Thứ Tư, 23 tháng 1, 2019

EA BLANG CẤT CÁNH bút ký của TRẦN THỊ ÁNH NGUYỆT - CHƯ YANG SIN SỐ: 317+318 THÁNG 1&2 NĂM 2019


Nhà văn Trần Thị Ánh Nguyệt          


Buổi sáng Ea Blang thu rất khẽ, mây trắng bồng bềnh trôi, nắng lấp lánh như dát vàng trên những vườn cây xanh mướt. Từng cơn gió dịu dàng thổi êm và mượt như tiếng thì thầm của đất trời trong những lúc giao hòa. Thanh âm từ các hướng vọng về, không ồn ào nhưng cũng đủ thấy sự sôi động của xã Ea Blang thuộc Thị xã Buôn Hồ đang phát triển.
Ea Blang đang mang trên mình một màu xanh ngập tràn sức sống như một nàng sơn nữ vào độ xuân thì. Cảm xúc lắng xuống, dịu ngọt tan chảy vào tim khi đi trên những con đường hai bên vườn cây trái xanh mướt đẹp xốn xang lòng. Một cảm giác bâng khuâng, ngất ngây khó tả bởi màu xanh, màu của hy vọng và màu của niềm tin cứ thế nối tiếp từ thôn này qua buôn kia. Từ những vườn bắp dập dờn lá biếc, đến những vườn cà phê xanh ngút ngàn. Trong nương rẫy, bà con cần mẫn làm việc với sự phấn khởi, áo đẫm mồ hôi nhưng miệng luôn tươi cười như dã quỳ bung sắc nắng. Thấp thoáng trong màu xanh kéo dài tưởng chừng vô tận ấy là những ngôi nhà dài và những mái nhà đỏ tươi của người dân xã Ea Blang. Cảnh vật rực rỡ, nhà cửa, đường sá, ruộng vườn đều mỡ màng biểu hiện xã Ea Blang đang vươn vai bước chắc chắn bằng đôi chân của chính mình. Xã Ea Blang đang trong sức trẻ với nhịp sống yên bình, nhân dân dạt dào niềm vui và tự hào bởi bộ mặt nông thôn được khởi sắc toàn diện.
Đó là sự thay đổi lớn lao bởi xã Ea Blang ngày trước là một địa phương nghèo nên chưa thể cất cánh. Quả thật những ngày đầu khi mới đến Ea Blang, nhìn núi rừng âm u, những đồi cỏ tranh khô cháy đến nao lòng, không ít người đi làm kinh tế mới phải cố để nén tiếng thở dài, bởi bao vất vả, thử thách đang chờ họ phía trước. Sự vất vả theo từng bước chân của người dân khi đi trên con đường đất đỏ mùa khô khi phải đón bao cơn gió đi ngang về dọc xoáy tung mù mịt bụi đỏ, mùa mưa thì lầy lội, trơn trượt. Đêm đêm những ngọn đèn dầu leo lét trong những căn nhà tranh. Cuộc sống của bà con khó khăn, luôn khép mình trong lối sống luẩn quẩn. Sáng lên rừng lên rẫy từ lúc mặt trời đang mê mải ngủ vùi trong bụng núi, chiều tất tả trở về trong ánh hoàng hôn nhập nhoạng. Dù sống trên vùng đất bazan màu mỡ, nhưng khi ấy bà con cũng chỉ biết trồng cây lúa, cây ngô, cây sắn nên oằn mình suốt cả ngày vẫn không thoát cảnh đói nghèo. Sống trong sự vất vả và lam lũ, tự đáy lòng những người dân nơi đây luôn mang trong mình một khát vọng mãnh liệt, đó là khát vọng đổi đời, khát vọng ấy như nước suối tuôn chảy mãi không ngừng. Khát vọng ấy đã khiến những người đứng đầu Thị ủy, chính quyền của Thị xã Buôn Hồ trăn trở, thao thức tìm ra một hướng đi để nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân. Với điều kiện thuận lợi là diện tích rộng, đất đai màu mỡ, chính quyền địa phương hướng người dân chú trọng trồng cây công nghiệp lâu năm như: Cà phê, sầu riêng, hồ tiêu. .. Đồng thời tổ chức cho người dân được tham gia các lớp tập huấn về ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, chăn nuôi. Đời sống của người dân từng bước được cải thiện và nâng cao khi người dân chuyển đổi đất hoa màu sang trồng cà phê với 2.244ha. Năm 2012, chủ trương đúng đắn hợp lòng dân, Đảng bộ và chính quyền Thị xã Buôn Hồ triển khai chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới tại xã Ea Blang. Chương trình đã trở thành một phong trào lan tỏa đến từng người dân, họ nhận thức được tầm quan trọng của việc xây dựng nông thôn mới chính là xây dựng cuộc sống mới cho mỗi gia đình và cho xã hội. Trong quá trình tổ chức thực hiện chương trình, Đảng ủy xã luôn xác định, nâng cao thu nhập, giảm tỷ lệ hộ nghèo cho người dân là một trong những nhiệm vụ hàng đầu, là mục tiêu xuyên suốt, quyết định sự thành công trong việc hoàn thành 19/19 tiêu chí  nông thôn mới. Đảng ủy và chính quyền xã tập trung chỉ đạo chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo mô hình xen canh các loại cây công nghiệp, cây ăn quả với nhau vừa tiết kiệm diện tích, vừa đa chủng loại cây trồng, chú trọng phát triển chăn nuôi. Tạo điều kiện để người dân tiếp cận với cơ chế chính sách khuyến khích phát triển sản xuất của Trung ương và địa phương, đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất. Người dân đi tham quan các khu vườn xen canh do Hội nông dân Thị xã Buôn Hồ tổ chức, thấy hiệu quả kinh tế cao, bà con trong xã chuyển đổi diện tích trồng thuần 240 ha sang mô hình đa cây. Năm 2014,  Phòng Kinh tế của Thị xã Buôn Hồ cấp 17 con bò sinh sản cho những hộ nghèo phát triển kinh tế, từ đó đến nay đã sinh sản thêm hơn 50 con, giúp cho các hộ từng bước thoát nghèo. Hàng năm, người dân được hỗ trợ giống cà phê, giống bắp cao sản và giống lúa mới để tăng năng suất cây trồng. Đảng bộ, chính quyền và nhân dân xã cùng cất vang bài ca “Kết đoàn” để chung sức đồng lòng, góp công, góp sức xây dựng nông thôn mới. Người dân tự nguyện đóng góp thời gian, công sức và số tiền 9,5 tỷ đồng cùng với vốn nhà nước 23,7 tỷ đồng  để bê tông được gần 16 km đường liên thôn, cứng hóa được hơn 15 km đường phục vụ sản suất, xây dựng được 2 nhà hội trường thôn và hoàn thiện khuôn viên làm nơi sinh hoạt văn hóa thể thao cho nhân dân. Trong 5 năm thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới, ý của Đảng, lòng của dân luôn quyện chặt bền đẹp tạo nên sức mạnh niềm tin để Ea Blang về đích đúng kế hoạch, năm 2017 xã hoàn thành 19/19 tiêu chí, được UBND tỉnh ra quyết định công nhận xã đạt Chuẩn Nông thôn mới.
