Sáng chủ nhật, tôi đến chơi nhà anh Đinh Lập, nguyên Trưởng ban Tuyên huấn Sư Ba. Nhà anh ở lô thứ hai, cách Quốc lộ 21 khoảng trăm mét, xây hai tầng, nổi bật trong cả khu vực chỉ có nhà xây cấp bốn. Vợ anh, chị Vũ Phương trước đây dạy cùng trường với tôi, tính nóng như lửa nhưng thẳng tính. Chị kể: năm 1973 tốt nghiệp Đại học sư phạm, xung phong vào nam dạy học. Sau gần một tháng hành quân vượt dãy Trường Sơn, cuối cùng dừng chân tại H5, vùng giải phóng đầu tiên của tỉnh miền núi Tây Nguyên. Bộ tư lệnh Quân khu cũng đóng gần đấy nên chủ nhật lãnh đạo tổ chức giao lưu, anh chị gặp nhau vì cùng đồng hương miền Bắc và thế là họ nên vợ nên chồng trước khi nước nhà thống nhất. Ngày chuẩn bị thành lập trường, ông Trưởng Ty Giáo dục trước cùng dạy trong căn cứ, mời chị lên trao đổi, định cử chị làm Hiệu Trưởng. Chị từ chối vì hai con còn nhỏ, lương hai vợ chồng không đủ ăn nên phải giành thời gian tranh thủ nấu rượu, nuôi heo và làm vườn để có thêm thu nhập giúp chồng an tâm công tác. Chị nói vui: Dân xứ Thanh là vậy đấy!
Anh Lập ngồi trên ghế salon hộp đóng bằng gỗ cà te vàng óng, trên
bàn có ấm trà cổ màu da lươn, tỏa hương thơm lừng. Trà Thái Nguyên được cô em
gái ngoài quê chọn cây, hái đọt, sao đạt chuẩn trước khi gửi vào biếu anh trai.
Thấy tôi đến, anh vui vẻ đứng dậy bắt tay, mời ngồi thưởng trà cùng anh. Nhâm
nhi ly trà, ngắm khuôn mặt phúc hậu và giọng nói nhẹ như người Hà Nội gốc. Tôi chợt nghĩ: đời cũng lạ, người chồng
lúc nào cũng nói nhỏ nhẹ, không to tiếng với ai bao giờ, nhưng khi tức giận con
mắt như có lửa. Còn vợ anh - chị
Vũ Phương quê Thanh Hóa hay nói và nói nhiều, tính nóng như “Trương Phi”. Cách
đây hơn ba năm, tôi đang ngồi dưới văn phòng trực ban, chị đi như chạy từ trên
lớp xuống, quát:
-Đã không có chuyên môn thì đừng bố trí dạy, học sinh đâu phải trẻ lên ba
mà muốn nói gì cũng được, các em về mách với bộ mẹ thì xấu mặt thầy cô cả trường.
Biết tính chị, tôi đứng dậy nói:
-Chị lại uống ly nước đã nào.
Đôi mắt bồ câu hình như có lửa phát ra làm khuôn mặt tròn
như đỏ lên, trán cao có một túm tóc quăn tự nhiên rủ xuống; chị cao gần mét bảy,
mặc bộ quân phục bạc màu, hai tay thọc vào túi quần, nói tiếp:
-Dạy học sinh giảng cây cà phê mít ở Braxin cao 25 – 30
mét, mà không biết ngượng mồm!
Vừa lúc đó ông Hiệu Trưởng hết tiết cũng bước vào phòng,
lên tiếng:
-Bà dạy văn thì biết quái gì về môn kỹ thuật mà nói.
Chị Vũ Phương quay lại nhìn Hiệu trưởng cao hơn mét rưỡi một
tý, chỉnh tề trong bộ veston đen đứng bên cạnh liền rút tay ra khỏi túi quần,
thẳng tay cho một cái bạt tai, miệng quát:
-Bảo tôi ngu hả, ngu nhưng chưa đến độ dạy sai kiến thức cơ
bản cho học sinh như ông.
Hiệu trưởng sợ quá, bước vội ra khỏi văn phòng. Hơn hai chục
thầy cô chứng kiến sự việc, mặt tái xanh. Bước nhanh lại nắm tay chị kéo đến
bên bàn làm việc của tôi, nói:
-Chị nóng quá, uống nước đi cho hạ hỏa.
