Thứ Tư, 26 tháng 4, 2017

TẠP CHÍ CHƯ YANG SIN SỐ: 296 - THÁNG 4 NĂM 2017 - tác giả LÊ XUYÊN





ĐÓN THÁNG TƯ



Tia nắng chói chang của một ngày mới đánh thức đất trời cùng vạn vật chạm ngõ tháng tư. Tháng tư về giăng mắc lòng ta trên từng nẻo nhớ, từng giây phút yêu thương ngập tràn. Ai chẳng biết rằng thời gian tuần hoàn, nhưng đâu phải tháng tư nào cũng giống nhau bạn nhỉ?
Tạm biệt cơn mưa dầm dai của những ngày tháng ba, ta chợt ngỡ ngàng trước một bầu trời tháng tư xanh diệu vợi. Những đám mây trắng bồng bềnh cơ hồ vô số lớp bông gòn gối chồng lên nhau mơ màng ngủ. Nắng tháng tư vàng và trong trẻo một màu nắng rất lạ mắt. Càng vui hơn trước dàn đồng ca của bầy chim chuyền cành tựa khúc nhạc si mê dạo hè. Sự giao hòa giữa âm thanh và ánh sáng ấy khiến lòng ta chộn rộn lắm. Bước chân muốn nhanh nhưng lại đành ngập ngừng bởi chẳng dễ gì làm ngơ trước cảnh sắc đất trời sang mùa. 
Ai chẳng có một dòng sông quê, nơi in dấu một thời tuổi thơ vụng dại mà êm đềm? Dòng sông quê xanh biêng biếc, quanh năm lững lờ trôi, đem phù sa màu mỡ làm nên những mùa màng bội thu. Đứng trước dáng sông những ngày đầu tháng tư này, lòng ta bỗng cồn cào, diết da cảm xúc bâng khuâng khó tả. Nước sông quê tắm mát ta suốt một thời tuổi thơ. Dòng sông cứ lững lờ trôi mà những kỷ niệm tuổi thơ ta vẫn mãi neo đậu nơi bến sông này.
Tháng tư về tiếp nối những mùa hoa, đem theo đủ sắc hương diệu kỳ khiến ta ngỡ ngàng. Đất trời được khoác lên mình lớp áo thơm, lòng người được tiếp thêm bao tin yêu. Mỗi loài hoa lại mang một vẻ đẹp riêng. Là màu đỏ của hoa gạo, hoa lựu rực rỡ cả một góc trời, khoảng sân; màu vàng rực của hoa hướng dương như những ông mặt trời tí hon; hay sắc trắng muốt của hoa loa kèn phủ lên ký ức ta một màu nhung nhớ,...
Tháng tư còn là mùa của niềm vui và hạnh phúc. Là niềm vui ngày độc lập, non sông thu về một mối; là sự sum họp, đoàn tụ bên giọt nước mắt hạnh phúc không nói thành lời; là những tràng hoa tuyệt đẹp mừng đất nước đổi mới hay tình yêu lứa đôi ngọt ngào,... Những ngày tháng tư về, ta càng thêm trân quý và ghi nhớ đạo lí “Uống nước nhớ nguồn”. Lòng tự nhủ phải sống sao cho xứng đáng với thành quả cha ông để lại.
Tháng tư về trên những ngôi trường rộn ràng tiếng cười nói hồ hởi cùng niềm hăng say, miệt mài học tập của bao thế hệ học trò. Dù chưa cuối hạ nhưng đâu đó, ta đã bắt gặp những trang lưu bút, những lời nhắn gửi yêu thương, những dòng thư tay thổ lộ chưa một lần dám nói và cả những dự định cho tương lai phía trước của các cô cậu học sinh cuối cấp. Qua ô cửa lớp, có ánh mắt ai đó xa xăm, mơ mộng đang chăm chú nhìn những chùm hoa phượng bắt đầu nở thắm giữa sân trường. Nhưng có lẽ trên hết vẫn là sự trăn trở, lắng lo về cách học, cách chọn trường cho hành trình biến ước mơ của mỗi người trở thành hiện thực.
Tháng tư, ta đã từng đi qua một thời áo trắng mộng mơ. Từ một cô học trò với ước muốn cháy bỏng được làm cô giáo, nay đã vững vàng đứng trên bục giảng. Hơn mười năm cầm phấn, ta đã góp nhặt cho riêng mình biết bao kỉ niệm với tháng tư. Những giờ học Văn sôi nổi, những giờ ngoại khóa ý nghĩa, hay một điểm 8, điểm 9 dành cho cậu học trò cá biệt,... càng tiếp thêm động lực cho ta vững bước trên con đường đã chọn.
Đón tháng tư, ta sẽ lại bắt đầu với những yêu thương!















