Thứ Bảy, 21 tháng 1, 2017

GIỚI THIỆU TẠP CHÍ CHƯ YANG SIN SỐ 293&294 - tác giả HỮU CHỈNH






ĐẮK LẮK VÀO XUÂN
Tùy bút



Cùng cả nước chào xuân, lại vang tiếng chiêng ngân cho Đắk Lắk rộn ràng vào hội.
Tiễn biệt Bính Thân – 2016, chào đón Đinh Dậu – 2017, ta có đủ niềm tin và đón đợi những thành quả mới.
Một tỉnh nằm giữa Tây Nguyên, hạn hán, bão dông thử thách, Đảng bộ và đồng bào các dân tộc đã đoàn kết để vượt qua.
Năm 2016 vừa kết thúc thắng lợi, những số liệu tự biết reo vui, tự ngân nga ca hát.
Giá trị tổng sản phẩm theo giá hiện hành đã đạt 69.908 tỷ đồng, so với năm 2015 đạt 113,25%.
Kinh tế phát triển nên GDP bình quân đầu người đạt 36,7 triệu đồng.
Xuất khẩu 550 triệu USD.
Tổng thu cân đối ngân sách nhà nước trên địa bàn 4.100 tỷ đồng.
Từ nền tảng kinh tế đã thúc đẩy các mặt văn hóa – xã hội đi lên những bước vững chắc.
Con em ta ríu rít tới trường, ngày càng có nhiều trường khang trang, sạch đẹp, đã có 34,7% số trường đạt chuẩn quốc gia; 100% thôn buôn có trường hoặc lớp mẫu giáo.
92,4% số xã đạt Bộ tiêu chí quốc gia về y tế. Số giường bệnh trên một vạn dân là 22,82 giường, chưa kể số giường ở trạm y tế xã.
13,2% số xã hoàn thành 19 tiêu chí xây dựng nông thôn mới, quê hương ta đổi mới từng ngày.
Tiếng gáy của gà Đinh Dậu đã vang lên chào năm 2017 với tất cả tiềm năng sẵn có vừa tròn 30 năm đổi mới, thực hiện bằng được các chỉ tiêu chủ yếu, dù biết rằng gặp nhiều khó khăn thách thức, nhiều mồ hôi, công sức phải đổ ra.
Tổng sản phẩm xã hội năm 2017 phấn đấu đạt 47.910 tỷ đồng hơn năm 2016 là 3.500 tỷ. Tăng trưởng kinh tế khoảng 7,5 đến 8% để thu nhập bình quân đầu người đạt 38 đến 38,5 triệu đồng, mừng lắm chứ!
Kim ngạch xuất khẩu 570 triệu USD, thu cân đối ngân sách nhà nước 4.500 tỷ đồng, một tỉnh Tây Nguyên được như vậy há chẳng vui sao!
Tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh giảm từ 2,5 đến 3%, riêng đồng bào dân tộc thiểu số giảm 4% là nỗi trăn trở của toàn Đảng bộ để xóa dần cảnh đói cơm, rách áo.
39% số trường đạt chuẩn quốc gia, 100% thôn buôn có trường hoặc lớp mẫu giáo. 95,1% xã đạt Bộ tiêu chí quốc gia về y tế. Bảo hiểm y tế đạt 81,6% dân số. 20% số xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới. Những con số của niềm tin là động lực cho ta vươn tới.
Chuẩn bị tổ chức tốt Lễ hội Cà phê Buôn Ma Thuột lần thứ VI, kết hợp với Liên hoan Văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên năm 2017 và Hội nghị xúc tiến đầu tư vào Đắk Lắk. Thu hút các dự án, khuyến khích các dự án ứng dụng công nghệ tiên tiến, hiện đại, thân thiện với môi trường và tạo việc làm cho nhiều lao động, dự án hạ tầng kỹ thuật xây dựng và phát triển thành phố Buôn Ma Thuột thành đô thị trung tâm vùng Tây Nguyên.
Dây cao thế đo trời như khuông nhạc hòa âm giai điệu mùa xuân cho 97% thôn, buôn có điện, 98% số hộ được dùng ánh sáng của văn minh.
Lửa bập bùng đêm dân vũ, rộng vòng xoang, tay nối tay như đất nối trời, cần rượu vít cong, lúng liếng mắt say tình tứ.
Thuyền lá hồ Lắk lại chở tranh sơn thủy, chở gió hữu tình, non nước, trời mây như lạc vào tiên cảnh.
Voi bành Bản Đôn đưa khách phong vân, đưa người thanh lịch, cầu treo, suối hát như tới chốn đào nguyên.
Gà Đinh Dậu đã cất tiếng gáy báo sang xuân, Đắk Lắk cùng cả nước bước vào vận hội mới tràn đầy sinh lực.
Dựng cây nêu thần mời Yàng về chung vui. Thắp hương báo công với Bác Hồ cùng tổ tiên linh thiêng, hứa theo con đường của Bác làm rạng danh con Rồng cháu Tiên của thời đại mới là xây dựng đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn.
Lại đọc câu đối phút giao thừa để mừng Xuân, mừng Dân, mừng Đảng:
Độc lập, Tự do – khát vọng muôn đời - Công Đảng quang vinh dành cho Tổ quốc
Hòa bình, Hạnh phúc – niềm tin vạn thuở - Ơn Bác thiên tài trao lại Nhân dân.



Thứ Tư, 18 tháng 1, 2017

GIỚI THIỆU TẠP CHÍ CHƯ YANG SIN SỐ 293&294 - tác giả NGUYỄN VĂN THANH





THƠ  CHÚC TẾT CUỐI CÙNG
VÀ DI CHÚC THIÊNG LIÊNG CỦA NGƯỜI


Mùa xuân Kỷ Dậu 2017, là mùa xuân thứ 48 Bác Hồ đi xa. 48 mùa xuân đã qua, đồng bào, chiến sĩ cả nước và kiều bào ta ở nước ngoài không được nghe thơ chúc Tết của Người trên Đài Tiếng nói Việt Nam. Và mùa xuân này, cũng là 48 mùa xuân toàn Đảng, toàn dân ta thực hiện Di chúc của Bác, đất nước đã đạt được nhiều thành tựu to lớn trên các lĩnh vực. Thời gian càng lùi xa, chúng ta càng thấy sự vĩ đại của Bác trong những lời dặn cuối cùng của Người.
Tư tưởng Hồ Chí Minh thể hiện rõ trong đường lối chỉ đạo cách mạng, trong các bài phát biểu, các tác phẩm văn chương mà Người sáng tác để tuyên truyền vận động nhân dân. Thơ chúc Tết, một mảng thơ ca thể hiện rõ tính tư tưởng của Người.
Tư tưởng xuyên suốt trong 22 bài thơ chúc Tết của Chủ tịch Hồ Chí Minh được sáng tác từ năm 1946 đến 1969,tư tưởng về dân tộc và cách mạng giải phóng dân tộc”. Ý nguyện và khát vọng giải phóng dân tộc, mong muốn cho dân tộc được hòa bình, độc lập, thống nhất luôn xuất hiện trong các bài thơ chúc Tết. Các từ ngữ như “kháng chiến”, “thắng lợi”, “độc lập”, ‘thành công”, “chiến thắng”, hòa bình”, “thống nhất” cũng luôn xuất hiện trong thơ chúc Tết của Bác.
  Như bao mùa xuân trước, ngày 1.1.1969, nhân dịp năm mới Hồ Chủ tịch gửi thư chúc mừng tới đồng bào và và chiến sĩ cả nước. Và đây cũng là bài thơ chúc Tết cuối cùng của Người:
“Năm qua thắng lợi vẻ vang, 
Năm nay tiền tuyến chắc càng thắng to. 
Vì độc lập, vì tự do, 
Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào. 
Tiến lên!
Chiến sĩ, đồng bào! 
Bắc Nam sum họp, xuân nào vui hơn”.
 Toàn áng thơ toát lên không khí tự tin, hào sảng về sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ xâm lược, bảo vệ độc lập tự do của Tổ quốc; tư thế của người nắm lẽ phải, đang chiến thắng, lời lẽ giản dị đến không thể giản dị hơn.
Một phần đặc biệt trong thơ chúc Tết của Bác là tình cảm dành cho đồng bào miền Nam.
 Trong lúc phát động nhân dân miền Bắc trồng cây, Bác lại nghĩ đến nhân dân miền Nam:
Chúng ta trồng cây cho cả đồng bào miền Nam nữa… Năm nay, chúng ta thi đua trồng cây cho thật tốt, phải bảo đảm trồng cây nào tốt cây ấy, tổ chức “một Tết trồng cây quyết thắng giặc Mỹ xâm lược”.
Ngày 28 tháng 2 năm 1969, tại buổi tiếp đoàn đại biểu Mặt trận Thống nhất dân tộc giải phóng miền Nam ra thăm miền Bắc, Bác nói:
Thưa các cụ, các cô, các chú,
Trong thơ chúc Tết năm nay, tôi có nói là:
Tiến lên! Chiến sĩ, đồng bào,
Bắc – Nam sum họp, Xuân nào vui hơn!
Trong lúc viết thì như thế, tôi cũng không chắc là câu thơ đó được thực hiện sớm trong năm nay. Hôm nay, đồng chí bác sĩ Phùng Văn Cung cùng phái đoàn ra đây, đồng bào miền Bắc rất sung sướng. Để mà hoan nghênh phái đoàn miền Nam ruột thịt, thì nói mấy trăm câu, mấy nghìn câu, mấy vạn câu cũng không thể hết được. Tôi xin phép chỉ nói một câu thôi:
Bao giờ Nam Bắc một nhà,
Việt Nam đại thắng chúng ta vui mừng”.
Đây là lần gặp cuối cùng đại biểu của đồng bào miền Nam; và là những lời chúc tết cuối cùng Bác dành cho đồng bào, đồng chí miền Nam trong những ngày xuân của dân tộc, đất nước - để lại cho đồng bào, đồng chí miền Nam nỗi niềm nhớ thương Bác vô hạn mỗi khi xuân về, Tết đến.
Cũng mùa xuân năm kỷ Dậu, mùa xuân trước lúc đi xa, Bác đã viết xong bản Di chúc với những lời thiêng liêng để lại cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và muôn đời con cháu mai sau. Trong bản Di chúc có đoạn: “Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”. 48 năm qua, lời căn dặn ấy đã trở thành sức mạnh tinh thần vô giá, thôi thúc toàn Đảng, toàn dân ta vượt qua mọi thử thách, hiểm nguy, đánh thắng các cuộc chiến tranh xâm lược, giành và giữ độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc, vững bước trên con đường đổi mới, hội nhập quốc tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Đón xuân  Đinh Dậu (2017), đọc lại từng câu, từng chữ những lời thơ  chúc Tết cuối cùng và Di chúc thiêng liêng của Người viết cách đây 48 năm (Kỷ Dậu 1969) ta thêm thấy lý tưởng của Bác, tình cảm của Bác vẫn còn mãi với non sông, đất nước. Bác đã, đang và mãi mãi đồng hành cùng dân tộc. Với mỗi người dân Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn là biểu tượng ngời sáng về đạo đức cách mạng, tấm gương hy sinh, hiến dâng trọn đời cho sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc; hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Người không chỉ đấu tranh, mưu cầu cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân, mà còn để lại cho các thế hệ mai sau một di sản tinh thần vô cùng quý báu, đó là Tư tưởng Hồ Chí Minh, Đạo đức Hồ Chí Minh, Phong cách Hồ Chí Minh và Thời đại Hồ Chí Minh.

