Thứ Năm, ngày 25 tháng 8 năm 2016

GIỚI THIỆU CHƯ YANG SIN SỐ 288 - tác giả LÂM HẠ





NGƯỜI ĐI TÌM BÓNG
Truyện ngắn



Chúng tôi là người. Tất nhiên là tôi biết, làng tôi biết, và nếu bạn nhìn vào tôi, bạn cũng nhận ra điều đó.
Nhưng, chúng tôi không có bóng, chuyện đó thì không hẳn ai nhìn vào cũng biết.
Đó là câu chuyện dài, thường được bắt đầu, được lưu truyền bằng câu kể  “ngày xửa ngày xưa”, từ một thời điểm nào đó xa tít tắp. Ngày ấy, những con người sơ khai lập nên làng tôi vẫn còn bóng, người và bóng là bạn, người trò chuyện cùng bóng, thương yêu những cái bóng như thương yêu đôi bàn chân mình. Nhưng rồi một ngày, những cái bóng ấy muốn trỗi dậy, muốn cắt điểm giao kết giữa tổ tiên chúng tôi và bóng của chính mình. Những cái bóng đưa ra lý do vì sao chúng đòi hỏi điều đó.
“Con người chỉ làm những điều họ muốn, chỉ thấy cần những thứ cho bản thân mà không quan tâm đến người khác. Đôi chân người đi đến nơi bóng họ không muốn đặt chân, đôi tay người làm những việc mà bóng thấy xấu hổ, đôi môi người nói những điều mà đôi tai bóng thậm chí không thể lắng nghe. Những cái bóng muốn sống cuộc sống như mình mơ ước, thanh bình và nhẹ nhàng, không phức tạp như con người.”
Sau những tháng ngày dài tranh luận, thương thuyết, cuối cùng tổ tiên chúng tôi cũng phải chấp nhận điều kiện của những cái bóng. Họ đặt ra một kết giới, một loại rào chắn vô hình được xây nên bởi những lời thề của cả hai bên. Họ thề rằng cả ngàn đời sau, con cháu của người và bóng không được tìm đến nhau. Họ chia giới phận, họ kết những sợi dây làm rào chắn. Ngàn năm, vạn năm, chúng trở thành một bức tường kiên cố rong rêu, chưa có người nào đặt chân đến vùng đất phía bên kia – phía bên những chiếc bóng của mình – để được gặp gỡ một phần cơ thể họ.
Tất nhiên, việc phân tách cũng phải có quy trình, không phải ai sinh ra cũng đều không có bóng, mà ngược lại. Bất- kể- đứa- trẻ- nào- sinh- ra- cũng- đều- có- bóng. Nên làng tôi có một tập tục cổ xưa, khi có một đứa trẻ cất tiếng khóc chào đời, mọi người trong làng sẽ đến chiêm ngưỡng sinh linh bé nhỏ như chiêm ngưỡng cái bản thể sơ khai của chính mình, tặng quà, chúc phúc cho đứa trẻ rồi đem nó ra giữa ánh sáng mặt trời, để được nhìn thấy bóng của đứa bé, lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng. Sau đó, một kết giới được thực hiện phân tách chiếc bóng, cái bóng tự biết vị trí của mình, sẽ tìm về bên kia bức tường, và mãi mãi ở lại bên ấy cho đến khi đứa trẻ đó mất đi.
Cũng như bao đứa trẻ khác, tôi chưa bao giờ thấy bóng của mình. Tôi hình dung ra nó, có phải như một làn gió mùa xuân mang hương thơm của hoa cỏ? Bóng có như những cụm mây lững lờ trôi rồi bỗng chốc đổi màu hóa thành mưa? Từ ngày tôi biết mình không hoàn hảo, mình sống thiếu một điều gì đó thuộc về mình, tôi thường hay suy nghĩ về những cái bóng. Mẹ tôi kể, ngày mẹ đưa tôi ra tắm ánh mặt trời lần đầu tiên để thực hiện một kết giới với cái bóng của mình, tôi đã khóc rất to, còn cái bóng bé xíu của tôi co cụm thành một chấm nhỏ li ti trên nền đất. Mẹ rất buồn, mẹ không hiểu những giao ước của tổ tiên có ý nghĩa gì nhưng mẹ biết, cuộc sống không có bóng chắc hẳn sẽ mang nhiều nỗi buồn. Mẹ thì thầm với cha, hay chúng ta giấu cho con mình một cái bóng, giấu thật kỹ? Nhưng cha cương quyết, chúng ta không thể làm khác những gì tổ tiên đã lưu truyền, đó là vi phạm những kết giới, và cha bắt đầu tách chúng tôi, tôi- và- bóng.
Tôi không có bạn, những đứa trẻ không- có- bóng như tôi. Bạn tôi là những cụm hoa ven đồi, những mầm cây mới nhú, những chú chim chích chuyền cành hót lên những bài ca hân hoan trong nắng sớm. Tôi ganh tị với chúng, nhưng tôi cũng thầm mong được như chúng, vì sao ư? Vì chúng có bóng. Đúng, chúng chẳng bao giờ cô đơn cả. Chúng chơi đùa với cái bóng của mình, cùng đồng hành trên những hành trình dài di trú, cùng nhau lớn lên, già đi, khô cằn và tàn lụi. Những cái bóng ẩn nấp khi trời mưa và chạy ào ra phơi mình khi ánh mặt trời len lỏi tìm đến chúng. Tôi yêu chúng, những cái bóng dễ thương.
Vào một đêm buồn tẻ, tôi nhìn ra sân, bóng của cây tiêu huyền in trên vách với những chiếc là rung rinh như đang dự lễ hội khiêu vũ dưới ánh trăng màu mỡ gà. Tôi buồn bã hỏi mẹ vì sao chỉ có con người chúng ta mới không có bóng? Mẹ im lặng một hồi lâu, nén tiếng thở dài rồi thì thầm như sợ con thạch sùng trên trần nhà nghe thấy. Vì con người có nhiều thói xấu, nhiều vô kể, nhiều đến nỗi chính cái bóng của họ cũng không thể chấp nhận được. Mẹ cũng đã từng muốn làm cỏ cây, hoa lá, chứ chẳng muốn làm người.
Từ hôm đó, ngày nào tôi cũng tự nhủ mình không được làm những việc xấu, không trêu chọc hàng xóm, không trộm cắp, không nói xấu bạn…và tối nào tôi cũng thì thầm với bóng cây tiêu huyền rằng ngày hôm đó tôi không làm việc gì xấu mà ngược lại, chỉ làm những việc tốt thôi. Và tôi cam đoan những điều tôi nói là sự thật, tôi chỉ nói sự thật, vì nói dối cũng là một việc xấu.
Vậy mà tôi vẫn chẳng có bóng. Thật không công bằng, nếu đúng như lời mẹ nói thì nếu tôi trở nên ngoan ngoãn, đáng yêu thì phải có bóng chứ? Tôi lang thang khắp vùng đồi, bây giờ đang là mùa xuân, cỏ hoa xanh tươi, nhưng tôi vẫn thấy tận sâu thẳm trong mình có một nỗi buồn không thể nói nên lời.
Trong một chuyến dạo chơi của mình, tôi đã thơ thẩn đi đến bên bờ tường giờ đã chuyển màu xám, bức tường ranh giới. Tôi lần mò, chạm tay vào những tàn tích đã chứa đựng nhiều bí mật lâu đời, những câu chuyện chưa được kể, những điều được gìn giữ cẩn thận. Tôi bắt đầu tò mò về thế giới bên kia, thế giới của những - chiếc - bóng, nơi cất giữ một phần cơ thể của chúng tôi. Tôi lấy tay, cào nhẹ vào bức tường, những hạt bụi đất bay vương vãi. Có tiếng động, rất khẽ, rồi to dần, và tôi nhận ra đó không hoàn toàn chỉ phát ra từ hành động của tôi.
Có ai đó - hay nói đúng hơn là bóng của ai đó - cũng đang ở phía bên kia, và hành động như tôi, thậm chí còn mạnh mẽ hơn. Nhưng bức tường không đơn giản chỉ để một bản thể người và bóng phá vỡ. Chúng vẫn đứng im, sừng sững chia đôi thế giới. Bây giờ tôi mới nhận ra rằng, con người thật nhỏ bé, và không phải chuyện gì con người cũng có thể can dự vào. Tôi bất lực, ngồi xuống thảm cỏ bật khóc nức nở. Dù sao thì tôi cũng chỉ là một đứa trẻ thôi mà? Một đứa trẻ cố gắng không phạm phải những lỗi lầm, đơn giản để được nhìn thấy bóng của mình. Tôi khóc to hơn, thét gào về phía bên kia bức tường, hi vọng nhỏ nhoi rằng bóng của tôi đang ở đâu đó, sẽ nhận ra, và chạy đến bên tôi.
Bóng chiều đã đổ xuống chân đồi, chỉ còn vài tia nắng yếu ớt còn vương lại trên ngọn cây. Tôi ủ rủ đứng dậy, lê bước về nhà và tự nhủ sẽ quên đi chuyện này, quên hẳn. Tôi thầm nghĩ, chắc ngày xưa, những người lớn – khi còn là một đứa trẻ như tôi – cũng đã hi vọng như vậy, và cũng có những hành động ngốc nghếch thế này. Nhưng cuối cùng, chẳng có ai làm được, họ vẫn sống với cuộc đời không hề có bóng. Tôi chỉ thắc mắc, sống cả đời như vậy thì có thú vị không?
Tôi đi thơ thẩn, chạy đến chỗ tia nắng còn sót lại để tìm bóng của cành cây nào đấy, tôi nghịch với nó, tự an ủi nỗi thất vọng đang lớn dần trong mình. Bóng cây hôm nay thật lạ, lại làm theo những hành động của tôi, chiếc lá sao to đến thế? Hình thì lại kỳ quái, lá cây mọc tay sao, đủ năm ngón bé tẹo đây này, yên nào, nó co cụm, uốn éo, đúng y như những hành động của tôi, khoan đã…lẽ nào? Tôi đưa chân ra, cởi đôi giày có một lỗ thủng được mẹ vá lại khéo léo, năm ngón chân, ngón út bé tí xíu kìa. Thật không thể tin được, tôi bàng hoàng quay lại nhìn ánh sáng cuối cùng đã tắt lịm. Trên đường về, tôi vẫn chưa hiểu chuyện gì đang diễn ra.
Đêm không trăng, chỉ có những ánh sao lấp lánh, những ánh sao quá xa để có thể soi bóng bất cứ thứ gì trên mặt đất. Tôi nằm im trong căn phòng tối, để chắc chắn rằng giờ này cả nhà đã ngủ say. Tôi ngồi dậy, nhẹ nhàng cố gắng không gây ra tiếng động. Tôi lén lấy cây đèn bàn đặt lên giường và trùm chăn lại, bật đèn. Bóng của tôi bắt đầu nhảy múa, thì thầm kể cho tôi nghe những câu chuyện về thế giới của những - chiếc - bóng. Thế giới ấy chỉ là những ảo ảnh lờ mờ, luôn luôn hi vọng cái bản thể người của mình đến tìm, nhưng hàng ngàn năm nay, chưa có cái bóng nào được quay về với con người thật của mình cả. Tại sao ư? Vì đến khi nhắm mắt xuôi tay, con người chỉ giữ lại trong lòng những hận thù, toan tính thì kết giới sẽ chẳng thể nào được hóa giải. Chỉ có duy nhất cái bóng của tôi vẫn luôn hi vọng và tin tưởng rằng một ngày nào đó sẽ được trở về.
Nhưng có một điều thật kỳ lạ, từ ngày tôi có bóng, mọi người lại càng xa lánh tôi. Tôi trở thành một con người kỳ dị, một người lại chẳng giống ai trong làng. Tôi buồn bã, lang thang một mình trên những triền đồi ngập nắng nhưng chẳng thể xua tan băng giá trong lòng. Cái bóng an ủi tôi, và rồi chúng tôi quyết định sẽ đi về phía bên kia bức tường và kể cho những cái bóng nghe về thế giới con người, những người suốt đời không - hề - có - bóng. Những cuộc đời lặng câm, tuyệt vọng, chất chứa trong lòng sự thù hận ghen tuông, những bản năng sinh tồn yếu đuối.
Đêm nay, tôi nằm giữa những cái bóng, bóng của cha, mẹ, bạn bè, anh chị em…chúng im lặng và thầm cầu nguyện. Chúng hi vọng rằng tôi, người duy nhất tìm được bóng mình, người luôn giữ trong lòng những gì tinh khiết nhất của trái tim con người sẽ có thể giúp hàn gắn hai thế giới người và bóng, để loài người không còn cô đơn nữa. Nhưng tôi biết điều đó chẳng dễ dàng gì, những định kiến đã được hình thành hàng ngàn năm, điều tốt đẹp đã bị xóa nhòa theo thời gian để cái ác ngự trị quá lâu như những tảng đá kiên cố chắn lối con người nhìn thấy ánh sáng chân lý thì phải mất bao nhiêu thời gian để tìm lại?
Một con đường gian nan, nhưng với tư cách Người duy nhất tìm lại được cái bóng của mình, tôi sẽ dành cả cuộc đời mình để giúp những cái bóng tìm lại cuộc đời của chúng, cũng như để loài người tìm lại được nguồn khởi sinh của chính mình. Bởi khởi sinh một con người, luôn là những nụ hoa tốt lành.