-Hùng xem, lão dạy như thế có khác gì giết học sinh.
Trống báo vào lớp, chờ giáo viên đi dạy hết, Hiệu trưởng bước
qua Văn phòng nói với tôi:
-Bà này quá quắt, cậy
mình “từ trong rừng ra”, coi trời bằng vung; hôm nay còn đánh cả tôi, phải lập
biên bản xử lý nghiêm khắc làm gương.
Tôi hỏi lại:
-Thầy
nghĩ kỹ chưa?
-Sao
Hùng lại hỏi mình thế?
Nhìn
khuôn mặt dài, hơi tái đi vì giận và có vẻ già hơn so với tuổi năm mươi của Hiệu
trưởng, tôi nói:
-Thầy
chuyên môn toán, dạy kỹ thuật giúp đồng nghiệp trống tiết mà sai kiến thức cơ bản,
Phòng biết chuyện thì không ổn
đâu.
Hiệu
trưởng ngồi phịch xuống ghế, tôi đẩy cuốn sách giáo khoa đã mở sẵn, Hiệu trưởng
nhìn hai vòng tròn đỏ tôi khoanh, mặt bổng đỏ lên, rụt rè hỏi:
-Bây
giờ phải xử
thế nào?
-Một
bên lên lớp vội lấp tiết trống, đọc không kỹ sách giáo khoa; một bên nóng, xử sự không chuẩn mực, nhưng có điểm chung
là vì học sinh; thôi, cả hai cùng rút kinh nghiệm.
Buổi
trưa hết tiết, tôi mời chị Vũ Phương ở lại và mời Hiệu trưởng qua Văn phòng nói
chuyện. Chị Vũ Phương nhận lỗi vì quá nóng nên xữ sự sai, thế là… huề. Khi Văn
phòng chỉ còn hai người, Hiệu trưởng vỗ vai tôi, nói:
-Mình
may mắn có Hùng làm Hiệu phó giúp việc thế này là yên tâm rồi.
*
Uống
đến ly trà thứ hai, chị Vũ Phương bê ra một nhánh chuối lùn chín vàng, quả to
hơn cán dao phát rẫy, mời ăn. Tôi nói:
-Chủ
nhật tuần trước em vào rừng Chư San xem học sinh hái quả ươi, tối xuống suối bắt
cá bị hổ phục; may có con vượn đen cụt tay xuất hiện đúng lúc, đuổi hổ giúp. Thầy
trò được một phen mất vía.
Anh
Đinh Lập nghe tôi nói chưa hết câu vội đặt ly nước xuống bàn, nắm tay tôi, thở
gấp, hỏi:
-Nó
lớn không, mắt màu gì?
-Chắc
phải cao hơn mét ba đấy, mắt màu nâu.
Đinh
Lập buông tay tôi, thở phào, nói:
-Thế
là nó vẫn còn sống!
Tôi
ngạc nhiên hỏi lại:
-Anh
đã từng gặp con vượn này rồi à?
Nhấc
ly trà nhấp một ngụm nhỏ, anh nhìn ra sân có cây xoài cao hơn ba mét, gốc to bằng
bắp đùi người lớn, tỏa bóng mát rượi; anh kể…
*
Mình
sinh ra bên Thái Lan, năm 1960 theo gia đình về nước, định cư tại Thái Nguyên;
học xong cấp ba xung phong đi bộ đội. Vào Tây Nguyên, các thủ trưởng thấy mình
chữ đẹp, khéo tay cắt, gián, vẽ, gò, hàn… nên xem như của quý, không cho ra trận
đánh nhau.
Bọn
Mĩ sau nhiều lần đổ quân càn quét vùng rừng Chư Yang Sin, nhưng bị ta đánh bật
ra. Chúng quyết định chọn một quả đồi thấp, cách đèo Phượng Hoàng hơn ba chục
km về phía tây nam, gần chân dãy Chư Yang Sin đóng đồn để ngăn quân ta vận chuyển
lương thực từ vùng biển lên nam Tây Nguyên. Dân trong vùng quen gọi đồi ấy là đồi
Mĩ. Từ chân đồi Mĩ rộng ra xung quanh trong bán kính một ki lô mét, chúng rãi
chất độc hóa học làm cây cối chết hết; về mùa mưa chỉ có cỏ gianh mọc được, mùa
khô đốt cháy sạch bong như sân, con chuột chạy qua từ xa cũng nhìn thấy.
