Chủ Nhật, 22 tháng 10, 2017

NHỚ MÙA TRUNG THU CŨ tác giả KHÔI NGUYÊN - TẠP CHÍ CHƯ YANG SIN SỐ: 302 - THÁNG 10 NĂM 2017







Tản văn


Trung thu. Lại nhớ cái thuở còn nao nức với tiếng trống ếch của Đội thiếu niên tập ở sân đền vào cuối những năm 60 và đầu những năm 70 của thế kỷ trước. Ngày ấy, tôi còn nhỏ, chỉ thuộc lứa thiếu nhi, nhìn các anh chị đội viên đeo khăn quàng đỏ, đội mũ calo, cứ chiều chiều, rồi tối xuống, lại tập duyệt đội ngũ, tập bước đều theo tiếng trống lệnh, thèm lắm. Cứ tranh thủ lúc các anh chị giải lao là tôi cầm que nhảy vào gõ trộm mấy tiếng trống, rồi chạy. Trống ếch hồi đó làm bằng da trâu nên kêu không hay như trống Đội bây giờ được bịt mặt bằng nhựa và có dây lò xo để tạo âm rung. Sân đền rạo rực bắt đầu từ mùng 10 tháng tám âm lịch cho đến hết đêm rằm tháng tám.
Trước Trung thu, chúng tôi thường tỉ mẩn tích cóp hạt bưởi, phơi khô, bóc vỏ xong lại phơi, xâu lại thành dây. Dây hạt bưởi sẽ là sợi bấc dầu dài để đốt vào đêm Trung thu.
Nhiều trẻ không có tiền đã tự làm đèn Trung thu bằng vỏ quả bưởi. Khi bổ quả bưởi phải thao tác như sau: cắt một lát phía cuống sát với phần múi, khía vỏ thành 4 phần theo chiều dọc của múi đến cách chỗ “rốn” quả cỡ 4 cm, dùng tay tách vỏ và múi. Vậy là sau khi tách múi ra, vỏ quả bưởi vẫn nguyên hình trái bưởi. Bóc bỏ bớt cùi bưởi, mỗi múi vỏ khoét một lỗ để thoát ánh sáng và thông khí. Lấy tăm xiên vào các múi vỏ để kết chúng lại với nhau và dùng dây xâu vào phía trên các múi vỏ để treo lên 1 đầu que, gắn nến vào trong, thế là có chiếc đèn lồng mà đi long rong khắp xóm làng cùng bạn bè. Đến bây giờ, thỉnh thoảng tôi vẫn bổ bưởi theo cách này khiến các con tôi ngạc nhiên và tập làm theo.       
Không mua đèn nhưng Trung thu nào anh em tôi cũng được ông bà hoặc bố mẹ mua cho một ông tiến sĩ. Ông tiến sĩ giấy đội mũ cánh chuồn, trên đầu có lọng che, hai bên có cờ phướn, đằng trước có tàn ghi danh, oai phong lẫm liệt nhưng vẫn khiêm nhường vòng tay trước bụng như đang chúc mừng, đang dâng biểu, đang chuẩn tấu, đang đón chào đồng vai... chúng tôi thường để trước mặt ông tiến sĩ quả thị, quả na, quả chuối, miếng bánh dẻo hoặc bánh nướng, chờ giờ phá cỗ.

Đêm trung thu là vui nhất. Trẻ em tập trung ở một sân nhà nào đó trong xóm có đủ độ rộng để chờ Đội sản xuất của hợp tác xã phát quà. Những trò chơi Thả đỉa ba ba, Đập chạy, Bàng bò, Máy bay tên lửa, Nu na nu nống, Trồng nụ trồng hoa, Làm bánh làm bún, Nhảy dây, Rồng rắn lên mây... cứ rổn rảng. Ngoài sân đền thì cũng rộn ràng tiếng trống của Đội thiếu niên. Được quà rồi là những chiếc đèn tự tạo từ vỏ bưởi cũng có, bằng vỏ hộp sữa cũng có, mua ngoài chợ cũng có... được thắp lên. Con đường xóm vang vọng tiếng gọi rủ nhau đi chơi. Đứa thắp nến, đứa thắp đèn bằng dây hạt bưởi. Vui, cười, hát hò đến khi trăng lên đến đỉnh đầu, người lớn gọi về đi ngủ mới dùng dằng tạm biệt một mùa Trung thu.

Thứ Sáu, 20 tháng 10, 2017

THÀNH CÔNG BƯỚC ĐẦU CỦA MỘT ĐỢT SÁNG TÁC


  Hồng Chiến




Việc Công an tỉnh Đắk Lắk phối hợp với Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh tổ chức Hoạt động thực tế sáng tác tác phẩm văn học nghệ thuật về đề tài Công an nhân dân, từ ngày 12 tháng 6 đến ngày 19 tháng 6 năm 2017 là nhằm hưởng ứng Kế hoạch số 337/KH-BCA-X11 ngày 19/12/2016 của Bộ Công an về tổ chức cuộc vận động “Xây dựng phong cách người Công an nhân dân bản lĩnh, nhân văn, vì nhân dân phục vụ” một cách thiết thực và hiệu quả.
Trong những năm gần đây, hình ảnh anh bộ đội Cụ Hồ, đặc biệt là những tấm gương tiêu biểu của Bộ đội Biên phòng Đắk Lắk được các văn nghệ sỹ thể hiện qua các tác phẩm của mình và đăng tải thường xuyên trên Tạp chí Chư Yang Sin, phát hành rộng rãi trên cả nước; nhưng lại vắng bóng các tác phẩm đề cập đến hình tượng người Công an nhân dân. Vì sao vậy? Một phần do truyền thông mạng đề cập nhiều đến những hình ảnh tiêu cực về lực lượng Công an, gây nên ấn tượng không đẹp, làm ảnh hưởng đến tâm lý sáng tạo của các văn nghệ sĩ. Một lý do nữa, có thể xem là yếu tố chính dẫn đến việc ít có tác phẩm văn học nghệ thuật về đề tài công an vì các văn nghệ sỹ chưa được tạo điều kiện thuận lợi để tiếp cận, lấy tư liệu, tìm hiểu những chiến công thầm lặng của lực lượng Công an nhân dân đóng trên địa bàn tỉnh nhà. Vì vậy đợt phối hợp tổ chức Hoạt động thực tế sáng tác tác phẩm văn học nghệ thuật về đề tài Công an nhân dân lần này nhằm tạo điều kiện cho anh chị em văn nghệ sĩ tỉnh nhà tiếp cận, tìm hiểu các đơn vị, cá nhân đang công tác trong ngành Công an có thành tích nổi bật, tiêu biểu; từ đó sáng tạo nên các tác phẩm văn học nghệ thuật, khắc họa hình ảnh người chiến sĩ Công an nhân dân: Bản lĩnh, nhân văn, vì nhân dân phục vụ.
Tham dự hoạt động sáng tác lần này, Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh mời 19 văn nghệ sỹ trong đó có 08 nhạc sỹ, 08 nhà văn, 02 nghệ sỹ nhiếp ảnh, 01 nghệ sỹ Điện ảnh và đặc biệt có một nhạc sỹ đang công tác trong ngành Công an tỉnh Đắk Lắk là Trung tá Dương Tấn Bình – Phó phòng PX 15, Công an tỉnh Đắk Lắk cùng tham gia trên cả hai cương vị: Vừa là thành viên Ban tổ chức vừa là hội viên.


