Chủ Nhật, 11 tháng 11, 2018

KHÚC KHẢI HOÀN CA NIỀM VUI CHIẾN THẮNG lời bình của LÊ THÀNH VĂN - CHƯ YANG SIN SỐ: 234 - THÁNG 10 NĂM 2018


Sổ tay thơ:


CẢM XÚC THÁNG MƯỜI



Không thể nói trời không trong hơn
Và mắt em xanh khác ngày thường
Khi đoàn quân kéo về mùa thu ấy
Nhịp trống rung ba mươi sáu phố phường
Mẹ đứng hàng đầu rưng rưng nước mắt
Xốn xang mẹ thường gọi các con
Anh chiến sĩ mến thương nhìn mẹ
Nghe niềm vui ấm cả tâm hồn
Đêm, cái đêm rút quân qua gầm cầu
Anh, anh đã hẹn ngày mai trở lại
Sóng sông Hồng vỗ bờ hát mãi
Đỏ niềm tin là khúc khải hoàn ca
Một sớm thu trong đất thắm sao vàng
Năm cửa ô xòe năm cánh rộng
Đoàn quân về nhấp nhô như sóng
Những ngôi nhà dường muốn cao thêm
Tháng Mười ấy là khúc ca say
Khúc ca mở những chiến công đầy
Ôi Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội
Nghìn năm vẫn một trái tim này.
                                                               TẠ HỮU YÊN

LỜI BÌNH:


Nhà thơ Tạ Hữu Yên đã có rất nhiều bài thơ hay viết về những sự kiện lớn của đất nước, nhưng với tôi Cảm xúc tháng mười vẫn là bài thơ mang nhiều rung động chân thành nhất xuất phát từ sự kiện bộ đội ta tiến về giải phóng Thủ đô vào tháng 10 năm 1954. Nhịp điệu thơ không quá dồn gấp, hình ảnh thơ không quá bộn bề, song người đọc vẫn bắt gặp nơi đây "một trái tim hồng" Hà Nội đang ngân hoan ca trong ngày khải hoàn chiến thắng.
Mở đầu bài thơ là một cảm nhận, một cảm nhận rất đỗi cá nhân của chính tác giả: "Không thể nói trời không trong hơn/ Và mắt em xanh khác ngày thường". Hai câu thơ bảy chữ, phảng phất hơi hướng thơ thất ngôn cổ điển, nhưng lòng ta lại nghe tràn trề ý nhạc, một nét nhạc rất lạ, rất mới. Quả là thơ Tạ Hữu Yên thấm đẫm tính nhạc từ mỗi ngôn từ. Nhưng bầu trời "trong hơn" ấy, "mắt em xanh khác ngày thường" ấy bắt nguồn từ nguyên nhân nào vậy?  Như để giãi bày niềm cảm xúc cháy bỏng đó, nhà thơ đã phác họa qua cái không khí rộn ràng của hình ảnh "Trùng trùng quân đi như sóng/ lớp lớp đàn quân tiến về" (Văn Cao) trên những nẻo đường Thủ đô giữa một mùa thu lộng gió:
Khi đoàn quân tiến về mùa thu ấy
Nhịp trống rung ba mươi sáu phố phường
Hóa ra ngoại cảnh và lòng người đã hòa làm một. Giây phút sung sướng tột cùng của nhân dân Thủ đô cũng như của cả dân tộc đã thấu tận trời xanh sau chín năm trường kháng chiến gian khổ. Khổ thơ đầu vừa nói cái không khí chung, vừa bắt đầu đi vào tâm cảm của lòng người đang mở hội. Đến khổ thơ thứ hai, hình ảnh người mẹ "rưng rưng nước mắt" và người lính "nghe niềm vui ấm cả tâm hồn" đã thực sự lan tỏa những tình cảm thiêng liêng trước niềm vui chiến thắng. Mẹ rưng rưng vì quá xúc động, mẹ khóc vì sung sướng được nhìn thấy các con trở về. Các anh bộ đội trẻ thì không sao giấu được niềm vui đang tràn ngập tâm hồn mình khi được tiến vào năm cửa ô thành phố với muôn triệu bàn tay của nhân dân vẫy chào bằng những bông hoa tươi thắm:
Một sớm thu trong đất thắm sao vàng
Năm cửa ô xòe năm cánh rộng
Đoàn quân về nhấp nhô như sóng
Những ngôi nhà dường muốn cao thêm
Giữa không gian "trong đất thắm sao vàng" ấy, tác giả có một phát hiện cực kỳ tinh tế và nhạy cảm qua hình ảnh "những ngôi nhà dường muốn cao thêm". Câu thơ hay đến lạ. Hay trong sự khám phá bất ngờ, song bất ngờ mà rất hiện thực. Có lẽ từ những cánh tay giơ cao muôn ngàn bông hoa tươi thắm chúc mừng từ các ngôi nhà trên phố như càng muốn nâng cao thêm, cao mãi. Người càng dâng cao nên nhà theo đó cũng dường muốn cao thêm. Nỗi niềm và cảm xúc chân thành của tác giả đến đây được bộc lộ một cách hài hòa với ngoại cảnh thông qua một hình ảnh thơ đầy thi vị, bất ngờ.
Cảm hứng chủ đạo của bài thơ là biểu hiện niềm vui thắng lợi sau "chín năm làm một Điện Biên". Nhưng thắng lợi hiện tại đã không làm cho cảm xúc tác giả nguôi quên những gì trong quá khứ. Một Thăng Long - Hà Nội xưa với dáng Rồng bay lên để Lý Thái Tổ quyết định dời đô từ Hoa Lư về đây mà dựng nghiệp cho muôn đời con cháu mai sau. Một Đông Đô - Hà Nội tự hào thời Lê Lợi đánh giặc Minh cứu nước. Chao ôi! Hạnh phúc hôm nay cũng khởi nguồn từ quá khứ, một quá khứ hào hùng của một dân tộc anh hùng:
Tháng Mười ấy là khúc ca say
Khúc ca mở những chiến công đầy
Ôi Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội
Nghìn năm vẫn một trái tim này.
Cảm xúc tháng mười của nhà thơ Tạ Hữu Yên viết về một sự kiện trọng đại của đất nước, dù được gói trong hình thức một bài thơ hai mươi câu thất ngôn. Ngoài tính nhạc gần như đặc hữu ta thường thấy trong thơ tác giả, thi phẩm cũng đã mang đến cho tâm hồn người đọc những cảm xúc thiêng liêng, những tình cảm đầy tự hào về thủ đô ngàn năm văn hiến của dân tộc ta. Bài thơ khép lại mà dư ba còn vọng mãi, ngỡ như "nhịp trống rung ba mươi sáu phố phường" tháng mười năm ấy còn ngân mãi đến muôn đời sau.
                                                                                    LÊ THÀNH VĂN

