lặp, tránh vi phạm luật thơ). Một cụm “tiếng gà trưa” đủ nói lên tất cả. Rõ ràng, nhà thơ Xuân Quỳnh đã cố tình phạm luật thơ bằng cách tách cụm từ này thành một câu đặc biệt đứng độc lập nhằm nhấn mạnh, khắc họa đậm nét hơn về hình tượng tiếng gà đặc biệt trong tác phẩm của mình.
Không chỉ là hình ảnh của tuổi thơ bên bà và tình cảm bà cháu, tiếng gà trong bài thơ của tác giả Sóng còn là hình ảnh của xóm làng và tình yêu quê hương, đất nước trong lòng người lính đang hành quân xa. Kỷ niệm tuổi thơ và tình bà cháu gắn với thời gian quá khứ. Hình ảnh xóm làng và tình yêu Tổ quốc, quê hương gắn với thời gian hiện tại, tương lai. Giữa hai chiều thời gian ấy có một mắt xích gắn kết. Đó là hình tượng trung tâm, chi tiết quan trọng xuyên suốt bài thơ: “Tiếng gà cục tác”:
Cháu chiến đấu hôm nay
Vì lòng yêu Tổ quốc
Vì xóm làng thân thuộc
Bà ơi, cũng vì bà
Vì tiếng gà cục tác
Ổ trứng hồng tuổi thơ
Kết thúc bài thơ, hình ảnh “ổ trứng hồng” và “tiếng gà cục tác” lại xuất hiện. Một cách đơn sơ mà cảm động, tiếng gà cũng là một mục đích cao đẹp để “cháu chiến đấu hôm nay”. Phải chăng chỉ là một tiếng gà bình thường như bao tiếng gà trên đời? Có lẽ không, bởi đây là tiếng gà đặc biệt, tiếng gà là hình bóng của Tổ quốc, của xóm làng, của tuổi thơ và của cả người bà hiền từ trong lòng người cháu. Với việc nâng hình tượng tiếng gà lên thành biểu tượng của tình bà cháu, tình yêu quê hương, đất nước, Xuân Quỳnh đã góp vào nền thơ cánh mạng Việt Nam một biểu tượng đẹp, giàu ý nghĩa.
Tóm lại, Tiếng gà trưa là bài thơ hay của Xuân Quỳnh, tác phẩm đặc sắc trong số những bài thơ viết về tiếng gà. Khác với hầu hết những tác phẩm khác chỉ nhắc qua, xem tiếng gà là một chi tiết nhỏ, bài thơ của Xuân Quỳnh tập trung khắc họa thành công hình tượng tiếng gà. Đó là một hình tượng đẹp về kỷ niệm tuổi thơ, về tình bà cháu, tình yêu quê hương đất nước; một trong những tiếng gà trong trẻo, thân thương, đẹp đẽ nhất trong thơ Việt Nam.





