Chủ Nhật, 28 tháng 5, 2017

MÂY VÀ GIÓ



Truyện ngắn của HỒNG CHIẾN


Một cô bướm vàng chao nghiêng đôi cành, nhẹ nhàng đặt chân lên cánh phượng hồng, giơ hai chân trước nhặt từng hạt phấn vàng nơi đầu nhụy hoa đưa vào miệng nhấm nháp có vẻ thích thú lắm. Hoa phượng lâu ngày mới gặp lại bạn cũ thì phải nên các cánh phượng cứ đỏ rực cả lên, như mời mọc cô Bướm.
Bỗng một cơn gió ào đến lắc lắc chùm hoa và lá phượng kéo ngược về hướng đông, vơ theo một nắm bụi nơi sân trường ném lên đôi cánh vàng của cô Bướm. Cô Bướm càu nhàu:
-                     Cái lão Mây tệ quá, đi đâu không chịu đi một mình lại còn lôi cô Gió cuống quýt chạy theo làm dơ hết cả áo của mình rồi.
-                     Bạn nói sai rồi, anh chàng Mây chạy theo cô Gió đấy chứ.
Anh Ve Sầu đang ôm cành phượng nỉ non khúc nhạc mùa hè, bất chợt lên tiếng. Cô Bướm ngạc nhiên hỏi lại:
-                     Làm gì có chuyện đó?
-                     Không tin bạn nhìn lên trời thì rõ; hễ cô Gió chạy theo hướng nào, anh chàng Mây lại lủi thủi chạy theo hướng đó.
-                     Anh nói thế không đúng đâu, tôi đi nhiều nên chiêm nghiệm ra một điều: hễ lão Mây đi về hướng nào, y như rằng, cô Gió lại vội vã chạy theo. Lão Mây đi chậm, cô Gió chạy chậm; còn khi mặt lão Mây đen sì, lao đi ầm ầm thì ôi thôi, cô Gió cuống cuồng chạy theo cuốn tung tất cả mọi thứ cản trở trên đường đi của mình, làm mọi người xung quanh cũng bị vạ lây đấy.
Cả hai không ai chịu ai, vẫn cố chứng minh phần thắng về mình; thấy vậy bác Phượng mới góp lời:
- Ai cũng có cái lý của mình để cho điều mình tin là đúng nhất, nhưng chúng ta phải quan sát kỹ một chút sẽ hiểu ngay thôi.
- Quan sát cái gì ạ!
Cả cô Bướm và anh Ve sầu đồng thanh hỏi lại.
- Các cháu đều cho mình quan sát bầu trời rất kỹ nhưng có để ý thấy: hôm nào không có gió, những đám mây trắng đứng im lìm suy tư vì không biết đi về đâu; nhưng cũng có những hôm bầu trời trong xanh, không một gợn mây, thế mà cô Gió vẫn thong thả dạo bước hôn nhẹ lên tất cả đấy thôi.
- A, cháu biết rồi, cô Gió chính là người kéo anh Mây chạy theo mình.
 Anh Ve Sầu vui sướng reo lên. Cô Bướm ngượng ngùng khẻ rung rung đôi râu nói:
-                     Hình như là thế thật, mọi việc thấy rồi phải suy nghĩ nữa mới phân biệt đúng sai, vội vàng nhận xét thường mắc sai lầm thì phải.
Nói xong, cô Bướm ngượng ngùng vẩy cánh bay theo đàn.


GIỚI THIỆU TẠP CHÍ CHƯ YANG SIN SỐ: 297 - THÁNG 5 NĂM 2017 tác giả NGUYỄN ANH ĐÀO




 Nhà văn NGUYỄN ANH ĐÀO

CHÂN DUNG NÀNG HỌA SĨ

Truyện ngắn

  
Nàng buông cọ, nhìn luống hoa hình vòng cung bên ngoài cánh cửa, một cơn gió nhẹ thổi qua, những cánh hoa đổi màu rơi xuống, nhàu nhĩ. Nàng nhìn lên bầu trời, âm âm u u, không mưa cũng không nắng, màu xam xám đến cả cỏ cây cũng xam xám theo. Bức tranh của nàng hôm nay, tự dưng cái ý nghĩ sẽ vẽ bằng những sắc màu tươi vui biến mất, nàng muốn tô cành hoa hồng màu xám. Có lẽ, lâu rồi, ông không tới?
Nàng độc thân, nàng sống cùng một cô con gái xinh như hoa, còn nàng thì gầy tong tong, hậu quả từ những ngày sống cùng người chồng thích bạo hành, nàng vào viện ra viện để chữa những vết thâm tím, cái phòng chụp X quang là nơi nàng đến nhiều nhất, đến nỗi vị bác sĩ đáng kính ở đó thốt lên, “thôi, ly hôn đi con!”. Thế là nàng ly hôn. Nàng tự hỏi mình, sức ở đâu mình có thể chịu đựng được từng ấy thời gian? Có thể, đó là sự chịu đựng khi không muốn nhìn thấy nước mắt của mẹ. Mà, khi nàng không còn đủ khả năng giữ tính mạng của mình, nàng ly hôn, mẹ không hỏi “con thấy ổn không?”, mà chỉ lo lắng “rồi người ta hỏi, tao nói sao?”.
Nàng dắt con ra khỏi làng, nàng làm nhà riêng, nàng trồng hoa, nàng thiết kế phòng vẽ, nàng thiết kế lại đời mình. Nàng trồng hoa hồng vàng, nàng vẽ hoa hồng vàng. Nàng cười nhiều hơn nàng nghĩ, nhận ra rằng, ly hôn chẳng có gì đáng ghê sợ, cái nỗi sợ hãi bạo hành khi cố gắng sống để khỏi buồn lòng cha mẹ, để vì con có được người cha mới thấy nó ghê sợ hơn nhiều.
Ông mê tranh nàng vẽ, ông yêu hoa hồng vàng, và ông yêu nàng. Nàng không biết điều đó, chính cả ông, ông cũng không biết mình yêu nàng từ cái nhìn đầu tiên đó, ông chỉ biết nàng, ngôi nhà của nàng và những bức tranh của nàng như mê hoặc ông.
Ngày đầu tiên, ông hỏi nàng, “ta vẽ em, được không?”, nàng lừng khừng, nàng là gì, tay chân nàng lấm lem màu, màu dính cả trên áo, trên tóc và trên mặt, ông cần gì ở bức tranh của ông. Ông cười, “ta cần bức tranh khi em sáng tác, em cứ vẽ tranh của em, ta vẽ em!”. Vậy là nhà nàng có hai giá vẽ. Thỉnh thoảng, nàng nhoẻn miệng nhìn ông và cười. Họ không trò chuyện khi vẽ, họ chỉ trao nhau những nụ cười và thông cảm cho nhau những giọt mồ hôi khi làm việc.
Khi nàng ngưng vẽ, nàng đi nấu cơm, ông ra chăm sóc những luống hoa thay nàng. Không biết ông nói với hoa những gì, nhưng từ ngày có bàn tay của ông vun xới, hoa nở nhiều hơn và to hơn.
Sáng thức dậy, nàng chú ý đến bộ quần áo của mình, nàng soi gương chải tóc, nàng trang điểm nhẹ trước khi ra phòng vẽ. Nàng vui hơn, cười nhiều hơn, thỉnh thoảng, nàng cười nắc nẻ như trẻ con. Ông khựng lại, chăm chú nhìn vào mắt nàng “em cứ như cũ, được không?”. Nàng ngưng cười, mọi thứ trong lòng nàng đổ sụp. Nàng buông cọ, ra ngồi trước giàn hoa. Nàng vẫn không nhìn vào bức tranh của ông đang vẽ gì, nàng muốn nhìn cái hoàn chỉnh, vì những phác thảo ban đầu có thể thay đổi rất nhiều sau khi đã hoàn thành, mà nàng, nàng không muốn dự đoán tác phẩm nó sẽ là gì, bởi nó phụ thuộc rất nhiều vào tâm tư tình cảm của tác giả.
Mẹ nàng gọi điện khóc, “mày ăn ở như vậy thì tao còn mặt mũi nhìn ai, hả con?”. Nàng không hiểu mình đã làm gì sai, cũng có thể, mỗi sáng ông đến nhà nàng, rồi hai người vào phòng vẽ, vẽ mãi cho tới chiều tối mịt. Những người ngoài kia đang nghĩ về nàng thế nào đó, nàng không rõ, và nó đến tai mẹ. Trái tim nàng như vỡ ra lần nữa. Nàng đổ bệnh. Nàng nằm luôn trong phòng. Ông nghĩ nàng giận, ông ngồi chơ vơ trước giá vẽ, lóng ngóng không rõ buồn hay lo.
Ngày thứ ba, ông đứng trước cửa phòng nàng, nói vọng vào, “hay... ta không đến nữa nhé, sẽ làm phiền em?”. Nàng quay lưng về phía ông, bật khóc. Khi nàng ngừng khóc thì bên ngoài đã vắng ngắt. Ông đi thật rồi.
Bức tranh hoa hồng vàng của nàng còn dang dở, luống hoa thiếu bàn tay ông cũng không còn hoa rực rỡ, nó héo rũ như mấy năm bị bỏ hoang. Nàng mệt mỏi soi gương, tóc nàng bết dính thành từng chùm, da nàng sạm lại, môi nhợt nhạt. Nàng bước ra ngoài, chạm vào giá vẽ của ông. Nàng sững sờ nhìn hình ảnh nàng đang ngồi vẽ, nàng vẽ luống hoa hồng vàng với gam màu buồn, gương mặt nàng có nỗi đau nào đó mà khi nhìn bức tranh này nàng mới nhìn thấy. Nàng hiểu vì sao khi nàng cười, ông không thích, bởi ông không phải mô tả niềm vui.
Nàng không thích bức tranh đó, nhưng tôn trọng ông, nàng chần chừ rồi nhắn “ông vẽ xong chưa?” Nàng đợi thêm một tuần liền, không thấy ông trả lời. Nàng ra cửa nhà mình, ngồi hỏi những cây hoa hồng “gai tụi mày đã từng đâm vào tay ông ấy, đau lắm phải không?”. Chúng không trả lời nàng được, bỗng nhiên nàng thấy hối hận khi buông câu hỏi đó, chúng có lỗi gì trong việc ông không đến nữa? Nhưng chúng không có lỗi, nàng không có lỗi, thì ai có lỗi?
Nàng lại tiếp tục mặc chiếc áo đẹp, nàng thoa son rồi ngồi vào ghế trước giá vẽ, dẫu thế nào, nàng vẫn không để gương mặt mình mang nỗi đau như cô họa sĩ trong tác phẩm đó, nàng mạnh mẽ lắm. Nàng vẽ lại bức tranh hoa hồng vàng dang dở từ nhiều ngày trước, nhưng rồi nàng thần người trước chính bức tranh của mình, sao màu sắc lẫn lộn buồn vui, giờ nàng biết vẽ nó bằng màu buồn hay vui? Nàng lại buông cọ. Nàng qua ngồi chiếc ghế ông đã ngồi, nàng ngắm lại chính mình qua con mắt của ông, nàng nghe tim mình đau nhói. Với ông, tác phẩm là thứ quan trọng nhất, còn nàng, hình như ông mới quan trọng với cuộc đời mình.
Nàng nhớ lời ta thán của mẹ, nàng nhớ ánh mắt dòm ngó tò mò của hàng xóm những ngày ông đến. Giờ ông không đến, người ta vẫn cứ tiếp tục dòm ngó, tò mò, kiểu như đó chính là đặc trưng chung của con người quanh nàng vậy. Rốt cuộc, hạnh phúc của nàng, thì ai đặt vào tay nàng đây? Đời nàng, rồi phải sống với những nỗi đau khổ khốn cùng để trải nghiệm hay sao? Điện thoại nàng có tin nhắn “mang bức tranh ra phòng tranh xyz dùm ta!”. Nàng không suy nghĩ gì hết, nàng vui mừng đến độ xem như đó là lời tỏ tình rằng sẽ yêu nàng đến hết cuộc đời. Nàng vui vẻ mang bức tranh đi, chỉ hi vọng sẽ lại nhìn thấy ông lần nữa.
Phòng tranh vắng teo, không có ông, chỉ có một cô gái nhỏ nhắn mặc áo dài thướt tha và một người đàn ông bệ vệ đang ngồi thảnh thơi uống trà. Người đàn ông nhìn bức tranh nàng mang tới, không nói gì cả, chỉ móc ví đưa cho nàng một số tiền, nàng ngỡ ngàng “không, tranh này không phải của tôi!”, người đàn ông nhỏ nhẹ “tác giả bức tranh bảo tôi cứ đưa cho cô, rồi ông ấy sẽ gặp cô sẽ lấy sau, cô giữ giúp tôi!”. Người đàn ông đó đưa bức tranh lên xe rồi đi khuất.
Nàng thấy hẫng, không hẳn là vì nàng không gặp được ông, mà cái hẫng của người nghệ sĩ, mang bức tranh tâm huyết đổi chác tiền bạc với người không thèm ngắm lấy bức tranh một lần. Nàng bỗng thấy tủi thân, nàng không biết nữa, ở giây phút đó, hình như nàng muốn khóc ghê gớm lắm. Nàng thất thểu ra về với số tiền trên tay, mà không biết tìm ông ở đâu để trả lại.
Điện thoại nàng lại có tin nhắn, “Chúc em hạnh phúc! Không biết chừng đó tiền, có đủ ta trả công làm mẫu cho em không?”. Giờ thì nàng khóc thật, khóc rất to. Nàng gọi đi gọi lại rất nhiều lần vào số vừa nhắn cho nàng, nhưng không ai nhấc máy.

