Thứ Tư, 22 tháng 3, 2017

GIỚI THIỆU TẠP CHÍ CHƯ YANG SIN SỐ: 295 - THÁNG 3 NĂM 2017 - tác giả BÍCH THIÊM


           



RỪNG - BIÊN GIỚI - VÀ EM...
Tản văn




Hình như đã mấy năm rồi, hôm nay em mới lại gặp rừng.
Ai bảo em là đứa con của trung du - miền đất bán sơn địa - có rừng cọ đồi chè, có rừng bạch đàn, thong dong những chiều trên lưng trâu nghe rì rào gió mát, lại luôn ở gần rừng, để rồi em luôn thấy gần gũi và bình yên mỗi khi gặp được rừng. Sau 4 năm tạm trú tại Thủ đô, em gặp rừng nơi có động Người Xưa của xứ Lạng thân thương. Những núi đá trập trùng mà xanh thật xanh với hương hồi thoang thoảng lẫn trong muôn ngàn hương các loài hoa bung nở quanh năm. Mùa đông lạnh buốt, bông hoa chuối đỏ chót vươn lên ngạo nghễ giữa xanh thẳm cây lá quanh mình, và những giò lan dịu dàng mà kiên cường vẫn thầm lặng tỏa hương. Tạm biệt xứ Lạng với điệu sli vấn vít, em theo chồng về với rừng Cúc Phương với vẻ đẹp hoang sơ, nơi những bản Mường bình yên tỏa khói lam khi mỗi chiều về. Rừng chính là anh - nhân hậu, lặng thầm và yêu em theo cách riêng của mình, khi gian khó nhất đã bao bọc chở che em từ những cành củi nồng đượm nấu bữa cơm ngày hè đến những bó rau sắng ngọt lành trong mâm cơm đạm bạc. Rồi khi em vào Tây Nguyên, gặp đại ngàn thẳm xanh, uy nghi và hào sảng. Rừng dữ dội và lồng lộng gió trời.
Hôm nay, trên đường lên biên giới, lại được gặp lại rừng mà 4 năm trước em đã đi qua.
Rừng lướt qua ngoài cánh cửa xe, và em bồi hồi chạy ngược về rừng ngày ấy. Từ thành phố đến Yok Đôn, rừng vẫn là hai vạt những khộp, những dầu, những le... vùn vụt chạy qua. Nhưng năm nay, rừng chưa "chín" như năm nào rừng đã từng đón em. Vài vũng nước rải rác dọc đường cho em biết rằng rừng mới có cơn mưa nào đi qua. Và đó cũng là lí do rừng năm nay xanh hơn năm đó. Nhìn qua khung cửa xe, em thấy những đám mây trắng trôi hờ hững trên bầu trời, vượt qua các tàn cây, và em chợt nghĩ: Ở biên giới này, rừng không cô đơn, và mây cũng chả cô đơn, bởi cây mà mây vẫn luôn ngắm nhau trong bao la trời đất và lặng thầm một mối tơ duyên. Bất chợt có một bóng chim xoải đôi cánh rộng bay ngang qua chiếc xe đang chở em và các bạn. Một nhà văn đã từng gắn bó hơn nửa đời với Tây Nguyên cho em biết đó là đại bàng đất. Cánh chim đã bay khuất bên kia dãy núi mà sao như vẫn nghe hơi mát của đôi cánh phả xuống đâu đây. Lòng vẫn nhủ thầm: “A, dù cằn cỗi thế này, vẫn có chim, có thú. Mong sao mùa mưa về, rừng sẽ xanh hơn và muông thú sẽ nhiều hơn.
Dọc theo lịch trình, màu xanh ngày càng ít dần đi do càng lúc càng đến vùng khô hạn hơn. Ở hai bên rừng đến đồn biên phòng Yok Đôn, rừng còn xanh lắm. Thảm cỏ cũng còn xanh lắm. Những bụi le với những ngọn măng cong cong mềm mại vươn ra xung quanh. Đến đồn Serepok, màu xanh ít hẳn, và đến Đá Bằng (mà bây giờ gọi là Đak Ruê) thì gần như không còn màu xanh, chỉ còn lại thưa thớt của đôi ba cây gì đó bên đường. Giữa cái nắng chói chang và luồng nóng hầm hập, em hiểu khó khăn nhường nào những chiến sỹ biên phòng mới duy trì được màu xanh cho những hàng cây me, lộc vừng, điều, sung... quanh doanh trại của mình.
Biên giới đón em bằng sự bồi hồi và niềm vui bình dị khi quân - dân gặp mặt. Những chiến sỹ đa số tuổi đời rất trẻ, nước da nâu và ánh mắt rạng ngời niềm vui khi kể về cuộc sống của đời lính quân hàm xanh. Những đêm tuần tra canh gác, hay những lần cõng bạn bị rắn cắn vượt cả đoạn đường từ rừng về đơn vị… qua lời hồi tưởng mà nghe nhẹ thênh thênh. Từ những chiến sỹ vừa mới rời ghế nhà trường đến những “anh cả”, “anh hai” đã trụ ở biên ải chục năm ròng, ai cũng một lòng tâm niệm: “Đồn là nhà, biên giới là quê hương”. Và ai cũng khẳng định: “Không buồn vì luôn có anh em đồng đội thường xuyên gắn bó bên nhau.”
Em đã đến cột mốc, nơi cánh rừng bên này của ta, bên kia của bạn. Vẫn một màu vàng của những đám cỏ lụi và những thân cây khô khẳng vươn lên. Dừng chân bên căn chòi của chiến sỹ đang canh gác, thấy thương nụ cười hồn hậu cùng giọt mồ hôi lấp loáng trên trán chiến sỹ. Màu áo xanh dường như cũng nhạt đi bởi màu của cỏ hay của mắt em không nhìn rõ nữa, dù nắng ban chiều đã nhạt và có chút gió lười biếng thoảng qua.
Bữa cơm của lính, nhìn đĩa rau xanh non mơn mởn, cũng như những trái thanh long ngọt mát hái từ “Vườn cây thanh long - công trình thanh niên” ở một góc đồn - em và các bạn mình cảm nhận sự ngọt lành từ nó và cũng như thấy được  những giọt mồ hôi và bàn tay chăm chút của các chiến sỹ - những người anh, người em - đã bắt mảnh đất đang mùa khô khắc nghiệt này dâng tặng màu xanh của cây trái cho những con người đang sống và đang hiện diện tại đây.
Chia tay đơn vị, em đi ngược lại quãng đường hôm trước. Lại những vạt rừng khô cháy khấp khểnh chạy qua bên cửa kính xe. Bất chợt trào nước mắt và thấy niềm thương nhớ dâng dâng. Có lẽ rừng đã là một phần kí ức trong sâu thẳm tâm hồn em,  và có lẽ bởi hình ảnh những chiến sỹ biên phòng - đa số còn rất trẻ - đang ngày đêm bảo vệ, gìn giữ rừng - bảo bệ biên giới - cho những người đang ở hậu phương càng hiện rõ trong tâm trí em và các bạn mình với một lòng biết ơn và yêu thương thật lớn lao và bền chặt biết bao.
Thương lắm, Rừng - Biên giới - Và em...