Thứ Ba, 17 tháng 1, 2017

GIỚI THIỆU TẠP CHÍ CHƯ YANG SIN SỐ 292- tác giả PHẠM MINH TRỊ






ANH VẪN BỒNG BỀNH MÂY TRÔI ĐÁY TRỜI



Còn nhớ lần gặp đầu tiên, một người đặc sệt quê vai kẹp bị cói, áo xộc xệch, ống quần lòa xòa, tóc tai lởm xởm, răng nhe ra mấy cái ở cửa miệng xỉn màu vàng của người nghiện thuốc lào. Trông thấy thế, tôi liền tới làm quen: Này, hình như có gặp anh ở buổi gặp mặt cộng tác viên của báo Dak Lak cuối năm thì phải. Anh ta chựng lại, giây lát ngó nghiêng tôi có vẻ ngạc nhiên rồi lơ đãng buông một câu: Anh nhầm rồi, tôi có viết báo viết chí chi mô? Giọng sệt miền Trung quê miềng. À, ra vậy, mình nhận lầm rồi. Và lần nữa lại gặp cái người này ở buổi hội thảo hay sơ tổng kết công tác hội của Hội Văn học Nghệ thuật Đắk Lắk năm nào đó. Lần này anh ta không kẹp bị cói vào nách nữa mà thay vào đó là một chiếc túi thổ cẩm có quai đeo trên vai. Mọi người đã ngồi đâu vào đấy từng bàn, mở nắp bia bôm bốp, cười nói rổn rảng còn anh lững thững với vẻ phớt lờ vẫn mặc xuềnh xoàng dường như chẳng để ý đến xung quanh. Tôi lại gần, kéo vào ngồi bên cạnh. Ờ ờ… cửa miệng của anh này lại buông ra từng tiếng rời rạc như vậy. Và một lần nữa trong buổi gặp mặt đầu xuân của trí thức và văn nghệ sĩ do Tỉnh ủy và UBND tỉnh Đắk Lắk tổ chức, gặp anh ở trên sảnh của hội trường UBND tỉnh. Vừa gặp, anh phô mấy cái răng xỉn màu và ngoắc tay vào tay tôi, kéo đi đến bàn nhận tiền bồi dưỡng. Anh nhanh nhẩu nói với cô gái đang ngồi ở đó: Này cô, phát phong bì cho anh này đi. Ơ thế anh không nhận à, ờ ờ tôi nhận lúc nãy rồi. Tưởng anh là người quen khô khốc như nắng, như gió, như cát quê anh. Trái lại, với bạn bè, anh nhiệt tình lắm lắm. Lại một lần nữa, trong đợt sáng tác tại Tam Đảo, trong đoàn có cả anh và tôi, một lần tôi có việc riêng nên về trễ quá giờ ăn, vừa gặp ở cầu thang, chẳng nói chẳng rằng anh lại cầm tay tôi kéo xuống nhà ăn và tôi thật sự ngạc nhiên, vào tận bếp anh bưng ra cơm canh bát đũa để trước mặt tôi và nói: Ăn đi kẻo đói. Lần này tôi thật sự cảm động. Ấy! Cái vẻ ngoài của anh dễ làm cho người ta nghĩ khác về anh nhiều lắm. Người nhỏ thó, mặt, mũi, mắt, tai, miệng đều nhỏ, chỉ có vầng trán là rộng, da dẻ màu ruộng đồng, vậy mà sao anh có những tác phẩm ngược hẳn với vẻ ngoài của anh. Anh là nhạc sĩ Sĩ Hùng hội viên Hội Nhạc sĩ Việt Nam, Hội viên Hội VHNT các dân tộc thiểu số Việt Nam, Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật Đắk Lắk, tên khai sinh bố mẹ đặt cho là Nguyễn Sĩ Hùng, quê ở Quỳnh Lưu, Nghệ An, sinh ngày 3-12-1946. Anh đã được Đài Tiếng Nói Việt Nam giới thiệu trong chương trình: Ngôi nhà âm nhạc hồi tháng 4 hay tháng 5 gì đó năm 2016. Buổi giới thiệu hôm đó của Đài, tôi tiếc lắm vì vừa nghe được mấy phút chương trình đã kết thúc.
Anh từng là chiến sĩ chiến đấu ở thành Quảng Trị. Ai cũng biết rồi, ở đó là những trận đánh cam go, ác liệt vô cùng, ta và địch giành nhau từng ngọn cỏ, từng milimet đất, đáy sông Thạch Hãn còn ôm giữ biết bao những người chiến sĩ anh hùng thời ấy. Anh lại nhe mấy cái răng xỉn màu ra cười như trẻ được người lớn cho kẹo, anh nói: Miềng may quá, tí tị nữa là mạng mất, một lần mò vào trinh sát, vừa ra đến hàng rào dây thép gai bỗng một quả pháo lạc đánh rầm tung mình bay qua hàng rào cao hơn 5 mét, lần đó anh em tung tin mình có võ nhẩy rào siêu hạng. Và anh say sưa kể về những kỷ niệm thời quân ngũ thiếu thốn vô cùng về vật chất mà dư thừa về tình anh em, đồng đội, đồng chí. Chính những ngày ác liệt ấy mà trong anh đã rung lên những nốt nhạc đầu tiên, đã run rẩy những khuông nhạc ban đầu. Những khi giải lao, anh luôn ôm chiếc đài bán dẫn áp vào tai mà nghe từng bài hát của Đài Tiếng nói Việt Nam. Mà lạ, anh nghe đến đâu hình dung ra đến đấy từng dòng nhạc, từng quãng phân cao thấp. Anh bảo hồi ấy miềng có biết chi mô về nhạc lý, những khái niệm: khuông, nốt, phách, cao độ, trường độ… còn xa lạ lắm. Chính giai đoạn từ năm 1968 đến năm 1975 là giai đoạn cho anh cơ duyên tiếp cận âm nhạc, là giai đoạn khơi gợi mầm mống năng khiếu âm nhạc của anh. Những chiến dịch ác liệt ở Khe Sanh, đường 9 Nam Lào, 82 ngày đêm ở thành cổ Quảng Trị, những đợt anh đi bảo vệ các cán bộ văn nghệ đi vào vùng địch hậu là những trải nghiệm sinh động nhất để sau này anh bật nở những lời ca nốt nhạc. Thời gian anh là chiến sĩ biệt động thuộc Tỉnh đội Quảng Trị là thời gian quyết định anh gắn bó với âm nhạc suốt đời. May mắn cho anh, ngay từ những ngày ác liệt ấy anh đã được gặp các nhà văn, nhà báo, nhạc sỹ nổi tiếng như: Nguyễn Minh Châu, Cao Tiến Lê, Phạm Vũ, Huy Thục, Văn Dung, Lê Lan, Trọng Loan, Doãn Nho… Từ đó mầm năng khiếu và sự say mê âm nhạc có điểm tựa vững vàng để sau này cất cánh. Và hoa âm nhạc đầu tiên của anh đã nở. Đó là Bài ca Quảng Trị anh hùng sáng tác 1973, rồi Khi xe qua cầu Bến Hải, và Tuần tra trong đêm Đông Hà sáng tác 1975. Các ca khúc này có mặt đều đặn trong các đợt hội diễn và được các nhà chuyên môn, dư luận đánh giá khá cao. Theo một số nhạc sỹ nhận xét: Bước đầu anh đã định hình được phong cách và có ý thức kết hợp chất liệu âm nhạc của dân ca Bình Trị Thiên với ca Huế, đã lóe lên những tia độc đáo riêng có của chính bản thân mình. Do thành công của nấc thang ban đầu ấy, anh được chú ý và năm 1976 vào học Khoa Sáng tác Trường Quốc gia âm nhạc Huế. Nhờ những tháng năm cần mẫn ở trường mà năng khiếu của anh ngày càng được đắp bồi và khẳng dịnh. Thời gian này giúp anh có cái nhìn soi chiếu qua lại mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn.
Năm 1982, anh được điều động vào Đoàn Ca múa dân tộc thuộc Ty Văn hóa Đắk Lắk. Những năm này, cuộc sống của anh và gia đình thực sự khó khăn, lận đận. Như đã nói ở trên, vẻ ngoài của anh luộm thuộm nay càng luộm thuộm hơn, ăn mặc xộc xệch, người càng nhỏ thó, răng vẩu hơn, da sậm nâu nên ai đó có cái nhìn thiếu thiện cảm. Có chuyện rất buồn cười và đau lòng, anh từng bị 4 lần lên xe rồi mà còn bị đuổi xuống (lời của anh) giữa đường trong những lần đi thực tế sáng tác vì người ta tưởng anh là nhân viên bảo vệ đi theo cho vui. Ấm ức lắm, anh từng rơi nước mắt, hồi bom đạn rơi vãi quanh mình có bao giờ anh khóc, vậy mà bấy giờ anh khóc. Anh học được chữ NHẪN đến tận cùng. Ở đời mất cái này lại được cái kia, cuộc đời công bằng và nhân ái lắm, dĩ nhiên trong một thúng gạo nếp cẩm vẫn có vài hạt sạn sao tránh khỏi. Nhờ những lần đối xử không đẹp ấy mà anh đem đến cho mọi người ca khúc Cánh cò trên cao nguyên từng được ca sỹ Tuyết Thanh thể hiện trên làn sóng của Đài Tiếng nói Việt Nam và ca sỹ Mai Sao biểu diễn trên Đài Truyền hình Việt Nam. Có thể nói ca khúc này trả lời cho những ai có cái nhìn phiến diện về một con người. Tài năng tuyệt nhiên không phụ thuộc vào vẻ bên ngoài của người đó. Đương nhiên nếu vẹn cả hai thì còn luận bàn gì nữa. Anh viết bài này, cũng gửi gắm một điều rằng: Anh được cấp trên điều động lên Đắk Lắk chỉ khao khát làm đẹp cho xứ sở hoang sơ, đầy bí hiểm, cuốn hút này mà thôi, tuyệt nhiên không có ý nhỏ nào muốn mổ một hạt lúa, một hạt tiêu, hay một hạt cà phê nào đâu. Trong bài hát này có một điều độc đáo: ở Tây Nguyên thường chỉ nói về cà phê, cao su, tiêu, đất đỏ ba-zan chứ ít ai nhận cảm cánh cò như một biểu tượng đẹp của vùng đất cơ man bí hiểm, hoang sơ này. Đây chính là sự độc đáo, riêng có trong bút pháp nghệ  thuật biểu hiện âm nhạc của anh mà các nhạc sỹ tên tuổi như Phan Huỳnh Điểu, Lư Nhất Vũ, Hoàng Hiệp, Nguyễn Cường thậm chí cả nhà thơ Yến Lan cũng đều công nhận. Từ những chuyến đi thực tế kết hợp với những cơ sở lý luận mà anh được học ở Trường Quốc gia âm nhạc Huế, đặc biệt có sự góp ý, động viên chân thành của các nhạc sỹ đàn anh giàu kinh nghiệm mà anh có vở nhạc múa Cô gái giao liên do nhạc sỹ Đinh Long Ta biên đạo, nghệ sỹ ưu tú Vũ Lân chỉ huy. Nội dung ngợi ca sự dũng cảm, mưu trí, thông minh của cô gái giao liên người dân tộc Êđê trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ. Đáng nhớ tổ khúc này được ra mắt trong buổi đón tiếp Phó thủ tướng Tố Hữu và Đại tướng Võ Nguyên Giáp về thăm Đắk Lắk và được đánh giá rất cao.
Những tưởng con đường nghệ thuật âm nhạc của anh sẽ ngày càng bung nở, cuộc sống ngày một đỡ chật vật, nào ngờ phải 10 năm sau anh mới lại xuất hiện. Khoảng 10 năm này (1982- 1992) là thời gian anh gặp nhiều khó khăn, trắc trở nhất. Vì nhiều lý do, anh về nghỉ chế độ một lần. Anh tâm sự, thực ra tư tưởng, quan điểm về nghệ thuật âm nhạc của anh với các vị cấp trên trực tiếp của anh có gì đó ngược chiều và không đồng nhất, do đó những nốt nhạc của anh quay ngoắt sang dòng nhạc Thánh ca, anh viết cho các xứ đạo ở Nghệ Tĩnh để lấy thù lao nuôi ba con đang đi học, vì thế người ta hiểu nhầm anh là phần tử bất mãn, phản động, rõ khổ cho cái thân còm cõi của anh. Nhưng bình tĩnh đọc lại cho kỹ các tác phẩm âm nhạc anh viết cho các xứ đạo ngày ấy cũng chỉ duy nhất một mục đích tốt đời đẹp đạo mà thôi. Đây ta hãy đọc lại lời ca: Sóng rì rào lặng mà nghe, sóng dập dềnh lặng mà nghe. Nghe câu thanh bình, tỏa dòng xanh, ngát xanh. Nắng chiều về, hạt vàng rơi, gió chiều về gọi thuyền bơi, bơi trong êm đềm, bồng bềnh mây trôi đáy trời. hoặc Bến mới đón em về, hòa trong dòng đời… Rõ ràng, trước sau anh luôn quý yêu, trân trọng cuộc đời, biết ơn cuộc đời đã dung dưỡng anh và cho anh chút ít tài năng âm nhạc để anh có cơ hội điểm tô thêm nét đẹp cho đời. Và điều đó là đúng, được khẳng định trong cuộc thi viết về Buôn Ma Thuột mừng 20 năm ngày giải phóng (1975-1995) tác phẩm Voi ơi vào hội đạt giải Nhì (không có giải Nhất). Từ dấu chấm son này giúp anh dẻo dai, bền bỉ hơn để tiếp tục đi trên con đường âm nhạc. Và anh đường hoàng là Hội viên Hội Nhạc sỹ Việt Nam, Hội Văn học Nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam, Hội VHNT Đắk Lắk. Liên tiếp các ca khúc ra đời, nổi bật: Nhớ đêm xoang (thơ Hữu Chỉnh), tác phẩm này đạt Huy chương Vàng ca múa nhạc chuyên nghiệp toàn quốc năm 2002; Hát với đảo xa – độc tấu đàn đá, đạt Huy chương Vàng năm 2008; giải Ba của Hội Văn học Nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam với ca khúc Yêu người trồng cà phêƠi em Kon H’rinh; giải Khuyến khích của Hội Nhạc sỹ Việt Nam với Phiên chợ Ea TamHãy cưới ta về nàng ơi; cả hai lần Giải thưởng VHNT Chư Yang Sin của tỉnh Đắk Lắk  lần I, và II anh đều đạt giải Nhì. Nhìn thế đủ thấy sự sáng tạo, sức lực của anh bỏ ra  dọc con đường nghệ thuật âm nhạc đáng quý đến nhường nào.
Những điều viết về anh có thể chưa nói hết cái âm thầm chịu đựng, sự lận đận trắc trở trong cuộc đời anh nhưng khẳng định được rằng: Trước sau anh vẫn là một nhạc sỹ tràn đầy sức sáng tạo, thừa sự mê say để bước tiếp những bước trên khuông nhạc cuộc đời. Mong rằng hễ gặp là thấy anh sảng khoái bên ấm trà và chiếc điếu cày dài bằng sải tay gác bên cạnh, mỗi khi nâng điếu lên mà sòng sọc, sòng sọc ngửa cổ lên trời, hai mắt lim dim phun dòng khói trắng say ngất của vị thuốc lào Vĩnh Bảo, miệng nhô ra mấy cái răng xỉn màu. Ơn trời anh bước sang tuổi 70 rồi.