Thứ Ba, 6 tháng 11, 2018

CON SÓI DẠI truyện ngắn của HỒNG CHIẾN - BÁO VĂN NGHỆ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MNH số: 522 ra ngày 01 tháng 11 năm 2018



            Bầu trời xanh màu bạc, lấm tấm những vì sao bé nhỏ như được một bàn tay vụng về nào đó rắc lên một cách cẩu thả. Xa xa dãy núi Krông Zin vẽ một đường đen sẫm che lấp hẳn chân trời phía đông bằng những nét nhấp nhô kì lạ. Gió Tây Nguyên cuối mùa khô gào thét ầm ĩ, xô ngọn cây ào ào trước khi ùa đến kéo theo dòng đất đỏ bụi mù phủ lên mọi vật. Tiếng cú mèo gõ những tiếng phách lạc lõng hòa cùng giọng “Tắc kè, tắc...k...è” vọng vào đêm như kéo bầu trời trĩu xuống. Khu nhà công vụ giành cho giáo viên cũng chìm vào bóng đêm lặng lẽ, duy nhất căn phòng cuối cùng cánh cửa vẫn mở toang hắt ra một quần sáng trong xanh phủ lên một bóng người lặng lẽ trước chồng giây trắng. Người ngồi đó lặng im như hóa đá. Biết bao câu hỏi đặt ra trong đầu chưa có câu trả lời: Kẻ nào rắc thuốc độc vào trường làm hàng trăm giáo viên, học sinh nhiễm độc? Kẻ nào tung tin đồn nhảm trước cái chết của gia đình thôn trưởng? Kẻ nào xúi học sinh bỏ học? Những đồng nghiệp trúng độc gục ngay trên bục giảng do đâu? Ta có lỗi với đồng đội, bạn bè và các em học sinh bé nhỏ nữa; các em vô tư hồn nhiên như thế mà chúng nỡ ra tay sát hại các em, ta không ngăn được. Phải bắt chúng đền tội! Nhất định phải...
- Thưa thầy!
Tiếng nói tuy rất khẽ nhưng cũng làm người ngồi thoáng giật mình quay phắt lại. Trước cửa bóng cô gái độ mười lăm tuổi có khuôn mặt hình trái xoan, tóc xõa ngang vai xuất hiện như từ trên trời rơi xuống.
- H’Loan, vào đây em. Tại sao em đến khuya thế?
- Em tặng thầy.
Cô gái đặt chiếc nanh heo rừng to như ngón tay cái, trắng ngà, cong vút, đầu răng đã vẹt đi nhọ lại như một lưỡi dao.
- Cái này của a jun (*) tặng em, làm sao lại đưa cho thầy được?
- Em sắp phải xa thầy rồi, sợ không còn bao giờ gặp lại được nữa. Chúng em ai cũng quí các thầy cô, muốn học nữa lắm!
- Em bỏ học ư?
- Thầy ơi! Cô gái rưng rưng: Bọn người xấu bắt cả nhà em đi ngày trong đêm nay. Chúng nói sẽ đưa đến một nơi không phải làm cũng có ăn; có nhiều tiền nữa. Ama (**) em đã nhận nhiều tiền của người ta cho nên buộc cả nhà phải đi, ở lại sẽ là con ma lai. Thôi em phải về kẻo ama biết thì chết.
- H’Loan
- Dạ, thầy bảo gì em!
Hai tay người thầy giáo nắm chặt như sắp đấm vào ai, mặt đanh lại có vẻ như khó xử khi quyết định vấn đề gì khó khăn lắm.
- Thôi đành vậy! Em phải hết sức bình tĩnh và nghe lời ama, amí (***); luôn luôn đi cạnh họ, không được rời xa. Em làm được không?
- Dạ!
- Em cầm lấy cái này.
Mở ngăn kéo hộc bàn, lấy hộp vuông nhỏ bé như bao diêm đặt vào tay cô gái.
- Thầy tặng em, em cất kĩ trong người, không được cho ai biết. Thầy sẽ luôn bên cạnh em cho dù có khó kăn đến mấy.
- Dạ!
Tiếng dạ nghèn nghẹn thoảgn trong gió và màn đêm nuốt chửng bóng hình người con gái.