Quãng thời gian đi thực tế không nhiều, chỉ hơn 7 ngày, các văn nghệ sỹ đã được các đơn vị thuộc Công an tỉnh đón tiếp nhiệt tình, chu đáo, tạo điều kiện thuận lợi để được nghe, được tận mắt chứng kiến công việc thầm lặng của người Công an, cũng như sự hy sinh vô bờ bến của cán bộ chiến sỹ trong ngành khi thực thi nhiệm vụ. Nhiều nhà văn còn xin thêm thời gian gặp riêng một số cá nhân điển hình lấy thêm tư liệu để hoàn thiện tác phẩm của mình.
Sau tròn một tháng (tính đến ngày 18 tháng 7 năm 2017), số tác phẩm văn nghệ sỹ hoàn thành đã làm Ban Tổ chức hết sức bất ngờ về số lượng cũng như chất lượng: 12 ca khúc, 06 bài thơ, 13 tác phẩm văn xuôi, 28 tác phẩm ảnh, 01 đĩa VCD truyền hình đã hoàn thành. Một con số hết sức ấn tượng thể hiện nguồn cảm hứng dồi dào và sự say mê sáng tác của các văn nghệ sỹ về đề tài Công an. Đặc biệt, có tác giả đã hoàn thành 04 tác phẩm ngay trong tháng đầu tiên như: nhà thơ Hữu Chỉnh, nhà văn - nhạc sỹ Linh Nga Niê Kđam, nhà văn Nguyễn Thị Bích Thiêm, nhà văn Mai Khoa Thâu…


Chiều ngày 19 tháng 7, tại Hội trường Công an tỉnh Đắk Lắk đã tổ chức Lễ tổng kết hoạt động thực tế sáng tác và giới thiệu một số tác phẩm văn học nghệ thuật về đề tài Công an nhân dân năm 2017. Bước vào tiền sảnh Hội trường, khách không khỏi bất ngờ với 28 bức ảnh nghệ thuật trưng bày của hai nghệ sỹ nhiếp ảnh Duy Thương và Trần Thị Mùi. Những khoảnh khắc trong công việc hàng ngày của cán bộ chiến sỹ Công an được người nghệ sỹ nhiếp ảnh ghi lại, đã tạo ấn tượng hết sức tốt đẹp với người xem. Trong buổi lễ, cả hội trường được thưởng thức VCD dài 15 phút của nhà văn Thu Hương và nghệ sỹ Công Việt ghi lại những hoạt động của các văn nghệ sỹ trong thời gian Hoạt động thực tế sáng tác tác phẩm văn học nghệ thuật về đề tài Công an nhân dân năm 2017. Tuy đã phát lúc 20 giờ 35 phút ngày 25 tháng 6 năm 2017 trên chương trình Văn học Nghệ thuật của đài Truyền hình Đắk Lắk, nhưng vẫn gây xúc động cho mọi người. Tại buổi lễ, 04 bài thơ và 08 ca khúc đã được trình diễn, để lại ấn tượng tốt đẹp trong lòng người hâm mộ. Nhà thơ Hữu Chỉnh, nhà thơ Lê Đình Liệu mỗi người giới thiệu hai bài thơ khắc họa thành công hình tượng người Công an nhân dân: bản lĩnh, nhân văn. Từ ngữ giản dị mà giàu cảm xúc trong tác phẩm của các nhà thơ đã làm lay động lòng người. Các tác phẩm âm nhạc của các nhạc sỹ: Hồ Tuấn, Linh Nga Niê Kdam, Sỹ Hùng, Quang Dũng, Dương Tấn Bình, Nguyến Hưng, Đình Ty… thể hiện được phong cách người Công an nhân dân không những bản lĩnh, nhân văn mà còn có tấm lòng nhân hậu đối với với nhân dân đã khiến cả hội trường xao xuyến. Những tác phẩm văn học nghệ thuật được giới thiệu tại buổi Lễ tổng kết đã để lại ấn tượng tốt đẹp cho người nghe và chắc chắn cùng với thời gian sẽ lan tỏa rộng hơn đến mọi tầng lớp xã hội, góp phần khẳng định bản chất tốt đẹp của người Công an nhân dân Việt Nam luôn luôn vì nước quên thân, vì dân phục vụ.

Có được kết quả tốt đẹp của chuyến đi thực tế lần này là nhờ sự chỉ đạo sâu sát của lãnh đạo Công an tỉnh, Ban tổ chức và sự giúp đỡ nhiệt tình, tạo điều kiện thuận lợi của các phòng ban, đơn vị mà đoàn đến thực tế như: Phòng An ninh dân tộc, Phòng Cảnh sát hình sự, Phòng Cảnh sát giao thông, Công an thành phố Buôn Ma Thuột, Trại tạm giam Công an tỉnh Đắk Lắk, Phòng Truyền thống Công an tỉnh và Phòng PX 15.
Các tác phẩm trình diễn tại buổi lễ Tổng lễ mới là kết quả bước đầu, các tư liệu, hình ảnh thu được sau chuyến đi này hy vọng sẽ tiếp tục được các văn nghệ sỹ sử dụng, sáng tác những tác phẩm mới để đăng tải thường xuyên trên Tạp chí Chư Yang Sin – cơ quan ngôn luận của Hội VHNT Đắk Lắk.
Phát huy kết quả chuyến đi vừa qua, hy vọng trong thời gian tới Công an tỉnh Đắk Lắk sẽ tiếp tục phối hợp với Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh nhà tổ chức các chuyến đi thực tế đến các đơn vị điển hình, tìm hiểu các chuyên án lớn đã phá, hoặc gặp gỡ cán bộ nguyên là lãnh đạo Công an tỉnh qua các thời kỳ để văn nghệ sỹ có tư liệu tiếp tục sáng tác, khắc họa thành công hình ảnh người Công an nhân dân bản lĩnh, nhân văn, vì nhân dân phục vụ góp phần quan trọng xây dựng hình ảnh đẹp của người Công an nhân dân.




