Thứ Tư, 20 tháng 6, 2018

CON TẮC KÈ CỤT ĐUÔI truyện ngắn của HỒNG CHIẾN - CHƯ YANG SIN SỐ 310 tháng 6 năm 2018



- A, thằng Tắc Kè Hoa đến chúng mày ơi!
Một con Thạch Sùng bất chợt reo lên khi nhìn thấy Tắc Kè Hoa vừa nhô đầu lên sau miếng vỏ cây. Cả đám ba con Thạch Sùng choai choai chắc vừa trốn ba má chui ra khỏi chỗ ngủ để đùa nghịch. Thạch Sùng đứng ngoài cùng bên phải nói:
- Hắn ở đâu ra thế? Đôi mắt mới kinh khủng làm sao, cứ như chuẩn bị rơi ra ngoài ấy.
Thạch Sùng đứng ngoài cùng bên trái bảo:
- Người lại đầy màu sắc lóng lánh nữa chứ, chắc hắn mới đi dự sinh nhật về rồi đi lạc đến đây đấy?
Con Thạch Sùng nhỏ nhất đứng giữa, thân trong veo, nhìn thấy cả ruột gan bên trong, giương cặp mắt tròn xoe ra nhận xét:
- Hình như hắn ở xa đến, trông có vẻ mệt mỏi lắm.
- Ơ, hắn cụt đuôi kìa.
Con Thạch Sùng bên trái lớn nhất bọn reo lên như vừa phát hiện ra một điều gì đó vĩ đại lắm, rồi từ từ tiến lên phía trước. Con Tắc Kè Hoa đứng im, mắt căng lên quan sát đối thủ đang tiến lại gần, hình như bốn cái chân bắt đầu run.  Thạch Sùng bé nhanh nhảu lao lên trước, bỗng kêu lên:
- Hắn bị thương rồi, máu còn chảy đây nè!
Cả bọn Thạch Sùng xúm lại xung quanh Tắc Kè Hoa quan sát, làm quen. Hình như tuổi trẻ cùng trang lứa với nhau dễ thông cảm, nhất là khi gặp hoạn nạn, nên chỉ một chốc thôi chúng đã trở thành thân thiết. Mấy con Thạch Sùng dẫn Tắc Kè Hoa đến bên một chỗ lõm của vỏ cây để nghỉ rồi vội vã chia nhau tản đi, con chạy về nhà lấy nước, con mang đồ ăn, có con mang đến một con ruồi to để Tắc Kè Hoa ăn cho đỡ đói… Thấy con ruồi, Tắc Kè lắc đầu không nhận vì chưa bao giờ ăn xác chết; hàng ngày chỉ quen ăn các ấu trùng trốn trong các vỏ cây hay các động vật nhỏ như: dế, châu chấu, muỗi, gián, nhện… Tuy bị thương và rất mệt, Tắc Kè Hoa vẫn tỏ ra một thiếu niên có bản lĩnh.
Lũ Thạch Sùng tò mò muốn biết Tắc Kè Hoa ở đâu, tại sao lại đi đến đây với cái thân mình đầy thương tích như thế. Tắc Kè Hoa thở dài, kể lại:
Sáng sớm hôm nay khi còn đang ngon giấc như mọi ngày, bỗng có tiếng động vang lên:
- R…e…ét, r…e…ét.
Chạy ra cửa ngó xuống thấy cả xóm tắc kè đang nhốn nháo. Thôi thì già, trẻ cứ chạy rối mù cả lên, hình như không tin vào điều gì đó khủng khiếp đang xảy ra. Tiếng cưa máy vang lên, lưỡi cưa cắn vào cành cây to hơn một vòng tay người chìa ngang qua phía tây, làm cành cây rung lên bần bật. Cành cây to có nhiều cành nhỏ, cành nhỏ có nhiều lá che mát cho cả một vùng rộng lớn. Cành cây là nơi trú ngụ của họ hàng nhà tắc kè. Trong đám lá xanh trên cành cao nhất còn có ngôi nhà mới xây của vợ chồng chim chèo bẻo. Chèo Bẻo có bộ lông xanh đen, óng mượt, bay nhanh như gió nhưng rất khéo tay, xây nhà đẹp lắm. Chim đi tìm những sợi dây nhỏ, mềm mại, óng mượt, vàng ươm lót phía trong; những sợi dây cứng đan bên ngoài, tạo thành cái tổ tròn như một chiếc chén ăn cơm. Đôi vợ chồng Chèo Bẻo hạnh phúc lắm, từ sáng sớm đến chiều tối cứ tíu tít bên nhau, thỉnh thoảng mới bay vút đi tóm mấy con bướm lạc đàn, hay cào cào, châu chấu… mang về chia nhau ăn. Khi cành cây bị con người cưa, vợ chồng chim Chèo Bẻo bay vút ra khỏi tổ cuống quýt chao lượn xung quanh tán cây như muốn níu kéo, giữ cành cây lại.
Cây cổ thụ có tên lạ hoắc: Óc Rồng. Cách đây hơn một trăm năm, khi con người vừa xây xong toà nhà này cho một ông công sứ người Pháp ở. Ông chủ mới mang từ bên “mẫu quốc” sang hai cây gỗ quý trồng phía trước ngôi nhà cho đỡ nhớ quê. Cùng với thời gian, cây ngày một xanh tốt, gốc to đến bảy người ôm chưa kín, tạo nên một khung cảnh rất đẹp bên toà biệt thự cổ kính. Hôm trước mấy người đến bàn nhau cưa bớt cành thấp nhất chìa ngang qua đường làm xe ô tô của ông “sếp” mới tậu không vào được. Họ còn nói, trên cành cây này nhiều tắc kè, có con sống đến trên chục năm tuổi, bắt làm thuốc quý lắm. Một người ngạc nhiên hỏi:
- Làm sao biết tắc kè sống bao nhiêu tuổi?