*
*      *
Nhà amí H’Loan dài như một tiếng hú, mái lợp ngói, sàn nhà và vách làm bằng gỗ sao lên nước bóng lộn tập trung đầy người. Tiếng người thanh niên trong cùng nói vọng ra.
- Các nhà đến cả chưa; xem có còn ai ngủ quên không? Mỗi người chỉ được mang một cái gùi đựng ít quần áo và cơm ăn đường, qua bên kia biên giới người Mĩ sẽ cho máybay tới đón.
- Tối thế này mấy đứa nhỏ làm sao đi được? Tiếng ai đó vọng lên.
- Người lớn gùi con nít, đứa lớn gùi đứa bé, vứt bớt đồ lại, qua bên kia biên giới sẽ dùng toàn đồ mới của “Liên hiệp quốc” viện trợ tha hồ sướng.
- Thế ra mọi người bỏ cái rẫy đi ăn xin à?
- Đứa nào nói bậy đấy, muốn chết hả. Nay ngài Y Ksơk đã được Mĩ cho làm tổng thống rồi, chỉ mai mốt đất nước Đê-Ka được giải phóng, lúc ấy có một cuộc sống khác tốt đẹp lắm. Ai hôm nay không đi sẽ là con ma - lai. Bây giờ đi phải hết sức im lặng, người nọ sát người kia để khỏi lạc đường. Theo tao!
Gần ba chục con người lầm lũi, thập thửng dấn thân vào màn đêm đi theo bóng đen mờ mờ phía trước. Hắn có vẻ thạo đường, cầm chiếc đèn pin nhỏ xíu chiếu xuống mặt đất, bước thoăn thoắt. Chẳng ai ngờ, hắn - thằng Y Joan, lười lao động, thích đi chơi và ham “nhặt” của người khác đi đổi rượu lại trở thành người quan trọng thế này. Con người ta có cái số thật! Từ một kẻ chuyên chờ người trong buôn đi làm rồi quay lại trộm gà, bắt chó, chôm chỉa đồ, ai cũng ghét, xem như con ma-lai của buôn; vậy mà đánh đùng một cái gặp được người lạ cho hắn nhiều tiền và bày cho hắn về buôn dụ người trốn qua biên giới để để... nhận tiền. Người buôn hắn thật là lũ ngốc, khi bảo đi không ai nghe còn chửi hắn; hắn cười rút trong người ra cục tiền to tướng, khoe với mọi người; đồng đô la Mĩ, đồng mác Đức, Nhân dân tệ... tất cả mới tinh; còn tiền Việt Nam nhiều như lá rừng, ai muốn đi, hắn sẽ cho tiền sắm dày, dép, lớn bé có tất, người nào cũng có phần cả. Hắn đủ tiền mua rượu để cả buôn cùng uống, uống thật say. Nhưng trước khi đi phải thịt gà, giết hết gia cầm, gia súc. Nhà nào chưa kịp thịt cũng bị đánh thuốc cho chết hết. Cái kế hoạch của người bên kia biên giới giỏi thật. Cả buôn giờ đây phải kính trọng hắn, xem hắn như anh hùng, chỉ có thằng thôn trưởng ngu nên cả nhà đau bụng lăn ra chết - Giàng phạt mà. Ai chống lại hắn thì xem gương trưởng buôn đấy!
- A - Mí!
Tiếng kêu thất thanh của một em bé nào đó vang lên vọng vào rừng lan ra thành tiếng M...í kéo dài. Cắt luồng suy nghĩ của hắn, làm cả đoàn người đang cắm cúi đi phải dừng lại.
- Đức nào kêu đấy!
- Con H’Lam bị ngã, vỡ mặt rồi.
Ánh đèn pin quét lên khuôn mặt đầy máu của H’Lam con bé không biết vì đau hay quá sợ đã xỉu đi, chân trái gãy lìa, xương ống chân như muốn xé da chui ra.
- Mang nó về viện thôi, để thế này chết mất.
Mỗi người một lời, nhưng đều cùng ý phải đưa H’Lam vào viện. Nhưng muốn vào viện phải quay lại buôn đón xe đi.
- Hầy! Yàng gọi nó về với Yàng thì ta nên để nó đi đừng bắt nó quay lại làm gì. Hãy thả nó xuống suối vậy. Vợ chồng chúng mày sang bên kia muốn sinh thêm bao nhiêu mà chẳng được. Đưa nó cho tao.
Nói là làm Y Joan bước đến bên H’Lam định dằng con bé ra khỏi tay amí nó để quẳng xuống vực.
- Không! Mày không được làm thế.
Ama H’lam gầm lên, xỉa xà gạc ngang mặt Y Joan, mắt vằn lên những tia máu đỏ. H’Loan cũng lao tới ôm lấy H’Lam.
- Chúng mày muốn làm loạn à? Nếu không theo tao sang bên kia biên giới sống cuộc sống sung sướng như đất nước của Yàng ban cho thì giờ đây đi đâu! Chúng mày có quay về buôn cũ được nữa không? Trâu, bò, heo, gà thịt hết; xoong, nồi, chiêng, ché... cũng đập nát hết cả rồi, lấy gì mà sống. Đó là chưa kể đến chính quyền họ biết chúng mày bỏ đi, nay muốn quay lại sẽ bỏ tù hết. Chúng mày muốn vào tù hay muốn sung sướng?
Cả đám người lặng đi trước thực tế phũ phàng, không có con đường để quay lại. Cả ama, amí H’Lam nước mắt lưng tròng không biết phải làm gì. H’Loan nói qua nước mắt:
- Tại ama cả, nhà mình đang sống yên vui, đông đủ đi nghe người ta xúi bỏ cửa, bỏ nhà, bỏ nương rẫy đi xin ăn. Sướng không thấy đâu đã thấy khổ đấy rồi. Đêm tối như thế này sẽ còn có nhiều người như H’Lam nữa, chẳng lẽ để chết cả ư? Thôi xin ama, amí cho tôi mang H’Lam về.
- Không được!
Tiếng nói khẽ nhưng lạnh băng làm mọi người giật mình vì không ngờ có giọng nói của người lạ xen vào. Y Joan mừng như bắt được vàng khi chiếu đèn pin vào mặt người lạ bỗng nhiên xuất hiện, kêu lên mừng rỡ.
- Yàng ơi! Y Sú.
Y Joan mừng là phải, kẻ lạ mặt đúng là Y Sú, người cho hắn nhiều tiền về xúi dân buôn bỏ chạy, và cũng là người cho nó thuốc độc để giết trâu, bò, lợn gà và thả vào bầu nước nhà buôn trưởng, hại chết cả nhà người ta.
- Thưa đồng bào! Tôi là Y Sú  Ksơn, người được “Tổng thống” Y Ksơk và “Liên hợp quốc” cử về đón đồng bào tới cuộc sống sung sướng trên đất Mĩ. Chỉ cần ta vượt qua biên giới, máy bay của “Liên hợp quốc” sẽ chở tất cả qua nước Mĩ định cư, mỗi tháng sẽ được phát 1.000 đô la Mĩ cho một người - tương đương với hai chục con bò lớn; sướng vậy đó. Thôi, mọi người phải cố chịu khổ một chút, ráng mang con bé đi hết đêm nay, qua bên kia người Mĩ chỉ giơ tay xoa một cái là liền xương ngay thôi.