Đak Ruê – 2.2017

Thứ Bảy, 18 tháng 3, 2017

GIỚI THIỆU TẠP CHÍ CHƯ YANG SIN SỐ: 295 - THÁNG 3 NĂM 2017,

NGUYỄN VĂN THANH



TUỔI TRẺ SỨC XUÂN


Tuổi trẻ là mùa xuân của đất nước. Mùa xuân này, tuổi trẻ Việt Nam kỷ niệm 86 năm ngày thành lập Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh. Đuốc lửa của thanh niên đốt lên từ 86 năm trước lại thắp sáng hôm nay. Tuổi trẻ của anh hùng liệt sĩ Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc… đang đánh thức tuổi trẻ thế hệ hôm nay và mai sau…
Với quan điểm và nhận thức thanh niên là lực lượng có ý nghĩa chiến lược, quyết định sự phát triển hiện tại và tương lai của đất nước, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã luôn coi trọng và hết sức quan tâm đến vấn đề thanh niên. Người đã sớm chỉ ra vị trí, vai trò của thanh niên trong xã hội và trong phong trào cách mạng. Theo Người, muốn thức tỉnh dân tộc đi theo con đường cách mạng thì trước hết phải giác ngộ cách mạng cho thanh niên và từ thức tỉnh thanh niên để thức tỉnh dân tộc. Trong tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp (1925), Người đã viết: “Đông Dương đáng thương hại! Người sẽ chết mất, nếu đám thanh niên già cỗi của Người không sớm hồi sinh”. Người không chỉ kêu gọi, thức tỉnh thanh niên mà còn trực tiếp đến với họ, tổ chức, dẫn dắt họ vào con đường đấu tranh. Tháng 6-1925, Người thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, tập hợp những thanh niên Việt Nam yêu nước vào trong một tổ chức thống nhất, với trù tính “nó là quả trứng, mà từ đó nở ra con chim non cộng sản”. Bởi vậy, chỉ một năm sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, mùa xuân 1931, Đoàn thanh niên Cộng sản đã được thành lập. Tính từ mùa xuân năm 1931 đến nay đã hơn 85 năm. Có thể có nhiều cách phân kỳ cho chặng đường dài ấy nhưng cái đích của tương lai thì bất di bất dịch, được mọi thế hệ viết lên đầu trang giấy: Độc lập-Tự do-Hạnh phúc. 9 năm cho cuộc vận động thanh niên tiến tới sự ra đời của Đảng.15 năm giành độc lập. 30 năm với hai cuộc kháng chiến lớn cho công cuộc thống nhất nước nhà. Được Đảng và Hồ Chí Minh tin tưởng, giáo dục và đào tạo, các thế hệ thanh niên Việt Nam đã viết nên những trang sử hào hùng, oanh liệt.
Tin yêu và tràn đầy hi vọng ở tuổi trẻ nước nhà, Bác đã có lời nhắn nhủ: “Một năm khởi đầu từ mùa xuân. Một đời khởi đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội”. Thật vậy, tuổi trẻ là tuổi đẹp nhất của đời người, là tuổi của hành động, tuổi thực hiện ước mơ, hoài bão, là tuổi dám quên mình vì sự nghiệp tương lai, vì tất cả những gì để hướng tới điều tốt đẹp nhất, tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng bất cứ quốc gia nào và chế độ xã hội nào muốn tồn tại, phát triển, muốn vững vàng và cường thịnh đều phải quan tâm đến việc chăm lo giáo dục thế hệ tương lai. Người chỉ rõ: Tương lai của dân tộc, tiền đồ của Tổ quốc và sự thành công của cách mạng phần lớn phụ thuộc  vào việc giáo dục thanh niên.
Xuất phát từ nhiệm vụ mới của cách mạng là xây dựng chủ nghĩa xã hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh hết sức quan tâm phát triển sự nghiệp giáo dục, đào tạo để nâng cao trình độ văn hóa, khoa học - kỹ thuật và nghề nghiệp cho thế hệ trẻ. Theo quan điểm của Người, chiến thắng nghèo nàn lạc hậu, xây dựng đời sống mới, thực hiện mục tiêu "dân giàu, nước mạnh" còn khó khăn, lâu dài hơn nhiều so với cuộc đấu tranh chống ngoại xâm, giải phóng dân tộc. Chính vì thế, Bác Hồ thường căn dặn, dạy bảo thanh niên phải "ra sức học tập nâng cao trình độ chính trị, văn hóa, khoa học, kỹ thuật và quân sự để cống hiến ngày càng nhiều cho Tổ quốc, cho nhân dân". Và, làm nghề gì cũng phải học, mục đích của việc học không gì khác hơn là để nâng cao năng lực, làm cho kinh tế phát triển, chiến đấu thắng lợi, đời sống nhân dân ngày càng được ấm no, tươi vui. 
Công tác giáo dục đạo đức, lối sống cho thanh niên cũng đóng vai trò hết sức quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Hồ Chủ tịch cho rằng, giáo dục bồi dưỡng cho thế hệ trẻ phải chú ý đến cả hai yếu tố đạo đức và tài năng trong đó lấy đạo đức làm gốc. Đức ở đây chính là đạo đức cách mạng, bao gồm những phẩm chất:
- Trung với nước hiếu với dân tức là quyệt đối trung thành với Đảng, với nhân dân, quyết tâm suốt đời phấn đấu cho Đảng, cho cách mạng, hết lòng phục vụ nhân dân.
- Yêu thương con người: thể hiện trong quan hệ hàng ngày với bạn bè đồng chí, là thái độ tôn trọng mọi người, có lòng vị tha trước những thiếu sót, khuyết điểm của người khác.
 - Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư: Cần tức là lao động cần cù, siêng năng, có kỷ luật, có năng suất hiệu quả. Kiệm tức là tiết kiệm thì giờ, sức lao động tiền của của dân, của nước. Liêm là trong sạch, không tham địa vị, tiền tài, quang minh chính đại. Chính là ngay thẳng, không nịnh trên nạt dưới, không tự cao tự đại, thấy việc thiện thì làm, việc ác thì tránh. Chí công vô tư là khi làm bất cứ việc gì không nghĩ đến mình trước, khi hưởng thụ thì nên đi sau.
- Có tinh thần quốc tế trong sáng: Đó là tinh thần đoàn kết giữa nhân dân Việt Nam với bạn bè quốc tế vì hoà bình, công lý và tiến bộ xã hội, chống chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, phân biệt chủng tộc hay chủ nghĩa bành trướng bá quyền. Tài ở đây nghĩa là có tri thức đầy đủ về các lĩnh vực khoa học, có kỹ năng thực hành, có thể đảm nhiệm được những công việc mà Đảng và nhân dân giao phó. Trong mỗi con người tài và đức phải được đi liền với nhau vì: “Có tài mà không có đức ví như anh làm kinh tế tài chính rất giỏi nhưng lại đi đến thụt két thì chẳng những không làm được gì ích lợi cho xã hội mà còn có hại cho xã hội nữa. Nếu có đức mà không có tài ví như ông Bụt không làm hại gì nhưng cũng không có lợi gì cho loài người”. Giáo dục toàn diện nhưng phải phù hợp với trình độ, lứa tuổi phải biết kết hợp giữa lý luận và thực hành, lao động trí óc phải kết hợp với lao động chân tay vì: “Lao động trí óc mà không lao động chân tay, chỉ biết lý luận mà không biết thực hành thì cũng là trí thức có một nửa”.
Trước lúc đi xa, trong Di chúc, Người căn dặn Đảng ta: “Đoàn viên, thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều xung phong, không ngại khó khăn, có chí tiến thủ. Đảng cần chăm lo, giáo dục họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên”. Việc bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và cần thiết. Những điều Người dạy vừa mang tính cách mạng, tính khoa cũng như thấm đượm tư tưởng triết lý nhân văn hết sức sâu sắc.
Thấm nhuần tư tưởng của Người, 86 năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng việc chăm lo giáo dục, bồi dưỡng thế hệ trẻ, tạo điều kiện cho thế hệ trẻ được phát huy tài năng, sức lực vào sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Thế hệ trẻ đã và đang khẳng định mình, đóng góp to lớn cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong giai đoạn hiện nay, dưới ánh sáng của tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng đã xác định phương hướng cho sự phát triển và hoàn thiện giá trị nhân cách con người Việt Nam là: “Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm nâng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; yêu gia đình, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào, sống tốt và làm việc hiệu quả”. Đồng thời, “đổi mới nội dung, phương thức giáo dục chính trị, tư tưởng, truyền thống, bồi dưỡng lý tưởng cách mạng, lòng yêu nước, xây dựng đạo đức, lối sống lành mạnh, ý thức tôn trọng và nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp và pháp luật cho thế hệ trẻ. Có cơ chế chính sách phù hợp, tạo môi trường, điều kiện thuận lợi cho thế hệ trẻ học tập nghiên cứu, lao động, giải trí, phát triển trí tuệ, kỷ năng, thể lực. Khuyến khích, cổ vũ thanh niên nuôi dưỡng ước mơ, hoài bão, xung kích, sáng tạo, làm chủ khoa học, công nghệ hiện đại. Phát huy vai trò thế hệ trẻ trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.
Tuổi trẻ Việt Nam luôn vững tin vào nghị lực của mình-Tuổi trẻ sức xuân nhất định sẽ giành thắng lợi trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.





