Thứ Sáu, 10 tháng 4, 2026

CON VƯỢN CỤT TAY truyện ngắn của HỒNG CHIẾN đăng trên TẠP CHÍ VĂN NGHỆ QUÂN ĐỘI SỐ: 1082-1083 tháng 4 năm 2026

 Sáng chủ nhật, tôi đến chơi nhà anh Đinh Lập, nguyên Trưởng ban Tuyên huấn Sư Ba. Nhà anh ở lô thứ hai, cách Quốc lộ 21 khoảng trăm mét, xây hai tầng, nổi bật trong cả khu vực chỉ có nhà xây cấp bốn. Vợ anh, chị Vũ Phương trước đây dạy cùng trường với tôi, tính nóng như lửa nhưng thẳng tính. Chị kể: năm 1973 tốt nghiệp Đại học sư phạm, xung phong vào nam dạy học. Sau gần một tháng hành quân vượt dãy Trường Sơn, cuối cùng dừng chân tại H5, vùng giải phóng đầu tiên của tỉnh miền núi Tây Nguyên. Bộ tư lệnh Quân khu cũng đóng gần đấy nên chủ nhật lãnh đạo tổ chức giao lưu, anh chị gặp nhau vì cùng đồng hương miền Bắc và thế là họ nên vợ nên chồng trước khi nước nhà thống nhất. Ngày chuẩn bị thành lập trường, ông Trưởng Ty Giáo dục trước cùng dạy trong căn cứ, mời chị lên trao đổi, định cử chị làm Hiệu Trưởng. Chị từ chối vì hai con còn nhỏ, lương hai vợ chồng không đủ ăn nên phải giành thời gian tranh thủ nấu rượu, nuôi heo và làm vườn để có thêm thu nhập giúp chồng an tâm công tác. Chị nói vui: Dân xứ Thanh là vậy đấy!

          Anh Lập ngồi trên ghế salon hộp đóng bằng gỗ cà te vàng óng, trên bàn có ấm trà cổ màu da lươn, tỏa hương thơm lừng. Trà Thái Nguyên được cô em gái ngoài quê chọn cây, hái đọt, sao đạt chuẩn trước khi gửi vào biếu anh trai. Thấy tôi đến, anh vui vẻ đứng dậy bắt tay, mời ngồi thưởng trà cùng anh. Nhâm nhi ly trà, ngắm khuôn mặt phúc hậu và giọng nói nhẹ như người Hà Nội gốc. Tôi chợt nghĩ: đời cũng lạ, người chồng lúc nào cũng nói nhỏ nhẹ, không to tiếng với ai bao giờ, nhưng khi tức giận con mắt như có lửa. Còn vợ anh - chị Vũ Phương quê Thanh Hóa hay nói và nói nhiều, tính nóng như “Trương Phi”. Cách đây hơn ba năm, tôi đang ngồi dưới văn phòng trực ban, chị đi như chạy từ trên lớp xuống, quát:

          -Đã không có chuyên môn thì đừng b trí dạy, học sinh đâu phải trẻ lên ba mà muốn nói gì cũng được, các em về mách với bộ mẹ thì xấu mặt thầy cô cả trường.

          Biết tính chị, tôi đứng dậy nói:

          -Chị lại uống ly nước đã nào.

          Đôi mắt bồ câu hình như có lửa phát ra làm khuôn mặt tròn như đỏ lên, trán cao có một túm tóc quăn tự nhiên rủ xuống; chị cao gần mét bảy, mặc bộ quân phục bạc màu, hai tay thọc vào túi quần, nói tiếp:

          -Dạy học sinh giảng cây cà phê mít ở Braxin cao 25 – 30 mét, mà không biết ngượng mồm!

          Vừa lúc đó ông Hiệu Trưởng hết tiết cũng bước vào phòng, lên tiếng:

          -Bà dạy văn thì biết quái gì về môn kỹ thuật mà nói.

          Chị Vũ Phương quay lại nhìn Hiệu trưởng cao hơn mét rưỡi một tý, chỉnh tề trong bộ veston đen đứng bên cạnh liền rút tay ra khỏi túi quần, thẳng tay cho một cái bạt tai, miệng quát:

          -Bảo tôi ngu hả, ngu nhưng chưa đến độ dạy sai kiến thức cơ bản cho học sinh như ông.

          Hiệu trưởng sợ quá, bước vội ra khỏi văn phòng. Hơn hai chục thầy cô chứng kiến sự việc, mặt tái xanh. Bước nhanh lại nắm tay chị kéo đến bên bàn làm việc của tôi, nói:

          -Chị nóng quá, uống nước đi cho hạ hỏa.

          -Hùng xem, lão dạy như thế có khác gì giết học sinh.

          Trống báo vào lớp, chờ giáo viên đi dạy hết, Hiệu trưởng bước qua Văn phòng nói với tôi:

          -Bà này quá quắt, cy mình “từ trong rừng ra”, coi trời bằng vung; hôm nay còn đánh cả tôi, phải lập biên bản xử lý nghiêm khắc làm gương.

          Tôi hỏi lại:

-Thầy nghĩ kỹ chưa?

-Sao Hùng lại hỏi mình thế?

Nhìn khuôn mặt dài, hơi tái đi vì giận và có vẻ già hơn so với tuổi năm mươi của Hiệu trưởng, tôi nói:

-Thầy chuyên môn toán, dạy kỹ thuật giúp đồng nghiệp trống tiết mà sai kiến thức cơ bản, Phòng biết chuyện thì không ổn đâu.

Hiệu trưởng ngồi phịch xuống ghế, tôi đẩy cuốn sách giáo khoa đã mở sẵn, Hiệu trưởng nhìn hai vòng tròn đỏ tôi khoanh, mặt bổng đỏ lên, rụt rè hỏi:

-Bây giờ phải x thế nào?

-Một bên lên lớp vội lấp tiết trống, đọc không kỹ sách giáo khoa; một bên nóng, x sự không chuẩn mực, nhưng có điểm chung là vì học sinh; thôi, cả hai cùng rút kinh nghiệm.

Buổi trưa hết tiết, tôi mời chị Vũ Phương ở lại và mời Hiệu trưởng qua Văn phòng nói chuyện. Chị Vũ Phương nhận lỗi vì quá nóng nên xữ sự sai, thế là… huề. Khi Văn phòng chỉ còn hai người, Hiệu trưởng vỗ vai tôi, nói:

-Mình may mắn có Hùng làm Hiệu phó giúp việc thế này là yên tâm rồi.

*

Uống đến ly trà thứ hai, chị Vũ Phương bê ra một nhánh chuối lùn chín vàng, quả to hơn cán dao phát rẫy, mời ăn. Tôi nói:

-Chủ nhật tuần trước em vào rừng Chư San xem học sinh hái quả ươi, tối xuống suối bắt cá bị hổ phục; may có con vượn đen cụt tay xuất hiện đúng lúc, đuổi hổ giúp. Thầy trò được một phen mất vía.

Anh Đinh Lập nghe tôi nói chưa hết câu vội đặt ly nước xuống bàn, nắm tay tôi, thở gấp, hỏi:

-Nó lớn không, mắt màu gì?

-Chắc phải cao hơn mét ba đấy, mắt màu nâu.

Đinh Lập buông tay tôi, thở phào, nói:

-Thế là nó vẫn còn sống!

Tôi ngạc nhiên hỏi lại:

-Anh đã từng gặp con vượn này rồi à?

Nhấc ly trà nhấp một ngụm nhỏ, anh nhìn ra sân có cây xoài cao hơn ba mét, gốc to bằng bắp đùi người lớn, tỏa bóng mát rượi; anh kể…

*

Mình sinh ra bên Thái Lan, năm 1960 theo gia đình về nước, định cư tại Thái Nguyên; học xong cấp ba xung phong đi bộ đội. Vào Tây Nguyên, các thủ trưởng thấy mình chữ đẹp, khéo tay cắt, gián, vẽ, gò, hàn… nên xem như của quý, không cho ra trận đánh nhau.

