Thứ Tư, 2 tháng 8, 2017

GIỚI THIỆU TẠP CHÍ CHƯ YANG SIN SỐ: 299 - THÁNG 7 NĂM 2017

TRANG CHUYÊN ĐỀ CÔNG AN NHÂN DÂN
H’LINH NIÊ

  
NHỮNG ĐẢNG VIÊN THẾ HỆ 8X




Những tia nước màu cát tung cao tới cả mét. Hoàng hôn đỏ rực dần buông trên mặt sông Krông Ana khi cano của Cảnh sát đường thủy xé nước ngược dòng đưa đoàn Văn nghệ sỹ chúng tôi ngắm cảnh bình yên trên sông. Bình yên thật sự, bởi chỉ có vài chiếc thuyền máy của bà con đi làm rẫy về muộn hối hả đuổi chiều. Những đàn chim nhỏ nhoi vội vã vỗ cánh tìm về tổ. Cả những đống cát cao lù lù ven bờ cũng không bóng máy, bóng người. Khói bếp đã bắt đầu luẩn quẩn bốc lên trên những mái nhà sàn ven sông. Xa xa là màu xanh đến mát mắt của rừng núi và những cánh đồng lúa. Cảnh yên bình ấy là thực, hay chính vì sự luôn có mặt của những chiến sỹ công an có phần nào hoạt động thầm lặng chăng? Bóng chiều và mênh mang sông nước bình lặng ấy, bỗng khiến nhớ tới gương mặt của các chiến sỹ cảnh sát được tiếp xúc trong mấy ngày đi thực tế với công an tỉnh Đắk Lắk. Đặc biệt ở phòng An ninh dân tộc, với những đảng viên thuộc thế hệ 8X.
Ít người biết rằng trong 5 tỉnh Tây Nguyên, chỉ có công an 3 tỉnh Đắk Lắk, Đăk Nông và Gia Lai là có phòng An ninh dân tộc. Hơn 40 chiến sỹ, trên 50% trong số ấy là người các dân tộc Êđê, Jrai, H’Mông, Dao, Tày… làm việc ở hai bộ phận Tham mưu tổng hợp và Trinh sát. Cứ theo như lời Đại tá Nguyễn Công Hòa, Trưởng phòng, người đã có thâm niên hoạt động công tác này từ năm 1981 đến nay, thì  3 chiến sỹ trẻ của Phòng mà tôi gặp đều là “những trinh sát giỏi”. Họ giống nhau ở chỗ đều là người dân tộc thiểu số, tham gia lực lượng khi vừa tốt nghiệp lớp 12, sau đó mới đi học trung cấp An ninh và bây giờ đều đã tốt nghiệp đại học; đều đã có gần mười lăm năm gắn bó, có kinh nghiệm vận động quần chúng ở các địa bàn dân tộc thiểu số; cùng cấp bậc đại úy.
Mặc dù trinh sát có thuận lợi là người dân tộc (các chiến sỹ của Phòng đều thông thạo 1-2 thứ tiếng dân tộc, am hiểu phong tục tập quán), nhưng làm việc với bà con người dân tộc không dễ, nhất là trong vấn đề nhạy cảm nghe theo kẻ xấu chống đối chính quyền, truyền đạo trái phép... Ví dụ như nếu mời đối tượng lên công an làm việc, thế nào cả dòng họ, thậm chí cả buôn cũng kéo theo đề phòng người bị bắt. Các trinh sát chỉ có thể một mình đến cơ sở vận động, thuyết phục. Công việc chẳng phải ngày một ngày hai, có khi ăn ngủ, đi làm rẫy cùng bà con tới  vài tuần. Có khi đeo bám đối tượng trong rừng hàng chục ngày chịu đói khát, muỗi vắt; hay kiên nhẫn, mềm dẻo đấu tranh gần cả tháng trời mới chịu khai nhận… Khi người dân tự nguyện, tự giác hiểu vấn đề, hợp tác với cơ quan an ninh và chính quyền, lúc đó cũng mới chỉ hoàn thành một nửa nhiệm vụ. 
1. H’Nghim Ea Nuôl, dân tộc Êđê, bẽn lẽn kể: “Hồi đó xã có đợt cử tuyển đi học Mầm non, lại cả tuyển đi công an nữa. Chưa biết làm gì nhưng nghĩ thấy cũng hay hay nên quyết định đi công an. Điều mất mát đầu tiên là bị người yêu từ hồi cùng học phổ thông bỏ, vì chỉ muốn Nghim đi học làm giáo viên, chứ không thích con gái mà đi làm công an”. Đấy cũng là một trong những trở ngại H’Nghim luôn vấp phải, vì sự thiếu thiện cảm nào đó của người dân với lực lượng công an, nhất là sự thiếu hiểu biết của bà con cùng là người dân tộc.