Thứ Sáu, 17 tháng 3, 2017

GIỚI THIỆU CHƯ YANG SIN SỐ 295 - THÁNG 3 NĂM 2017

BÊN HỒ EA SÚP THƯỢNG
Ghi chép


Xe đưa đoàn văn nghệ sỹ Đắk Lắk đến bên bờ hồ Ea Súp Thượng khi trời còn mờ mờ tối. Mặt hồ đen sẫm, tiếng sóng vỗ vào thân đập nghe ràn rạt... Rồi vài phút sau, phương đông, mấy đám mây hồng bừng lên trên nền trời, soi bóng xuống mặt hồ vẽ thành bức tranh thiên nhiên huyền ảo.
Ngày cuối cùng ở lại huyện Ea Súp dự Trại sáng tác văn học nghệ thuật; mười ngày, quãng thời gian ấy sao trôi đi nhanh quá, khi nhiều dự định sáng tác còn chưa kịp hoàn thành. Huyện Ea Súp – huyện biên giới phía tây của tỉnh Đắk Lắk, đất rộng người thưa, khí hậu khắc nghiệt, mới đầu tháng mười hai không khí đã khô hanh, báo hiệu một mùa nắng nóng. Mùa khô đồng nghĩa với gần một nửa huyện phải đối diện với việc thiếu nước sinh hoạt hàng ngày nói gì đến chuyện nuôi trồng, canh tác nông nghiệp. Với tầm nhìn chiến lược, từ những ngày đầu thành lập huyện, lãnh đạo tỉnh Đắk Lắk đã khảo sát, thiết kế và đầu tư xây dựng hồ Ea Súp Thượng có diện tích mặt hồ: 1.500 ha, dung lượng nước chứa: 146 triệu mét khối, hoàn thành năm 2004. Nhìn mặt hồ, tôi chợt nhớ lại…
Ngày đầu tiên ở Trại, chúng tôi đi thăm đồn biên phòng Ea H’Leo và được “thưởng thức” con đường ra biên giới trên địa bàn huyện nó như thế nào! Rời thị trấn Ea Súp chưa được 3 km, nữ nhà văn Nguyễn Anh Đào đã vội mở bịch ni lông làm cái việc không mong muốn khi bị say xe, nhà văn Thu Hương ngồi bên cạnh phải xoa hai bên thái dương cho bạn. Xe chỉ chạy tốc độ chừng 20 km giờ vậy mà chúng tôi có người đầu còn va vào thành xe đau điếng. Xe lúc chúi xuống ổ… voi, lúc lại chổng ngược như leo dốc, mặc dù đây là đoạn đường đi qua vùng đất tương đối bằng phẳng. Sau gần 3 giờ vật lộn với chặng đường, đoàn cũng lên đến Đồn, ai cũng bơ phờ, quần áo, đầu tóc nhuộm màu đất vì phải mở cửa sổ cho mấy nhà văn nữ bớt say. Trước cổng Đồn, một chiến sỹ biên phòng ôm súng đứng gác giơ tay chào theo điều lệnh rồi hướng dẫn xe đi vào. Xe dừng, Chỉ huy Đồn ra tận cửa xe bắt tay từng người, và trên khuôn mặt vui tươi phấn khởi được đón các văn nghệ sỹ đến thăm, ánh mắt không thể giấu vẻ ái ngại khi thấy một số thành viên trong đoàn mặt mũi bơ phờ vì say xe. Vừa hướng dẫn anh em trong đoàn rửa mặt mũi, tay chân, đồng chí Đại úy Hoàng Ngọc Ân – Đồn phó vừa xuýt xoa vì con đường xuống cấp do mùa mưa vừa rồi xe ô tô, máy kéo đi lại nhiều nên nó vậy.
Chỉ huy, sỹ quan, và chiến sỹ của Đồn chu đáo với đoàn giống như anh em đi xa lâu ngày gặp lại, tay bắt mặt mừng, chuyện trò, tâm sự tưởng như không bao giờ có thể ngừng lại. Đầu giờ chiều, đoàn được đưa xuống thăm một số mô hình điểm trên địa bàn đồn quản lý thuộc xã Ia Lốp như: “Phong trào nâng bước em đến trường” thực hiện từ tháng tư năm 2016 đến nay; nội dung của phong trào này là chọn những em học sinh từ lớp 3 trở lên có hoàn cảnh khó khăn, học giỏi sẽ được đồn hoặc cán bộ chỉ huy Bộ tư lệnh Biên phòng tỉnh Đắk Lắk nhận nuôi dưỡng, trợ cấp thường xuyên năm trăm ngàn đồng một tháng cho đến khi học xong trung học phổ thông; trên địa bàn Đồn Ea H’Leo phụ trách đã có 8 cháu được nhận trợ cấp. Một việc làm rất nhân văn, thể hiện tình quân dân thắm thiết của truyền thống Anh bộ đội Cụ Hồ.
Mô hình làm kinh tế giỏi: nuôi bò, dê, vịt trời, trồng thanh long ruột đỏ… với số vốn không nhiều, nhưng những hộ nông dân từ xứ Mường Thanh Hóa, vựa lúa Thái Bình hay tận vùng Bến Tre thuộc miền sông nước miền Tây Nam bộ đến đây lập nghiệp có một điểm chung: vốn ít, đầu tư nhỏ… nhưng với sự giúp đỡ của các anh bộ đội biên phòng đã vượt khó, ổn định cuộc sống vươn lên làm giàu, bám trụ được trên mảnh đất biên cương khắc nghiệt này.
Trao đổi với chúng tôi, Thượng úy Trần Công Anh – Đội công tác của Đồn trên địa bàn xã Ia Lốp cho biết. Địa bàn Đồn quản lý, chủ yếu là dân đi kinh tế mới và dân di cư tự do, cuộc sống bước đầu vô cùng khó khăn vì khí hậu khắc nghiệt, đường sá đi lại khó khăn và đặc biệt là vấn đề nước. Mùa khô có khi nắng tới bảy tháng không một hạt mưa, nước khoan lên không uống được vì can xi quá nhiều, nước người uống còn chưa đủ thì lấy đâu nước cho sản xuất nông nghiệp. Anh em bộ đội biên phòng xuống hỗ trợ làm nhà, làm đất và vận động các đơn vị kinh tế đầu tư khoan giếng lấy nước phục vụ sinh hoạt, tạm thời ổn định đời sống cho nhân dân. Nếu đưa được nước ở hồ Ea Súp Thượng về hay lấy nước ở sông Ea H’Leo lên phục vụ sản xuất nông nghiệp, chắc chắn nơi đây sẽ thành vựa lúa mới của cả vùng, nhân dân mới bớt khó khăn.
Qua báo cáo, chúng tôi biết: điện đã đến với từng hộ, trường đủ chỗ cho các cháu đến độ tuổi theo học, còn đường giao thông thì xuống cấp nghiêm trọng, nhưng gian nan hơn cả là nước, không có nước sẽ không ổn định được lòng dân: An cư để lạc nghiệp – người xưa đã dạy thế. Nước ở Tây Nguyên nói chung và Đắk Lắk nói riêng đang là vấn đề quyết định đến đời sống kinh tế và văn hóa của cả cộng đồng chứ không chỉ riêng một xã vùng biên giới, biện pháp nào để giải quyết vấn đề này là một bài toán khó đang được Đảng và chính quyền nơi đây từng bước tháo gỡ.
Về thăm và làm việc với xã Ea Lê, ông Nguyễn Văn Hoa – Bí thư Đảng ủy kiêm Chủ tịch Ủy ban nhân xã cho chúng tôi biết: diện tích của xã: 13.672 ha, dân số: 1.076 hộ với 10.999 nhân khẩu sinh sống ở 19 thôn và một tiểu khu; gọi là “tiểu khu” vì chưa đủ điều kiện thành lập thôn. Toàn xã có 12 dân tộc anh em sinh sống, trong đó dân tộc ít người là 4.850 người. Xã thuộc diện điểm của huyện về thực hiện các tiêu chí xây dựng nông thôn mới, đời sống nhân dân ngày một nâng cao. Dân sống chủ yếu bằng nghề trồng cây nông nghiệp với 4.830 ha lúa hai vụ, 1.300 ha một vụ, năng suất trung bình từ 6,5 đến 7 tấn/ha; ngoài ra còn phát triển chăn nuôi theo mô hình trang trại; trâu: 1.750 con, bò: 920 con, heo: 6.500 con... Vị lãnh đạo chủ chốt của xã chưa đến năm mươi tuổi, người to đậm, khỏe mạnh đảm nhiệm chức vụ hai khóa liên tục hồ hởi cho anh em văn nghệ sỹ biết: giá như có kinh phí để đầu tư làm thủy lợi đưa nước từ hồ Ea Súp Thượng đến vùng làm lúa một vụ phụ thuộc vào trời, nâng lên thành hai vụ thì… Anh nói bỏ câu nửa chừng, ánh mắt đượm vẻ buồn.
Xã Ea Lê, người dân biết vươn lên làm giàu nhờ Đảng bộ và chính quyền cơ sở luôn đi sâu đi sát nhân dân, kịp thời tháo gỡ những khó khăn vướng mắc trong chính sách, cơ chế đến phong tục, tập quán… một cách dân chủ nên giữ được mối đoàn kết từ trong ra ngoài, từ trên xuống dưới, giữa các dân tộc để cùng nhau làm giàu – đây là bài học hết sức quý giá mà không phải địa phương nào cũng làm được. Bên cạnh đó một ưu thế đặc biệt mà không phải xã nào ở Ea Súp cũng có, đó là nguồn nước. Nhờ chủ động nguồn nước tưới tiêu lấy từ hồ Ea Súp Thượng, đã biến cả vùng đất nghèo hoang vu ngày xưa thành vùng quê trù phú, một vựa lúa lớn trên Cao nguyên. Với Đắk Lắk, ở đâu có nước ở đó có sự sống và người dân nơi đó có thể làm giàu! Nước quý lắm, một cao nguyên khát đang rất cần những giọt nước mát như những dòng sữa mẹ làm hồi sinh những vùng đất khô cằn.