Hôm
ấy gần đến ngày 27/7, đường giao liên bị tắc nên mình đề xuất và xung phong đi
lấy mật ong về bồi dưỡg cho thương binh. Được thủ trưởng chấp thuận, từ mờ sáng
mình lên đường, đến quá trưa lấy đầy gùi mật ong đang định quay về thì bỗng có
tiếng gào thét vọng vào núi, nghe rất thê lương:
-U…ố…t,
u… ố…t, u… ố…t!
Thấy
lạ, mình băng rừng tìm đến thì… bên cạnh bờ suối phía giáp đồi cỏ gianh chạy
dài đến tận đỉnh đồi nơi lính Mĩ đóng đồn; một con vượn đực cao tới mét rưỡi
đang dùng hai tay lay lay chiếc lồng sắt nhốt một con vượn trong đó, mồm không
ngớt kêu gào. Mình nghĩ: chắc bọn Mĩ đặt lồng sắt lừa con vượn vào bắt sống;
con bên ngoài không biết cách mở lồng nên mới kêu gào đau đớn như thế. Đang
phân vân không biết có nên mạo hiểm lại mở lồng cứu con vượn hay không. Bỗng có
tiếng máy bay vọng đến. Trên trời, từ phía thị trấn Khánh Dương một chiếc trực
thăng từ từ bay tới. Bên cửa hông máy bay, một tên lính Mĩ đội mũ sắt, tay cầm
khẩu AR15; phía sau lố nhố mấy cái đầu đội mũ sắt nữa như đang chen nhau ra cửa.
Thấy
máy bay bay đến gần, con vượn đứng phía ngoài cầm một khúc xương dài độ ba gang
tay, chắc là xương ống chân nai, màu trắng ngà, nhảy lên đứng trên lồng. Con vượn
một tay nắm lồng, một tay cầm khúc xương khua khua trên đầu như sẵn sàng quyết
tử để bảo vệ con vượn bị nhốt bên trong.
Chiếc
trực thăng bay cách chiếc lồng độ ba chục mét, hạ độ cao xuống khoảng hai chục
mét; tên lính đứng bên cửa máy bay nổ một loạt đạn; con vượn trên cũi văng xuống
đất, ôm ngực dãy dãy. Con vượn trong cũi gầm lên đau đớn:
-U…ố…t!
Mình
ức quá, không kìm được nên nâng khẩu CKC lên ngắm vào đầu tên phi công đội mũ
trắng, siết cò. Tiếng CKC chìm trong tiếng gầm của máy bay. Chiếc trực thăng
như bị động kinh, quặt ngang, nghiêng mình hắt tên lính vừa bắn con vượn rợi bịch
xuống đất, chết thẳng cẳng. Máy bay lao luôn vào vách núi phía đông biến thành
một đám cháy lớn.
Trên
đồn, một tốp lính Mĩ thấy trực thăng bay đến vội ùa xuống, tay xách súng AR15,
cười nói vui vẻ như đi nhặt vàng. Chúng đi được nửa đường thấy máy bay bị bắn
lao vào núi bốc cháy, vội quay đầu chạy trở lại vào đồn như bị ma đuổi. Mình
băng qua suối, bò lên tháo chốt, mở cửa lồng thả con vượn ra rồi lăn trở lại suối.
Lúc ấy, bọn Mĩ trên đồn mới hoàn hồn, trút đạn xuống khu rừng như đốt pháo tết.
Mình theo suối chạy một mạch đến gần tối mới về đến đơn vị.
*
Ăn
xong bữa tối, mình qua trạm xá kể cho anh em thương binh nghe chuyện bắn rơi trực
thăng lúc trưa, cứu được con vượn đen lớn. Vui miệng, nói thêm:
-Con
vượn được mình cứu, mắt màu nâu, mặt hình trái xoan, ngực nở không khác gì một
cô thiếu nữ tuổi mười tám nhé.
Anh
em thương binh cười ầm cả lên, có người còn vỗ tay đôm đốp ra chiều thích thú.