Từ cửa sổ trên tầng áp mái của ngôi nhà triển lãm, ông ngồi nhìn theo bóng nàng, nước mắt rơi trên khóe mắt của ông, rơi ướt xuống tập hồ sơ bệnh án mà ông vừa được bệnh viện trả về nhà với căn bệnh không thể chữa khỏi. Với ông, cô là món quà cuối đời mà thượng đế mang đến, và đó cũng là bức tranh cuối cùng của cuộc đời họa sĩ của ông: Chân dung của một họa sĩ!

Thứ Tư, 24 tháng 5, 2017

GIỚI THIỆU TẠP CHÍ CHƯ YANG SIN SỐ: 297 - THÁNG 5 NĂM 2017

TRANG CHUYÊN ĐỀ KỶ NIỆM 42 NĂM THÀNH LẬP BỘ ĐỘI BIÊN PHÒNG ĐẮK LẮK
(23/5/1975 - 23/5/2017)

KẾT QUẢ TỪ CHUYẾN ĐI THỰC TẾ SÁNG TÁC
TẠI BIÊN GIỚI

Ghi chép của Hồng Chiến



Chuẩn bị kỷ niệm 58 năm Ngày truyền thống Bộ đội Biên phòng Việt Nam (3.3.1955-3.3.2017) và 42 năm Ngày truyền thống Biên phòng Đắk Lắk (23.5.1975-23.5.2017), Hội Văn học Nghệ thuật Đắk Lắk phối hợp với Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh tổ chức cho anh chị em văn nghệ sỹ đi thực tế sáng tác trên tuyến biên giới thuộc địa bàn tỉnh nhà.
7 giờ sáng ngày 22.2.2017, xe ô tô của Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh đến trụ sở Hội đón đoàn. Thượng tá Đỗ Quang Thấm – Phó chủ nhiệm Chính trị và thiếu tá Đỗ Văn Nhương, cán bộ Ban Tuyên huấn trực tiếp dẫn đoàn ra biên giới. Đầu năm, công việc còn nhiều nên Thường trực Hội mời 15 hội viên thuộc 3 chuyên ngành: Âm nhạc, Văn học và Sân khấu - Điện ảnh tham gia chuyến đi. Trong số hội viên tham gia đi thực tế sáng tác đợt này nhiều người cao tuổi như nhà thơ Hữu Chỉnh đã bảy sáu, nhà văn Nguyễn Hoàng Thu, nhạc sỹ Sĩ Hùng cũng trên bảy mươi…; trẻ nhất là nữ nhà văn Nguyễn Thị Thu Hồng mới ngoài ba mươi. Ai cũng tươi vui phấn khởi khi được ra biên giới mùa xuân.
Với một đội quân “hùng hậu” tham gia chuyến đi, trong đó có nhiều hội viên từng đến địa đầu Tổ quốc thăm và làm việc với Đồn Biên phòng Lũng Cú, trên cao nguyên đá Đồng Văn thuộc tỉnh Hà Giang, hay đến tận xã Đất Mũi, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau. Sau mỗi chuyến đi, nhiều tác phẩm đã hoàn thành và được công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng, điều đó khẳng định tính chuyên nghiệp của các hội viên. Chuyến đi thực tế lần này “mở hàng” cho năm mới 2017 của Hội, vì vậy Thường trực Hội đặt ra chỉ tiêu: Tất cả các nơi đoàn đến thực tế đều phải có tác phẩm. Đây là lần đầu tiên văn nghệ sỹ đi thực tế được giao chỉ tiêu cụ thể để phấn đấu mặc dù thời gian xâm nhập thực tế, tìm nguồn cảm hứng, ghi chép, lấy tài liệu… chỉ có hai ngày và một đêm cho cả chuyến đi. Trước đây các đoàn đi thực tế thời gian ít nhất cũng ba bốn ngày, nhiều thì mười ngày hoặc hơn và không giao chỉ tiêu cụ thể mà tùy theo cảm hứng, các tác giả sáng tác theo cảm hứng riêng của mình; còn chuyến đi này có yêu cầu cụ thể: Phục vụ nhiệm vụ chính trị, sáng tác về Bộ đội Biên phòng tỉnh - lực lượng vũ trang đã có truyền thống anh dũng, luôn luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, bảo vệ vững chắc an ninh biên giới, góp phần quan trọng ổn định và nâng cao mức sống của người dân vùng biên. Những chiến công thầm lặng ấy thông qua lăng kính của người văn nghệ sỹ phải được xây dựng thành tác phẩm văn học nghệ thuật để mọi người dân ít nhất là trong tỉnh biết, qua đó mà cảm phục, tin yêu và trân trọng.
*
Trên chuyến xe ra biên giới, các văn nghệ sỹ tranh thủ hỏi chuyện Thượng tá Đỗ Quang Thấm về tình hình an ninh biên giới, về công việc của người chiến sỹ biên phòng trong thời bình, những khó khăn mà hàng ngày các anh phải đối mặt… Đồng chí Phó chủ nhiệm Chính trị rất vui vẻ trả lời các câu hỏi của anh em trong đoàn, và thật bất ngờ, nhiều câu trả lời tế nhị tránh vấn đề nhạy cảm kết thúc bằng một trận cười vui vẻ cho cả xe làm quãng đường đất có nhiều dốc đá khó đi hình như cũng ngắn lại.
Để hoàn thành kế hoạch đề ra, lãnh đạo đoàn bố trí các văn nghệ sỹ thành từng tổ hai hoặc ba người ở một đồn. Mỗi tổ có một nhạc sỹ và một hoặc hai nhà văn. Ngay trong buổi sáng đoàn đến Đồn Yok Đôn, đồn đầu tiên của tỉnh Đắk Lắk tính từ phía nam giáp tỉnh Đăk Nông để đổ quân xuống và cứ lần lượt như thế tiến dần ra bắc theo Quốc lộ 14C, đến nửa buổi chiều đoàn đến đồn Ia Rvê – nơi được chọn làm điểm cuối cùng và cũng là nơi đóng “đại bản doanh chỉ huy”. Đồn Ia Rvê có “đại bản doanh” nên quân số cũng đông nhất, ngoài một nhạc sỹ, hai nhà văn còn có hai nghệ sỹ điện ảnh hội viên của Hội nhưng cũng là nhà báo đang công tác tại Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh. Việc rải quân đúng theo kế hoạch mà Chủ tịch Hội vạch ra từ nhà, riêng đồn Biên phòng Ea H’Leo ở phía bắc tỉnh, tháng 12 năm 2016 các văn nghệ sỹ dự Trại sáng tác Văn học Nghệ thuật huyện Ea Súp đã đến nên đợt này không bố trí người đến nữa.
Một đêm, hai ngày trôi vụt qua thật nhanh, chiều ngày thứ hai xe xuất phát từ Đồn Ia Rvê quay về và ghé các đồn đón văn nghệ sỹ, chứng kiến các nhà văn nữ như: Nguyễn Thị Bích Thiêm, Nguyễn Thị Thu Hồng chia tay với cán bộ chiến sỹ thật xúc động, giống như anh chị em trong một gia đình chia tay nhau để đi xa; trên khóe mắt ai cũng long lanh. Không chỉ các nhà văn nữ xúc động mà ngay nhạc sỹ Trung tá Dương Tấn Bình – Phó phòng PX15, Công an tỉnh cũng bịn rịn nắm tay các đồng chí đồng đội không muốn buông ra, hình như các văn nghệ sỹ và chiến sỹ đã thành anh em một nhà, khi chia tay sao mà quyến luyến đến vậy! Xe đến rồi từ từ chuyển bánh, cán bộ chiến sỹ các đồn biên phòng đều chào đón niềm nở và những cái vẫy tay tạm biệt cho đến khi xe khuất hẳn in đậm vào tâm trí của anh chị em văn nghệ sỹ.
Chiều muộn mới về tới thành phố Buôn Ma Thuột, các anh chị em văn nghệ sỹ bịn rịn chia tay hai cán bộ của Bộ chỉ huy Biên phòng dẫn đoàn đi và đều có một chút tiếc nuối, thời gian quá ngắn, giá như được có thêm hai hoặc ba ngày nữa thì… Thôi đành hẹn dịp sau sẽ có nhiều thời gian hơn. Thời gian đi thực tế ngắn nhưng ba nhạc sỹ đã kịp hoàn thành ba ca khúc, anh em còn lại trong đoàn thống nhất về nhà sử dụng tư liệu đã có tiếp tục sáng tác, hoàn thiện tác phẩm, sau ba chục ngày sẽ nộp tác phẩm để kịp in vào số đặc biệt tháng năm.
*
Thật bất ngờ khi đến ngày hẹn, số tác phẩm hoàn thành và đem nộp làm nhiều người ngạc nhiên. Nhà thơ Hữu Chỉnh - “người lính già” nhất của đoàn trên mặt trận Văn học Nghệ thuật hoàn thành một bài thơ, một bài ký; nhà văn Nguyễn Hoàng Thu một bài ký; nhà thơ Lê Đình Liệu hai bài thơ; nhà văn Nguyễn Thị Bích Thiêm một bài ký, một tản văn; nhà văn Nguyễn Thị Thu Hồng một bài ký; nhà văn Trương Nhất Vương một bài thơ, một bài ký; nhà văn Hồng Chiến một bài ghi chép. Về chuyên ngành Âm nhạc, số tác phẩm hoàn thành vượt quá cả sự mong đợi: nhạc sỹ Sĩ Hùng, nhạc sỹ Nguyễn Văn Hạnh, nhạc sỹ Dương Tấn Bình, nhạc sỹ Nguyễn Hưng hoàn thành một ca khúc; riêng nhạc sỹ Mạnh Trí có tới hai ca khúc mang nộp; Nghệ sỹ Nguyễn Công Việt và nghệ sỹ Nguyễn Linh Nguyên hoàn thành một phóng sự truyền hình mười lăm phút phát trên sóng ngay trong ngày đầu tháng tư. Các tác phẩm văn học viết ở sáu địa điểm khác nhau có chung đề tài về anh Bộ đội Biên phòng, nhưng mỗi tác phẩm là mộc bức phác họa chân dung sinh động về tình quân dân, tình đồng đội, giúp nhau vượt qua khó khăn để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao… không có bài nào trùng ý tưởng. Từ kết quả của chuyến đi thực tế lần này đã gợi ra cho lãnh đạo Hội Văn Học Nghệ thuật cách thức tổ chức các trại tiếp theo hy vọng gặt hái thành công hơn nữa.
Từ kết quả tốt đẹp của chuyến đi thực tế sáng tác trên biên giới, dự kiến vào tối ngày 17 tháng 5 năm 2017 Thường trực Hội và Bộ chỉ huy Biên Phòng tỉnh sẽ phối hợp tổ chức một đêm ca nhạc chào mừng ngày sinh nhật Bác (19/5/1890-19/5/2017) và Kỷ niệm 42 năm Ngày truyền thống Bộ đội Biên phòng Đắk Lắk. Đây cũng là dịp để văn nghệ sỹ báo cáo kết quả hai chuyến đi thực tế sáng tác, có sự phối hợp giữa hai cơ quan: Hội Văn học Nghệ thuật và Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Đắk Lắk cuối năm 2016 và đầu năm 2017.
                                                                                                Tháng 4 năm 2017

