Thứ Sáu, 9 tháng 8, 2019

TRẦN VĂN HỘI – HỒN THƠ LẶNG LẼ bài viết của PHẠM PHÚ PHONG - CHƯ YANG SIN SỐ: 323 tháng 7 năm 2019





Trong bài thơ mở đầu cho tập thơ đầu tiên Cái lùng tung (2007) của Trần Văn Hội, anh có viết rằng: “có những điều anh chưa nói với em / đó là sự lặng im trong thơ anh” (Đó là sự lặng im), không chỉ là dự cảm, là sự ướm thử mà là định mệnh, là thi mệnh thể hiện quan niệm nghệ thuật của tác giả, trở thành tuyên ngôn cho cuộc sống và sáng tạo nghệ thuật, xuyên suốt cuộc đời và thơ ca Trần Văn Hội.
Trần Văn Hội làm thơ, viết báo từ thời phong trào sinh viên tranh đấu, khi anh đang là Phó bí thư Ban cán sự Đảng Viện đại học Huế, hoạt động bí mật dưới sự lãnh đạo của Thành ủy, trong “nhóm Trương Văn Hoàng, Trần Văn Hội, Bửu Nam, Nguyễn Công Thắng… đã hình thành tập san văn nghệ Đất mới, cổ vũ xu hướng văn hóa văn nghệ dân tộc, hướng đến hòa bình, hòa giải và hòa hợp dân tộc.” (Nhiều tác giả, Lịch sử phong trào đô thị Huế 1954-1975, Nxb Trẻ, tr.425). Là một thanh niên yêu nước, anh cũng đã gặp nhiều hoạn nạn trong cuộc đời, nhưng đã âm thầm chịu đựng và lặng lẽ vượt qua mọi gian lao thử thách để ngước nhìn cuộc đời thông qua sáng tạo thơ ca. Hoàng Phủ Ngọc Tường đã có lần nói đại ý rằng, con người phải có quyền được buồn, nhà thơ là người luôn sống trong ngôi nhà nỗi buồn của mình. Đời người, ai chẳng có nỗi buồn riêng. Thi nhân càng buồn hơn. Không buồn thì làm gì có thơ hay. Tôi không tin những người lúc nào gương mặt cũng hớn hở vui như tết mà lại làm được thơ, lại càng không thể có thơ hay. Những nỗi buồn, những khổ đau, những tự vấn, những phán xét, những thẩm định là những cái bắt buộc con người nhất thiết phải lớn lên và trung thực hơn, tự bóc dần cái giả dối, phải tự lọc dần cái ươn hèn, biết vượt qua cái cay đắng lắm lúc như một thứ định mệnh ập xuống đầu, tất cả những cái ấy cả khi thắng và khi thua, cả lúc được và lúc mất, nhìn một phương diện nào đó, trở nên quý giá xiết bao! Chính vì thế, những trải nghiệm về nỗi đau, những bầm dập rủi may lên rừng xuống biển, có cả những đổ vỡ về niềm tin trong cuộc sống, không làm mất đi những cảm xúc ấm áp của tia nắng cuối ngày, mà ngược lại càng dồn nén, lắng lại, kết tủa thành những sinh thể nghệ thuật mà nội dung mang đậm đặc tâm trạng thế sự, có sức lay động tận đáy tâm hồn người đọc: Bây giờ ở Huế mùa thu / cũng đành lá rụng sương mù chưa em / Nhặt giùm anh sợi tơ mềm / chút hương hồ cạn ngó sen cuối mùa /Trăm năm như thể trò đùa / với em thơ dại đeo bùa trăng non / Nhớ thăm cỏ rối dốc mòn / gió từ thưở ấy gió còn mênh mông / Một mình đừng bước qua sông / lỡ khi bóng ngã giữa dòng ai hay / Em về gió lạnh bàn tay / dấu trong vạt áo ủ ngày nắng lên (Bây giờ ở Huế)
Ở tập thơ thứ hai này – tập Giấc mơ trôi dạt, Trần Văn Hội vẫn tiếp tục mạch cảm xúc về tâm trạng thế sự - đời tư ấy, nhưng cảm quan nghệ thuật sáng rõ hơn, thi pháp biểu hiện được quan tâm chăm sóc hơn, nhất là cách bung thả về cảm xúc, cách lựa chọn về ngôn từ, lối nói điềm đạm, lắng đọng, tất cả như được chắt lọc qua cả một cuộc đời từng trải, không ít sóng gió gian nan. Quê ở làng Chuồn, Phú Vang, nhưng anh trưởng thành ở Huế, nơi có dòng sông thơ mộng chảy qua, và ai đi xa cũng cứ muốn quay về. Chàng trai xứ sở của thi ca như anh cũng không là ngoại lệ. Anh phải sống tha hương nên luôn sống trong hoài niệm, lúc nào cũng mong muốn quay về, dường như từ trong vô thức / tiềm thức những hình tượng sống động đã trở thành nỗi ám ảnh, thành