Ngày ấy được tuyển dụng rồi,  H’Nghim vẫn chưa hiểu mình phải làm gì, chỉ biết là làm công tác dân vận. Những địa bàn phải tiếp cận hầu hết là vùng sâu, vùng xa, nơi bà con nghèo, cuộc sống gặp rất nhiều khó khăn. Lần đầu đi xuống buôn làm nhiệm vụ vận động dân còn chưa biết ngủ thế nào, ở đâu?   Nhưng riết rồi học hỏi thực tế việc làm của các đàn anh đi trước, học lý thuyết trên giảng đường, H’Nghim trở thành một trong những trinh sát lão luyện của Phòng. Nơi nào phong phanh có chuyện bất an là Nghim có mặt. Bằng cách nói dễ hiểu, phân tích phải trái mang tính thuyết phục, nhất là lợi thế cùng là người dân tộc, từ chỗ bị ghét bỏ, hồ nghi đến được dân tin tưởng, yêu thương, tỏ bày mọi chuyện, là cả một chặng đường dài. Nghèo, không có phương tiện đi làm, phải vay tiền gia đình và bạn bè để mua một chiếc xe máy đi xuống cơ sở. Những địa bàn nào khó “nhằn” nhất chính là điểm để các thủ trưởng tin cậy giao cho H’Nghim. Say mê và tận tụy với công việc, thậm chí hai ngày trước khi cưới chồng, Nghim vẫn chưa có mặt ở nhà. Đến nỗi thủ trưởng phát “quát” lên trong điện thoại mới tất tả quay về.
Bây giờ thì H’Nghim đã có một gia đình nhỏ êm ấm, với một đồng nghiệp rất biết cảm thông những nhiệm vụ của người bạn đời, sẵn sàng chăm sóc con cái khi vợ đột xuất phải đi công tác.
2. Hàng A Nụ, dân tộc H’Mông, quê ở tận huyện Mai Sơn, Sơn La xa xôi. Từ hồi còn học phổ thông, Nụ đã mơ ước trở thành chiến sỹ công an. Theo chú làm ở Bộ Công an được tăng cường vào Đắk Lắk từ năm 2003, may mắn một lần được gặp Phó giám đốc Công an tỉnh Đắk Lắk Y Thoan H’Môk, mới biết đang có đợt tuyển nên đi khám sức khỏe và gia nhập lực lượng. Bước chân người chiến sỹ đã in khắp mọi nẻo đường nơi có người H’Mông di cư tự do vào sinh sống. Hầu hết là sâu thẳm tít trong rừng già hoặc địa bàn rất hoang vắng dân cư.
Chẳng phải đến bây giờ có hai con và vợ là thạc sỹ kinh tế cùng dân tộc đang làm ở Vụ địa phương 2 của Ban Dân tộc, ngay tại thành phố Buôn Ma Thuột, Hàng A Nụ mới yên tâm công tác, mà ngay từ những ngày đầu anh đã xác định trách nhiệm của mình với những người đồng tộc. Bởi hơn ai hết, gia đình Nụ năm 2009 cũng chuyển cư vào xã Cư Drăm của huyện Krông Bông (Đắk Lắk), cũng vất vả gian nan như tất cả những dòng người H’Mông rời bỏ quê hương bản quán đi tìm một miền đất khác, ngõ hầu mong có được một cuộc sống khá hơn so với quê cũ.
Anh tâm sự “người H’Mông ngoài Bắc thường ở vùng xa, lại tít trên những đỉnh núi, ít thông tin, cũng ít học lắm. Học hết lớp 12, nhà nghèo không theo học lên cao được, phải đi tận Lạng Sơn xin học lái xe. Cả lớp 43 học viên mà chỉ có 2 người đã tốt nghiệp lớp 12 thôi. Lúc ấy còn mơ hồ lắm, cứ tưởng Buôn Ma Thuột là ở nước ngoài cơ. Đến lúc có đoàn văn nghệ lên diễn, nghe hát bài Còn thương nhau về Buôn Ma Thuột, mới biết là Tây Nguyên”.  Tộc người H’Mông của Nụ vốn rất chăm sản xuất. Vào Tây Nguyên hầu hết đến nay vẫn còn nghèo, nhưng không còn thiếu ăn nữa. Đa số yên tâm sinh sống trên quê mới. Chỉ có một số ít nghe theo chuyện “Vua ra” bỏ nhà cửa, đất đai trở về Mường Tè năm 2011, rồi đều quay lại Đắk Lắk.
Bây giờ nhiệm vụ chính của Nụ là thường xuyên đến các vùng có bà con người H’Mông sinh sống thăm hỏi, nắm tình hình tư tưởng, động viên bà con đừng nghe theo lời kẻ xấu, yên tâm sản xuất, làm giàu trên quê mới. Nụ  đi đến đâu cũng được bà con người H’Mông tin tưởng bày tỏ mọi điều và thương yêu lắm.