Thứ Hai, ngày 22 tháng 8 năm 2016

GIỚI THIỆU CHƯ YANG SIN SỐ 288 - tác giả NGUYỄN VĂN THIỆN

Tác giả NGUYỄN VĂN THIỆN


NGÀN LẦN SỐ 7

Truyện ngắn



Ta hát một lần bảy bài hát xếp chồng lên nhau, mình có nghe thấy không, nếu nghe thấy thì có tin không? Bây giờ ta hát bài hát của sương đêm xa vắng ngôi sao thiên thần bé nhỏ. Xếp chồng ngay bên trên là lời ca về biển cả xa xăm gấm hoa đưa tiễn bên trời. Trên chút nữa là giai điệu ngọt ngào về bầy linh miêu trên núi Chư Mang, trên nữa là âm thanh cuồng loạn của lửa than trong ngực đá đêm dài tù ngục. Hát mãi thôi, cho hết những hoang vu miệt mài câu chữ dấu thanh ký tự mệt nhoài! 
Ta kể một lúc bảy câu chuyện xếp chồng lên nhau tầng tầng lớp lớp, mình có nghe thấy không, nếu có nghe thấy thì có tin không? Đầu tiên là chuyện của chính đời ta nhớn nhác ngược xuôi nhẹ dạ yêu thương ngút ngàn căm hờn rủa xả. Xếp ngay bên trên là chuyện về thế gian đông đúc trâu ngựa lợn gà hối hả gạo cơm ăn thịt lẫn nhau. Bên trên nữa là chuyện về bầy thú hoang nửa đêm tỉnh giấc làm người, dẫn dắt nhân quần đi theo vòng tròn quanh miệng vực. Trên nữa là câu chuyện về một trái tim tuổi trẻ yêu thương bằng nhịp đập long lanh không hề hứa hẹn, có thể dễ dàng vỡ tan bất cứ lúc nào, như một giọt sương treo trước cửa mùa hè...
Ta đọc một lúc bảy bài thơ xếp chồng lên nhau như lá rừng mùa thu, mình có nghe thấy không, nếu nghe thấy thì có tin không? Trên cùng là bài thơ học trò phượng nở ve kêu trời xanh nắng đỏ. Tiếp đến là bài thơ mệt mỏi trần gian gồng gánh chia phôi. Dưới nữa là bài thơ về cuộc chiến tranh ngàn năm chưa kết thúc. Dưới sâu là bài thơ tù ngục bàn chân buông thõng dưới bùn. Càng xuống dưới sâu thì thơ càng trầm đục, giọng khàn như lão tám mươi ho bằng giọng ho ký ức. Bài thơ nằm dưới cùng dĩ nhiên nhiều khi khó thở vì tức ngực, vì phải đội trên mình lớp lớp những đan xen chồng chéo buồn vui!
Ta gom bảy cơn mưa về một chỗ quanh núi Chư Mang, xếp chồng nhau như sóng biển ngày tận thế, mình có nhìn thấy không, nếu nhìn thấy thì có tin không? Cơn mưa dưới cùng tuổi quần đùi áo vá chăn trâu, trộm sắn trộm khoai chùi đất vừa nhai vừa nuốt vừa vuốt mắt vì mưa quá to. Cơn mưa xếp trên lạnh buốt đường về một mình xa ngái, nghe nước ngấm vào thịt da mà thương tim mình nhỏ dại, đi đường nào cũng chỉ gặp cô đơn. Xếp ngay bên trên là những trận mưa nguồn lở đất lở cát cuốn trôi cổ thụ. Trên nữa là cơn mưa chạm mặt tình cờ trên chặng đường dâu bể tìm vui, trắng xóa bốn bên núi đồi hoang, lạnh, may mà, trong bàn tay còn nóng ấm một bàn tay.
Mình đã bao giờ thấy đá nở hoa chưa? Trên núi Chư Mang quả thực nhiều chuyện lạ lùng kỳ ảo. Vào những đêm mưa mát rượi lòng núi, trên những tảng đá lưng trần hàng triệu năm tuổi tác, bỗng đâu hé nụ bung mầm rồi rạng rỡ đơm hoa. Ta xếp bảy quả núi chồng lên nhau rồi vun rồi tưới, rồi làm gió làm mưa rồi kể chuyện rồi ngâm thơ, như một hiệp sĩ nửa mùa coi khinh những lề thói nhân gian dối gian rối rắm. Rồi chờ cho đến nửa đêm, khi những ngôi sao bên trời thắp lửa, đá sẽ bắt đầu nở bung hoa, thơm ngào ngạt cả một vùng sơn khê trùng điệp.
Đêm qua, ta mơ một lúc bảy giấc mơ xếp chồng lên nhau, mình có tin được không? Trên cùng là giấc mơ màu xanh có sóng biển dạt dào của ngày nào đó xa xôi không nhớ nữa. Tiếp đó là giấc mơ tuyết trắng mênh mông, người con gái nào đó không rõ mặt tay cầm bông hoa trắng lặng lẽ bước đi không một lần ngoái lại. Dưới nữa là giấc mơ màu đỏ cờ hoa quanh năm lòe loẹt trước hiên nhà loang lổ máu và hoa. Càng xuống sâu giấc mơ càng nát vụn ra không còn nhìn rõ hình hài. Ở dưới cùng là giấc mơ màu đen chảy tràn trề từ nửa đêm về sáng, chảy đến đâu ướt đầm đìa đến đó, lạnh lẽo vô biên.
Mình mới đến Chư Mang, nên có thể mình chưa biết được. Ta đã đi qua bảy ngả đường đời lộn tới lộn lui chồng chéo đan xen ma trận mê hồn. Ngả trên cùng sỏi đá hoang vu đếm từng bước trưa hè cháy khét. Ngả bên cạnh chen chúc bàn chân giẫm đạp bon chen. Ngả xếp dưới nữa là bùn đen máu đỏ trộn lẫn với nước mưa hoặc là nước mắt. Ngả nào cũng toàn là mỏi mệt, chỉ thèm một phút dừng lại, chân nọ gác lên chân kia nhìn viễn xứ mây trời.
Chiều nay, ta lại lẩn thẩn ngồi xếp lại, này nhé, ta xếp bảy bài hát lên trên bảy câu chuyện, bảy bài thơ xếp trên bảy cơn mưa, bảy con đường xếp dưới bảy giấc mơ, tất cả xếp chồng lên bảy ngọn núi cao xứ Chư Mang kỳ ảo. Ví dụ như không phải là số 7 mà nhân với 1.000, tức bảy ngàn giấc mơ trên bảy ngàn đỉnh núi, bảy ngàn bài hát bảy ngàn câu thơ bảy ngàn ngân nga như là thương nhớ… Như thế đã đủ nhiều chưa, đủ yêu thương chưa, đủ mệt nhoài chưa?
Bắt đầu lại nhé, ta xếp bảy ngàn yêu thương trên bảy ngàn xa ngái, bảy ngàn mây núi bảy ngàn vì sao…


Chủ Nhật, ngày 21 tháng 8 năm 2016

NÉT ĐẸP MỘT VÙNG QUÊ


                