Chương trình xây dựng nông thôn mới như  “chất xúc tác” để Ea Blang cất cánh bay lên. Diện mạo của xã vừa đẹp lại vừa sang từ những ngôi trường khang trang, trạm y tế, bưu điện đỏ, xanh màu tôn mới đến những căn nhà dài, nhà xây kiên cố của bà con. An ninh – quốc phòng được đảm bảo. Điểm vui chơi giải trí và thể thao được xây dựng lồng ghép ở nhà văn hóa của xã, đã trở thành điểm hẹn cho các thanh thiếu niên tập luyện thể thao. Tối đến khuôn viên Nhà văn hóa xã tỏa sáng lung linh bởi ánh sáng của những bóng đèn cao áp, người dân trong vùng đến giao lưu văn hóa. Những con đường bê tông uốn lượn, ôm lấy 7 thôn buôn, đường sá được mở rộng đồng nghĩa với việc xe cơ giới đi đến tận đồng ruộng, người dân không còn phải gánh gồng đi trên những con đường gập ghềnh. Xã Ea Blang thưa thớt buồn tẻ ngày nào đã nhường chỗ cho một xã trù phú. Đời sống vật chất của bà con được nâng cao, hộ giàu ngày càng tăng. Đến nay, thu nhập bình quân của người dân trong xã đạt trên 42 triệu đồng/người/năm, hộ nghèo giảm xuống còn 2,4%.
Nắng thu thơm lừng, xanh mướt trên cánh đồng lúa đang thì con gái của bà con buôn Tring. Ma Thoan và bà con trong buôn, tay liềm tay cuốc hăng say làm cỏ, be bờ, áo đẫm mồ hôi nhưng nụ cười trên môi vẫn nở, niềm vui ngời ngời trong mắt khi nhìn cánh đồng lúa rải thảm một màu xanh tươi đầy sức sống, hứa hẹn một mùa bội thu. Thỉnh thoảng những chàng trai, cô gái cất lên những làn điệu dân ca:
- Buôn Tring, kran emô kbao
  Hao hao mnie hra kieng kơ ju ea
- Tih buôn ih là ơ ju điêt
 Tring là ơ ayong a….
(- Buôn Tring, tiếng bò rộn vang
   Cười vang bến nước đàn em xinh tươi
 - Buôn của em ở đâu?
  Buôn  Tring đó anh à…)
Tiếng cười như sóng nước cuộn trào của dòng Krông Buk vang cả cánh đồng. Niềm vui đong đầy trong mắt buôn trưởng Ma Thoan khi bà con đã thoát khỏi cái vòng luẩn quẩn của nghèo đói, lạc hậu. Trước kia, phương pháp canh tác của bà con trong buôn chủ yếu là tự phát và đơn sơ: phát, đốt, tỉa, vì thế năng suất lao động thấp. Nhưng giờ thì đã khác, nhờ sự quan tâm của Đảng, Nhà nước bà con trong buôn được hướng dẫn, hỗ trợ kỹ thuật của cán bộ Phòng Nông nghiệp Thị xã Buôn Hồ, từ khâu ươm giống đến phun thuốc phòng trừ sâu bệnh, năng suất cây công nghiệp và các loại cây hoa màu ngày một tăng, cuộc sống của người dân ngày càng no ấm. Những ngôi nhà cũ bốn mùa thông thốc gió ngày nào giờ được thay bằng những ngôi nhà kiên cố mái tôn xanh, đỏ rạng ngời. Đường điện tỏa về các thôn buôn thắp sáng lung linh, thôn buôn nào cũng có nhà văn hóa được xây dựng khang trang để người dân gặp nhau chia sẻ những chuyện vui, chuyện buồn và những kinh nghiệm phát triển kinh tế. Ma Thoan ngước lên nhìn những cánh diều bay cao giữa nắng thu rực rỡ, ký ức những tháng ngày cũ dội về. Tuổi thơ của ông và những đứa trẻ trong buôn luôn nhuộm màu lam lũ, chân đất, đầu trần, da đen trũi vì cháy nắng, tóc khen khét mùi mưa gió. Tuổi thơ của con trẻ bây giờ đã hoàn toàn khác trước, chúng được đến trường đúng độ tuổi, được học tập dưới những ngôi trường khang trang như Mẫu giáo Hoa Cúc và Trường TH và THCS Đinh Núp. Trẻ em dưới 6 tuổi được cấp bảo hiểm y tế… Ma Thoan cùng bà con biết ơn Đảng và Nhà nước nhiều lắm, nhờ sự quan tâm, hỗ trợ của Đảng và Nhà nước với nhiều chương trình, chính sách giúp dân phát triển kinh tế để người dân có cuộc sống sung túc, tiện nghi, văn minh hiện đại.
Trời thu xanh ngắt hòa lẫn vào màu xanh mượt mà của những khu vườn xen canh của người dân thôn Quyết Thắng xã Ea Blang. Gió miệt mài thổi những giai điệu bình yên, từng cơn gió nhè nhẹ, rì rào trong từng kẽ lá. Những khu vườn như đang tung tẩy với gió để tỏa vào không gian mùi hương thanh diệu của mình. Thấp thoáng trong màu xanh miên man ấy là bóng những người dân đang hăng say lao động trong niềm vui và hạnh phúc. Ông Bùi Văn Đạo (thôn Quyết Thắng) phấn khởi nhìn những cây sầu riêng lúc lỉu quả, những cành cà phê nung núc trái, những quả bơ booth căng mọng gió núi mây ngàn. Khu vườn xen canh của ông, diện tích 1,5 ha, mỗi năm cho thu nhập 700 triệu đồng. Với mô hình đa cây trên một diện tích đã nâng cao thu nhập cho người dân, nhiều gia đình trở thành tỷ phú.
Đi giữa rực rỡ nắng vàng tươi, lòng dạt dào niềm vui phấn chấn bởi bộ mặt nông thôn của xã Ea Blang được khởi sắc toàn diện. Đó là kết quả của những năm tháng, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân xã Ea Blang luôn chủ động, sáng tạo, khắc phục mọi khó khăn, vươn lên phát triển kinh tế - xã hội. Hy vọng rằng, với sự lãnh đạo sâu sát của Thị ủy, UBND Thị xã Buôn Hồ, sự vào cuộc đồng bộ, đầy quyết tâm của hệ thống chính trị ở cơ sở và sự đòan kết cao của nhân dân, các xã còn lại sẽ hoàn thành mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới theo kế hoạch, góp phần làm cho Thị xã Buôn Hồ ngày càng giàu đẹp văn minh.