Thứ Ba, 25 tháng 4, 2017

BÍ MẬT RỪNG THIÊNG - CHƯƠNG VIII

KẺ PHÁ RỐI

Tác giả HỒNG CHIẾN

            Làn gió thổi nhẹ qua, mang theo cái lạnh của rừng đêm làm H’Chi thức giấc ngồi dậy bỏ thêm củi vào bếp. Ngọn lửa hồng leo quanh những thanh củi vừa chạm đầu vào nhau reo lên những tiếng cười vui nho nhỏ: tí tách, tí tách... làm bắn ra những hạt lửa nhỏ li ti. Xa xa tiếng rừng trăn trở khua trên các ngọn cây rào rào tiến dần lại làm rơi những hạt sương đêm xuống tấm ni lông nghe lộp bộp, lộp bộp. Với người dân Tây Nguyên, rừng già như người mẹ hiền nhưng nghiêm khắc đối với các con, sẵn sàng ban cho những đứa con ngoan tất cả những gì chúng mong muốn, song cũng rất nghiêm khắc xử phạt những đứa con hư. Mẹ rừng có thể cho ta giàu có, cho ta sức mạnh, cho ta niềm vui mỗi khi bước vào nép mình dưới tán lá rừng; và rừng cũng sẵn sàng nỗi giận, trút lũ lụt xuống đầu những đứa con hư, xua muông thú đến trừng trị kẻ phá rừng; amí từng bảo như thế.
          Đêm nay ngồi bên bếp lửa giữa rừng nhìn đám sương sà xuống nhẹ nhàng như làn khói mỏng manh mang theo hương thơm của hoa lá ùa đến làm tâm hồn thanh thoát, sảng khoái. Đêm chuyển dần về sáng. Tiếng đôi chim từ quyên gọi nhau nghe gần lắm, có lẽ chúng sắp gặp nhau rồi. Amí bảo loài chim từ quyên tối lại chia nhau đi kiếm ăn, mỗi con một cánh rừng, lấy tiếng gọi nhau làm hiệu. Chúng cứ đi và gọi nhau như thế cho đến lúc gặp được nhau ngừng gọi cũng là lúc ông mặt trời thức dậy. Trong rừng già, người đi rừng nghe tiếng chim để tính thời gian ban đêm, biết được lúc nào trời sắp sáng, chuẩn bị dậy đi làm. Đối với H’Chi, được ngủ trong rừng cũng là điều thú vị. Rừng đẹp và bí ẩn lắm, bao năm rồi có ai dám bảo hiểu hết rừng đâu.
          Soạt! Một con chồn to bằng con mèo lớn có bộ lông trắng muốt bất ngờ nhảy vọt qua mặt H’Chi rồi đột ngột đứng im nhìn bếp lửa. Con chồn đẹp quá, nó nhìn bếp lửa như bị thôi miên, bốn chân run run tựa như không đỡ nỗi tấm thân, chiếc đuôi dài cụp xuống, mắt đờ đẫn, chậm chạp lê từng bước một lại gần H’Chi, mùi hương thơm ngào ngạt tỏa ra như có ai đó làm vỡ lọ nước hoa.
          Đúng là cầy hương rồi, H’Chi thầm reo lên. Loài cầy hương có bộ phận sinh dục ở con đực tiết ra mùi thơm đặc biệt, nó ăn ở khu rừng nào, người đi qua cách xa cả trăm mét đã nhận biết được mùi thơm của nó. Thịt loài thú này thơm ngon lắm, nhưng quí nhất bộ xạ dùng để làm thuốc chữa bệnh. Đối với những gia đình có phụ nữ đang mang bầu không ai dám mang bộ xạ của cầy hương để trong nhà vì nghe mùi thơm đó, người phụ nữ có thể bị sảy thai. Người ngoài phố thích mua xạ hương lắm, họ bảo bán cho người Tây dùng chế nước hoa được nhiều tiền. Còn đối với người thầy thuốc nó là vị thuốc quí hiếm khó tìm. Thường thường những con cầy hương lông màu xám tro, có sọc vàng hoặc nâu đen chứ chưa bao giờ nghe nói lông màu trắng bao giờ. Hôm nay gặp loại có màu lông lạ thế này không biết xạ nó dùng có tốt không mà mùi thơm ngây ngất đến thế. Chắc mẹ rừng tặng mình đây; H’Chị tự nhủ, mừng thầm trong bụng. Mạy thật, thế là mình được thêm vị thuốc quí, lại có món thịt rừng ngon lành ăn sáng! Liếc mắt thấy cây củi trăng hắng to bằng cổ tay liền giơ tay chộp lấy làm vũ khí đập con cầy hương.