- Căn cứ vào tiếng kêu, nếu con nào chỉ kêu được một tiếng rồi dừng, loại đó mới một năm tuổi; còn con nào kêu từ hai tiếng trở lên, cứ thêm một tiếng là thêm một tuổi. Trên cành này có con kêu tới mười sáu tiếng mới ngừng.
- Ô, hay nhỉ!
 Một người có vẻ ngạc nhiên reo lên tỏ vẻ thích thú. Mấy người nói với nhau thế, tưởng chuyện cho vui, ai ngờ sáng nay họ làm thật. Cành cây lớn bị cưa đứt lìa khỏi thân, rơi xuống thảm cỏ kêu đến rầm một cái như bom nổ, tôi bị văng ra đám cỏ xỉu luôn. Khi tỉnh lại thấy con người đã bắt hết gia đình tôi bỏ vào bao tải. Hình như ba tôi đã nhìn thấy tôi núp bên một cái lá nên ông hét lên:
- Út, chạy lại gốc cây kia, leo lên nhé.
Cây Óc Rồng bị mất một cành lớn trông như con người cụt mất một tay, từng giọt máu tím bầm chảy ra rơi xuống đất. Hình như cây đau lắm, đang oằn mình chống chọi, thỉnh thoảng một cơn gió thổi qua kéo theo từng chùm lá xanh bay lả tả. Mất một cành lớn như thế, không biết cây có sống nổi không. Gốc cây ở gần chỗ tôi văng ra các cành vươn lên phía trời xanh, cành lá xanh tốt lắm. Chờ đám người đi khuất, tôi mới nhằm gốc cây chạy lại để leo lên. Khi đang băng qua đám cỏ, bỗng tiếng cô Chèo Bẻo rít lên rồi nhắm tôi lao xuống. Cái mỏ như gọng kìm tóm gọn đuôi tôi kéo bổng lên không trung. Tôi giãy dụa, tự cắt đuôi mình để rơi xuống đất rồi lao vào gốc cây ẩn nấp, từ từ leo lên đây.
- Chắc cô Chèo Bẻo tưởng họ hàng Tắc Kè phá nhà nên trả thù đấy mà. Thật vô lý quá. – Thạch Sùng út nói.
- Bây giờ bạn tính sao?
Thạch Sùng lớn nhất bọn hỏi Tắc Kè Hoa. Thạch Sùng em vội nói:
- Còn sao với giăng gì nữa, ở lại đây thôi, chốc nữa ta về xin má nhé.
Chiều, má Thạch Sùng thức giấc, mấy đứa con tranh nhau kể về hoàn cảnh của Tắc Kè Hoa. Má Thạch Sùng nghe qua câu chuyện, lòng rất cảm động nên thu xếp để Tắc Kè Hoa được sống chung cùng gia đình trên chạc cây. Thế là ba con Thạch Sùng với một con Tắc Kè Hoa to bằng nhau, hình dáng bên ngoài cũng giống nhau, chỉ khác màu áo mặc; sống với nhau rất hoà thuận, vui vẻ.
Ngày tháng trôi qua, Tắc Kè Hoa lớn nhanh như thổi, thân to gấp hai rồi gấp ba, gấp bốn lần Thạch Sùng. Họ hàng nhà Thạch Sùng đều mặc giống nhau: Khoác trên mình chiếc áo màu nâu sẫm, gần giống với màu của vỏ cây Óc Rồng, nơi đang sinh sống. Còn Tắc Kè Hoa càng lớn, chiếc áo mặc trông rực rỡ hẳn lên: Trên nền xanh da trời được điểm thêm những nốt đỏ, xanh lơ đều nhau như được một bàn tay khéo léo sắp đặt. Chiếc đuôi đứt ngày nào bây giờ đã mọc lại, dài ra và to bằng Thạch Sùng anh. Ban ngày cả bọn đi ngủ, đêm đến mới thức dậy đi săn mồi, kiếm sống.
Cuộc sống cứ vậy cho đến một hôm… Khi ông mặt trời đứng trên đỉnh ngọn cây, cả nhà Thạch Sùng đang say sưa ngủ. Bỗng mùi hôi thối nồng nặc theo gió xộc vào nhà, một con quái vật đầu hình tam giác, cái mắt nhỏ tý tẹo, còn lưỡi đỏ lòm có hai nhánh cứ thò ra, thụt vào trong miệng tiến dần đến. Má Thạch Sùng hoảng hốt thét lên:
- Rắn, chạy đi các con ơi, chạy đi!