Cả đám người chết lặng khi thấy Y Sú xuất hiện. Hắn là tên Phun rô khét tiếng tàn bạo gây biết bao tội ác với người dân vô tội. Song cái số nó lớn hay nói cho đúng hơn hắn có sự tinh khôn của sói nên thoát chết sau mấy lần bị công an, du kích bắt hụt. Sợ quá hắn chạy qua nước ngoài lánh thân thờ chủ mới. Nay có người nuôi rồi thuê hắn về lại Tây Nguyên đe dọa, mua chuộc, dụ dỗ người dân tộc tại chỗ chạy qua biên giới. Cứ mỗi người qua biên giới đưa về trại “tị nạn” hắn sẽ được thưởng 50 đô la. Số người càng đông, càng tốt; không kể to nhỏ, lớn bé gì ráo, cứ đếm đầu mà lấy tiền. Hắn cũng biết ngôi nhà trong mơ mà đoàn người nhẹ dạ nghe theo hắn là những dãy chuồng bò cũ quây thép gai để nhốt người; hay những chiếc lều vải bạt căng tạm dưới cái nóng như đổ lửa của ông mặt trời được bao bọc dây thép bùng nhùng “nội bất xuất”, không ai được ra ngoài. Hàng ngày mỗi người ăn phát một can nước để ăn, uống, tắm giặt (vì nước phải chở từ xa đến). Chính hắn, hắn cũng không biết người ta thuê hắn dụ dỗ nhân dân vượt biên giới nhốt vào trại làm gì! Nhiều người muốn về nhưng đâu có được, họ đã thành con cá tự  chui vào giỏ, chạy đâu cho thoát.
- Này đồng bào, cuộc sống ấm no mà không phải động tay, động chân đã ở phía trước; tất cả đứng dậy đi tiếp, đau cũng phải đi.
H’Lam được đặt vào cáng làm bằng cây và dây rừng khiêng đi. Y Sú tự khen mình: giỏi, giỏi thật! Đêm tối thế này, cái cáng chỉ cần sơ ý một tí thôi là con bé sẽ văng xuống vực, đỡ phiền. Còn không thì ama, amí nó tự lo lấy. Đoàn người vẫn phải đi về phía đã định, ai dám trái lời, bắn bỏ.
Bầu trời sáng dần. Những ngôi sao li ti nối đuôi nhau đi ngủ, chỉ còn lác đác vài ngôi sao mệt mỏi ngơ ngác đứng nhìn. Từng cụm mây trắng thỉnh thoảng chạy ngang qua bầu trời, sà xuống cánh rừng, đọng lại trên các kẽ lá tí tách nhỏ giọt xuống mặt đất. H’Loan bước sau amí, lòng đau thắt nghĩ thương em gái còn nằm mê man, chưa tỉnh. Tất cả tại lũ người xấu gây ra thảm cảnh cho gia đình. Chúng lừa người ta phá nhà cửa, ruộng vườn chạy trốn Tổ quốc để làm gì? Chúng còn rải thuốc độc vào trường làm trẻ em không được đi học. Có lẽ chúng sợ người ta có cái chữ sẽ hiểu được lẽ phải, biết đúng, biết sai. Và thầy cô giáo hàng ngày dạy nó nữa không biết có hiểu tấm lòng của nó không? Nó muốn được học nhiều, thật nhiều để được làm cô giáo dạy con em đồng bào biết cái chữ, biết gieo trồng cho nhiều hạt, biết nhiều điều để cuộc sống ấm no hạnh phúc hơn.
- Amí!
H’Lam tỉnh dậy, khóc òa; ama, amí vội dừng cáng. H’Loàn quì xuống bên cạnh hỏi.
- H’Lam đau lắm không, ráng chịu nhé.
- Em đau lắm!
- Bịt mồm hắn lại. Y Sú quát khẽ; chúng mày muốn bộ đội biên phòng bắn chết cả hay sao. Nếu để nó kêu nữa tao cắt cổ.
Tội nghiệp H’Lam, cô bé bụ bẫm mới mười hai tuổi đầu xinh đẹp là thế, giờ đây như tàu lá héo. Ama nghèn nghẹ thì thầm:
- Cố chịu đau tí nữa đi con; đừng kêu người ta giết đấy.
- Chúng mày đi tiếp đi, không được đứng lại.
Y Joan hối mọi đi tiếp. Chiếc cáng được nâng lên.
- Oái, Yàng ơi, đau quá!
Tiếng kêu của H’Lam vọng vào núi không lớn lắm, song cũng đủ để cả đoàn người dừng lại. Y Sú chạy đến ghé khẩu AR 16 đen ngòm vào đầu H’Lam.
- Cho nó về với Yàng thôi.
- Mày không dám bắn em tao đâu.
H’Loan đây lòng súng qua bên, nói tiếp: Nó đau kêu nhỏ mày còn sợ có người nghe, mày bắn nó cả núi rừng cùng nghe thấy; bộ đội, công an sẽ đến ngay.
- Con này nói đúng, không bắn được; có cái này dùng được. Soạt con dao găm trắng toát được lôi ra khỏi vỏ.
-  Mày không được giết nó!
Ama H’Loan gầm lên giật phắt xà gạc đứng thế thủ; amí H’Loan ôm ghì lấy con, cố giơ thân mình che chở cho con. Đoàn người quay tròn quanh gia đình H’Loan. Chứng kiến cảnh Y Sú, Y Joan và đồng bọn đối xử với H’Lam, mọi người như chợt tỉnh ra, song có lẽ đã quá muộn. Thấy dân không phục, con cáo già Y Sú cười cười, tra dao vào vỏ.
- Tao đùa đấy. Chúng mày đi tiếp đi, gần qua biên giới rồi; chỗ này nguy hiểm lắm. Còn con bé nhét khăn vào miệng nó, cột tay nó lại khiêng qua bên kia là có thuốc chữa khỏi ngay à.
- Nghỉ chút đã, đi cả đêm mệt lắm rồi.
- Lũ chúng mày cố một chút, chút xíu nữa qua biên giới tha hồ mà nghỉ. Còn ở chỗ này bộ đội biên phòng đi tuần là chết hết đấy.
- Cái chân hết đi nổi rồi!
Không ai bảo ai, người ngồi, người lằm la liệt ra mặt đất. Tiếng con trẻ khóc ré lên.
- Chúng mày còn để bọn nhỏ khóc tao ném xuống vực hết bây giờ. Đứng hết dậy, đứng dậy.