Bọn Mĩ sau nhiều lần đổ quân càn quét vùng rừng Chư Yang Sin, nhưng bị ta đánh bật ra. Chúng quyết định chọn một quả đồi thấp, cách đèo Phượng Hoàng hơn ba chục km về phía tây nam, gần chân dãy Chư Yang Sin đóng đồn để ngăn quân ta vận chuyển lương thực từ vùng biển lên nam Tây Nguyên. Dân trong vùng quen gọi đồi ấy là đồi Mĩ. Từ chân đồi Mĩ rộng ra xung quanh trong bán kính một ki lô mét, chúng rãi chất độc hóa học làm cây cối chết hết; về mùa mưa chỉ có cỏ gianh mọc được, mùa khô đốt cháy sạch bong như sân, con chuột chạy qua từ xa cũng nhìn thấy.

Hôm ấy gần đến ngày 27/7, đường giao liên bị tắc nên mình đề xuất và xung phong đi lấy mật ong về bồi dưỡg cho thương binh. Được thủ trưởng chấp thuận, từ mờ sáng mình lên đường, đến quá trưa lấy đầy gùi mật ong đang định quay về thì bỗng có tiếng gào thét vọng vào núi, nghe rất thê lương:

-U…ố…t, u… ố…t, u… ố…t!

Thấy lạ, mình băng rừng tìm đến thì… bên cạnh bờ suối phía giáp đồi cỏ gianh chạy dài đến tận đỉnh đồi nơi lính Mĩ đóng đồn; một con vượn đực cao tới mét rưỡi đang dùng hai tay lay lay chiếc lồng sắt nhốt một con vượn trong đó, mồm không ngớt kêu gào. Mình nghĩ: chắc bọn Mĩ đặt lồng sắt lừa con vượn vào bắt sống; con bên ngoài không biết cách mở lồng nên mới kêu gào đau đớn như thế. Đang phân vân không biết có nên mạo hiểm lại mở lồng cứu con vượn hay không. Bỗng có tiếng máy bay vọng đến. Trên trời, từ phía thị trấn Khánh Dương một chiếc trực thăng từ từ bay tới. Bên cửa hông máy bay, một tên lính Mĩ đội mũ sắt, tay cầm khẩu AR15; phía sau lố nhố mấy cái đầu đội mũ sắt nữa như đang chen nhau ra cửa.

Thấy máy bay bay đến gần, con vượn đứng phía ngoài cầm một khúc xương dài độ ba gang tay, chắc là xương ống chân nai, màu trắng ngà, nhảy lên đứng trên lồng. Con vượn một tay nắm lồng, một tay cầm khúc xương khua khua trên đầu như sẵn sàng quyết tử để bảo vệ con vượn bị nhốt bên trong.

Chiếc trực thăng bay cách chiếc lồng độ ba chục mét, hạ độ cao xuống khoảng hai chục mét; tên lính đứng bên cửa máy bay nổ một loạt đạn; con vượn trên cũi văng xuống đất, ôm ngực dãy dãy. Con vượn trong cũi gầm lên đau đớn:

 -U…ố…t!

Mình ức quá, không kìm được nên nâng khẩu CKC lên ngắm vào đầu tên phi công đội mũ trắng, siết cò. Tiếng CKC chìm trong tiếng gầm của máy bay. Chiếc trực thăng như bị động kinh, quặt ngang, nghiêng mình hắt tên lính vừa bắn con vượn rợi bịch xuống đất, chết thẳng cẳng. Máy bay lao luôn vào vách núi phía đông biến thành một đám cháy lớn.

Trên đồn, một tốp lính Mĩ thấy trực thăng bay đến vội ùa xuống, tay xách súng AR15, cười nói vui vẻ như đi nhặt vàng. Chúng đi được nửa đường thấy máy bay bị bắn lao vào núi bốc cháy, vội quay đầu chạy trở lại vào đồn như bị ma đuổi. Mình băng qua suối, bò lên tháo chốt, mở cửa lồng thả con vượn ra rồi lăn trở lại suối. Lúc ấy, bọn Mĩ trên đồn mới hoàn hồn, trút đạn xuống khu rừng như đốt pháo tết. Mình theo suối chạy một mạch đến gần tối mới về đến đơn vị.

*

Ăn xong bữa tối, mình qua trạm xá kể cho anh em thương binh nghe chuyện bắn rơi trực thăng lúc trưa, cứu được con vượn đen lớn. Vui miệng, nói thêm:

-Con vượn được mình cứu, mắt màu nâu, mặt hình trái xoan, ngực nở không khác gì một cô thiếu nữ tuổi mười tám nhé.

Anh em thương binh cười ầm cả lên, có người còn vỗ tay đôm đốp ra chiều thích thú. Bỗng có người vỗ vào vai, mình quay lại thấy đồng chí liên lạc của thủ trưởng binh trạm đứng đó từ lúc nào rồi. Đồng chí nói:

-Thủ trưởng bảo anh lên gặp ngay.

Mấy đồng chí thương binh reo lên:

-Chắc lên để viết báo cáo lĩnh thưởng rồi, chúc mừng đồng chí nhé.

Một người đầu quấn băng, tay phải treo lên cổ, đứng dưới đất bước lại nắm tay mình, lắc lắc, nói:

-Diệt được một trực thăng lại có gần tiểu đội lính Mĩ bị chết thiêu trong ấy; chắc chắn được tặng danh hiệu Dũng sĩ diệt Mĩ rồi. Chúc mừng đồng chí!

Mình vội vàng đi theo đồng chí liên lạc, lòng lâng lâng. Đến hầm chỉ huy thấy cả ba thủ trưởng ngồi bên chiếc bàn đan bằng nứa, vẻ mặt nghiêm khắc, nên chột dạ đứng lại, dập hai gót chân, đưa tay lên đầu, nói:

-Báo cáo ba thủ trưởng, thượng sĩ Đinh Lập có mặt!

*

Hơn mười hai giờ đêm mới rời hầm chỉ huy trở lại hầm của mình, lòng nặng trĩu ưu phiền; lặng lẽ lấy võng mắc vào cây cạnh cửa hầm rồi ngã lưng mà không sao ngủ được. Tiếng côn trùng kêu rả rích, tiếng chim ăn đêm gọi nhau vọng đến nghe buồn đến não ruột. Mình bắt tay lên trán tự hỏi: Ta sai ở đâu? Thằng Mĩ ở tận bên kia bán cầu mang bom đạn đến giết người Việt Nam, hủy hoại làng xóm Việt Nam nay còn đặt bẫy săn lùng bắt thú quý hiếm của Việt Nam. Tự do kiểu Mĩ là vậy ư? Tại sao mình trừng trị bọn xâm lược, cướp nước lại có tội? Chẳng lẽ cứ trơ mắt ra nhìn bọn xâm lược ấy muốn cướp phá thế nào cũng được ư? Nhưng các thủ trưởng nói cũng có lý: Quân đội phải có kỷ luật, bộ đội phải chấp hành mệnh lệnh một cách tuyệt đối. Không có lệnh dù có phải hy sinh cũng chấp nhận.

Tóm lại, khi chưa được lệnh mà bắn máy bay phải chịu hình thức kỷ luật. Nhưng xét thành tích diệt được một máy bay và bảy tên lính Mĩ nên công và tội… huề. Ngày mai chuyển qua bộ phận hậu cần.

Thực lòng, nghĩ đi, nghĩ lại vẫn thấy áy náy không yên nên ngồi dậy, châm điếu thuốc lá, rít một hơi dài, thả khói cho bay lên tán lá cây đen sì che lấp cả bầu trời phía trên. Bỗng có tiếng thì thào bên võng:

-Thủ trưởng hút thuốc gì mà thơm thế?