GIỚI THIỆU TẠP CHÍ CHƯ YANG SIN SỐ: 302 - THÁNG 10 NĂM 2017








Thứ Tư, 18 tháng 10, 2017

CUỘC THI VÀ TRIỂN LÃM ẢNH NGHỆ THUẬT ĐẮK LẮK 2017 tác giả KHÔI NGUYÊN - CHƯ YANG SIN SỐ: 301 - THÁNG 9 NĂM 2017





Được sự đồng ý của UBND tỉnh Đắk Lắk, sự bảo trợ của Hội Nghệ sĩ nhiếp ảnh Việt Nam, sự tài trợ của các doanh nghiệp và những người yêu văn học nghệ thuật, đặc biệt là sự hưởng ứng tham gia của các nghệ sĩ nhiếp ảnh, Hội VHNT đã phối hợp với Sở VHTTDL, Trung tâm văn hóa tỉnh Đắk Lắk tổ chức phát động Cuộc thi và triển lãm này. Trong thời gian phát động (từ tháng tư đến đầu tháng tám năm 2017), Ban Tổ chức đã nhận được 368 tác phẩm của 31 tác giả đang sinh sống và làm việc tại Đắk Lắk. Trong đó có 361 tác phẩm ảnh đơn và 7 tác phẩm ảnh bộ. Hầu hết những tác phẩm tham gia dự thi lần này đều bám sát chủ đề  cuộc thi do Ban tổ chức đề ra: “Đắk Lắk trên đường hội nhập và phát triển” với nhiều nội dung phong phú, đa dạng trên các lĩnh vực đời sống xã hội: Công nghiệp, nông nghiệp, ngành nghề truyền thống, an ninh quốc phòng, văn hóa xã hội như: giáo dục, thể dục thể thao, sinh hoạt đời thường, chân dung con người các dân tộc... Đặc biệt là những hình ảnh về lễ hội truyền thống, cà phê là những mảng đề tài hấp dẫn được nhiều nhà nhiếp ảnh tập trung khai thác với nhiều hình ảnh sinh động, chất lượng nghệ thuật cao.
Ngày 10.8.2017, Hội đồng Giám khảo tiến hành làm việc. Thành viên Ban Giám khảo là những nghệ sĩ nhiếp ảnh có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao, có uy tín trong lĩnh vực nhiếp ảnh của cả nước, được Hội Nghệ sĩ nhiếp ảnh Việt Nam giới thiệu. Tổ Giám sát do Ban Tổ chức bầu ra, gồm những nghệ sĩ nhiếp ảnh xuất sắc, có kinh nghiệm; Tổ thư ký và Bộ phận phục vụ là những người đã rất quen với công việc được phân công. Sau một ngày làm việc khẩn trương đầy tinh thần trách nhiệm, thái độ công tâm vì sự nghiệp phát triển nghệ thuật nhiếp ảnh, qua 4 vòng chấm, Hội đồng Giám khảo đã chọn được 84 tác phẩm để Ban Tổ chức triển lãm; qua vòng chấm thứ 5, Hội đồng Giám khảo đã giới thiệu cho Ban Tổ chức 11 tác phẩm vào cơ cấu giải thưởng.
Về kết quả cuộc thi, nghệ sĩ nhiếp ảnh Trần Phong - Ủy viên BCH, ủy viên Hội đồng Nghệ thuật Hội Nghệ sĩ nhiếp ảnh Việt Nam – Trưởng ban giám khảo nhận xét: “Ban Giám khảo đã chọn ra 83 tác phẩm xuất sắc trưng bày triển lãm. Đây là bộ ảnh có chất lượng, đa dạng và phong phú về đề tài với chất lượng kỹ thuật tốt.
Ban Giám khảo đã rất cẩn trọng cân nhắc, xem xét để tìm ra được 11 tác phẩm có chất lượng, bám sát nội dung đề tài cuộc thi để xét trao giải thưởng. Tất nhiên có những tác phẩm có nội dung tốt nhưng yếu tố thẩm mỹ của ảnh chưa cao thì sẽ khó đạt được giải hoặc đạt giải cao.
Điều đáng lưu ý là Cuộc thi và triển lãm lần này, Ban Tổ chức đã nhận được 7 tác phẩm là ảnh bộ, chứng tỏ rằng các tác giả đã dành nhiều công sức, thời gian đầu tư sáng tạo. Trong đó có những bộ ảnh có chất lượng tốt đã được chọn triển lãm và trao giải thưởng. Đặc biệt là bộ ảnh “Ươm cà phê bằng phương pháp nhân giống hữu tính” - tác phẩm đã đoạt giải nhất cuộc thi. Đây là bộ ảnh xuất sắc, thực hiện công phu với kỹ thuật thể hiện hoàn hảo, nhiều ảnh có góc máy đẹp. Nội dung đề tài hướng về chủ để cuộc thi, phản ảnh được tiềm năng, thế mạnh kinh tế của tỉnh.
Tuy nhiên, trong số nhiều tác phẩm không được chọn để trưng bày triển lãm còn nhiều tác phẩm chỉ dừng lại ở mức ghi chép bình thường về đời sống sinh hoạt và con người, ảnh chỉ mang tính chất lưu niệm, chưa đạt hiệu quả về kỹ thuật và nghệ thuật nhiếp ảnh. Còn có những bức ảnh lỗi về kỹ thuật, như thiếu sáng, chưa có độ nét tất nhiên sẽ không được chọn. Nhiều ảnh lặp lại theo lối mòn, mô típ  thể hiện cũ của những tác phẩm đã đạt giải các lần trước sẽ cũng bị loại.”
Kỷ niệm 72 năm Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh 2.9, Lễ Trao giải và Khai mạc Triển lãm được tổ chức tại Trung tâm Văn hóa tỉnh Đắk Lắk.
Trong cuộc triển lãm ảnh nghệ thuật này, ngoài những tác phẩm do Ban giám khảo lựa chọn, giới thiệu để Ban Tổ chức triển lãm còn có sự tham gia hưởng ứng của các tác giả là hội viên Hội Nghệ sĩ nhiếp ảnh Việt Nam tại Đắk Lắk. Đây cũng là điều đáng biểu dương tinh thần nhân văn của lớp nghệ sĩ nhiếp ảnh đi trước khi không tham gia cuộc thi để nhường “sân chơi” này cho những tay máy đã và đang đam mê với nhiếp ảnh nghệ thuật có cơ hội phát triển. Chính vì thế, phần lớn các tác giả tham gia dự thi lần này là những tác giả trẻ. Điều đáng lưu lý là gần một nửa tác phẩm ảnh dự thi, ảnh được chọn trưng bày và đoạt giải là thành viên của Câu lạc bộ nhiếp ảnh Ban Mê.
Qua đây, chúng ta nhận thấy rằng lực lượng sáng tác nhiếp ảnh của Đắk Lắk ngày càng phát triển mạnh. Khuynh hướng sáng tác đa dạng, phương pháp sáng tác phong phú, ngôn ngữ nhiếp ảnh sinh động. Các tác giả trẻ đã thể hiện được ý tưởng của mình trong tác phẩm, truyền đạt đến cho người xem những rung động, những phát hiện, những cái nhìn độc đáo cuộc sống và con người của Đắk Lắk trên đường hội nhập và phát triển.


VAI TRÒ CỦA VĂN HỌC VỚI GIÁO DỤC LÒNG BIẾT ƠN CHO TRẺ tác giả NGUYỄN THỊ KIM HỒNG - CHƯ YANG SIN SỐ: 301 - THÁNG 9 NĂM 2017