GIỚI THIỆU TẠP CHÍ CHƯ YANG SIN SỐ 292- tác giả TRẦM THANH TUẤN





CON NGƯỜI VŨ TRỤ TRONG BÀI "TỰ TÌNH"
CỦA HỒ XUÂN HƯƠNG DƯỚI GÓC NHÌN
VĂN HÓA TRUNG ĐẠI



Thời trung đại, con người chủ yếu sống bằng nông nghiệp. Thế nên con người thường dựa vào tự nhiên, khai thác tự nhiên để sống. Do vậy con người trung đại tin ở sự thống nhất trong thế giới. Thiên nhiên là bạn tri âm tri kỷ của con người. Người phương Đông xưa quan niệm: thiên nhiên có mối giao hòa giao cảm với con người bởi con người là một "tiểu vũ trụ" có quan hệ tương thông tương cảm với "đại vũ trụ" - thiên nhiên ngoại giới (Thiên nhân tương cảm, thiên nhân tương dữ, thiên nhân tương chi, thiên nhân hợp nhất). Con người là một yếu tố trong mô hình vũ trụ: Thiên - Địa - Nhân hợp thành "Tam Tài". Con người sống trong vòng "Thiên phú địa tái" (Trời che, đất chở). Thế đứng của con người trong vũ trụ là "Đỉnh thiên lập địa" (Đầu đội trời chân đạp đất). Do quan niệm con người và thiên nhiên có mối giao cảm đặc biệt như thế nên thiên nhiên cũng là thiên nhiên hữu linh, hữu tâm, hữu tình "Vạn vật hữu linh". Mặc dầu có những "lệch pha", thế nhưng trong thế giới thơ Hồ Xuân Hương cũng xuất hiện với một mật độ khá cao hình tượng "con người vũ trụ" phổ biến của thơ trung đại mà bài "Tự tình" là một trong những bài thơ tiêu biểu.
Câu thơ đầu tiên: "Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn" đã xuất hiện yếu tố thời gian. Yếu tố thời gian này được cảm nhận qua tâm trạng của con người vũ trụ. Thời gian của đất trôi chảy vần xoay theo một quy luật bất biến, thế nhưng ở đây thời gian trong cảm nhận của nhân vật trữ tình lại như đang trôi qua rất nhanh, gấp gáp. Một chữ "dồn" đã cực tả tâm trạng thảng thốt xót xa của một con người đang trực diện với dòng chảy thời gian. Trong câu thơ này nhiều người hiểu: Tiếng trống canh đánh dồn dập. Chúng tôi hiểu khác. Ngày xưa khi đánh trống để báo hiệu sự chuyển giao giữa các canh trong đêm ("đêm năm canh, ngày sáu khắc") người ta thường đánh chậm thong thả từng tiếng chứ không đánh dồn dập. Nên chăng ta cần hiểu câu thơ thể hiện cảm nhận của nhân vật trữ tình về thời gian qua nhanh nên độ dài giữa các canh như được thu ngắn lại, như được dồn lại?
Nếu câu thơ đầu khắc họa tâm thế trực diện với thời gian vô thủy vô chung của đất trời của con người vũ trụ thì câu thơ tiếp theo lại khắc họa tâm thế trực diện với khoảng không bao la của vũ trụ của nhân vật trữ tình: "Trơ cái hồng nhan với nước non". Trong thơ Hồ Xuân Hương, thi đề con người trực diện với không gian bao la của vũ trụ, với hiện thực cuộc sống xuất hiện khá phổ biến ở một số bài thơ thông qua cụm từ "với nước non" hay "với non sông":
- Bảy nổi ba chìm với nước non (Bánh trôi nước)
- Hay có tình riêng với nước non (Hỏi trăng (I))
- Nín đi kẻo thẹn với non sông (Dỗ người đàn bà khóc chồng)
Trong câu thơ nữ sĩ đã tạo dựng phép đảo ngữ kết hợp với việc đưa từ "trơ" thành một nhịp riêng. "Trơ" là "ở vào tình trạng chỉ còn lẻ loi một mình". "Trơ" là "cô" là "độc" của thơ chữ Hán. Nhưng nếu với những độc, cô của thơ chữ Hán, các thi nhân chủ yếu khắc họa tâm thế của một tiểu vũ trụ muốn hòa nhập vào đại vũ trụ bao la rộng lớn thì với "trơ", nữ sĩ lại muốn tạo dựng sự đối lập, đối lập để cảm nhận sự tồn tại, đối lập để gia tăng cảm giác cô đơn quạnh vắng trong tâm hồn.
Đọc thơ ca Trung Quốc đặc biệt là thơ Đường ta có thể thấy con người luôn có khát vọng hòa vào không gian gian bao la của đất trời. Các động tác cúi (phủ), ngửa (ngưởng), nhìn quanh (tứ vọng, tứ cố), lên cao (đăng cao)… làm cho con người giữ được mối liên hệ bền chặt với ngoại giới bao la vô cùng tận. Khi con người bất đắc chí thì con người tìm về với thiên nhiên tạo vật, vũ trụ như tìm về với nguồn cội.
Hành động ngưởng (ngửa mặt lên) để tìm sự đồng điệu với thiên nhiên mà thiên nhiên và lòng người vốn tương ứng tương cảm. Thế nên con người đang đau đáu vì cuộc duyên không trọn vẹn thì vầng trăng kia cũng chỉ có thể là vầng trăng khuyết giữa trời đang dần xế bóng.
Chén rượu hương đưa say lại tỉnh
Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn
Nâng li rượu sầu, cạn chén đơn côi nhưng ngẫm ra sầu đâu được giải, nỗi buồn nào có vơi? Mô thức nhân vật trữ tình uống rượu dưới trăng để tìm sự đồng điệu đồng cảm với thiên nhiên tạo vật không phải là sáng tạo đặc hữu của nữ sĩ họ Hồ mà đây vốn là một mô thức truyền thống trong thơ ca xưa. Ngày xưa Lí Thái Bạch đã từng nâng chén mời trăng trong bài thơ nổi tiếng Nguyệt hạ độc chước:
Cử bôi yêu minh nguyệt,
Đối ảnh thành tam nhân.
 (Cất chén mời trăng sáng/ Trước bóng thành ba người).
Để rồi tứ thơ này cũng đã được Nguyễn Trãi tiếp thu trọn vẹn trong tác phẩm của mình sau này:
Rượu đối cầm đâm thơ một thủ,
Ta cùng bóng liễn nguyệt ba người.
(Thuật hứng VI)
Cùng một thi đề thế nhưng ở hai câu thơ của Hồ Xuân Hương tâm thế con người vũ trụ vẫn có những nét khác biệt. Nếu như trong thơ Lí Bạch, Nguyễn Trãi, trăng là bạn tri âm thì trong Tự tình trăng lại có một sự tương đồng về thân phận. Vầng trăng tròn xưa nay vốn biểu trưng cho sự đoàn viên, sự tròn vẹn trong tình yêu. Chẳng phải thế mà khi viết về cuộc chia li giữa Thúy Kiều và Thúc Sinh, Nguyễn Du cũng đã tạo dựng hình ảnh vầng trăng xẻ nửa như hàm chứa một sự dự báo:
Vầng trăng ai xẻ làm đôi
Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm đường
Vầng trăng trong thơ nữ sĩ là vầng trăng đã xế bóng, đã sắp tàn nhưng trớ trêu thay vầng trăng ấy lại là vầng trăng khuyết như một biểu trưng cho sự lận đận trong tình duyên của nữ sĩ
Nếu bài thơ chỉ dừng lại, ở những tiếng thở dài cho thân phận hẩm hiu thì ắt hẳn chưa phải là Hồ Xuân Hương. Từ trong nghịch cảnh, thơ Hồ Xuân Hương vẫn bừng lên một sức sống mãnh liệt. Những câu thơ dưới đây của nữ sĩ như một kiểu mẫu cho mối quan hệ hữu cơ giữa ngoại cảnh và tâm cảnh.
Xiên ngang mặt đất rêu từng đám
Đâm toạc chân mây đá mấy hòn
Hai câu thơ được xuyên thấm bởi "cái nhìn vũ trụ". Hai câu thơ thể hiện sự tương ứng tương cảm giữa tâm trạng của chủ thể trữ tình và thiên nhiên ngoại giới. Rêu từng đám, đá mấy hòn, những sự vật nhỏ bé như ngầm biểu trưng cho cái nhìn về thân phận. Thế nhưng những sự vật nhỏ bé ấy đâu chịu để mình bị khuất lấp trước sự biến thiên, tuần hoàn của Tạo hóa, mà lúc nào chúng cũng động đậy, muốn vươn lên mạnh mẽ từ sức sống nội tại của bản thân chúng. Thế nên ở đây câu thơ không chỉ tả cảnh mà chủ yếu là để "minh họa" cho bức tranh tâm trạng của con người. Nữ sĩ vẫn ý thức được thân phận của người phụ nữ dù có nhỏ bé nhưng vẫn ngời lên một sức sống mãnh liệt, một khát khao hạnh phúc đời thường nhưng cũng không kém phần cháy bỏng. Những "xiên ngang", "đâm toạc" đã dựng đứng câu thơ lên và tạc vào văn chương trung đại những nét khắc thật sâu tiếng nói khẳng định khát vọng sống mãnh liệt, khát vọng khẳng định mình của nữ thi sĩ họ Hồ.
Bi kịch trong thơ Hồ Xuân Hương, có lẽ đau đớn nhất vẫn là bi kịch của sự tự ý thức. Giá như Xuân Hương cũng như biết bao thân phận người phụ nữ khác bị khuất lấp trước sự lừa phỉnh của những "tam tòng tứ đức" mà phục tùng tuyệt đối trước những hằng số mà thời đại đã ban phát cho họ thì có lẽ Hồ Xuân Hương sẽ bớt đau đớn hơn. Đằng này hơn ai hết, bà ý thức trọn vẹn những bất công mà xã hội đã dành riêng cho phận đàn bà. Thế nên hai câu thơ cuối bật lên một sự ý thức về thân phận, về cuộc đời, về tuổi xuân trong "cái nhìn vũ trụ": đối sánh sự hữu hạn của đời người và sự trường cửu của đất trời
Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại
Mảnh tình san sẻ tí con con
Trong câu thơ đầu của hai câu kết có hai chữ "Xuân", chữ "Xuân" thứ nhất nên hiểu là tuổi xuân, chữ "Xuân" thứ hai nên hiểu là mùa xuân. Vậy nên trong nội bộ câu thơ đã tạo nên một sự đối sánh: "Xuân đi" – "xuân lại". Tuổi xuân của con người một đi không bao giờ trở lại trong khi mùa xuân của đất trời vẫn tuần hoàn miên viễn trong vòng xoay : Xuân – Hạ - Thu – Đông. Cuộc đời con người hữu hạn mà thời gian của đất trời thì vô hạn. Thời gian của một đời người, một kiếp người như Đỗ Phủ từng nói: "Nhân sinh thất thập cổ lai hy"  - Xưa nay con người bảy mươi tuổi đã là hiếm. Trong Cung oán ngâm khúc, Nguyễn Gia Thiều cũng đã từng suy tư trước sự hữu hạn của đời người:
Trăm năm nào có gì đâu,
Chẳng qua một đám cỏ khâu, xanh rì.
Sánh với sự trường cửu của vũ trụ thì đời người thật ngắn ngủi biết bao. Thời gian vốn dĩ là một thế lực nghịch đối với tuổi trẻ và hạnh phúc lứa đôi.  Thời gian qua đi đồng nghĩa với tuổi trẻ cũng phôi pha theo tháng ngày. Từ xa xưa con người đã ý thức được điều này. Khuất Nguyên, người nước Sở thời Chiến Quốc, nhà thơ vĩ đại đầu tiên trong văn học sử Trung Quốc đã từng cảm khái trước bước đi của thời gian:
Cốt dư nhược tương bất cập hề,
Khủng niên tuế chi bất ngô dữ.
Triệu khiên tì chi Mộc lan hề,
Tịch lãm châu chi túc mụ.
Nhật nguyệt hốt kỳ bất yêm hề,
(Sợ chẳng kịp ta càng mê mải/ Tuổi xanh nào có đợi gì ai./ Mộc lan sớm cắt trên đồi,/ đông thanh chiều hái bên ngoài bến sông./ Ngày tháng vút đi không trở lại/ Vừa xuân qua đã lại thu sang - Ly Tao - Khuất Nguyên)
Thời hiện đại, Xuân Diệu còn đang sống ở thời gian tuổi thanh xuân mà đã phấp phỏng nỗi lo sẽ già đi theo năm tháng:
Mau lên chứ vội vàng lên với chứ,
Em em ơi tình non sắp già rồi.
(Giục giã -Xuân Diệu )
Cùng chung nỗi buồn kim cổ, cùng đa mang một nỗi suy tư trước sự vần xoay vô tình của đất trời Xuân Hương càng chua chát hơn khi ứng chiếu sự vô tình của tự nhiên trước thân phận riêng tư của bản thân mình:
Mảnh tình san sẻ tí con con
Sống kiếp chồng chung "Chém cha cái kiếp lấy chồng chung – Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng" Hồ Xuân Hương hơn ai hết ý thức được bản chất thực của cuộc hôn nhân này. Tình yêu thực sự cho nó vốn đã nhạt nhòa đằng này còn bị "san sẻ" để chỉ còn "tí con con" như một sự mỉa mai chua chát cho phận hẩm duyên ôi của cuộc đời nữ sĩ họ Hồ.
Nói tóm lại, mặc dầu có những "biến tấu", phá cách trong quan niệm nghệ thuật, điều làm nên sự mới mẻ thanh tân trong thế giới nghệ thuật thơ Nôm Hồ Xuân Hương, thế nhưng quan niệm nghệ thuật truyền thống, quan niệm nghệ thuật về con người vũ trụ, luôn là một hằng số lớn trong văn chương trung đại vẫn có những ảnh hưởng đến các sáng tác của Hồ Xuân Hương. Tuy nhiên cũng cần nói thêm quan niệm này trong các sáng tác của bà đã bớt dần dấu ấn của triết học mà nó gắn chặt với những tâm trạng cụ thể, cảnh huống cụ thể trong cuộc đời bà và cũng vì lẽ đó nó gần gũi, tự nhiên và dễ đi vào lòng công chúng bình dân, nơi lưu giữ trọn vẹn những sáng tác của Hồ Xuân Hương.