Mình ngồi dậy, đưa điếu thuốc đang hút dở cho Sâm, nói:

-Làm một hơi đi.

Mặc dù hai người nói với nhau rất nhỏ, nhưng ba căn hầm bên cạnh anh em đều thức giấc kéo ra vây xung quanh. Hai điếu thuốc Chính ủy cho lúc chia tay được chuyền tay nhau qua bảy người, vèo một cái chỉ còn một mẫu ngắn không cầm được nữa. Sâm bứt một chiếc lá quấn hai mẩu thuốc còn lại, chuyền tay nhau hút cho đến khi chỉ còn tro. Sâm hỏi:

-Anh Đinh Lập kiếm đâu ra thuốc lá quý vậy?

-Lúc tối lên làm việc với các thủ trưởng, khi về được Chính ủy cho hai điếu  Điện Biên bao bạc này đấy.

Khanh, quê Ninh Bình mới được tăng cường về đơn vị, xúyt xoa nói:

-Lần đầu tiên trong đời em được hút thuốc loại này đấy, vừa đậm, lại thơm hơn hẵn thuốc lào quê em.

Mấy anh em cười ồ cả lên, mình lên tiếng:

-Khuya rồi, anh em về ngủ đi; sáng mai mình chuyển qua bên hậu cần rồi, hôm nay gặp nhau đây xem như liên hoan chia tay nhé.  

*

          Mình về phụ trách đơn vị hậu cần, và quên luôn chuyện bắn chiếc trực thăng hôm trước, tập trung vào công việc chính: thành lập các tổ bám bên trục đường chính đoạn đường được giao để sửa xe đạp cho binh trạm; một tổ tăng gia trồng rau và sắn; một tổ chế  biến lương thực, thực phẩm cung cấp cho Trạm.

    Ngừng lại nhấp một ngụm trà, anh nhìn tôi nói tiếp: Trong một lần đi kiểm tra tổ sửa xe đạp vào buổi sáng, khi đến chân đèo 719 mình không may bị bom tọa độ vùi. Không biết ngất đi bao lâu, bỗng nghe có tiếng kêu vọng đến: U…ố…t, u… ố…t, u… ố…t! Lúc đầu nghe rất xa, sau rõ dần, rồi mình mở mắt ra. Ngay sát bên cạnh, con vượn đen mắt nâu, măt trái xoan, cụt tay trái, đang dùng tay phải và hai chân bươi đất cố kéo tay mình lên; miêng không ngớt kêu: U…ố…t, u… ố…t, u… ố…t!

Thấy mình mở mắt, nó dụi dụi trán vào trán mình và có cả những hạt nước nóng hổi rơi xuống mặt. Vừa lúc bộ đội đi tìm chạy đến; con vượn đen nghe tiếng người hú đến gần, nó ngữa mặt lên nhìn lên trời, cất tiếng kêu buồn bã:

    -U…ố…t, u... ố....t, u... ố....t!

Kêu xong, nó chạy biến vào rừng. Lần theo tiếng vượn kêu, anh em đến đưa mình về binh trạm cứu chữa. Trở lại đơn vị, khi đi công tác lẻ ngủ trong rừng, sáng ra thường thấy chùm quả rừng chín và các loại lá cây xanh mới hái đặt trên võng; mình biết ngay con vượn đen cho nên ăn được. Cũng nhờ thế, đơn vị hậu cần do mình phụ trách, ngoài các món: rau tàu bay, rau má, ngọn sắn muối dưa, nay còn có thêm các loại lá cây rừng nấu canh, nước ngọt hơn cả rau ngót nhà trồng, ăn vào thấy khỏe người ra luôn. Sau này, bộ đội đi qua cung đường đơn vị mình phụ trách được ăn món canh đặc biệt nấu bằng lá rừng nên đặt tên cho món canh này là: “Canh ông Lập”!

Năm 1975, nước nhà thống nhất, đơn vị rời vùng chiến khu ra đồng bằng đóng quân rồi chuyển qua Bộ Nông nghiệp làm kinh tế nên không có thời gian trở lại căn cứ xưa nữa. Không ngờ con vượn đen ngày ấy vẫn còn, lại biết giúp người lúc gặp nạn; xem ra mình cứu nó cũng nên lắm!

*

-Ông này, có chuyện như thế mà cả chục năm làm vợ không kể cho tôi nghe với.

Lườm chồng một cái, chị Vũ Phương nói thêm:

-Hai anh em ăn chuối đi, tôi ra vườn đây.

Chị Vũ Phương đi cửa sau xuống bếp. Anh Đinh Lập nhìn ra cây xoài trước sân, nói:

-Cây xoài rừng này lấy hạt từ những quả con vượn cụt tay ấy cho mình trong căn cứ cũ mang về đấy, tuy quả nhỏ nhưng chín ăn ngọt như đường phèn. Chủ nhật tuần sau Hùng thu xếp đi cùng mình vào thăm lại đồi Mĩ, may ra ta có thể gặp lại cố nhân.

Tôi vui vẻ nhận lời. Bất chợt, trên cây xoài, đôi chim cu không biết từ đâu bay đến, cất tiếng gáy: cúc cù cu, cúc cù cu... như một bản nhạc đồng quê, nghe xao xuyến đến nao lòng.

Buôn Ma Thuột, mùa mưa năm 2025


Thứ Sáu, 2 tháng 5, 2025

NGƯỢC DÒNG SREPOK truyện ngắn của HỒNG CHIẾN - VANVN.VN ngày 18 tháng 4 năm 2025

 


Bính bong… bính bong… bính bong!

Dàn chiêng của buôn nổi lên lan tỏa trên mặt sông, dội vào cánh rừng già như tiếng kêu bi ai, nghe não lòng. Hôm nay nhà amí(1) H’Lan làm lễ bỏ mã. Theo phong tục của người Êđê, khi người vợ có đủ vật chất sẽ tổ chức làm lễ cúng bỏ mả, tiễn linh hồn người chồng về làng Ma; sau lễ sẽ quên luôn mộ người chồng cũ để đi bắt chồng mới. Trong lễ bỏ mả, có lễ đâm trâu. Trong lễ đâm trâu, người chủ con trâu làm thủ tục, khóc và than thở với con trâu chuẩn bị đâm: tao với mày là bạn, sướng khổ có nhau, nay tiễn mày về với Yang(2)… tiếng chiêng ngân lên đệm cho lời than của chủ nhân.

Sau nghi lễ khóc trâu đến nghi lễ đâm trâu rất rùng rợn: ông thầy cúng lại lầm rầm khấn vái, chiêng trống nổi lên, một người đàn ông khỏe mạnh, cởi trần chỉ mặc một chiếc khố nhảy múa quanh con trâu đã bị buộc cổ vào một cây cột chôn gần ngôi mộ người chồng xấu số. Nhảy một lúc, ông ấy vung giáo lao một phát trúng vào ức con trâu, máu phọt ra, con trâu giãy dụa một hồi rồi gục xuống; nếu nhát lao không trúng chỗ hiểm của con trâu, họ lại nhảy múa và đâm tiếp đến khi con trâu chết mới thôi. Trong lễ bỏ mả toàn bộ người dân trong buôn của gia chủ – người vợ, còn thêm khách là người của buôn bên gia đình nhà người chồng đến chứng kiến. Ngoài con trâu đực lớn bị người ta cột cổ vào cây để đâm khi làm vật tế ra còn có thêm vài con bò, hàng chục con heo, gà… cũng bị thịt, làm đồ ăn cho mọi người tham gia lễ cúng. Đã là cúng bỏ mả thì chỗ làm lễ phải ngay bên ngôi mộ người chết sắp bị bỏ và người ta tổ chức ăn uống cả ngày lẫn đêm ngay bên cạnh đó luôn.