Thứ Tư, 9 tháng 1, 2019

TÂM VÀ TẦM CỦA MỘT NHÀ GIÁO ghi chép của TRẦN AI - CHƯ YANG SIN SỐ 316 THÁNG 12 NĂM 2018

Nhà thơ - Nhà giáo Hữu Chỉnh


I. Ra đi cùng hoài bão
Phút giây tạm biệt thiêng liêng sẽ là điểm khởi thủy nối vòng tay lớn; đến với các mặt trờì bé con ở phía trời Nam mà tâm hồn đang cần sự nuôi dưỡng của văn chương, để tất cả cùng hát “... Hồ Chí Minh kính yêu...”, cùng ca vang bài hát Kết đoàn.
Mùa Thu năm 1972 Bộ Giáo dục có quyết định điều động một đội ngũ khá đông đảo cán bộ, giáo viên đã có kinh nghiệm tổ chức xây dựng trường lớp, quản lý và giảng dạy, tăng viện cho giáo dục vùng Giải phóng tại các tỉnh phía Nam –“Đi B”. Tất cả đều mang trong hành trang của mình lời dạy của Bác Hồ: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp được hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”.
Chẳng mấy ai biết cụm từ “Đi B” có tự bao giờ mà chỉ biết rằng người “Đi B” là đi đảm trách sự vụ tại Tiền tuyến lớn miền Nam – nơi chiến trận đang biến động từng giờ.
Cả nước lên đường nhộn nhịp, lớp thanh niên thế hệ Hồ Chí Minh là lực lượng xung kích trên mọi mặt trận của thời đại “ra ngõ gặp anh hùng”.
Bao lớp cha anh trong đó có biết bao đồng nghiệp cùng nghề dạy học vinh quang đã tình nguyện “Đi B”
Cũng như bao đối tượng thuộc diện “Đi B” khác, chẳng phân biệt là “B ngắn” hay “B dài” mà chỉ biết trong tiềm thức của cả người ra đi lẫn người ở lại cứ đinh ninh một nỗi: Dằng dặc, biền biệt, không hẹn ngày về.
Tuy đang ở giai đoạn cam go nhất, nhưng rất có thể cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại của dân tộc trước một đội quân chính quy hiện đại, có tiềm lực quốc phòng hùng hậu sẽ sớm kết thúc, bởi đã qua ba lần thay đổi chiến lược: Chiến lược chiến tranh đặc biệt;  Chiến lược chiến tranh cục bộ; Chiến lược Việt Nam hóa mà chính quyền Việt Nam Cộng hòa ngày càng thất thế khi họ dồn tổng lực, có sự chi viện tối đa của hải quân và không quân nước đồng minh, quyết chiếm lại thành cổ Quảng Trị trong vòng 2 tuần lễ, nhưng đã phải hao binh, tổn tướng đến 3 tháng trời, nên thế ỷ dốc có lợi tại Hội đàm Paris của họ bị trượt dốc thê thảm.
Ngược lại: Bên kia chiến tuyến, Quân Giải phóng ngày càng lớn mạnh, vùng giải phóng ngày càng mở rộng, do vậy nhu cầu “Dân sinh hạnh phúc” càng trở nên bức thiết hơn khi nào hết.
Trong đội ngũ “Đi B” lúc này của ngành Giáo dục, đã đành là thực thi nhiệm vụ, nhưng cũng có người sẵn sàng đón nhận cơ hội để thể hiện năng lực bản thân.
Một thầy giáo dạy Văn cấp II đã tự đánh giá: “Qua bài giảng, mình mới chỉ truyền dạy cho học sinh những nét tinh hoa, ưu việt của những áng văn thơ chứ thể hiện những cảm xúc, biểu cảm của cá nhân mình trước thắng cảnh thiên nhiên, trước nhân tình thế thái… thành những tác phẩm thơ văn thì có thể nói là không đáng kể gì. Mình đang ở ngưỡng thứ hai của cuộc đời – Tam thập nhi lập – tuổi lập thân, lập nghiệp. Hơn lúc nào hết đây chính là mốc thời gian xác định vị trí của cá nhân trong xã hội. Nay được ghi danh trong đội ngũ có khác nào “Nghe Đảng khuyên bỗng thấy mình giàu”. Đi! Đi để  thấy và cảm nhận.
Đành rằng mình cũng rất biết: trên khắp mọi miền đất nước thân yêu, mỗi một ngọn núi dòng sông; mỗi một bờ tre gốc lúa; mỗi một vật dụng; mỗi một nhành cây ngọn cỏ; từ sinh vật nhỏ nhoi như dế mèn, ve sầu đến con người .v.v và v.v đều là đối tượng của văn học nghệ thuật và tất cả đã có “vị thế” trên văn đàn, thi ca cùng nhạc họa. Và ai cũng biết rằng có những người cả đời chưa một lần ra khỏi “lũy tre làng” nhưng đã có những tác phẩm văn học được xếp vào hàng kiệt tác. Bên cạnh đó, có những người mà tuổi đời chỉ bằng nửa thời gian của sự kiện xảy ra trước đó, nhưng đã hiến dâng cho nhân loại tác phẩm văn học kiệt xuất mọi thời đại.