Thứ Hai, 16 tháng 1, 2017

GIỚI THIỆU TẠP CHÍ CHƯ YANG SIN SỐ 292- tác giả NGUYỄN VIỆT CHIẾN



THƠ VIỆT NAM 30 NĂM ĐỔI MỚI –
NHỮNG ĐÓNG GÓP CHO VĂN HỌC ĐƯƠNG ĐẠI

Cho đến những thập niên đầu của thế kỷ 21, có nhiều ý kiến cho rằng, dường như thế kỷ “vàng son” của thi ca Việt Nam đã đi qua. Và rằng thời đại của thi ca đã dần tắt trước sự “xâm lăng” của các loại hình văn hoá mới trước thời đại văn minh hội nhập toàn cầu của công nghệ thông tin và các phương tiện nghe-nhìn.
Có lý lắm, khi cộng đồng văn hoá Việt hôm nay không mấy người chú ý đến thơ đương đại và sự phát triển lặng lẽ của nó trong dòng chảy chung của văn học Việt Nam trong ba thập kỷ gần đây.

Lý giải sao đây khi thơ mỗi ngày một ít người đọc?
Phải chăng tình yêu thơ ca không còn đất sống trong tâm hồn con người hiện đại, khi “cơn lốc” của đời sống công nghiệp, đời sống đô thị và cái gọi là lối “sống gấp” đang nghiền thời-gian-sống của chúng ta thành từng mảnh vụn? Đã có lúc tôi tự hỏi: “Thơ cần cho ai - cần cho mọi người hay chỉ cần cho riêng ta?”. Nếu nói thơ cần cho mọi người thì đấy là một điều không thực tế, vì số đông hôm nay không đọc thơ (cũng không phải vì không đọc thơ mà đời sống tinh thần của họ nghèo nàn). Trong cộng đồng văn hoá Việt hôm nay chỉ có một thiểu số còn đọc thơ (đa phần là học sinh, sinh viên và người làm thơ đọc thơ của nhau). Vậy thơ sống thế nào trong thời đại “kỹ thuật số”, trong thời “điện tử hoá” đang rút dần đất sống của thơ?.
Đã nhiều đêm tôi băn khoăn tự hỏi mình: phải lý giải sao đây khi thơ hiện đại mỗi ngày một ít độc giả? Phải chăng tiếng nói của nhà thơ không phải là tiếng nói của số đông trí thức (chưa nói đến quảng đại nhân dân)? Phải chăng tiếng nói của nhà thơ chưa rung động, chưa lôi cuốn được mọi người? Phải chăng các nhà thơ đã khép chặt cõi thơ riêng của mình, không để cho những âm vang nhọc nhằn, bức bối của đời thường có cơ hội lên tiếng? Phải chăng nhà thơ chưa tìm ra con đường đưa cái đẹp thi ca đến với trái tim con người hiện đại? Chúng ta cùng đi tìm lời giải.
Theo tôi, thơ đương đại đang tồn tại 2 dòng chảy chính. Có thể tạm gọi dòng chảy thứ nhất là dòng thơ không chuyên nghiệp với sự có mặt đông đảo của những người yêu thơ, những người làm thơ bình dân đang sinh hoạt ở rất nhiều câu lạc bộ thơ ở nhiều thôn, xóm, phường, xã, quận, huyện… tại các địa phương trên địa bàn cả nước. Về dòng chảy này, tôi chợt nhớ tới một câu thơ của nhà thơ Lê Văn Ngăn “Chúng tôi vô danh nhưng chúng tôi nhiều hơn những người nổi tiếng”. Có thể nói chưa có thời kỳ văn học nào của đất nước ta lại có một nền thơ bình dân rộng rãi và sôi động đến như hiện nay, sự bùng nổ ấy chính là nhờ công nghệ in ấn và xuất bản rất phát triển hiện nay khi ai cũng có thể bỏ tiền túi để công bố những sáng tác thơ của mình (rẻ nhất cũng là bằng cách đánh máy vi tính và photocopy).
Tôi nghĩ đây cũng là chuyện bình thường, là sự phát triển tất yếu của một xã hội ngày càng cởi mở, nhất là khi dân tộc chúng ta là một dân tộc yêu thơ và ở nhiều giai đoạn đã coi việc làm thơ như một hành động yêu nước như ông chủ báo Nam Phong ngày xưa đã từng nói: “Truyện Kiều còn, tiếng ta - còn, tiếng ta còn, nước ta còn”. Đấy tạm gọi là dòng chảy thứ nhất.
Dòng chảy thứ hai là dòng thơ chuyên nghiệp với sự hiện diện của những người viết chuyên nghiệp, những nhà thơ đã thành danh. Đây là dòng thơ chủ lưu làm nên diện mạo của thơ ca Việt Nam đương đại với những tinh hoa và tài năng thơ thật sự. Nhưng có một thực tế nghiệt ngã, những người nổi tiếng như họ, những năm qua lại đang “chìm nghỉm” trong một biển người làm thơ vô danh hiện nay. Chúng ta phải nhìn thẳng vào sự thật này khi các nhà thơ chuyên nghiệp phải từ 4-5 năm (có người cả chục năm) mới xuất bản được một cuốn thơ, mỗi cuốn in khoảng chừng 500 bản, lại để biếu nhau là chính vì thơ bán được rất ít hoặc không bán được.
Vậy thì lớp độc giả nào sẽ đọc thơ của chúng ta với 500 bản in như vậy nếu không phải chỉ có chính những người làm thơ đọc của nhau? Và lời giải đáp cho vấn đề “Làm thế nào để tăng cường mối liên hệ giữa bạn đọc và tác giả thơ” thì theo tôi phải chăng, chính là việc Hội Nhà văn Việt Nam phải tìm cách nào đó để cái biển người yêu thơ, làm thơ vô danh kia trở thành độc giả của thơ chúng ta, hay nói cách khác dòng thơ chuyên nghiệp phải làm thế nào đó để tìm tòi, đổi mới và nâng cao chất lượng thơ lên để có thể hướng đạo, để nối cầu với dòng thơ không chuyên nghiệp. Nhưng có một thực tế khắc nghiệt khác là nếu thơ chúng ta không hay (thứ thơ chuyên nghiệp mà cứ làng nhàng như hiện nay) thì cái biển người làm thơ vô danh kia cũng sẽ quay lưng, không thèm đọc chúng ta đâu. Lúc ấy, họ quay ra đọc thơ của nhau và nền thơ bình dân có nguy cơ trở thành dòng chủ lưu chính của nền văn học đương đại (?).
Theo tôi, chúng ta chỉ có hai muơi bốn chữ cái-hai mươi bốn con đường mở ra hai muơi bốn dòng sông ngôn ngữ. Vào cái thời ma lực của chữ viết, với máy in, mực in và giấy in, khiến nhiều người mộng mơ và đa cảm đều muốn trở thành thi sĩ. Không ai có quyền cấm họ trở thành các nhà thơ với cách thức gieo trồng cảm xúc để cho ra đời một thứ sản phẩm gần giống với thơ, và nhiều khi dứt khoát không cần phải là thơ, cũng chẳng sao! Nhưng sau mọi xúc động duy mỹ - thơ là sự kết cấu của ngôn từ để tư tưởng bay lên, và bởi khát vọng của yêu thương, đau đớn và mất mát của chúng ta nhiều khi không cần tới thứ cảm xúc trữ tình cũ kỹ và nghèo nàn ý tưởng, vì chúng ta chỉ có hai mươi bốn chữ cái - hai mươi bốn dòng sông mở ra hai mươi bốn con đường ngôn ngữ.
Thơ đổi mới với chiều kích của các suy tưởng lớn
Trong ba thập niên qua, vấn đề đổi mới thơ đang được đặt ra như một nhu cầu bức thiết và tự thân của mỗi cá thể sáng tạo. Tuy một số khuynh hướng cách tân trong thơ trẻ gần đây mới chỉ là bước tìm tòi vỡ vạc ban đầu, nhưng vận hội mới của thơ ca Việt Nam đang mở ra trong các thập niên đầu của thế kỷ XXI. Và chúng ta có quyền hy vọng về một “làn sóng mới” sẽ làm thay đổi diện mạo thơ Việt Nam cả về hình thức nghệ thuật và tinh thần sáng tạo.
Cho đến nay, đã hơn 40 năm sau chiến tranh và 30 năm đổi mới, cùng với bước ngoặt đổi mới quan trọng của nền văn học Việt Nam đương đại, cả một thời kỳ mới đáng ghi nhận của thơ ca đất nước đã mở ra với sự xuất hiện của hàng loạt tác giả, tác phẩm mới mang dấu ấn của một giai đoạn văn học sau chiến tranh. Điều đáng mừng, cả thế hệ các nhà thơ đã trưởng thành và khẳng định tên tuổi trong chiến tranh cũng hăm hở và nhiệt thành bước vào giai đoạn cách tân - đổi mới tự thân thơ của mình trong giai đoạn này.
Tôi không có ý muốn so sánh các thế hệ nói trên, bởi họ đều có cùng một sứ mệnh thi ca thiêng liêng là phấn đấu cho sự trường tồn của nền văn học dân tộc và non sông gấm vóc này. Cũng bởi họ trong những năm tháng sung sức nhất của “đời văn” mình, đã cống hiến tài năng và nhiệt huyết để làm nên diện mạo văn học của mỗi một thế hệ. Và trong “ngôi nhà chung” của nền văn học đất nước, mỗi thế hệ cầm bút đều có những “chân dung” văn học làm nên “gương mặt” riêng của thời đại mình. Họ đã nối tiếp nhau làm nên sự đa dạng, phong phú của bản sắc văn hoá dân tộc qua mỗi thời kỳ.
Thực sự những nhà thơ xuất hiện trong giai đoạn này đã là một thế hệ đổi mới quan trọng của văn học đương đại Việt Nam. Trong số họ có những người đã cầm bút từ trước đó, nhưng thành tựu thơ ca chính lại xuất hiện và được ghi nhận sau 1975. Theo tôi, trong số những thành tựu nổi bật của thế hệ những nhà thơ hiện đại Việt Nam sau 1975 là họ đã có những bước chuyển mới rất cơ bản về nội dung phản ánh, về nghệ thuật và thi pháp. Thơ của họ gần gũi với cuộc đời hơn, gần với thiên nhiên, gần gũi với tâm sự buồn vui của con người hơn, thơ của họ nghiêng về phía những cá thể và là tiếng nói thân phận. Ngòi bút thơ của họ chủ động hơn, tìm tòi vươn tới bề sâu của những vỉa tầng còn ẩn khuất của đời sống tâm trạng và tinh thần con người để khai thác và hướng tới những hiệu quả nghệ thuật mới. Các nhà thơ này đã làm chúng ta hết sức ngạc nhiên về những tư duy thẩm mỹ mới và hiện đại. Thơ của họ đã vượt thoát khỏi những khuôn sáo ước lệ của vần điệu để thắp lên những hình tượng thơ mới. Không gian thơ được mở rộng hơn, mở sâu hơn, với tới các chiều kích của những suy tưởng lớn mang tính khái quát cao. Và, trong trường - thẩm - mỹ này, những vấn đề tưởng chừng lớn lao lại được khái quát lên từ những cái rất tầm thường, nhỏ bé của đời sống quê hương máu thịt hàng ngày.
Có thể nhận ra, các nhà thơ thời kỳ đổi mới không mấy khi phải gồng mình lên để nói những điều lớn lao, cũng viết về những cuộc chiến tranh đã đi qua, nhưng thơ họ đã hướng tới những số phận, khắc hoạ được những nỗi đau mất mát, nó thấm thía và lay động lòng ngưòi hơn trước. Nỗi buồn được cảm thông và chia sẻ trong thơ họ rất thật, nó mệt mỏi, nhức đau như chính cuộc đời vậy. Đọc thơ họ, chúng ta có cảm giác vừa đi qua một cánh rừng rậm đặc, trong bóng đêm ẩm ướt của những câu thơ đang tuôn trào như một sự hối thúc ám ảnh. Thơ của họ như bản giao hưởng của rất nhiều khái niệm, cảm giác, suy ngẫm và ý tưởng - cùng tấu lên tràn đầy sức tưởng tượng lạ lẫm. Những day dứt của đời thường để lại không ít vết thương trong trái tim nhà thơ. Sự thật khắc nghiệt mà họ phải nếm trải đã dội đập vào thơ họ đến tức ngực - làm thơ họ bừng tỉnh. Đọc thơ họ, ta như được tham dự vào những nỗi khổ đau và hy vọng đã làm nên gương mặt của mỗi số phận. Thơ của họ như được chắt gạn ra từ nỗi khổ đau của quê hương, xứ sở trong chiến tranh cùng sự trắc trở của phận người sau mấy chục năm trận mạc, nhưng vượt lên tất cả là tình yêu đất nước luôn cháy bỏng trong con tim các nhà thơ.