Trong đám lễ, ông thầy cúng nổi bật nhất vì mặc chiếc áo thêu nhiều màu sặc sỡ, dài đến tận đầu gối che khuất luôn chiếc khố đen bên trong. Ông khấn vái xong một bài, lại vít cần rượu uống; uống rồi lại khấn, thâu đêm suốt sáng đến ba ngày ba đêm như thế.

Không biết cái lời nơi miệng với bài cúng trong đầu có giống nhau không, nhưng Yang trên trời chắc hiểu rõ cả nên mây vẫn bay, trời vẫn nóng oi ả vì mùa khô Tây Nguyên như thế. Còn đám người lớn cũng vậy, họ chỉ lo ăn, lo uống và đêm còn hát nữa, hát đến khi mệt thì kéo nhau ra lùm cây, hay chỗ vắng ôm nhau ngủ, ngủ dậy lại uống… lễ bỏ mả là vậy.

Đám trẻ lau nhau thấy người ta làm lễ cúng bỏ mả thích lắm, tha hồ ăn, tha hồ chơi và tha hồ nghịch ngợm mà không bị la mắng vì… ai cũng say cả rồi. H’Uyên con gái út của già làng(3) năm nay vừa tròn mười bốn, khuôn mặt như trăng rằm, tóc hoe hoe đỏ, quăn tự nhiên như người thành phố đi uốn. Trong số mấy chục đứa bạn cùng tuổi, kể cả nam và nữ trong buôn hình như đã thỏa thuận ngầm với nhau đều nhất nhất tuân theo ý kiến H’Uyên, không bao giờ tranh cãi. H’Uyên không thích uống rượu cần, cũng không ham ăn đồ cúng nên chỉ đứng nghe người ta đánh chiêng, khóc trâu một lúc rồi lại gần Y Nhớ, đá vào khủy chân bạn, làm bạn khụy xuống. Y Nhớ bực mình, quay lại định vung tay đấm kẻ gây sự; nhìn thấy H’Uyên đang nở nụ cười tươi như hoa liền hỏi:

– Có chuyện gì à?

– Ta lấy thuyền đi chơi nhé.

– Xin ama amí(4) chưa?

– Say xỉn hết rồi, ai còn nhớ gì đâu mà phải xin. Đi không?

– Đi.

– Gọi thêm Vân nữa.

– Ừ!

H’Uyên chạy về nhà lấy đồ, Y Nhớ đi tìm Vân – người bạn học cùng lớp. Ba Vân làm bác sỹ, còn má Vân là cô giáo xứ Thanh, họ gặp nhau trên cao nguyên rồi nên vợ nên chồng, định cư luôn ở cái buôn thơ mộng bên dòng sông Serepok – con sông chảy ngược, bắt nguồn từ phía đông đổ nước qua phía tây. Trong cái buôn hơn ba trăm nóc nhà dài, chỉ có nhà Vân là hộ người Kinh duy nhất. Trong lớp H’Uyên chơi thân với Y Nhớ và Vân, tạo thành bộ ba thường tổ chức các cuộc quậy phá bạn bè cùng trang lứa. Lũ bạn nhiều lúc bực lắm nhưng đều phải cười trừ. Hôm rồi, H’Uyên cầm một chùm quả dâu da chín đỏ, nặng trĩu tay đưa cho Vân cầm để ba đứa đứng dưới gốc cây phượng gần cổng trường bóc ăn. Mấy đứa bạn trai học cùng lớp thấy vậy kéo lại ăn cùng. Cả đám đang ăn vui vẻ bỗng Y Trang nhảy dựng lên như trúng tà, tay múa may loạn xạ, rồi tụt luôn áo đang mặc quẳng đi, làm đám bạn xanh mặt. H’Uyên thấy vậy, cười nghiêng ngã. Bọn bạn không hiểu điều gì vừa xảy ra, đứng vây tròn lấy Y Trang. Một lúc sau ngớt cười, H’Uyên bảo:

– Y Trang bị trúng gió à?

– H’Uyên chơi xấu.

Y Trang đỏ mặt lầu bầu, H’Uyên trả lời:

– Ơ sao lại đổi cho mình vậy, chuyện lạ kỳ chưa, có các bạn đây làm chứng nhé. Chắc Yang phạt thì có.

– Yang gì mà có chuyện bỏ thạch sùng vào cổ áo người ta, không H’Uyên còn ai vào đây nữa?

Mãi đến lúc này mọi người mới biết, H’Uyên đã bắt sẵn con thạch sùng dấu vào trong bàn tay, chờ lũ bạn xúm vào ăn dâu gia mới thả vào trong cổ áo Y Trang. Con thạch sùng vừa thoát khỏi tay người, bám vào da lưng để chạy, nhưng mắc áo nên chạy lung tung trên lưng…

Một lần khác, H’Uyên đến lớp, mặt tươi tỉnh, trên tay cầm một gói báo đùm một chùm quả màu đỏ tươi, nhìn giống như hạt lúa nhưng to hơn đầu đũa một chút. Trãi tờ giấy lên lan can lớp học, bốc từng quả bỏ vào miệng ăn ngon lành. Mấy bạn trai người Kinh lớp bên thấy thế xúm lại bốc ăn, rồi ôm miệng kêu. Lúc đó H’Uyên mới bỏ chạy vào lớp cười như bị ma làm. Té ra quả đỏ, đẹp ấy là quả gắm, mọc hoang trong rừng già, phía dưới lớp vỏ đỏ tươi, mọng nước có một lớp lông nhỏ ly ti rất cứng, người không biết cắn vào bị lông cắm vào môi… đau lắm.

Lại một lần đám bạn trai đang gân cổ lên cãi nhau về chuyện chơi cù, không ai chịu ai, H’Uyên bước tới bảo;

– Ê, có chuyện gì nói tao phân giải cho.

Cánh bạn trai tranh nhau nói, giải thích để chứng minh bên mình thắng, H’Uyên thản nhiên lắng nghe, thỉnh thoảng lại đưa lên miệng một quả nhai, hơi nhăn mặt một chút như bị chua làm mấy anh bạn đang cãi nhau chảy nước miếng xòe tay xin. Khi ấy H’Uyên mới chìa tay trái dấu sau lưng, cầm một bao giấy gói quả cây ra; đám bạn trai vội vã tranh nhau lấy, hí hửng bỏ miệng nhai. Đến khi ấy H’Uyên mới vùng bỏ chạy để đám bạn trai hùng hục chạy đuổi theo đằng sau, vừa chạy vừa khạc nhổ ầm ĩ vì ăn phải quả chiu liu đắng ngắt.

Chuyện nghịch của H’Uyên, kể cả ngày không hết, nhưng được cái học giỏi và khéo tay nên bạn bè đều phục. Hình như Yang sinh ra cô con gái Êđê này để làm thủ lĩnh thì phải, việc lớp thì khỏi nói, chỉ đạo đâu ra đấy, ai cũng vừa lòng. Hôm nay rủ hai cậu bạn thân lấy thuyền đi chơi, đây là việc lạ với vùng này, chuyện chèo thuyền là của đàn ông, đàn bà chỉ ngồi trên thuyền thôi, vậy mà…

Khi Vân và Y Nhớ ra đến bờ sông đã thấy H’Uyên ngồi trên thuyền từ lúc nào rồi.