Nhưng đó là họ, còn mình thì hy vọng có được nhiều cảm xúc trên đường tiến bước và tại xóm làng, thôn bản nào đó – nơi được phân công nhiệm vụ.
Trong thời gian rèn luyện ở Trường 105 thuộc Ban Thống nhất Trung ương thì mình đã được làm bạn với chiếc gậy Trường Sơn và hiểu rằng sẽ được nếm trải những ngày đi vắt với sương, lút mình trong mưa ngàn gió núi đến rét thấu xương; sẽ được gặp những cô gái thông đường mở lối cất giọng hát ngân xa; được ngắm những thú rừng hoang dã; sẽ được cùng em nổi lửa và bên tai tiếng đàn Talư réo rắt cùng nhịp chày cắc cum. Và biết đâu chẳng bật nên cảm xúc từ những đôi vai trần mang nặng hai khối sinh tồn là chiếc gùi sau lưng và đứa con trước ngực. Bàn chân mình sẽ được in dấu những nơi đâu và chấm nào trên bản đồ sẽ là “bến đậu”! Nơi ấy có thác đổ ầm ào xen tiếng hổ gầm, voi hý; hay là nơi câu vọng cổ đổ dài giữa trời nước mênh mang, khúc đờn ca tài tử rộn ràng giăng mắc tán dừa níu vạt áo bà ba, phơ phất khăn rằn...? Nơi đâu cũng muốn được là quê hương thứ hai, bởi đâu cũng đất mẹ, cũng đất lành, cũng là miền đất hứa.
Ừ, nhớ ngày cất bước ra đi vừa đúng hai tuần lễ thì Hiệp định Paris đã được ký kết. Nhưng ngẫm tới sự bội ước thực thi Hiệp định Geneve của 20 năm về trước mà chua xót. Và rồi 10 năm sau, lại một lần bội ước trong vụ đánh đổi nhân mạng: Người sỹ quan quân đội Mỹ đã được phóng thích, nhưng Nguyễn Văn Trỗi vẫn bị xử bắn mà đắng lòng. Rồi những năm gần đây: Tuyên bố ngưng oanh kích miền Bắc, nhưng lại lén lút cho máy bay tới ném bom. Cứ ra rả rêu rao là tấn công vào các mục tiêu quân sự, vậy mà trường học, bệnh viện bị bom nổ tứ bề, oan hồn bị vùi sâu dưới tro tàn và đổ nát mà xương thịt văng lên tận ngọn cây. Ôi! Chiến tranh với bao uẩn khúc cùng những mưu toan chiến lược thì sao mà biết trước được điều gì?!
Phút chia tay cả cha, mẹ và người vợ hiền đều lặng lẽ lánh mặt, bởi e không ngăn được đôi giọt sầu ly.
Đứa con nhỏ nhất khóc miết đòi đi theo bố; thằng anh nó chỉ gật gật đầu; đứa lớn nhất thì trả lời lí nhí sau mỗi lời bố dặn, cứ như 2 đứa nó hiểu tất cả. Thương các con quá chừng; chúng ngoan ngoãn mà bằng lòng với thực tại vậy thôi chứ đã hiểu biết được là bao. Có chăng chỉ là hơn những bạn bè cùng trang lứa bị thiệt thòi ở vùng mới giải phóng là thể hiện sự lễ phép với ông bà, cha mẹ và có trường có lớp.
Ngày mai, nhất định mai này các con sẽ có nhiều bạn mới.
Thương lắm, nhớ nhiều, nhưng xin gửi lại tất cả! Mình sẽ đến với các em đang khát chữ ở một trong những miền quê mới giải phóng, cho dù trước mắt là cả một chặng đường gian khổ và hiểm nguy. Ơi các chủ nhân tương lai của đất nước, dù các bạn đang ở đâu, sinh hoạt trong hoàn cảnh nào thì chúng tôi sẽ đưa “ánh sáng văn hóa cách mạng” tới, với mục đích tối thượng là quyết tâm thực hiện trọn vẹn di nguyện của Bác Hồ kính yêu “Tôi chỉ có một mong muốn tột cùng là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”.
Thôi tạm biệt các con, ngày về cha sẽ chăm sóc các con bù lại những ngày xa cách – nhà giáo Lê Hữu Chỉnh tự dặn lòng – sẽ tận tâm hết mực cho sự nghiệp vẻ vang “vì lợi ích trăm năm”.
II. Cánh chim bằng vẫy gió
Cả dân tộc đã ca vang khúc khải hoàn. Nhu cầu của cuộc sống không chỉ đơn thuần là ăn, mặc. Mỗi một thực thể xã hội sẽ thỏa sức cống hiến tài trí của mình để đất nước ngày càng phồn thịnh, rạng rỡ trên đài vinh quang, lấp lánh bản sắc văn hóa dân tộc ngàn năm văn hiến.