Giáo dục lòng biết ơn cho trẻ là một vấn đề quan trọng cần sự quan tâm để giúp trẻ có những tư cách đạo đức tốt được rèn luyện từ nhỏ. Văn học, vốn là môn học khó và việc cảm nhận phụ thuộc nhiều vào mỗi người. Tuy nhiên, sự trợ giúp của thầy cô, gia đình và cả bạn bè là không thể phủ nhận, đặc biệt là qua học văn để giúp trẻ hiểu và có được lòng biết ơn. Có một vấn đề mà trẻ em hiện nay đang rất hạn chế đó là ngại nói lời cảm ơn và thậm chí chưa biết nói lời cảm ơn. Nguyên nhân bắt nguồn từ cách giáo dục của cha mẹ và trẻ không được người lớn nêu gương. Văn học là một phương tiện giáo dục hết sức tinh tế, văn học có khả năng tác động sâu sắc vào tâm hồn, tư tưởng và nhận thức của con người. Mạnh mẽ và kì diệu, Văn học cần được đưa vào giáo dục nhân cách, đạo đức nói chung và giáo dục lòng biết ơn cho trẻ nói riêng trong một xã hội mà con người ngày càng sống khô khan, dửng dưng và ngày càng thiếu đi lòng biết ơn giữa con người với con người.
Ca dao, một thể loại trữ tình dân gian đã có những bài học giáo dục rất cơ bản với con người. Trước tiên, khi con người được sinh ra thì phải có lòng biết ơn với cha mẹ:
Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Một lòng thờ mẹ kính cha
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con
Những bài học đạo đức như biết ơn ông bà cha mẹ, hiếu kính phụng dưỡng cha mẹ được giáo dục cho trẻ thông qua chương trình học tập ở các cấp khác nhau, nhưng có một điều mà chúng ta cần thay đổi đó là nên hiện thực hóa tri thức trong cuộc sống của trẻ. Với trẻ, để ghi nhớ, những thứ trực quan, sinh động sẽ dễ dàng hơn là lí thuyết tồn tại trong sách vở. Việc giúp trẻ thâm nhập những bài học đạo đức từ trong sách vở không hề dễ dàng. Cô giáo có thể giải thích cho bé công ơn cha mẹ lớn lao như trong bài ca dao trên và đã là con cái thì phải biết ơn cha mẹ và hiếu thảo với cha mẹ. Tuy nhiên bài học lí thuyết ấy lại có thể chỉ là một bài học khó hiểu, khó nhớ và tất nhiên là khó có thể trở nên một phần trong nhân cách trẻ. Như vậy một câu hỏi đặt ra là phải làm sao để khi tiếp xúc với văn học, trẻ có thể tiếp nhận được chức năng giáo dục của tác phẩm? Rèn luyện tư cách đạo đức cho trẻ thông qua văn học phải bắt đầu một cách tự nhiên, không nên gò bó cách giáo dục trong phạm vi sách vở, trong môi trường giáo dục của nhà trường. Tình yêu với văn chương phải được hun đúc từ trong gia đình trong đó vai trò của người mẹ hết sức quan trọng. Một người mẹ biết đọc cho con nghe những câu ca dao có nội dung giáo dục nhân cách và giải thích cho con trẻ hiểu thì đó cũng chính là một cách tác động đến trẻ tối ưu hơn cả. Ngoài ra, chúng ta đã thấy hát ru có vai trò không chỉ đối với giấc ngủ của trẻ mà còn tác động đến tâm hồn, nhận thức của trẻ. Khi những bài ca dao nghĩa tình, những lời ru ngọt ngào chan chứa tình cảm của người mẹ biết ru con cất lên thì cũng là lúc chúng ta cho trẻ tiếp nhận chức năng thẩm mĩ, giáo dục của văn học một cách sinh động, sâu lắng nhất. Một học trò có thể quên bài học đạo đức cô giáo đã dạy trong những bài ca dao về công cha nghĩa mẹ nhưng một đứa trẻ sẽ khó có thể quên lời mẹ đã ru, đã hát, đọc và giải thích bài học đó. Những lời ru về tình người của mẹ sẽ ấn tượng với trẻ và để lại dấu ấn trong tâm hồn trẻ, đó là cách bồi dưỡng đạo đức cho trẻ tự nhiên nhất. Đối với trẻ em, sự ảnh hưởng lớn nhất về đạo đức chính là từ môi trường gia đình. Lòng biết ơn với quê hương, xứ sở, biết ơn với những người đã hi sinh cho đất nước, biết ơn thầy cô, ông bà, cha mẹ… phải được dạy cho trẻ thông qua con đường văn học. Nhưng thế giới văn chương phải được tạo dựng một cách tự nhiên trong môi trường gia đình với vai trò của cha mẹ. Cách giáo huấn đạo đức khô khan xưa nay đối với trẻ là những lời dạy dỗ chán ngắt, khó hiểu. Đối với trẻ em, việc giáo dục nhân cách phải khéo léo, tế nhị. Chính vì điều đó mà văn học là một phương tiện giáo dục đem đến cho trẻ sự hứng thú hơn cả mà chúng ta cần phát huy.