niềm hữu thức, dẫu chỉ là vô tình chứ không phải là cố ý, anh vẫn thường hay nhắc đến dòng sông (18 lần), đến những giấc mơ (15 lần), đến mong muốn được trở về, trở lại (15 lần), … hoặc hay nói đến hồn quê, mùi quê, chốn cũ, người cũ, và không dưới 10 lần anh hình dung ra bóng dáng mẹ già, người đã từng rặn đẻ tôi trên một dòng sông / từ đó / mặt nước xô dạt tôi lên rừng / xuống biển / lặn lội kiếm tìm những giấc mơ / mẹ dặn” (Từ một dòng sông). Đối với người mẹ, con mình bao giờ cũng bé bỏng, cho dù người con đã trưởng thành, đã đi qua bao núi bao đồi, uống nước bao dòng sông, tắm mình bao biển lạ. Không biết sóng biển nào, sông nào đã vỗ vào ký ức, hay chính chân sóng ở quê nhà qua bao mùa mưa nắng bãi bồi đã làm đầy thêm ký ức, để một người đàn ông đã bước vào tuổi 70 như anh, vẫn trào dâng cảm xúc khi nhớ lại những kỷ niệm xưa như vẫn còn mới tinh khôi: vào thời mạ tôi lấy chồng / có con / mạ chong ngọn đèn dầu / thức đêm / tỉ mẩn se từng sợi chỉ / xanh /đỏ / cột đồng tiền xu / đeo vào cổ tôi trừ tà ma / và cầu mong con mình khôn lớn / thành người (...) /  mạ nhìn tôi lớn lên / ngày ham chơi / đêm ngủ mớ / mạ tỉnh giấc lần tìm lá bùa / đồng tiền xu vuột mất / mạ bần thần soi đèn từng ngõ ngách / qua vùng đất chơi bi đánh đáo / mi ở chỗ mô hỡi đồng xu sứt mẻ / qua bãi đá banh bến tắm sông bụi cây trốn tìm / mi ở chỗ mô hỡi đồng tiền xu xấu xí (…) / những lúc trái gió / trở trời / mạ tôi sợ vu vơ khấn thầm trời đất / thay đồng tiền xu làm phép / mạ vạch vào trán tôi dấu chữ thập / bôi đen muội khói đèn / như một lời nhắc nhủ / đứa con của mạ / đừng bao giờ đi lạc giữa cuộc đời (Đồng tiền xu của mạ). Tôi biết, cho dẫu từ lúc trưởng thành cho đến bây giờ đã bước về phía bên kia con dốc cuộc đời anh phải sống xa quê, nhưng nhờ tình yêu thương bao la trong phép màu nhiệm của người mẹ, anh không bao giờ đi lạc, anh ủ hơi ấm ấy đến bây giờ để truyền vào tao nôi cho cháu nội của mình: Ông nhớ bốn tao nôi / Tiếng đêm đưa thao thiết / Câu hát ru bồi hồi / Một đời thương da diết / Rồi Bin sẽ lớn lên / Ngày xưa thành nỗi nhớ / Không bao giờ nguôi quên / Như ông, còn ngủ mớ (Bin ơi).
Thế giới hình tượng nghệ thuật thơ Trần Văn Hội khá phong phú. Ngoài những bài thơ viết cho những người thân trong gia đình như Đồng tiền xu của mạ, Nếu có em ở Đà Lạt, Tìm lại giêng hai, Gửi cháu nội, Bin ơi, hoặc viết cho chính mình, giải tỏa những nỗi niềm đa mang đầy ắp, mà nếu không được giãi bày, nó nặng đầy chật cứng trong tâm hồn, nhưng khi tiếng thơ bật ra nó trở nên rộng rinh, sâu thăm thẳm trong những âm thanh, màu sắc rõ nét chứ không nhạt nhòa nhưng không thể xác định gọi tên. Hình tượng cái tôi trữ tình hiện lên có tính chất đồng tâm, trong các bài thơ như Tôi tìm tôi, Một tôi và…, Những giấc mơ trôi dạt, Từ một dòng sông, Ra giêng, Suy nghĩ trước cơn giông, Ngồi ở bến sông, Mỗi ngày, Tìm lại giêng hai, Lắng nghe… Thi nhân ngước nhìn hình tượng núi sông kỳ vĩ, hình tượng những người thân như trong gia đình và bạn bè, nhất là với người bạn đời của mình trong thái độ mang chút hàm ơn: Chẳng níu lại được những câu hỏi / ẩn dụ ngày / và đêm / nhiều khi không kịp thở / tôi mím môi rượt đuổi / chính mình / vỡ vụn từng dòng ngụ ngôn / về một cuộc sống khác / và em / bước qua ngày thanh tẩy / dịu dàng / tinh khiết / đã cứu chuộc tôi / và những giấc mơ / trôi dạt (Những giấc mơ trôi dạt). Thi nhân là người “khảo thí”, luôn mang trong tâm hồn mình một ngân hàng câu hỏi trĩu nặng, khó tìm câu