GIỚI THIỆU TẠP CHÍ CHƯ YANG SIN SỐ: 297 - THÁNG 5 NĂM 2017

TRANG CHUYÊN ĐỀ KỶ NIỆM 42 NĂM THÀNH LẬP BỘ ĐỘI BIÊN PHÒNG ĐẮK LẮK
(23/5/1975 - 23/5/2017)



TÌNH QUÂN DÂN VÙNG BIÊN GIỚI IA RVÊ


Ký của NGUYỄN HOÀNG THU

Từ Đồn Biên phòng Yok Đôn, lần lượt qua các Đồn Biên phòng Bo Heng, Sê Rê Pôk, Yok M'Bre, Đăk Ruê, đến Đồn biên phòng Ia Rvê, thuộc địa phận 2 huyện Buôn Đôn và Ea Súp của tỉnh miền núi Đắk Lắk, bốn bề trải rộng sắc màu rừng cây đang mùa thay lá. Rừng khộp - loại rừng thay lá mùa khô với muôn ngàn chiếc lá vàng rơi rụng đó đây cho màu xanh non lá mới nẩy nở đầy đặn vào những tháng mùa xuân. Rừng bên này, rừng bên kia đường vành đai biên giới từng năm tháng thay màu lá mới bên sông bên suối trong xanh yên lành bên cạnh sự sống người dân vùng biên giới đổi mới dần theo tháng ngày. Cán bộ chiến sĩ các đồn biên phòng thuộc Bộ chỉ huy Biên phòng tỉnh Đắk Lắk đêm ngày tuần tra bảo vệ an toàn từng thước đất biên cương Tổ quốc, đồng thời luôn giữ mối quan hệ hữu nghị hài hòa với các lực lượng bảo vệ biên giới Campuchia.
 An ninh vùng biên giới đất nước yên ổn, đời sống vật chất tinh thần không thiếu thốn, cán bộ chiến sĩ biên phòng luôn tâm niệm "đồn là nhà, biên giới là quê hương, đồng bào các dân tộc là anh em ruột thịt" làm chỗ dựa tin yêu thân thiết để thực hiện lý tưởng sống ý nghĩa: vì tổ quốc vì nhân dân; nghĩa vụ nào, trước sau cũng vì an toàn, an sinh cho sự phát triển bền vững đời sống kinh tế - xã hội của người dân. Đồn biên phòng Ia Rvê tọa lạc bề thế thông thoáng bóng cây bên đường vành đai biên giới bên dòng suối Ia Rvê thuộc xã Ia Rvê. Đồn biên phòng và xã biên giới cùng mang tên suối Ia Rvê, lại thêm ý nghĩa tô đậm tình quân dân và trách nhiệm gắn bó với vùng đất rừng cây có dòng nước suối chảy qua...
Đến với đồn biên phòng Ia Rvê cho tôi thấy rõ hơn ý nghĩa tốt đẹp tình quân dân vùng biên giới xã Ia Rvê, vùng đất rừng khộp rộng hơn 20.000 hecta có gần 7.000 dân với 22 dân tộc anh em từ các tỉnh miền Bắc và miền Nam đến lập nghiệp. Xã mới thành lập năm 2006, hãy còn khó khăn, từ ban đầu cán bộ chiến sĩ Đồn Biên phòng Ia Rvê đã quan tâm giúp đỡ dân. Trong nắng mưa, bên cạnh nhiệm vụ bảo vệ an ninh vùng biên giới, những người chiến sĩ biên phòng vẫn phân công nhau, không ngần ngại giúp dân làm đường giao thông liên thôn, giúp dân làm nhà, thu hoạch nông sản. Những hộ dân nghèo khó khăn trong dịp Tết, cán bộ chiến sĩ lại chia sẻ gạo, thực phẩm, cùng người dân tổ chức đêm văn nghệ "Mừng Xuân Mới" với nhiều tiết mục, có cả giao lưu bóng chuyền giữa quân và dân trong những ngày đầu năm. Nhiều năm qua, chương trình "nâng bước em đến trường" của của cán bộ chiến sĩ biên phòng Đồn Ia Rvê đã tự nguyện chung tay chung lòng đóng góp tiền hàng tháng đỡ đầu cho 10 em học sinh nghèo và khuyết tật học giỏi có điều kiện đến trường. Cùng lúc các em học sinh nghèo bậc tiểu học và trung học cơ sở yên tâm vui bước đến trường, mấy năm qua lãnh đạo Đồn Biên phòng Ia Rvê đã cử trung úy Hoàng Văn Thọ đêm đêm tham gia xóa mù chữ cho các học viên từ 15 đến 60 tuổi tại 6 thôn gần xa của xã Ia Rvê.
Góp phần giúp cho dân việc học, Đồn Biên phòng Ia Rvê sau hơn 10 năm thành lập còn vận động các doanh nghiệp đóng góp tiền xây Trạm quân dân y kết hợp tại thôn 5, tránh khó khăn vất vả cho người dân xã Ia Rvê ở các thôn lân cận phải di chuyển xa xôi mấy mươi kilômét đường lầy lội mùa mưa khi cần khám chữa bệnh như trước kia... Trường học và trạm y tế khang trang được dựng lên đã kết nối tốt đẹp nghĩa tình quân dân nơi vùng đất nghèo biên giới cách xa trung tâm phố huyện Ea Súp đến 50 kilômét đường rừng.
*
 Năm 2015, "mô hình hỗ trợ việc làm cho dân" của Đồn biên phòng Ia Rvê đã thực hiện nuôi bò tại thôn 13 với phương thức hỗ trợ 100% vốn giúp gia đình dân nghèo mua giống, làm chuồng và trồng vườn cỏ cho các hộ dân. Buổi sáng đầu năm 2017, qua sự giới thiệu của Thượng tá Đồng Văn Triệu, Đồn trưởng Đồn Biên phòng Ia Rvê, Đại úy Trương Văn Hoành, Chính trị viên phó của Đồn còn đưa tôi đi thăm gia đình anh Hà Văn Quanh, người dân tộc Thái di cư tụ do từ huyện Thường Xuân tỉnh Thanh Hóa đã cùng vợ và 3 người con đến vùng biên giới xã Ia Rvê năm 2000. Quanh năm vợ chồng trồng lúa, bắp, đậu trên đất khô cằn sống đắp đổi qua ngày, cho đến năm 2014, mô hình hỗ trợ việc làm cho dân của Đồn Biên phòng Ia Rvê đã đến với gia đình anh Hà Văn Quanh. Với 8 con dê được cán bộ chiến sĩ vùng biên giới hỗ trợ hoàn toàn vốn ban đầu cho vợ chồng anh Quanh, đến đầu xuân 2017 này, đã nhân giống lên thành 50 con bằng công sức và quyết tâm của người mong muốn thoát khỏi khổ nghèo, lại có thêm niềm vui góp phần cung cấp sản phẩm cho đời. Những người con của vợ chồng anh Hà Văn Quanh giờ đã lớn, đang cùng cha mẹ nuôi dê và sản xuất nông sản tại thôn 13 - xã Ia Rvê. Hàng tháng, gia đình này đều có dê thịt và dê giống để bán, sau khi trừ chi phí ăn uống, may mặc và mua sắm, mỗi năm còn lại 50 triệu đồng tiết kiệm. Tình quân dân qua "mô hình hỗ trợ việc làm cho dân", cán bộ chiến sĩ biên phòng quan tâm hỗ trợ vốn cho người dân ra sức gây dựng nên cuộc sống mới đã làm nên ý nghĩa sống tốt đẹp hơn nơi vùng biên giới Ia Rvê. Tôi tiếp tục đến nhà và trang trại nuôi vịt trời của anh Hồ Văn Điều, 60 tuổi, từ quê Bình Thuận đến thôn 3 xã Ia Rvê năm 2006. Một đàn vịt trời hơn 100 con, cả con giống và con thịt, luôn được nhân giống thêm và lúc nào cũng có sản phẩm cung cấp cho người mua; tất cả bắt đầu từ đàn vịt trời 20 con do Đồn biên phòng Ia Rvê hỗ trợ vốn ban đầu theo mô hình giúp dân việc làm phát triển kinh tế. Mô hình này, điều đáng nói, đậm tính nhân văn, đang được Đồn Biên phòng Ia Rvê tiếp tục triển khai thêm trên địa bàn xã biên giới Ia Rvê.
Trên đường trở về thành phố Buôn Ma Thuột lòng tôi mang theo những cảm xúc tốt đẹp về tình người nơi biên giới. Xa dần Đồn Biên phòng Ia Rvê, xa dần địa bàn biên giới, tất cả chưa đủ đầy, đó đây còn khó khăn nhưng đã đằm thắm tình nghĩa quân dân. Sức mạnh lâu bền của cán bộ chiến sĩ biên phòng không chỉ là trí tuệ bàn tay với vũ khí tuần tra biên giới đêm ngày, mà ở đó còn có nhân dân vui sống yên lành gắn bó với đất đai, không quên tình nghĩa quân dân, luôn trách nhiệm cùng người chiến sĩ đang bảo vệ an ninh an toàn trên vùng đất biên giới của Tổ quốc thân yêu...