Cả bọn hoảng hốt lao ra khỏi cửa leo tít lên ngọn cây cao. Má Thạch Sùng đứng bên cửa chờ cả nhà chạy hết mới vội vã bò đi sau cùng. Con rắn thân dài ngoằng, da xanh như tàu lá non, đầu ngẩng cao, mồm bạnh ra rồi bất ngờ bổ xuống một cái thật mạnh, túm được đuôi má Thạch Sùng. Hắn cất tiếng cười man rợ. Thạch Sùng út trông thấy thế, sợ quá ngã lộn nhào từ trên cành cao xuống đám lá phía dưới, may mà không rơi xuống đất. Các anh chị Thạch Sùng chết lặng như bị dính chặt vào cây. Trong thời khắc tuyệt vọng ấy, Tắc Kè Hoa từ trên cao lao thẳng đến, dùng hết sức bình sinh cắn một nhát thật mạnh vào lưng rắn. Con rắn đau quá kêu thét lên, làm văng má Thạch Sùng ra khỏi miệng. Sau nhát cắn chí mạng, Tắc Kè Hoa chạy qua phía bên kia cây. Con rắn tuy không có một cái chân nào, thế mà leo cây rất giỏi. Nó cất cao đầu nhìn xung quanh tìm đối thủ nhưng không thấy nên lại áp cổ vào cây, dùng đám vảy dưới bụng như bàn chân bám vào cây, định đuổi theo má Thạch Sùng đang nặng nhọc nhích từng tý một ở phía trước, chiếc đuôi bị rơi đâu mất, máu chảy thành dòng. Chỉ chờ có vậy, Tắc Kè Hoa rời chỗ nấp, lao đến cắn tiếp một cái thật mạnh vào phía sau lưng con rắn gần phía đuôi. Con rắn oằn mình đau đớn, quay cả cái thân dài ngoằng lại định cắn kẻ tấn công mình, nhưng… cái thân dài như một sợi dây ấy tuột khỏi thân cây rơi luôn xuống thảm cỏ dưới đất, kèm theo tiếng kêu: oạch, một đám bụi tung lên; con rắn đau đớn, hốt hoảng bỏ chạy.
Qua cơn hoạn nạn, cả gia đình Thạch Sùng quây quần bên nhau, Thạch Sùng út tò mò hỏi Tắc Kè Hoa:
- Không sợ quái vật đó à?
- Khi… ấy, khi… ấy, không thấy sợ mà chỉ thương má thôi.
- Cảm ơn con!
Má Thạch Sùng xúc động nói.
- Dạ, chuyện bình thường thôi ạ.
Tắc Kè Hoa hình như ngượng ngùng trả lời và bất ngờ cất tiếng kêu:
- T …ắ …c k …è!
Lần đầu tiên trong đời, tiếng kêu buột miệng thoát ra, cả thân hình to lớn của Tắc Kè Hoa hình như rực rỡ hẳn lên, lấp lánh dưới ánh mặt trời. Má Thạch Sùng vui mừng nói:
- Ôi, con đã thành thanh niên rồi. Một người lớn thực thụ rồi.
- T …ắ …c k …è!
Bất ngờ tiếng của một con tắc kè ở cây Óc Rồng bên cạnh vang lên như trả lời tiếng gọi của Tắc Kè Hoa bên này. Mẹ Thạch Sùng vui mừng bảo:
- Thế là con có bạn rồi đấy.
- Sao ạ?
Tắc Kè Hoa ngạc nhiên hỏi lại, đôi mắt hình như cũng sáng hơn một ít. Mẹ Thạch Sùng giải thích:
- Con đã thành thanh niên mới có thể kêu như thế và có tiếng đáp lại, chứng tỏ có người trong gia đình, họ hàng con còn sống bên đó đã nghe tiếng của con. Ngày mai qua tìm nhé.
Tắc Kè Hoa xúc động cúi đầu, hình như đôi mắt long lanh một chút thì phải. Bầy Thạch Sùng xúm lại chúc mừng và bàn nhau cách tìm đường qua cây Óc Rồng bên cạnh.
Buổi tối hôm sau, Tắc Kè Hoa bịn rịn không muốn chia tay, nhưng tiếng kêu của dòng họ thôi thúc trái tim, thúc giục đi tìm. Cả nhà Thạch Sùng dàn hàng ngang, lưu luyến nhìn bóng Tắc Kè Hoa khuất dần sau lớp vỏ cây. Ánh trăng đêm rằm vừa nhô lên ở phía đông xa xa bao phủ lên cảnh vật như được dát bạc. Bất ngờ một tiếng kêu gọi bạn từ một nơi xa vọng đến, xoá tan màn đêm tĩnh mịch:
- T …ắ …c k …è!
- T …ắ …c k …è!
Lũ Thạch Sùng cũng buột miệng kêu lên trả lời:
- T ..ặc t …ặc!
- T ..ặc t …ặc!
Mùa thu năm 2017


LÀM BÁO THỜI KHÁNG CHIẾN tác giả HỮU CHỈNH - CHƯ YANG SIN SỐ 310 THÁNG 6 NĂM 2018




Ngày 8 Tết Mậu Tuất (23.2.2018), Tỉnh uỷ, HĐND, UBND, UBMTTQ Việt Nam tỉnh Đắk Lắk tổ chức cuộc gặp đầu xuân với đại diện văn nghệ sĩ, trí thức, báo giới. Tôi được phép lên nói vài lời. Dù có 8 năm làm Phó Ban vận động và 11 năm làm Chủ tịch Hội Văn nghệ nhưng tôi lại nói về báo chí thời ở rừng.
Nhìn khắp hội trường, tôi nói vui: “Còn có 3 mống” làm nhân chứng vật chứng. Đó là tôi, Nguyễn Trúc, Ngô Minh Kha. Sau 43 năm thống nhất đất nước, còn gặp nhau là may mắn lắm rồi. Các bậc đàn anh có người không còn, có người đau yếu không đến dự, tôi chỉ điểm lại một số mà tôi còn nhớ.