trả lời cho đạt độ chuẩn xác. Cái chân lý mà anh ta muốn kiếm tìm bao giờ cũng là ảo vọng xa xôi, cho dẫu có đến trăm nghìn lần đã từng gõ cửa cuộc đời dâng bao điều vấn tâm cháy bỏng. Cái bất lực trước cuộc đời, trước hư vô của trời đất, lại làm nên cái hư ảo của thi ca lấp lánh giữa nhân gian. “Nhân chi sơ tính bổn thiện”. Cái “thiện” đó không phải là thiện – ác, không hàm ý là phạm trù đạo đức, mà là một tập hợp rỗng, trống trơn không có chi trong đó hết. Con người khi sinh ra tâm hồn rộng rinh như nhà thơ khi đã dốc hết cõi lòng. Nghĩa là khi anh ta nhìn cái không gian mênh mông trước mặt, nơi mà cảm xúc vừa ào ạt tràn qua, như một sa mạc không người. Bản ngã của nhà thơ cũng giống như sự bắt đầu một đời người. Nhưng tức tốc ngay sau đó lại nạp đầy năng lượng, trĩu nặng nỗi niềm đau đớn rất nhanh. Đó là sự ươm mầm cho tâm thức sáng tạo, cho sự ngân nga của nhịp điệu ngôn từ. Và, dường như trên sa mạc hun hút xa kia đã lờ mờ xuất hiện những dấu chân. Bởi chính nhà thơ đã tri nhận được cái cán đích cuối cùng không vẫn hoàn không, nhưng vẫn cứ kiếm tìm. Có chăng, cái khác của Trần Văn Hội là anh tự gõ vào chính tâm hồn mình: Tôi tìm tôi / Bạc tóc vẫn lớ ngớ không hiểu nổi đời mình / Bòn mót từng giấc mơ / Vỗ cánh (Tôi tìm tôi).
Trần Văn Hội hầu như bất chấp mùa nào, thời tiết ra sao, bao giờ cũng kính cận, mũ bê-rê với nụ cười hiền, tuy có chút phong trần, nhưng trông phong thái có vẻ giống một triết gia hoặc là một linh mục, hơn là nhà thơ, nhà báo. Ai nói gì cũng cười. Chuyện hay cũng cười. Chuyện dỡ cũng nhếch môi. Chuyện gì cũng có thể cười mà không chấp, không tranh luận. Tất nhiên, chuyện buồn thì im lặng. Cái im lặng cố hữu của đời anh. Nụ cười không kiêu bạc mà cao sang. Cười và ít nói. Đúng như bản chất của thi nhân. Tôi gặp anh hàng nghìn lần, “lai rai” với anh hàng vạn cuộc, nhưng chưa bao giờ nghe anh đọc thơ, hay nghe anh kể chuyện đã từng đi đây đi đó. Hóa ra, đọc thơ anh, tôi mới biết anh cũng thuộc nòi xê dịch. Ngoài những bài thơ viết cho nơi chôn nhau cắt rốn ở quê nhà (Từ một dòng sông, Ra giêng, Quê nội, Và nếu Huế…, Ngồi ở Blach and white, Tìm lại giêng hai), thơ anh còn in dấu nhiều miền quê của đất nước; gần thì có Ơi H’năng tôi gọi vời theo con nước, Paranưng, Lượm đá trên dòng sông H’năng; xa hơn thì có Đôi mắt Lý Sơn, Nếu Đà Lạt có em, Khi qua Ninh Chữ, Phải vậy không Phan Thiết, Gặp gỡ Vũng Tàu, Ghi chép trên đảo Bình Ba, Thăm mộ cụ Nguyễn Du, Viết ở hồ Đại Lải, Ghi chép ở Hạ Long, Lên Yên Tử,…
Anh thể hiện nguyên lý “văn là người” rất rõ. Người anh ra sao thì thơ anh cũng vậy. Từ tâm hồn đến giọng điệu đều trầm buồn, lặng lẽ và khá kiệm lời. Thơ anh không phải bài nào cũng hay, bài nào cũng tròn tứ, cũng lưu lại ấn tượng lâu bền, nhưng ẩn bên dưới vẻ sần sùi, thô mộc có chút hiền lành, lặng lẽ là những thảm cỏ xanh thăm thẳm, trong đó, nó óng ánh những vệt sáng lung linh và tỏa ra sự ấm áp của ngôn từ. Nhiều bài thơ ngắn, rớt dòng một cách tự do, thong dong, mỗi dòng có khi chỉ một hai chữ, nhưng lại mang âm điệu lục bát khá chuẩn mực (Cái tình chi, Về nghe gió thổi, Quê nội, Ngồi ở bến sông, Không đề, Xàng xê ứ hự, Một tôi và…, Sắc không, Thế là, Tung còn, Tình tang, Lục bát, Và em, Gửi cháu nội, Lục bát (2), Thăm mộ cụ Nguyễn Du). Nhiều bài thơ, nhất là thể thơ năm chữ giàu nhạc điệu ngân nga, gần với ngôn ngữ chính văn của âm nhạc là hình tượng âm thanh (Phép thử đầu năm, Giải oan cốc, Bin ơi…), nên thơ anh đã được nhiều bạn bè phổ nhạc.