- Anh nhìn kìa, đám rừng màu xanh sẫm bên kia, là hòn đảo nổi giữa hồ đấy – anh Nguyễn Mạnh Cương, Phó trưởng phòng Văn hóa Thông tin huyện đi cùng đoàn chỉ cho tôi rồi nói thêm: ngày trước, cách đây hơn chục năm phía thượng nguồn của hồ là rừng già mênh mông chạy xa tít tắp qua tận phía huyện Ea H’Leo và huyện Cư M’gar luôn.
Anh cán bộ Phòng Văn hóa Thông tin huyện người dân tộc thiểu số phía bắc, quê gốc tỉnh Cao Bằng, vào Đắk Lắk dạy học, do yêu cầu công tác của Đảng qua nhận nhiệm vụ “trái tuyến”, nhưng với nhiệt tình của tuổi trẻ và lòng đam mê vùng đất Ea Súp đang cố hết sức để làm tròn nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân giao phó. Anh tâm sự: Người dân tộc bản địa Tây Nguyên có phong tục, tập quán và cả nét văn hóa đặc trưng cũng gắn liền với nước. Mỗi buôn có một bến nước, nét văn hóa được thể hiện ở chính bến nước này, nay rừng bị cạn kiệt sẽ không còn nước thì tìm đâu ra bến nước, mất bến nước là mất đi một nét văn hóa tiêu biểu... Trăn trở của người lãnh đạo trẻ ngành văn hóa cấp huyện tuổi đời chưa đến bốn mươi làm người nghe thấy thổn thức...
Phương đông xuất hiện nhiều đám mây hồng, báo hiệu mặt trời sắp lên, anh em văn nghệ sỹ, người chuẩn bị máy ảnh, người chuẩn bị máy quay chĩa ống kính ra phía mặt hồ hơi chếch một chút lên cao đón mặt trời lên như cảnh bộ đội chuẩn bị một cuộc tổng tấn công vào một cứ điểm. Trên bầu trời xanh, đôi đại bàng màu đen sẫm sải cánh chao lượn; dưới mặt hồ, từng lớp sóng nô đùa đuổi nhau lao vào bờ đập được gia cố bằng xi măng, tung lên những hạt nước li ti. Xa xa, xuất hiện thêm những chiếc thuyền độc mộc một người chèo thuyền bằng chân, tay thu lưới tạo nên một khung cảnh tuyệt đẹp.
Nhìn hồ, nhìn các bạn đồng nghiệp tác nghiệp, tôi nhớ đến hôm khai mạc trại, đồng chí Nguyễn Hoàng Vũ – Phó bí thư Huyện ủy kiêm Chủ tịch Hội đồng nhân dân huyện trao đổi: Khó khăn của huyện nhiều lắm, vì đây là huyện vùng biên, khí hậu khắc nghiệt, đất đai khô cằn, rừng nghèo chiếm một diện tích lớn, đường sá xuống cấp nghiêm trọng, giao thương khó khăn… nhưng nói như thế không phải không có thuận lợi để phát triển công nghiệp, nông nghiệp và đặc biệt xây dựng các trang trại, khu du lịch… nếu như có vốn đầu tư, khai thác được tiềm năng sẵn có của huyện… quả là đúng thật. Xoài huyện Ea Súp ngon nổi tiếng, cây rất nhiều quả, nhưng có năm nhiều quá bán không ai mua; dưa hấu Ea Súp ruột đỏ thắm, cắn một miếng vị ngọt thấm tan vào tận chân răng, thương lái lùng mua để xuất khẩu qua Trung Quốc, nhưng do giao thông trắc trở nên giá bị dìm xuống, lời lãi cho người trồng không nhiều; sắp tới huyện đang tạo điều kiện để các doanh nghiệp xây dựng vùng chuyên canh cây ăn quả, xây dựng nhà máy chế biến trái cây đóng hộp góp phần đưa kinh tế vùng phát triển bền vững.
Dù rất bận công tác cuối năm, nhưng ông Bun Thó Lào – Phó chủ tịch Ủy ban Nhân dân huyện vẫn giành một buổi tối mời toàn thể văn nghệ sỹ dự Trại về thăm nhà riêng. Quanh ché rượu cần, ông Phó chủ tịch huyện, tuổi chắc chỉ hơn bốn chục, có khuôn mặt cương nghị, nước da như đồng hun, rắn chắc của người dân bản địa đã thẳng thắn trao đổi với mọi người về tình hình địa phương và trăn trở của mình trước công việc trên địa bàn huyện nhà. Trong không khí vui vẻ, ông cho biết: Lượng nước của hồ Ea Súp Thượng theo công suất thiết kế đủ nước tưới cho trên 8.000 ha lúa hai vụ, nhưng đến nay chỉ mới sử dụng hơn một nửa vì thiếu kinh phí làm kênh dẫn nước tới vùng xa. Nếu tận dụng hết lượng nước của hồ thì… Hiện nay đã có nhà đầu tư khảo sát cho dự án sử dụng mặt nước hồ Ea Súp Thượng để xây dựng nhà máy điện năng lượng mặt trời, hy vọng sau khi hoàn thành, nơi đây sẽ thành khu du lịch thu hút khách tham quan và kết nối thành cụm du lịch: tháp Yang Proong – hồ Ea Súp Thượng…
Mặt hồ nước Ea Súp Thượng mênh mông có thể khai thác tua du lịch bằng thuyền kết hợp tổ chức các môn thể thao, trò chơi dưới nước; xây dựng khu nghỉ dưỡng trên hòn đảo nổi giữa hồ, nơi còn giữ được thảm rừng nguyên sinh quý giá sẽ hấp dẫn vô cùng. Một viễn cảnh tươi đẹp của vùng đất cách xa thành phố Buôn Ma Thuột hơn tám chục ki lô mét về hướng tây, nắng nhiều mưa ít và đầy gió, chắc chắn sẽ mang lại đam mê cho nhiều người đến khám phá, lưu lại trong những ngày nghỉ cuối tuần hay lễ tết.
Mặt trời nhô lên sau ngọn núi mờ mờ, tiếng ai đó reo: Mặt trời lên! Mọi người hối hả bấm máy ghi lại thời phút thiêng liêng của một ngày mới bắt đầu. Ánh nắng vàng soi xuống mặt hồ, bóng con thuyền nhỏ nhoi như chiếc lá trên mặt hồ rộng mênh mông xuyên qua bóng mặt trời như được phủ vàng lung linh huyền ảo… tiếng bấm máy kêu lách tách làm háo hức người nhìn. Nghệ sỹ nhiếp ảnh Văn Lộc tuy đã ngoài sáu mươi tuổi, người gầy gò, lại cao lêu khêu vác chiếc máy ảnh cồng kềnh có cả chân chạy đuổi theo con thuyền đang rẽ sóng vàng thu lưới. Những con cá lớn vướng vào lưới khi bị nhấc lên khỏi mặt nước với chiếc đuôi óng ánh vàng quẫy mạnh làm bắn ra những hạt nước như những hạt ngọc… và mái tóc người chèo thuyền được nàng gió ban mai ve vuốt, ánh nắng ban mai chải chuốt tạo nên bức tranh phong cảnh thật kỳ lạ… Ai cũng hối hả ghi lại khoảnh khắc hiếm hoi được chứng kiến điều kì diệu trên mặt hồ.
Mặt trời lên cao, anh em trong đoàn gọi nhau lên xe trở về thị trấn huyện để chuẩn bị làm lễ bế mạc Trại, người lên xe rồi mà mắt cứ ngoái nhìn hình như không muốn dứt ra được. Xe chạy, nhà văn, nhạc sỹ Linh Nga Niê Kdam nói: Tiếc quá, thời gian không cho phép chứ không phải ở lại thêm một lúc nữa. Hồ đẹp quá! Các văn nghệ sỹ tiếc cũng phải thôi, một chiếc hồ đẹp long lanh trên vùng đất đang khát nước giống như viên ngọc xanh mang vẻ đẹp tinh khiết làm đắm say lòng người. Nhưng với người dân nơi đây, hồ này còn là nguồn sống, là nơi mạng lại ấm no, hạnh phúc cho gần nửa huyện bởi những giọt nước ngọt ngào. Những cánh đồng lúa thẳng cánh cò bay trên vùng bình nguyên Ea Súp thuộc thị trấn Ea Súp và các xã: Ea Lê, Cư M’Lan, Ea Bung, Ea Drông, Ea Rốc, Ea Lốp, Ea Tmốt… đều do nước của hồ Ea Súp Thượng mang đến và hy vọng trong tương lai gần, khi có kinh phí của trên cấp cũng như sự tham gia của các doanh nghiệp với chủ trương xã hội hóa công tác thủy nông, nước sẽ còn vươn xa hơn, đến được nhiều cánh đồng hơn để cây lúa có thể mọc hai vụ, năng suất cao; các doanh nghiệp đủ nước để có thể mở thêm các trang trại chăn nuôi, trồng trọt làm cho vùng đất khô cằn trở thành trù phú và người dân trong vùng thoát cảnh đói nước hàng năm. Tôi tin, với một đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt của huyện cũng như các cấp cơ sở, có năng lực, được đào tạo chính quy, đa số tuổi đời còn trẻ chắc chắn sẽ tạo nên sức bật mới cho sự phát triển kinh tế xã hội huyện Ea Súp trong tương lai gần.
Mùa xuân 2017