Cho tới nay, nhà giáo Lê Hữu Chỉnh không nhớ nổi là mình là “cha đẻ của của bao nhiêu đứa con tinh thần” nữa.
Thơ! Ngàn bài. Không hẳn. Văn xuôi! Cũng tầm đó. Nào có kiểm đếm. Chỉ biết rằng từ những vần thơ ứng khẩu khi “tức cảnh sinh tình” hoặc trong lúc giao lưu cùng bạn hữu cho đến bài thơ mang nặng tính triết lý nhân sinh có “tầm vóc” trong tuyển tập “Ngàn năm thơ Việt”. Từ những vần thơ mộc mạc như thể ca dao, hò vè “thân ái nôm na” để dễ nhớ, dễ đi vào lòng độc giả ở vùng sâu xa, đến những áng thơ lay động tâm tình được nhạc sỹ tài danh phổ nhạc. Lời ca mênh mang tượng hình, tượng sắc, như hơi thở nồng nàn của tình đất, tình người làm say đắm tâm hồn mọi khán thính giả.
Bao thế hệ nhà thơ, bạn yêu thơ của cao nguyên Đắk Lắk vẫn lưu giữ hình ảnh cụ già phương Đông có nước da hồng hào và mái tóc trắng muốt như tiên ông với giọng đọc truyền cảm ngâm ngợi bài thơ Nguyên Tiêu của Bác Hồ, mở đầu đêm Thơ Việt Nam tại Đắk Lắk.
Đã có ý kiến nhận xét: “Một nhà giáo, hoạt động văn hóa, nhà báo, nhà thơ nhà văn đã quyện với nhau làm một trong con người Lê Hữu Chỉnh. Thơ là bề nổi, văn xuôi chính là tầng chìm trong tiềm thức ông.”
Nổi bật trên lĩnh vực văn xuôi là những tùy bút Xuân và đã từng có đánh giá tùy bút Xuân của ông là những trang hào sảng trước thềm năm mới, lời văn như lời hịch mang theo một tác lực hấp dẫn thôi thúc tất cả mọi người gia nhập “đoàn quân hùng dũng” quyết tiến lên, thi đua phấn đấu để có được một “Năm mới thắng lợi mới”.
Trong xu thế nền văn học nghệ thuật cởi mở của thời hiện tại thì thơ, văn, nhạc, họa... đều có rất nhiều cây bút đủ mọi lứa tuổi thuộc mọi giai tầng xã hội tham gia và đã có những thành quả mỹ mãn. Nhưng riêng về lĩnh vực câu đối thì xem ra nhân tài còn khiêm tốn như lá mùa thu, hay nói đúng hơn là ít người dám tham gia bởi thành công trong địa hạt này thì hầu như chỉ là mơ ước, quá tầm với. Vậy mà với câu đối, nhà giáo Lê Hữu Chỉnh lại gặt hái được nhiều thành công, được nhận nhiều giải thưởng danh giá. Đôi câu đối được ngành Văn hóa Đắk Lắk sử dụng in trên nền vải màu đỏ rực rỡ, khung nhôm cỡ lớn, trưng bày tại Trung tâm Văn hóa tỉnh đã tô đậm thêm “điểm nhấn về tài năng xoay vần con chữ” của nhà giáo khả kính này.
Bên cạnh những thành công trên lĩnh vực văn học nghệ thuật, thì bước đường công danh của nhà giáo Lê Hữu Chỉnh cũng khá mỹ mãn. Từ một Tổ trưởng chuyên môn trước ngày “xuất chinh”, Trưởng ban Giáo dục H9 (vùng kháng chiến nay thuộc huyện Krông Bông), Giám đốc Công ty Sách - Thiết bị trường học tỉnh và Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Đắk Lắk 2 nhiệm kỳ đầu.
Dù vậy niềm hạnh phúc của nhà giáo Lê Hữu Chỉnh không chỉ bó gọn ở đó. Ông kể: Trong một lần đang chăm sóc người bạn đời đau yếu không tự chủ được việc gì, thì có chuông điện thoại reo, mình nhấc máy, đầu dây bên kia là tiếng của một bé gái chừng hơn 10 tuổi, cô bé xưng tên và “tự bạch”: Cháu là cháu nội của bà Xuân, bà cháu là học sinh của cụ ở ngoài quê. Bà cháu bị khản giọng do mắc cảm. Được phép của bà, cháu gọi điện đến để chúc mừng sức khỏe cụ nhân Ngày Nhà giáo Việt Nam ạ!”... tự nhiên nước mắt mình trào ra. Hạnh phúc quá. Mình đã xa quê, xa trường, xa trò hơn 40 năm rồi. Suốt ngày hôm đó cứ nghe điện thoại chúc mừng là nước mắt lại rân rấn.
Vâng! Quan nhất thời, chức tước, danh vị rồi cũng sẽ rời xa nó. Nhiều tác giả sẽ bị quên lãng bởi không phải tác phẩm nào cũng trường tồn. Nhưng tiếng THẦY sẽ mãi còn bời nghề giáo dạy học mãi mãi là nghề vinh quang.