Có một điều, trong 30 năm đổi mới thi ca, có nhiều khi thơ mới nhất là thơ tự do khó đọc hơn thơ cũ, không chỉ vì năng lượng tư tưởng của thơ có nhiều dạng thức mới, mà còn bởi sự chối bỏ vần điệu của thơ tự do khiến cho nhiều độc giả quen thưởng thức thơ có vần điệu thấy khó vào, khó hiểu. Do vậy, các nhà thơ đương đại cần làm sao đó để cho độc giả yêu thơ hôm nay có thể làm quen với một cách đọc-thơ-mới, một cách cảm xúc mới.
Có một điều rất đáng ghi nhận trong giai đoạn văn học đổi mới, đó là sự đóng góp quan trọng của lớp nhà thơ trưởng thành từ những năm tháng chiến tranh, nhưng vẫn giàu nội lực sáng tạo trong những tìm tòi đổi mới chính thơ mình trong giai đoạn hậu chiến. Không chỉ cách tân về mặt hình thức nghệ thuật, lớp nhà thơ này đã đổi mới bản chất đời sống của thơ bằng chính những cảm nhận về cuộc đời trầm luân, khó nhọc này bằng những suy tưởng đớn đau và nhân bản về một thế giới đang phải tự hàn gắn những đổ vỡ sau những đêm dài chiến tranh và xung đột bạo lực. Vẻ hiện đại trong thơ họ nhiều khi lại chính là sự giản dị và tin yêu con người, tuy thơ của họ không có nhiều những liên tưởng khiến ta bất ngờ, nhưng lại giàu suy ngẫm với các ý tưởng lạ. Thơ của họ không nghiêng hẳn về phía trình bày những khám phá nội tâm đang day dứt, ám ảnh con người hiện đại, mà họ luôn hướng sự tìm tòi của mình về phía đời sống lớn lao ở xung quanh chúng ta. Và cái nét mới nổi trội trong thơ của họ chính là những cuộc đối thoại rất sinh động và mang màu sắc triết lý của nhà thơ với thiên nhiên, với cuộc sống, với con người… để bồi đắp cho vẻ đẹp chân-thiện-mỹ mà thi ca ngàn đời vẫn hướng tới.
Có thể nói thế hệ thơ xuất hiện trong 30 năm đổi mới là lực lượng chủ đạo của nền thơ đương đại Việt Nam, trên vai họ gánh nặng thi ca của một thế hệ đổi mới đang được khai sáng với sự chín chắn và kinh nghiệm tích luỹ được cùng thời gian. Các nhà thơ này đã mang lại những phát hiện mới, có giá trị khắc hoạ bằng ngôn ngữ của thơ, nỗi đau của những phận người - cái mà chỉ ít năm trước đây, không ít người làm thơ còn né tránh. Họ đã chạm được vào cõi sâu của tâm hồn, không chỉ bằng sự phá vỡ sắc cạnh của lý trí mà còn bằng cảm xúc của trái tim, điều đó làm cho người đọc thấy gần gũi và đồng cảm với nhà thơ, khi độc giả không bị áp đặt bởi một chủ thể ngôn ngữ có ý định mà được tham dự cùng tác giả vào những cảm xúc được tái hiện từ cái chất liệu đời thường còn rớm máu và khó nhọc này. Sự dồn nén, bức xúc của tâm trạng bật dậy trong họ những câu thơ không chịu bằng phẳng và sự chuyển tải của những nỗi niềm, những ẩn ức đang còn khuất lấp trong tâm hồn thi sĩ đã tự tìm cho mình một hình thể mới, một nhịp vận động riêng trong cách tổ chức câu chữ và những bài thơ đổi mới của họ ra đời.
Tôi có cảm tưởng, các nhà thơ của 30 năm đổi mới mang trong tâm hồn mình những sinh-quyển-thơ đặc biệt và những bài thơ của họ, nhất là thơ tự do có thể ví như những bức tranh sơn dầu khổ lớn bằng ngôn ngữ thi ca với chất - liệu - máu - thịt mang hơi thở nóng hổi của đau đớn, khát vọng trong đời sống con người và trong đời sống đất nước những năm tháng này nhất để làm nên bức tranh sống động của thi ca thời đổi mới. Theo tôi, những bài thơ hay nhất, mới nhất của họ cho thấy những năng lực thơ tiềm tàng với những mong muốn đưa thi ca Việt Nam đến gần với những cách tân của thi ca thế giới. Và trong thi ca của họ, điều làm nên sự khác biệt giữa một nhà thơ và một triết gia chính là cái nhìn triết lý của nhà thơ được “mã hóa” bằng ngôn ngữ thi ca - ngôn ngữ của biểu tượng cảm xúc và tính suy tưởng.
Trong những năm qua, có một số ý kiến cho rằng “Thơ Việt Nam thời đổi mới có nền mà không có đỉnh” -  vậy chúng ta hãy thử xem xét một vài vấn đề về nền thơ này. Theo tôi, trong 40 năm sau chiến tranh, mặt bằng chung của dân trí của chúng ta đã đựơc nâng lên nhiều và mặt bằng chung của văn học cũng xuất phát từ một cái nền khá cao. Ở đây, tôi muốn nói đến mặt bằng sáng tạo văn học (tầm tri thức của người viết) và mặt bằng thưởng thức văn học (tầm tri thức của người đọc) đều được nâng lên. Điều này cho thấy nền thơ của chúng ta ngày càng đòi hỏi một cách nhìn nhận nghiêm túc và khắt khe hơn.
Qua trao đổi, tôi được biết không ít người sáng tác hôm nay lại cho rằng cái ý kiến "Thơ Việt Nam thời đổi mới chỉ có nền mà không có đỉnh” là một nhận xét áp đặt vội vã, thiếu cơ sở lý luận và không công bằng. Bởi đúng ra, thơ Việt Nam thời kỳ đất nước đổi mới đã có bước phát triển, chuyển biến quan trọng cả về lượng và chất so với trước đó. Sự chuyển biến này đã mang đến những thành tựu mới trong thơ ca Việt Nam. Nhưng phải chăng ở thời điểm này, chúng ta còn thiếu những “con mắt xanh” tinh tường và kiệt xuất trong phê bình văn học (cỡ như Hoài Thanh của thời kỳ tiền chiến 1930-1945) nên đã không “phát hiện” ra những tác giả lớn và những “đỉnh cao” mới ?.
Đổi mới thơ là để tồn tại
Có một thực tế thơ ca mà chúng ta nhận thấy trong những thập niên cuối của thế kỷ 20 vừa qua, người đọc đã quá quen tai với những vần điệu du duơng mòn mỏi của cảm xúc trong thơ. Sự lạm phát đến “quá tải”, đến bão hoà của thơ tình (xin nhấn mạnh là loại thơ tình không hay) đã gây cảm giác nhàm chán, làm người đọc thất vọng và làm công chúng quay lưng lại với thơ. Giờ thì tất cả mọi người đều có thể bỏ tiền túi để công bố những tâm sự “nỉ non lai láng” của mình, hoặc những “triết lý vặt” theo kiểu “đánh đố” bằng thơ.
Theo tôi, thơ hay không cần phải giải thích, lĩnh hội nhiều, cứ đọc lên là ta thấm ngay được cái phần tâm linh hồn xác của câu chữ. Thú thật, là một người làm thơ, nhưng tôi rất ngại đọc những bài thơ tình nhạt nhẽo, đọc thấy nhang nhác giống nhau về nỗi niềm, tình ý với những hình ảnh xưa cũ hoặc làm duyên câu chữ với các loại thơ tình vật vã, thơ tình trái ngang,  thơ tình cô liêu, thơ tình u uất, thơ tình phá phách đề cao dục vọng thân xác… đua nhau lạm phát các kiểu “tình tang muôn thủa”. Thứ thơ dễ dãi “đong đưa” này dường như không có sức sống cùng thời gian.
Hành trình khắc nghiệt của thơ ca sẽ loại bỏ những thứ thơ đó. Thời gian là thước đo sòng phẳng nhất đối với mọi giá trị sáng tạo tinh thần của con người. Trong thơ Việt thời gian qua, không ít những bài thơ vui rất giả, rồi buồn cũng rất giả. Ngôn ngữ thơ ấy như một thứ hàng “giả” làm người đọc khó chịu. Phải chăng độc giả của thơ ngày một ít đi cũng bởi lẽ ấy (?).
Theo một số nhà nghiên cứu thì: “Bắt đầu từ thế hệ Tiền chiến, thơ Việt Nam đã dùng cảm xúc và âm điệu để thoát khỏi những quy tắc cứng nhắc của thơ cổ điển. Thơ đã kéo người đọc ra khỏi đời sống và chính người làm thơ cũng lánh xa đời sống. Thơ trở nên bí ẩn và nhà thơ cũng giống như nhà soạn nhạc, viết ký âm bằng chữ. Sau đó, một số nhà thơ thuộc thế hệ chống Pháp, chống Mỹ và thế hệ sau 75 đã tìm cách thoát khỏi ảnh hưởng của thơ tiền chiến bằng cách đưa đời thường vào thơ (thay thế thi pháp cảm tính bằng thi pháp đời thường), bằng cách làm mới ngôn ngữ thơ và ngôn ngữ cảm xúc, nhưng phải chăng hình như cho đến nay không ít nhà thơ chúng ta vẫn chưa thoát ra khỏi vùng ảnh hưởng đó…” (?).
Tôi xin nhắc lại, trong “ngôi nhà chung” của nền văn học đất nước, mỗi thế hệ đều có những chân dung thơ ca riêng phản ánh thời đại của mình. Và những giá trị văn học của các thời đại đều tồn tại một cách bình đẳng trong ngôi nhà văn học của đất nước, mỗi thế hệ cầm bút đều có một diện mạo riêng, nên họ không giống nhau và không thể lẫn vào nhau. Vì thế, tôi nghĩ các nhà thơ hôm nay nên ủng hộ chủ trương đổi mới, và cách tân thơ một cách quyết liệt hơn. Rõ ràng chúng ta không thể viết cũ như những năm trước đây, thế hệ thơ mới phải tìm cho mình con đường đi vượt lên mọi thiên kiến và sự trì trệ ngăn cản con đường phát triển của văn học hiện đại, để thiết lập những giá trị mới về nghệ thuật thi ca hiện đại.
Và chỉ có thế, chúng ta - những nhà thơ xuất hiện sau năm 1975 mới thật sự có được những gương mặt thơ mới tiêu biểu của thế hệ mình và có những đóng góp quan trọng cho sự phát triển của nền văn học Việt Nam đương đại. Vì thơ hay có ở mọi nơi, chỉ trừ những thứ thơ không có tài năng và những người cố “nghiến răng mưu toan” trở thành thi sĩ, những người cố tình bịa ra thơ. Có thể người làm thơ vẫn “cầy đi xới lại” đến tận cùng trên mảnh đất mà thi sĩ bao đời đã gieo gặt. Nhưng để có được những bài thơ hay “ngang ngửa” với những thi sĩ đang vỡ vạc trên mảnh đất khác, chúng ta cần phải tư duy những thủ pháp nghệ thuật với những hình tượng mới mà hình thức vần luật chỉ là cái cớ để chuyển tải một ý tưởng hiện đại.