Buôn Ma Thuột, tháng 3-2017

Thứ Ba, 23 tháng 5, 2017

GIỚI THIỆU TẠP CHÍ CHƯ YANG SIN SỐ: 297 - THÁNG 5 NĂM 2017

TRANG CHUYÊN ĐỀ KỶ NIỆM 42 NĂM THÀNH LẬP BỘ ĐỘI BIÊN PHÒNG ĐẮK LẮK
(23/5/1975 - 23/5/2017)
 
ĐẾN BO HENG MÙA NÀY

Bút ký của HỮU CHỈNH


 Tác giả HỮU CHỈNH
Đến Bo Heng dịp cuối mùa khô nên dù đêm hay ngày đều thấy oi bức. Dù vẫn còn mùa xuân nhưng là những ngày cuối tháng 2 nên thời tiết giao mùa. Phòng khách Đồn Bo Heng nằm trên đồi cao, có tiếng là mát so với các đồn khác mà cứ hầm hập nóng thì các bạn văn nghệ, báo chí trên 70 tuổi như Sĩ Hùng, Nguyễn Hoàng Thu... có chịu nổi không?
Tôi và nhà thơ Lê Đình Liệu được giao việc ở lại Đồn Bo Heng là đồn thứ 2 tính từ phía Nam tỉnh Đắk Lắk tính lên, là đồn thứ 6 từ phía Bắc tỉnh tính xuống.
Bo Heng là tên dãy núi cũng là tên của đồn, nằm giữa Đồn Sê Rê Pốk và Đồn Yok Đôn. Đồn quản lý đường biên dài 15,3km, chiều sâu 33km, tương đương khoảng 500km2. Thường xuyên tuần tra ngày đêm trên tuyến biên giới. Nẻo mòn chân nát đá, cây rừng cào xước da, nắng cháy táp mặt hay mưa quất đầu tùy theo mùa. Các anh những người chiến sỹ biên phòng từ nhiều miền quê hội tụ về Bo Heng, trấn giữ một đoạn phên dậu nơi biên cương.
Tôi được ưu tiên ở phòng của Thiếu tá Đồn phó quân sự Y Vang Niê, người Êđê hiện đi công tác vắng. Chắc là ưu tiên người lính già đầu bạc, không phải kể chuyện Nguyên Phong đời Trần mà là kể lại năm ở rừng Đắk Lắk trước khi giải phóng Buôn Ma Thuột.
Nhà thơ Lê Đình Liệu ở phòng với thiếu tá Y Vinh Adrơng, chính trị viên phó của đồn, theo sát chúng tôi trong cuộc hành trình vui vẻ, trẻ trung, sôi nổi cả khi làm việc lẫn khi ngồi bàn ăn để tiếp cho tôi.
Bố của Y Vinh người buôn Briêng, xã Ea Nam, huyện Ea H’leo, tỉnh Đắk Lắk. Tập kết ra Bắc quen cô y tá ở nông trường chè Quỳ Hợp, Nghệ An nên duyên vợ chồng. Sinh được 3 con trai ở Quỳ Hợp thì chuyển lên nông trường chè Mộc Châu, Sơn La, sinh thêm 1 người con gái. Sau giải phóng, gia đình về quê hương, ở xã Đoàn Kết, huyện Krông Búk để năm 1978 có Y Vinh. Thế là 5 anh em sinh ở ba nơi: Nghệ An, Tây Bắc, Tây Nguyên. Năm 1993 Y Vinh được cử đi học trường thiếu sinh quân ở Gia Lai. Năm 1999 học tại Học viện Chính trị Quân sự Bắc Ninh. Năm 2005 về Đắk Lắk công tác, lấy vợ người Thái Bình, là cô giáo Trường Tiểu học Hoàng Hoa Thám, phường Thành Nhất, thành phố Buôn Ma Thuột. Có thể coi gia đình Y Vinh là sự đoàn kết nhiều vùng miền, gắn bó nhiều dân tộc anh em.
Chiều đã bớt nóng, nhưng nơi biên cương vẫn còn nắng quái chiều hôm, xiên chéo mặt người, gió khô táp mặt. Chúng tôi đi tìm con đập ngăn suối Đắk Đam. Chuyện kể rằng có người đồn trưởng Đồn Bo Heng được điều về Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Đắk Lắk, cảm thông với nỗi gian nan của chiến sĩ dưới quyền đã đề nghị cấp trên cho xây dựng đập để có nước sinh hoạt. Một nghĩa cử chan chứa ân tình. Bây giờ nước ở đập chỉ bơm vào bể tắm giặt, còn ăn uống đều dùng nước mưa với 4 bể chứa nước từ 100m3 đến 200m3, tổng khối lượng khoảng 1.000m3 nên nước mưa từ 2016 vẫn còn dùng cho năm 2017. Trong các bể chứa, ngoài việc đầu tư của tỉnh còn có các đơn vị kết nghĩa gồm các trường học và UBND thành phố Buôn Ma Thuột xây tặng. Tình nghĩa quân dân sâu nặng và lòng biết ơn của hậu phương với chiến sĩ biên cương. Đồn cũng là nơi kiểm lâm đi tuần rừng thường ghé qua. Cao điểm mùa khô lo cháy rừng, đâu dám lơ là, đồn thành điểm tựa.
Ngày chúng tôi ở đồn có may mắn được gặp chiến sĩ công binh, kỹ thuật xây dựng cột mốc hoàn thành công đoạn cuối cùng. Đồn Bo Heng có tới 3 mốc. Mốc 1 bên ta, mốc 2 bên bạn, mốc 3 là đường phân thủy để uống chung dòng nước, tránh việc mất lòng nhau dù mùa khô hay mùa mưa. Nói thì dễ, làm mới khó. Từ việc dò mìn, phát cây quang các mốc đến việc dùng bè chở nguyên vật liệu qua dòng Đắk Đam đến việc khơi dòng quanh cột mốc để nước lũ mùa mưa khỏi xối vào cũng là cả tâm huyết mà bên ta làm là chính, bởi giúp bạn là giúp mình cho nên không có gì lạ khi ta kéo đường điện sang đồn của bạn. Khi bạn gặp khó khăn, kể cả tấm lợp hay lương thực, thực phẩm ta cũng sẻ chia.
Cột mốc số 46, phía bên ta là mốc số 1 nên ghi đầy đủ là 46 (1). Phía bên bạn là Đồn Co Ban Đom Rây thuộc huyện Cô Nhéc, tỉnh Munđunkiri. Tôi có may mắn được thăm đồn Lũng Cú, Hà Giang, được đưa lên thăm cột cờ Lũng Cú. Ly rượu đầu tiên các bạn Hà Giang mời tôi, một nửa tôi rưới vào chân cột, một nửa hắt lên trời cao, nơi lá cờ Tổ quốc rộng 54m2 tượng trưng cho 54 dân tộc anh em đang tung bay để cảm tạ đất trời. Tôi cũng tới mũi đất Cà Mau, mỏm chót của dải đất hình chữ S mà Nguyễn Thanh, Chủ tịch Hội Văn nghệ Cà Mau cố tìm khuôn hình đẹp nhất cho tôi nơi đất Mũi. Bây giờ đến cột mốc Đồn Bo Heng, dù chụp hình ở nơi nào, đã là nơi biên cương cũng rưng rưng cảm động. Lòng trào dâng niềm biết ơn chân thành những bậc tiền nhân đã để lại cho ta non sông gấm vóc này. Cũng chưa xa lắm, năm 1981, Đại đội 5 (C5) đơn vị tiền thân của Đồn Biên phòng Bo Heng đóng chốt tại đây. Bao nhiêu người đã hy sinh trong chiến tranh biên giới hay đã mất. Chẳng có hương thì lòng tôi là tâm nhang cháy đỏ cùng mấy nhánh hoa rừng rải bên cột mốc để tỏ lòng kính quý.
Rời cột mốc 46, nhân đi đón thượng tá Đỗ Quang Thẩm, Phó chủ nhiệm Chính trị Bộ đội biên phòng Đắk Lắk, người dẫn đoàn văn nghệ đợt này, chúng tôi có dịp thăm đồn Sê Rê Pốk. Đồn này có cơ sở vật chất tương đối khá trong số 7 đồn. Có sân bóng chuyền, 2 sân quần vợt, nhà lầu. 2 cây sung tỏa bóng mát trùm ghế đá, cây sung tẻ chẳng nói làm gì, cây sung nếp có quả từ gốc đến ngọn, quả chi chít, ăn không chát. Lê Đình Liệu làm một bịch nilông đầy về kho cá và muối ăn dần. Ở đồn này có Mạnh Trí khoe rằng đêm qua đã viết xong bản nhạc, cùng chiến sĩ tập luôn đến 2 giờ sáng, lại đang viết bài hát thứ hai.
Đồn này còn có Trương Nhất Vương, cây bút trẻ nên xông xáo. Khi xe qua cầu Sê Rê Pốk trên đường 14C, cầu dài 175m, cách cầu 14 trục giao thông Bắc – Nam, địa giới hai tỉnh Đắk Lắk – Đắk Nông khoảng 70km đường sông, thấy người cầm cây gậy, tưởng người tuần rừng, đến gần thì ra là Nhất Vương. Cậu ta bảo ở đây có mốc đôi nên lội bộ đến tận nơi ghi chép.
Những vật nuôi ở đồn rất hiền, mùa khô nên hiếm cỏ, những con heo, con bò cứ sục mõm vào gốc cỏ khô ở sân vườn quanh đồn. Đàn chó lớn không thấy tiếng sủa, lúc đầu tôi rất sợ nên đi cứ len lén để tránh nhưng rồi quen dần. Bầy gà nằm tránh nắng dưới cây có bóng mát. Mùa khô mà dàn hoa giấy nở đầy hoa, xen cùng loài hoa khác. Vườn rau vẫn xanh tốt, đủ tự túc rau cho đồn. Lâu rồi mới được nghe tiếng kẻng. Kẻng báo thức, kẻng tập thể dục, kẻng báo giờ ăn, kẻng gọi dọn vệ sinh, kẻng sinh hoạt, kẻng báo giờ ngủ. Âm thanh một thời quen thuộc tưởng đã quên nay lại dồn về.
Lững thững đi dọc sân, từ cửa ra tới cổng, đọc lần lượt các tấm panô để thấy sự quyết tâm từ khẩu hiệu chuyển thành hành động. Có nhiều chữ in đậm trong tôi, nhưng tôi nhớ nhất tấm panô tròn 10 chữ khái quát: “Đoàn kết, xung kích, sáng tạo, kỷ luật, quyết thắng”. Nhiều năm đồn được Bộ Tư lệnh tặng danh hiệu đơn vị quyết thắng, nhiều bằng khen của UBND tỉnh. Từ năm 1996 được Nhà nước tặng Huân chương Chiến công hạng Nhất.
Ngày thu quân từ đồn xa nhất lúc 13 giờ 30 khi tới Bo Heng là 15 gờ 30. Hồng Chiến hồ hởi nói với mọi người, chuyến đi an toàn, tốt đẹp, chỉ còn chờ tác phẩm. Chuyến đi xa có hai nữ sĩ là Bích Thiêm, Thu Hồng xông xáo chẳng kém gì nam giới. Các nhạc sĩ Nguyễn Sỹ Hùng, Nguyễn Mạnh Trí, Nguyễn Văn Hạnh, Dương Tấn Bình, Nguyễn Hưng đều đã viết xong hoặc đang ấp ủ bài hát cho đồn mà mình được phân công. Công Việt, Linh Nguyên với máy quay trên tay, cố thu nhiều người và cảnh các đồn biên giới cũng là cách tri ân.
Tôi rời Bo Heng trong tâm trạng nôn nao. Các bạn tôi cũng vậy, nửa muốn ở lại, nhưng lịch trình đã định. Xe của Biên phòng tỉnh đã chờ, tất cả cùng nói lời tạm biệt, hẹn ngày gặp lại vì biên cương là một phần máu thịt của Tổ quốc và của chính mình.

Tháng 3-2017

Thứ Hai, 22 tháng 5, 2017

GIỚI THIỆU TẠP CHÍ CHƯ YANG SIN SỐ: 297 - THÁNG 5 NĂM 2017 tác giả NGUYỄN THỊ THU HỒNG

TRANG CHUYÊN ĐỀ KỶ NIỆM 42 NĂM THÀNH LẬP BỘ ĐỘI BIÊN PHÒNG ĐẮK LẮK
(23/5/1975 - 23/5/2017)
 