Thứ Hai, 3 tháng 7, 2017

GIỚI THIỆU TẠP CHÍ CHƯ YANG SIN SỐ: 298 - THÁNG 6 NĂM 2017 tác giả TƯ HƯƠNG




“HÁI GẮM”- MỘT TRUYỆN VIẾT CHO THIẾU NHI CỦA NGUYỄN HỒNG CHIẾN



Trong bối cảnh truyện viết cho thiếu nhi ở nước ta đang thưa vắng những tác phẩm đặc sắc, viết về đề tài thiếu nhi người dân tộc thiểu số lại càng hiếm hoi như hiện nay, tập truyện Bí mật của H’Loan (do Nhà xuất bản Kim Đồng ấn hành năm 2016) của nhà văn Nguyễn Hồng Chiến, người có nhiều năm gắn bó với mảnh đất và con người Tây Nguyên, là một nỗ lực đáng ghi nhận. Tác phẩm gồm 12 truyện ngắn với nhiều câu chuyện thú vị, đậm chất phiêu lưu về núi rừng và trẻ em nơi cao nguyên đất đỏ, như chính đề từ in ở trang bìa của tập truyện “thế giới núi rừng hùng vĩ của trẻ em Tây Nguyên”. Trong đó, Hái gắm là một truyện ngắn hay, thành công ở nhiều phương diện.
Thành công trước hết, đồng thời làm nên sức hấp dẫn của truyện chính là không gian núi rừng Tây Nguyên tươi đẹp, hùng vĩ với bao nhiêu sắc màu và những điều kì bí. “Vùng đất Tây Nguyên dưới ngòi bút miêu tả chân thực của Nguyễn Hồng Chiến, hiện lên đầy sảng khoái và đậm chất phiêu lưu(1). Đặc điểm này được thể hiện sinh động trong toàn bộ tập truyện Bí mật của H’Loan, trong đó có truyện Hái gấm. Mở đầu câu chuyện, theo bước chân của cậu bé Y Ngoan, một không gian núi rừng mới lạ, kì vĩ mở ra trước mắt Hoàng Vân: “Núi có nhiều cây to lắm, cành lá như những bàn tay khổng lồ đan vào nhau che nắng cho mặt đất. Buổi sáng mùa khô Tây Nguyên hình như bầu trời xanh và cao hơn. Gió thỉnh thoảng vờn qua làm lắc lư những ngọn cây cổ thụ, tạo nên bản nhạc rừng thánh thót từ những chiếc lá chạm vào nhau và các cành đệm thêm kiếng kẽo kẹt, kẽo kẹt… thật vui tai. Bầy chim bạc má không biết bàn nhau chuyện gì bên các gốc cây cũng ồn ã cả lên với những nốt trầm bổng như một bản hòa tấu của thiên nhiên chào đón những chàng trai vào thăm rừng già”. Không gian mở đầu tác phẩm này ngay lập tức gây ra những ấn tượng thị giác, kích thích trí trò mò của độc giả, hứa hẹn mở ra những câu chuyện kì thú sẽ diễn ra tiếp theo giữa không gian này.
Xuyên suốt câu chuyện, theo bước chân phiêu lưu của nhân vật, tác giả còn đưa người đọc đến với nhiều cảnh sắc tươi đẹp, hùng vĩ khác của rừng núi đại ngàn: “Trên tán cây cổ thụ có nhiều dây leo chằng chịt xuất hiện những con chim lông màu đen, hai bên cánh và đuôi có điểm thêm vài chiếc lông trắng”. Xây dựng thành công không gian rừng núi, tác giả đã hé mở dần cho người đọc về thế giới kì vĩ, huyền bí của đại ngàn Tây Nguyên. Nét đặc sắc làm nên sức hấp dẫn của truyện trước hết nằm ở điều này.
Nhân vật cũng là một thành công của Nguyễn Hồng Chiến trong Bí mật của H’Loan nói chung, Hái gắm nói riêng. Trong truyện ngắn này chỉ có hai nhân vật: Một cậu bé người Kinh tên Hoàng Vân và một người Êđê tên Y Ngoan, trong đó, nổi bật hơn cả là cậu bé Y Ngoan. “Y Ngoan làm lớp trưởng, là người được cô giáo chủ nhiệm phân công giúp đỡ Hoàng Vân khi mới chuyển vào học lớp 7A, năm học đầu tiên ở quê mới”. Nhân vật này mang những nét đặc trưng của trẻ em người đồng bào dân tộc thiểu số Tây Nguyên: “Vai đeo gùi thoăn thoắt nhảy qua các hòn đá, rễ cây như con chim bay lượn; thỉnh thoảng ngoái đầu lại tủm tỉm cười, mái tóc quăn tít rủ xuống vừng trán hơi dô màu nâu đen làm tăng thêm vẻ đẹp rất đặc trưng của người bản địa Tây Nguyên”. Y Ngoan còn có những phẩm chất tốt đẹp khiến bạn bè, nhất là Hoàng Vân, yêu mến, tin tưởng và nể phục: Thông minh, nhanh nhẹn và nhất là am hiểu về núi rừng Tây Nguyên. Từ hiểu biết về vết đào xới của heo rừng, đặc trưng của những loài