Trên thuyền ngoài chiếc gùi, còn có xà gạc (5), cây lao và cây chĩa. Chờ hai bạn lên thuyền H’Uyên mới tháo dây buộc, đẩy thuyền ra rồi bảo:

– Bây giờ còn khỏe ta ngược dòng lên phía đông thượng nguồn chơi, chiều về xuôi dòng đi cho khỏe. Cả bọn nhất trí, Y Nhớ ngồi mũi thuyền chèo phụ với H’Uyên; con thuyền từ từ nhắm phía đông thẳng tiến. Sông Serepok mùa mưa gào thét kinh khủng lắm, nước trên thượng nguồn đổ về như sự dận giữ của Yang, cuốn phăng cả những cây to đùng cùng cành, lá, gốc rễ. Nhưng mùa khô nước trong xanh, êm ái chảy quanh buôn. Không biết tự bao giờ, người dân chỉ làm nhà bên trái dòng sông, còn bên phải là rừng già, rừng rộng đến mức: nếu người cưỡi voi nhắm hướng tây đi cả mùa trăng cũng chưa hết rừng.

Con thuyền ngược nước từ từ tiến lên, tiếng chiêng trầm bổng nhỏ dần rồi mất hẳn. Vân quay lại nói với H’Uyên:

– Đưa mình chèo cho một lúc nào.

– Ô, Vân cũng biết chèo thuyền à?

– Phải thử chứ, đàn ông không có việc gì là không làm được.

– Đây, chèo đi.

Cầm mái chèo, Vân thọc xuống mặt sông vít mạnh, con thuyền quay ngang, nếu H’Uyên không nhanh tay túm lấy áo kéo lại, chắc Vân đã cắm đầu xuống sông. Khuôn mặt có nước da trắng hồng như con gái của Vân tái mét, H’Uyên cười phá lên:

– Ô đàn ông, đàn ông giỏi, có cái gì mà không làm được, nhất là chèo thuyền bằng… đầu!

– M… ình m… ình tưởng cứ thọc mái chèo xuống sông, kéo mạnh về phía sau là được.

– Cậu phải lựa thế khi đưa mái chèo xuống nước như thế này này… rồi kéo mạnh về phía sau.

Y Nhớ vừa hướng dẫn vừa làm mẫu để Vân làm theo. Tuy mới có mười lăm mùa rẫy – cách tính tuổi của người Êđê, vì mỗi năm người dân nơi đây chỉ làm rẫy một lần trong năm vào mùa mưa; Y Nhớ đã ra dáng đàn ông: khuôn mặt vuông chữ điền, tóc quăn tự nhiên hình như không bao giờ chải, có ít sợi phủ xuống vầng trán rộng; đôi mắt đen láy lúc nào cũng nhìn thẳng. Con trai Êđê vùng này ai cũng có nước da đặc trưng như màu chiêng đồng mới đúc xong, nhìn qua đã thấy tràn căng sức sống – Vân thầm nghĩ.

Dòng sông như một con trăn khổng lồ uốn lượn qua các cánh rừng già mượt mà xanh tốt, vươn mãi về phía núi cao mờ mờ phía đông. Con thuyền men theo ven bờ phía nam cứ ngược sông mãi về phía đông, thỉnh thoảng có đoạn bờ sông bị nước ăn vào, bờ dốc thẳng đứng, H’Uyên nói:

– Y Nhớ xem có con cá nào lớn bắt mấy con ăn trưa đi.

– Được.

Bỏ bơi chèo xuống lòng thuyền, Y Nhớ lấy cây chĩa ba mũi làm bằng sắt dài hơn gang tay được gắn vào thân cây mây già, to hơn ngón chân cái một tý, dài gần sải tay, ra đứng đầu thuyền chăm chú nhìn xuống nước. Thấy bạn chăm chú nhìn mặt nước khi thuyền đi gần bờ, Vân bảo:

-Ơ, bắt cá phải ra giữa sông chứ vào sát bờ, đất lở ầm ầm thế kia thì có con cá nào ở đó mà bắt.

-Vân có kinh nghiệm bắt cá sông quá nhỉ, bạn đã từng bắt được con nào chưa?

H’Uyên nói xong, nở một nụ cười độ lượng. Vân cũng cười theo, chống chế:

-Mình đọc sách, người ta dạy thế mà.

-Bụp!

Chiếc chĩa trên tay Y Nhớ lao vút xuống mặt nước, kèm theo tiếng kêu như đâm phải vật gì. H’Uyên dùng mái chèo, ghì con thuyền dừng lại để Y Nhớ rút cây chĩa lên.

Trên đầu mũi lao, một con cá lăng, da trơn, bên mép có mấy cái râu dài phải hơn ba gang tay; đầu bẹp, thân tròn như bắp chân đang cố vùng vẫy nhưng không thể thoát ra được. Bỏ cá xuống lòng thuyền, Y Nhớ lại đứng mũi thuyền chăm chăm nhìn mặt nước rồi lại vung tay, mũi lao bay về phía trước, khi kéo lên lại một con cá trông như cá chép, thân đen nhưng miệng có môi dày và đỏ như tô son, to hơn bàn tay xòe ra.

-Vậy là đủ bữa trưa chưa?

Y Nhớ quay đầu lại hỏi, H’Uyên trả lời:

-Được rồi đấy.

-Ghé cây đa to kia ăn trưa nhé.

Vân chỉ cây đa to, cành lá sum sê, tỏa bóng xuống mặt sông phía trước mặt nói; H’Uyên gật đầu, trả lời:

-Đồng ý.

Thuyền ghé vào bờ, Y Nhớ nhảy xuống đất, túm dây buộc thuyền vào rễ cây để H’Uyên khệ nệ mang gùi bước xuống. Cô bạn thật chu đáo, trong gùi ngoài bầu đựng nước, còn có: một xoong đựng cơm, gói muối bự, ba cái thìa, một cái chén, hộp quẹt ga…

Vân ngạc nhiên hỏi:

-H’Uyên mang cả cái bếp của gia đình theo à?

-Người đi rừng phải chuẩn bị vậy đấy. Hai người đi chặt củi, cây phải to như bắp chân trở lên mà chưa mục nhé, mục không có than đâu.

-Nhất trí!

Vân vui vẻ trả lời rồi chạy theo Y Nhớ vào rừng. Chỉ một thoáng, hai đứa đã lôi lại, chất gần gốc cây đa bốn khúc cây củi lớn. Rừng già, cành cây bị gió quật gãy nhiều nên kiếm củi cũng dễ. H’Uyên chặt hai cây to hơn ngón tay cái một chút thọc vào miệng cá, giao một con cho Vân bảo:

-Vân để gần than nhưng không được chạm vào than, cá cháy đi mất ngon.

-Dễ ợt, mình làm được. Vân trả lời rồi đón con cá từ tay bạn. Lúc đầu cầm con cá còn nhẹ, sau vài lần trở cá, hình như con cá trên hai ký cứ nặng dần, nặng dần làm khuôn mặt Vân mồ hôi nhỏ giọt, tay cầm cá cứ chực rớt xuống than. Nhìn thấy thế, H’Uyên bật cười bảo:

-Đàn ông Yoan (6) cái gì cũng làm giỏi nhỉ, nhất là nướng cá thế này… Thôi đặt xuống đây, ai lại cầm như vậy bao giờ.

Đặt hai hòn đá bên cạnh đống than, H’Uyên gác hai con cá lên trên, thỉnh thoảng lật qua, lật lại cho cá chín đều. Vân nhìn bạn mặt đỏ lên, chắc không phải là nóng.

Y Nhớ lại đi vào rừng, một chốc về, tay xách một chùm quả chay, tay cầm thêm mấy tàu lá chuối tươi. Chay rừng, quả chỉ to bằng quả trứng gà, màu vàng như chanh chín, trông rất đẹp mắt. H’Uyên hái thêm lá rau lốt, lá giang mọc bên gốc đa mang góp vào. Trải lá chuối làm mâm, đặt quả chay lên rồi xếp hai con cá chín vàng ruộm, mùi thơm bốc lên ngào ngạt, H’Uyên vui vẻ nói:

-Mời hai vị khai tiệc.