Như đã nói, Trần Văn Hội đã làm thơ từ thời tham gia phong trào sinh viên tranh đấu trước 1975. Nhưng mãi cho đến hơn 30 năm sau, anh mới có tập thơ đầu tay Cái lùng tung (2007) ra đời. Đến nay, lại hơn 10 sau nữa, anh mới cho ra đời tập thơ thứ hai Những ước mơ trôi dạt. Thơ là nghệ thuật tinh túy như rượu được chưng cất từ ngũ cốc. Ý thức đầy đủ về điều ấy nên anh viết rất chậm và cẩn trọng. Trong thế giới nghệ thuật ngôn từ, hơn ai hết, nhà thơ là người đầu tiên có trách nhiệm với từng con chữ, nếu muốn nó sinh sôi thành hình tượng.



Thứ Ba, 6 tháng 8, 2019

ĐẶC SẮC NGHỆ THUẬT CỦA BÀI THƠ VIỆT BẮC của NGUYỄN PHƯƠNG HÀ - CHƯ YANG SIN SỐ: 323 tháng 7 năm 2019


                    

                       
 


Bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu (đoạn trích trong sách Ngữ văn 12, tập I) được sáng tác vào tháng 10 năm 1954, trong khoảng thời gian sau ngày kháng chiến chống Pháp thắng lợi đến khi Trung ương Đảng, Chính phủ rời chiến khu Việt Bắc trở về Hà Nội. Việt Bắc là một khúc trữ tình chính trị đặc sắc, thể hiện rõ nét đặc điểm phong cách nghệ thuật thơ Tố Hữu: “sự kết hợp hài hòa hai yếu tố cách mạng và dân tộc trong sáng tạo nghệ thuật, sáng tạo  thi ca”*. Ở bài thơ này, Tố Hữu đã có những sáng tạo nghệ thuật độc đáo để thể hiện hình ảnh Việt Bắc - quê hương cách mạng, thể hiện những tình cảm cách mạng lớn lao và những vấn đề lớn của dân tộc và thời đại như lòng yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng, những ân tình thủy chung của người cách mạng đối với Việt Bắc, đối với Đảng và lãnh tụ.
1. Thể thơ lục bát.
Lục bát là một thể thơ truyền thống lâu đời của dân tộc sinh ra từ ca dao dân ca nơi ruộng đồng, gò bãi với cánh cò và người nông dân hồn hậu. Lục bát đi vào văn học viết với Truyện Kiều của Nguyễn Du, lục bát của Tản Đà, Nguyễn Bính và Tố Hữu. Chính lục bát đã góp phần tạo ra diện mạo một hồn thơ đậm đà bản sắc dân tộc của Tố Hữu dù ông viết lục bát không nhiều lắm. Lục bát là thể thơ thường dùng để thể hiện những tình cảm, những hình ảnh bình dị, thân thương. Lục bát đương nhiên không phải là sáng tạo của Tố Hữu, sáng tạo ở đây là tác giả thể hiện thành công  những tình cảm cách mạng lớn lao, những vấn đề lớn của hiện thực thời đại bằng một “giọng” lục bát giản dị, mộc mạc chứ không phải bằng “giọng” sử thi thất ngôn hoặc thơ tự do như nhiều bài khác. Sử dụng nhuần nhuyễn thể thơ lục bát truyền thống để thể hiện cảm hứng trữ tình chính trị là một đóng góp và thành công của tác giả.
2. “Mình -  Ta”- một kết cấu độc đáo.
Chúng ta đều biết, trong ca dao, dân ca tâm tình có lối đối đáp xưng hô “mình - ta” rất phổ biến, đó là lối xưng hô giữa hai cá thể yêu đương, tâm tình với nhau: “Mình về có nhớ ta chăng/ Ta về ta nhớ hàm răng mình cười”. Mượn lối xưng hô cá nhân nói chuyện lứa đôi ấy, tạo nên kết cấu đối đáp để thể hiện những tình cảm lớn lao của dân tộc và thời đại một cách cụ thể, sinh động, bình dị và sâu lắng là một sáng tạo độc đáo của Tố Hữu. Ở đây, nhà thơ đã cá thể hóa tất cả những người cách mạng từng sống và chiến đấu ở Việt Bắc thành một nhân vật và Việt Bắc - thiên nhiên núi rừng, con người được nghệ thuật hóa thành một nhân vật để tạo nên lối xưng hô “Mình - Ta”.  “Ta” là đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất và “Mình” là đại từ nhân xưng ngôi thứ hai, hai nhân vật đối đáp tâm tình nhưng là tâm tình cách mạng.
Mở đầu là một lời đối đáp (8 dòng lục bát tạo thành hai khổ thơ) gợi lên không khí, khung cảnh của một buổi chia ly, có “mình”, có “ta” với những lớp sóng cảm xúc thể hiện qua các từ láy: “tha thiết”, “bâng khuâng”, “bồn chồn” và hình ảnh “Áo chàm đưa buổi phân li” rất cụ thể và sinh động.