Bỗng có người vỗ vào vai, mình quay lại thấy đồng chí liên lạc của thủ trưởng
binh trạm đứng đó từ lúc nào rồi. Đồng chí nói:
-Thủ
trưởng bảo anh lên gặp ngay.
Mấy
đồng chí thương binh reo lên:
-Chắc
lên để viết báo cáo lĩnh thưởng rồi, chúc mừng đồng chí nhé.
Một
người đầu quấn băng, tay phải treo lên cổ, đứng dưới đất bước lại nắm tay mình,
lắc lắc, nói:
-Diệt
được một trực thăng lại có gần tiểu đội lính Mĩ bị chết thiêu trong ấy; chắc chắn
được tặng danh hiệu Dũng sĩ diệt Mĩ rồi. Chúc mừng đồng chí!
Mình
vội vàng đi theo đồng chí liên lạc, lòng lâng lâng. Đến hầm chỉ huy thấy cả ba
thủ trưởng ngồi bên chiếc bàn đan bằng nứa, vẻ mặt nghiêm khắc, nên chột dạ đứng
lại, dập hai gót chân, đưa tay lên đầu, nói:
-Báo
cáo ba thủ trưởng, thượng sĩ Đinh Lập có mặt!
*
Hơn
mười hai giờ đêm mới rời hầm chỉ huy trở lại hầm của mình, lòng nặng trĩu ưu
phiền; lặng lẽ lấy võng mắc vào cây cạnh cửa hầm rồi ngã lưng mà không sao ngủ
được. Tiếng côn trùng kêu rả rích, tiếng chim ăn đêm gọi nhau vọng đến nghe buồn
đến não ruột. Mình bắt tay lên trán tự hỏi: Ta sai ở đâu? Thằng Mĩ ở tận bên
kia bán cầu mang bom đạn đến giết người Việt Nam, hủy hoại làng xóm Việt Nam
nay còn đặt bẫy săn lùng bắt thú quý hiếm của Việt Nam. Tự do kiểu Mĩ là vậy ư?
Tại sao mình trừng trị bọn xâm lược, cướp nước lại có tội? Chẳng lẽ cứ trơ mắt
ra nhìn bọn xâm lược ấy muốn cướp phá thế nào cũng được ư? Nhưng các thủ trưởng
nói cũng có lý: Quân đội phải có kỷ luật, bộ đội phải chấp hành mệnh lệnh một
cách tuyệt đối. Không có lệnh dù có phải hy sinh cũng chấp nhận.
Tóm
lại, khi chưa được lệnh mà bắn máy bay phải chịu hình thức kỷ luật. Nhưng xét
thành tích diệt được một máy bay và bảy tên lính Mĩ nên công và tội… huề. Ngày
mai chuyển qua bộ phận hậu cần.
Thực
lòng, nghĩ đi, nghĩ lại vẫn thấy áy náy không yên nên ngồi dậy, châm điếu thuốc
lá, rít một hơi dài, thả khói cho bay lên tán lá cây đen sì che lấp cả bầu trời
phía trên. Bỗng có tiếng thì thào bên võng:
-Thủ
trưởng hút thuốc gì mà thơm thế?
Mình
ngồi dậy, đưa điếu thuốc đang hút dở cho Sâm, nói:
-Làm
một hơi đi.
Mặc
dù hai người nói với nhau rất nhỏ, nhưng ba căn hầm bên cạnh anh em đều thức giấc
kéo ra vây xung quanh. Hai điếu thuốc Chính ủy cho lúc chia tay được chuyền tay
nhau qua bảy người, vèo một cái chỉ còn một mẫu ngắn không cầm được nữa. Sâm bứt
một chiếc lá quấn hai mẩu thuốc còn lại, chuyền tay nhau hút cho đến khi chỉ
còn tro. Sâm hỏi:
-Anh
Đinh Lập kiếm đâu ra thuốc lá quý vậy?
-Lúc
tối lên làm việc với các thủ trưởng, khi về được Chính ủy cho hai điếu Điện Biên bao bạc này đấy.
Khanh,
quê Ninh Bình mới được tăng cường về đơn vị, xúyt xoa nói:
-Lần
đầu tiên trong đời em được hút thuốc loại này đấy, vừa đậm, lại thơm hơn hẵn
thuốc lào quê em.