Thế là cả bọn dùng tay bẻ cá chấm muối, ăn. Nhìn mắt ai cũng long lanh, Vân bốc một miếng cá chấm muối, bỏ vào miệng, lấy thêm một cái lá rau lốt nữa, vừa nhai vừa xuyết xoa:

-Ngon quá, mình chưa bao giờ được ăn ngon đến thế.

H’Uyên thấy vậy bật cười, bảo:

-Yang ạ, ai lại ăn thế thì ngon cái nỗi gì. Nhìn đây: lấy lá lốt xòe ra, bỏ thêm một cái lá giang vào rồi mới bỏ cá vào giữa, cuốn lại, chấm muối…

– A, biết rồi, dễ ợt thôi mà.

Vân hơi đỏ mặt, trả lời bạn. Mặt trời đứng trên đỉnh đầu, đổ nắng xuống dòng sông, từng cơn gió nhẹ từ mặt sông ào đến như quạt cho ba người bạn. Xa xa tiếng chim gầm gì(7) chào hỏi nhau làm rộn rã cả không gian như đang cùng nhau hòa bản nhạc mừng ba bạn trẻ lần đầu ngược dòng Serepok.

– H’Uyên ơi, tại sao các bạn trong buôn lại gọi bạn là Tù trưởng (8)?

Nuốt xong miếng cơm trong miệng, H’Uyên mĩm cười, bảo:

– A, ngày còn nhỏ ấy mà; chuyện là vầy…

NGUYỄN HỒNG CHIẾN

______________________

Chú thích tiếng Êđê:

(1) Amí:má;

(2) Yang: thần linh;

(3) Già làng: người được kính trọng nhất trong buôn;

(4) Ama amí: ba má;

(5) Xà gạc: con dao dùng phát rẫy, đi rừng;

(6) Yoan: người Kinh;

(7) Gầm gì: một loài chim bồ câu rừng lông màu nâu hoặc xanh lá cây sống ở Tây Nguyên;

(8) Tù trưởng: là người đứng đầu hay thủ lĩnh của một bộ lạc.


Thứ Hai, 7 tháng 4, 2025

NGÀY GẶP LẠI truyện ngắn của HỒNG CHIẾN - BÁO VĂN NGHỆ VIỆT NAM số ra ngày 18 tháng 3 năm 2025

 https://baovannghe.vn/ngay-gap-lai-truyen-ngan-cua-hong-chien-20397.html



- Thầy ơi, chốc nữa xe chạy qua buôn, em mời thầy cô và các bạn ghé nhà em uống nước rồi hãy về ạ.

-Nhà có gần đường không?

-Cách đường chưa đến trăm mét đâu ạ.

-Vậy thì được.

H’Phi, trại viên của Trại Bồi dưỡng sáng tác thơ văn “Hương rừng”. – Trại dành riêng cho các em là thanh thiếu niên đồng bào dân tộc thiểu số của tỉnh đi thực tế từ thành phố Nha Trang về. Đạt được mời làm Trưởng Trại hướng dẫn các em. Trại năm nay có hai mươi cây bút trẻ, H’Phi sinh viên năm thứ nhất khoa Sư phạm cũng được mời để tham tham gia quản lí trại viên.

Xe tách quốc lộ rẽ vào đường bê tông rồi dừng lại trước một quán lớn bên đường. Trại viên ùa xuống xe, H’Phi đi lại bên Đạt, nói:

-Mời thầy xuống thăm nhà em ạ.

-Em xuống trước đi.

Đạt vừa rời xe bước xuống sân, một người đàn bà từ trong nhà chạy ùa ra, kêu lên:

-Thầy, em chào thầy!

Đạt ngạc nhiên kêu lên:

-Liên!

Người đàn ông đứng bên cạnh cao khoảng mét tám, người to như lực sĩ, nắm chặt tay Đạt, giọng nghèn nghẹn:

-Thầy!

-Y Go, thế này là thế nào?

-Dạ. H’Phi là con gái đầu của vợ chồng em đó thầy. Mới đó đã mười chín năm rồi.

H’Phi tủm tỉm cười rồi nói:

-Thưa thầy, em dành cho thầy chút bất ngờ: đây là ba má em cũng là học trò cũ của thầy. Giới thiệu với ba má, thầy Hoàng Đạt hiện nay là Phó Tổng biên tập, người trực tiếp hướng dẫn chúng con ở Trại đợt này đấy ạ.

Nhìn vợ chồng Y Go, kỷ niệm cũ ùa về...

-Bốp!

-Tùm!

Đang căng mắt nhìn chiếc phao câu nhấp nháy trên mặt nước, tư thế chuẩn bị giật thì nghe như có tiếng ai bị đánh rơi xuống nước. Quay lại thấy Y Go lóp ngóp dưới suối, Đạt đứng bật dậy, buột miệng hét lên:

-Y Go!

-Đứng im.

Nòng súng lạnh ngắt thúc một cái rất mạnh vào lưng đau điếng cùng với tiếng nói lạnh lùng vang lên. Quá bất ngờ, Đạt chỉ còn biết đứng im, liếc mắt nhìn qua bên cạnh. Không biết nhóm người lạ đến bên từ lúc nào, hai thanh niên người bản địa, mặc quần áo rằn ri đã cũ, lưng và mông có vài miếng vá, tay lăm lăm súng AR15 chĩa vào Y Go. Y Go vừa lóp ngóp bò lên khỏi dòng suối, cả hai người lạ lao lại đánh tới tấp vào đầu, vào mặt, hất Y Go văng xuống suối, chìm nghỉm một lúc sau mới nhô lên được. Một tên đứng trên bờ quát:

-Lên đây!

Y Go không nói gì, từ từ leo lên hòn đá nơi hai người lạ đang lăm lăm súng như định bắn. Đứng chưa vững, một tên đã đấm thẳng vào mặt, máu mũi trào ra. Tên đứng bên cạnh cười nham nhở rồi khoác súng lên vai đưa một cây nứa to bằng cổ tay, dài khoảng mét rưỡi, một đầu chẻ làm sáu bảo Y Go:

-Hai tay cầm chặt vào.

Hắn cầm đầu cây nứa không chẻ, giật mạnh; Y Go hét lên một tiếng đau đớn, xòe hai bàn tay ra thấy nhiều đường vạch trắng tinh đang từ từ ứa máu. Máu từ hai bàn tay vọt ra, chảy thành dòng rơi trên mặt đá. Tên cầm súng cất tiếng cười man rợ, nói:

-Chào ngài Đội phó lực lượng 04!

Tên còn lại quăng cây nứa xuống suối, nói:

-Đây là món nợ mày phải trả cho những người anh em chúng tao đã ngã xuống dưới làn đạn của mày ở dốc Đá, trại bò ông Nguyễn Cao Kỳ, dốc Cổng Trời…

-Chúng mày giết bộ đội, công an rồi bắn vào buôn Đắk, đốt cháy mười ba nóc nhà dài làm hơn hai chục thầy cô và học sinh trường nội trú dính đạn. Chúng mày cài lựu đạn ở đồi Không Tên phía sau trạm Kiểm soát Quốc lộ 21 làm mười ba em học sinh trường nội trú cuốc đất tăng gia đổ gục. Đêm đêm chặn đường, đốt xe ô tô giết người ở dốc 69, cầu 70, chân đèo 519… thì sao?

-Chúng tao đấu tranh cho người bản địa Tây Nguyên, đánh đuổi bọn Yoan (1) ra khỏi vùng đất của mình.

-Thế những em thiếu nhi người Êđê có tội tình gì mà chúng mày cũng thẳng tay bắn giết, bỏ thuốc độc vào thức ăn?

-Bốp! Bịch! Bịch.