Tiếp đến là lời nhắn gửi của Việt Bắc - người ở lại, gồm 12 dòng lục bát tạo thành 6 câu hỏi xoáy sâu vào lòng người. Việt Bắc hỏi người cán bộ về xuôi có nhớ không những kỉ niệm gắn bó với thiên nhiên, con người Việt Bắc trong cách mạng và kháng chiến với những đại danh lịch sử: Tân Trào, Hồng Thái, mái đình, cây đa.
Trung tâm của đoạn trích là lời đáp của người cán bộ về xuôi gồm 70 dòng lục bát. Người cán bộ khẳng định tình cảm gắn bó với Việt Bắc như lời thề thủy chung: “Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh”, đồng thời gợi lên hình ảnh Việt Bắc, những hình ảnh trong đời sống, sinh hoạt trong cách mạng và kháng chiến.
Kết cấu đối đáp với lối xưng hô “mình - ta” đã giúp tác giả thể hiện hình ảnh và ý nghĩa lịch sử của Việt Bắc - cái nôi của cách mạng Việt Nam. Qua lời đối đáp ân tình, ta thấy hiện lên hình ảnh Việt Bắc với những chi tiết rất cụ thể, những hình ảnh vô cùng sinh động, kỉ niệm gợi nhớ kỉ niệm cứ tràn mãi ra không dứt với âm điệu dồn dập của những đoạn thơ lục bát. Đồng thời, tác giả cũng thể hiện những tình cảm cách mạng của nhân dân ta. Đó là lòng yêu nước, tinh thần dũng cảm, kiên gan bền chí trong cuộc đấu tranh giành độc lập, đó là tình cảm ân nghĩa thủy chung của những người cách mạng đối với Việt Bắc - quê hương cách mạng, là niềm tin chiến thắng, tình cảm biết ơn Đảng và lãnh tụ. Người đọc hình dung như có hai người đang cùng song ca một khúc trữ tình cách mạng nồng nàn và sôi nổi. Đọc kỹ bài thơ, ta thấy hai đại từ “mình”, “ta” có sự chuyển hóa đa dạng và đa nghĩa, chẳng hạn như khi tác giả viết: “Mình đi mình có nhớ mình” hoặc “Mình đi mình lại nhớ mình”. Chữ “mình” thứ ba trong hai câu này cũng chính là “ta” rồi. Tác giả còn dùng từ “ai” phiếm chỉ: “Ai về ai có nhớ không?”, thì “ai” ở đây cũng chính là “ mình” với “ta”. Như vậy, “mình” với “ta” tuy hai nhưng chỉ là một, cấu trúc hỏi đáp, đối thoại mà thực chất là độc thoại, đó là sự phân thân của cái “tôi” trữ tình nhà thơ để nói cho hết, cho kỹ, cho sâu những kỉ niệm với Việt Bắc, những ân tình cách mạng. Phần sau của bài thơ (không trích ở sách giáo khoa Ngữ văn 12), tác giả đã phá vỡ cấu trúc hỏi đáp để tạo thành một khúc đồng ca, ca ngợi cách mạng, ca ngợi Đảng và Bác Hồ.
3. Ngôn ngữ thơ giản dị, trong sáng, giàu hình ảnh và nhạc điệu.
Cùng với thể thơ lục bát, ngôn ngữ trong bài thơ mang đậm màu sắc ca dao, vừa giản dị, trong sáng, gần gũi, rất giàu chất liệu đời sống. Tác giả chủ yếu sử dụng từ thuần Việt (trong đoạn trích ở Sách giáo khoa với 90 dòng lục bát chỉ có trên 10 từ Hán Việt) mà đặc điểm của từ thuần Việt là bình dị, nôm na, dễ hiểu. Tác giả cũng không dùng nhiều các biện pháp tu từ nghệ thuật phức tạp mà chỉ gợi tả và liệt kê đơn giản theo mạch liên tưởng, hoài niệm. Hàng loạt những hình ảnh thiên nhiên, núi rừng, con người Việt Bắc, những kỉ niệm cách mạng và kháng chiến, những địa danh lịch sử được gợi ra, nối tiếp nhau qua những lời hỏi đáp cũng như những khúc đồng ca: “mưa nguồn”, “suối lũ”, “lau xám”, “măng mai”, “trám bùi”, “miếng cơm chấm muối”, “mối thù nặng vai” “Tân Trào, Hồng Thái, mái đình cây đa”, “người mẹ nắng cháy lưng”, “lớp học i tờ”, “những giờ liên hoan”, “ngày tháng cơ quan”, “tiếng mõ rừng chiều”, “trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương”, “ngòi Thia sông Đáy, suối Lê vơi đầy”. Nhờ gắn bó sâu sắc với thiên nhiên và con người Việt Bắc nên tác giả đã miêu tả bức tranh thiên nhiên và con người theo mùa hoa trái rất cụ thể:        
“Ngày xuân mơ nở trắng rừng
Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang.
Ve kêu rừng phách đổ vàng
Nhớ cô em gái hái măng một mình
Rừng thu trăng rọi hòa bình
Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung….”