Mặt trời lên cao, nhưng sương mù vẫn sà xuống cánh rừng, thấm vào da thịt, hòa quện với mồ hôi chảy thành dòng xuống mặt đất. Người nào, người nấy răng và vào nhau lộc cộc, cố bước, mặt mũi bơ phờ. Già làng run rẩy gằm mặt xuống đất nặng nề lê bước, chắc giờ này mới hiểu sự đồng ý nhận tiền của Y Joan bắt người trong buôn đến miền đất hứa là sai lầm; sự hối hận muộn màng! Chỉ có Y Sú và ba đứa theo nó tay nắm chặt súng Mĩ là mừng rỡ. Chúng lại sắp có một khoản tiền lớn nữa. Những cô gái mười ba tuổi trở lên có nhan sắc một chút được hưởng lời đơn, lời kép mà. Ngay cả lũ đàn bà có chồng con rồi khi đã vào đến trại “tị nạn” thỏa sức chọn mang đi “hỏi cung” để “dùng”. Đứa nào không chịu sẽ bị đoàn có thể đánh chết như đánh chết con gà, con vịt vậy thôi; ai bắt tội! Xung quanh các trại “tị nạn” hàng ngày những nấm đất mới đua nhau mọc lên; trong đó ngoài người già, con trẻ, còn có những người đàn bà không chịu nhục, chấp nhận cái chết. Bọn dân đúng là lũ ngu mới xử sự như vậy chứ cứ  Y Sú đây sẽ làm tất cả để sống cơ mà, mất mát gì đâu.
- Tất cả dừng lại! Chúng ta sắp đến nơi rồi. Y Sú bất ngờ kêu lên rồi nói tiếp: Khó khăn cuối cùng là đi qua mỏm đá kia, khi đi phải thật cẩn thật, từng người qua một. Ama Đúc đi trước, sau đến Y Vế, tiếp nữa ama H’Loan còn Y Joan và tao đi cuối cùng giúp amí H’Loan.
Ama Đúc khoác khẩu AR16 qua vai vịn vào vách đá cẩn thận leo qua từng bậc và khuất hẳn phía bên kia. Đoàn người nối nhau bò qua vách đá; Y Sú đã đi gần đến đích. Nó tính toán cả rồi và tất cả diễn ra đúng theo kế hoạch đã định. Nhìn H’Loan, hắn lè lưỡi liếm mép tự nhủ  cố kìm nén dục vọng đang trào lên. Chỉ chờ Y Joan giúp ama, amí H’Loan đưa H’Lam qua bên kia vách núi là nó sẽ...
Nhưng bây giờ không thể cáng H’Lam được nữa vì vách đá dốc quá, chỉ một người bám đá mới leo được; nếu sẩy chân sẽ tan xác dưới vực sâu ba chục mét kia. Y Joan buộc amí H’Loan đi trước còn ama H’Loan lấy dây cột con vào lưng. Con bé chắc quá đau, mặt đầm đìa máu, chân gãy lủng lẵng và có lẽ nó xiễu rồi nên không khóc nữa. Ama H’Loan nặng nề di chuyển từng bước, phía sau là Y Joan. H’Loan định đi tiếp liền bị một bàn tay giữ lại.
- Từ từ không ngã chết cả bây giờ. Mày phải để Y Joan đi qua rồi mới được lên.
Nhưng ama H’Loan vừa khuất sau vách đá hắn đã quẳng súng qua bên, nhảy bổ đến, ôm ghì lấy H’Loan đè ngửa ra. Bàn tay thô bạo thọc vào ngực xé toạc áo miệng gầm gừ.
- Mày kêu lên ở đây ai nghe! Nếu khong chiều tao, tao sẽ giết cả nhà mày.
Mặc cho H’Loan cào cấu, giãy giụa hắn nhăn nhở cười, một tay giữ người, một tay giật bỏ những mảnh vải cản trở cơn thú tính của hắn. Hắn giống con mèo khi vồ được chuột, không bao giờ vội vàng nhai ngấu nghiến; mà phải hành hạ, giỡn cợt theo cách riêng kể cả phải dùng nắm đấm buộc con mồi phải tuân theo dục vọng của hắn. Bỗng nhiên, giống như đứa trẻ thò tay vào bếp nắm ngọn lửa, khi tay hắn chạm vào chiếc hộp người thầy giáo tặng đeo bên mình H’Loan; hắn hoảng hốt đứng bật dậy, mặt tái mét, giọng run run:
-  Mày... mày lấy ở đâu? Mày là...? Y Sú vung tay ném chiếc hộp bay xuống vực và lao lại nơi để súng. Nhưng trước mặt hắn là những bóng áo xanh và nòng súng AK chĩa thẳng về phía hắn. Hắn cuống cuồng lao luôn xuống vực sâu.
*
*       *
Buôn Ra Krưng hôm nay vui lắm; mọi người tập trung tại nhà ama H’Loan để xét tội Y Joan, kẻ tiếp tay cho kẻ xấu, hại buôn làng. Trước mặt dân buôn hắn phải khai nhận mọi hành vi tội lỗi của mình và cả những kẻ thuê hắn. Hình ảnh của một Y Joan vênh vênh cái mặt vác một ôm tiền hôm này nay không còn nữa; thay vào đó là khuôn mặt đầy nước mắt của sự ăn năn, hối hận cầu xin được tha thứ để làm lại cuộc đời. Cuộc họp kết thúc, amí H’Loan mời mọi người ở lại mở ché rượu cần của người em gái đến mừng. Vít cần rượu ama H’Loan nói:
- Thưa cán bộ! Thưa bà con trong buôn! Tại cái đầu mình tối quá nghe lời kẻ xấu tí nữa hại chết con H’Lam; để con H’Loan bị làm nhục; làm khổ người trong buôn. May có cán bộ đến cứu kịp thời chứ không thì còn mặt mũi nào để nhìn mọi người nữa. Cho phép tôi mời ama Win và mọi người li rượu nhạt, bỏ qua cho lỗi lầm vừa qua và cũng là lòng cảm ơn Đảng, chính quyền đã giúp đỡ gia đình tôi được sống bình thường như trước đây.
Ông ama Win - Trưởng Công an huyện đứng dậy đỡ cần rượu từ  tay ama H’Loan.
- Thưa bà con. Đảng và nhà nước Việt Nam chúng ta bao giờ cũng mở rộng bàn tay đón những người con lầm lỡ trở về. Song sẽ nghiêm trị những tên côn đồ, lợi dụng dân chủ chống phá chế độ, phá hoại cuộc sống yên bình của nhân dân. Chiến thằng của chúng ta hôm nay trước hết thuộc về nhân dân, vì họ đã phát hiện và tố giác với cơ quan chức năng những hành vi phạm tội của chúng và một người nữa góp công sức rất lớn; đó là cháu H’Loan. H’Loan đâu?
- Hai cháu đi học chưa về. Xin mọi người bắt đầu.
“Rượu vào lời ra”, quả đúng vậy; ama H’Loan khoa chân múa tay khen công an mình giỏi thật; họ đứng bên mỏm đá từ lúc nào ấy, cứ tên nào đeo súng bước sang được “đón tiếp lịch sự”, không kịp kêu báo động cho đồng bọn đi sau. Cả lũ bốn tên lần lượt tra tay vào còng số tám như trong mơ, không tốn một viên đạn. Đồng bào được bảo vệ an toàn”.
Mọi người vui mừng chúc nhau rôm rã. Ngoài sân nắng chiếu vàng lên các nóc nhà làm nổi bật những làn khói trắng mỏng manh bay lên từ  các nóc nhà tan dần vào trời xanh. Xa xa tiếng trống trường giòn giã vang lên báo hiệu một buổi học kết thúc làm òa ra tiếng nói cười ríu rít của trẻ nhỏ như bầy chim c’rao vào hội.