Hai tên không trả lời mà vung tay, chân, đấm đá túi bụi vào người Y Go. Một giọng nói phụ nữ bất ngờ vọng đến:

-Trói nó lại.

Chúng trói Y Go “giật cánh khỉ”, hai tay vòng ra phía sau lưng. Tên đứng bên thúc mũi súng một cái thật mạnh vào hông Đạt, quát:

-Cỡi đồ dài ra.

Đạt làm như cái máy, cởi chiếc áo màu xanh dài tay cùng chiếc quần ka ki đã cũ đặt lên mặt đá. Tên đứng sau lưng không nói gì, bỏ súng vơ quần áo Đạt vừa cởi ra mặc vào rồi móc túi sau lôi ví mở ra xem, reo lên:

-Yang (2) ơi, thằng Yoan này có nanh cọp to lắm.

Cả ba tên xúm lại chuyền tay nhau xem chiếc nanh cọp tìm thấy trong bóp của Đạt. Giọng phụ nữ quen quen từ xa vọng đến:

-Chiếc nanh cọp này mày lấy ở đâu?

-Bạn gái tôi tặng.

-Bốp!

Một cái tát làm Đạt tối tăm mặt mũi, cùng với câu nói vang lên:

-Trả lời với bà Đại úy Quận trưởng thế à?

Tiếng người phụ nữ tiếp tục vọng đến:

-Của người yêu tặng?

-Đúng.

Tên đứng trước mặt lại vung tay lên định đấm, người đứng sau lưng nói:

-Thôi!

-Dạ!

-Chúng mày cột Y Go vào gốc cây kia, kiếm củi về thiêu sống nó để trả thù cho anh em chúng ta đã bị nó giết. Chào thầy giáo, thầy vẫn khỏe chứ?

Đạt từ từ quay mặt lại nhìn người đứng phía sau. Hắn cao gần mét bảy, đầu đội mũ sắt của lính Mĩ đã bong hết sơn, người mặc bộ quần áo lính dù, ngang hông đeo khẩu súng ngắn; hình như khuôn mặt trái xoan, mũi rọc dừa và đặc biệt… đôi mắt. Ôi, đôi mắt, lẽ nào lại là…, Đạt buột miệng kêu lên:

-H’Ni!

-Em đây!

Người lạ bỏ mũ sắt xuống, Đạt trố mắt ngạc nhiên, hồi ức trở về…

Năm 1979, trường nội trú có dấu hiệu không bình thường, thỉnh thoảng lại có một nhóm học sinh lớn bỏ học trốn vào rừng. Trước tình hình ấy, Đạt được điều về trường phụ trách lao động. Về trường chưa được hai tháng thì trường xảy ra chuyện: các em ngày ba bữa đến bếp tập thể ăn rồi lên lớp học bình thường nếu giáo viên miền Nam dạy; còn giáo viên miền Bắc đến thì đập bàn, reo hò ầm ĩ, không chịu học. Nhưng có điều lạ, Đạt cũng giáo viên quê xứ Thanh dạy môn văn, vào lớp nào học sinh cũng rất chăm chú nghe giảng.

Đã bốn ngày trôi qua, huyện cử nhiều đoàn xuống gặp gỡ giáo viên, học sinh tìm hiểu, động viên mà vẫn chưa khôi phục lại được trật tự. Anh chị em giáo viên miền Bắc vào dạy tại trường được Phòng Giáo dục rút về học chính trị hết. Buổi chiều chỉ còn mình Đạt ở lại khu nội trú. Khoảng mười sáu giờ H’Ni bưng xoong hàng ngày vẫn chia cơm cho học sinh lên phòng Đạt; trong xoong có bốn cái bánh bao to hơn bình thường vẫn làm chia cho học sinh và giáo viên ăn – ngày ấy, khẩu phần lương thực độn bảy mươi phần trăm nên bột mì, khoai lang, sắn… là đồ ăn chính. Ngồi đối diện, H’Ni lấy một cái bánh bẻ đôi, phía trong bánh có cả một miếng thịt heo lớn đưa cho Đạt phần có thịt, nói:

-Em mời thầy!

-Cảm ơn chị, tiêu chuẩn mỗi người có một cái sao mang cho tôi nhiều thế?

-Em già lắm à thầy?

H’Ni hỏi lại, làm Đạt lúng túng không biết trả lời sao. H’Ni hơn Đạt hai tuổi, đã học hết bậc tiểu học dưới chế độ cũ – phụ nữ thời ấy ở xứ này học như vậy được xem là trí thức. Người cao, mảnh, khuôn trái xoan, hàm răng trắng như tranh vẽ trên kem đánh răng, mắt lá răm sắc sảo, chưa bắt ai làm chồng. Thành lập trường, cô được tuyển vào làm cấp dưỡng và giao quản lí mười hai người trong bộ phận nấu ăn. Đạt mới về, không biết có gì đặc biệt mà được ưu ái hơn, trong các bữa ăn thường được đích thân bếp trưởng bê cho. Thỉnh thoảng khi rỗi việc H’Ni lên nhờ Đạt kèm thêm môn văn. Thực lòng, Đạt cũng có cảm tình nên thỉnh thoảng đọc thơ, kể chuyện cho H’Ni nghe. Hàng ngày H’Ni gọi Đạt bằng thầy, Đạt gọi lại bằng chị, vậy mà hôm nay… câu hỏi khó không trả lời được nên đành cười trừ. H’Ni nói:

-Người Kinh có câu tục ngữ: một chữ cũng là thầy, nửa chữ cũng là thầy; vậy mà em được thầy dạy cả ôm chữ rồi, sao vẫn gọi là chị ạ. Em già quá hay không xứng là học trò của thầy?

-Thôi được, tôi sẽ gọi tên nhé.

-Đã nhận là học trò thì phải gọi là em chứ, thầy không thể gọi H’Ni một tiếng em được sao?

-Thôi được, từ nay sẽ nhận em H’Ni làm học trò.

-Em cảm ơn ạ. Nhân ngày quan trọng này, em tặng thầy vật này làm kỉ niệm.

H’Ni lấy trong túi áo ra chiếc răng nanh cọp đặt vào tay Đạt, nói nhỏ:

-Em cảm ơn anh đã nhận.

Nhìn ánh mắt H’Ni như có ngọn lửa trong ấy, Đạt thoáng đỏ mặt. Vừa lúc đó có cô học trò lớp chín chạy xộc vào phòng, thở không ra hơi, nói:

-Thầy ơi, công, công… an!

Đạt buông tay H’Ni, hỏi:

-Công an làm sao?

-Công an đến trường nhiều lắm, vây kín nhà bếp rồi ạ.

Nhìn H’Ni thấy cô tái mặt tỏ vẻ hoảng sợ, Đạt nói:

-Em ở đây với cô H’Ni để thầy xuống dưới ấy xem sao.

Đạt đi như chạy xuống đến khu nhà bếp đã thấy công an đưa cả mười hai cô cấp dưỡng của nhà trường lên hai chiếc xe bịt kín. Số bánh mì chuẩn bị bữa ăn chiều cũng bị khuân lên xe. Đạt chặn đầu xe hỏi:

-Đây là bữa ăn tối của thầy và trò trường chúng tôi, các anh lấy hết thì học trò nhịn đói à?

-Anh là ai?

Người đeo quân hàm Thiếu úy chắc chỉ huy bước đến hỏi.

-Tôi là giáo viên Phụ trách lao động của trường.

-Anh là thầy Đạt phải không?

-Chính tôi.

-Chúng tôi được báo toàn bộ số bánh này đã bị bỏ thuốc độc nên không thể ăn được. Bọn phản động định đầu độc học sinh để vu khống chế độ ta và phá trường. Bữa chiều nay của thầy và trò Trường Nội trú lãnh đạo huyện đã có phương án xử lí rồi, thầy yên tâm.