Tác giả còn vận dụng phép song hành: bên cạnh một câu lục nhớ “hoa” là một câu bát nhớ “người”. Sự kết hợp đan xen ấy đã làm cho hình ảnh thiên nhiên và con người hòa quyện với nhau, hiện lên vô cùng sinh động. Sáng tạo hình ảnh hết sức phong phú là một thành công của Tố Hữu ở bài thơ này.
Người ta nói thơ Tố Hữu kết tinh linh hồn dân tộc ở nhịp điệu thì bài thơ Việt Bắc là một sự thể hiện đậm nét nhất. Nhịp điệu của câu thơ lục bát hài hòa, trầm bổng làm cho kỷ niệm trở nên ngân nga, réo rắt, thấm vào tâm tư. Nhịp điệu đó được tạo ra nhờ điệp khúc “mình đi”, “mình về” đặt ở đầu các câu lục và các vế tiểu đối ở các câu bát: “Miếng cơm chấm muối / mối thù nặng vai”, “Hắt hiu lau xám / đậm đà lòng son”, “Nhớ khi kháng Nhật / thuở còn Việt Minh”... Những vế đối đã tạo nên nhịp điệu cân đối, hài hòa, làm cho câu thơ lục bát mang thêm vẻ đẹp cổ điển. Tác giả còn sử dụng rất nhiều từ láy vừa gợi hình ảnh vừa tạo sự trùng điệp về âm thanh: “tha thiết”, “bâng khuâng”, “bồn chồn”, “hắt hiu”, “đậm đà”, “thăm thẳm”, “đêm đêm”, “rầm rập”, “điệp điệp”, “trùng trùng”… Hiện tượng điệp từ, điệp ngữ, điệp cú pháp cũng được sử dụng rộng rãi cũng góp phần tạo nhịp điệu phong phú, như việc lặp lại các từ “nhớ” ở đầu các câu bát, lặp lại các cấu trúc câu hỏi - đáp, phép lặp và liệt kê các địa danh lịch sử: Tân Trào, Hồng Thái, mái đình, cây đa, sông Lô, phố Ràng, Cao - Lạng, Nhị Hà, Hòa Bình, Tây Bắc, Điện Biên, Đồng Tháp, An Khê, đèo De, núi Hồng...
Tóm lại, Việt Bắc là một bài thơ có nghệ thuật đặc sắc, đậm đà tính dân tộc: thể thơ lục bát với âm điệu phong phú, kết cấu đầy sáng tạo, ngôn ngữ thơ giản dị, trong sáng, giàu hình ảnh và nhịp điệu. Bài thơ đã thể hiện được hình ảnh và ý nghĩa lịch sử của Việt Bắc - quê hương cách mạng, làm nổi bật những tình cảm cách mạng cao đẹp của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đầy gian khổ hy sinh mà oanh liệt, hào hùng.


Chủ Nhật, 4 tháng 8, 2019

CHẤT NGHỆ SĨ ĐƯỢC MẤY PHẦN TRĂM? tác giả HOÀI AN - CHƯ YANG SIN SỐ: 323 tháng 7 năm 2019





Trao đổi về nhiếp ảnh - Bài 2:




Những ai đã gắn bó với nhiếp ảnh nghệ thuật từ xưa đến nay đều hiểu rằng: Sau công đoạn đi thực tế tìm cảnh, tìm người, tìm vấn đề, sự kiện, bấm máy/chụp ảnh, để có được một bức ảnh đẹp/ ưng ý, thì việc xử lý  “hậu kỳ” cũng hết sức quan trọng. Trong nhiều trường hợp xử lý “hậu kỳ” có tính quyết định đến thành công của bức ảnh.
Sau xử lý “hậu kỳ” bức ảnh sẽ được nâng tầm rõ rệt, đẹp hẳn lên, chủ đề nội dung rõ ràng hơn so với ảnh chụp ban đầu. Ấy là nhờ bức ảnh được bố cục lại chặt chẽ hơn, màu sắc, ánh sáng được xử lý tăng, giảm chuẩn hơn, các chi tiết rườm rà, không cần thiết trong bức ảnh được xóa đi để làm nổi bật nhân vật, vấn đề chính cần phản ánh.
Trước đây khi còn chụp phim nhựa thì phần “hậu kỳ” được xử lý trong buồng tối. Nhà nhiếp ảnh phải biết tính thời gian rọi ảnh, phù hợp, biết dùng tay che chắn, cản ánh sáng từ máy rọi để làm nhòe mờ đi chững chi tiết không cần thiết; ngoài ra phải biết pha thuốc chuẩn, tương phản trắng đen, màu sắc phù hợp, thời gian cho ảnh hiện hình đúng, nếu không ảnh sẽ nhợt nhạt hoặc quá chát...