Các đồng chí không đi tập kết ra Bắc năm 1954 được cài cắm ở lại, sau này là lãnh đạo tỉnh qua từng giai đoạn đều có viết những bài tuyên truyền, cổ động hoặc dịch tiếng Kinh ra tiếng dân tộc và dịch ca dao, dân ca của đồng bào dân tộc thiểu số ra tiếng Kinh. Các đồng chí gắn bó nhiều năm ở Đắk Lắk, hiểu phong tục tập quán biết nhiều ngôn ngữ bản địa, điển hình là các đồng chí Nguyễn Xuân Nguyên, Huỳnh Văn Cần, Tô Tấn Tài (Ama H’Oanh), Ama Thương (Siu Pui)… Đến nay không còn nhớ ai là người dịch, dịch bài nào trong hoàn cảnh cụ thể nào, chỉ biết nó hay, nó đẹp:
                         Uống chén nước có tấm lòng của Đảng
                         Ăn bát cơm có tình nghĩa Bác Hồ
                                                                     (Dân ca Êđê)
                         Bác Hồ chỉ cho dân
                         Trồng lúa lên xanh tốt
                         Trồng kê lên to bông
                         Lập buôn sang làng gần
                                                                     (Dân ca M’Nông)
                         Hỡi con chim Pơrơtốc mày xinh đẹp lắm
                         Nhưng đẹp sao bằng mắt Bác Hồ
                         Mắt Bác Hồ nhìn sáng bốn ông sao
                         Dẫn dắt đồng bào kết đoàn đánh Pháp
                                                                     (Dân ca Ja Rai)
Cùng với việc dịch dân ca, các đồng chí lãnh đạo còn làm thơ, dù để tuyên truyền nhưng vô cùng xúc động:
                         Trong chiến đấu, người cuối cùng gục ngã
                         Còn mình ta trận địa giữ hay lùi
                         Quyết đứng vững quyết không rời vị trí
                         Trước quân thù, một bước chẳng hề lui
                                                                     (Ra đi – Nguyễn Xuân Nguyên)
Và đây là vẻ đẹp của đêm hậu cứ
                         Trăng lên đầu cành trăng đậu
                         Màn sương trắng rắc le the
                         Loáng sáng luồn qua khe lá
                         Vờn đùa đầu võng đung đưa
                         Gió rét, mưa đông lắc rắc
                         Rẫy ai bếp lửa rực hồng
                                                         (Tiếng rừng đêm đông – Ama H’Oanh)
Vượt lên việc tuyên truyền cổ động, trong các anh đã tràn ngập tâm hồn thi sĩ, thơ mới có tình như thế.
Ngoài các đồng chí lãnh đạo, còn nhiều người tham gia làm báo ở trong rừng, tôi không nhớ hết, chỉ biết nhớ ai thì viết về người đó.
Nhà báo Hoàng Thi quê ở Tuy Hoà, Phú Yên đã hy sinh vào Tết Mậu Thân – 1968 trong đợt Tổng tiến công nổi dậy.
Năm 1996 nhân kỷ niệm 50 năm toàn quốc kháng chiến, Quân khu V đặt Đài tưởng niệm văn nghệ sĩ, báo chí khu V tại Bảo tàng Quân khu. Phiến đá đỏ nặng hơn 10 tấn nguyên khối từ Tây Sơn – Bình Định được tạc hình ngọn lửa có ghi danh các liệt sĩ, trong đó có Hoàng Thi.
Tôi thay mặt đoàn Đắk Lắk được Trung tướng Phan Hoan – Tư lệnh quân khu V gắn Huy chương nhưng trong thâm tâm thấy mình chưa xứng đáng bằng nhiều anh chị.
Nhà báo Lâm Quý – dân tộc Cao Lan, quê ở Vĩnh Phúc – được Thông tấn xã Việt Nam cử vào thường trú tại Đắk Lắk. Lâm Quý được ưu tiên hơn chúng tôi, do đặc thù là phản ánh, thông báo tình hình ở chiến trường nên được cơ yếu của Tỉnh uỷ hoặc Tỉnh đội đánh Moóc-xơ gửi về khu V hoặc Hà Nội, còn chúng tôi viết tay, muốn có bản lưu thì kê lên giấy than mà viết rồi gửi bằng đường giao liên.
Lâm Quý có tâm hồn thơ, đi trên cao nguyên Đắk Lắk, thấy đồi xanh uốn lượn như sóng biển nhấp nhô nên có bài thơ Đồng cỏ - biển xanh với mơ ước sự phồn vinh của Đắk Lắk sau giải phóng.
Hoạ sĩ Phan Thế Cường quê ở Nam Định, là hoạ sĩ duy nhất ở chiến trường Đắk Lắk, vẽ tranh để tuyên truyền, cổ động nhưng việc chính lại là phát rẫy để có ăn. Có lần từ Krông Bông vượt đường 21 (nay là 26) mất mấy ngày đường chỉ để chụp ảnh Đại hội Đảng bộ tỉnh tại Đleiya. Chính Phan Thế Cường chụp ảnh Lâm Quý và Nguyễn Trúc bên dòng sông Sêrêpốk mà đến nay Nguyễn Trúc còn giữ được, coi như báu vật.
Có chuyện vui về Phan Thế Cường, bây giờ mới kể, chàng hoạ sĩ vẽ thì ít, làm rẫy và chống biệt kích thì nhiều nên nhớ vẽ. Chàng lấy giấy và vải đủ 7 màu lợp lên mũ nan vừa để đội đầu, vừa để ngồi lên khi nghỉ ngơi.
Sau Hiệp định Pari 1973, vùng giải phóng đã lớn mạnh nên không sợ bị địch càn quét. Anh Châu Khắc Chương cử Phan Thế Cường treo cờ Mặt trận giải phóng miền Nam. Đáng lẽ phải treo nửa đỏ ở trên, nửa xanh ở dưới nhưng Cường làm ngược lại. Anh Chương góp ý thì Cường cãi ngang, cho là mình đúng, còn viện dẫn câu thơ Tố Hữu:
                         Lá cờ nửa đỏ, nửa xanh
                         Màu đỏ của đất, màu xanh của trời
                         Ngôi sao chân lý của đời
                         Việt Nam – vàng của lòng người hôm nay.