Thứ Ba, 17 tháng 10, 2017

TÂY NGUYÊN TRONG THƠ ĐẶNG BÁ TIẾN tác giả NGUYỄN MINH KHIÊM - CHƯ YANG SIN SỐ: 301 - THÁNG 9 NĂM 2017





Chưa có tập thơ nào tôi được đọc trước tập “Hồn cẩm hương” của Đặng Bá Tiến (NXB. Hội Nhà văn 2017) mà chất Tây Nguyên lại đậm đặc, ngồn ngộn, sâu rộng đến thế. Trang nào trong “Hồn cẩm hương” cũng Tây Nguyên. Bài nào cũng Tây Nguyên. Dòng nào cũng Tây Nguyên. Những bài viết ngoài Tây Nguyên vẫn hiển hiện Tây Nguyên. Từng con chữ hiện lên thiên nhiên bao la hùng vĩ núi rừng trùng điệp của Tây Nguyên. Cội nguồn tâm linh phong tục tập quán văn hóa giàu có của Tây Nguyên hiện lên. Sự hồn hậu trong sáng đẹp đẽ nhân ái giản dị chân chất của Tây Nguyên hiện lên. Đời sống tinh thần phong phú mãnh liệt kiêu hùng của Tây Nguyên hiện lên. Tây Nguyên là rễ, là thân, là cành, là lá, là hoa, là quả, là hương vị làm nên hồn thơ, sức sống, sự lôi cuốn hấp dẫn đặc biệt của thơ Đặng Bá Tiến. Nó tràn trong máu ông, trong tâm trí ông, trong nhịp đập trái tim ông, trong tâm khảm, ký ức ông, trong hơi thở của ông. Nó đầy căng, thăng hoa bung ra mặt chữ thành tình đất, tình người, tình đời, tình yêu, tình nghĩa, tri âm, tri kỷ trong thơ ông. Tám mươi mốt bài thơ trong “Hồn cẩm hương” có gần một nửa tên bài thơ là tên người, tên đất, sản vật, văn hóa Tây Nguyên : Tiếng tù và Ma-Kông, Sê-rê-pốc mơ và thực, Lời chiêng từ đất, Ea Súp, Khúc xuân chép ở Bản Đôn, Nước mắt tượng nhà mồ, Chuyện của Ma-Té, Chuyện về Hồ Lắk, Yang Prông, Nét xuân Tây Nguyên, Bo Heng, Về M’Đrắk, Viết trên đồng Ea-Kar, Hương cà phê, Ama Kông, Mùa hái cà phê, Lời con voi Bản Đôn… Phải yêu đến cháy bỏng, da diết đến cháy bỏng, dâng hiến đến cháy bỏng, mê đắm đến cháy bỏng con chữ của Đặng Bá Tiến mới đầy ắp Tây Nguyên, dạt dào Tây Nguyên đến thế. Tập thơ được chia thành hai phần “Nỗi rừng”, “Nỗi người” nhưng cô lại, dồn nén lại trong Đặng Bá Tiến chỉ có một nỗi, đó là Nỗi Tây Nguyên.
Lý giải tại sao Tây Nguyên lại choán toàn bộ tâm tư tình cảm, nhiệt huyết, khát vọng của mình, ông viết “Sê-rê-pốc trong ký ức tôi/ có ba mươi mùa buồn vui/ ba mươi mùa với những đêm mơ đầy lá xanh, đầy tiếng chim reo trộn lẫn những đêm mơ chập chờn vũ điệu cánh đen bầy quạ đói/ …/ những bầy công trong nắng mai xòe xiêm y ngũ sắc lượn bay với bạn tình/ những thảm có xanh trưa vàng có chú nai con nằm day vú mẹ/ tiếng gà rừng chiều lung linh dập dờn trong khóm lá/ ai hú gọi đến uông mật ong rừng”(Sê-rê-pốc mơ và thực). Ta biết ông có “ba mươi mùa buồn vui” với Sê-rê-pốc. Đó là một đời thơ trọn vẹn với Tây Nguyên. Ông gắn bó với Tây Nguyên, tắm cái gió Tây nguyên, tắm cái nắng Tây Nguyên, đau khổ với Tây Nguyên, hạnh phúc với Tây Nguyên. Từ cành cây, chiếc lá, con suối, dòng sông, pho tượng nhà mồ, đến tiếng cồng chiêng đều là sự sống, cơ thể sống, có tâm hồn, có hơi thở, có giao cảm trong ông “Đêm tôi nghe tiếng chiêng ngân lên âm…âm…u…u từ dưới chỗ tôi nằm, tiếng chuông như đất thở, như gió rên, như tiếng người than từ nấm mồ sau hàng trăm năm bỏ mả”( Lời chiêng từ đất). Ông thả hồn ngây ngất cùng“Ea Súp suối trong ôm bóng tháp chàm/ thần Si-va gửi hồn trú ngụ/ vũ nữ biết kể khan bên bếp lửa/ cây quanh nhà, voi trước cửa cũng mê khan”(Ea Súp). Đọc câu thơ mà thấy nhà thơ đang bay lên. Ấy là tâm trạng ông thăng hoa. Ông đắm đuối mê cảm bởi “sóng chiêng cuộn trào/ voi thậm thịch thay người giã gạo/ a-ma thả vào chiều tiếng sáo/ lũ sóc nâu quấn quýt quanh người/ những mái tranh thơm khói cá nướng trui/ cô gái E-đê gọi trăng lời ay-ray ngọt lịm/ chàng trai Gia-rai chờ bên gốc kơ-nia bịn rịn/ mùi tóc em thơm lẫn hương rừng” (Ea Súp). Quả là lòng ông, tình ông đang mở hội. Tây Nguyên như bông hoa bung nở trong ông, tỏa hương trong ông. Tây Nguyên hệt người con gái đẹp hiện vào thơ ông rõ từng chân tơ kẽ tóc. Nếu hời hợt, cưỡi ngựa xem hoa, ngọn gió qua rừng không bao giờ Tây Nguyên chi tiết thế, tất cả hiện lên như thước phim quay chậm “chiếc gùi tre bóng đen mồ hôi/ cứ ngày ngày bám vào lưng người đàn bà Ê đê, bám vào lưng người đàn bà M’nông, bám vào lưng người đàn bà Gia-rai như một phần thân thể họ” (Người đàn bà mang gùi). Ông cùng “hạt mưa đi ngủ trong ngôi nhà Sấm của Giàng/…/những triền núi dã quỳ, những lối mòn dã quỳ/…/cả đất trời ngợp trong màu dã quỳ rực rỡ”(Khúc xuân chép ở Bản Đôn). Ai cũng biết dã quỳ, pơ lang, bụi đỏ là biểu tượng cho sắc vàng nắng gió Cao Nguyên. Nhưng dã quỳ, pơ lang, bụi đỏ ăn sâu vào tiềm thức, tâm khảm người Ba na, Ê đê, Gia rai, nếu không đọc thơ Đặng Bá Tiến thì không phải ai cũng hiểu “pơ lang lóe lên như ngọn lửa cho ánh mắt người già nhận ra đã đến mùa ăn năm uống tháng, mùa đàn bà con gái xắn váy lòi mông trắng như cây chuối lột bẹ ngoài, giã lúa, giã bắp suốt đêm, ủ rượu cần, đàn ông lang thang vào rừng tìm chỗ ngủ/ ấy là mùa cái chiêng…cất lời mời Giàng trên cao xanh, mời thần Cây Đa đầu buôn gần, thần Bến Nước cuối buôn xa, đến ăn cái gan con dê, ăn cái đầu con gà, uống rượu ủ ba năm trong bếp/…ấy là mùa những sàn nhà ngồi chật mông đàn ông đàn bà dự lễ mừng lúa/…cột rượu buộc khít xà nhà/…/ấy là mùa con người sống như gió như mây, sống như cây như lá, không có cánh mà như biết bay, không có nhựa mà biết dính vào nhau, không có lửa mà người hừng hực, không có nước mà trong hồn cuồn cuộn sục sôi” (Khúc xuân chép ở Bản Đôn). Thơ ấy là thơ từ ruột mà ra, từ tim mà ra, từ lồng xương ống máu mà ra. Nó không nhập khẩu được. Không dùng bột màu lòe loẹt câu chữ đánh lừa người đọc được. Đó là những câu thơ phồn sinh phồn thực. Thơ tuôn ra, trào ra, cuộn xoáy. Tây Nguyên long lanh sáng. Tây Nguyên cổ sơ. Tây Nguyên bản thể. Tây Nguyên nguồn cội. Sống động. Đặng Bá Tiến đang hát về Tây Nguyên, ngây ngất với Tây Nguyên, hừng hực với Tây Nguyên. Thiên nhiên, con người, cảnh vật, phong tục tập quán, huyền thoại, cổ tích, sử thi chằng chịt trong hồn thơ Đặng Bá Tiến, hệt như rễ cây rừng chằng chịt trong đất. Hồn người và hồn núi rừng, hồn cỏ cây muông thú cộng hưởng tạo nên những vần thơ mang âm hưởng trường ca, anh hùng ca bất hủ của Tây Nguyên. Hình ảnh nào trong thơ Đặng Bá Tiến cũng gợi, ấn tượng, khắc khoải, ám ảnh. Cảm sao hết