Chú thích Tiếng Êđê:
(*)Ajun – bà.
(**) A ma – ba.
(***) A mi – mẹ.


NHIỆM VỤ “ĐẶC BIỆT” bút ký dự thi của TRẦN ĐÌNH HẰNG - CHƯ YANG SIN SỐ: 234. THÁNG 10 NĂM 2018


Tác phẩm tham dự Cuộc vận động viết bút ký chủ đề
“Công an Đắk Lắk bản lĩnh, nhân văn, vì nhân dân phục vụ”




Tác giả Trần Đình Hằng 


Nhận nhiệm vụ trực tiếp từ Trưởng Ty (nay là Giám đốc Sở) Vũ Nhật Hồng: “Đôn đốc, triệu tập một số vị Linh mục (LM) đã từng làm Tuyên úy cho Quân lực Việt nam Cộng hòa (QLVNCH) đi học tập”. Nói đến chức phẩm LM, trong đầu ông Giảng nghĩ tới: LM là một chức phẩm của Giáo hội Công giáo, có quyền thực hiện các lễ nghi tôn giáo trực tiếp cho giáo dân – cộng đoàn tín hữu, được bề trên giao phó. Tất cả các LM đều là những người có học vấn: Học vị cử nhân Thánh kinh; tốt nghiệp đại học Thần học hoặc Giáo luật trong một Học viện Cao đẳng được Tông tòa công nhận. Các vị ấy không là LM quản xứ, thì cũng là LM quản nhiệm là Cha xứ và tất cả đều có thanh danh. Và được tất cả các giáo dân thành kính lễ phép gọi bằng tên chung: Cha.
Kinh nghiệm cũng cho ông thấy (dù ở cương vị, hoàn cảnh nào) khi làm việc với các vị này thì hoàn toàn không được phép trịch thượng; không áp đặt, không giáo điều, tránh chiêu thức mánh khóe, xảo diệu... mà phải diễn giải có lý có tình và phải lấy câu “Thật thà bằng ba khôn khéo” làm nền.
Người chiến sỹ công an luôn phải kính trọng, lễ phép với dân một thì với các vị chức phẩm mức lễ độ phải là mười.
Ông và các đồng sự sẽ tiếp xúc với các cha. Việc mời một cha xứ đến một địa điểm để gặp thì không có gì trở ngại. Nhưng biện dẫn ra chứng lý và đưa họ vào nơi học tập thì sẽ chịu tiếng là lường gạt, cưỡng bức, thậm chí là bắt bớ... Như vậy sao tránh khỏi chuyện “rút dây động rừng” và không chỉ là động rừng thôi đâu mà động cả đại ngàn luôn. Chuyện bé xé ra to liền. Sẽ có vô vàn tin đồn bịa đặt.
Nếu để xảy ra tình trạng ấy thì e rằng không tránh khỏi chuyện “động trời” là phản ứng phẫn nộ của cả ngàn, cả vạn, cả triệu, thậm chí cả tỷ tín đồ công giáo không chỉ ở một tỉnh, một quốc gia. Có phân minh với giải trình đến cỡ nào cũng không thể minh oan.
Không! Quyết không thể để xảy ra một kẽ hở nào cho dù là nhỏ nhất để tất cả những phần tử đối lập có cơ hội!
Cho dù sau khi thị xã Buôn Ma Thuột được giải phóng (10.3.1975), chính quyền Cách mạng kêu gọi mọi người đã từng có những hoạt động phục vụ chính quyền, quân đội của chế độ VNCH ra trình diện để được hưởng lượng khoan hồng. Lời kêu gọi ấy được đông đảo các tầng lớp: Trí, nông, công, binh... hưởng ứng. Nhưng đã mấy tháng trôi qua mà một số vị đã từng làm Tuyên úy cho QLVNCH vẫn không ra trình diện.
Không trình diện là đồng nghĩa không hợp tác, cũng hàm chứa cả ý thức xem thường, thách đố.
Làm thế nào để mọi công dân bình đẳng trước pháp luật? Vận động, thuyết phục một viên chức đã khó thì đối với các bậc chân tu còn khó gấp bội phần. Phải vận động thế nào đây để các vị LM tự đến trình diện? Cả một vấn đề nan giải.
Những lúc gặp bí tắc trong công việc, ông Giảng thường ôn lại 6 điều Bác Hồ dạy. Lần này liên tưởng tới lời Bác dạy, ông nhớ tới một khóa học có bài giảng: Phân tích “Thư Bác Hồ gửi chúc mừng Giám mục (GM) Lê Hữu Từ tháng 8.1945” và sự kiện: “Ngày 25.2.1946, Bác đích thân đến Phát Diệm mời vị GM này làm Cố vấn tối cao cho Chính phủ mới”.
Giám mục, Giám mục!
Ông Giảng thở phào nhẹ nhõm, vỗ tay lên trán và trịnh trọng thốt lên: “Ơn Chúa lòng lành!” Ấy cũng là khi còn làm Trưởng công an huyện Kim Sơn (Ninh Bình), những lần tiếp chuyện với các GM và LM, ông đều thành kính nhắc đến khẩu ngữ này cùng nhiều lời cầu nguyện khác đã nhập tâm. Ông thấy lòng nhẹ bẫng như trút được gánh nặng đã làm ông mất ăn, mất ngủ mấy tuần liền. Ngước nhìn lên tấm ảnh Bác treo trên tường. Ông thấy rõ vị Cha già đang trìu mến nhìn mình như nhắc nhở điều gì đó và ông vụt nhớ đến lời dặn của Người với cụ Huỳnh “Dĩ bất biến ứng vạn biến” từ mấy chục năm trước.