Thứ Ba, 8 tháng 1, 2019

LỄ HỘI MỪNG LÚA MỚI CỦA NGƯỜI THÁI TRÊN CAO NGUYÊN ĐẮK LẮK bài của H’XÍU H’MOK - CHƯ YANG SIN SỐ 316 THÁNG 12 NĂM 2018

 Nhà văn - Nhà báo H'Xiu H'mok


Tại các tỉnh miền núi phía Bắc, Lễ hội Mừng lúa mới của đồng bào Thái đã trở nên quen thuộc, và nét đẹp văn hóa ấy đã được bà con người Thái di cư vào Tây Nguyên tiếp tục gìn giữ. Cứ giữa tháng 9 âm lịch, 3 năm một lần, ở xã  Ea Kuêh, huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk, mọi người lại nghe thấy tiếng nhạc xòe Thái cất lên nhịp nhàng, lại thấy những cô gái Thái trong bộ sắc phục màu sắc rực rỡ, cổ quàng khăn, uyển chuyển múa vòng quanh cây nêu được trang trí đẹp mắt, dựng sẵn giữa sân nhà sinh hoạt cộng đồng. Tiếng nhạc là tín hiệu báo lễ hội mừng lúa mới của người Thái, tổ chức trên quê hương mới đến lúc bắt đầu, tạo nên nét đặc sắc cho bức tranh văn hóa đa sắc tộc trên vùng đất cao nguyên Đắk Lắk…
Người Thái quan niệm để có một mùa vụ bội thu thì sự phù hộ của đất trời và các vị thần linh cai quản ruộng đồng là rất quan trọng. Do vậy, mỗi độ lúa ngoài đồng chín thơm nồng, bà con lại làm lễ cúng cơm mới với ý nguyện bày tỏ lòng biết ơn với tổ tiên, trời đất. Đây cũng là dịp để cộng đồng ôn lại những phong tục tập quán truyền thống nhằm duy trì và phát huy những nét đẹp văn hóa của dân tộc mình.
Người dân buôn Thái cho biết, Lễ hội Mừng lúa mới đã có từ rất lâu đời, được bà con ở các huyện phía Tây của tỉnh Nghệ An mang theo trong quá trình di cư vào Đắk Lắk lập nghiệp gần 25 năm trước. Đây là lễ hội quan trọng nhất trong năm, được mọi người dân cùng tham gia. Từ trước đó cả tháng, các hoạt động chuẩn bị cho lễ hội được mọi người cùng thực hiện. Họ tự phân công các đội tập văn nghệ, nấu rượu cần, làm cung tên, thanh sạp, tết còn, trang trí cây nêu… Đây là những vật không thể thiếu trong lễ hội của người Thái.
Cụ bà Xên Thị Lan, di cư vào Đắk Lắk từ những năm 1994 cho biết, dù định cư trên vùng đất mới nhưng cộng đồng người Thái nơi đây vẫn mang theo những nét đẹp của quê cũ. Điều thú vị là tuy khí hậu ở Đắk Lắk và Nghệ An rất khác nhau, nhưng những giống lúa từ quê cũ vào gieo trồng nơi quê mới vẫn nhớ đúng lịch, đúng mùa. Lúa Nghệ An gieo ở Đắk Lắk thì mùa gặt vẫn  vào tháng 9 âm lịch, để Lễ hội mừng lúa mới vẫn có thể tổ chức vào đúng rằm tháng 9 như vùng quê cũ.
Ở Đắk Lắk, người Êđê tại chỗ cũng mừng cơm mới, nhưng nghi lễ khá đơn giản, ăn cơm mới được thực hiện vào buổi sáng sớm, có mặt đầy đủ các thành viên trong gia đình với những món ăn quen thuộc hàng ngày, có thêm thịt gà hay nhà nào khá giả có thêm thịt heo. Người Thái nay mang tới một nghi lễ mừng lúa mới trang trọng. Lễ cúng được tiến hành với các lễ vật gồm: xôi được nấu từ gạo nếp mới gặt, thủ bò, hai gánh lúa mới, các món ăn chế biến từ thịt bò, rượu cần được xếp khéo léo vào các mâm lễ, đặt trên căn chòi dựng sẵn cạnh cây nêu. Thầy cúng khấn cảm tạ các thần linh, trời đất đã phù hộ cho mưa thuận gió hòa, đất đai màu mỡ, mùa màng bội thu, dâng lên những của lễ với tất cả lòng thành, mong các thần linh cùng hưởng thành quả, tiếp tục phù hộ cho mưa thuận gió hòa, người dân được khỏe mạnh, ấm no.
Dứt phần lễ là phần hội, với nhiều tiết mục văn nghệ đặc sắc như: Diễn tấu cồng chiêng, múa mừng lúa mới, múa xòe, múa sạp; các trò chơi dân gian: giã gạo, ném còn, chọi đá, bắn cung… Trên khoảng sân rộng nhà sinh hoạt cộng đồng buôn Thái, vòng xòe được mở rộng dần, thấp thoáng xen giữa những bộ đồ sắc phục của người Thái là những gương mặt của du khách gần xa đến dự hội.
Ngày nay, lễ hội Mừng lúa mới của người Thái ở xã Ea Kuêh, huyện Cư M’gar ngày càng được nhiều du khách biết đến. Giữ nguyên những nét độc đáo vốn có nên trên vùng quê mới lễ hội này được sự đón nhận và cộng cảm của các dân tộc tại chỗ. Ông Ngân Hoài Lu, phó chủ tịch UBND xã Ea Kuêh, huyện Cư M’gar cho biết, từ năm 2013 Lễ hội Mừng lúa mới của người Thái đã trở thành một trong 5 lễ hội chính được tổ chức thường xuyên của huyện. Được sự quan tâm giúp đỡ của cấp ủy chính quyền địa phương, Lễ hội ngày càng được tổ chức quy mô hơn. Đến nay, Lễ hội Mừng lúa mới đã trải qua lần tổ chức thứ 7. Qua đó tạo nên nét đặc sắc cho bức tranh văn hóa đa sắc tộc trên vùng đất cao nguyên Đắk Lắk.