Chủ Nhật, 12 tháng 3, 2017

GIỚI THIỆU TẠP CHÍ CHƯ YANG SIN SỐ XUÂN ĐINH DẬU-2017, tác giả TRƯƠNG BI





CON GÀ TRONG NGHI LỄ CỔ TRUYỀN
CỦA ĐỒNG BÀO Ê ĐÊ, M'NÔNG
                                 


Đồng bào Êđê, M'nông ở Đắk Lắk có hai hệ thống nghi lễ - lễ hội cơ bản. Đó là: Nghi lễ - lễ hội vòng đời người và nghi lễ - lễ hội vòng cây lúa (còn gọi là nghi lễ nông nghiệp). Trong hai hệ thống nghi lễ - lễ hội này dù được tổ chức lớn (mang tính hội, có sự tham gia của cả cộng đồng) hay tổ chức nhỏ (chỉ mang tính lễ, thu hẹp trong phạm vi gia đình) thì lễ vật chủ yếu dùng để cúng thần linh, tổ tiên, ông bà là con gà, ché rượu.
- Trong nghi lễ vòng đời người: Khi người vợ trở dạ chuẩn bị sinh con, người chồng làm lễ cúng thần linh, tổ tiên, ông bà bằng một ché rượu nhỏ, một con gà trống choai để cầu cho người vợ sinh đẻ được thuận lợi "mẹ tròn, con vuông". Sau khi đứa bé sinh ra được bảy ngày, người chồng mời ông trưởng họ, hoặc ông cậu (dăm dei) đến làm lễ đặt tên, thổi tai cho đứa bé. Lễ vật là ba ché rượu nhỏ, ba con gà trống choai. Khi đứa bé được ba tháng tuổi, cha của đứa bé làm lễ cúng sức khỏe cho hai mẹ con và cúng trả ơn cho bà đỡ, với lễ vật gồm hai con gà trống choai và ba ché rượu nhỏ. Khi đứa bé tròn một mùa rẫy (một tuổi), cha mẹ đứa bé làm lễ cúng sức khỏe cho con bằng một con gà trống choai, một con heo nhỏ, ba ché rượu, để cầu mong đứa bé khỏe mạnh, không bị thần ác quấy rầy, ăn khỏe, chóng lớn dễ nuôi. Khi đứa bé tròn bảy mùa rẫy (bảy tuổi), cha mẹ làm lễ cúng sức khỏe cho đứa bé. Lễ vật là một con heo nhỏ để cúng thần linh, và tổ tiên ông bà, một con gà trống choai dùng cúng thần bảo hộ cho đứa bé. Trong lễ này (nếu là con trai) người cha dạy cho con biết gia phả của dòng họ và biết dùng cái dao, cái nỏ; còn đứa bé là con gái thì người mẹ dạy cho con biết dệt vải, nấu ăn. Khi đứa bé tròn 17 mùa rẫy (17 tuổi), thì gia đình làm lễ trưởng thành cho con trai mình (theo phong tục của đồng bào Êđê, M'nông, lễ này chỉ giành riêng cho con trai, còn con gái lớn lên kế tục truyền thống mẫu hệ, nên không có lễ này). Lễ này được làm trong ba ngày liền với quy mô lớn, mang đậm tính hội. Riêng gia chủ phải chuẩn bị trước ba năm. Cụ thể, gia chủ phải nuôi một con heo thiến dài 7 gang tay người lớn (tính từ cổ cho đến cuối mông heo), gạo tẻ 100 gùi, gạo nếp 30 gùi, ủ 50 ché rượu lớn, ngoài ra phải có bảy con heo nhỏ, và 7 con gà trống thiến để cúng thần linh và tổ tiên ông bà. Trong lễ hỏi, lễ cưới và lễ rước rể, các nghi thức cúng thần linh đều có một con gà trống thiến, một ché rượu nhỏ. Trong lễ bỏ mả cho người quá cố, bên cạnh dùng lễ vật heo bò cúng thần thần linh, gia chủ còn cúng cho người quá cố một con gà trống (còn sống) và buộc một gà mái nhỏ (còn sống) ngay tại nhà mồ (với ý nghĩa cho người quá cố mang về thế giới bên kia nuôi). Đặc biệt, hàng năm đồng bào Êđê, M'nông thường làm lễ cúng sức khỏe cho người nhà và khách quý, lễ vật vẫn là con gà, ché rượu.
Nghi lễ - lễ hội nông nghiệp: Trong các nghi lễ liên quan đến sản xuất nương rẫy của đồng bào Êđê, M'nông thường diễn ra hàng năm, có thể kể đến các nghi lễ: Đi tìm đất, phát rẫy, đốt rẫy, cầu mưa, trỉa hạt, làm cỏ, vun gốc, cầu cây lúa ra nhiều bông, nhiều hạt, đến khi thu hoạch đưa lúa về kho, ăn cơm mới... Mọi gia đình đều thực hiện đầy đủ các nghi lễ theo phong tục của cộng đồng. Lễ vật duy nhất vẫn là con gà ché rượu. Thí dụ, trong lễ cúng nồi cơm và bầu đựng gạo, thầy cúng khấn: "Ơ Yang bên Đông! Ơ Yang bên Tây! Yang rẫy, Yang lúa! Nay gia chủ cúng cho các Yang ba con gà, ba ché rượu, mời các yang về hưởng! Cầu mong các Yang phù hộ cho gia chủ gạo trong bầu không bao giờ lưng, cơm trong nồi không bao giờ cạn. Người trong nhà ăn không bao giờ vơi, dân làng vay mượn không giờ hết. Ơ Yang".
Bên cạnh các nghi lễ trên, còn có lễ cúng bến nước, lễ cúng vào nhà mới, lễ cúng cổng buôn, lễ cúng hòn đá bếp, lễ kết nghĩa anh em, lễ đón khách v.v... lễ vật chủ yếu vẫn là con gà, ché rượu.
Nhìn chung, lễ vật chủ yếu để dâng cúng thần linh, tổ tiên ông bà của đồng bào Êđê, M'nông trong các nghi lễ - lễ hội là con gà, ché rượu. Lễ vật ấy chính là thành quả lao động sản xuất nương rẫy trong một năm. Nó là lễ vật không thể thiếu được để con người giao tiếp với các vị thần linh trong trời đất, hòa mình với núi rừng thiên nhiên, với khát vọng vươn tới một cuộc sống bình yên, no đủ. Đêm ba mươi Tết, giờ giao thừa đã điểm, nghe con gà trống gáy vang, mừng năm mới đến, chúng ta cầu mong cho các gia đình đồng bào Êđê, M'nông và các dân tộc Việt Nam: Gà đầy sân, heo đầy chuồng, trâu bò đầy bãi, bắp lúa đầy kho, mọi nhà no đủ, hạnh phúc...


