được sự sung sướng, viên mãn khi đọc những câu thơ: “những đêm rượu cần mềm môi, ngả nghiêng vào ngực đàn ông, úp mặt vào bụng đàn bà, nhà sàn rung rinh, say đắm mê man/ trai gái ngủ vùi như đất thấm mưa đầu mùa hạ”(Nước mắt tượng nhà mồ). “Ma Té kể ngày xưa cồng chiêng nhiều bằng trăm buôn đem tới/ chiêng quý ở đây cất lời thì trời đất ngả nghiêng say/ thì thần sông thần núi cũng ngất ngây/ tụ về đây trên cây đa, khiến cây phải vặn mình răng rắc”(Chuyện của Ma Té). Những phong tục tập quán nguyên thủy, những mối tình nguyên thủy, những nét đẹp nguyên thủy mang đến cho Đặng Bá Tiến những vần thơ hiện sinh, hiện thực và hiện đại. Thơ Đặng Bá Tiến trong “Hồn cẩm hương” không có bài nào siêu hình, siêu thực, lập thể. Tất cả là hiện thực. Ông chỉ dựng lại, làm cho hiện thực Tây Nguyên sống lại trưng thực qua ký ức, tâm khảm, kỷ niệm, hoài niệm, nỗi nhớ và nỗi khắc khoải. Chất hiện thực ấy tuôn chảy trong ông như mưa, như gió, như lũ, như bão, tạo nên những câu thơ, trang thơ mang hình sông thế núi sức vóc ngổn ngang kỳ vĩ. Câu chữ, ý tứ, cấu trúc vậm vạp khỏe mạnh, tràn sức sống.
Rất dễ nhận ra cái bao la trùng điệp của đại ngàn hùng vĩ Tây Nguyên đã tạo nên không gian thơ của Đặng Bá Tiến. Cái sức sống mãnh liệt, kỳ diệu, huyền ảo, đầy chất thơ, đầy chất sử thi tạo nên âm hưởng thơ Đặng Bá Tiến. Có thể khẳng định, Tây Nguyên đã định hình thơ Đặng Bá Tiến, đã làm nên phong cách, bút pháp thơ Đặng Bá Tiến. Nếu bỏ những gùi, nhà mồ, a-ma, M’nông, Ma Té, Ama Kông, chiêng, Sê-rê-pốc, giàng, Ea Súp, Ea Nao, những mùa săn voi… có nghĩa là, nếu bỏ Tây Nguyên ra khỏi câu chữ, thơ Đặng Bá Tiến là con diều không có gió, là con thuyền rất lớn không buồm, không chèo, không nước. Sinh khí, hùng khí, nhân văn, nhân tâm của Đặng Bá Tiến chứa đựng trong đó, tỏa sáng trong đó, sinh sôi nảy nở trong đó, mê hoặc lòng người trong đó.
Xin mượn ý một câu thơ của Nguyễn Duy “Rơm vàng bọc tôi như kén bọc tằm” để nói về Đặng Bá Tiến với Tây Nguyên: Tây Nguyên bọc ông như kén bọc tằm. Tây Nguyên bọc ông như đất bọc rễ. Tây Nguyên trong ông như suối nguồn trong lá. Điều đó giải thích tại sao, ông đã đau dữ dội khi văn hóa Tây Nguyên bị xâm thực. Lòng ông bị vỡ ra, bị xát muối, bị lách nứa rạch xé khi cỏ cây hoa lá di vật, di sản Tây Nguyên đang bị biến dạng, nạo vét, tẩm ướp bằng một thứ màu ngoại lai, một âm hưởng ngoại lai. Những gì nuôi lớn ký ức ông, kỷ niệm ông, tâm hồn ông, tình yêu ông đang dần trôi về dĩ vãng. Không đau sao được khi “Buôn Kô sia ngày xưa chỉ còn trong chuyện kể/…/Chiêng Kná giờ nằm dưới gầm giường bạc bẽo/ tháng một lần gõ cho Tây trắng, Tây đen nghe cười nhí nhố” (Chuyện của Ma Té). Không đau sao được khi “những cà-vạt kia, những com-lê kia, những tòa nhà cao tầng kia, những pop, rock kia, ta không hiểu, ta không biết/ họ kéo ta về từ trăm năm trước, bắt ta ngân lên những lời chiêng linh thiêng trong ánh đèn điện tử chói lòa biến hóa như lũ ma rừng, bắt tiếng chiêng ta va vào những bức tường xi măng vô hồn khô khốc”( Lời chiêng từ đất). Ông đau đến thao thiết phải thốt lên “đâu rồi những nhà dài, dài hơn cả tiếng chiêng, những cánh rừng cổ thụ cao chạm mây trời, hạt rơi chưa đến đất đã bật mầm, những dòng suối trong như nước mắt của H’Bí, H’Bhi ngày kết duyên cùng Đam San, Xinh Nhã, đâu rồi đàn voi một ngà, đâu rồi bầy công ngũ sắc”(Lời chiêng từ đất). Không đơn giản chỉ là tất cả những gì làm nên kỷ niệm, ký ức, tài sản tâm hồn ông, cao hơn, sâu hơn đó là hồn đất Tây Nguyên, tâm hồn Tây Nguyên. Văn hóa Tây Nguyên đang bị xói mòn, đang bị rửa trôi, đang bị tàn phá. Cái ngày đẹp như mơ “hương đất trời từ ché túc ché tang/ bỏ bùa gái trai nhìn nhau như dính/ áo thổ cẩm đuôi công dài xúng xính/ bên gốc kơ nia em kéo vạt để anh nằm”(Nét xuân Tây Nguyên); cái ngày“tháng ba như thể dậy thì/ lửa hoa gạo sáng cả khi tối trời/ cánh hoa như thể làn môi/ muốn dâng tất cả cho người nụ hôn”(Tháng ba hoa gạo). Tất cả bây giờ là “Vẫn trên kệ hàng/ bày khắp bản Đôn/ chỉ “bản lĩnh đàn ông” nằm dưới mộ”(Ama Kông); “đá lặng câm không nói/ nhưng lòng đá sục sôi”(Chùm thơ không đề); “em oằn lưng gánh sung ra phố/ bán ước mơ sung sướng cho người/ người đâu biết ước mơ em nho nhỏ/ tết này nhà có nồi bánh chưng sôi”(Em bán sung ngày tết). Ruột ông héo hon vì “giờ Ea Súp không rừng/ Ea Súp chẳng còn voi/ Ea Súp hoàng hôn câu hát xưa rơi/ không ai nhặt đặt lên môi như ngày trước/ không ai ngồi kể khan tàn củi  bếp/ tháp Chăm buồn vũ nữ chẳng còn ai”( Ea Súp). Cái ông nhận được từ vùng đất ba-zan đã quá nhiều. Nhưng linh cảm mách bảo cái ông đã mất, đang mất, sẽ  còn lớn hơn. “ai đã vắt khô những giọt tình của rễ cây để đầu nguồn bỏng rát/ để sông không sóng xanh không còn chở trăng vàng/ để độc mộc sầu thương nằm dưới gậm bàn/ để chài lưới trở thành tổ chuột/ lòng ta giờ cũng đắng đót như sông/ ta nghe từ cọng rêu lời oán thán búa rìu/ tiếng rên của con chạch, con lươn dưới bùn sâu váng đầu vì cưa xẻ gỗ”(Dòng sông mồ côi).
Có một bài học luân lý rằng, con chim ăn quả khế, con chim trả một cục vàng. Nhà thơ là con chim ăn của Tây Nguyên không phải chỉ một quả khế. Ông được ăn, được nuôi, được hưởng lộc quá lớn của Tây Nguyên. Đó là cả một nền văn hóa Tây Nguyên ngập phù sa màu mỡ. Chưa trả được một cục vàng, tác giả đã chứng kiến mọi thứ đang biến mất theo thời gian. Đau đớn đến mức nhà thơ phải thét lên “Đêm tháng ba tôi nằm mơ thấy sông đang bị cháy/ nước sôi lên, đá vỡ ứa máu hồng/ sê-rê-pốc ơi…/ Sê-rê-pốc ơi…/ tôi gào gọi tên sông trong nước mắt ròng ròng”(Sê-rê-pốc mơ và thực); “hỡi ông bà tổ tiên, hỡi Giàng trên cao xa kia, ai đã lấy cắp cánh rừng của tổ tiên ta/ ai đã hút máu cành rừng của ta để bây giờ giọt nước mắt của rừng khô thành đá ngổn ngang lòng suối”(Nước mắt tượng nhà mồ). Thơ là tiếng lòng. Lòng ông đang hú còi. Xương thịt ông đang hú còi. Linh cảm ông đang hú còi. Nó gióng lên một hồi chuông cảnh tỉnh. Nhưng có lẽ đó chính là sự tự giải thoát những bức xúc, những ẩn ức, những sang chấn tâm hồn ông “cô độc với bóng mình gầy guộc/ cô độc với linh hồn tổ tiên thân thuộc/…/ta nuốt cả phận mình trong đắng đót”(Lời con voi Bản Đôn)