Bút ký của HỒNG CHIẾN

Trong những ngày đầu tháng tư, cả đất trời Tây Nguyên tràn ngập không khí lễ hội chào mừng 35 năm ngày vui chiến thắng, đoàn tụ. Từ thành phố đến buôn làng xa xôi, đường và nhà rợp đỏ bóng cờ hoa. Khuôn mặt người nào cũng lộ nét hân hoan, phấn khởi. Con đường nhưa phẳng lỳ từ thị trấn Quảng Phú, huyện Cư M’gar về xã Cuôr Đăng cũng không ngoại lệ; vẽ nên một bức tranh quê trù phú, đầm ấm. Rừng cà phê, cao su nối đuôi nhau chạy qua khung cửa xe như không bao giờ hết. Đang giữa mùa khô, thế mà cà phê vẫn tươi mơn mởn, từng chùm quả xanh sẫm sum sê bám quanh kẽ lá hứa hẹn một vụ bội thu. Trời buổi sáng trong xanh, nắng dát vàng lên các ngọn cây càng làm cho phong cảnh thêm phần lộng lẫy.  
Xe chạy êm êm, lòng tôi bồi hồi nhớ lại cách đây chưa lâu, cũng vào một ngày đầu tháng tư năm 2007, Đỗ văn Tri – anh bạn cùng học ba năm cấp ba với tôi, nay là cán bộ của Viện vệ sinh - Dịch tễ tỉnh Thanh Hóa; lặn lội vào Đắk Lắk rủ tôi về huyện Cư M’gar đi tìm mộ anh trai tên là Đỗ Văn Quế, hy sinh tại buôn Rào, ngày 01 tháng 12 năm 1969. Hai anh em đèo nhau trên chiếc HonDa Future II, lang thang qua các nghĩa trang thị trấn Quảng Phú rồi băng qua huyện Krông Buk. Đường đất bụi mù, đất đỏ lâu ngày không có mưa; ô tô, xe máy chạy nhiều nên tơi xốp như bột. Tôi cầm lái không dám chạy hết số thế mà vẫn bị té lăn ra đường vì dưới lớp bột ngập gần nửa bánh xe có một cục đá lớn rình sẵn, Tri văng ra khỏi xe, đụng vào cây cà phê bên đường tạo nên một đám bụi lớn. Hai anh em lồm cồm bò dậy nhìn nhau và bật cười vì không nhịn được; từ đầu đến chân cả hai được phủ một lớp bụi đất vàng khè, đúng màu đất đặc trưng Đắk Lắk. Khi đám bụi lắng xuống, anh bạn tôi thay vì ngồi lên xe chạy tiếp, lại nắm áo tôi giật giật chỉ vào gốc cây cà phê mình đụng phải lúc nãy: “Ông nhìn kìa, lạ không!” Nói rồi anh chạy lại gốc cây bứt một chiếc lá vừa rơi hết bụi đất, để lộ ra mầu xanh sẩm. Giờ thì tôi hiểu vì sao anh ngạc nhiên: tất cả các cây cà phê bên đường đều có một màu nâu vàng do bụi đất bay lên bám vào một lớp khá dày, nhìn qua như tạc bằng đất vậy; nhưng khi nãy do anh ngã chạm vào làm lớp bụi bám bên ngoài rơi ra để lộ màu thật của lá. Đất đỏ bazan Đắk Lắk tốt tươi, màu mỡ; nếu mùa mưa người ta chỉ có thể đi bộ chân không vì nếu đi dép hay giày, đất bám chắc vào thành một cái đế đất khổng lồ đến không thể nhấc chân lên được. Đất Tây Nguyên là thế, tôi giải thích cho anh, anh ngạc nhiên kêu lên thích thú như vừa khám phá ra một điều kỳ diệu. Hai anh em lặn lội một tuần qua các xã được giới thiệu của hai huyện Cư M’gar và Krông Buk nhưng không có kết quả, đành phải về hẹn dịp khác vì anh đã hết phép. Hôm nay đi trên con đường nhựa, nhìn quang cảnh xung quanh, tôi lại nhớ tới chuyến đi năm trước và ngạc nhiên trước sự đổi thay cơ sở hạ tầng nông thôn của một huyện vùng cao. Thời gian chưa lâu, nhưng cảnh vật đã đổi khác quá nhiều.
 “Xã Cuôr Đăng hiện nay là một trong những xã điển hình của huyện, không những làm kinh tế giỏi, an ninh chính trị và xã hội được đảm bảo mà người dân nơi đây còn tự giác xây dựng được những buôn văn hóa tiêu biểu.” Anh Y Mang, Phó trưởng phòng Văn hóa – Thông tin huyện Cư M’gar, ngồi bên cạnh tranh thủ giới thiệu nơi sẽ đưa tôi đến. “Phong trào có gì đặc biệt khác nơi khác không anh”? Tôi hỏi thêm. “Nhiều cái hay lắm, anh cứ đến sẽ rõ thôi”. Tôi bật cười vì cách trả lời nghe hay hay của Y Mang. Xe dừng lại trước cửa trước một ngôi nhà xây, mái lợp tôn, sân đổ bê tông, cây bóng mát trồng ngay hàng thẳng lối cao ngang mái nhà. Ra đón chúng tôi là người đàn ông đứng tuổi, nước da nâu sậm, dáng vẻ khỏe mạnh và nụ cười rất hiền. Vào phòng làm việc, hai bên giới thiệu chủ khách, tôi mới biết tên ông: Ama Diệp – Bí thư đảng ủy xã Cuôr Đăng. Ông cho chúng tôi nắm một vài số liệu cơ bản của xã, toàn xã có: 3.337ha, dân số: hơn 10.000 người, ngoài hai dân tộc chính là Êđê, Kinh còn có Ba Na, H’rê, Lạch... sống tập trung tại 6 buôn, đường liên thôn buôn đã được rải nhựa 100%; toàn xã có một trường mầm non, 2 trường tiểu học, một trường THCS và một trường PTTH được xây dựng kiên cố, cao tầng, không những đủ điều kiện cho các con em trên địa bàn xã học tập, mà còn nhận cả học sinh các xã lân cận. Xã có một trạm y tế với 7 người, trong đó có: 02 bác sỹ đa khoa,  05 y sỹ, ngoài ra còn có 06 cộng tác viên y tế ở 6 buôn; điện lưới Quốc gia đã phủ khắp xã. Ông Bí thư còn cho biết thêm: các hộ có thu nhập trên 100 triệu đồng một năm cũng có khoảng gần chục.
Nghe qua những con số ấn tượng, tôi ngạc nhiên hỏi thêm: “Dân ở đây kinh doanh cây, con gì mà giàu dữ vậy?” Thì cũng như mọi nơi thôi – Ông Bí thư đảng ủy cười trả lời: “Nhờ nhà nước đầu tư xây dựng hai đập chứa nước có diện tích gần 50 ha nên khâu nước tưới cho cây trồng cơ bản được giải quyết. Hiện nay toàn xã có 300 ha cà phê, 51.5 ha cao su, 40 ha lúa nước, 20 ha hồ tiêu và 4 ha trồng màu. Đất của xã trồng cà phê có sản lượng cao vào hàng nhất tỉnh, chất lượng cũng được xếp đứng đầu, dân không giàu mới lạ. Nói như vậy không phải ai cũng giàu cả đâu, toàn xã vẫn có 247 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 12,19% dân số; trong đó có 15 hộ mới nghèo đấy.” Tại sao lại có hộ nghèo mới vậy? Tôi hỏi lại. Ông Bí thư giọng buồn buồn: “Gia đình đông người phải tách hộ; người ta ra ở riêng, không có đất canh tác thì làm sao không nghèo cho được! Ngoài 07 hộ mới tách, 06 hộ đất canh tác quá ít nên không đủ thu nhập tính theo tiêu chuẩn mới nên vẫn thuộc diện nghèo; công thêm 02 hộ sinh con nhiều quá, lại hay đau ốm, tiền thuốc men nhiều nên nghèo thôi.” Những lý do chỉ ra vì sao vẫn còn người nghèo ở đây xem ra bất khả kháng thật. Làm nghề nông mà không có đất hoặc có ít đất thì đói là phải chứ nói gì đến nghèo. Ở đâu cũng gặp trường hợp này chắc phải đành chịu thôi. Tôi băn khoăn hỏi thêm: “Đảng và Chính quyền địa phương đã có biện pháp gì giúp đỡ người nghèo thoát nghèo chưa?” “Có đấy! Hội Cựu chiến binh, Hội Nông dân, Hội Phụ nữ… đã vận động hội viên của mình theo phương châm “lá lành, đùm lá rách”; “người có nhiều giúp người có ít”, bằng hình thức cho vay không tính lãi, hay đầu tư chăn nuôi, tặng cây giống v.v.. bước đầu đã có hiệu quả tích cực. Ngoài ra Ngân hàng chính sách huyện cũng tạo điều kiện thuận lợi để 248 hộ được vay 1.400.000.000 đồng. Cái khó khăn nhất và cũng là khâu cơ bản nhất là vận động bà con dân tộc thiểu số không sinh con thứ ba. Con nhiều sẽ nghèo, vì thế các cơ quan đoàn thể một mặt tuyên truyền vận động các cặp vợ chồng đang ở tuổi sinh đẻ cách phòng tránh thai, mặt khác bằng những cuộc thi tìm hiểu sinh đẻ có kế hoạch, hay biểu diễn các tiết mục văn nghệ về vấn để này nhằm giáo dục mọi người đã có kết quả rất tích cực. Năm 2009 toàn xã có số trẻ mới sinh là 142 cháu, đạt tỷ lệ 1,32% dân số”. Trả lời câu hỏi của tôi: “Xã có bao nhiêu gia đình có ti vi”, ông Bí thư lại tủm tỉm cười: “Ti vi giờ đây nó là phương tiện giải trí không thể thiếu, vì thế nên cả xã hầu như không còn nhà không không có ti vi, mà họ dùng toàn loại mầu thôi”.
Thật mừng khi nghe nói về thành tích kế hoạch hóa gia đình và mừng hơn khi biết ngay cả những hộ được xếp vào diện nghèo của xã cũng sắm được ti vi để xem. Hộ nghèo mà như thế, còn hộ giầu cuộc sống sẽ ra sao; tôi tò mò muốn biết và đề nghị được đến thăm một hộ nhà gần đây làm ăn khá. Ông Bí thư nói ngay: “Gần đây có gia đình ami Doan kinh tế khá, lại rất tích cực tham gia công tác “tương thân tương ái”, mời các anh chị đến thăm”.
Nhà amí Doan được xây khá rộng rãi, phòng khách lát gạch hoa chiều ngang hơn năm mét còn dài chắc phải gần chục mét, giữa nhà kê bộ xalon lớn, trên bàn để một lọ hoa tươi cắm khá đẹp mắt. Cả đoàn ngạc nhiên nhìn bình hoa tươi rồi nhìn nhau như không tin ở mắt mình. Ông chủ nhà đi vắng, bà chủ đang lo chỉ đạo tốp thợ lập lại dãy chuồng heo; rót nước mời chúng tôi là cô út của gia đình, đang học THCS. Bất ngờ đến thăm một gia đình người Êđê, không những được chứng kiến căn nhà sạch sẽ, gọn gàng, mà còn có hoa tươi cắm sẵn làm chúng tôi quá ngạc nhiên. Bà chủ, tuổi gần 50 mặc bộ đồ lao động bước vào niềm nở nói với chúng tôi: “Các bác đến thăm không báo trước, thành ra cả nhà đều bận, không chu đáo được”. Anh Y Mang nói tóm tắt mục đích của chuyến viếng thăm, bà chủ vui vẻ nói: “So với những nhà xung quanh thì nhà em cũng thường thôi, chưa nhiều hơn các nhà khác trong buôn đâu. Ngoài 2 ha cà phê, mỗi năm thu trên 8 tấn nhân, gia đình nuôi thêm 4 con heo nái và khoảng 50 con heo thịt, 9 con bò, 8 con dê, tính ra năm 2009 thu được có hơn 200 triệu.”  Ami Doan – dịch theo tiếng kinh là “mẹ của Doan”, gọi theo tên con; còn tên khai sinh của bà là H’Hương Byă. Nếu không được giới thiệu trước, tôi đã nhầm bà là một phụ nữ Kinh vì khuôn mặt phúc hậu, người to cao, nước da trắng, khác hẳn với đa số người dân bản địa có nước da nâu. Ami Doan cho biết: “Dê và bò không có ở nhà đâu, cho người thuộc diện nghèo nuôi dùm rồi, mình giúp người ta chút cho có thu nhập thôi; còn heo, thỏ và gà thì ngoài vườn. Gà không tính vào kinh tế vì chỉ nuôi để ăn thịt”. Theo chân bà, chúng tôi ra thăm dãy chuồng đang lợp lại vì lâu ngày tôn cũ đã hỏng; trong chuồng ngoài 4 con heo nái còn có 5 con heo thịt, mỗi con nặng khoảng 50kg; bên cạnh chuồng heo, cô gái út đang cho mấy con thỏ ăn. Ami Doan nói thêm: “Mình mới xuất một bầy hai chục con hôm kia, mỗi con nặng hơn 70 kg đấy”. Nhìn dãy chuồng trại khá dài, có cà phê xanh tốt bao quanh và bầy gà đông đúc đang đào bới dưới gốc cây cà phê, tôi thấy vui vui; người dân ở đây đã biết chăn nuôi kết hợp với trồng trọt theo mô hình trang trại nên kinh tế khá là phải. Kinh tế khá, các con được học hành chu đáo nên cách sinh hoạt chẳng khác gì một doanh nhân thành đạt trên thành phố cũng là lẽ đương nhiên. 
“Thu nhập hàng năm của gia đình “chỉ có” 200 triệu thôi!” Câu nói mộc mạc nhưng còn ẩn chứa một điều gì đó chưa bằng lòng với chính mình của ami Doan càng làm tôi ngạc nhiên muốn tìm hiểu xem còn những nhà nào ở đây có cách làm ăn khá hơn gia đình này. Bà chủ nhà giới thiệu ngay nhà ông ama Bôk, người giàu nhất xã. Đến cổng nhà ama Bôk, tôi kinh ngạc trước ngôi biệt thự 2 tầng xây khá bề thế, trong gara có một chiếc xe tải nhỏ. Thấy chúng tôi đến, một cô gái chạy ra mở cổng để xe vào sân và thông báo: Ama đi thành phố Hồ Chí Minh thăm cậu con con trai đang học đại học An Ninh dưới đó rồi. Qua trao đổi với cô con gái đang học trung cấp thư viện, tôi được biết: hai vợ chông người Ê đê này khi mới xây dựng gia đình cũng nghèo lắm, may được nông trừơng cao su Phú Xuân nhận vào làm và giao cho quản lý 37 ha cao su. Nhờ chăm chỉ và biết chi tiêu nên hai vợ chồng tích cóp được một số tiền nho nhỏ với mong ước có được mảnh đất trồng trọt. Năm 1987 ama Bôk dùng tiền tiết kiệm mua được 6 sào rẫy để trồng cà phê, khởi đầu xây dựng cơ nghiệp. Bằng chính sự lao động cần cù, lại biết áp dụng khoa học vào thâm canh, nên mảnh đất ngày càng sinh lợi; đến năm 2000, ông đã có 20 ha cà phê và 15 con bò. Thế là “đất đẻ ra đất, bò sinh ra bò”; kinh tế gia đình ngày một vững, ngoài ngôi nhà 2 đầy đủ tiện nghi xây năm 1998, ông mua thêm xe ô tô tải để chuyên chở hàng hóa cho gia đình và sắm thêm chiếc xe ô tô 9 chỗ vừa để đi đây đó cho tiện – ama nói thế (cô con gái giải thích), vừa giúp đỡ bà con cưới hỏi có phương tiện đi lại. Khu trang trại hình thành, ông xây thêm 07 căn nhà cấp bốn vừa để công nhân ở, vừa làm kho. Ama Bôk trở thành người nông dân làm ăn giỏi của xã, của huyện rồi một vinh dự lớn đến với ông: năm 2000, ông được thay mặt những người nông dân sản xuất giỏi của tỉnh Đắk Lắk đi dự Hội nghị Toàn quốc biểu dương những người tiêu biểu các dân tộc thiểu số tại Hà Nội. Ngẫm lại, nếu ama Bôk không vào làm cho Nông trường cao su Phú Xuân thì làm gì có được ngày hôm nay và xa hơn, đó là chủ trương đúng đắn của Đảng và nhà nước ta khi ban hành chính sách tạo việc làm cho đồng bào dân tộc tại chỗ. Từ một điểm tựa ban đầu ấy kết hợp với tài năng, trí tuệ và sức lực của mình; ông đã vươn lên làm giàu, góp phần làm đẹp cho cuộc sống hôm nay. Nét đẹp của các gia đình nơi đây, không phân biệt Kinh - Thượng, Êđê hay H’rê, Lạch… cùng chung tay, góp tiền của giúp đỡ người nghèo, mong cho mọi người xung quanh thoát nghèo. Nét đẹp đó không phải nơi nào cũng có, nhất là trong cơ chế thị trường hiện nay.
Tây nguyên xưa kia được biết đến như một vùng “đất rộng người thưa”, còn hôm nay, tai xã Cuôr Dăng này thì “đất chật, người đông”, cuộc sống không vì thế nãy sinh sự hiềm khích, mà ngược lại họ đang cùng giúp nhau xóa nghèo, vươn lên làm giàu, không phân biệt sắc tộc. Kinh tế phát triển, đời sống văn hóa giáo dục cũng được nâng lên bằng chính những đóng góp tự nguyện của người dân và kêt quả tất yếu, đến năm 2009 đã có 1.508/1.965 hộ được công nhận “Gia đình văn hóa”. Có thành công như hôm nay ở Cuôr Dăng nói riêng và huyện Cư M’gar nói chung là nhờ sự chỉ đạo của Đảng và Chính quyền thông qua những chỉ thị, nghị quyết hợp lý, hợp tình, hợp với nguyện vọng người dân các dân tộc nơi đây nên được mọi tầng lớp tin theo và cùng cố gắng hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình và từ đó làm nên một vẻ đẹp riêng của một miền quê vùng cao ngày một trù phú.