Thứ Năm, 9 tháng 3, 2017

GIỚI THIỆU TẠP CHÍ CHƯ YANG SIN SỐ XUÂN ĐINH DẬU-2017, tác giả NGUYỄN VĂN THANH





TẾT ĐINH DẬU NHÀN ĐÀM
VỀ TRANH GÀ ĐÔNG HỒ



Tranh Tết là một phần hồn Việt trong lành, nhân hậu, một nét đẹp cần lưu giữ. Trong ý nghĩ thường trực của con người về năm Đinh Dậu thường nhớ đến những bức tranh dân gian Đông Hồ về hình ảnh con gà.
Tranh gà treo ngày Tết là phong tục đẹp, đã đi vào những câu thơ nổi tiếng của thi sĩ Hoàng Cầm:
Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong 
Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp.
Đông Hồ là tên gọi một làng quê cổ, bên sông Đuống, cách trung tâm Thủ đô Hà Nội khoảng 40km về phía Bắc, thuộc xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Người dân hay gọi tắt là làng Hồ, vì  thế mới có tên “Tranh làng Hồ”.
Đề tài của dòng tranh Đông Hồ rất mộc mạc, giản dị và phong phú, gần gũi với cuộc sống. Với cách vẽ khoáng đạt, xoay quanh chủ đề nông thôn, những vấn đề nảy sinh trong cuộc sống lao động, những con người, cảnh vật hằng ngày đã đập vào mắt họ, bình dị, thân thương: Con gà, con trâu, con ngựa, con tôm, con cá… tất cả đã đi vào tâm thức con người bao đời nay ra đời: Tranh Vinh hoa, Gà thư hùng, Gà đàn, Gà Đại Cát
Trong 12 con giáp tượng  trưng cho 12 tháng của năm thì gà là con số 8. Theo nghi lễ lịch tiết của cư dân nông nghiệp thì tháng 8 là tháng no đủ sau vụ thu hoạch. Rất có thể người xưa đã chọn gà làm chủ tháng này để thể hiện một giai đoạn sung túc nhất trong năm của người dân nông nghiệp. Theo Phong tục Việt Nam, trong 12 con giáp, gà trống biểu tượng cho sự cương trực, mạnh mẽ; trong văn học, gà trống là biểu tượng của ngũ đức: văn, võ, dũng, nhân, tín. Đó là những đức tính rất cần có của một bậc dũng sĩ.
- Đầu có mào như đội mũ, thân có màu lông đẹp như quần áo, gọn gàng đó là Văn.
- Chân cứng, có cựa nhọn để làm vũ khí, ấy là Võ.
- Thấy đối thủ là xông vào, ấy là Dũng.
- Tim thấy thức ăn liền gọi đồng loại, đó là Nhân.
- Đúng giờ, đúng canh liền cất tiếng gáy, ấy là Tín. Trong đó, gà lấy đức Tín làm đầu. Bất kể mùa đông hay hè, ngày nắng hay ngày mưa đều gáy đúng giờ, đúng canh. Con gà sẽ đánh thức mặt trời chiếu sáng cho đủ đầy ánh nắng cả năm.
Trong tranh dân gian Đông Hồ phổ biến có những bức:
1. Tranh Vinh hoa, vẽ em bé trai xinh tươi bụ bẫm, trong lòng ôm con gà  trống là hình tượng biểu hiện cho sự ước mơ và chúc tụng các bà mẹ sinh con trai ra khỏe đẹp, lớn lên tài giỏi với đầy đủ những đức tính tốt của gà trống.
2.Tranh Gà thư hùng, gồm có con trống, con mái và đàn gà con quấn quít nhau với câu thơ chữ Nôm phụ họa trên tranh:
No đủ vợ chồng, có đầu có mỏ
Lắm con nhiều cháu, giống cánh giống lông.
3. Tranh Gà đàn, vẽ cảnh gà mẹ với gà con thể hiện tình mẫu tử gắn bó mật thiết không chỉ có ở con người mà còn có ở hầu hết các loài vật. Gà mẹ ngậm mồi, mười chú gà con ríu rít quanh mẹ. Mỗi chú gà con đều thể hiện những tính cách sinh động khác nhau: Con tinh nghịch ngổ ngáo, nhảy lên lưng gà mẹ. Con ngơ ngác sợ sệt nép dưới bụng và đôi cánh xòe rộng che chở của người mẹ đứng vặn mình rỉa lông, con chạy tung tăng, nhốn nháo.
4. Tranh Gà Đại Cát,  chia làm 2 phần: Phần phía trên với 2 chữ “Đại Cát” có nghĩa là nhiều điều tốt đẹp, nhiều vận may lớn. Phần dưới vẽ con gà trống chân co chân duỗi, cánh xòe ra, lông đuôi tua lên như múa, miệng hé ra. Toàn thân gà như đang nhảy múa, hát lên lời chúc tụng tốt đẹp nhất gửi đến mọi nhà đầu dịp năm mới.
5. Tranh Gà dạ xướng, tranh Gà dạ xướng có dòng chữ: Ngũ canh hòa dạ xướng (5 canh con gà gáy đúng thời khắc) lại là lời nhắc nhở về chữ tín mà người đời cần nhớ qua biểu hiện tiếng gà năm canh, dù nắng mưa hay giá rét không bao giờ sai. Đó là đức tính người đời cần ghi nhớ và làm theo. 
Tranh dân gian Đông Hồ  có thể nói là dòng tranh nổi tiếng độc nhất vô nhị tập trung những giá trị nhân văn sâu sắc của con người và văn hóa Việt, làm nên một truyền thống văn hiến đáng tự hào. Năm con gà ngồi nhàn đàm về tranh gà càng vui, càng ý nhị. Càng sâu sắc thêm khi ngắm và phân tích hình tượng những chú gà, đàn gà xinh đẹp và thượng võ trong nghệ thuật tạo hình dân gian.