-         Ối!
H’Chi thét lên đau đớn, cánh tay phải tê dại như bị một luồng điện hàng ngàn oát xuyên qua nhói vào óc.
-         Phù, phù, phù.
          Con rắn toàn thân màu trắng bạc cất cổ cao đến nửa mét, mồm bạnh ra như bàn tay người lớn, giữa đỉnh đầu có đám vảy màu đỏ xếp theo hình mũi tên, phun nước hôi rình rồi bỏ đi sau khi đã cắn một nhát vào bàn tay phải H’Chi. Mãi chăm chú quan sát con cầy hương bị con rắn thôi miên, H’Chi nhầm thân rắn là que củi định lấy đánh cầy hương nên bị nó cắn. Từ nhỏ được nghe amí dạy: loài rắn nếu con nào trên đầu có lớp vảy khác màu xếp theo hình mũi tên, loài đó là rắn cực độc, vết cắn của nó có thể dẫn đến mất mạng trong vài phút! Tự lấy dây buộc ngang cổ tay ngăn cho nọc độc không chạy vào tim, H’Chi vội lục gùi lấy mấy lá thuốc tìm được bên sình buổi sáng: nhai, nuốt nước. Vết cắn của con rắn có ba lổ nhỏ như ba hạt thóc cắm vào, tê buốt. Phải lấy bớt nọc độc ra mới được. Cầm chiếc xà gạc hơ qua ngọn lửa diệt trùng, H’Chi cứa mạnh vào vết rắn cắn, máu đen tím bầm vọt bắn ra. Cố chịu đau dùng tay trái bóp mạnh xung quanh vết cắn cho máu đen chảy ra, đó chính là máu bị nhiễm nọc độc của rắn. Bổng mắt H’Chi mờ đi, tay không còn làm chủ được, đầu nghe o o như có chiếc máy cày chạy trong đó. Chắc mình chết mất nếu không nhanh tay, H’Chi nhả mấy chiếc lá trong miệng ra định dùng đắp vào vết rắn cắn, nhưng tay như ai lấy mất rồi, trước mắt bếp lửa tự nhiên nhảy múa to mãi, to mãi đến khi chỉ thấy một màu vàng chói lọi.
          Không biết xỉu đi bao lâu, tiếng vật gì đó nặng nề rơi xuống làm H’Chi giật mình từ từ tỉnh lại. Cánh tay phải đỡ đau hơn một chút, có thể ngồi dậy được. May thật khi ngã xuống vết rắn cắn vô tình rơi đúng vào miếng lá H’Chi nhả ra, có lẽ vì thế chiếc lá hút chất độc từ vết thương đẩy ra ngoài, nếu không ngã trúng miếng lá ấy chắc chết quá! Bẻ một miếng nấm cây gió bằng hạt gạo, nhai kĩ thấy có mùi thơm bay lên mũi, đầu lưỡi cảm nhận được vị ngọt của đường, vị cay của quế làm đầu dịu hẳn cơn đau. Sau khi nuốt nước, H’Chi nhả bả xoa vào vết thương; thật kì diệu, từ vết rắn cắn như có một dòng nước mát theo cánh tay tràn vào cơ thể, nó đi đến đâu biết đến đấy chỉ vài phút sau H’Chi có cảm giác mình không bị thương, vết dao rạch khép miệng chỉ còn đọng lại vảy của vết máu đen bám vào bàn tay. Tuyệt thật, nếu không có mấy chiếc lá nhặt được của bầy khỉ bỏ rơi bên sình chắc mình đã chết. Tại sao nọc của loài rắn trắng độc đến thế nhỉ mà được hóa giải nhanh đến vậy? Bao nhiêu năm đi rừng hái thuốc chưa bao giờ thấy amí nói đến loài rắn trắng như hôm nay. Rắn ở Tây Nguyên nhiều lắm nhưng không bao giờ tự nhiên tấn công người, kể cả loài rắn chúa.