Mấy
anh em cười ồ cả lên, mình lên tiếng:
-Khuya
rồi, anh em về ngủ đi; sáng mai mình chuyển qua bên hậu cần
rồi, hôm nay gặp nhau đây xem như liên
hoan chia tay nhé.
*
Mình về phụ trách đơn vị hậu
cần, và quên luôn chuyện bắn chiếc trực thăng hôm trước, tập trung vào công việc
chính: thành lập các tổ bám bên trục đường chính đoạn đường được giao
để sửa xe đạp
cho binh trạm; một tổ tăng gia
trồng rau và sắn; một tổ chế biến lương
thực,
thực phẩm cung cấp cho Trạm.
Ngừng lại nhấp một
ngụm trà, anh nhìn tôi nói tiếp: Trong một lần đi kiểm tra tổ sửa xe đạp
vào buổi sáng, khi đến chân đèo
719 mình không may bị bom tọa độ vùi. Không biết ngất đi bao lâu, bỗng
nghe có tiếng kêu vọng đến: U…ố…t, u… ố…t, u… ố…t! Lúc đầu nghe rất xa, sau rõ
dần, rồi mình mở mắt ra.
Ngay sát bên cạnh, con vượn đen mắt nâu, măt trái xoan, cụt tay trái, đang dùng
tay phải và hai chân bươi đất cố
kéo tay mình lên; miêng không ngớt kêu: U…ố…t, u… ố…t,
u… ố…t!
Thấy
mình mở mắt, nó dụi dụi trán vào trán mình và có cả những hạt nước nóng
hổi rơi xuống mặt. Vừa lúc bộ đội đi tìm chạy đến; con vượn đen nghe tiếng người hú đến gần, nó ngữa mặt
lên nhìn lên trời, cất tiếng kêu
buồn bã:
-U…ố…t, u... ố....t, u... ố....t!
Kêu xong, nó chạy biến vào rừng. Lần theo tiếng vượn kêu,
anh em đến đưa mình về binh trạm cứu chữa. Trở lại đơn vị, khi đi công tác lẻ ngủ trong rừng, sáng ra thường thấy có
chùm quả rừng chín và các loại lá cây xanh mới hái đặt
trên võng; mình biết ngay con vượn đen cho nên ăn được. Cũng nhờ thế, đơn vị hậu cần do mình phụ trách, ngoài các món: rau tàu bay, rau má, ngọn sắn muối dưa, nay
còn có thêm các loại lá cây rừng nấu canh,
nước ngọt hơn cả rau ngót nhà trồng,
ăn vào thấy khỏe người ra luôn.
Sau này, bộ đội đi qua cung đường đơn vị mình phụ trách được ăn món canh đặc biệt
nấu bằng lá rừng nên đặt tên cho món canh này là: “Canh ông Lập”!
Năm 1975, nước nhà thống nhất, đơn vị rời vùng chiến khu
ra đồng bằng đóng quân rồi chuyển qua Bộ Nông nghiệp làm kinh tế nên không có thời gian trở lại căn cứ xưa nữa.
Không ngờ con vượn đen ngày ấy vẫn còn, lại biết giúp người lúc
gặp nạn; xem ra mình cứu nó cũng nên lắm!
*
-Ông này, có chuyện như thế mà cả chục
năm làm vợ không kể cho tôi nghe với.
Lườm
chồng một cái, chị Vũ Phương nói thêm:
-Hai
anh em ăn chuối đi, tôi ra vườn đây.
Chị Vũ Phương đi cửa sau xuống bếp. Anh Đinh Lập nhìn ra cây xoài trước sân, nói:
-Cây xoài rừng này lấy hạt từ những quả con vượn cụt
tay ấy cho mình trong căn cứ cũ
mang về
đấy, tuy quả nhỏ nhưng chín ăn
ngọt như đường phèn. Chủ nhật tuần sau Hùng thu xếp đi
cùng mình vào thăm lại đồi Mĩ, may ra ta có thể gặp lại cố nhân.
Tôi vui vẻ nhận lời. Bất chợt, trên cây xoài, đôi chim cu không biết từ đâu bay đến, cất tiếng gáy: cúc cù cu, cúc cù cu... như một bản nhạc
đồng quê, nghe xao xuyến đến nao lòng.
Buôn Ma Thuột, mùa mưa năm 2025