Thứ Ba, 7 tháng 3, 2017

GIỚI THIỆU TẠP CHÍ CHƯ YANG SIN SỐ XUÂN ĐINH DẬU-2017, tác giả PHẠM MINH TRỊ


 Nhà thơ PHẠM DOANH

PHẠM DOANH – MỘT DẤU CHÂN SÂU ĐẬM
TRÊN SƯỜN ĐỒI VĂN HỌC ĐẮK LẮK


Trên đời, có người gặp hàng ngày mà vẫn quên, có người chỉ gặp một thoáng chốc mà lại nhớ lâu khó quên. Ấy là trường hợp đối với nhà thơ Phạm Doanh. Khi gặp bao giờ cũng vậy, câu cửa miệng của ông là: Xin chào người, người có khỏe không… Không biết với người khác thế nào, chứ với riêng tôi, ông vồn vã, ân cần khiến tôi nhiều lúc phân vân, khó nghĩ. Vì ông là nhà thơ lớp trước, gặt hái được nhiều thành công trong công việc sáng tạo, là người có thơ in trên báo VĂN NGHỆ từ thủa xa lắm, đâu những năm 70 của thế kỷ trước thì phải. Ông là hội viên Hội nhà văn Việt Nam từng đạt giải thưởng Văn học về đề tài công nhân (1972-1975) do Tổng Công đoàn và Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức với tập thơ: Xứ đầu tiên; giải thưởng Văn nghệ Hạ Long năm 1983; giải thưởng VHNT của Uỷ ban toàn quốc liên hiệp các  hội VHNT Việt Nam năm 1997 với tập thơ: Ấy là tôi
Thi thoảng có gặp, vẫn thấy ông đầu tóc xanh đen mượt loáng, áo quần phẳng phiu là ủi cẩn thận, giầy đen bóng đàng hoàng lắm. Đôi mắt sâu đen lấp sau cặp lông mày đậm với khuôn mặt đầy đặn. Chưa thấy ông đeo kính bao giờ, chứng tỏ đôi mắt của ông còn tinh lắm, nhìn đời, nhìn người còn nhanh nhạy, vi tế lắm. Nhưng không hiểu sao, tôi nhìn ông vẫn toát lên cái vẻ khỉnh khỉnh thế nào ấy, dù ông rất hoạt ngôn khi nói chuyện. Điều này mong ông bỏ qua cho. Chính cái vẻ khỉnh khỉnh ấy mà tôi không quên ông được. Và rồi, tôi biết ông sinh ngày 19.12.1942, tại làng Hoàng Pha ở ngoại ô thành phố cảng Hải Phòng. Thật không ngờ ông lên 7 tuổi đã mồ côi cả cha lẫn mẹ. Tuổi thơ ông thật bất hạnh, nhưng được cái may mắn sống với ông nội là người giỏi chữ nho, nên ông được thừa hưởng không ít những kiến văn do ông nội truyền dạy và bảo ban. Thời gian ở với ông nội là quãng thời gian vô cùng quan trọng trong nghiệp văn sau này của ông. Đời lấy mất dòng sữa ngọt ngào, sự âu yếm dịu dàng của mẹ, và những lời ru nồng nàn bên cánh võng của bà cùng sự cứng cỏi của cha nhưng lại đắp bù cho ông những trải nghiệm cuộc đời từ rất sớm. Chính sự quăng quật của đời đã góp tạo một nhà thơ Phạm Doanh sau này. Tuổi thơ ông thật khốn khổ, buồn đau, chắc chưa khi nào ông có một đêm trăng rằm đúng nghĩa, lên 10 tuổi phải ở một mình, tự kiếm sống bằng nghề đánh giậm. Cái khốn đốn của người này nhiều khi lại là cái may mắn của người kia. Sự khắc nghiệt của số phận nhiều khi là cơ may để vươn lên, để tỏa sáng. Nếu từ năm 16 tuổi mà ông không ra mỏ than Hòn Gai làm thuê thì chắc chắn rằng không được nhà thơ Chế Lan Viên hạ một câu danh giá cho cả đời thơ của ông: Đây đích thực là lục bát công nghiệp. Giữa thực tế đời sống và sáng tác có một sợi dây xâu chuỗi mật thiết với nhau. Đọc các sáng tác ta dễ dàng nhận ra cái quan điểm nghệ thuật của người sinh ra nó. Nhiều khi điều đó hiện diện trong từng hình ảnh, ngôn ngữ, giọng điệu một cách vô cùng hồn nhiên, cứ như từ đâu đó mách bảo ta làm như thế này chứ không phải làm thế kia. Ấy là giá trị của thực tiễn đã được tác giả thể hiện trong sáng tác của mình. Điều này cắt nghĩa sự thành công ngay từ đầu của Phạm Doanh trong bài thơ: Đi trong lò giếng mà nhà thơ Chế Lan Viên đánh giá rất cao.
Thời gian đắm mình vào các công trường than, giếng mỏ, xây dựng nhà máy, cầu đường… đã đem lại cho ông nhiều gặt hái thành công trong sáng tác. Hầu hết các bài thơ trong thời kỳ này, ngót nghét cũng gần ba chục năm (1959-1987), đều có hơi thơ, giọng thơ khỏe khoắn, yêu đời, say sưa đến lạ lùng, do đó các bài thơ của ông đều mở đầu vô cùng tự nhiên, thoải mái, không gợn chút gì là gượng ép. Người đọc có cảm giác đặt bút xuống là ông viết ra được ngay, không đắn đo, nghĩ suy gì cả. Ngôn ngữ, hình ảnh cứ ngồn ngộn, tươi rói như vừa bứng từ đời sống vào. Trong bài: Đi trong lò giếng ông viết: Trong lò giếng chúng tôi đi/ Đất và đá –chẳng có gì khác đâu/ Mây không bay ở trên đầu/ Cỏ không êm dịu sắc màu dưới chân/ Một chiều gió thổi quanh năm/ Đèn lò tỏa nắng, chẳng phân đêm ngày. Rõ ràng ông chỉ kể thôi, kể vật, kể việc, xen miêu tả với đôi chút nhận xét, thế mà thành thơ. Nếu người khác cũng bắt chước cách này, tôi tin chắc một trăm phần trăm sẽ không tạo ra được không khí thơ tự nhiên như ông đã viết. Và trong bài thơ: Khói nhà máy của tôi cũng vậy: Thở ấm cả vòm trời/ hơi thở của những người lao động:/ khói nhà máy của tôi. Nhiều khi có người nhận xét rằng: làm thơ như thế thì dễ quá có gì đâu? Vâng, có gì đâu? Có gì đâu là với Phạm Doanh chứ với người khác thì đâu có gì đáng nói. Lấp ló ở đằng sau cái tự nhiên ấy là cả một quá trình trộn lẫn với đất đá của đời ông. Ông mà không có đoạn: Rời tuổi thơ trên lưng mẹ cõi còm/ Ấy là tôi rụng xuống nơi bùn đất/ Lẫn với tàu rau, con cua, hạt bắp/ Câu chửi thề ngầu đục xóm ca dao thì làm sao có được một chiều gió thổi quanh năm mãi mãi xôn xao trong lòng người đọc, làm sao có được hơi thở ấm cả vòm trời đầy  ấn tượng như thế. Thực sự ông đã vút lên từ bùn đất, từ nơi ngầu đục. Từ thực tế ngổn ngang sự việc, thô ráp để đưa vào thơ cả một quãng dài của sự suy ngẫm kết hợp nhuần nhuyễn với độ rung của cảm xúc. Cái tài, cái nhạy cảm của nhà thơ là ở chỗ: giữa bộn bề, ắp đầy, ngồn ngộn của cuộc sống phải chọn cho được một hình ảnh, một chi tiết tiêu biểu, đắc địa sao cho câu thơ được viết lên bắt nó phải lấp lánh sáng, che hết u ám của đời chỉ còn đọng lại cái phập phồng tươi rói của nhịp đập sự sống mà thôi. Với Phạm Doanh, ông đã phần nào làm được điều đó. Ông nhìn sự vật, sự việc với cái nhìn háo hức của trẻ thơ nên câu thơ đọc lên lúc nào cũng thấy mới mẻ: Sáng nay trên công trường vang động/ mặt bằng thi công rung lên như mặt trống rồi Cần trục tháp quay tròn dấu hỏi/…in dấu hỏi lên nền trời vắng khói. (Một dấu hỏi). Mỗi câu thơ ông viết đều âm thầm mang cái rạo rực, cái đắm say của tình yêu cuộc sống, của tấm lòng khát khao đem đến cho đời những điều tốt đẹp hơn. Đó là tấm lòng của những người công nhân, những người kỹ sư thâu đêm nghĩ suy về một câu hỏi rất đơn giản mà khó vô cùng của Thủ tướng Phạm Văn Đồng khi về thăm cảng Hải Phòng: Có cách gì nhanh hơn nữa không? Hoàn cảnh đất nước ta thời ấy là thế, mọi người như một, chỉ biết một hướng về Nam mà thôi, chỉ biết một lý tưởng, một ý nguyện duy nhất là thống nhất đất nước. Hình ảnh: Anh kỹ sư thâu đêm trằn trọc/ Sáng dậy nhìn vào đôi mắt đen (Một dấu hỏi) đến bây giờ đọc lại còn nguyên sự dâng trào của cảm động. Những bài thơ ông viết trong thời gian này đã đáp ứng được đòi hỏi, yêu cầu của cuộc