Thì phải treo trời xanh ở trên, đất đỏ ở dưới (tôi cũng nghĩ Phan Thế Cường biết sai nhưng cãi cho vui).
Gần cơ quan Giáo dục H9 của tôi có vệt bom B52 tạo thành nhiều giếng nước khi mưa đến. Một lần đến thăm tôi, Cường vẽ khu giếng ấy, tôi có bài thơ Giếng giữa rừng, sau này in vào tập Nhân chứng một thời cùng Trúc Hoài.
                         Cả khu giếng xếp hàng đều tăm tắp
                         Rất đúng cự ly, rất đúng đội hình…
                         Rồi khu giếng được thu vào bức vẽ
                         Với chú thích đề:
                                                         Giếng giữa rừng – Vệt bom B52!
Một người ít được nhắc đến trên cương vị làm báo là Ama Pheng (Ama Bhiăng) vì anh viết không nhiều, chủ yếu là dịch từ tiếng Kinh ra tiếng Êđê. Sau này anh hoạt động công tác đoàn thể, làm Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc của tỉnh. Nhưng chính Ama Pheng là người được cử đi học làm báo tại Tây Ninh do Trung ương cục miền Nam tổ chức.
Nguyễn Hữu Trí là Thiếu tá binh địch vận, biết tiếng Pháp nên được khai thác tư liệu cả tù hàng binh người Việt và người nước ngoài, giúp cho Tỉnh uỷ nắm rõ hơn tình hình của địch. Sau giải phóng làm Giám đốc Sở Khoa học Công nghệ, xuất bản tập Hồi ức mùa xuân, có giá trị về tư liệu lịch sử và văn học.
Ngô Minh Kha có khả năng viết chữ ngược rất đẹp nên được giao viết để in litô. Chính Ngô Minh Kha phải trực tiếp đi xin tấm bia mộ từ Quảng Nhiêu (Cư M’gar) về Krông Bông mài nhẵn mặt lưng của bia để viết.
Nguyễn Trúc còn được Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ cấp giấy phép vào HC38 – địa điểm trao trả tù binh để khai thác tài liệu. Ít người biết Nguyễn Trúc còn giữ trung liên đánh địch càn vào đồi Điện Ảnh (thực ra là tổ chiếu phim). Nguyễn Trúc bị viên đạn sượt qua ngực để lại vết sẹo dài, may chỉ bị phần mềm. Anh cũng là người kéo cờ giải phóng ở Trường tỉnh hạt (nay là trường Lê Thị Hồng Gấm) mùa xuân Mậu Thân – 1968.
Sau Mậu Thân ta bị tổn thất, địch thọc sâu, càn quét vào căn cứ nhiều đợt, tới đầu năm 1969 chưa dứt.
Đây là hồi tưởng về Tết của cơ quan văn hoá ngày ấy, cụ thể là đoàn văn công đón Tết:
                         Em có nhớ vùng buôn Chàm lửa cháy
                         Giặc đổ quân vây quét mấy ngày
                         Tết đến rồi mà lán thành tro bụi
                         Đón giao thừa với củ sắn trên tay.
Hình ảnh các cô văn công xinh đẹp: Nguyệt, Tâm, Thu… lại hiện về và tôi ghi lại niềm khát vọng qua đầu đề bài thơ là: Mùa xuân về đậu trên môi em.
Thời gian qua đi mấy chục năm rồi nên nhớ nhớ quên quên, người còn kẻ mất… Còn nhiều người tham gia làm báo mà không nhớ hết. Những người vượt đường 21 (nay là 26) từ cánh Nam lên cánh Bắc, từ cánh Đông sang cánh Tây (đường 14), gùi cõng, liên hệ mua giấy, mực ở đồn điền Rôsi hay cửa khẩu Kỳ Lộ, Phú Yên để in báo, khi có báo rồi lại mang đến các đơn vị, các buôn làng…
Có một thời để nhớ như thế.
Sau này Nguyễn Trúc có tiểu thuyết Từ sông Krông Bông, tôi có nói: Anh đã trải lòng để cảm ơn cuộc đời, cảm ơn cuộc kháng chiến vĩ đại trên quê hương Đắk Lắk.
Với tôi, văn với báo chỉ là một, khác nhau ở cách thể hiện. Nhân dịp kỷ niệm 93 năm Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam, tôi ghi lại một số người làm báo thời ở rừng, họ đã sống và viết bằng sức mạnh của niềm tin chiến thắng.
                                                                                       Tháng 6-2018



Chủ Nhật, 17 tháng 6, 2018

CHUYỆN BÁC THỢ SĂN LẠC TRONG RỪNG - TRƯƠNG BI sưu tầm CHƯ YANG SIN SỐ: 308 - THÁNG 5 NĂM 2018.