thú dữ như heo rừng, hổ đến đặc điểm của loài chim phượng hoàng đất, nhất là đặc tính của quả gắm (cách hái, cách chế biến để có thể ăn được, tính gây dị ứng và cách chữa)… Y Ngoan đều rất tường tận. Đặc biệt, nhân vật này còn có một quan niệm nhân văn, một cách hồn nhiên, về việc hòa hợp với thiên nhiên, tôn trọng tự nhiên và bảo tồn môi trường sống thông qua chi tiết bảo Hoàng Vân hái gắm vừa đủ dùng: “Của rừng mà, mình ăn còn để cho con thú ăn nữa chứ. Hôm nay hái từng này về ăn là đủ rồi, hôm sau ưng thì vào lấy nữa”. Có thể nói, trong bối cảnh nhân vật trẻ em người dân tộc thiểu số vốn còn hiếm hoi trong văn học thiếu nhi hiện nay, Y Ngoan là một nhân vật thành công của nhà văn Nguyễn Hồng Chiến.
Một thành công khác của truyện là những bài học giáo dục được rút ra từ tác phẩm. Tác phẩm văn học thiếu nhi, ngoài chức năng giải trí còn một chức năng quan trọng là giáo dục. Qua mỗi vần thơ, câu chuyện, người viết đều cố gắng hướng độc giả nhỏ tuổi của mình đến những bài học bổ ích. Cố nhiên, đó là những bài học cuộc sống phù hợp với tâm lí lứa tuổi của trẻ em. Khi viết Hái gắm, Nguyễn Hồng Chiến ý thức rõ điều này. Cho nên ở kết thúc truyện, thông qua lời độc thoại của nhân vật Hoàng Vân là cậu bé lần đầu tiên vào rừng và gặp một trục trặc nhỏ (bị ngứa) vì tự ý giải quyết vấn đề (bỏ gắm vào túi quần), tác giả trực tiếp gửi đến độc giả nhí của mình một bài học cụ thể, thiết thực: “cái gì không biết phải hỏi người biết, không thể làm liều dù đó chỉ là một việc nhỏ như… hái quả gắm”. Ngoài ra, thông qua câu chuyện hái gắm trong rừng, nhà văn còn gián tiếp nhắn gửi đến các em bài học về lòng dũng cảm, tình yêu thiên nhiên, tình bạn… Truyện vì thế mang tính giáo dục rõ nét.
Cuối cùng, Hái gắm còn thành công ở một số phương diện hình thức nghệ thuật. Viết cho đối tượng thiếu nhi, Nguyễn Hồng Chiến luôn ý thức về cách tổ chức câu chuyện, xây dựng nhân vật, tạo tình huống truyện, sử dụng ngôn ngữ… sao cho phù hợp với năng lực, thị hiếu thẩm mĩ của trẻ em nhất. Truyện vì thế có cốt truyện đơn giản, tình huống truyện nhẹ nhàng nhưng vẫn đảm bảo tính bất ngờ, hệ thống nhân vật không phức tạp (chỉ có hai nhân vật), giọng văn tâm tình, lời văn trong sáng… Đặc biệt, truyện còn gây ấn tượng với những đoạn văn giàu hình ảnh, đậm chất thơ về cảnh sắc núi rừng Tây Nguyên, ví như: “Buổi sáng mùa khô Tây Nguyên hình như bầu trời xanh và cao hơn. Gió thỉnh thoảng vờn qua làm lắc lư những ngọn cây cổ thụ, tạo nên bản nhạc rừng thánh thót từ những chiếc lá chạm vào nhau và các cành đệm thêm kiếng kẽo kẹt, kẽo kẹt… thật vui tai. Bầy chim bạc má không biết bàn nhau chuyện gì bên các gốc cây cũng ồn ã cả lên với những nốt trầm bổng như một bản hòa tấu của thiên nhiên chào đón những chàng trai vào thăm rừng già”.
Tóm lại, viết cho thiếu nhi đã khó, viết về thiếu nhi người dân tộc thiểu số lại càng không dễ. Bởi truyện muốn thành công phải đảm bảo nhiều yếu tố, vừa mang tính giải trí lại vừa có tính giáo dục; vừa gay cấn, bất ngờ nhưng lại vừa đơn giản, dễ theo dõi, phù hợp với khả năng tiếp nhận của trẻ; vừa giàu hình ảnh, sắc màu nhưng phải vừa trong sáng, dễ hiểu… Nhà văn Nguyễn Hồng Chiến trong tập truyện Bí mật của H’Loan, đặc biệt là trong truyện Hái gắm đã làm được điều này. Truyện của anh vì thế hay và thành công trên nhiều phương diện, có đóng góp nhất định cho mảng truyện viết về đề tài Tây Nguyên, về trẻ em người dân tộc thiểu số trong văn học thiếu nhi Việt Nam hiện nay.



Chú thích:
1. Trình Lê, “Cuốn sách hé lộ những huyền bí của núi rừng Tây Nguyên”, báo điện tử Vietnamnet.vn ngày 7/12/2016.