Người ta gọi nó là rắn chúa vì loại rắn này thức ăn hàng ngày lại chính là thịt đồng loại. Các loài rắn khác khi nhìn thấy rắn chúa toàn thân như bị tê liệt, nằm im chờ rắn chúa cắn chết rồi ngoạm đầu nuốt dần, nuốt dần cả con rắn xấu số vào bụng. Cách ăn mồi này khác hẳn các loài trăn, rắn khác: Khi bắt được mồi, chúng quấn lấy con mồi như người ta quấn dây kín mít từ đầu, đến chân làm con mồi nghẹt thở mà chết; lúc đó chúng mới thong thả nuốt dần con mồi.
Loài trăn, rắn có nhiều cách bắt mồi khác nhau, có con núp bên đường chờ con mồi đi qua lao đầu ra ngoạm vào chân rồi mới quăng mình quấn tròn con mồi như bó củi. Răng của chúng mọc quặp vào trong do đó khi đớp đúng con mồi, nó giữ chặt lắm, chỉ khi nào răng gãy hết mà chưa quấn được thân, con mồi của chúng mới thoát, trường hợp này hiếm xảy ra lắm. Có con lại ngoắc đầu và đuôi lên trên lối mòn bầy thú hay đi qua như người ta chăng dây phơi đồ, chờ con mồi đi qua, buông mình rơi xuống quấn tròn. Song có lẽ săn mồi độc đáo nhất là loài trăn gió, bộ da màu vàng điểm những ô hình lục giác, viền đen, hay leo trèo trên các ngọn cây và có thể lao từ ngọn cây cao hàng chục sãi tay xuống mặt đất bắt con mồi. Có lẽ vì vậy nên người ta gọi nó là trăn gió. Một lần đi hái thuốc H’Chi nhìn thấy một con trăn to như bắp đùi người lớn bò bằng nửa thân sau đầu ngẩng cao tới gần hai mét vừa tiến lên phía trước vừa uốn éo những động tác đẹp như diễn viên xiếc múa. Bầy khỉ đang bới lá mục nhặt hạt dẻ đứng ngây ra nhìn, không con nào cử động được. Mãi đến khi con trăn đổ mình há miệng đỏ lòm, đầy răng lởm chởm ngoạm vào tay một con khỉ, quăng người cuốn tròn lại, con khỉ chỉ kịp kêu: Kh... ẹc! Một tiếng tắc nghẹn, lúc đó cả bầy mới nháo nhào bỏ chạy, leo tít lên ngọn cây. Đầu con trăn chỉ to bằng nữa đầu con khỉ, vậy mà nó nuốt cả con khỉ nặng hai chục kí, nặng bằng chính trọng lượng nó vào bụng ngon lành. Ăn xong con khỉ, con trăn khoanh tròn nằm ngủ tại chổ, amí chặt một cây dài để lên người nó, nó vẫn ngủ. Lấy dây cột cổ buộc vào khúc cây để trên mình nó, nó mới giật mình quấn quanh thân cây để amí khiêng về. Loài trăn to lớn nhưng không có nọc độc như rắn, khi đã ăn no hoặc mới lột da rất hiền, bắt nó dễ như bắt rùa, nó không chống cự. Nhưng mùa cặp đôi, hoặc đang đói chúng trở nên hung dữ không tha bất cứ một loài động vật nào bắt gặp.
Con rắn trắng cắn mình, vì tưởng mình tấn công nó, H’Chi tự nhủ; lẽ ra mình phải lưu tâm khi thấy con cầy hương tự nhiên bị mất hết bản năng của loài thú, quan sát xung quanh chắc phát hiện ra con rắn. Âu đó cũng là bài học đắt giá cho sự thiếu cảnh giác khi ở rừng. Còn con cầy hương nhờ tiếng kêu đau đớn của mình mới chợt tỉnh, chạy thoát. H’Chi tiếc rẻ, giá như mình cẩn thận hơn để con rắn cắn con chồn, mình sẽ bắt được cả chồn và rắn rồi.
          Sương mù mỗi lúc một nhiều, cách khoảng vài mét, các gốc cây chỉ còn thấy mờ mờ sau ánh lửa. Xa xa tiếng một con gà rừng cất tiếng gáy, một con rồi nhiều con khác đáp lại theo nhau kéo dài, lan tỏa khắp không gian, báo hiệu một ngày mới sắp bắt đầu.