Nhưng tôi nghĩ “đổi mới thơ” không có nghĩa là tiến đến một thứ thơ không mang lại gì cho chúng ta ngoài sự mù mờ, rắc rối đến nỗi không cắt nghĩa nổi một cảm xúc, không khắc hoạ được một hình ảnh để từ đó xây dựng nên một cách sáng rõ và nhân bản hơn những hiện tượng nằm trong phạm trù ý thức và vô thức của mỗi cá thể sống. Thơ ca là phương tiện để hiểu biết và chung sống giữa những con người thuộc các thế hệ khác nhau. Thơ ca không bao giờ hành trình đơn phương giữa những con người, mặc dù nó luôn phải tự dấn thân cô đơn trong sáng tạo. Thơ ca phải là cuộc đối thoại của con người với thời đại của họ. Nói theo nhà thơ Hy Lạp Yanot Rixot: “Nếu công việc của nhà thơ có được một số giá trị nào đấy, thì những giá trị ấy biểu hiện ở chỗ - ta đã đi vào những đau khổ của kiếp người để mang lại hy vọng cho mọi đớn đau - Thơ đó là nền nghệ thuật chia sẻ với con người”.

Chủ Nhật, 15 tháng 1, 2017

GIỚI THIỆU TẠP CHÍ CHƯ YANG SIN SỐ 292 THÁNG 12 NĂM 2016 tác giả NGUYỄN THỊ MINH NGUYỆT





SỨC SỐNG HỒI SINH TRONG TÂM HỒN MỊ –
SỰ KẾT HỢP CỦA NHỮNG CHI TIẾT ĐỜI THƯỜNG



Tô Hoài là cây bút có sức sáng tạo dồi dào của làng văn chương hiện đại, một trong những cây đại thụ tỏa bóng xuống nền văn học Việt Nam. Cả cuộc đời ông bền bỉ không ngừng sáng tác, một lòng gắn bó với nét đẹp văn hóa, thuần phong mĩ tục của mỗi vùng miền trên khắp nẻo quê hương. Ngòi bút ấy thiên về mảng hiện thực cuộc sống, con người vùng Tây Bắc. Trong đó, thành công nhất phải kể đến tác phẩm Vợ chồng  A Phủ -  bức tranh chân thực về số phận bi thảm của người dân nghèo miền núi dưới ách áp bức của phong kiến và thực dân, vừa là bài ca về sức sống và khát vọng tự do và hạnh phúc con người. Khi đi sâu vào tìm hiểu tác phẩm, bạn đọc thường chú tâm tới những hình tượng điển hình, bàn về sức sống tiềm tàng trỗi dậy sau bao năm tháng lầm lũi mà lãng quên sự góp sức của những chi tiết nhỏ nhặt. Thế nhưng, chính những hình ảnh nghệ thuật  này đã tạo nên những đợt sóng lòng, những ám ảnh khôn nguôi trong việc khắc họa sắc nét sự hồi sinh của Mị. Qua đó, làm nổi bật lên bút pháp truyện ngắn bậc thầy của nhà văn. Đó chính là những “hạt bụi vàng góp phần tạo nên tác phẩm lớn”: thân trâu, thân ngựa; tiếng sáo gọi bạn yêu, men rượu trong đêm tình mùa xuân và ngọn lửa đêm đông...
1. Chi tiết thân trâu thân ngựa
Không phải ngẫu nhiên trong tác phẩm, Tô Hoài nhiều lần lặp lại hình ảnh “thân trâu, thân ngựa”, tần suất xuất hiện cũng khá dày đặc “Mị tưởng mình cũng là con trâu, mình cũng là con ngựa”, “con ngựa, con trâu làm còn có lúc”, “Mị thổn thức nghĩ mình không bằng con ngựa”, “đời người đàn bà lấy chồng nhà giàu ở Hồng Ngài thì một đời con người chỉ biết đi theo đuôi con ngựa của chồng”... Điều đáng bàn là khi Mị chưa trở thành “con dâu gạt nợ” của thống lí Pá Tra, còn được sống hạnh phúc trong một gia đình thực thụ  thì những hình ảnh này không hề xuất hiện. Đây chính là một ẩn ý nghệ thuật. Tiếp nối hình ảnh Mị tìm đến lá ngón để kết liễu đời mình, hình ảnh thân trâu, thân ngựa được khắc họa đậm nét. Những ngày đầu, Mị vẫn nuôi ý định tự tử nên cần đến lá ngón, còn nay Mị đã gắn đời mình với thân trâu ngựa thì lá ngón xuất hiện mà làm chi bởi “Sống lâu trong cái khổ, Mị quen khổ rồi”. Cuộc sống giữa chốn ngục thất trần gian này đã làm tâm hồn Mị héo hon, cô bị chà đạp cả về thể xác lẫn tinh thần. Còn đâu một cô gái  tràn đầy nhựa sống, tâm hồn lơ lửng theo những tiếng sáo vi vu trầm bổng, thay vào đó là một thân xác chai lì, vô cảm. Từ ngày cha qua đời trong Mị không còn ý định tự tử nữa. Cuộc sống bị áp bức, bóc lột tàn nhẫn đã tiêu diệt cô gái năm xưa và trả lại một thân xác hoàn toàn tê liệt. Mị không ý thức được việc mình vẫn là con người, Mị đang đồng nhất hóa chính mình với thân trâu, ngựa lùi lũi, chỉ  lo quần quật làm việc. Có lẽ trong cô bây giờ chỉ thường trực một ý niệm duy nhất, ý niệm an phận với kiếp nô lệ, không còn nữa dẫu chỉ là đôi chút ý chỉ phản kháng, ý thức về cuộc sống tự do mà chỉ là “con ngựa phải đổi cái tàu ngựa nhà này đến ở cái tàu ngựa nhà khác, ngựa chỉ biết việc ăn cỏ, biết đi làm mà thôi”. Suy cho cùng, mượn hình ảnh thân trâu, ngựa nhà văn muốn đề cập tới cuộc sống dưới đáy cùng xã hội của những kiếp nô lệ không thời hạn của Mị và của bao thế hệ phụ nữ đã bị dắt về “trình ma” nhà thống lí thì “chỉ biết đợi ngày chết rục xương ở đây thôi”.
2. Tiếng sáo dẫn tới men rượu trong đêm tình mùa xuân
Khung cảnh mùa xuân chốn Hồng Ngài vẫn rực rỡ với “cỏ gianh vàng ửng”, với “gió và rét rất dữ dội”, “những chiếc váy xòe”  đem phơi trên mỏm đá trông như “cánh bướm rực rỡ”, vẫn nô nức tiếng nói cười của lũ trẻ thơ ngây... Mùa xuân ấy sẽ chẳng có gì khác lạ bởi nó cũng chỉ là vòng tuần hoàn của tạo hóa. Nhưng, xuân của  Hồng Ngài năm ấy độc đáo ở chỗ có sự góp mặt của nét đẹp văn hóa điển hình xứ Tây Bắc... Tô Hoài đã rất dụng công đi vào sáng tạo và tái hiện hình ảnh đầy chất thơ, có sức ám ảnh lớn, đó là tiếng sáo gọi bạn yêu trong những đêm tình... Tại sao tiếng sáo lại có sức tác động mạnh mẽ tới ý thức của Mị? Bởi lẽ một thời xuân xanh đã chảy trôi trong quá vãng của Mị có sự gắn kết với tiếng sáo ấy. “Mị thổi sáo giỏi, thổi lá cũng hay như thổi sáo. Có biết bao người mê, ngày đêm thổi sáo đi theo Mị”. Từ ngày về nhà thống lí, Mị  làm việc quần quật đâu còn thời gian để mà lắng nghe tiếng sáo thân thương. Tâm hồn dần chai sạn, héo hon, Mị đang dần đi về cõi chết.
Chi tiết tiếng sáo đặc biệt được nhà văn quan tâm, khơi nguồn từ tiếng sáo sự hồi sinh của tâm hồn Mị dần bừng tỉnh. Tiếng sáo được miêu tả theo trình tự không gian cụ thể, âm thanh tiếng sáo càng réo rắt, lòng Mị lại thêm phần nôn nao. Dõi theo tiếng sáo trầm bổng chính là bắt đầu cuộc hành trình tìm lại cô Mị ngày xưa... Hình ảnh cô gái ngồi quay sợi cạnh tàu ngựa lúc nào cũng chỉ biết “cúi mặt, mặt buồn rười rượi” mà nay bỗng có những hành động lạ lùng... Đầu tiên, tiếng sáo lấp ló ngoài đầu núi, Mị thấy trái tim mình “thiết tha, bổi hổi” rồi nhẩm thầm lời người  thổi sáo:
“Mày có con trai con gái rồi
Mày đi làm nương
Ta chưa có con trai con gái
Ta đi tìm người yêu...”
Bài hát ấy bấy lâu nay Mị không hát, điệu sáo ấy lâu rồi Mị chưa thổi vậy mà nay vẫn nhớ, vẫn thuộc. Chứng tỏ Mị không quên, Mị không hề vô cảm. Đó là bằng chứng sắc nét cho sức sống đang dần được đánh thức bởi tiếng sáo.
Tiếng sáo làm Mị mạnh mẽ hơn, Mị thoát khỏi cái lớp xác vô hồn ấy bằng hành động “nổi loạn nhân tính”. Mị tìm đến rượu, nhưng đâu phải để tìm vui mà là để giải sầu “Mị uống ực từng bát. Rồi say”. Mị uống như nuốt cay, nuốt đắng, nuốt căm hận vào lòng. Cố uống cho quên nhưng lại càng nhớ. Một khi mà rượu không còn đủ sức làm người ta quên thì nó lại quay lại thức tỉnh con tim và lí trí con người đến không tưởng.  Sự bất bình thường trong mạch tư duy ấy đã nói lên tất cả. Sự chịu đựng có hạn, đã đến lúc cần bùng cháy. Rượu và tiếng sáo chính là chất men say đánh thức phần đời đã mất của Mị. Rượu làm sống dậy một quá khứ ngập tràn niềm vui, hạnh phúc. Giờ đây Mị không còn lặng câm nữa. Dù Mị đang nhìn “Người nhảy đồng, người hát” nhưng lòng  thì “đang sống về ngày trước”.  Mị đang lãng quên hiện tại và nhớ về quá khứ.