Tháng 4 năm 2010


Thứ Bảy, ngày 20 tháng 8 năm 2016

GIỚI THIỆU CHƯ YANG SIN SỐ 287- tác giả TRƯƠNG HỒNG PHÚC





HÁT KHÓC TRONG TANG LỄ CỦA NGƯỜI VIỆT




Hát khóc trong tang lễ là một loại hình nghệ thuật hết sức độc đáo của dân gian được thể hiện trong sinh hoạt văn hóa tang lễ. Hát khóc chính là nét đẹp trong truyền thống văn hóa tâm linh của người Việt Nam, nó thể hiện ý thức về tình yêu thương, giáo dục con người; đồng thời đó là phương tiện để truyền tải những tâm tư, nguyện vọng, ước muốn của người còn sống dành cho người đã khuất hoặc ngược lại.
Hiện nay trên địa bàn thành phố Buôn Ma Thuột, loại hình hát khóc vẫn còn được duy trì trong nghi lễ của tang lễ.
Khái niệm “hát khóc”
Hát khóc là một hình thức khóc có xen lẫn cả lời kể lể lẫn tiếng khóc nhằm thể hiện sự thương tiếc, bi ai của người sống đối với người đã khuất.
Hát khóc trong tang lễ đã trở thành một trong những đối tượng nghiên cứu của những nhà folklore. Vì vậy nghệ thuật này đã được một số nhà nghiên cứu quan tâm. Trong công trình “Phong tục tang lễ”, nhà nghiên cứu Phạm Minh Thảo cho rằng: “Nhạc hiếu trong tang lễ là các điệu làn khốc làn thảm, làn ai, già nam, v.v… nhằm chia buồn, kể lể sư xót xa thương tiếc, nói hộ nỗi niềm tình cảm của người đến viếng và tạo nên không khí trang nghiêm (…) Xưa, phường nhạc hiếu thường có những bài riêng, thay lời con khóc cha mẹ, vợ khóc chồng, cháu khóc ông bà, anh chị em khóc nhau… Dân gian có câu “sống dầu đèn, chết kèn trống” là nghĩa như vậy. Xét về một khía cạnh nào đó, đây là một việc làm có văn hóa, một hình thức để tưởng niệm”.
Hay trong công trình “Việt Nam phong tục”, học giả Phan Kế Bính cũng đã nhận định: “Thổi kèn giải: Trong những đêm ma còn quàn ở nhà, có nhà mỗi tối mời phường bát âm gảy đàn thổi sáo và có phường tang nhạc thổi kèn đánh trống. Con cháu, mỗi người thổi một câu khóc ông bà cha mẹ, rồi thưởng tiền cho bọn ấy. Nhà nào không có kèn giải thì không vui”.
Như vậy, từ những nhận định này của các nhà nghiên cứu chúng tôi đưa ra khái niệm hát khóc trong tang lễ của người Việt là: “Hát khóc chính là một hình thức khóc, trong đó có đan xen giữa lời ai oán, kể lể bi thiết cùng với âm thanh não nùng của dàn nhạc bát âm để làm bật lên sự thương tiếc, bi ai của người còn sống đối với người đã chết”.
Mục đích hát khóc
Thứ nhất, hát khóc là cách để bày tỏ sự thương tiếc của người còn lại đối với người ra đi. Điều này có thể thấy rõ trong đoạn khóc sau:
“Công cha nghĩa mẹ cù lao
Trong công đức ấy biết bao nhiêu là
Than ôi (vai người mất) vội về già
Từ nay khuất bóng đường xa bụi trần
Con nay thương nhớ muôn phần
Chẳng vò mà rối, chẳng dần mà đau”
Qua lời khóc trên, người nghe có thể cảm nhận được lời thương tiếc của người con dành cho cha hoặc mẹ. Đồng thời đoạn khóc trên còn cho chúng ta cảm nhận được sự luyến tiếc, xót xa, thậm chí đó còn là sự bối rối và lời chia ly trong nỗi đau thương tột cùng. Hay trong bài khóc Vắng mẹ cũng vậy:
“Dung mạo một mai vắng vẻ, bão xô cây, nghĩ lại ngậm ngùi thay. Âm dương đôi ngả xa vời, mây phủ núi, trông càng đau đớn nhẽ! Sương bay chớp nhoáng, bạch vân nghi ngút, cõi phù sinh. Con mất mẹ rồi, mẹ ơi!” Người nghe có thể thấu hiểu được tâm trạng của người con có hiếu, xót thương, đau đớn vì mất mẹ, người con ấy đã mượn lời hát khóc để tỏ bày nỗi lòng của mình.
Thứ hai, hát khóc là bức thông điệp về cuộc đời, gia cảnh của cả người chết và người sống. Điều này được thể hiện trong các bài khóc kể công.
Bài khóc Đời cha có một đoạn như sau: “Cha đà yên nghỉ bên bờ đê, gốc nhãn. Bỏ đàn con thơ, cui cút tháng ngày. Mới hôm qua còn thấy cha bệ vệ, oai phong, dang tay lớn che chở đàn con nhỏ. Việc đồng ruộng cha giành làm lớn, để mẹ con ở nhà với đám con. Mới năm ngoái trời còn hạn, khô héo, một mình cha toan gánh nước đưa phân. Con thơ dại nhìn cha gầy than khóc, đói bát cơm tinh, cỗ thịt ngon lành. Ôi cha ơi! (số người con) miệng ăn nheo nhóc, thân cha lăn, góc bể chân trời. Mong con lớn đủ đầy cùng trang lứa, vượt sức trời cha nuôi lớn chúng con. Vậy mà nay còn đâu cha hỡi, ôi con đau, con lỗi lớn với đời”. Nghe lời khóc kể chúng ta biết hoàn cảnh của một gia đình nông thôn, chuyên việc đồng áng, nhà đông con, nhưng chỉ một mình cha lo việc kiếm tiền. Người cha này không quản nại mưa nắng gió sương, khổ cực để nuôi con.
Thứ ba, hát khóc là cách để thể hiện ước mơ, khát vọng và triết lí sống của dân gian. Ví như đoạn khóc sau cho người nghe cảm nhận được ước muốn của người ở lại:
“Một là ước mẹ hóa sanh
Hai là con ước được thân làm người
Ước thứ ba nguyện cha cười thanh thoát
Để hồn kia giải thoát kiếp hồi luân
Con nguyện ước cho cha mẹ tiền kiếp
Được hậu sanh cũng chàng thiếp ngàn năm...”
Đó là lời nguyện ước của người con mong muốn cho thân sinh phụ mẫu của mình được vãng sanh về miền cực lạc và cầu cho cha mẹ được hóa kiếp làm người, mãi mãi bên nhau theo quan niệm luân hồi của dân gian người Việt.
Như vậy, hát khóc chính là phương tiện để con người thể hiện những ước mơ, khát vọng của mình về sự bất tử, không hề có sự chia ly, xa cách. Điều này được thể hiện rõ ràng nhất qua hát khóc và các nghi lễ thực hiện cho người quá cố trong tang lễ. Đây chính là sản phẩm được sáng tạo ra từ quan niệm sống bất biến, vĩnh cửu của người Việt nhằm phục vụ cho tinh thần của con người nói riêng và cộng đồng nói chung.
Trong bất kỳ một loại hình sinh hoạt văn hóa dân gian nào cũng đều có đối tượng, vai trò, ý nghĩa. Hát khóc trong tang lễ của người Việt cũng vậy, loại hình nghệ thuật dân gian này có đầy đủ những đặc trưng riêng về đối tượng, vai trò, ý nghĩa.
Đối tượng của hát khóc
Đối tượng của hát khóc được chia làm 2 nhóm như sau:
Đối tượng thứ nhất là người thân của người quá cố (gia đình, họ hàng, bạn bè, những người hàng xóm…). Với đối tượng này họ khóc một cách rất tự nhiên, khóc bằng tâm tư, khóc bằng tình cảm, bằng sự đớn đau, thương xót khi mất người thân, hòa điệu vào xen trong tiếng khóc vừa xót xa, cay đắng vừa hướng về một tương lai tốt đẹp hơn cho người mất. Ví như lời khóc của cháu cho dì của mình:
“Dì ơi, có rét không dì?
Tiết hạ tháng 7, dì đi sao đành
Cháu nay chiếu đất trời mành
Điềm lành chưa đến dữ thời báo ngay
Nay thấy dì mà lay chẳng dậy
Lòng cháu đau xiết mấy xót xa
Cha mẹ cháu ra đi từ trước
Ngược thời gian về đón dì đi
Nợ nần đời cái chi chi
Mà sao cháu khổ như ri thế này?”
Đối tượng hát khóc thứ hai là các nghệ nhân của đoàn kèn giải. Những thành viên này vừa đóng vai trò thay con cháu của người mất, đồng thời họ còn là tác giả sáng tác ra những bài hát khóc phục vụ cho đám tang. Nhiệm vụ của họ là khóc thay lời của người thân trong gia đình (thay vai) hoặc những người đến phúng viếng. Mục đích hát khóc của họ vừa thể hiện tình cảm thực dành cho người mất, vừa thể hiện tài năng nghệ thuật dân gian của mình, đây còn là cơ hội hiếm hoi để những thành viên này cải thiện đời sống kinh thế khó khăn của gia đình. Đối tượng này thường được nhận biết qua câu kết của bài hát khóc như: “Tấm lòng thương tiếc nhờ kèn khóc than”  hay “Nhờ kèn lâm khốc khóc than (vai người mất) mấy lời”.
Chức năng của hát khóc trong tang lễ của người Việt
Xét ở góc độ tâm linh của người phương Đông nói chung và người Việt Nam nói riêng, quan niệm rằng: con người gồm 2 phần thể xác và linh hồn. Tuy nhiên, khi chết đi phần xác sẽ không tồn tại, chỉ còn lại phần linh hồn mà thôi, khi đó linh hồn con người sẽ tiếp tục duy trì sự sống ở thế giới khác (thế giới tâm linh). Và người sống chỉ có thể giao cảm với người chết bằng đời sống tâm linh thông qua hát khóc, qua việc thực hiện nghi lễ cho người quá cố; nhìn nhận trên góc độ này thì lời hát khóc có những chức năng sau:
Thứ nhất, đó là phương tiện để thể hiện tình cảm: hát khóc như một sợi dây kết nối giữa sống – chết, âm – dương, những người còn sống bày tỏ tình cảm của mình đối với người đã mất thông qua tiếng khóc than ai oán, ngậm ngùi, qua đó làm cho cảm xúc của con người tăng lên. Cách khác, hát khóc chính là sự cường điệu hóa tình cảm, làm tăng tiến mức độ xót xa, bi thương của mình. Mỗi lời hát khóc là một lời tri ân hoặc giãi bày cảm xúc của con người với nhau. Từ đây tình cảm con người ngày càng bền chặt, gắn bó hơn nữa.
Thứ hai, hát khóc chính là phương tiện để giáo dục, răn đe con cháu và những người còn sống. Mỗi bài khóc là một bài học, bài học về sự yêu thương con người, về cách đối nhân xử thế, bài học về chữ hiếu chữ tình… Đó là bài học về lẽ sống, lẽ phải, về quy luật nhân quả, phải yêu thương nhau ngay từ khi còn sống, phải sống đúng đạo làm người để khi mất đi không còn phải hối tiếc. Hát khóc còn góp phần hình thành nhân cách cho con người. Chỉ khi biết những điều còn khuyết của mình thì người ta mới có thể sửa chữa theo hướng tốt hơn. Hát khóc có thể để kể công nhưng cũng có thể để phê phán những thói hư tật xấu trong đời sống hằng ngày. Qua đó người sống có thể cảm nhận được và có thể sửa đổi bản thân, nhân cách, cách nghĩ, cách cảm… sao cho phù hợp với đạo làm người.
Thứ ba, hát khóc thể hiện tài năng, sự sáng tạo nghệ thuật của dân gian. Không có một tác giả nào sáng tạo ra loại hình nghệ thuật này, mà đó là kết quả lao động nghệ thuật của rất nhiều người, từ những lời nói tiếc thương, người ta đã vận dụng trí óc kết hợp phần lời ấy với âm nhạc dân gian của kèn, nhị, sáo, đàn tranh, đàn bầu… để cho ra đời những bản lâm khốc, nam ai… như ru lòng người. Đó là sự kết hợp hết sức bình dị nhưng vô cùng tinh tế và nghệ thuật. Người nghệ nhân không ai nhận bản thân mình là tác giả của những bài hát khóc mà họ chỉ kí danh là theo nguồn dân gian. Hát khóc chính là sự kết tinh giữa âm hưởng của dân ca truyền thống và lời kể lể than khóc tự nhiên của con người, đồng thời đó còn là sự kết nối giữa yếu tố tâm linh và hiện thực để tạo nên một loại hình văn hóa dân gian độc đáo.
Như vậy, Hát khóc trong tang lễ của người Việt không phải chỉ là những câu khóc kể đơn thuần, mà bên trong nó còn ẩn chứa những giá trị đặc sắc về tinh thần và văn hóa dân tộc.