Chủ Nhật, 23 tháng 4, 2017

TẠP CHÍ CHƯ YANG SIN SỐ: 296 - THÁNG 4 NĂM 2017 - tác giả NGUYỄN VĂN THANH




BẢN LĨNH VÀ TẦM NHÌN CHIẾN LƯỢC
CỦA TỔNG BÍ THƯ LÊ DUẨN


Cố Tổng Bí thư Lê Duẩn một nhà lãnh đạo lỗi lạc, nhà chiến lược chính trị, quân sự có tầm cỡ, “là nhân vật mang tầm vóc lịch sử hiện đại, chỉ xếp sau Hồ Chí Minh” (nhà báo Trần Bạch Đằng), được toàn Đảng, toàn dân, toàn quân khâm phục và trân trọng. Riêng đối với nhân dân, cán bộ và chiến sĩ Nam bộ gọi đồng chí Lê Duẩn là "Ngọn đèn 200 nến", là “người của Cụ Hồ trong Nam” và còn gọi cái tên là Anh Ba.  Trong những năm đất nước chuyển mình đổi mới, phát triển kinh tế theo cơ chế thị trường xã hội chủ nghĩa với tầm nhìn xa, anh Ba Lê Duẩn đã lát những viên gạch đầu tiên trên con đường đổi mới, để đến hôm nay sau hơn 30 năm đổi mới đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử.
Đồng chí Lê Duẩn tên thật là Lê Văn Nhuận, sinh ngày 7 tháng 4 năm 1907, tại làng Bích La Đông, xã Triệu Đông, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, trong một gia đình giàu truyền thống yêu nước.
Là người sớm giác ngộ tinh thần cách mạng, đồng chí Lê Duẩn gia nhập Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên. Năm 1930, đồng chí trở thành một trong những đảng viên lớp đầu của Đảng Cộng sản Việt Nam do đồng chí Nguyễn Ái Quốc sáng lập.
Năm 1931, đồng chí là Ủy viên Ban Tuyên huấn Xứ ủy Bắc kỳ. Tháng 4 năm đó, đồng chí bị địch bắt và kết án 20 tù cầm cố, lần lượt bị giam ở các nhà tù Hỏa Lò, Sơn La và Côn Đảo.
Năm 1936, do thắng lợi của Mặt trận  Bình Dân ở ở Pháp và phong trào đấu tranh của nhân dân ta, chính quyền thực dân buộc phải trả tự do cho nhiều chiến sĩ Cộng sản trong đó có đồng chí Lê Duẩn. Từ Côn Đảo trở về, bất chấp sự đe dọa, quản thúc của kẻ thù và sức khỏe giảm sút, đồng chí đã trực tiếp chỉ đạo phong trào ở quê nhà Quảng Trị. Đồng chí nhiều lần đến cơ sở nhà đồng chí Hồ Tần, Lê Quang Soạn và miếu An Mỹ (miếu An Mỹ nay  thuộc làng An Mỹ, xã Cam Tuyền, huyện Cam Lộ ) để họp với các đồng chí cán bộ đảng viên chủ chốt, phổ biến các nghị quyết của Trung ương Đảng, Nghị quyết Đại hội VII Quốc tế Cộng sản. Trong thời kỳ này đồng chí cũng đã lặn lội khắp các tỉnh miền Trung để xây dựng lại các đảng bộ bị tan rã do đế quốc đàn áp, khủng bố, khôi phục Xứ uỷ Trung kỳ.
Năm 1937, đồng chí được bầu giữ chức Bí thư Xứ uỷ Trung kỳ. Tại Hội nghị Trung ương lần thứ VI (11-1939), đồng chí Lê Duẩn đã sát cánh bên Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ, tham gia soạn thảo “Chính sách mới của Đảng”, quyết định thành lập “Mặt trận Thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương” thay cho “Mặt trận Dân chủ”, chuyển hướng cuộc đấu tranh cách mạng sang một thời kỳ mới, là thời kỳ giương cao ngọn cờ “giải phóng dân tộc, lấy lợi ích dân tộc làm tối cao, tất cả mọi vấn đề của cuộc cách mệnh, cả vấn đề điền địa, cũng phải nhằm vào cái mục đích ấy mà giải quyết”. Nhờ vậy, chỉ trong thời gian ngắn, một làn sóng cách mạng phản đế đã dấy lên, tiêu biểu là ba cuộc Khởi nghĩa Bắc Sơn, Nam Kỳ, Đô Lương, làm rung động bộ máy thực dân.
Bị thực dân Pháp bắt và đầy ra Côn Đảo lần thứ hai (1940-1945), cùng với các chiến sĩ Cộng sản khác, đồng chí Lê Duẩn một lần nữa lại tỏ rõ bản lĩnh và phẩm chất cách mạng của mình, vượt qua thử thách, một lòng kiên trung với Đảng, với dân tộc.
Sau cách mạng Tháng Tám thành công từ năm 1946 đến năm 1954, với cương vị Bí thư Xứ ủy, rồi Bí thư Trung ương Cục miền Nam, đồng chí lãnh đạo Đảng bộ miền Nam tổ chức cuộc kháng chiến ở Nam bộ, góp phần vào thắng lợi của dân tộc ta trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.
Sau Hiệp định Genève năm 1954, đồng chí Lê Duẩn đã khởi thảo bản Đề cương Cách mạng miền Nam, chỉ ra phương hướng và những bước đi cơ bản của cách mạng miền Nam, đóng góp to lớn vào Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng về cách mạng miền Nam. Với tư duy chiến lược vượt trội của “ngọn đèn 200 nến”, đồng chí đã sớm đi tới chân lý: Nhân dân ta ở miền Nam chỉ có một con đường là vùng lên chống Mỹ - Diệm, để cứu nước và tự cứu mình. Đó là con đường cách mạng. Ngoài con đường đó, không còn con đường nào khác(2). Trong bối cảnh cực kỳ khó khăn của cách mạng miền Nam lúc bầy giờ, “Đề cương” đã dấy lên niềm tin vững chắc vào thắng lợi cuối cùng của cách mạng trong đông đảo cán bộ, đảng viên.