3. H’Kao Knul, dân tộc Êđê, vốn chỉ thích làm giáo viên, nhưng học xong lớp 12, thi đại học không đỗ nên mới tự đi làm hồ sơ thi tuyển vào ngành công an. “Nhà chỉ cách thành phố Buôn Ma Thuột chưa đầy 20 km, mà khi đó là lần đầu tiên từ buôn ra phố. Chỉ vì muốn có việc làm thôi. Nhưng bây giờ thích lắm rồi. Yêu nghề lắm rồi”.
Những ngày đầu, cũng như các bạn đồng trang lứa, H’Kao không biết mình phải làm gì. Được anh Y Thu hướng dẫn cách trò chuyện, vận động dân, mới hiểu mình sẽ làm công tác an ninh chứ không phải là cảnh sát.
Lần đầu tiên đến làm nhiệm vụ tại một gia đình có người thân đang theo Phulro vào rừng. Bị chị vợ anh ta đóng cửa bỏ đi khỏi nhà không cho vào. Ngồi vỉa hè suốt từ sáng đến chiều, đến lúc chị ta về lại còn bị mắng “Con này lì nhỉ. Sao chưa chịu đi đi”. H’Kao lẳng lặng theo chị  vào nhà, tự làm những việc như quét dọn nhà cửa, kéo nước, tắm cho mấy đứa trẻ. Tự tìm chỗ ngủ đêm. Đến bữa ăn gia đình không gọi, không cho ăn, phải chạy ra đường cái mua bánh mì không về gặm. Cứ một mình như thế, ba ngày sau thủ trưởng tới hỏi thăm, thì H’Kao đã  làm quen và cảm mến được gia đình. 
Kinh nghiệm của người nữ trinh sát là cứ tỏ ra thân thiện. Không chỉ cùng làm mọi việc mà còn kể chuyện, hát hò (H’Kao có một giọng hát khá truyền cảm) với thanh niên và trẻ con. Mãi rồi người dân cũng cởi mở hơn. Lúc đầu bị ghét vì là đồng tộc mà “làm công an”, nhưng sau lại chính là lợi thế để gần gũi, tranh luận, phân tích, vận động dân một cách dễ dàng hơn.
4. Thiếu tá Y Tố Niê, cũng là một chiến sỹ người Êđê, đến với nhiệm vụ cảnh sát điều tra thành phố Buôn Ma Thuột tương tự như các đồng nghiệp ở phòng An ninh Dân tộc. Anh tự tìm hiểu công việc và tự nguyện vào ngành sau cuộc bạo loạn năm 2001. Nếu đồng nghiệp, thượng úy Y Linh Kbuôr từng bị gia đình những người đi tù về mắng đuổi “Đi đi! Người ta về rồi, đến thăm định khơi lại quá khứ sao?” thì trong cuộc bạo loạn năm 2004, Y Tố còn bị các thanh niên người dân tộc vây đánh, ném đá đến gây thương tích.
Địa bàn các anh phụ trách là những xã, phường thuộc thành phố có người dân tộc Êđê sinh sống. Có tới 33 buôn, nhưng bước chân những người chiến sỹ an ninh của thành phố Buôn Ma Thuột đều đã từng ghi dấu. Với sự tin tưởng rằng “Bà con mình nhiều người tốt. Chỉ dại dột, muốn lấy niềm tin và sự hỗ trợ tiền bạc của bên ngoài thôi”.  Y Tố thiết tha mong muốn “Giá mà có một cuộc gặp mặt của lãnh đạo thành phố với những người dân tộc là các chức sắc tôn giáo, những người có uy tín, đại diện cho các dòng họ, các cán bộ và lãnh đạo hưu trí đang ở các buôn, chắc sẽ đóng góp được nhiều ý kiến hay về công tác an ninh dân tộc. Khi thấy được tin tưởng, bà con cũng sẽ củng cố được lòng tin ở chính quyền”.
Có một điều rất dễ cảm nhận ở những đảng viên thế hệ 8X người dân tộc thiểu số đang công tác trong ngành an ninh dân tộc này, đó là sự gắn bó với nghề nghiệp bằng cả nỗi đam mê (điều này Đại tá Nguyễn Công Hòa, Trưởng phòng An ninh dân tộc Công an tỉnh Đắk Lắk cũng đã khẳng định).
Vượt lên tất cả những trở ngại, bằng sự tận tụy, với tình cảm  chân thành và sự hiểu biết nghiệp vụ, họ như những dòng sông âm thầm chảy trong lòng đất, lặng lẽ dâng cho đời nguồn nước tinh khôi, góp phần giữ bình yên cho cuộc sống mãi mãi sinh sôi.
Bởi đơn giản thôi, họ là những chiến sỹ An ninh và đã làm theo đúng Sáu điều Bác Hồ dạy Công an nhân dân, để luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.




Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

NHẬN XÉT MỚI