Chuyện cổ của dân tộc Êđê
  


Các già làng ở buôn Ea Niêng, xã Ea Nuôl, huyện Buôn Đôn kể lại rằng: Vào thời ông bà xa xưa, tại một buôn làng nọ của người Êđê có một người thợ săn tài giỏi tên là Đăm Chai M'Wat. Ngày nào cũng vậy, hễ bác đã đi vào rừng là có thú mang về, khi thì con mang, lúc thì con hươu, con heo rừng, ít nhất cũng vài con thỏ. Những con thú mắc bẫy và săn được, bác không ăn một mình mà chia đều cho mọi gia đình trong buôn làng, vì vậy mà dân làng rất quý mến bác. Thế rồi một hôm bác đi vào rừng thăm bẫy và săn thú, nhưng rất lạ là các bẫy chẳng dính con nào, mà săn thú cũng chẳng gặp một con chim, con thú nào cả. Thấy vậy, bác đi tiếp để tìm thú. Bác đi mãi, đi mãi, đi sâu hết rừng này đến rừng khác, cuối cùng bác thợ săn lạc sâu trong rừng, không tài nào tìm được lối ra. Chiều đến, bác dừng lại bên bờ suối thì thấy từng đàn thú đủ các loài: nai, dê, ngựa, khỉ, trâu, bò, và cả các loài chim nữa, chúng tụ tập quanh suối thi nhau uống nước, có con tắm mình xuống dòng nước trông rất thích thú. Bác nghĩ, ôi dòng nước đối với chim thú thật là quý giá. Rồi cơn mưa rừng trút xuống, đàn chim thú càng thích, chúng chạy nhảy xung quanh bờ suối như những đứa trẻ. Tuy người ướt như chuột lột, nhưng bác cảm thấy vui. Màn đêm buông xuống, rừng núi âm u tĩnh lặng, thỉnh thoảng nghe tiếng hú của thú rừng. Lúc này bác cảm thấy sợ. Vừa đói vừa mệt, bác ngồi xuống một gốc cây để nghỉ. Bỗng có vợ chồng thỏ nâu bước ra từ gốc cây và nói: “Bác thợ săn ơi! Bác đi đâu mà lạc đến đây?” “Tôi đi thăm bẫy thú, nên lạc đến đây.” “Ồ bác đặt bẫy để làm hại chúng tôi và các con thú khác trong rừng là không tốt rồi. Nhưng thôi trời đang mưa gió, mời bác vào nhà chúng tôi nghỉ tạm, ngày mai chúng tôi sẽ chỉ đường cho bác về.” Bác thợ săn nghe vợ chồng thỏ nâu nói vậy liền bước vào nhà. Ôi ngôi nhà giống nhà dài của mình vậy. Vừa dài vừa rộng, có cầu thang lên xuống ở hai đầu. Vợ chồng Thỏ nâu mời bác thợ săn ngồi xuống chiếc chiếu hoa trải cạnh bếp lửa. Rồi nhóm lửa nướng bắp mời bác thợ săn ăn. Đang đói, bác thợ săn ăn ngon lành. Ăn xong bác lăn ra ngủ. Đến sáng vợ chồng thỏ nâu gọi bác dậy ăn sáng, nhưng gọi mãi mà bác thợ săn vẫn ngủ li bì. Vợ chồng thỏ để cho bác ngủ và đi kiếm ăn. Một lúc sau bác thợ săn tỉnh dậy thì thấy mình đang nằm trong một bụi cây chứ không phải trong ngôi nhà dài như đêm qua. Bác thấy rất lạ, rồi chui ra bụi cây, tiếp tục đi tìm đường về. Nhưng loay hoay suốt một ngày mà vẫn không tìm được đường ra. Tối đến, bác thợ săn thấy có ánh lửa trước mặt liền đi đến thì thấy một ngôi nhà sàn khá đẹp. Bác gõ cửa xin nghỉ nhờ. Trong nhà chú gấu nâu bước ra, thấy bác thợ săn liền hỏi: “Bác đi đâu mà lạc đến đây?” “Tôi đi thăm bẫy, nhưng bị lạc đến đây!” “Ồ bác làm việc xấu đấy. Thôi trời tối rồi mời bác vào nhà nghỉ tạm.” Gấu nâu mở cửa cho bác thợ săn vào, rồi lấy mật ong và khoai lang đã luộc chín mời bác ăn. Ăn xong bác lăn ra đống rạ bên cạnh bếp ngủ ngon lành. Sáng dậy, gấu nâu gọi bác mãi, nhưng bác vẫn ngủ li bì. Để cho bác thợ săn ngủ, gấu nâu đi kiếm ăn. Mặt trời lên cao chiếu những tia nắng xuống người, làm bác thức giấc. Bác thợ săn ngồi dậy thấy mình đang ngồi dưới một gốc cây cổ thụ. Một lần nữa bác lại thấy lạ, vì hôm qua ở đây là một ngôi nhà dài mà nay lại là gốc cây. Ôi rừng núi thật kỳ diệu. Nghĩ vậy, rồi bác tiếp tục tìm đường về. Nhưng rồi chiều đến, bác lại quay về khu rừng cũ. Bác xuống suối định tắm, thì thấy từng dàn thú rừng, chim rừng đủ các loài thi nhau uống nước, tắm lội dưới dòng suối mát thỏa thích. Mặt trời tắt dần, bác chờ cho đàn chim thú trở về tổ ấm, mới dám xuống suối tắm rửa. Tắm xong, bác đi tìm chỗ nghỉ thì thấy có ánh lửa le lói trước mặt. Bác bước đến và thấy một ngôi nhà sàn rất dài và đẹp. Cầu thang lên nhà vừa cao vừa rộng. Bác gõ cửa, một chú khỉ đực ra mở cửa. Bác nói với chú khỉ, tôi bị lạc đường, xin nghỉ nhờ một đêm. Khỉ nhìn bác thợ săn rồi nói: “Ồ, có phải bác là Đăm Chai M'Wat không?” “Đúng!” “Bác làm điều xấu, đặt bẫy và dùng ná bắn giết các