Thứ Sáu, ngày 19 tháng 8 năm 2016

TRỞ LẠI ĐẮK TUÔR




Suối Đắk Tuôr
Bút ký của HỒNG CHIẾN

Vượt qua quãng đường gần 30 km từ thị trấn Krông Kma, huyện Krông Bông đến địa phận xã Cư Pui, xe vòng qua hai khúc cua cheo leo bên vực suối rồi dừng lại trước một khoảng đất trống rộng hơn trăm mét vuông, cây cỏ dại mọc um tùm ôm lấy mấy gốc cây cổ thụ. Ông Châu Phan, Phó trưởng phòng Văn hóa – Thông tin huyện Krông Bông nói với đoàn:
-          Đến sân của Tỉnh ủy ngày xưa rồi đấy, mời các bác xuống.
Mọi người xuống xe, ngước mắt nhìn lên, mũ đội trên đầu rơi xuống đất mới thấy đỉnh núi cao bao bọc bốn phía. Sườn núi phía đông bắc nhiều nương lúa chín vàng xen lẫn những vạt khoai mì, vạt bắp khoe màu xanh sẫm. Mấy ngọn núi phía nam và tây vẫn còn những đám mây trắng vương vấn chưa chịu tan, mặc dù đã gần 10 giờ trưa. Ba phía rừng còn lại cùng một màu xanh thẩm thỉnh thoảng điểm những thân cây cổ thụ trắng bạc vươn cao vượt hẳn lên so với các tán cây xung quanh. Xa xa tiếng nước chảy róc rách nghe như một bản nhạc rừng chào đón du khách. Ông Lê Minh Phòng, Phó trưởng Ban Tuyên giáo Huyện ủy Krông Bông, nói:
-          Nơi chúng ta đang đứng là sân của Tỉnh ủy Đắk Lắk, chiến khu thời chiến tranh chống Mĩ. Phía bắc giáp với cây cổ thụ cao kia là nơi làm việc của Văn phòng, khoảng trống nhiều kia là hội trường Tỉnh ủy. Khi giặc càn vào, cả cơ quan rút vào hang đá Đăk Tuôr. Từ đây đến suối Đăk Tuôr gần một km, qua suối đi tiếp khoảng hơn một tiếng sẽ lên đến hang đá Đăk Tuôr.
Cốc, cốc, cốc… Tiếng chim gõ kiến khám bệnh cho cây vang lên đột ngột như điểm thêm cho khung cảnh hoang vu của một vùng đất chiến khu xưa. Năm mươi năm trước vào ngày 9 tháng 5 năm 1965 chiến khu H9 – huyện Krông Bông ngày nay được hoàn toàn giải phóng, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong công cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước của tỉnh Đăk Lắk nói riêng và cả vùng Nam Tây Nguyên nói chung. Vùng đất thuộc buôn Tuôr, xã Cư Pui này được chọn làm nơi đứng chân của cơ quan lãnh đạo đầu não tỉnh Đăk Lắk. Kể từ ngày ấy, căn cứ kháng chiến buôn Tuôr trở thành thủ phủ cách mạng của tỉnh Đắk Lắk, góp phần quyết định đến thành công trong công cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước, giải phóng dân dân tộc của cả một vùng rộng lớn phía Nam Tây Nguyên. 
Nhà văn Trúc Hoài, hơn bảy mươi tuổi, tóc đã bạc trắng chỉ tay lên ngọn núi phía đông bắc, nơi có những đám lúa chín vàng như bám vào nhau leo lên các đỉnh dốc, bảo: “Ngày trước ta có đặt một tổ trực chiến trên ấy vừa để cảnh giới vừa bắn máy bay địch tập kích đổ bộ đường không; nhiều trận đánh ác liệt khiến cho bọn Mĩ - Ngụy mất vía, tổn thất nặng nề; làm sụp đổ ý đồ tập kích bí mật của chúng”. Nhà văn – nhà giáo, nguyên là học sinh thiếu sinh quân miền Nam trước đây ra Bắc tập kết, sau khi tốt nghiệp Đại học Sư phạm I Hà Nội, tình nguyện trở về miền Nam chiến đấu, viết báo và dạy học trong những ngày chiến tranh ác liệt, gian khổ. Sau ngày hoàn toàn giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà, nhà giáo Nguyễn Trúc được giao giữ những chức vụ quan trọng trong ngành giáo dục như: Phó Ty giáo dục Đắk Lắk, Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Sư phạm Đắk Lắk, Giám đốc Trung tâm Giáo dục thường xuyên tỉnh… Hôm nay trở lại chiến trường xưa, nhà giáo - nhà báo - nhà văn Trúc Hoài hình như tâm trạng không vui, có gì đó đượm buồn trên khuôn mặt già khắc khổ đã vương dấu ấn của thời gian. Có thể ông nhìn cảnh cũ nhớ lại các đồng chí của mình đã ngã xuống mảnh đất này năm xưa để góp phần bảo vệ vững chắc căn cứ cách mạng, bảo vệ cán bộ, bảo vệ cơ sở hậu cần cho cả vùng phía nam tỉnh Đắk Lắk. Sự hy sinh anh dũng của đồng đội đã làm kẻ thù khiếp sợ và là nguồn cổ vũ, động viên tinh thần đấu tranh của nhân dân địa phương vững tin vào Đảng, vững tin vào công cuộc kháng chiến “gian lao mà anh dũng” của dân tộc ta nhất định đi đến thắng lợi cuối cùng. Vùng đất này đây, trong suốt mười năm được giải phóng đã phải gồng mình chống lại hàng trăm trận càn quét của kẻ thù hơn hẳn ta về quân số và phương tiện chiến tranh; nhưng tất cả các trận tấn công ấy của kẻ thù đều có chung một kết cục thảm bại, ôm đầu dính máu bỏ chạy khỏi mảnh đất kiên cường này.
Hình ảnh người anh hùng Y Ơn Niê không may sa vào tay giặc, kẻ thù dùng mọi cực hình tra tấn khủng khiếp nhất đến dụ dỗ, mua chuộc hòng khuất phục ý chí cách mạng của người thanh niên dân tộc Êđê. Anh còn rất trẻ, vừa thấy mặt người con gái đầu lòng mới sinh, kết quả của tình yêu với cô vợ trẻ cùng buôn. Buổi sáng cuối cùng chúng đưa anh về buôn Tuar, lùa dân dân đến nghe anh nói. Bọn Mĩ bảo Y Ơn Niê nói với dân trong buôn: không đi theo cách mạng, dẫn đường cho chúng vào hang Đắk Tuar bắt cán bộ, chúng sẽ trọng thưởng. Trước họng súng kẻ thù lăm lăm nhả đạn, người con anh hùng của núi rừng Chư Yang Sin dõng dạc nói với đồng bào của mình: “Mĩ Ngụy là người xấu, chúng là lũ cướp nước và bán nước, đừng nghe lời chúng. Mọi người hãy đoàn kết bảo vệ cán bộ, bảo vệ cách mạng, không chỉ đường cho bọn giặc vào căn cứ cách mạng!” Quân thù hèn hạ đã hành quyết anh trước mặt nhân dân trong buôn. Kẻ thù muốn lấy cái chết của anh khuất phục mọi người. Sự tàn bạo của kẻ thù không làm cho nhân dân buôn Tuôr khiếp sợ mà ngược lại còn làm cho mọi người đồng lòng đi theo cách mạng, thổi bùng ngọn lửa căm thù đối với bọn xâm lược; tiếp thêm sức mạnh cho cán bộ, chiến sĩ bảo vệ vững chắc khu căn cứ cách mạng. Ghi nhận công lao của người chiến sĩ dũng cảm, ngày 29 tháng 01 năm 1996 Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam – Lê Đức Anh đã ký quyết định Truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang cho Liệt sĩ Y Ơn Niê.
Chiến tranh đã qua đi gần tròn bốn mươi năm, những nhà tranh vách nứa trong khu căn cứ ngày ấy không còn, giờ đây chỉ có cỏ cây xanh mượt mà phủ lên nền đất cũ. Có khác chăng, con đường mòn luồn dưới các ngọn tre nứa ngày xưa để quân ta rút lui lên hang đá Đắk Tuôr khi giặc càn đến, nay đã được thay bằng con đường bê tông quang đãng. Đất nước đổi mới, cảnh vật nơi đây cũng có phần khác xưa, thời gian đang xóa nhòa dấu tích một thời… làm người lính trở lại chiến trường xưa hình như vẫn bâng khuâng, trăn trở.
            Ông Lê Minh Phòng rẽ đám cây dại mọc um tùm chỉ cho tôi gốc cây cổ thụ - dấu ấn ngày xưa nền nhà làm việc của đồng chí Huỳnh Văn Cần – nguyên Bí thư tỉnh ủy Đắk Lắk. Nhìn vóc dáng khỏe mạnh của ông Phó trưởng Ban Tuyên giáo huyện ủy, năng nổ và rất thuộc địa bàn khu căn cứ; qua lời giới thiệu của ông, tôi có cảm tưởng ông đã ở đây từ bốn mươi năm trước. Cán bộ huyện thế hệ hôm nay có kiến thức khoa học, được trang bị lý luận vững vàng, có tâm huyết với công việc và không quên truyền thống của các bậc cha anh đi trước, chắc chắn sẽ cùng với tập thể lãnh đạo Đảng, chính quyền địa phương tìm ra con đường đi phù hợp để phát triển kinh tế, văn hóa xã hội cho vùng đất anh hùng này, tôi tin như thế!
*
*    *
            Rời khu căn cứ Tỉnh ủy, đi bộ chừng hơn một ki lô mét nữa đến suối Đắk Tuôr. Nước suối trong vắt, nhìn rõ từng hạt cát trắng tinh nằm sâu dưới dòng nước có từng bầy cá nhỏ lưng đen, bụng trắng tung tăng bơi lội. Chúng tôi bỏ giày dép, ùa xuống suối; đang giữa trưa mùa khô mà nước mát lạnh như bỏ đá. Con đập xây bằng xi măng cao hơn một mét so với mặt nước suối nối đôi bờ làm dòng suối phình to lên, chiều ngang có lẽ rộng đến hai chục mét. Hai bên suối, các cây đại thụ nối nhau soi bóng. Nhìn lên phía thượng nguồn, có ba bậc thác không cao lắm, tạo thành ba bậc thang, nước chảy tung bọt trắng xóa làm nên một bức tranh tuyệt đẹp.
            Đang mải đắm mình với dòng suối mát, nơi trước đây cán bộ ta thường ra ngồi làm việc, tránh càn và cũng là phòng tuyến vòng trong bảo vệ hang đá Đắk Tuôr, bỗng hai anh cán bộ Kiểm lâm xuất hiện; các anh hỏi thăm đoàn và vui vẻ trao đổi với các văn nghệ sỹ đang háo hức tìm hiểu chiến khu xưa. Qua các anh – những người giữ rừng thuộc Vườn Quốc gia Chư Yang Sin cho biết: hiện nay khu vực chúng ta đang đứng được bảo vệ khá tốt, nhân dân có ý thức bảo vệ rừng. Nhạc sỹ Sỹ Hùng - nguyên là bộ đội binh chủng Đặc công chiến đấu ở chiến trường Quảng Trị, tuổi đã hơn bảy mươi nhưng còn khỏe lắm; ông đi nhiều viết khỏe, có nhiều bài hát được giải thưởng cao trong thời gian gần đây, nghe xong gật gù bảo: “Tốt, dân chiến khu vẫn giữ vững truyền thống cách mạng đáng học tập lắm. Nhìn quang cảnh nơi đây là biết rồi”!
            Trên lưng chùng núi, tiếng một con voọc gọi bầy ngân dài vọng xuống. Nhà văn Trúc Hoài bảo: phía trên ấy là hang đá Đắk Tuôr đấy. Mọi người ngửa mặt nhìn lên triền núi chỉ thấy rừng xanh thẩm một màu huyền bí. Vui chuyện, ông Châu Phan kể lại truyền thuyết về hang đá Đắk Tuôr cho mọi người nghe: Ngày xưa, lâu lắm rồi con gái yang Trời xuống hạ giới dạo chơi, khi đi qua đây thấy một chàng trai Êđê đang tắm trên dòng suối, nảy ý trêu chọc, liền biến thành một thiếu nữ xinh đẹp tới làm quen. Không ngờ chuyện đùa hóa thật, họ gặp nhau, yêu nhau say đắm. Con gái yang mới quyết định ở lại trần thế và dùng pháp thuật xây dựng hang đá Đắk Tuôr để hai người sống với nhau. Họ quấn quít bên nhau nên quên luôn cả việc về báo cho yang Trời. Yang Trời mất con, sai người đi tìm, khi biết chuyện, nổi giận lôi đình sai quân bắt chàng trai và con gái về trời trị tội. Trước mặt yang Trời và các vị thần linh khác, con gái yang xin được từ bỏ mọi thứ trên cõi thần tiên để xuống hạ giới chung sống với người mình yêu. Yang Trời giận lắm, ra lệnh trừng phạt hai người bằng cách biến họ thành hai con rít to bằng bắp chân người lớn bỏ vào hang đá Đắk Tuôr. Có điều lạ, hai con rít to khủng khiếp ấy sống trong bóng tối thân mình phát sáng như hai ngọn đèn; chúng chỉ quanh quẩn trong hang không bao giờ ra ngoài, hình như sợ ánh sáng mặt trời. Người trong vùng nếu có trắc trở về tình duyên tìm đến trước cửa hang cầu xin, nếu thấy rít bò ra thì khi về nhà đều được như ý.
Tiếng lành đồn xa, sau này có người lạ ở dưới xuôi tìm lên thuê người trong buôn dẫn đường vào hang tìm rít. Dân buôn từ chối không ai muốn dẫn chúng đi dù được hứa trả nhiều tiền vì sợ yang phạt. Mãi sau này Y Ve, một chàng trai trong buôn lười làm, ham uống rượu, sống hơn ba chục mùa rẫy không ai bắt làm chồng; nghe lời người lạ dụ: nếu dẫn lên hang đá sẽ cho nhiều tiền để bắt vợ Joăn (người Kinh) nên nhận lời dẫn đường. Y Ve dẫn người lạ lên trước cửa hang cầu khấn, hai con rít từ trong hang bò ra như mọi lần; chỉ chờ có vậy, ba người lạ liền ập đến bắt bỏ vào gùi, lấy rổ đậy lại mang đi. Khi về đến dòng suối Đắk Tuôr, chúng bảo nhau dìm gùi xuống nước để giết chết hai con rít. Một lúc sau khi mở gùi ra, xác hai con rít tan theo dòng nước để lại hai viên ngọc màu hồng to như quả trứng gà, sáng rực rỡ. Hai đứa đứng gần nhanh tay mỗi đứa giật một viên, đứa thứ ba không có liền rút dao đâm bạn để giành ngọc. Cuộc hỗn chiến xảy ra, máu chảy đỏ cả dòng suối. Y Ve thấy ba người đâm chém nhau, sợ quá bỏ chạy về buôn gọi người lên can ngăn. Khi người trong buôn lên đến nơi thấy ba cái xác đang cố bóp cổ lẫn nhau chìm dưới làn nước, còn hai hòn ngọc biến mất. Kể từ đó hang đá không còn con rít ngọc nữa.
            Nhạc sỹ Sỹ Hùng nghe kể xong gật gù phán:
-                      Hay! Nơi có huyền thoại tuyệt vời như thế này mà chưa khai thác làm du lịch được thì tiếc quá.
Ngồi dựa vào gốc cây to đến hơn một người ôm quay mặt ngắm dòng suối, nhà văn Trúc Hoài vẫn đăm chiêu hình như đang cố hình dung lại những tháng ngày gắn bó với dòng suối, những trận đánh ác liệt ngăn quân thù tại đây năm xưa… thở dài, nói:
- Bao nhiêu năm rồi nơi đây vẫn như xưa!
Anh cán bộ Kiểm lâm đứng bên cạnh góp lời:
-Thỉnh thoảng vẫn có các cô chú lão thành cách mạng vào thăm; những ngày đẹp trời nắng ráo các bạn thanh niên nơi khác cũng kéo nhau vào đây chơi đấy ạ!
Mọi người cười ồ lên vui vẻ.