CÂU CHUYỆN TÌNH YÊU Ở ĐỒN BIÊN PHÒNG
CỬA KHẨU ĐẮK RUÊ
Bút ký

 
“Chiều biên giới anh thầm nhớ về,
Nơi em đó bộn bề,
Bao nỗi nhớ tha thiết,
Hỡi anh có biết những lời em thương…”
Đoàn chúng tôi đến thăm Đồn Biên phòng cửa khẩu Đắk Ruê vào một buổi chiều tháng 3 Tây Nguyên. Tháng 3 của mùa con ong đi lấy mật, mùa con voi xuống sông uống nước… Tháng 3 Tây Nguyên luôn chan chứa đầy khát vọng, hứa hẹn và tình yêu… Tháng 3 trên Biên giới cũng vậy.
“Anh em ở trong đồn rất yêu văn nghệ, đặc biệt là những khúc hát dân ca và ca khúc cách mạng, trong đó thích nhất là được nghe những làn điệu dân ca quan họ mượt mà, tha thiết, sâu lắng…”, Đại úy Trần Ngọc Kiên - Phó đồn trưởng vừa rót nước trà, vừa tươi cười giải thích cho chúng tôi hiểu vì sao khi đoàn vừa đến đã được nghe những câu hát ngọt ngào, da diết của dân ca Quan họ Bắc Ninh qua bài “Lời thương ta ngỏ cùng nhau”. Thiếu tá Lưu Minh Hưng - Chính trị viên phó giải thích thêm: “Tình yêu với những khúc hát dân ca và các ca khúc cách mạng khiến cán bộ và chiến sĩ trong đồn có tinh thần lạc quan, vui vẻ, khí thế hơn hẳn. Dù nhiệm vụ có lúc khó khăn, vất vả, dù phải chịu cái nắng, gió khắc nghiệt của biên giới trong những ngày mùa khô Tây Nguyên nhưng chỉ cần nghe những giai điệu quen thuộc cất lên mọi sự khó khăn, gian nan, vất vả đều tan biến. Thậm chí chỉ cần nghĩ và hát lẩm nhẩm vài câu ca quen thuộc cũng khiến tinh thần của chúng tôi phấn chấn… Đó là tình yêu của chúng tôi trên biên giới này đấy các anh chị ạ.” Anh Hưng kết thúc phần giải thích của mình bằng một câu hết sức lãng mạn nhưng dường như ở câu nói ấy lại chứa đựng sức mạnh của riêng mình và của tất cả các cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng cửa khẩu Đắk Ruê. Có lẽ là vậy. Ở đâu có tình yêu, ở đó sẽ có sức mạnh và sức mạnh đó chiến thắng tất cả.
Ấn tượng đầu tiên của tôi khi tiếp xúc với cán bộ và chiến sĩ trong đồn là luôn thấy nụ cười thường trực trên những khuôn mặt sạm đen, dù đó là đồng chí cán bộ chỉ huy đang ngồi mải mê với những kế hoạch, báo cáo hay là chiến sĩ đang vội vã lau những giọt mồ hôi trong cái nắng nóng hầm hập khi đang làm nhiệm vụ. Họ vui vẻ kể cho chúng tôi nghe về công việc hàng ngày của mình. Nào là tuần tra, kiểm soát trên biên giới, có khi phải ăn, ở, ngủ với rừng cả đêm, bị muỗi rừng bủa vây khắp người… nhưng vậy thì đã sao khi tôi nhìn thấy sự lạc quan, yêu đời, yêu người, yêu cuộc sống trong mỗi đôi mắt, nụ cười, trong mỗi câu chuyện kể gian khổ của họ.
Trao đổi với chúng tôi Thiếu tá Lưu Minh Hưng cho biết: Đồn Biên phòng cửa khẩu Đắk Ruê được thành lập vào ngày 26 tháng 10 năm 1975 với tên gọi tiền thân là Đồn Đá Bằng. Sở dĩ ban đầu Đồn được đặt tên là Đồn Đá Bằng là bởi vì tại đây có rất nhiều hòn đá xanh lớn; những viên đá này rất đẹp và bằng phẳng nên những cán bộ chiến sĩ đầu tiên của đơn vị đã đặt luôn tên là Đồn Đá Bằng.
Đến năm 2013, Đồn được đổi tên thành Đồn Đắk Ruê cho phù hợp với tên gọi của người dân địa phương. Khuôn viên của Đồn rộng hơn 6 ha, với cán bộ chiến sĩ đa số còn rất trẻ, làm nhiệm vụ bảo vệ 8,3 km chủ quyền Biên giới với 01 cột mốc chính mang số hiệu 42 giáp ranh với nước bạn Campuchia. Nhìn vẻ mặt hào hứng, phấn khởi của anh khi giới thiệu về Đồn của mình, chúng tôi cảm nhận được tình cảm thật ấm áp, gần gũi… đúng như câu khẩu hiệu của các anh “Đồn là nhà, biên giới là quê hương…”.
Trở lại với tình yêu của cán bộ, chiến sĩ trong Đồn, anh Hưng cho biết: Anh em trong Đồn rất nhiệt tình, tích cực với các hoạt động phong trào, nhất là các hoạt động phong trào nhân ái trên địa bàn xã Ea Bung, nơi Đồn đóng quân. “Đó cũng là tình yêu lớn của anh em chúng tôi đấy các anh chị ạ” – anh Hưng bỗng nhiên đổi giọng kể hào hứng kèm theo nụ cười tươi rói và nhấn mạnh câu nói khiến chúng tôi cũng phải bất ngờ. Cán bộ lãnh đạo, chỉ huy Đồn cũng xác định tuyên truyền, vận động anh em hăng hái tổ chức các hoạt động “tương thân tương ái”, nhân rộng các mô hình tiên tiến, điển hình, những việc làm hay, gương chiến sĩ tốt coi như một cách thiết thực nhất thực hiện việc Học tập và làm theo gương Bác trong đơn vị. Cụ thể, từ tháng 3 năm 2016, Đồn đã vận động anh em cán bộ đóng góp để có số tiền năm trăm ngàn đồng mỗi tháng phụng dưỡng mẹ Việt Nam Anh hùng Dương Thị Liễu, 95 tuổi. Ngoài ra, hàng tháng Đồn đã cử quân y đến thăm khám sức khỏe cho mẹ, động viên mẹ mỗi lúc đau ốm, giúp đỡ gia đình mẹ khi có công việc cần.
Thấy hoàn cảnh đáng thương của bà Nguyễn Thị Sửu, thôn 4 xã Ea Bung, một mình phải nuôi hai cháu mồ côi cả cha lẫn mẹ, từ tháng 10.2015 cán bộ trong đơn vị đã quyết định xây dựng “Hũ gạo tình thương”, hàng ngày chiến sĩ xuất gạo bớt lại một phần để mỗi tháng được 15 kg gạo giúp đỡ bà nuôi cháu.
Tiếp tục phát huy và nhân rộng mô hình này, đơn vị đã thực hiện chương trình “Nâng bước em đến trường” với mong muốn giúp đỡ các cháu học sinh nghèo học giỏi, Đồn đã nhận giúp đỡ, hỗ trợ hai cháu ở thôn 4 và thôn 7 học hết lớp 12, với số tiền năm trăm ngàn đồng mỗi tháng cho mỗi cháu, đó là cháu Nguyễn Tiến Đạt lớp 6a - cháu bà Sửu, Bùi Lan Anh lớp 8. Đây cũng là số tiền được trích từ đóng góp hàng tháng của cán bộ đơn vị.
Tiêu biểu trong hoạt động này phải kể đến tấm gương của Thượng tá Nguyễn Hữu Phúc là cán bộ Biên phòng tỉnh được tăng cường về công tác tại xã Ea Bung từ năm 2014. Trên cương vị là Đảng ủy viên, Bí thư chi bộ thôn 9, xã Ea Bung, từ năm 2015 đến nay, anh đã tự vận động, kêu gọi các tổ chức, cá nhân, các mạnh thường quân hảo tâm trên địa bàn huyện hỗ trợ được bảy 77 chiếc xe đạp tặng cho 77 cháu học sinh có hoàn cảnh khó khăn trong xã nhằm giúp đường đến trường của các em ngắn hơn. Đáng kể hơn, trong số đó, có những chiếc xe đạp đã cũ, đã bị hư hỏng, anh Phúc tự mua đồ về sửa chữa, phục hồi lại cho nó thành chiếc xe đạp đẹp và tốt để tặng lại cho các cháu. Đây là việc làm hết sức nhân văn và ý nghĩa đối với các cháu học sinh vùng biên giới. Việc làm của anh đã được nhân dân ghi nhận, được đơn vị đề nghị các cấp khen thưởng, tuy nhiên anh đã khiêm tốn từ chối. Bởi đối với anh “Giấy khen trong lòng nhân dân mới là quan trọng”.
Quả đúng là như vậy. Với mỗi cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng cửa khẩu Đắk Ruê, tình quân dân luôn được các anh quan tâm, chú trọng; giữa quân và dân có mối quan hệ gắn bó thân thiết; nhân dân được các anh coi như những người thân trong một nhà. Mặc dù từ đơn vị đến địa bàn xã cách khoảng 50 km nhưng những người được đơn vị phân công phụ trách địa bàn xã không quản ngại đường sá xa xôi, không ngại mưa nắng, bất cứ khi nào nhân dân cần sự giúp đỡ và được tổ chức phân công các anh đều sẵn sàng đến với nhân dân, chia sẻ, giúp đỡ nhân dân. Cán bộ chiến sĩ trong đơn vị đã đăng ký các công việc cụ thể giúp đỡ nhân dân, trong đó phải kể đến vai trò của Đội vận động quần chúng và cá nhân anh Vũ Văn Tín. Đội phó đội công tác. Trong 12 năm công tác tại Đồn, cùng với các thành viên trong đội phối hợp với chính quyền địa phương, anh đã luôn có mặt tại các thôn trên địa bàn xã Ea Bung để thực hiện công tác tuyên truyền, vận động nhân dân chấp hành tốt các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và các quy định của địa phương. Bên cạnh đó, các anh còn giúp đỡ nhân dân xây dựng các mô hình phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo như mô hình thử nghiệm “trồng thanh long ruột đỏ” của gia đình ông Đỗ Xuân Dương thôn 5, bước đầu đã cho thu hoạch và mang lại giá trị kinh tế cao; mô hình “nuôi cá nước ngọt” của hộ ông Dương Văn Minh, thôn 7, xã Ea Bung chỉ với 0,3 ha diện tích mặt hồ đã cho thu hoạch hàng chục triệu đồng mỗi năm; mô hình “Nuôi chim bồ câu Pháp” của hộ ông Phan Thanh Phương, thôn 2, xã Ea Bung với 5 cặp chim giống ban đầu (trong đó có 2 cặp chim giống do anh em trong Đội hỗ trợ), đến nay ông đã xuất bán được số lượng lớn vừa chim giống, vừa chim thịt. Từ năm 2015 đến nay, ước tính số tiền thu về từ việc nuôi chim đã được vài chục triệu đồng. Sắp tới, anh Tín cùng với chính quyền địa phương xã Ea Bung sẽ tiếp tục nhân rộng mô hình canh tác và chăn nuôi này đến các hộ dân trên địa bàn xã. Không chỉ vậy, anh còn tham mưu với cán bộ chỉ huy Đồn tổ chức xây dựng chương trình “Thắp sáng đường quê” trích 6 triệu đồng từ quỹ vốn của đơn vị để làm đường điện thắp sáng tại thôn 1 và thôn 2 xã Ea Bung khi anh biết đây là hai thôn cửa ngõ của huyện, có diễn biến phức tạp về tình hình an ninh. Nhờ đó, xã Ea Bung được huyện đánh giá là xã phát triển về kinh tế - văn hóa - xã hội, ổn định về chính trị - an ninh - quốc phòng.
“Đó là tình quân dân, là tình cảm của cán bộ chiến sĩ với đồng bào của mình. Vậy còn quan hệ giữa đơn vị ta với đơn vị bạn, với Đồn biên phòng Ô Rô của nước bạn Campuchia thì sao”? Tôi hỏi anh Hưng.
Hàng tháng, hai đơn vị chúng tôi có tổ chức giao ban định kỳ để trao đổi tình hình có liên quân đến bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới; hàng quý thì tổ chức tuần tra, kiểm tra cột mốc đường biên giới. Hai đơn vị luôn giữ gìn và phát huy truyền thống gắn bó, đoàn kết, yêu thương, giúp đỡ nhau từ trước tới nay. Những việc làm giúp đỡ giữa hai Đồn tuy nhỏ nhưng thể hiện tình cảm, tình bạn láng giềng đoàn kết, gắn bó keo sơn, lâu bền của hai nước Việt Nam và Campuchia nói chung, giữa Đồn Biên phòng cửa khẩu Đắk Ruê và Đồn Ô Rô nói riêng. Vào dịp lễ tết, ngày truyền thống của Đồn, chúng tôi đều mời đơn vị bạn sang giao lưu văn hóa văn nghệ rất vui vẻ”. Anh Hưng cho biết.
“Tình yêu trên biên giới của chúng tôi chỉ đơn giản có vậy thôi”, Đại úy Trần Ngọc Kiên - Phó đồn trưởng kết thúc câu chuyện giữa chúng tôi bằng một câu nói thật ngắn gọn, nhưng tất cả chúng tôi đều hiểu rằng ở đó chứa đựng biết bao là tình. Tình yêu của người lính là vậy đấy “đơn sơ mà ấm nồng” như trong câu hát. Và tình yêu của người lính trên biên giới này theo cảm nhận của riêng tôi còn có gì đó rất đặc biệt “Không chỉ đơn sơ, không chỉ ấm nồng mà nó còn trong sáng và mãnh liệt vô cùng” như nắng gió, như đất như rừng nơi đây, như những câu hát dân ca quan họ ngọt ngào, sâu lắng.
Đến với các anh vào một buổi chiều và giờ đây đoàn chúng tôi cũng chia tay các anh khi ánh hoàng hôn biên giới đã bắt đầu gọi. Một cảm giác thật kỳ lạ và khó tả khi ở đâu có vang lên câu hát “Chiều biên giới em ơi có nơi nào xanh hơn như chồi non cỏ biếc, như rừng cây của lá, như tình yêu đôi ta…”.
Những tình yêu trên biên giới và trên Đồn Biên phòng Đắk Ruê thật đẹp!