 Giữa 7.1956, đồng chí Lê Duẩn được Trung ương điều ra công tác bên cạnh Chủ tịch Hồ Chí Minh để chuẩn bị cho Đại hội Đảng lần thứ III. Trong phiên họp đặc biệt của Bộ Chính trị, ngày 07.10.1957, đồng chí được cử làm Quyền Tổng Bí thư. Trong thời điểm này, cùng với Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng, Tổng Bí thư đã góp phần vào quá trình chuẩn bị và tổ chức Hội nghị Trung ương 15, khoá II. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 15 được thông qua tại Đại hội III của Đảng, hoàn chỉnh thành chiến lược cách mạng cho nhân dân miền Nam đánh Mỹ và thắng Mỹ. Dưới ánh sáng của Nghị quyết này, các cuộc đấu tranh chính trị có vũ trang hỗ trợ một số địa phương miền Nam lập tức bùng lên thành phong trào Đồng khởi mùa Xuân  năm 1960. Đồng khởi đã đưa cách mạng miền Nam Việt Nam từ thế giữ gìn lực lượng chuyển hẳn sang tiến công, đẩy chế độ Sài Gòn bước vào một thời kỳ khủng hoảng nặng nề, triền miên, buộc Mỹ phải tự giới hạn phản ứng trong phạm vi miền Nam.
Sau Đồng khởi, cách mạng Việt Nam bước vào giai đoạn mới, từ khởi nghĩa vũ trang, phát triển thành chiến tranh cách mạng, chiến tranh giải phóng. Trong quá trình đó, cùng tập thể Bộ Chính trị, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tổng Bí thư Lê Duẩn đã có những cống hiến xuất sắc trong việc quán triệt, vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân để lãnh đạo, chỉ đạo toàn Đảng, toàn quân và toàn dân trên cả hai miền đánh bại các chiến lược chiến tranh của Mỹ, tạo điều kiện quyết định để đi tới hạ quyết tâm hoàn thành sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mùa Xuân năm 1975. Để có được mùa Xuân toàn thắng đó, toàn dân tộc đã phải trải qua chặng đường dài chiến đấu với biết bao thử thách, hy sinh mà  Xuân Mậu Thân 1968 là cột mốc lớn, ghi dấu bước ngoặt lớn của cuộc chiến tranh. Lịch sử kháng chiến chống Mỹ đã chứng tỏ tầm nhìn chiến lược của Tổng Bí thư Lê Duẩn. Đây là một phẩm chất vô cùng quý báu của những nhà hoạch định chiến lược của Đảng ta. 
Sau khi đất nước thống nhất, cả nước tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội, Tổng Bí thư Lê Duẩn  đã cùng Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Bộ Chính trị đã tập tập trung nhiều công sức vào việc hoạch định đường lối xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Ước mơ cháy bỏng của Tổng Bí thư là xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội trên đất nước Việt Nam, nhân dân Việt Nam có cuộc sống ấm no hạnh phúc. Tại Đại hội lần thứ IV (1976) và Đại hội V (1982) của Đảng cũng như tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương, của Bộ Chính trị, Tổng Bí thư Lê Duẩn có những đóng góp vô cùng quan trọng đối với việc hoạch định đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Trong những điều kiện khác nhau, cả thời điểm thuận lợi cũng như lúc gặp khó khăn, cả khi gặp những vấn đề lý luận và thực tiễn sáng tỏ cũng như khi những tư tưởng, quan điểm đang trong qua trình tìm tòi, Tổng Bí thư luôn luôn đào sâu suy nghĩ, kiên trì nghiên cứu và thử nghiệm, một lòng trung thành với lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, với chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc. Điều mà đồng chí luôn luôn tâm niệm và kiên trì phấn đấu là “Tất cả vì Tổ quốc vì xã hội chủ nghĩa, vì hạnh phúc nhân dân”.
Với 79 tuổi đời, gần 60 năm hoạt động cách mạng, 26 năm liên tục trên cương vị Bí thư thứ Nhất và Tổng Bí thư của Đảng ta, đồng chí Lê Duẩn đã thể hiện rõ là một nhà lý luận có tầm cỡ chiến lược của cách mạng Việt Nam với một tư duy sáng tạo lớn, đã có những cống hiến xuất sắc về nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn. Đánh giá công lao và tài năng của đồng chí Lê Duẩn, Đảng ta khẳng định: “Là một nhà mác-xít - lê-nin-nít chân chính, đồng chí Lê Duẩn luôn luôn suy nghĩ, tìm tòi, xuất phát từ tình hình thực tế, phân tích, giải quyết những vấn đề mới do cuộc sống đề ra. Sự sáng suốt của đồng chí thể hiện nổi bật trước những bước ngoặt của lịch sử và những tình huống phức tạp”.