loài chim thú trong khu rừng này, làm cho chúng tôi đi đâu cũng sợ. Nhưng thôi, trời đang mưa gió, mời bác vào nhà nghỉ tạm, mai rồi tính.” Bác thợ săn theo khỉ đực bước lên cầu thang vào nhà. Cả nhà khỉ đông đến gần vài trăm con. Lũ khỉ đang ăn tối. Khỉ đực mời bác cùng ăn. Ăn xong, khỉ đực dọn một chỗ trên ghế kpan gần bếp lửa cho bác thợ săn nghỉ. Sáng hôm sau, khi trời vừa hé rạng, cả đàn khỉ thức dậy ăn sáng. Họ gọi bác thợ săn dậy cùng ăn, nhưng bác vẫn ngủ say như chết. Mặc cho bác ngủ, lũ khỉ ăn sáng xong lại kéo nhau đi kiếm ăn. Bác thợ săn ngủ gần đến trưa mới thức giấc. Nhìn trước, nhìn sau, bác không thấy lũ khỉ đâu cả mà thấy mình đang ngồi trên một cành cây cao. Bác lại ngạc nhiên: Ôi,chính hôm qua mình bước lên cầu thang cao và rộng, ăn xong, khỉ đực cho mình nằm trên nghế kpan ngủ mà, sao bây giờ nó biến đâu cả rồi. Ôi thật kỳ lạ. Đang nghĩ, bỗng bác thợ săn thấy một con ngựa đi qua, bác liền gọi: “Ơ chú ngựa cho tôi đi nhờ với.” Rồi Bác thợ săn nhảy từ trên cành cây xuống lưng ngựa. Ngựa hỏi: “Bác đi đâu?” “Tôi bị lạc rừng mấy ngày hôm nay rồi, xin hãy đưa tôi về buôn Thá!” Ngựa gật đầu rồi tung vó chạy một mạch đưa bác thợ săn về tận buôn. Thấy bác thợ săn hơn bảy ngày mới trở về, mọi người trong buôn kéo đến thăm hỏi. Dân buôn tưởng bác đã bỏ xác trong rừng rồi. Nay bác trở về, ai cũng mừng vui khôn xiết. Bác thợ săn kể lại những ngày lạc trong rừng sâu cho mọi người nghe, tối đến xin ngủ nhờ nhà các con thú. Tuy biết bác là thợ săn là kẻ thù của thú rừng, nhưng các con thú vẫn cưu mang bác tử tế, cho ăn, cho ngủ nhờ, chứ không trả thù. Qua những ngày lạc rừng, bác thợ săn mới hiểu ra rằng: Rừng núi đối với muông thú vừa là ngôi nhà để trú ngụ, vừa là nguồn sống vô tận của nó. Vì vậy, bác nói với mọi người: “Từ nay tôi bỏ nghề đi săn, đặt bẫy thú rừng. Tôi khuyên mọi người cũng làm theo tôi. Đối với cây rừng cũng vậy, chúng ta không nên đốn chặt một cách bừa bãi mà phải bảo vệ nó. Mỗi cây rừng là một ngôi nhà của thú rừng. Nếu chúng ta chặt đi một cây rừng thôi, thì vô tình phá đi ngôi nhà ấm cúng của chúng. Dòng suối cũng vậy, nó là nguồn nước không thể thiếu được của muôn thú, chúng ta phải giữ gìn, bảo vệ nó, đừng làm nước ô nhiễm, dừng làm nước cạn.”
Từ ngày lạc rừng trở về, bác thợ săn bỏ nghề đi săn, đặt bẫy thú, mà gắn bó với việc rẫy nương trồng lúa, trồng bắp đậu, bầu bí, các loại và chăn nuôi trâu bò heo gà. Chỉ ba mùa rẫy nhà bác kho đầy thóc, các con vật nuôi đầy sân. Bác chọn những đồi trọc tự mình trồng cây, biến đồi trọc thành rừng cây xanh mát, làm nơi trú ngụ của muông thú. Chỗ nào suối cạn, nước đục, bác khơi thông cho dòng nước chảy, để muông thú có nước uống và tắm mình trong mùa khô cạn. Thấy bác thợ săn trồng cây rừng, khơi thông các dòng nước, mọi người trong buôn cũng làm theo, nên những đồi trọc xung quanh buôn làng đều biến thành những rừng cây xanh tốt. Những suối nước đọng được khơi thông thành những dòng nước trong lành, chim thú khắp nơi rủ nhau về sinh sống.
Qua câu chuyện này, đồng bào Êđê, muốn nhắc nhở con cháu rằng: Dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng phải cùng nhau bảo vệ cây rừng, chim thú, và bảo vệ nguồn nước quý giá của núi rừng thiên nhiên mà Yang Diê (ông trời) đã ban tặng, vì nó là nguồn sống của muôn loài và của chúng ta.
  



Thứ Bảy, 16 tháng 6, 2018

TIẾNG THƠ MỀM NHƯ GIÓ lời bình của BÙI MINH VŨ - CHƯ YANG SIN SỐ: 308 - THÁNG 5 NĂM 2018




Lê Thị Minh Nghiệm làm thơ và có thơ in từ những năm 70 của thế kỷ trước. Thơ chị chân quê, chất phát, mộc mạc, hồn nhiên. Thơ song hành với chị như một bạn tình đã trải nhiều thử thách vẫn gắn bó, duyên nợ, thủy chung.
Sinh ra ở Thái Bình, từng sống ở Đắk Lắk, Lâm Đồng, Đồng Tháp... nơi nào chị cũng mến, nhưng có lẽ ấn tượng sâu thẳm, cảm xúc dạt dào nhất vẫn là thành phố Buôn Ma Thuột muôn quý ngàn yêu. Lê Thị Minh Nghiệm có mặt ở Đắk Lắk sau năm 1975, lúc đang ở tuổi đôi mươi:
“Từ quê lúa Thái Bình
Tôi về với quê em Đắk Lắk
Những cánh rừng bát ngát
Mở ra như lạ như quen.”