Khi tiếng sáo gọi bạn “văng vẳng” đầu làng thì Mị nhớ lại thời trẻ với bao hạnh phúc. Mị đang sống về với những ngày trước, không gì có thể ngăn cản được “Mị thấy phơi phới trở lại, trong lòng đột nhiên vui sướng như những đêm tết ngày trước”. Còn có hạnh phúc nào hơn thế khi bản thân tìm lại được chính mình tươi đẹp của quá khứ? Tô Hoài đã thâm nhập vào sâu thẳm tâm tư nhân vật để vẽ nên bức tranh cảm xúc, gợi niềm trắc ẩn trong lòng độc giả trước những biến đổi tâm lí nhân vật sâu sắc. Không còn là “con rùa lùi lũi nuôi trong xó cửa”, Mị đã phá vỡ bức tường vô cảm khao khát hướng về thiên đường tuổi trẻ. Nhưng đồng thời hình ảnh lá ngón cũng hiện hữu trong tâm tư, Mị ao ước “có nắm lá ngón trong tay lúc này Mị sẽ ăn cho chết ngay chứ không buồn nhớ lại nữa, nhớ lại nước mắt chỉ ứa ra”. Muốn chết cũng là sự biểu hiện của sự sống.
Không có lá ngón trong tay, tâm trạng Mị chợt rẽ hướng . Khi mà tiếng sáo gọi bạn yêu “lơ lửng” ngoài đường đang réo rắt mời gọi, cả thiên đường hạnh phúc của mùa xuân đang rộn rã bên kia khe cửa nhỏ. Tâm hồn, trái tim Mị cũng háo hức theo khiến Mị không thể ngồi yên được nữa. Sau đó, Mị lại “ngồi xuống giường, trông ra cái cửa sổ bằng lỗ vuông mờ mờ, trăng trắng”.Chỉ cách nhau cái ô cửa nhỏ kia thôi mà sao cuộc sống khác nhau đến vậy? Nếu ngoài kia là hương sắc sục sôi, ánh sáng tràn đầy, là thiên đường tuổi trẻ thì trong này chỉ là ngục tối tăm, Mị cũng chỉ là thân trâu, phận ngựa mà thôi. Mị nhìn về phía ánh sáng, nghĩa là tâm hồn cô thèm lắm cảm giác “Vượt ngục”, cảm giác được tự do, được vẫy vùng đôi cánh hòa vào thiên nhiên ngập tràn xuân sắc. Nhận thấy mình còn trẻ “Mị trẻ lắm. Mị hãy còn trẻ”  cho nên “Mị muốn đi chơi”... Lòng yêu tự do đang cháy lên!
Cuối cùng, tiếng sáo ở thế chiếm lĩnh và cứ thế “dập dờn trong đầu Mị” để từ đó đi đến quyết định táo bạo “bỏ nhà theo những đám chơi”. Cách vượt ngục lặng lẽ nhưng cũng vô cùng mãnh liệt, Mị thắp lên ngọn đèn, xua tan đi tất cả bóng tối u ám đang bủa vây cuộc đời mình. Tác giả miêu tả cảm xúc của Mị lúc này bằng những câu văn ngắn, nhịp văn gấp thể hiện sự ham muốn giải thoát đến tột cùng: “Mị quấn lại tóc. Mị với tay lấy cái váy hoa vắt ở phía trong vách” “Mị sắp đi chơi”... Mị thản nhiên làm mà không quan tâm tới sự hiện diện của A Sử chứng tỏ không gì có thể lớn hơn sức sống đang ùa về...
Ý định vừa nhen nhóm nhưng không thành vì A Sử đã tàn nhẫn dập tắt bằng hành động “xách cả một thúng sợi đay ra trói đứng Mị vào cột”, “A Sử quấn luôn tóc lên cột làm cho Mị không cúi, không nghiêng đầu được nữa”... Nhưng làm sao A Sử có thể trói được tâm hồn đang tự do trong thế giới của khát vọng hạnh phúc kia “trong bóng tối, Mị đứng im lặng, như không biết mình đang bị trói.” Mị vẫn thả hồn theo cuộc chơi.
Có lúc tiếng sáo nhập vào hồn Mị khiến cô vui sướng “vùng bước đi”. Thế nhưng đi sao được khi mà thân xác kia đã bị bao vây bởi dây trói và cô chỉ tỉnh khi “tay chân đau không cựa được”... Cứ rong chơi nữa đi Mị ơi! Tỉnh dậy mà làm gì khi ngắt quãng nhịp mơ vẫn chỉ là tiếng chân ngựa đạp vào vách. Giấc mơ vụt bay, tiếng sáo cũng chẳng thấy, chỉ còn lại trơ trụi chốn hiện tại một kiếp nô lệ bần cùng. Tỉnh rồi. Tỉnh để thấy thân tủi, phận cực, thấy lòng cay, dạ đắng...
Tóm lại, tiếng sáo là chất xúc tác, là hơi ấm tình người mà Tô Hoài nâng niu dành tặng cho cuộc đời cô quạnh của Mị. Hơi ấm tỏa ra từ tiếng sáo tựa men say như ru lòng bạn đọc ấy có tác dụng thổi bay đi lớp tro tàn nguội lạnh, thắp lên tia sáng lẻ loi. Thì ra sức sống tiềm tàng vẫn thường trực trong tâm hồn dẫu cho  Mị không hề hay biết nhưng dưới tác động của ngoại cảnh, niềm ham sống ấy không thể tiếp tục cam chịu cảnh ngục tù, bị giam hãm trong thân xác vô cảm. Sức sống dần hồi sinh và hứa hẹn sự bùng cháy...
3. Ngọn lửa đêm đông
Tự bao giờ hình ảnh ngọn lửa đã trở thành đề tài quen thuộc của văn chương, để rồi từ đời thường hơi ấm bếp lửa hóa thân, biến tấu qua lăng kính nghệ thuật trở thành muôn vàn chi tiết giàu hình ảnh, mang ý nghĩa sâu sắc. Xuôi theo dòng sông văn học Việt Nam có không ít tác phẩm đề cập tới chi tiết ấy, đó là ánh lửa hồng đầy sức sống trong“Chiều tối” của Hồ Chí Minh, ngọn lửa le lói yếu ớt trong đêm trầm buồn nơi phố huyện dưới ngòi bút của Thạch Lam, là ngọn đuốc rực sáng nơi chốn lao tù trong đêm trao chữ - “cảnh tượng xưa nay chưa từng có” được  phác họa qua tâm hồn lãng tử của Nguyễn Tuân, là ngọn lửa hồng rực cháy khắp núi rừng của dân làng Xô Man trong đêm “đồng khởi” chống Mĩ xâm lược... Cũng mượn hình ảnh ngọn lửa, nhà văn Tô Hoài đã dày công xây dựng một chi tiết đầy dụng ý, bếp lửa hồng đêm đông làm tâm hồn Mị hồi sinh. Đó là chi tiết đặc sắc, là cái khoảnh khắc đời thường đi đâu ta cũng thấy cũng gặp nhưng chứa dựng sâu xa trong nó là cả một cuộc đời nhân vật và tồn tại đời đời.
Trong truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” có 4 lần nhà văn nhắc đến chi tiết ngọn lửa và bếp lửa, điều này có mối liên quan mật thiết đến sự hồi sinh trong tâm hồn Mị. Để từ đó ta thấy rõ đằng sau cái dáng lầm lũi, câm lặng và chồng chất khổ đau ấy vẫn tồn tại dẫu chỉ là le lói ngọn lửa của lòng ham sống, của những khát vọng tiềm tàng âm ỉ, sục sôi.
Sự thay đổi  của Mị bắt đầu từ những đêm A Phủ bị trói và nằm trong tình trạng cận kề cái chết. Không gian truyện là những đêm mùa đông lạnh đến buốt xương, khi ấy Mị chỉ biết làm bạn với ngọn lửa. Nhà văn miêu tả “nếu không có bếp lửa sưởi kia thì Mị cũng đến chết héo”. Trong thế giới tù ngục của nhà thống lí, ngọn lửa là bạn tri âm luôn đồng hành với Mị. Có lửa hồng đêm đông Mị mới đủ sức chống chọi lại với “những tiếng tích tắc” của đêm dài. Có ngọn lửa, Mị đỡ đi phần nào, cái buốt lạnh của đêm thâu. Lửa không chỉ sưởi ấm hơi lạnh của ngoại cảnh mà còn sưởi ấm cái lạnh của tâm cảnh, hằng đêm Mị tìm đến nó để mà tâm tình, đối thoại, chia sẻ, vỗ về... Có sự chuyển đổi sắc thái của ngọn lửa trong mạch không gian truyện: Trong đêm mùa xuân, ánh lửa thật yếu ớt, Mị phải “xắn mỡ bỏ đèn cho sáng”, thì nay ánh lửa đêm đông được Mị “thổi phù phù” để ngọn lửa bùng lên. Hình ảnh bếp lửa đêm đông là chi tiết nghệ thuật được Tô Hoài miêu tả 13 lần. Lúc thì ngọn lửa “bập bùng sáng lên”, khi lại “Mị đã thức thổi lửa suốt đêm”, có khi “đám than đã vạt hẳn lửa”...Thế mới biết từ bếp lửa đời, đến ngọn lửa khao khát đã bắt đầu nhen nhóm trong lòng Mị để sau này quyết liệt đến chừng nào. “Những đêm mùa đông trên núi cao dài và buồn” cũng là đêm định mệnh dẫn đến sự gặp gỡ của hai số phận. Một bên là con dâu gạt nợ, một bên là kẻ phạm tội đánh con quan, cả hai đều là thân phận nô lệ của nhà thống lý. Vì tội để hổ bắt