Sinh thời, cố Tổng Bí thư Lê Duẩn tâm niệm, thực tiễn cách mạng luôn là điểm xuất phát, con người và đạo lý dân tộc là điểm tựa cho việc suy nghĩ, tìm tòi theo phương pháp luận biện chứng của học thuyết Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh để lý giải tình hình, xây dựng chiến lược và sách lược cách mạng cũng như giải quyết những vấn đề mới, cụ thể của cuộc sống đặt ra. Năm tháng sẽ trôi qua, nhưng những bài học về lý luận và thực tiễn quý báu mà cố Tổng Bí thư Lê Duẩn để lại cho chúng ta vẫn còn nguyên giá trị, đặc biệt là vào thời điểm toàn Đảng ta đang nỗ lực thực hiện nhiệm vụ trọng tâm là phát triển kinh tế và nhiệm vụ then chốt là chỉnh đốn, xây dựng Đảng nhằm đáp ứng yêu cầu của thời kỳ phát triển mới.

BÍ MẬT RỪNG THIÊNG - CHƯƠNG VII


NGƯỜI ĐƯỢC YANG CHỌN
Tác giả HỒNG CHIẾN

Đang mơ màng chuẩn bị chìm vào giấc ngũ, bỗng một quả dẻ rơi trúng ngay vào mặt làm H’Chi giật mình ngồi bật dậy ngước nhìn lên ngọn cây thấy một con chồn, ánh mắt nó long lanh như có ngọn lửa cháy trong đó. Con chồn dài gần sãi tay, đứng trên cành chỉ cách đầu H’Chi hơn sãi tay, mồm còn ngậm một chùm dẻ hơn chục quả, chắc nó cũng bị bất ngờ khi nhìn thấy con người nằm phía dưới ngồi dậy nên giật mình làm rơi luôn chùm quả đang ngậm trong miệng xuống đất rồi vươn mình lao vút đi.
Trong rừng già, dẻ thường mọc thành một vùng nhất định, tạo thành rừng trông rất đẹp mắt. Vào mùa dẻ chín, lũ khỉ kéo nhau về mở tiệc huyên náo cả khu rừng. Chúng ăn no, nô đùa, nhảy múa trên cây; dưới đất lũ heo không leo được cây thì nhặt quả chín rụng xuống hoặc các quả lũ khỉ làm rơi, ăm tạm. Dẻ rừng sai quả lắm, có loại ngoài vỏ có cả chùm gai nhìn như quả chôm chôm, to bằng ngón tay cái; nhưng cũng có cây quả to như ngón chân cái, vỏ quả không có gai, tách nhẹ lớp vỏ xanh bên ngoài để lộ hạt màu nâu sậm, bỏ vào bếp nướng, khi nghe một tiếng nổ nhỏ như bắp rang, hạt nứt làm đôi, mang ra bóc bỏ vỏ cứng thấy ngay nhân hạt màu trắng ngà, mùi thơm tỏa ra rất hấp dẫn, bỏ vào miệng nhai vị ngọt, bùi đọng lại mãi trên đầu lưỡi.
Nhặt chùm dẻ con chồn làm rơi bỏ vào than hồng nướng để ăn, H’Chi miên man nghĩ về nhà, nhớ a duôn(1) sống hơn trăm mùa rẫy, lưng còng như con tôm, đi đâu phải chống gậy nhưng mắt còn tinh tường lắm. Nhiều đêm ngồi bên bếp lửa a duôn kể khan(2) nói về chuyện ngày xưa những vị Yang(3) giúp người nghèo khó, trừng trị kẻ tham lam độc ác. Có lần H’Chi hỏi a duôn dòng họ nhà mình ai là người biết hái thuốc chữa bệnh đầu tiên. Mắt a duôn bỗng rực sáng hơn lên, như có ngọn lửa cháy trong ấy.