Xe công an rút đi, học sinh của trường ùa đến bên cạnh Đạt, đứa nắm áo, đứa nắm quần; mấy em lớn nói với nhau:

-Thầy mình oách thật, nạt cả một rừng công an luôn.

-Thầy vì học trò mà, gan thật.

Đạt bảo:

-Các em về phòng nghỉ đi, chờ thầy Hiệu trưởng về rồi tính.

Các em nghe lời, tản đi. Đạt về phòng mình thì không thấy H’Ni và cô học trò đâu cả. Trên giường Đạt nằm, váy và áo của H’Ni được gấp để cuối giường. Nhìn lên móc, thấy mất bộ đồ dài. Khi vụ án ở trường khép lại, Đạt mới biết H’Ni là Trung úy Fulro; mười một cô cấp dưỡng là quân của cô ấy.

-Thầy ơi, em xin lỗi thầy ạ.

Bất ngờ Y Go kêu lên, Đạt quay qua trả lời:

-Không phải lỗi của em.

-Nếu em không rủ thầy vào đây câu cá thì đâu xảy ra chuyện này.

Y Go nói với tôi xong quay qua nói với đám lính:

-Chúng mày có đánh, có giết thì nhằm tao đây nè. Thầy giáo vào đây cho con em chúng ta cái chữ, không có tội gì cả, tha cho thầy ấy đi.

Ba tên lại lao đến đấm đá Y Go túi bụi, máu mồm, máu mũi trào ra ướt đẫm chiếc áo may ô màu cháo lòng đã lũng vài chỗ. Một tên nói:

-Ốc không lo được thân ốc còn lo đèo thêm rêu, sắp chết đến nơi rồi còn xin cứu người khác.

Y Go không kêu ca khi bị đánh đau, nhưng trong mắt như có ngọn lửa. Hôm qua gặp Đạt đi vào buôn tìm việc làm nên Y Go rủ thầy giáo cũ đi bắt cá suối về bán. Vợ Y Go người Kinh trước làm cấp dưỡng cho Đội công tác của huyện. Vì chuyện Y Go ghen, vác AK nã cả băng lên trời, giải tán đám thanh niên đến tán người mình yêu nên bị cơ quan buộc thôi việc, đuổi về buôn. Cô cấp dưỡng thương người con trai thẳng tính, thật thà nên bỏ việc theo về ở cùng, họ nên vợ thành chồng. Vợ sinh con gái đầu lòng, nhà không có gì ăn nên hàng ngày Y Go đạp xe vào rừng đầu nguồn sông Ba thả lưới bắt cá về đổi gạo nuôi vợ con. Trước đây vợ chồng Y Go có theo học bổ túc văn hóa Đạt dạy. Đạt dạy văn thường dành khoảng năm phút cuối khi sắp hết tiết kể chuyện về quê hương miền Bắc nên được học viên quý lắm. Nay thấy thầy bị đuổi việc, phải đi làm thuê kiếm sống nên rủ thầy đi đánh cá. Không ngờ ngay buổi đầu tiên đã thế này… Y Go thở hắt ra như con bò kéo xe quá tải ngược dốc.

H’Ni quay lại nói với đám lính:

-Vơ nhiều củi lại để nướng hắn cho chín.

Bọn lính được lệnh lẫn luôn vào rừng. Đạt nói:

-Bà Quận trưởng ốm đi nhiều quá.

-Cảm ơn anh. Anh cũng già và đen như người Êđê rồi.

-Cái số nó vậy mà.

-Em biết và luôn theo dõi về anh. Khi thấy anh về làm Hiệu trưởng trường to nhất huyện đã mừng; không ngờ lại bị bắt, ra tòa, rồi đuổi việc chỉ vì viết một bài báo nêu lên sự thật ở một trường.

-Quận Trưởng cũng biết chuyện của tôi?

-Dạ. Em cũng biết anh đã lấy vợ và có con, rồi…

-Li hôn?

-Em biết cả.

Đạt không thể tin một cô gái khát máu, đã ra lệnh thảm sát biết bao người vô tội ở huyện này lại có lúc cũng mủi lòng vì chuyện riêng của mình. H’Ni nhìn Đạt nói:

-Cứ cho là tại số đi nên buổi chiều hôm ấy được lệnh đầu độc giáo viên và học sinh rồi rút vào rừng em mới mang bánh lên phòng thầy nên không bị bắt.

-Hôm ấy em cũng định giết tôi?

-Không, bánh bẻ đôi, em ăn một nửa, anh ăn một nửa có sao đâu. Sợ anh đói lại xuống ăn với học trò nên em mới mang 4 cái lên cho anh ăn mà.

-Vậy à!

-Dạ.

-Váy và áo em để lại, anh bỏ vào ba lô, trốn vào rừng giặt, phơi khô rồi mang về gấp lại vẫn để dưới đáy hòm gỗ, chờ ngày trả lại cho chủ nó.

-Sao anh lại làm thế?

-Anh tin sẽ có ngày em trở về.

-Anh vào rừng với em nhé. Chúng em được lệnh di tản qua Thái Lan, sau đó rút qua Mĩ. Hôm nay là ngày cuối cùng em ở đây.

-Cảm ơn em, nhưng anh không thể đi được. Chúng ta có lý tưởng khác nhau, hơn nữa anh đang là người mang tội với chế độ mà anh quý mến, nuôi dưỡng anh trưởng thành. Anh đi sẽ không minh oan được cho mình. Và cả Y Go đây nữa, trước đây là kẻ thù của em, nhưng hiện nay hoàn cảnh cũng đáng thương lắm.

-Em biết, vợ chồng thất nghiệp, làm hợp tác xã không đủ sống nên phải đi bắt cá về cho vợ đổi gạo. Hắn đã truy lùng em khắp mọi ngóc ngách của núi rừng Chư Yang Sin(3). Một tay súng thiện xạ, một chỉ huy dũng cảm; xứng đáng là đối thủ của em.

-Em có thể cho Y Go một con đường sống không?

-Không. Bản án phải được thi hành.

-Chuyện đã qua, người ta đã từ giã vũ khí để về làm người bình thường rồi thì nên tha em ạ. Mạng con người quý lắm.

H’Ni đanh mặt lại, không nói gì thêm. Ba tên lính mang từ trong rừng ra toàn cây khô to như bắp chân chất xung quanh Y Go cao tới ngực; dưới chân còn có thêm ôm lá khô. Một tên cầm bó nứa được châm lửa cháy có ngọn hơ hơ trước mặt Y Go, hả hê nói:

- Cuối cùng chúng tao cũng bắt được mày.

H’Ni bước lại bên cạnh tên cầm đuốc bảo:

-Đưa đây.

Thấy H’Ni chuần bị châm lửa, Đạt hét lớn:

-Dừng lại đi H’Ni.

Một tên lao lại giơ thẳng chân đạp một cái rất mạnh, làm Đạt văng xuống suối, mồm quát:

-Đù...

-Đoàng, đoàng, đoàng...

Tên lính chưa nói hết câu, tiếng nổ chát chúa của đạn AK vang lên, cả H’Ni và ba tên đi cùng té ngửa, mắt trợn trừng như không tin những gì vừa xảy ra. Công an như từ trên trời rơi xuống hay từ dưới đất lao lên, ùa đến; người dập lửa, người cởi trói cho Y Go, người nhảy tùm xuống suối kéo Đạt lên bờ. Sau trận đánh đó Đạt được cử đi học, rồi chuyển ngành về thàng phố công tác. Mới đó đã hai chục năm trôi qua.

Mùa mưa năm 2022

Chú thích tiếng Êđê:

Yoan: người Kinh.

Yang: thần linh.

Chư Yang Sin: tên một ngọn núi cao ở Đắk Lắk.