Ngày nay, khi đã có máy vi tính, có phần mềm Photoshop thì việc xử lý “hậu kỳ” thuận lợi đến mức tuyệt vời! Chỉ cần nhà nhiếp ảnh nắm được cách sử dụng của từng công cụ trong phần mềm Photoshop thì lập tức sẽ có “quyền năng siêu phàm” biến bức ảnh xoàng, thành bức ảnh đẹp chỉ sau mấy phút. Chính vì vậy hiện nay hầu như nhà nhiếp ảnh nào cũng có máy vi tính cài đặt phần mềm Photoshop để xử lý ảnh sau khi đi chụp về.
Cũng vì vậy chất lượng ảnh của các cuộc thi ảnh nghệ thuật từ khi có phần mềm Photoshop cao hơn hẳn so với thời Photoshop chưa ra đời. Màu sắc ảnh thường tươi tắn, rực rỡ bắt mắt hơn, ảnh không rườm rà chi tiết, bố cục chặt chẽ hơn. Bức ảnh khi chụp chỉ đáng 5 điểm, sau xử lý “hậu kỳ” đã tăng lên 9,10 điểm.
Đấy cũng là điều kiện thuận lợi để nhiều người đến với ảnh nghệ thuật hơn. Đội ngũ người chơi ảnh phát triển nhanh chóng. Các câu lạc bộ, các hội nhiếp ảnh được thành lập ở khắp mọi nơi, số người tham gia ngày càng đông đảo.
Thế nhưng có một thực tế mà ai cũng thấy sờ sờ, bởi nó gần như công khai, là hiện nay có nhiều người có điều kiện sắm máy ảnh tốt, tìm thầy (nghê sĩ nhiếp ảnh tên tuổi), hăng hái theo thầy chụp ảnh ở khắp mọi nơi; thầy dựng cảnh cho chụp, xử lý “hậu kỳ” thầy giúp (do trò trình độ nhận xét, phân tích về bố cục, tông màu, tông ánh sáng, nội dung tác phẩm...  hạn chế và hoàn toàn không biết sử dụng công cụ Photoshop). Thế nên chỉ sau một thời gian ngắn vác máy đi theo thầy, trò đã có ảnh dự thi ở nhiều cuộc thi lớn nhỏ. Có trường hợp thầy còn là thành viên ban giám khảo, nên trò dễ dàng có ngay tác phẩm được triển lãm, thậm chí đoạt giải cao và thế là trở thành hội viên... được tôn vinh danh xưng “nghệ sĩ” (!)
Người nhận danh xưng “nghệ sĩ” theo hình thức này trong làng nhiếp ảnh hiện nay không ít. Một số người có lòng tự trọng nghề nghiệp cao khi ngồi với nhau thường hỏi: Nghệ sĩ kiểu đó thì chất nghệ sĩ được mấy phần trăm?




Thứ Sáu, 2 tháng 8, 2019

NGẮM MỘT BÔNG HOA NỞ truyện ngắn của QUỲNH NHI - CHƯ YANG SIN SỐ 323 THÁNG 7 NĂM 2019



“Anh mệt quá, nhưng vẫn phải lên lớp”.
Một cánh hoa nở.
Em ngắm nhìn anh lặng lẽ tắt máy, dắt xe vào cổng trường. Em mường tượng ra hình ảnh anh đứng trước giảng đường, bên dưới là những đôi mắt của bọn trẻ. Ừ, với chúng mình thì chúng là bọn trẻ còn gì, những đứa trẻ chuẩn bị hai mươi tuổi, lứa tuổi đẹp biết bao, còn mơ mộng và chưa bị cuộc đời vùi dập bằng đôi ba cú quăng quật đầy thương tích. Như em, như anh, đã từng.
“Anh ghen tị với bọn chúng lắm, vì chúng nó còn trẻ”.
Một cánh hoa nở.
Em cũng ghen tị lắm. Em đã mơ nhiều, rất nhiều về quãng đời em hai mươi tuổi. Giá như được quay lại thời trẻ, em đã chẳng khờ dại đến thế, ngốc nghếch đến thế. Và  nếu em quay lại quãng đời đó, em sẽ đứng yên lặng nơi ô cửa sổ nhỏ, đợi anh đi qua, và gọi tên anh rồi nhắn với anh rằng, vài năm nữa chúng mình sẽ quen biết nhau. Em sẽ gom hết những mẩu tàn thuốc vương vãi nơi bệ cửa, để lúc nào gặp anh em hỏi xem tàn thuốc nào đã đậu lên môi anh. Quãng đời đó chúng mình đã từng ở chung một thành phố, đi chung một chuyến xe buýt, ngồi chung một căn phòng trong thư viện, xem chung một cuốn sách, nhưng chúng mình chẳng biết nhau. Vậy có đáng để ghen tị không? Thời gian là sự đánh đổi, bằng việc rút ngắn đời sống của mỗi con người.
“Anh cũng chẳng có gì ngoài thời gian”.
Một cánh hoa nở.