Thứ Hai, 7 tháng 1, 2019

THƠ LÀ SỰ SẺ CHIA lời bình của HỮU CHỈNH - CHƯ YANG SIN SỐ 316 THÁNG 12 NĂM 2018

(Đọc Trầm ca – thơ Đàm Lan – NXB Hội Nhà văn 2018)



  
Tôi thường khắt khe với thơ lục bát, bởi thể thơ dân tộc đã ăn vào máu thịt từ âm vần, nhịp điệu nên chỉ chút sạn cũng làm chối tai. Thế mà đọc mấy câu
       Liêu xiêu thả một câu thơ
       Bắc cầu cho một giấc mơ xa vời
       Còn vương đâu đó mắt cười
       Còn vương đâu đó những lời vu vơ
                                              (Chuyến đò đời)
Tôi không còn chỗ để chê mà chỉ thấy cái hay trong sự mông lung vi diệu. Mình cũng thấy “liêu xiêu” qua “những lời vu vơ” nào đó.
Còn đây là mấy câu lục bát trong bài Ừ thôi:
       Ừ thôi em cứ nắng mưa
       Cho non búp lộc đã vừa lên xanh
       Ừ thôi em cứ mong manh
       Cho ngân nga những ngọt lành tiếng yêu.
Tôi chợt nhớ câu dân ca: Đành lòng vậy, cầm lòng vậy! Ừ thôi cũng là sự chấp nhận hoàn cảnh nhưng biết vượt lên mà hy vọng. Nắng mưa đấy, mong manh đấy nhưng vẫn có búp lộc lên xanh, có ngọt lành tiếng yêu. Ừ thôi mà không buông xuôi, động viên người đọc (và cả mình) vươn về phía sáng.
Con số nhỏ/ Gá trên tờ lịch mỏng/ Gió thổi ngày qua sông/ Chớp bóng. Đó là mấy câu mở đầu bài thơ tự do: Nữa rồi cái tất niên. Đầu đề hay vì lạ. Người ta thường mong năm mới, mong mùa xuân tới. Ở đây là nữa rồi – lại hết năm rồi, lại qua một tuổi rồi.
“Gió thổi ngày qua sông” là câu thơ đáng nhớ, chưa thấy người nào viết. Thời gian đi qua, tuổi xuân cũng đi qua, tiếc chứ, băn khoăn chứ! Chớp bóng – nhanh hơn cả câu thành ngữ: Bóng câu qua cửa sổ - thơ chia sẻ nỗi ưu tư cùng người đọc.
       Đã bao qua nữa rồi vẫn cả
       Phố đong người, người đong phố mật hương.
                                              (Nong nả phố người)
Trong cuộc mưu sinh, người tấp nập dồn ra phố thành phố - người. Chật chội, bức bối là cảm giác có thật nhưng viết: Phố đong người, người đong phố. Người đong phố là chỉ sự bức bách, chen chúc đến tận cùng ngột ngạt.
       Thế rồi chiều đi về phía không mùa
       Thế rồi ta đi về phía không nhau
       Thế rồi năm tháng chỉ là con số
       Nhảy múa trên mái đầu mai trắng phau
                                              (Đánh rơi)
Điệp từ thế rồi cùng nhịp thơ chậm buồn, lắng đọng sự tiếc nuối cái sự đánh rơi, đánh rơi lớn nhất là thời gian qua đi với bao kỷ niệm. Tôi thích câu: Nhảy múa trên mái đầu mai trắng phau.
Chữ “mai” có cả hai nghĩa: mai – thì tương lai – tuổi già không chừa một ai, rồi tất cả sẽ bạc đầu. Mai – trong hoa mai trắng, cao khiết như câu của Cao Bá Quát: Nhất sinh đê thủ bái mai hoa! Không rõ tác giả dùng nghĩa nào hay cả hai.
       Nghiêng thật khẽ cánh ong mùa ướp mật
       Ngát lòng ngây ngơ ngẩn giữa vườn hoa
       Suối hiền duyên thong thả giữa mây tà
       Vòng tay gối êm đềm trên lá cỏ
                                              (Đóa tâm hồn)