    Tháng 3 năm 2017




GIỚI THIỆU TẠP CHÍ CHƯ YANG SIN SỐ: 297 - THÁNG 5 NĂM 2017 tác giả TRƯƠNG NHẤT VƯƠNG

TRANG CHUYÊN ĐỀ KỶ NIỆM 42 NĂM THÀNH LẬP BỘ ĐỘI BIÊN PHÒNG ĐẮK LẮK
(23/5/1975 - 23/5/2017)

MỘT LẦN THĂM ĐỒN BIÊN PHÒNG SÊ RÊ PỐK
                                              
  Ký

  

Một ngày cuối tháng 2/2017, trong không khí se lạnh khác lạ của mùa xuân Tây Nguyên, đoàn văn nghệ sỹ - Hội văn học nghệ thuật tỉnh Đắk Lắk - được chiếc xe biển số đỏ của Bộ đội Biên phòng tỉnh chở đi thực tế sáng tác tại các đồn biên phòng nơi biên giới Tây Nam của Tổ quốc.
Rừng lá chín
Theo Quốc lộ 14 hướng Buôn Ma Thuột đi thành phố Hồ Chí Minh đến ngã ba Đắk Min, tỉnh Đắk Nông, chúng tôi rẽ phải vào Quốc lộ 14C. Từ đây, rừng như những quân đoàn trùng trùng, điệp điệp vây chiếc xe chúng tôi vào giữa, còn chiếc xe như chiến sĩ quả cảm mở đường cứ phăng phăng lao lên phía trước. Cả tuyến dài hàng trăm km toàn rừng là rừng. Có lẽ, đến với Tây Nguyên phải đi biên giới, phải đến thăm các đồn biên phòng thì mới thấy, mới biết thế nào là rừng và cái khái niệm đại ngàn nó bao la, bí ẩn như thế nào.
Có nhiều loại rừng, nhiều loại cây khác nhau nhưng chủ yếu vẫn là rừng khộp. Cái kỳ lạ của rừng khộp là cứ cuối đông, đầu xuân, toàn bộ lá rừng chuyển vàng rực, rồi chuyển sang màu đỏ, cuối cùng rụng hết. Khi ấy, rừng chỉ còn lại những thân cây trụi lá, những cành cây gầy, khô chĩa lên không trung như triệu triệu bàn tay của ma quỷ vạch lên bầu trời những vết bầm như than oán dưới cái nắng đổ lửa miền biên giới.
Thượng tá Đỗ Quang Thẩm, Phó chủ nhiệm Chính trị Bộ đội Biên phòng tỉnh, người hướng dẫn đoàn cho biết: Năm nay khí hậu thay đổi khác lạ hoàn toàn, nên đi trong mùa này vẫn thấy rừng còn đầy lá vàng, lá đỏ, gọi là rừng lá chín như thế đấy. Những năm trước, vào cuối tháng 2 như thế này thì chỉ còn những thân cây trơ trụi...