Chắp tay sau lưng, đi tới đi lui mấy vòng trong phòng, ông Giảng lẩm nhẩm căn dặn chính mình: “Tôn giáo sống trong lòng dân tộc! Tôn giáo có vai trò, vị trí lớn, có nhiều đóng góp lớn trong lĩnh vực văn hóa...”
Giá còn trẻ như 25 năm trước, năm 1950, “anh lính mới tò te” Trần Cao Giảng đã vui sướng nhảy tót lên vai người đồng sự, khi nghe tiếng nổ long trời, đánh sập CLB sỹ quan Pháp tại Kim Sơn. Với chiến công này, ông  Giảng được tặng thưởng danh hiệu Anh hùng LLVTND thời kỳ chống Pháp. Ừ giá như còn trẻ thì ông đã nhảy lên mà hét: “Chúng ta đã có được quý nhân phù trợ rồi!”
Chiếc xe hơi sang trọng bậc nhất thị xã đỗ xịch trước cổng Ty Công an. Người lái xe miễn cưỡng làm các thủ tục tại bốt gác.
Xe lượn vòng rồi dừng lại trên thềm tiền sảnh. Viên sỹ quan trực ban lễ phép giơ tay chào và nhanh nhẹn mở cửa xe.
Một giáo sỹ khoan thai bước xuống. Ngài mặc chiếc áo màu đen liền mảnh, ôm sát thân, dài từ cổ đến mắt cá chân, có một dãy nút chính giữa từ cổ áo xuống tận phía dưới lai áo, có đường viền và dãy nút màu tím sậm cùng chiếc đai Fascia quấn quanh thắt lưng (phẩm phục dành cho GM). Đó là áo Cassock (còn gọi là áo Soutane). Ngài mang cặp kính trắng gọng vàng sang trọng. Ngài đường bệ bước trên từng bậc cầu thang.
Khỏi tốn nửa lời, chính phong thái ấy với nét mặt không một biểu cảm, cùng phẩm phục cũng đã đủ làm cho những người đang làm việc tại đây biết rằng “Người được mời đã đến đúng ngày giờ, địa điểm” và phải hiểu “Ngài là ai” để cư xử cho đúng phép tắc!
Sau ba tiếng gõ cửa, nhận phản hồi “mời vào”, người sỹ quan trực ban thận trọng đẩy cánh cửa, giọng nghiêm trang “Báo cáo thủ trưởng, GM Nguyễn Hữu Mai đã tới ạ!” “Ơn Chúa lòng lành! Đồng chí mời khách vào bàn uống nước giúp tôi!”
Sau những lời chào đón rất mực lễ tiết, ông Giảng niềm nở hỏi thăm sức khỏe của GM và xin ngài cho nhận xét về đời sống mọi mặt của nhân dân thị xã nói chung, của đồng bào công giáo nói riêng sau ngày đất nước thống nhất, Nam Bắc một nhà. Ông nhấn mạnh cụm từ “Nam Bắc một nhà”.
Vị GM ngó lơ chiếc bình thủy Rạng Đông cùng bộ ấm tách Hải Dương. Nhưng mùi thơm của hương trà Tân Cương đã làm cho gương mặt của ngài có chút bần thần. Hẳn là cái hương vị độc nhất vô nhị ấy đã gợi cho ngài nhớ lại những ngày trước năm 1954 trên quê cha đất tổ. Những biểu cảm ấy, ông Giảng thấy hết.
- Thưa GM! Nếu đức GM tiên khởi Lê Hữu Từ của chúng ta chưa về Nước Chúa từ năm 1967 thì chính quyền Cách mạng sẽ nhận được sự ủng hộ quý báu của Giáo hội Công giáo rất nhiều! - Giọng nói đầy tôn kính của ông Giảng đã đưa mục đích của buổi giao tiếp trở lại thực tại, ông tiếp - Chính GM Lê Hữu Từ đã dẫn đầu đoàn giáo dân công giáo đến Quảng trường Puginier (nay là quảng trường Ba Đình) dự lễ mit-tinh, nghe Bác Hồ đọc bản Tuyên ngôn Độc lập.
GM Nguyễn Hữu Mai lãnh đạm đáp: “Chuyện ấy cả Giáo hội Công Giáo đều biết và đã thuộc về lịch sử!”
Giọng ông Giảng mềm mỏng: “Ngày 2.9.1945 ấy đối với đồng bào Công giáo cũng là ngày “Lễ hội những người tử vì đạo Việt Nam” (tưởng niệm những người đã chết vì đức tin của mình).Việc lựa chọn ngày 2.9 của Cụ Hồ còn là nhằm gắn kết Chính phủ VNDCCH với phía Giáo hội Thiên chúa giáo nữa! GM đồng ý với nhận xét này chứ ạ!”
Gương mặt vị GM khi rạng rỡ, lúc đăm chiêu qua từng câu chuyện nhân tình, thế thái của người ngồi đối diện, tưởng như ngài đang nói chuyện với người thân ở ngoài Bắc trước khi di cư nên mới biết rành rõi về mình đến vậy, nhưng ngài lấy sự im lặng thay cho phản ứng.