*
*     *
            Trời sang chiều, chúng tôi rời suối Đắk Tuôr trở về vì không đủ thời gian lên thăm hang đá, đành hẹn một dịp khác. Khi đi qua mảnh đất trước đây là nơi ở của cơ quan Tỉnh ủy, nhà văn Trúc Hoài không nén được xúc động thở dài. Chắc ông trăn trở về một khu di tích có giá trị lịch sử của địa phương chưa được tôn tạo, khai thác đúng mức. Giá như nơi đây chúng ta phục dựng lại toàn bộ di tích này vừa làm điểm tham quan, du lịch vừa là nơi giáo dục truyền thống cách mạng cho thế hệ mai sau thì quý biết bao. Các đồng chí trước đây ở chiến khu này còn lại chẳng mấy người, nếu chúng ta không tranh thủ thời gian phục dựng và xin ý kiến góp ý của các vị lão thành ấy thì sẽ có lỗi với hậu thế và làm mất đi một nguồn thu lớn về “cụm công nghiệp không khói” này. Nếu khai thác tua du lịch: Khu căn cứ cách mạng Tỉnh ủy – suối Đắk Tuôr – hang đá Đắk Tuôr và tiến tới tua thám hiểm đỉnh núi Chư Yang Sin – Núi của Thần cọp từ hướng đông, chắc chắn sẽ có thêm nhiều việc làm cho người dân địa phương, giúp những người dân vùng căn cứ cách mạng khi xưa có thêm thu nhập.
            Về thị trấn Krông Kma, huyện Krông Bông, tôi mang ý tưởng này trao đổi với ông Phạm Đình Tấn, Trưởng phòng Văn hóa – Thông tin huyện; ông cho biết: các anh trong ban lãnh đạo cũng đã bàn về dự định quy hoạch như vậy rồi, nhưng điều quan trọng nhất là kinh phí. Huyện miền núi khó khăn của tỉnh không có nguồn kinh phí đầu tư, trông chờ tỉnh mà tỉnh cũng khó khăn nên đành phải đợi thôi! Lại bài toán nan giải kinh phí. Một khu di tích quan trọng như thế đáng để được tỉnh quan tâm đầu tư, quy hoạch, xây dựng đề án phục vụ công tác giáo dục truyền thống lịch sử kết hợp du lịch, phát triễn kinh tế. Nhà nước chưa có vốn đầu tư tại sao ta không mạnh dạn kêu gọi các doanh nghiệp góp vốn cùng khai thác...
            Tạm biệt Đắk Tuôr, tạm biệt Chư Pui vùng căn cứ cách mạng anh hùng của tỉnh Đắk Lắk, chúng tôi trở về Buôn Ma Thuột trên con đường còn nhiều “ổ gà”, “ổ trâu”, gập ghềnh sỏi đá. Hai bên đường cây cối xanh tươi, nhìn xuống bãi bồi ven sông chảy song song với đường huyện lộ, bắp đang độ đâm bông xanh đến ngỡ ngàng. Xa xa từng đàn cò trắng chao lượn trên cánh đồng lúa vừa thu hoạch xong như giới thiệu một vùng quê thanh bình. Cuộc sống của người dân nơi đây đã hết đói nhưng vẫn còn nhiều hộ nghèo. Họ nghèo không phải vì thiếu đất canh tác như các nơi khác mà nghèo vì khí hậu khắc nghiệt, đất đai trên các vùng nương rẫy đã khô cằn, cần phải tìm ra một hướng đi phát triển: cây, con… cho phù hợp. Mười năm chiến tranh ác liệt tàn phá, người dân căn cứ kiên cường bám trụ nuôi dưỡng, bảo vệ cán bộ, bảo vệ vùng giải phóng; nay đất nước hòa bình hơn bốn mươi năm, dân còn nghèo đó là lỗi của chúng ta - những người cán bộ đang gánh trọng trách hôm nay. Tôi hy vọng một ngày không xa lại được trở lại Đắk Tuôr thăm khu du lịch sinh thái, khu di tích lịch sử đã được tôn tạo và khai thác; được chứng kiến cuộc sống ấm no, hạnh phúc của người dân khu căn cứ cách mạng vươn lên làm giàu.