Đồn Sê Rê Pốk
Tôi may mắn được phân công cùng nhạc sĩ Mạnh Trí lưu lại tại đồn Sê Rê Pốk. Đây là đơn vị đã đạt danh hiệu Quyết thắng, là lá cờ đầu trong các phong trào thi đua yêu nước của Bộ đội Biên phòng tỉnh năm 2016. Là nơi phong cảnh hữu tình nhất, có núi có sông, có cột mốc biên giới 44 và 45, có di tích lịch sử Bến phà sông Sê Rê Pốk...
Đồn Biên phòng Sê Rê Pốk nằm cách dòng sông cùng tên hơn một ki lô mét, thuộc địa bàn xã Krông Na, huyện Buôn Đôn. Đồn có nhiệm vụ quản lý, bảo vệ đường biên giới dài 12,2 km, phía bắc tiếp giáp với đồn Yok M’bre, phía nam tiếp giáp với đồn Bo Heng, phía tây tiếp giáp với xã Sơ Re Hui, huyện Cô Nhéc, tỉnh Mul Đul Ki Ri, Vương quốc Căm Pu Chia.
Sau bữa cơm trưa thân mật cùng các chiến sĩ, tôi và nhạc sĩ Mạnh Trí được hai chiến sĩ đưa đi thăm cột mốc 44, cột mốc đôi 45, cầu Sê Rê Pốk… Đặc biệt là thăm Bến phà Sê Rê Pốk, di tích lịch sử và thắp hương tại nhà tưởng niệm 71 chiến sĩ đã hy sinh tại khu vực này. Ngay trong đêm, nhạc sĩ Mạnh Trí đã ôm đàn ghi ta thể hiện hai bài hát mà chỉ qua một buổi chiều đi dạo, cảm xúc trào dâng thành tác phẩm đã khiến cán bộ, chiến sỹ đồn biên phòng say mê. Nhạc sĩ hát, chiến sĩ hát, tất cả cùng hát… khiến đêm bịn rịn kéo dài mãi.
Có tiếng kẻng báo thức, nhìn đồng hồ 4h30, rồi tiếng một hai, một hai đều đặn của các chiến sĩ tập thể dục buổi sáng kéo tôi dậy. Có nhiều việc cần phải làm, tôi phải đến tận nơi các địa điểm chiều hôm qua đã đến, cần phải có thời gian một mình trải nghiệm. Bến phà sông Sê Rê Pốk, cột mốc biên giới, sông Sê Rê Pốk, suối Đắk Đam, Sông Mê Kông… Những điều trước đây chỉ nghe qua báo đài và trong giấc mơ, trong ao ước một lần đặt chân đến thì giờ đây chúng đang hiện hữu ở rất gần. Tôi nhanh chóng thực hiện công việc cá nhân buổi sáng rồi báo cho Trực ban biết là tôi xin phép ra khỏi đồn và đi bộ đến những nơi mà tôi tha thiết ấy.
Bình minh trên sông Sê Rê Pốk.
Lội bộ khoảng hơn cây số, giữa những tán rừng lá vàng, lá đỏ, giữa buổi sớm trong lành, giữa hàng trăm tiếng chim đủ các loại. Tiếng dòng sông trầm hùng, đùng đục như ở bên cạnh. Tôi lên cầu Sê Rê Pốk. Cây cầu bê tông dài 175 mét, rộng 8 mét thuộc Quốc lộ 14C. Nhìn từ xa, chiếc cầu như một pháo đài màu trắng bắc ngang qua dòng sông bàng bạc đang sôi sục réo gào. Pháo đài ấy càng trở nên uy nghi giữa bầu trời xam xám đang sáng dần lên từ phía đông, nơi mặt trời nhỏ nhẹ đang nhích dần lên trên những vòm lá làm cho cảnh rừng, cảnh sông nơi đây thêm màu sắc hùng vĩ. 
Phía dưới, dòng Sê Rê pốk căng tràn sức lực đang chảy ngược, cuồn cuộn đổ về phía biên giới Cămpuchia. Thỉnh thoảng, giữa dòng có những ghềnh đá thoắt ẩn, thoắt hiện khiến dòng nước như con giao long khổng lồ bị chặn ngang cổ, quằn quại xoáy tròn, đôi lúc ùng ục, sục sôi phát ra những tiếng ầm ào như tiếng của một ngọn thác, lúc thì rào rào, rào rào dài bất tận.
Bình minh càng trở nên sống động. Mặt trời xuất hiện từ nơi đầu nguồn con sông. Nhìn từ biên giới, mặt trời như có vẻ bé hơn khi quan sát ở những nơi khác. Cũng có thể là do nó xuất hiện dưới tận những chân rừng xa lắc rồi leo dần trên đầu của rừng lá chín như cách ví von của Thượng tá Đỗ Quang Thẩm nói về cảnh rừng trước đó nên nó mới nhỏ nhẻ, khiêm tốn như vậy! Có tiếng cá quẫy giữa dòng nước. Rồi những cái sống lưng đen trũi lấp ló. Một đàn cá lăng rất lớn đang chào đón bình minh. Những quầng nước lớn cuồn cuộn loang ra thành hàng trăm vòng tròn to nhỏ, rồi nhanh chóng biến mất vào dòng nước đang đổ về phía tây ấy.
Sát đầu cầu bên phải, khi nhìn về hướng đông, rừng nguyên sinh như một đám mây lớn sầm sầm lao thẳng xuống mép sông. Nơi tôi đứng có nhiều cây kơ nia to lớn như những gã lực điền cởi trần trùng trục phơi tấm thân cường tráng hứng lấy tất cả cái không khí ban mai mát rười rượi. Có cây đã chết, da bong tróc, những lớp vỏ lâu ngày bị mối mục rã ra từng mảng lớn. Còn thân cây vẫn đang bị một dây leo to như bắp đùi tráng sĩ quấn quanh từ gốc lên ngọn. Nhìn thật gần vẫn tưởng nó đang bị một con chằn tinh to lớn siết chặt đến chết mà vẫn không chịu buông tha.
Bến phà Sê Rê Pốk
Bờ bên trái đa phần là rừng tre nứa. Những cây tre dài quá khổ và cong đều như một thế trận cạm bẫy. Nó có thể bật dậy nhanh mạnh như một cây ná bắn đi những mũi tên nguy hiểm. Gần sát mép nước, nổi bật là một cây săng lẻ, lá nhỏ như những đồng xu màu cam vàng rực, nghiêng về phía mặt nước, nửa như cô gái soi gương, nửa nhìn có hình thù như cánh buồm màu vàng no gió đang lao nhanh về phía bến phà.
Tôi quay trở về hướng đồn và rẽ trái đi khoảng 1,5 km để xuống bến phà. Cách bến phà khoảng 150 mét là nhà Bia ghi danh 71 liệt sĩ đã hy sinh nơi đây, mà hôm qua chúng tôi đã có dịp thắp hương. Đường xuống bến phà rộng khoảng 12 mét. Nói là đường nhưng thực tế nó chỉ còn là dấu tích được thể hiện rõ nhờ hai bên bờ là vách núi được bộ đội đào hạ độ cao xuống khoảng hơn 3 mét và thấp dần xuống mép nước.
Tôi tìm khắp xem mình có thấy kỷ vật, dấu vết của những đoàn quân năm xưa không nhưng không còn gì sót lại. Chỉ có một cái xăm ô tô đã rách nằm giữa dốc. Một trụ sắt chữ I lớn cắm sâu sát bờ sông còn ló lên khoảng nửa mét. Đây có lẽ là dấu hiệu sống động nhất của những chuyến phà đã neo đậu tại trụ sắt này. Bờ bên kia là rừng tre nứa. Những cây tre nằm phủ phục như những ba-ri-e chắn hết lối lên xuống bến phà như thầm bảo: Hết chiến tranh rồi, bến phà không hoạt động nữa… Và tre, nứa lại như muốn dấu kín một trang oanh liệt, một quá khứ bi hùng diễn ra nơi đây mà không muốn khơi gợi lại.