mất bò, A Phủ bị Pá Tra trói vào cọc bằng cuộn dây mây, án chết đến với A Phủ chỉ là từng phút, từng giây. A Phủ cứ thế chỉ biết đứng mà chờ chết, cảnh ngộ này thật dễ làm động lòng người, vậy mà dẫu biết có người đang bị trói trên cái cọc sát đó, Mị vẫn thản nhiên lạnh lùng, ngồi thổi lửa huơ tay. Mị chỉ biết có mình với ngọn lửa, thậm chí Mị vô cảm đến tàn nhẫn “nếu A Phủ là xác chết đứng đấy cũng thế thôi.” Chơi vơi trong nỗi đau của mình, Mị bàng quang,  không cần biết, không quan tâm, không đoái hoài đến nghịch cảnh của người khác. Lửa thì sáng mà lòng Mị lại tối! Tâm hồn Mị như tê, như dại ngay cả lúc sưởi lửa, bị A Sử đánh dúi xuống cửa bếp, đêm sau Mị vẫn thản nhiên ra ngồi sưởi lửa như đêm hôm trước. Cho đến cái đêm định mệnh. Khi ngọn lửa bập bùng sáng lên, Mị ghé mắt trông sang cũng là lúc Mị nhận ra “dòng nước mắt lấp lánh bê xuống hai hỏm má đã xám đen lại” của A Phủ. Đó là dòng nước mắt của kẻ đang hấp hối, nước mắt của phận nô lệ đang bất lực trước số phận. Và giọt nước mắt ấy đủ sức khiến Mị chạnh lòng, thấm thía nỗi cùng cực của thân trâu, phận ngựa mà chính bản thân Mị, A Phủ và còn đó bao kiếp thê thiếp đã “trình ma” nhà này phải hứng chịu. Thương mình rồi thương người, A Phủ sao mà giống Mị thế! Mị nhớ lại nỗi uất ức của đời mình năm trước cũng bị trói như thế... “Cơ chừng chỉ đêm nay hoặc đêm mai là người kia chết, chết đau, chết đói, chết rét, phải chết”... Mị bồi hồi nhớ khoảng không gian xưa: “nhớ lại đêm năm trước A Sử  trói mình, Mị cũng bị trói đứng thế kia . Nhiều lần khóc, nước mắt chảy xuống miệng, xuống cổ... không lau đi được!”, nhớ về cái đêm nổi loạn theo tiếng sáo, cũng trong không gian tăm tối này Mị đã bị A Sử tàn nhẫn dập tắt sức sống bằng cả một thúng đay, gợi nhắc về hiện tại thân trâu, phận ngựa mà đời mình đang mòn mỏi bước đi. Đúng là “Trông người lại ngẫm đến mình”. Ánh lửa gợi nhắc về cái chết thê thảm của những phận đàn bà trong nhà này từng bị trói đứng cho tới khi trút đến hơi thở cuối cùng... Từ nhận thức về thân phận kiếp người, Mị nguyền rủa nhà thống lí, Mị nhận thấy “Chúng nó thật độc ác”.  Khi một kẻ đang trong tình trạng mất hết ý thức lại nhận ra nguyên nhân của cái khổ mà đời mình gánh chịu thì đây quả là một cuộc lội ngược dòng của ý thức. Chắc chắn! Từ ngọn lửa đêm đông ý thức sẽ trỗi dậy, sẽ hứa hẹn bùng cháy. Lí trí mách bảo Mị rằng phải cứu A Phủ. Trái tim nhân hậu thôi thúc Mị hành động. Cứu được A Phủ có thể Mị sẽ chết nhưng cô nào đâu thấy sợ, bởi lòng thương người đã lớn hơn tất thảy mọi nỗi sợ hãi. Mị táo bạo. Mị quyết liệt. Mị nổi loạn...
Đám than đã vạc hẳn lửa, bóng tối như bưng nuốt chửng căn nhà. Từ ngọn lửa đời thường, Tô Hoài đã khéo léo đánh thức ngọn lửa của sự sống. Khi mà ánh lửa vật lí dần lẩn khuất trong đám tàn than cũng chính là lúc ngọn lửa tâm hồn bừng tỉnh và bắt đầu ấm nóng. Giữa không gian tối bưng như mực, Mị rón rén bước lại, rút con dao liều mình cắt nút dây mây.  Mị thì  thào giục A phủ “Đi ngay!”, còn mình sững lại, rồi nghẹn ngào. Mị biết khi A Phủ vụt chạy đi đồng nghĩa với bản thân sẽ phải thay thế bị trói trên cái cột kia “liền bị trói trên cái cột ấy, Mị phải chết...” Câu văn diễn tả khoảnh khắc sau phút hốt hoảng của Mị khiến lòng bạn đọc bồi hồi “Mị đứng lặng trong bóng tối”, đối mặt trước hiểm nguy có ai giữ được bình tĩnh mà không hoảng hốt. Câu văn đứng độc lập, chất chứa bao trăn trở suy tư của nhân vật. Trong phút giây đối diện với bản án tử hình, lòng ham sống tưởng chừng đã lụi tắt của Mị trỗi dậy thúc giục Mị chạy theo “Rồi Mị cũng vụt chạy ra”... Khoảnh khắc đứng lặng trong bóng tối tức là quãng đường phía trước Mị còn tối lắm, chưa rõ tương lai sẽ đi về đâu, còn cái cụ thể trước mắt là hiện thực tàn khốc, là cái chết cận kề. Khi Mị vụt chạy theo A Phủ thì đồng nghĩa số phận hai con người ấy đã gắn kết vào nhau. Chạy theo là sự phát triển hợp logic của tư duy nhân vật bởi nếu không chạy thì “ở đây chết mất”. Trời thì tối, nhưng lòng người lại rạng sáng vì vậy mà Mị băng đi mạnh mẽ, dứt khoát. Có ai ngờ rằng Mị cắt dây trói cho A Phủ cũng là vô tình cắt đi sợi dây oan nghiệt trói buộc cuộc đời mình. Ta hãy lắng nghe câu  nói đầy xúc động sau chuỗi dài câm nín mà Mị đã cam chịu: “A Phủ cho tôi đi!... Ở đây thì chết mất”. Những bước chân của hai con người khốn khổ băng qua đêm tối đã mạnh mẽ đạp đổ rào cản uy quyền, thần quyền của bọn lãnh chúa phong kiến bao năm đè nặng lên kiếp nô lệ... Đó không phải hành động mang tính bản năng mà đó là kết quả tất yếu của sức sống tiềm tàng, là sức phản kháng mạnh mẽ của nhân vật. Dù hành động còn ít nhiều mang tính tự phát nhưng đó là tín hiệu đáng mừng báo hiệu sự bừng tỉnh của những nô lệ đang hướng theo tiếng gọi của Cách mạng.
Không quá lời khi khẳng định đây là chi tiết khép mở hai cuộc đời: Khép lại cuộc đời nô lệ tủi nhục và chính thức mở ra một cuộc sống mới đầy tự do. Ánh lửa ấy là năng lượng kích hoạt con người, đi từ yếu đuối, sợ hãi, cam chịu đến mạnh mẽ táo bạo... Từ đây, tác phẩm khép lại trong một kết thúc có hậu, lửa hồng đêm đông ngày ấy đã tắt nhưng nó vẫn mãi tỏa sáng và ấm nóng trong lòng bạn đọc. Ánh lửa của bếp đã lay động, thức tỉnh Mị, bóng tối tạo điều kiện cho chuỗi hành động nên viết về ngọn lửa và đêm tối là dụng ý đặc sắc.
*
Chi tiết nghệ thuật là những yếu tố nhỏ nhặt của tác phẩm tự sự nhưng mang sức chứa lớn về cảm xúc và tư tưởng. Tựa như “nhãn tự”, “thi nhãn” trong thơ làm bừng sáng cho cả thi phẩm, việc xây dựng những chi tiết, hình ảnh có sức khát quát hóa cao, giàu sức gợi trong truyện ngắn đã góp phần tái hiện sinh động những lát cắt của đời sống. Tác phẩm “Vợ chồng A Phủ” đã hoàn thành xuất sắc sứ mệnh ấy, để từ qua một giọt nước ta có thể chiêm ngưỡng những đợt sóng ngầm dưới đáy đại dương bao la. Và còn đó bao cuộc đời thiếu nữ truân chuyên, “hồng nhan bạc phận” như cô Mị của Tô Hoài dẫu không được nhắc tới nhưng luôn sống mãi trong lòng bạn đọc. Sẽ không quá lời khi khẳng định, thiên truyện là truyện ngắn hay viết về một sự đổi đời kì diệu: Những ngày ở Hồng Ngài là nghịch cảnh trớ trêu khiến đôi trai tài gái sắc phải sống kiếp nô lệ ngựa trâu khốn khổ ê chề. Theo bước chân đôi vợ chồng trẻ ghé Phiềng Sa, một cuộc sống mới mở ra, họ đã thật sự trở thành người sống tự do và biết đấu tranh để bảo vệ tự do ấy... Cái tài của nhà văn là qua những chi tiết, hình ảnh tưởng chừng rất nhỏ nhưng đã dựng lại được một chặng then chốt của sự chuyển biến ấy. Điều mà nhà phê bình Nguyễn Quốc Luân từng nhận xét: “Bạn đọc dẫu là người khó tính nhất cũng phải thừa nhận rằng: Việc Mị và A Phủ từ đêm đen nô lệ ra vùng ánh sáng của tự do là hoàn toàn hợp lí, hợp lẽ tự nhiên...”. Thử hỏi, nếu không có sự xuất hiện của những chi tiết như thân trâu ngựa, tiếng sáo, ngọn lửa... việc diễn tả sự hồi sinh của Mị sẽ nghèo nàn tới độ nào sẽ không có một số phận, một áng văn ám ảnh lòng người như vậy xuất hiện trên văn đàn...