Thứ Hai, ngày 15 tháng 8 năm 2016

GIỚI THIỆU CHƯ YANG SIN SỐ 287 - tác giả NGUYỄN THANH TUẤN





ĐẶC ĐIỂM CỦA TIỂU THUYẾT MỚI
                    

             
Tiểu thuyết mới là một trào lưu văn học xuất hiện vào đầu những năm 1950, ở Pháp với các nhà văn trẻ như: Michel Butor, Claud Simon, Jacque Derrida, đặc biệt là Alain Robbe Grillet. Khi nghiên cứu về tiểu thuyết mới, mặc dù khẳng định rằng: “Những văn bản này không nhằm tạo dựng cho một lý thuyết về tiểu thuyết, chúng chỉ thử lẩy ra vài nét về sự vận động mà tôi cho là quan trọng trong văn học đương đại” nhưng Alain Robbe Grillet đã phát hiện ra rằng: sáng tác của các nhà tiểu thuyết mới đầy mâu thuẫn và nghịch lý, lề thói, khuôn thước bị phá bỏ. Nó bỏ qua ý nghĩa của thực tại để tìm ra những ý nghĩa riêng biệt của chính nó. Không cần biên giới của sự thể, không đắn đo về nội dung diễn tả, không cần đến quá khứ, thực tại, đạo đức, thời gian, không gian… chỉ chú trọng đem lại cho người đọc những diễn biến. “Nhân vật tiểu thuyết bị hạ xuống độ không: thường thì nhân vật không có tên (có thể đó là một “tôi” vô danh, có thể là một chữ cái đầu), không có quá khứ, không có gia đình: tóm lại là không có bản sắc, không thể tra cứu lịch sử cũng như địa lý, không hiện thực. Sự có mặt của nhân vật biện minh bởi nhu cầu duy nhất về ngôn ngữ”. Không có giới hạn giữa người viết và người đọc mà điều cốt yếu là tạo nên một không gian khách quan để ẩn mình vào trong không gian nội tại. Đó là sự thức tỉnh nội giới biến cái nhìn sự vật như đã được nội tâm hóa nhằm dễ khám phá ý nghĩa cuộc sống. Tiểu thuyết mới mô tả ngoại vật có sự hiện diện của con người nằm trong không gian ấy, nó từ chối nhân vật. Nội dung của tiểu thuyết mới không cầu kỳ, phức tạp mà cực kỳ đơn giản, không gọt dũa, ít diễn tả, nhân vật nghèo nàn nhường chỗ cho sự nổi bật hẳn lên của sự vật. Nó còn cố tình tẩy trắng hoàn toàn những ý nghĩa mà con người gán cho sự vật trước đó…
Hành trình kiếm tìm sáng tạo:
Ra đời vào những năm 1950, trào lưu tiểu thuyết mới đánh dấu khát vọng tìm tòi đổi mới, đồng thời thể hiện những phản ứng chống lại tiểu thuyết truyền thống. Theo Alain Robbe Grillet thì “cái làm nên sức mạnh cho tiểu thuyết gia chính là ở chỗ anh ta sáng tạo, anh ta hoàn toàn tự do sáng tác, không có mô hình mẫu. Truyện hiện đại có điều đáng lưu ý sau đây: nó khẳng định có cân nhắc đặc tính này đến mức sự sáng tạo, sự tưởng tượng cuối cùng trở thành chủ đề của cuốn sách”. Mọi vấn đề lý luận đã được hình thành từ tiểu thuyết truyền thống bị phá bỏ, bị đảo lộn một cách triệt để. Nhiều nhà lý luận đương thời cho rằng đó là sự phá hoại, ngớ ngẩn, nực cười… “May thay nhiều người viết tiểu thuyết hiểu rằng trong văn học cũng vậy, rằng văn học cũng sinh động và rằng tiểu thuyết từ khi ra đời đã luôn luôn mới. Làm sao mà việc viết tiểu thuyết lại có thể đứng im, đông cứng khi tất cả đều phát triển xung quanh nó – thậm chí còn quá nhanh trong thời gian một trăm năm mươi năm qua”.
Ngay từ khi có ý định cầm bút thì đồng thời trong đầu các nhà tiểu thuyết mới đã bị thôi thúc cao độ bởi nhu cầu tìm kiếm và sáng tạo cho tác phẩm của mình. Thành công đầu tiên và quan trọng nhất phải kể đến là nó đã không quy tắc hóa cho bất cứ luật lệ nào. Điều này khiến cho ý nghĩa của nó vượt ra khỏi một trường phái văn học theo nghĩa hẹp của từ. “Người ta thường nói với chúng tôi; các ngài không xây dựng nhân vật, vậy các ngài không viết được những tiểu thuyết thực sự, các ngài không kể một câu chuyện, vậy các ngài không viết được những tiểu thuyết thực sự, các ngài không nghiên cứu một tính cách, một hoàn cảnh, các ngài không phân tích những mối tình, vậy các ngài không viết được những tiểu thuyết thực sự”… Nhưng “người ta” không biết rằng đó chính là những tìm tòi, sáng tạo làm nên bản chất và sự khác biệt của trào lưu văn học này. “Nói tóm lại, tiểu thuyết mới là một sự đi tìm kiếm đầy sáng tạo chứ không phải là một lý thuyết với những định luật câu chấp”.
Tiếp nối sự phát triển ổn định của thể loại tiểu thuyết:
Trước khi các tiểu luận phê bình tiểu thuyết mới của Emile Henriot và Alain Robbe Grillet ra đời, người ta vẫn nghĩ rằng; những nguyên tắc sáng tạo và các yếu tố nội tại của tiểu thuyết thực sự đã cố định vĩnh viễn nhưng khi tiểu thuyết mới ra đời, nó đã phá bỏ không thương tiếc những khuôn mẫu và hoàn toàn đoạn tuyệt với tiểu thuyết truyền thống. “Đây, hãy xem hiến chương của tiểu thuyết mới theo như dư luận công chúng lan truyền: 1) Tiểu thuyết mới đã quy tắc hóa những luật lệ của tiểu thuyết tương lai. 2) Tiểu thuyết mới đã rũ sạch quá khứ. 3) Tiểu thuyết mới muốn xua đuổi con người khỏi vũ trụ. 4) Tiểu thuyết mới nhằm vào một tính khách quan tuyệt đối. 5) Tiểu thuyết mới rất khó đọc, chỉ dành cho các chuyên gia”.
Đây là những nhận định mang tính chủ quan, chỉ căn cứ vào biểu hiện của hiện tượng. Người ta chưa quen, chưa thể bình tâm mà nhìn nhận một cách khách quan và toàn diện để nhận ra bản chất của một trào lưu văn học còn quá mới mẻ và có vẻ phá phách, nổi loạn này… Khi đã bình tâm lại, và nhờ vào kết quả nghiên cứu của các nhà lý luận tiểu thuyết mới, người ta mới nhìn xoáy sâu vào bản chất của hiện tượng và chợt nhận ra rằng: các tác giả “Flaubert, Dostoievsky, Proust, Kafka, Joyce, Faulkner, Beckett… không hề vứt bỏ quá khứ mà chỉ qua tên của các bậc tiền bối là chúng ta đã đồng ý một cách dễ dàng nhất và tham vọng của chúng ta chỉ là tiếp tục họ”. Nếu quan tâm đến trào lưu tiểu thuyết mới, hẳn người ta nhận ra ngay rằng nó đã thành công trong việc làm cho người ta tin tưởng một cách tuyệt đối rằng thành tựu lớn nhất của nó là làm cho công chúng ý thức về sự phát triển chung của thể loại tiểu thuyết. “Tiểu thuyết mới chỉ có bổn phận kế vị. Nhà văn mới vẫn công nhận có những bậc thầy về tiểu thuyết từ Stendhal, Balzac… đến Praust, rồi Kafka, Faulkner, Beckett… nhưng không phải chỉ việc chép lại, suy tôn lớp người trước, mà phải tiếp tục làm công việc của họ, đồng thời thích ứng vào hoàn cảnh, môi trường mới”.
Đặc biệt quan tâm đến con người và tình trạng của con người trong cuộc đời:
Nó được đặc trưng bởi sự si mê miêu tả sự vật một cách chi tiết, tỉ mỉ đến mức mà tất cả những sự miêu tả ấy dưới bất kỳ hình thức nào nó cũng không còn đúng với một hiện thực ngẫu nhiên nào mà con người có thể nhận thức được. “Đồ vật và con người giống như bóng với hình. Đó là điều cần phải nhớ khi đọc tiểu thuyết mới. Như thế là công nhận tính cách bất khả phân ly giữa vật và người”. Điều này hoàn toàn đối lập với chủ nghĩa miêu tả hiện thực nhằm xóa bỏ những ý nghĩa, tính chất mà con người đã gán ghép cho sự vật. Rõ là tiểu thuyết mới không có nhân vật theo nghĩa truyền thống của từ nhưng không có nghĩa là nó “muốn xua đuổi con người khỏi vũ trụ” vì “con người hiện diện trong đó ở mỗi trang, mỗi dòng và mỗi từ. Ngay cả người ta chỉ thấy ở đó nhiều đồ vật, được miêu tả chi tiết thì luôn luôn và đầu tiên bao giờ cũng có cái nhìn chúng, có tư tưởng gặp lại chúng”… “Những đồ vật trong tiểu thuyết của chúng tôi không bao giờ hiện diện ngoài những nhận thức của con người”.