Biết tâm trạng phân vân của khách, ông Giảng tươi cười: “Dạ! Tôi xin nói đỡ điều khó nói của ngài: Hiện thời đời sống sinh hoạt của toàn xã hội đang gặp rất nhiều khó khăn, thiếu thốn trăm bề, nhưng đó chỉ là tạm thời, là nhất thời. Đổi lại, chúng ta đã được hưởng quyền lợi rất lớn: Quyền làm người dân của nước tự do độc lập. Quyền ấy lớn lắm, vinh quang lắm. Vinh hạnh tới mức chính cựu hoàng Bảo Đại đã thừa nhận: “Thà làm dân một nước độc lập còn hơn làm vua một nước nô lệ!” Nhà Vua nói điều ấy sau khi đã gạt nước mắt trước hơn hai triệu “con dân” nước Việt chết đói năm 1945 khi đang là hoàng đế trị vì vương quốc này và trước khi cùng GM Lê Hữu Từ làm Cố vấn Tối cao cho Chính phủ VNDCCH. Nước bị nô dịch thì tôn giáo cũng đâu có được coi trọng! Bằng cớ là đại hội Hội đồng GM Đông Dương lần thứ nhất không họp tại Đông Dương mà họp ở nước khác, trong khi đó Toàn quyền Đông Dương lại đặt trụ sở tại Hà Nội. Ông dừng lại, kính cẩn đặt tách trà lên tay vị GM rồi tiếp: Còn tương lai, thưa GM, nhất định nước nhà sẽ là thành viên của khối ASEAN cũng như Liên hiệp quốc và trên mọi phương diện nước ta sẽ ngang hàng với các cường quốc năm châu”.
Kết thúc buổi làm việc thứ nhất, hai người chia tay với hai tâm trạng: Một thanh thản, một nặng nề.
Buổi làm việc thứ hai nghe có chiều thuận tình hơn và đích đến đã dần hiện rõ. Đến giữa buổi, vị GM đột ngột lên tiếng: “Cảm ơn ông đã kêu tôi tới để thụ giáo những lời rao giảng!”
Ông Giảng thảng thốt: “Chết, chết! Nếu đúng như thế thì tôi thành thật xin lỗi, nhưng tôi nhớ là: Chính tay tôi viết giấy “trân trọng kính mời” chứ nào dám vô lễ “kêu” đâu, và cũng chỉ thưa với ngài về những điều mà chúng ta đều biết!” Vị GM thẳng thắn: “Vậy thì kế tiếp là chuyện gì khác nữa, thưa ông?” Ông Giảng nhìn sâu vào đôi mắt vị Giám mục, giọng bình thản: “Nói là khác và không khác cũng chỉ là một thôi ạ! Thưa GM! Chúng tôi mời ngài đến đây với mục đích là giãi bày cơ hội để ngài có dịp thể hiện tinh thần ủng hộ chính quyền Cách mạng, đồng thời cũng là dịp để ngài thể hiện vai trò của bậc chủ chăn”.
Vị GM thẳng thắn hỏi lại: “Ông nói cụ thể được chứ?”
Vậy là chuyện một số vị LM đã từng làm Tuyên úy cho QLVNCH được ông Giảng “đặt lên bàn nghị sự”. Việc các tín đồ công giáo có nghĩa vụ thực hiện Luật pháp của nước sở tại như Giáo luật Hội giáo Công giáo đã quy định cũng được hai bên sôi nổi đàm đạo.
Cuối cùng, ông Giảng cười ý nhị: “Chúng tôi khẩn thiết thỉnh cầu GM động viên các vị LM mà chúng ta đã biết, đến trình diện. Các vị ấy sẽ được chuyển đến nơi học tập trung. Tin chắc trong khi học tập, chúng ta sẽ nhận được nhiều ý kiến góp ý xây dựng quý báu trên mọi lĩnh vực xã hội, kinh tế, văn hóa... của các vị ấy! Với đức tin nhân từ, bác ái cùng tấm lòng kính Chúa yêu nước của ngài, chúng tôi tin là sự việc sẽ được diễn ra trong ấm ngoài êm”. Ông Giảng dừng lại, chắp tay thành kính: “Cầu Chúa ban phước lành!”
Vị GM trầm ngâm giây lát rồi nói: “Việc này tôi không thể tự quyết, nên không trả lời ngay được. Mong các ông thư thả đôi ba bữa.”
Ông Giảng vững tin chờ và nhận được thông tin của GM Nguyễn Hữu Mai: “Trong số các vị LM đó có một vị đang lửng rửng sốt!” Ông Giảng viết thư đáp lễ: “…Chúng tôi hân hạnh được đón nhận tất cả vì đã sắp xếp đội ngũ Y, bác sỹ giỏi với trang thiết bị tốt nhất hiện có, sẵn sàng khám bệnh chu đáo cho từng vị LM ngay khi được gặp”.
Ba ngày sau, một số vị LM kể trên đã được GM Nguyễn Hữu Mai bố trí xe đưa đến. Qua khám sàng lọc, các bác sỹ đã phát hiện LM Nguyễn Tích Đức bị mắc chứng phù. Vị LM này được chuyển ngay đến bệnh viện tỉnh để các thầy thuốc kịp thời chăm sóc. Một số vị LM khác bị nhức đầu sổ mũi cũng được cấp phát thuốc men đầy đủ.
“Anh ạ! Khi triển khai nhiệm vụ, tôi tin tưởng ở chính sách tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng của Đảng và Nhà nước, đồng thời cũng hy vọng rất nhiều ở tấm lòng kính Chúa yêu nước của các vị chức phẩm, nhưng không ngờ kết quả lại lại vượt cả sự mong đợi. Thành tích này của Công an Đắk Lắk đã được Bộ Công an đánh giá rất cao”. Cụ Trần Cao Giảng ở 97 Trần Bình Trọng, Buôn Ma Thuột vui vẻ chốt lại chuỗi tâm sự và tôi đã ghi lại như trên.