                         (Về với quê em)
Khi dạy học, lúc làm báo, dù ở cơ quan hay ở nhà, Lê Thị Minh Nghiệm vẫn có một khoảng thời gian riêng để suy nghĩ về đất nước, con người nơi chị trải qua. Những tên đất, lên làng xuất hiện trong hầu hết các bài thơ, nào Bông Krang, Đắk Phơi, Buôn Tría, Khuê Điền, Ea Phê, Dray Sáp...đến Lắk, Krông Năng, Đắk Nông, Đắk Lắk... Chị đi nhiều, ngắm nhiều và rung động trước cảnh vật, cây cối, mùa màng, vui cùng với cái vui chung của cộng đồng các dân tộc. Thơ chị có hình ảnh của cây lúa, đậu, cà phê, dâu, khoai, sắn, chè, cao su... cũng có những cây đại ngàn như: rừng dầu, tếch, cà te, giáng hương, cẩm lai, trắc... có cả các nhạc cụ như: đing pah, chiêng, trống, ghi ta...
Sự gắn bó với mảnh đất này được chị khẳng định như một lời thề của mọi thế hệ đối với vùng quê mới:
“Đất này chưa đến đã mê
Đất này đến chẳng thể về được đâu
Đất này duyên nợ nặng sâu
Như tình em chẳng phai màu thời gian.”
Quan hệ thân thiện giữa người làm thơ và hiện thực cuộc sống có tính xuyên suốt đã bộc lộ trong nhiều bài thơ, tạo ra những hình ảnh, những cách nói độc đáo:“Khuê Điền ơi, bước đi không nỡ/ Lúa kín đồng lúa níu bàn chân”. Trước vẻ đẹp của thiên nhiên, Minh Nghiệm có những bộc trực đầy trách nhiệm: “Dray Sáp có hay, ta thành người mắc nợ”. Điều dễ thấy trong từng bài thơ của Minh Nghiệm là sự nhân hậu, tràn ngập tình thân yêu. Đọc thơ Minh Nghiệm, tình yêu được nhân lên, cuộc đời nhân đạo hơn. Tôi đọc trên 40 bài thơ của chị, bài nào cũng dạt dào sự ưu ái với đời, với người. Ngắm một công nhân nông trường, Minh Nghiệm giúp ta phát hiện vẻ đẹp của một cô gái lao động:
“Sáng em đi sương phủ trắng mái nhà
Tối em về trăng đậu vàng vai áo”
                            (Nông trường của em)
Hoặc:
“Các cô thôn nữ
Gánh lúa về làng
Bàn chân nhẹ bước
Nhún nhảy nắng vàng
Gánh cả mùa màng
Trên đôi vai nhỏ”
               (Mùa xuân quê mới)
Sự nhân hậu bàng bạc trong ý tứ, hình ảnh, cảm xúc, tạo nên cái nhìn thi vị, lãng mạn gần như là nét riêng nổi bật trong thơ Minh Nghiệm. Thăm một vùng dâu, chị đã rón rén như nàng tiên, gót chân sen nhẹ nhàng: “Sợ lay động cả một vùng dâu non”. Đôi tay thiếu nữ không dám cựa quậy, chỉ: “Vịn thật là êm, sợ làm đau cọng dâu mềm như nhung”.
Minh Nghiệm ít nói đến kỷ niệm, ký ức và tình yêu riêng lẻ. Nhưng khi đề cập đến, tay chị giang rộng, cởi mở, vị tha như Leo Tolstoy: “Hạnh phúc của một người là làm cho người khác sung sướng”.
“Em muốn mình là dòng sông im lặng
Dẫu vui buồn quặn thắt một mình đau
...
Em chỉ sống với những gì chân thật
Và trái tim nhân hậu của riêng mình”
Và một thoáng buồn phảng phất khi nỗi trống vắng ập đến mang theo cái lạnh của heo may, của gió và mây. Minh Nghiệm chỉ trách nhẹ nhưng chua chát, quặn lòng: “Có phải anh vô tình/ Nên làm sao hiểu được/ Giọt nước mắt u buồn/ Trên môi em mặn chát.”.
Lê Thị Minh Nghiệm làm nhiều thơ và thơ chị ngày càng chín, có giọng điệu riêng. Tiếc một điều là chưa tập hợp, chưa có người tổng kết, đánh giá, rút ra cá tính sáng tạo nhằm thúc đẩy sự nghiệp sáng tác ngày càng tiến triển hơn của chị. Qua một số bài thơ tôi đọc nhanh, đã phát hiện nhiều sự thú vị trong cách ví von, so sánh:
Điệu quan họ ngọt như sữa mẹ
Đưa tôi về với hội cầu lim
                     (Đêm lâm trường em hát)
Chiếc cầu bắt ngang như sợi chỉ nâu
Nối đôi bờ cho em gặp anh những chiều giặt áo
                    (Trên công trường mùa xuân và giọng hát)
Hoặc một lối nói vừa rất bản địa, nhưng cũng rất hiện đại:
“Trăng trung tuần sáng lạ
Ngủ quên ở đỉnh rừng
Tiếng đàn trầm hùng
Luồn qua nóc nhà rông bay vòng qua bếp lửa
Tiếng hát mềm như gió”
Đố ai phân biệt nổi: “Tiếng chiêng, tiếng trống, tiếng kèn đing năm, tiếng rừng núi xốn xang, âm thanh nào làm rụng vì sao sáng? Âm thanh nào làm rung dòng suối cạn, âm thanh nào chở mây trôi theo trăng? Tiếng đàn lan trên thung xanh, tiếng đàn trải đều mặt suối”(Tiếng đàn).
Ấy chính là sự hồn nhiên, mộc mạc, gần gũi với ngôn ngữ đời thường của cộng đồng các dân tộc và cũng vì lẽ trên, thơ Lê Thị Minh nghiệm dễ vào lòng người, dễ được bạn đọc yêu thích.