Anh gửi cho em một đoạn phim anh cắt ra từ một bộ phim em không biết tên, chỉ thấy anh lưu đoạn phim đó bởi một câu thoại mà có lẽ anh muốn làm nhân vật chính. Anh dành cho em bao nhiêu thời gian trong một ngày? Em dành cho anh bao nhiêu thời gian trong một ngày? Em không biết, em chỉ dành thời gian để ngắm từng cánh hoa nở, rồi em phát hiện ra chúng không nở cùng lúc, mà e ấp từng cánh một. Phải thật kiên nhẫn, để ngắm nhìn một bông hoa.
“Anh đã nghỉ dạy rồi”.
Một cánh hoa nở.
Em đã định nói với anh như thế, rằng công việc giảng dạy chẳng hợp anh chút nào. Nhưng rồi em chỉ vẽ một bức tranh gửi tặng anh. Làm sao em có thể nói ra một việc hiển nhiên sẽ xảy ra được, điều đó không cần thiết. Như việc một bông hoa, hẳn nhiên chúng sẽ nở, việc của em là quan sát thôi. Em luôn tự hỏi tại sao anh sống như thế, sống như cố gắng che giấu chính mình vào một lớp vỏ khác, an toàn và vô can với cuộc đời. Em sẽ nói rằng anh ích kỷ, ích kỷ với chính bản thân mình. Chọn một cuộc sống an toàn, cũng tốt. Nhưng đó không phải là cách mà một con người được sinh ra trên đời nên sống, không phải điều gì tốt cũng đáng được khen ngợi và biểu dương, như việc chọn lựa làm một anh giáo tuân thủ giờ giấc tháng tháng nhận lương rồi lại nuối tiếc một cuộc đời nhàn nhạt, vô vị. Em không muốn nói những ai chọn con đường sống-an-toàn đều vô vị, nhưng với anh em sẽ nói thế. Dù rằng em có vẻ là kẻ cơ hội, khi biết anh nghỉ việc em đã hân hoan. Chúng mình là những kẻ như vậy đó, dù cho sống với chính mình là khó khăn và có khi chẳng đáng xu nào, nhưng đáng để sống. Em đã sống một-cuộc-đời-chẳng-đáng-xu-nào, thật đấy anh.
“Anh muốn từ bỏ nơi này, về nhà, về hẳn”.
Một cánh hoa nở.
Em biết đó chỉ là ý muốn, con người ta có hàng ngàn hàng vạn mong muốn trong đời, rồi chẳng mấy mà thành hiện thực được cả. Hiện thực chỉ có một, giống như việc chúng mình có thể xem hàng ngàn bộ phim, dự phần vào hàng ngàn cuộc đời khác nhau, đưa mình vào những bối cảnh khác nhau, phiêu lưu mạo hiểm, tình cảm lãng mạn, tâm lý giật gân, bi kịch đau thương, hài kịch giễu nhại, kinh dị ám ảnh…nhưng rồi chúng mình chỉ có duy nhất một cuộc đời để sống. Như anh, như em, vẫn sống mỗi ngày.
“Anh mua một cuộn film, và đứng nhìn bên kia thành phố qua ô cửa sổ nhỏ”.
Một cánh hoa nở.
Nếu cả hai chúng ta chỉ đứng bên cửa sổ mà nhìn nhau, thì ai bước qua cửa lớn để chạy về phía người kia?
“Anh mua một cái bánh chưng, người vợ nói nó là bánh chưng nhân trứng muối. Lúc người vợ đưa chiếc bánh cho anh, người chồng nhìn anh với ánh mắt mà anh biết mình đã mua một cái bánh chưng không có nhân trứng muối”.
Một cánh hoa nở.
Chúng mình sống chỉ mong mãi mãi khờ dại, vậy lựa chọn việc bị dối lừa và xem như mình không bị lừa thì việc nào dễ dàng hơn? Nhưng rồi anh có nghĩ đó là cách người ta mưu sinh, và đó là cách mà số phận đưa đẩy hai con người xa lạ trở thành vợ chồng không. Ví dụ như cô vợ cũng thật thà như anh chồng, thì làm sao bán được chiếc bánh chưng không có nhân trứng muối cho anh để kiếm thêm vài đồng lời, và rồi làm sao anh may mắn nhận được ánh mắt ái ngại đó? Nếu anh lấy vợ, anh có sẵn sàng hối lỗi ăn năn thay cho vợ anh khi mắc lỗi, và nếu em có chồng, có có sẵn sàng sống gian xảo để nuôi sống gia đình?
Vậy anh đã ăn bánh chưa, bánh ngon không, và chúng có nhân gì?
“Anh à, em cũng chẳng có gì ngoài thời gian, thời gian để ngắm một bông hoa vườn nhà em từ từ bung cánh. Con người ta có bao giờ ngồi lặng yên chẳng để làm gì, chẳng bận tâm gì, chẳng nghĩ suy gì, mà đơn giản chỉ để tâm trí mình ngắm nhìn một đóa hoa nở lặng lẽ âm thầm chăng?”.
Một cánh hoa nở.
“Cũng như em ngắm nhìn anh mở từng cánh hoa lòng mình, mỗi ngày”.
Sớm nay, vườn nhà em, đóa hướng dương đã bung xòe ngàn chiếc cánh vàng rực rỡ dưới ánh nắng chói chang của mùa hè.