Tiểu thuyết mới rất quan tâm đến con người nhưng không phải dưới cái nhìn trực diện mà thông qua một hệ thống sự vật với những bản chất khởi nguyên, tinh khôi của chúng. Ẩn sau những ngổn ngang đồ vật “ngôi nhà, động sản, quần áo, đồ nữ trang, công cụ, máy móc”… “Tiểu thuyết mới vẫn để ý đến tâm lý của nhân vật nhưng một tâm lý mới mẻ hơn, nhà văn ngày nay không còn chấp nhận cái tâm lý hòa hoãn, giản dị, một phần nào giả tạo trong tiểu thuyết. Tiểu thuyết mới đang đi đến tâm lý tế nhị, tế nhị đến nỗi có khi chối bỏ tất cả, làm lại tất cả bắt đầu từ khởi điểm, đến một lúc nào đó tâm lý lại trở thành phi tâm lý”. Rõ ràng, tiểu thuyết mới đặc biệt quan tâm đến bản chất của con người và tình trạng của con người trong cuộc đời.
Luôn nhằm vào tính chủ quan hoàn toàn:
Thế giới trong những tác phẩm của trào lưu tiểu thuyết này chủ yếu là các đồ vật nên lại thêm một lần nữa người ta nhầm tưởng rằng nó chỉ nhằm vào thế giới khách quan, say mê khám phá thế giới khách quan mà hoàn toàn quên đi tính chủ quan. Alain Robbe Grillet đã thay mặt cho tất cả các nhà tiểu thuyết mới chứng minh một cách rõ ràng và đầy thuyết phục rằng tác phẩm của họ đầy ắp tính chủ quan. “Ví dụ như trong các tiểu thuyết của tôi, không phải chỉ một người miêu tả tất cả các sự vật, mà là người ít trung tính nhất, ít vô tư nhất trong số những con người: ngược lại đó là người luôn luôn được nhập cuộc vào trong một phiêu lưu đam mê trong số những phiêu lưu hấp dẫn nhất, đến mức thường xuyên làm lệch lạc cách nhìn của anh ta và tạo ra trong anh ta những tưởng tượng gần với mê sảng. Như vậy, cũng dễ chỉ ra rằng những tiểu thuyết của tôi – cũng như của tất cả các bạn tôi – còn mang tính chủ quan hơn cả tiểu thuyết của Balzac”.
Để thực sự thuyết phục một cách tuyệt đối đông đảo công chúng, ông tiếp tục khẳng định: “Chỉ có trời là người duy nhất dám coi mình là khách quan. Trong khi trong sách của chúng ta, ngược lại là một con người nhìn, cảm giác, tưởng tượng, một con người được đặt trong không gian và thời gian, bị chi phối bởi các khát vọng của anh ta, một con người như anh và tôi. Và tác phẩm không mang lại cái gì ngoài kinh nghiệm của anh ta, kinh nghiệm có bị hạn chế, không lấy gì làm chắc chắn”. Đến đây không ai lại không phải thừa nhận rằng tiểu thuyết mới còn nhằm vào tính chủ quan hoàn toàn.
Nói với tất cả những con người có thiện ý:
Tiểu thuyết mới không có nhân vật, không có cốt truyện, không từ chương... “Những chiều rộng, chiều cao, chiều dài thì vẫn có từ bao giờ. Tiểu thuyết mới thêm vào chiều tâm tư làm bằng dĩ vãng, hiện tại, tương lai có thể banh không gian vật lý thành không gian bao la và hỗn độn thêm lên”. Chính vì thế, khi mới ra đời người ta cứ nghĩ nó cố tình phớt lờ công chúng phổ thông mà chỉ quan tâm đến những người nghiên cứu vì nó rất khó đọc. Thực tế không phải như vậy.
Ngay từ khi bắt đầu cầm bút thì điều đầu tiên mà các nhà văn mới nghĩ đến không phải là viết cái gì, cũng không phải là xây dựng bao nhiêu nhân vật… mà điều đầu tiên họ nghĩ tới chính là viết cho ai và họ quả quyết: “Tôi đã tự nhủ phải viết cho “số đông công chúng”, tôi khổ tâm vì bị coi là một tác giả khó”. Chỉ cần có thiện ý một chút thôi sẽ dễ dàng nhận ra rằng người đọc được các nhà tiểu thuyết mới đặc biệt tôn trọng, chưa bao giờ và sẽ không bao giờ có chuyện coi thường người đọc mà chỉ vì các nhà văn mới có một đòi hỏi tuyệt đối trong quá trình đóng góp của mình vào nền văn học, nó phải tích cực, có ý thức và đầy sáng tạo. Chính vì thế cái mà tác giả yêu cầu người đọc, không phải là tiếp nhận trực tiếp một thế giới toàn diện, đóng kín mà ngược lại anh ta phải tham gia vào việc sáng tạo. Người đọc trở thành người đồng sáng tạo và ở một mức độ nào đó anh ta còn sáng tạo ý nghĩa riêng, thế giới riêng, cuộc đời riêng trong những lần giải mã văn bản khác nhau.
Như thế, đọc tiểu thuyết mới trở thành một công việc đầy lôi cuốn, hấp dẫn, chủ động, và đầy sáng tạo, đọc tiểu thuyết mới là sáng tác tác phẩm lần hai. “Chắc chắn, chỉ cần không nhắm mắt trước sự hiển nhiên này là có thể nhận thấy các tác phẩm của chúng tôi nằm trong tầm tay của người đọc, một khi anh ta chấp nhận thoát khỏi những tư tưởng đã được định sẵn trong văn học cũng như trong đời sống”.
Không đề xuất những ý nghĩ định trước:
Thế kỷ XX, khoa học tự nhiên đã phát triển đến một trình độ cần có. Hiện tượng luận đã khám phá ra ý nghĩa sâu kín của các sự vật, khoa học vật lý chứng minh được rằng có một sự vận động và tương tác bên trong các nguyên tử, phân tử mà trước kia chúng ta vẫn tưởng bất động. Khoa học xã hội cũng vậy, âm nhạc, hội họa, điêu khắc, kiến trúc và văn học đều có sự đổi mới. Điều này giúp con người nhận ra rằng mọi thứ đều không ngừng vận động, thế giới quanh ta mang tính bộ phận, tạm thời, đối lập nhau. “Làm thế nào mà tác phẩm nghệ thuật lại có thể tính chuyện minh họa cho một ý nghĩa biết trước, cho dù đó là ý nghĩa nào? Tiểu thuyết hiện đại như chúng ta đã nói lúc đầu, là một sự kiếm tìm, nhưng là sự kiếm tìm mà chính nó dần dần tự sáng tạo ra những ý nghĩa riêng của nó”. Rõ ràng, tiểu thuyết mới không hề đề xuất những ý nghĩ định trước bằng cách trình bày hiện thực hoặc sao chép lại hiện thực mà ngược lại, phải tạo ra một thế giới hoàn toàn mới trong sự gắn kết riêng của nó.
Sự dấn thân duy nhất của nhà văn là văn học:
Tiểu thuyết mới không xây dựng một ý nghĩa xã hội, một ý nghĩa lịch sử hay một ý nghĩa đạo đức… Đây có thể là một sự khiêm tốn, cũng có thể là một sự tham vọng lớn nhưng sự thực là nó không bao giờ có gì được biết trước. Cả trước và sau khi hoàn thành tác phẩm, không có sự xác thực, không có đề tài, không có thông điệp, không có cốt truyện, không có nhân vật mà chỉ có một thứ duy nhất là giá trị văn học. “Dấn thân là ý thức đầy đủ về những vấn đề hiện tại của ngôn ngữ riêng của mình, là niềm tin vào tầm quan trọng cực kỳ của những vấn đề đó, là muốn giải quyết chúng tự bên trong. Chính ở đây, đối với nhà văn là vận may duy nhất để được làm một nghệ sĩ”. Thế là sự dấn thân duy nhất của những nhà văn mới chỉ có thể là văn học và văn học mà thôi.
***
Cái mới, khi ra đời thì luôn phải chịu những ánh nhìn thiếu thiện cảm, những cách đánh giá mang tính chủ quan... Nó phải trải qua nhiều thử thách và cần có thời gian để thể hiện, để khẳng định chính mình. Tiểu thuyết mới cũng vậy. Phê bình văn học thì luôn dựa vào những giá trị truyền thống để nhìn nhận, đánh giá và phán xét, chính vì thế khi mới ra đời, tiểu thuyết mới phải hứng chịu nhiều sóng gió từ phía dư luận. Trải qua thời gian, nó đã chứng minh cho những tìm tòi, sáng tạo và giá trị nghệ thuật đích thực của mình khiến cho cả thế giới phải công nhận và thán phục. Thế là chúng ta không chỉ biết đến Michel Butor, Claud Simon, Jacque Derrida, đặc biệt là Alain Robbe Grillet như những ông hoàng trong sáng tác mà ông còn là các nhà lý luận tiểu thuyết mới đầy tài năng.


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Alain Robbe  Grillet (1986), Vì một tiểu thuyết mới, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội.
2. C.De Ligny - M. Raussselot (1998), Văn học Pháp, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
3. Bửu Ý (2006), Tác giả thế kỷ XX, Nxb Văn học, Hà Nội.