sống. Trong thơ đã xuất hiện nguyên xi những khái niệm, danh từ của ngành nghề ông đang làm việc như: lò giếng, bê tông phần chìm, vữa, xe ben, động cơ, phay, túi nước, công trình… chính điều này đem lại trong thơ ông sự sinh động, đầy sức sống. Đặc biệt, khiếu quan sát của ông rất tinh: Mây không bay ở trên đầu; đèn lò tỏa nắng… và có những liên tưởng đầy thú vị: Một chiều gió thổi quanh năm; Những tầng trầm tích ngưng đầy thời gian… Có điều, ở nhiều bài thơ ông bẻ quặt, gò nó vào lấy được để kết bài với một câu khẩu hiệu theo công thức khô cứng, khiến bài thơ bỗng nhẹ tênh đi nhiều lắm, ví như trong bài Khi xe ủi trở về thành phố ông viết: Cho đất nước vào mùa xây dựng lớn/ Sóng biển đã cuốn đi tên xâm lược cuối cùng! Hay trong bài: Tuổi thọ công trình có câu: và anh sẽ hiểu hơn khi chúng tôi cầm súng/ vì phẩm chất của người xây dựng!... Âu cũng là đương nhiên. Cái cảm quan nghệ thuật của người nghệ sỹ nhiều khi không thể nào vượt thoát được hoàn cảnh. Mối quan hệ giữa khách thể và chủ thể có nhiều ràng buộc, nhiều khi chủ thể cứ thế mà tuân theo. Nói vậy không phải không có những trường hợp ngoại lệ.    
Con đường thơ của Phạm Doanh trong gian đoạn từ năm 1959 đến năm 1987 nói chung đều đi theo một hướng: lấy cuộc sống làm chuẩn, VHNT tuyệt đối phục vụ chính trị, phản ánh chân thật, hùng hồn do đó mà các bài thơ của ông khi ra đời đều có nhiều đối tượng người đọc. Chính vì thế, ngay từ tập thơ đầu tiên của ông: Xứ đầu tiên đã gặt hái được thành công mỹ mãn đó là Giải thưởng văn học về đề tài công nhân của Tổng Công đoàn và Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức.
Những tưởng ông đằm sâu vào con người và đất cảng Hải Phòng hơn nữa; tưởng ông hì  hụi với xe ben, cần cẩu, cặm cụi với lò giếng, đổ bê tông đắm đuối với vị mặn của nước biển quê nhà mãi mãi. Nào ngờ, năm 1987, ông bị vị cay nồng của quả tiêu chín đầu mùa cuốn hút, bị vị đắng của cà phê đất đỏ mê dụ. Thế là, Đắk Lắk trở thành quê thứ thiệt của ông. Một vùng không gian rộng lớn đầy bí hiểm và kỳ vĩ đang đợi chờ ông. Những vùng đất, con người chưa kịp khai phá ấy đã kịp thời in dấu vào thơ ông: Ban mai ngàn xanh mênh mang/ Tiếng chim Protok bay về buôn sang/ Em gái Êđê đèo gùi lên rẫy (Nhớ lắm Đắk Lắk ơi). Rõ ràng, không khí thơ, giọng thơ đã mang sự rộng thoáng, hơi hướng của một vùng đất hứa hẹn nhiều điều lạ lẫm, mới mẻ. Ông diễn tả nét đẹp mơ hồ, vấn vít, với cái nhìn tinh mà đắm say: Hoàng hôn vào đêm mông lung/ Tiếng chiêng mời khách ngân dài không trung/ Men say rượu cần ngọt vào khói thuốc/ Muốn lên sàn quá mà chân ngập ngừng. Nếu chọn những câu thơ hay nhất về đất và người Tây Nguyên hẳn không thể thiếu những câu thơ đã dẫn ở trên. Người đọc cứ tưởng chỉ người bản địa mới thấu cảm được như thế. Thì ra, để chớp được nét đẹp văn hóa, tập tục của bất cứ một vùng đất nào, trước hết trong hơi thở, trong dòng máu đang chảy của người nghệ sỹ phải ít ra gội được sương, tắm được gió, bén được mùi thung thổ ở đó thật sâu, thật đậm thì nó mới chuyển hóa nhanh chóng không khiên cưỡng trong cách nhìn, cách nghĩ, cách cảm. Có thể nói, Phạm Doanh hòa vào cảnh vật, con người Tây Nguyên thật khéo léo:…về phía mặt trời/có dãy Chư Yang Sin hùng vĩ/ có dòng Krông Ana biếc xanh/ có những bông quỳ nở vàng hoang dại/ có con bé gái địu em buôn nghèo (Một ngày của nhạc sỹ Văn Tấn). Chỉ bằng vài nét của nghệ thuật chấm phá trong hội họa mà ông đã dựng được bức tranh đủ sắc màu, có kích cỡ của một lát cắt ở miền đất Tây Nguyên. Nếu trong đoạn thơ trên ông đừng vội vàng đặt từ con  trong câu cuối thì có phải quá hay không? Câu thơ sẽ vừa đạt được tính tư tưởng sâu sắc vừa đạt được tính mỹ cảm cao. Thật đáng tiếc. Và đây, một buổi sáng rất tinh khôi: Sáng nay lá đỏ vùng trời/ Chim gõ kiến báo ngày trong trẻo lắm (Một ngày không chiến tranh). Người đọc cứ ám ảnh hoài mãi với tiếng chim gõ kiến và sắc đỏ của màu lá rừng. Âm thanh của tiếng chim gõ kiến chồng lên màu sắc đỏ của lá rừng gợi chút gì đấy vừa bâng khuâng vừa lưu luyến vừa bồn chồn cứ vương, cứ vương theo mãi trong không gian. Chỉ những ai sống ở Tây Nguyên mới nhận cảm hết được sự khắc nghiệt của mùa khô và mức độ khát khao về nước của đất và người ở đây: Mùa khô gió héo mặt vườn/ Vẫn một mình em quay từng gầu nước tưới (Nhớ em mùa hoa nở). Câu thơ chưa có sự phát hiện mới lạ nhưng đọng lại trong lòng người là hình ảnh em gái nhẫn lại chống lại sự ghê gớm của thiên nhiên.
Thời gian trôi cứ trôi. Lòng người ngổn ngang bao nỗi suy tư. Cuộc sống xô bồ, bụi bặm, sáng trong, tinh khiết, ôm đồm, tất cả cứ trộn lẫn vào nhau. Phạm  Doanh dù là nhà thơ cũng cứ tuân theo quy luật cuộc sống. Tham, sân, si dù muốn hay không cũng cứ hiện diện trong ông. Tháng năm càng chất chồng càng nghĩ suy. Sự ồn ào,vồ vập, háo hức dần thế chỗ cho suy ngẫm sự đời. Ông ngồi mà nhớ về thời xa xôi: Cái thời ấy sao mà kỳ lạ thế/ chẳng ai lo thất nghiệp/ chẳng ai thích làm giầu/ chỉ lo phải xa rời tập thể/ chỉ thích nhường cơm sẻ áo cho nhau (Nói với con). Có lẽ, đây là những câu thơ hay nhất để khái quát về cuộc sống, con người  thời mà đất nước chưa hiện diện khuôn mặt của nền kinh tế thị trường. Ta cảm thông cho nỗi đau quặn thắt mà ông đã trải qua:…các con sẽ về đâu?/ Cha cứ ngẩn ngơ ngóng rừng dõi biển/ Chẳng có bạc tiền cho các con vốn liếng/ Thủ đoạn làm giầu, nghệ thuật sống cũng không. Ông đau đớn nhận ra: Gia sản chắt chiu mấy chục năm ròng/ Chỉ có đức hy sinh và lòng nhân ái/ Các con biết làm gì ở thời hiện đại/ Với trái tim đa cảm của cha mình. Cái tâm trạng ấy, cái ngẩn ngơ ấy không chỉ riêng trong ông mới có mà nó hiện diện hầu hết ở cả thế hệ thời ấy. Ông là người đại diện nói lên bằng ngôn ngữ nghệ thuật mà thôi. Phải cám ơn ông nhiều lắm. Nhưng càng sống càng thấy cái gia sản của lòng nhân ái và đức hy sinh có lẽ là cái gia sản đích thực nhất và hiếm quý nhất, chắc chắn giá trị thực của nó bền sâu nhất. Thơ ông càng về sau chất suy tư càng đậm. Ông nhìn cái gì cũng đượm màu nghĩ suy: Tiếng hoẵng khàn đêm mưa gọi mẹ/ lặng ngắm bên sông dưới lùm hoa dẻ/ em ngồi soi bóng nước triều lên (Nhớ về  một dòng sông). Âm thanh của tiếng hoẵng đêm không ngừng gọi mẹ trong đêm mưa thưa vắng ấy, khua động tận từng tế bào kí ức của ông và của cả người đọc nữa.
Nay, ông đã dời gót chân tới tuối 75. Cái tuổi chỉ để ngồi uống trà và ngẫm nghĩ sự đời. Cái tuổi ngồi đánh cờ mà xem thế sự. Nhưng có lẽ trái tim ông không thể ngủ yên, bởi ông vẫn còn: Ơ này, ngọn gió hồi xuân/ cứ mơn man cứ xoay vần thịt da/ thì đây cái gốc me già/ cũng xin nứt vỏ biếc ra nụ chồi (Hạ cảm). Vâng, cái gốc me già Phạm Doanh lại nứt ra một Ấy là tôi nữa thì sao? Thời gian hãy chờ xem.