Khung cảnh thiên nhiên quyến rũ và thơ mộng. Có cánh ong ướp mật, có vườn hoa cho lòng ngơ ngẩn, có suối, có mây, có lá cỏ êm đềm để có đóa tâm hồn đẹp muốn ôm trọn không gian tha thiết yêu thương. Yêu cuộc đời mới trải tình thơ như vậy.
Đàm Lan ít làm thơ thế sự, thơ tùy thuộc vào cái tạng của từng người. Đàm Lan thử sức qua bài Thiên hạ chạy đua, ít nhiều cũng thành công. Chạy đua nhà, xe, trước hết là chạy danh, mở đầu cho danh là học hàm học vị để được tham ô, móc ngoặc dẫn đến kết thúc:
       Thiên hạ chạy đua... lũ lượt tù
       “Nhân tài” đem ví lá mùa thu
       Để rồi gom mãi mà không hết
       Đốt mãi mười phương khói mịt mù.
Có điều đáng tiếc bởi có chút lầm lẫn qua câu:
       Thiên hạ chạy đua những học hàm
       Khi xưa Yên Đổ mới Cử tam
Nguyễn Khuyến người làng Yên Đổ - Hà Nam. Thi hương, thi hội, thi đình đều đỗ đầu nên gọi là Tam nguyên Yên Đổ. Đã vào thi đình là đã đỗ tiến sĩ thi là để xếp hạng. Ông đỗ hoàng giáp tiến sĩ năm 36 tuổi. Triều Nguyễn quy định Tam bất lập (thi không lấy trạng nguyên, quan không có tể tướng, không lập hoàng hậu – trừ Bảo Đại lập Nam Phương hoàng hậu Nguyễn Hữu Thị Lan) đúng ra Nguyễn Khuyến đỗ đệ nhất danh xứng đáng là trạng nguyên. Không phải là “Cử tam” – ba lần đỗ cử nhân.
Thơ Đàm Lan có bài đậm chất lãng du, mang cốt cách riêng, gửi hồn riêng của mình như bài thơ Mang mang:
       Mùa đi mùa xanh biếc
       Khúc tơ dường đã lâu
       Nghe mang mang sắc gợi
       Lao xao một bóng cầu
       Hình như trong mắt nắng
       Có điều gì nao nao
       Lời xa rung nốt lặng
       Dư âm bỗng ngọt ngào.
Thơ năm chữ trải đều chầm chậm, buồn thương, âm ba dư vọng.
Đàm Lan thông cảm, sẻ chia, nói hộ những người làm thơ:
       Người thơ có lắm nỗi đau
       Dọc ngang nào những nông sâu tình đời
       Người thơ đắp mộng cao vời
       Gom cho bằng hết tiếng cười nổi nênh
                                              (Người thơ)
Nỗi đau là có thật, lăn lộn với cuộc đời, hiểu đời là có thật, nhưng chắc gì đã dò được nông sâu và gom làm sao hết khóc cười nhưng đó là khát vọng, là ước muốn của người làm thơ để phần nào tiếp cận chân – thiện – mỹ.
Bài Trầm ca lấy tên cho tập thơ tuy không phải là bài nổi trội nhưng quy tụ nhiều bài mang âm hưởng của nó:
       Lơ đãng mảnh hồn lơ đãng bay
       Chén tình thơ nhạc chén tình say
       Trầm ca như vọng trầm ca túy
       Se thắt mà buông một thoáng ngày.
Trong âm nhạc có nốt cao, nốt trầm, có bè cao bè trầm. Thơ cũng vậy, nếu không hào sảng khí thế thì âm thầm, lặng lẽ, thầm thì tiếng lòng, tĩnh lặng như uống rượu một mình, say một mình, buông một thoáng ngày, thả bớt ưu tư.
Trầm ca dày hơn 450 trang in (có 40 trang tranh ảnh) là tập thơ khá dày dặn. Tác giả bỏ khá nhiều công sức viết ra và chăm chút cho việc in ấn để có ấn phẩm chất lượng.
Chỉ có chút băn khoăn của người viết phê bình tập thơ này là: giảm bớt đi từ ngữ của giáo lý nhà Phật và bớt đi triết lý chưa tới tầm như bài Châm tự ngôn thì đọng lại hơn.
Dù sao, tập thơ dày nhưng dễ đọc, không ngại mất thời gian khi tiếp cận điều mà thơ gửi gắm vì thơ là sự sẻ chia.
Tháng 10-2018