Triết gia nào đó đã nói, người giàu tình yêu nhất là người hiến dâng trọn vẹn tình yêu của mình cho một người duy nhất. Tôi nghĩ, người giàu ngôn ngữ nhất là người nói mãi về một cái gì đó mà ngôn ngữ không cạn, càng nói càng dồi dào, càng nói càng mới, càng nói càng sâu, càng nhiều phát hiện. Với “Hồn cẩm hương”, Đặng Bá Tiến có được cả hai. Không ai giàu tình yêu với Tây Nguyên như ông. Ông dành tất cả thời gian, tâm huyết, tri thức, vốn sống, sự hiểu biết, sùng kính, ngưỡng mộ cho Tây Nguyên. Gần trọn tập thơ dành cho Tây Nguyên. Có người ở quê một đời không có được vài bài cho quê. Có người ở phố một đời không có được vài bài thơ cho phố. Đặng Bá Tiến không phải chỉ có “Hồn cẩm hương” dâng tặng Tây Nguyên, ông còn có cả trường ca “Rừng cổ tích”, tác phẩm được giải nhất của Hội Nhà văn và Tổng LĐLĐ Việt Nam trao năm 2014. Nói như thế để thấy, nhà thơ Đặng Bá Tiến không chỉ giàu có tình yêu, giàu có tâm hồn, ông còn giàu có về ngôn ngữ. Hầu như thơ ông chỉ viết về Tây Nguyên. Vui buồn vì Tây Nguyên. Ấy thế mà ông viết hoài, viết mãi, viết đủ tầng đủ vỉa, nhiều góc nhìn, nhiều hướng tiếp cận, ngôn ngữ thơ ông không cạn. Người đọc vẫn bị cuốn hút. Tây Nguyên đã cho ông tài nguyên dồi dào về chữ nghĩa. Nó là tài sản, là nguồn lực tạo nên bút lực của ông. 