Mặt trời đã lên khá cao. Sau những quãng đường lội bộ và tìm kiếm, người tôi đang như sôi lên. Khát! Khát khô cổ, còn mồ hôi thì nhễ nhại. Đã quá! Sướng quá! Lâu lắm rồi có bao giờ mồ hôi tự chảy tràn ra mặt như thế này đâu. Sung sướng quá, tôi đang mơ đóng lại cảnh vất vả của cha, anh ngày trước, cắm mặt xuống dòng nước mát và tu ừng ực. Nước ngày xưa chắc trong và không ô nhiễm như bây giờ, nhưng mặc kệ. Tôi cứ nuốt, sướng quá, mát quá!
Điện thoại reo, tiếng Đồn trưởng gọi hỏi:
- Anh ở chỗ nào, về ăn sáng. 
- Mình đang ở bến phà. Anh em cứ ăn trước đi.
Đang ngồi sát mép nước, ném những vốc cát vào dòng chảy và không biết những hạt cát ấy rồi sẽ dừng lại ở chốn nào thì có tiếng xe máy. Một chiến sĩ ra đón tôi về…
Cán bộ và các chiến sĩ đã ăn sáng xong, tỏa đi mỗi người mỗi hướng. Mâm cơm với những thịt cá và rau do các chiến sĩ trong đồn tự chăm, nuôi nhanh chóng cho tôi hồi phục sức khỏe. Tôi phải tiếp tục đi, phải lên cột mốc đôi, phải đi hơn 5 km, tuy hơi xa nhưng tôi từ chối việc đi xe máy do các chiến sĩ chở để thực sự sống trong cái cảm giác vất vả của những chiến sĩ đang công tác nơi đây.
Cột mốc đôi - cột mốc 45
Đồn 743 có nhiệm vụ bảo vệ 2 cột mốc 44 và 45. Cột mốc 44 ở gần hơn, cách khoảng 1 km và ở một vị trí khá thoáng đãng nên tôi chọn hướng cột mốc 45 để tìm cảm hứng. Theo Đại úy Nguyễn Đức Nam, Phó đồn trưởng hôm trước đã giới thiệu: Do vị trí địa lý nơi đây có dòng Sê Rê Pốk đi qua nên chọn giữa dòng sông làm biên giới chung. Chính vì vậy, phải đặt hai cột mốc đối diện hai bên bờ sông và có tên gọi cột mốc đôi là vậy.
Trời đã nắng gắt, Đại úy Nam cho tôi mượn mũ của anh để đỡ nắng. Tôi từ chối, song nghĩ lại tôi đã cầm mũ và đến trưa trở về, tôi mới biết giá trị của chiếc mũ này. Ra khỏi đồn, tôi nhanh chóng trang bị thêm cho mình một chiếc gậy bằng cây le khô. Có cây gậy trong tay, tôi tự tin mình có thể là Võ Tòng thứ 2 nếu rừng có cọp. Lên đến giữa cầu, tôi gặp chiếc xe bán tải chở nhà thơ Hữu Chỉnh (tác giả bài hát nổi tiếng Nghe câu quan họ trên cao nguyên) và nhà thơ Lê Đình Liệu. Họ đang dừng để hai nhà thơ tìm cảm hứng và sẽ lại lên đường nên tôi tiếp tục hành trình của riêng mình.
Qua khỏi cầu Sê Rê Pốc khoảng 500 m, tôi rẽ phải theo đường mòn mà các chiến sĩ hay đi tuần tra cột mốc. Con đường đất đỏ uốn lượn dưới tán rừng khộp. Tôi vừa bước vừa nương vào cây gậy cầm tay. Mắt tôi căng ra nhìn tứ hướng đề phòng có thú rừng. Vậy mà đôi lúc cũng phải giật nảy người, toát mồ hôi vì những lá khộp to lớn rơi xuống như là lính nhảy dù vừa tiếp đất bên cạnh.
Rồi tôi cũng đến được nơi cần đến, cho dù chân mỏi rã rời và cái đầu gối củ lạc đôi lúc như muốn tự rơi ra. Tại cột mốc 45 này có nhiều điểm thú vị. Trước cột mốc là 3 cây kơ nia rất lớn, trong đó hai cây lớn hơn đứng giữa thành hai trụ cổng uy nghi để đi vào cột mốc. Chếch về bên trái khoảng gần 100 mét, một quần thể có đến chục cây  kơ nia to lớn trấn giữ, khiến cảnh trí nơi cột mốc này có điều gì đó trầm mặc, trang nghiêm và huyền bí. Đứng tại đây nhìn sang bên kia bờ sông khá xa, chỉ thấy cột mốc bên đó nhỏ xíu, bên cạnh là một cây cổ thụ to lớn, màu trắng, tròn lẳn, thẳng tắp và cao hơn 30 mét, rất ấn tượng và dễ nhớ.
Ngồi bên cột mốc một lúc với những cảm xúc rất kỳ lạ. Một điều gì đó thiêng liêng khiến trái tim nơi ngực trái tôi nhoi nhói… Gia đình tôi, anh, em, bạn bè… vợ và các con tôi dẫu có tưởng tượng cũng không thể tin, tôi đang một mình bên cột mốc đôi và chỉ cách một con sông là nước bạn Cămpuchia.
Ngã ba sông - suối hẹn hò
Không nhớ là tôi ngồi bên cột mốc bao lâu, bỗng nghe thoảng trong gió như có tiếng nước chảy, tôi đứng dậy cắt rừng đi khám phá. Con đường đưa tôi tới một doi đất sát mép sông như kiểu mũi tàu. Cây gậy Trường Sơn mà tôi cầm theo tỏ ra cực kỳ lợi hại. Tôi cắm cây gậy xuống nước và đu mình nhướng mắt ra khỏi những tán lá cuối cùng để nhìn về phía xuôi dòng, và phát hiện ra một điều kỳ thú… Ngã ba sông và suối gặp nhau tại nơi đây.
Trước mặt tôi không phải một con sông mà là hai con sông được ngăn cách bởi một cù lao đang thắt nhỏ dần về phía tây. Bên cạnh là sông Sê Rê Pốk, còn bên kia cù lao là con sông còn lớn hơn. Trên dòng sông ấy phía xa xa, nhiều chiếc thuyền thả neo giữa sông, thấy cả những ngư dân đang thả lưới. Hai con sông chạy tiếp sức một đoạn ngắn rồi hòa vào nhau làm một. Quay lưng lại và ngay trước mắt tôi là suối Đắk Đam trong vắt. Ở nơi nó hòa vào sông Sê Rê Pốk lòng suối khá rộng, nước chảy hiền hòa. Luồng nước trắng đục mà tôi phát hiện lúc trước chính là nơi suối Đắk Đam hòa vào dòng Sê Rê Pốk tạo thành hai dòng trong – đục trước khi chảy vào lãnh thổ Cam Pu Chia, đổ vào sông Mê Kông.
Thật không hẹn hò mà thành hò hẹn, tôi đã thật sự may mắn khi tự mình phát hiện ra cái ngã ba kỳ thú này.
 Hành khúc giữa rừng lá đỏ
Ngay chiều hôm đó, chiếc xe của Bộ đội Biên phòng tỉnh quay lại đón chúng tôi trở về. Tôi chọn ngồi ghế trước gần bác tài để có dịp quan sát con đường và cảnh rừng lá đỏ. Giữa những cánh rừng bạt ngàn đó, vẫn thấy thấp thoáng bóng những chiến sĩ lặng lẽ tuần tra, lòng tôi dạt dào xúc cảm. Những ý thơ xuất hiện trong đầu và khi tôi viết xong bài viết này đưa cho nhạc sĩ Mạnh Trí, sau một thời gian ngắn, nhạc sỹ thông báo đã hoàn thành ca khúc cùng tên, phổ thơ của tôi.
Tạm biệt biên giới, tạm biệt các chiến sĩ Đồn biên phòng Sê Rê Pốk… Hy vọng sẽ có ngày tôi trở lại. Được cùng ăn, cùng ở, được hò hát, được theo các chiến sĩ tuần tra… được nếm vị mặn của mồ hôi gian khổ, được nghe tiếng hát của rừng, tiếng rộn rã chảy ngược của dòng sông Sê Rê Pốk quê hương. Tất cả như bản trường ca bất hủ sẽ sống mãi trong lòng các chiến sĩ, trong lòng tôi và những ai có may mắn được đến nơi này dù chỉ một lần trong đời, sẽ chẳng bao giờ quên được!