Thứ Hai, 16 tháng 10, 2017

CON TẮC KÈ CỤT ĐUÔI - Truyện ngắn của Hồng Chiến




- A, thằng Tắc Kè Hoa đến chúng mày ơi!
Một con Thạch Sùng bất chợt reo lên khi nhìn thấy Tắc Kè Hoa vừa nhô đầu lên sau miếng vỏ cây. Cả đám ba con Thạch Sùng choai choai chắc vừa trốn ba má chui ra khỏi chỗ ngủ để đùa nghịch. Thạch Sùng đứng ngoài cùng bên phải nói:
-Hắn ở đâu ra thế? Đôi mắt mới kinh khủng làm sao, cứ như chuẩn bị rơi ra ngoài ấy.
Thạch Sùng đứng ngoài cùng bên trái bảo:
-Người lại đầy màu sắc lóng lánh nữa chứ, chắc hắn mới đi dự sinh nhật về rồi đi lạc đến đây đấy?
Con Thạch Sùng nhỏ nhất đứng giữa, thân trong veo, nhìn thấy cả ruột gan bên trong, giương cặp mắt tròn xoe ra nhận xét:
-Hình như hắn ở xa đến, trông có vẻ mệt mỏi lắm.
-Ơ, hắn cụt đuôi kìa.
Con Thạch Sùng bên trái lớn nhất bọn reo lên như vừa phát hiện ra một điều gì đó vĩ đại lắm, rồi từ từ tiến lên phía trước. Con Tắc Kè Hoa đứng im, mắt căng lên quan sát đối thủ đang tiến lại gần, hình như bốn cái chân bắt đầu run.  Thạch Sùng bé nhanh nhẩu lao lên trước, bỗng kêu lên:
-Hắn bị thương rồi, máu còn chảy đây nè!
Cả bọn Thạch Sùng xúm lại xung quanh Tắc Kè Hoa quan sát, làm quen. Hình như tuổi trẻ cùng trang lứa với nhau dễ thông cảm, nhất là khi gặp hoạn nạn, nên chỉ một chốc thôi chúng đã trở thành thân thiết. Mấy con Thạch Sùng dẫn Tắc Kè Hoa đến bên một chỗ lõm của vỏ cây để nghỉ rồi vội vã chia nhau tản đi, con chạy về nhà lấy nước, con mang đồ ăn, có con mang đến một con ruồi to để Tắc Kè Hoa ăn cho đỡ đói… Thấy con ruồi, Tắc Kè lắc đầu không nhận vì chưa bao giờ ăn xác chết; hàng ngày chỉ quen ăn các ấu trùng trốn trong các vỏ cây hay các động vật nhỏ như: dế, châu chấu, muỗi, gián, nhện… Tuy bị thương và rất mệt, Tắc Kè Hoa vẫn tỏ ra một thiếu niên có bản lĩnh.
Lũ Thạch Sùng tò mò muốn biết Tắc Kè Hoa ở đâu, tại sao lại đi đến đây với cái thân mình đầy thương tích như thế. Tắc Kè Hoa thở dài, kể lại:
Sáng sớm hôm nay khi còn đang ngon giấc như mọi ngày, bỗng có tiếng động vang lên:
-R…e…ét, r…e…ét.
Chạy ra cửa ngó xuống thấy cả xóm tắc kè đang nhốn nháo. Thôi thì già, trẻ cứ chạy rối mù cả lên, hình như không tin vào điều gì đó khủng khiếp đang xảy ra. Tiếng cưa máy vang lên, lưỡi cưa cắn vào cành cây to hơn một vòng tay người chìa ngang qua phía tây, làm cành cây rung lên bần bật. Cành cây to có nhiều cành nhỏ, cành nhỏ có nhiều lá che mát cho cả một vùng rộng lớn. Cành cây là nơi trú ngụ của họ hàng nhà tắc kè. Trong đám lá xanh trên cành cao nhất còn có ngôi nhà mới xây của vợ chồng chim chèo bẻo. Chèo Bẻo có bộ lông xanh đen, óng mượt, bay nhanh như gió nhưng rất khéo tay, xây nhà đẹp lắm. Chim đi tìm những sợi dây nhỏ, mềm mại, óng mượt, vàng ươm lót phía trong; những sợi dây cứng đan bên ngoài, tạo thành cái tổ tròn như một chiếc chén ăn cơm. Đôi vợ chồng Chèo Bẻo hạnh phúc lắm, từ sáng sớm đến chiều tối cứ tíu tít bên nhau, thỉnh thoảng mới bay vút đi tóm mấy con bướm lạc đàn, hay cào cào, châu chấu… mang về chia nhau nhậu. Khi cành cây bị con người cưa, vợ chồng chim Chèo Bẻo bay vút ra khỏi tổ cuống quýt chao lượn xung quang tán cây như muốn níu kéo, giữ cành cây lại.
Cây cổ thụ có tên lạ hoắc: Óc Rồng. Cách đây hơn một trăm năm, khi con người vừa xây xong tòa nhà này cho một ông công sứ người Pháp ở. Ông chủ mới mang từ bên “mẫu quốc” sang hai cây gỗ quý trồng phía trước ngôi nhà cho đỡ nhớ quê. Cùng với thời gian, cây ngày một xanh tốt, gốc to đến bảy người ôm chưa kín, tạo nên một khung cảnh rất đẹp bên tòa biệt thự cổ kính. Hôm trước mấy người đến bàn nhau cưa bớt cành thấp nhất chìa ngang qua đường làm xe ô tô sếp mới tậu không vào được. Họ còn nói, trên cành cây này nhiều tắc kè, có con sống đến trên chục năm tuổi, bắt làm thuốc quý lắm. Một người ngạc nhiên hỏi:
-Làm sao biết tắc kè sống bao nhiêu tuổi?
-Căn cứ vào tiếng kêu, nếu con nào chỉ kêu được một tiếng rồi dừng, loại đó mới một năm tuổi; còn con nào kêu từ hai tiếng trở lên, cứ thêm một tiếng là thêm một tuổi. Trên cành này có con kêu tới mười sáu tiếng mới ngừng.
-Ô, hay nhỉ!
 Một người có vẻ ngạc nhiên reo lên tỏ vẻ thích thú. Mấy người nói với nhau thế, tưởng chuyện cho vui, ai ngờ sáng nay họ làm thật. Cành cây lớn bị cưa đứt lìa khỏi thân, rơi xuống thảm cỏ kêu đến rầm một cái như bom nổ, tôi bị văng ra đám cỏ xỉu luôn. Khi tỉnh lại thấy con người đã bắt hết gia đình tôi bỏ vào bao tải. Hình như ba tôi đã nhìn thấy tôi núp bên một cái lá nên ông hét lên:
-Út, chạy lại gốc cây kia, leo lên nhé.
Cây Óc Rồng bị mất một cành lớn trông như con người cụt mất một tay, từng giọt máu tím bầm chảy ra rơi xuống đất. Hình như cây đau lắm, đang oằn mình chống chọi, thỉnh thoảng một cơn gió thổi qua kéo theo từng chùm lá xanh bay lã tả. Mất một cành lớn như thế, không biết cây có sống nỗi không. Gốc cây ở gần chỗ tôi văng ra các cành vươn lên phía trời xanh, cành lá xanh tốt lắm. Chờ đám người đi khuất, tôi mới nhằm gốc cây chạy lại để leo lên. Khi đang băng qua đám cỏ, bỗng tiếng cô Chèo Bẻo gầm lên rồi nhắm tôi lao xuống. Cái mỏ như gọng kìm tóm gọn đuôi tôi kéo bổng lên không trung. Tôi giãy dụa, tự cắt đuôi mình để rơi xuống đất rồi lao vào gốc cây ẩn nấp, từ từ leo lên đây.
-Chắc cô Chèo Bẻo tưởng họ hàng Tắc Kè phá nhà nên trả thù đấy mà. Thật vô lý quá. – Thạch Sùng út nói.
-Bây giờ bạn tính sao?
Thạch Sùng lớn nhất bọn hỏi Tắc Kè Hoa. Thạch Sùng em vội nói:
-Còn sao với giăng gì nữa, ở lại đây thôi, chốc nữa ta về xin má nhé.
Chiều, má Thạch Sùng thức giấc; mấy đứa con tranh nhau kể về hoàn cảnh của Tắc Kè Hoa. Má Thạch Sùng nghe qua câu chuyện, lòng rất cảm động nên thu xếp để Tắc Kè Hoa được sống chung cùng gia đình trên chạc cây. Thế là ba con Thạch Sùng với một con Tắc Kè Hoa to bằng nhau, hình dáng bên ngoài cũng giống nhau, chỉ khác màu áo mặc; sống với nhau rất hòa thuận, vui vẻ.
Ngày tháng trôi qua, Tắc Kè Hoa lớn nhanh như thổi, thân to gấp hai rồi gấp ba, gấp bốn lần Thạc Sùng. Họ hàng nhà Thạch Sùng đều mặc giống nhau: khoác trên mình chiếc áo màu nâu sẫm, gần giống với màu của vỏ cây Óc Rồng, nơi đang sinh sống. Còn Tắc Kè Hoa càng lớn, chiếc áo mặc trông rực rỡ hẳn lên: trên nền xanh da trời được điểm thêm những nốt đỏ, xanh lơ đều nhau như được một bàn tay khéo léo sắp đặt. Chiếc đuôi đứt ngày nào bây giờ đã mọc lại, dài ra và to bằng Thạch Sùng anh. Ban ngày cả bọn đi ngủ, đêm đến mới thức dậy đi săn mồi, kiếm sống.
Cuộc sống cứ vậy cho đến một hôm… Khi ông mặt trời đứng trên đỉnh ngọn cây, cả nhà Thạch Sùng đang say sưa ngủ. Bỗng mùi hôi thối nồng nặc theo gió xộc vào nhà, một con quái vật đầu hình tam giác, cái mắt nhỏ tý tẹo, còn lưỡi đỏ lòm có hai nhánh cứ thò ra, thụt vào trong miệng tiến dần đến. Má Thạch Sùng hoảng hốt thét lên:
-Rắn, chạy đi các con ơi, chạy đi!
Cả bọn hoảng hốt lao ra khỏi cửa leo tít lên ngọn cây cao. Má Thạch Sùng đứng bên cửa chờ cả nhà chạy hết mới vội vã bò đi sau cùng. Con rắn thân dài ngoằng, da xanh như tàu lá non, đầu ngẩng cao, mồm bạnh ra rồi bất ngờ bổ xuống một cái thật mạnh, túm được đuôi má Thạch Sùng. Hắn cất tiếng cười man rợ. Thạch Sùng út trông thấy thế, sợ quá ngã lộn nhào từ trên cành cao xuống đám lá phía dưới, may mà không rơi xuống đất. Các anh chị Thạch Sùng chết lặng như bị dính chặt vào cây. Trong thời khắc tuyệt vọng ấy, Tắc Kè Hoa từ trên cao lao thẳng đến, dùng hết sức bình sinh cắn một nhát thật mạnh vào lưng rắn. Con rắn đau quá kêu thét lên, làm văng má Thạch Sùng ra khỏi miệng. Sau nhát cắn chí mạng, Tắc Kè Hoa chạy qua phía bên kia cây. Con rắn tuy không có một cái chân nào, thế mà leo cây rất giỏi. Nó cất cao đầu nhìn xung quanh tìm đối thủ nhưng không thấy nên lại áp cổ vào cây, dùng đám vảy dưới bụng như bàn chân bám vào cây, định đuổi theo má Thạch Sùng đang nặng nhọc nhích từng tý một ở phía trước, chiếc đui bị rơi đâu mất, máu chảy thành dòng. Chỉ chờ có vậy, Tắc Kè Hoa rời chỗ nấp, lao đến cắn tiếp một cái thật mạnh vào phía sau lưng con rắn gần phía đuôi. Con rắn oằn mình đau đớn, quay cả cái thân dài ngoằng lại định cắn kẻ tấn công mình, nhưng… cái thân dài như một sợi dây ấy tuột khỏi thân cây rơi luôn xuống thảm cỏ dưới đất, kèm theo tiếng kêu: oạch, một đám bụi tung lên; con rắn đau đớn, hốt hoảng bỏ chạy.
Qua cơn hoạn nạn, cả gia đình Thạch Sùng quây quần bên nhau, Thạch Sùng út tò mò hỏi Tắc Kè Hoa:
-Anh không sợ quái vậy đó à?
-Khi… ấy, khi… ấy, không thấy sợ mà chỉ thương má thôi.
-Cảm ơn con!
Má Thạch Sùng xúc động nói.
-Dạ, chuyện bình thường thôi ạ.
Tắc Kè Hoa hình như ngượng ngùng trả lời và bất ngờ cất tiếng kêu:
-T …ắ …c k …è!
Lần đầu tiên trong đời, tiếng kêu buột miệng thoát ra, cả thân hình to lớn của Tắc Kè Hoa hình như rực rỡ hẵn lên, lấp lánh dưới ánh mặt trời. Má Thạch Sùng vui mừng nói:
-Ôi, con đã thành thanh niên rồi. Một người lớn thực thụ rồi.
          -T …ắ …c k …è!
Bất ngờ tiếng của một con tắc kè ở cây Óc Rồng bên cạnh vang lên như trả lời tiếng gọi của Tắn Kè Hoa bên này. Mẹ Thạch Sùng vui mừng bảo:
-Thế là con có bạn rồi đấy.
-Sao ạ?
Tắc Kè Hoa ngạc nhiên hỏi lại, đôi mắt hình như cũng sáng hơn một ít. Mẹ Thạch Sùng giải thích:
-Con đã thành thanh niên mới có thể kêu như thế và có tiếng đáp lại, chứng tỏ có người trong gia đình, họ hàng con còn sống bên đó đã nghe tiếng của con. Ngày mai qua tìm nhé.
Tắc Kè Hoa xúc động cúi đầu, hình như đôi mắt long lanh một chút thì phải. Bầy Thạch Sùng xúm lại chúc mừng và bàn nhau cách tìm đường qua cây Óc Rồng bên cạnh.
Buổi tối hôm sau, Tắc Kè Hoa bịn rịn không muốn chia tay, nhưng tiếng kêu của dòng họ thôi thúc trái tim, thúc giục đi tìm. Cả nhà Thạch Sùng dàn hàng ngang, lưu luyến nhìn bóng Tắc Kè Hoa khuất dần sau lớp vỏ cây. Ánh trăng đêm rằm vừa nhô lên ở phía đông xa xa bao phủ lên cảnh vật như được dát bạc. Bất ngờ một tiếng kêu gọi bạn từ một nơi xa vọng đến, xóa tan màn đêm tĩnh mịch:
-T …ắ …c k …è!
-T …ắ …c k …è!
Lũ Thạch Sùng cũng buột miệng kêu lên trả lời:
-T ..ặc t …ặc!
-T ..ặc t …ặc!


Mùa thu năm 2017