Lâu lắm rồi, a duôn của a duôn kể lại cho nghe chuyện tổ tiên về nghề hái thuốc của dòng họ nhà mình. Năm ấy có người phụ nữ nghèo, sau lưng mang gùi, trước ngực địu đứa con trai mới sinh đặt tên Y Khuyết, đến buôn xin ở lại. Già làng thương tình cho bọn đàn ông vào rừng đốn cây, đàn bà lên đồi cắt cỏ gianh về dựng cho một ngôi nhà nhỏ. Nhà của ami(4) Y Khuyết ở cuối buôn, xa bến nước, cái rẫy cũng xa nhà nhất buôn. Khi Y Khuyết lớn lên người rắn chắc như gốc cây gỗ hương, tay dài quá đầu gối nhưng vì nghèo nên chưa ai bắt về làm chồng. Năm được mười tám mùa rẫy, trong một lần Y Khuyết vào rừng hái măng, thấy một con voi đực to bằng bốn con trâu lớn rơi xuống hố sâu chỉ có đầu và lưng nhô cao hơn mặt đất độ gang tay, không lên được. Thấy Y Khuyết đến, con voi chảy nước mắt, đặt vòi nằm ngang trên mặt đất dài như cánh tay ra hiệu xin cứu giúp. Thương tình, Y Khuyết đi chặt cây chuối rừng mang lại cho voi ăn rồi về nhà lấy cuốc đào hố cứu voi. Gần tròn một con trăng, hàng ngày đi chặt cây chuối rừng cho voi ăn và đào đất mở đường để voi đi lên thoát khỏi hố sâu mà trong tay chỉ có một cây cuốc và con dao. Cuối cùng con đường thoai thoải dài hai chục sải tay vừa đủ cho con voi lên được mặt đất đã hoàn thành. Khi thoát khỏi hố sâu, con voi bước lại quỳ xuống trước mặt Y Khuyết, đập vòi xuống mặt đất ba lần như tạ ơn. Y Khuyết vỗ vỗ vào đầu voi bảo:
- Mày lên được rồi thì vào rừng tìm bầy mà đoàn tụ nhé!
Con voi lại đập vòi xuống đất một lần nữa tỏ ý không bằng lòng rồi dùng vòi nhấc bổng Y Khuyết đặt lên cổ; dùng vòi nhặt tiếp chiếc gùi, con dao và chiếc cuốc cuốn vòi lại như người cầm, lần theo lối mòn đi về buôn. Không cần Y Khuyết chỉ đường, con voi đi thẳng đến bên ngôi nhà sàn nhỏ bé cuối buôn nơi ami Y khuyết đang ngồi, đặt cuốc, dao và gùi lên bên cạnh. Ami Y Khuyết ngồi vá yeng(5) nghe tiếng động giật mình nhìn lên thấy con trai ngồi trên đầu voi, sợ quá không nói được lời nào, ngã té ngữa. Voi quỳ hai chân trước để Y Khuyết bước xuống đất. Lúc ấy trai gái, già trẻ, lớn bé trong buôn kéo đến xem đông như lễ cúng lúa mới. Mọi người vừa tò mò, vừa kinh hãi chứng kiến lần đầu tiên một con voi to như thế lại bị con người nhỏ bé bắt về.
Già làng cho nổi trống, gõ chiêng, cột rượu, cúng Yang và mừng Y Khuyết người được Yang chọn cho dắt voi về buôn. Sau lễ cúng Yang ngày thứ ba, già làng tuyên bố với mọi người ở buôn gần, buôn xa: bắt Y Khuyết về làm chồng cô con gái út xinh đẹp của mình.
Để tỏ lòng biết ơn người đàn bà sinh được đứa con tài giỏi, già làng cho người vào rừng chặt cây, dựng nhà mới cho ami Y Khuyết. Thấy hơn chục con người mới khiêng nổi một cây gỗ, voi dùng vòi của mình tha từng cây gỗ một về buôn. Y Khuyết thấy thế liền lấy dây lớn cột ba cây gỗ làm một để voi kéo một lần buôn. Ban ngày cánh trai tráng chặt cây, đẽo vỏ còn voi đưa gỗ về; đêm đến voi vào rừng ăn, sáng lại về kéo gỗ. Nhờ voi giúp sức, chỉ một thời gian ngắn, ngôi nhà bảy gian được dựng lên ngay đầu buôn. Ngày cúng Yang về nhà mới, voi cũng được uống rượu cần và làm phép bôi máu heo lên đầu, tục lệ được công nhận là thành viên của buôn. Đã là thành viên của buôn thì phải có tên, già làng đặt tên cho voi là Y Khoa; có lẽ từ đó các con voi sau này săn bắt được đều đặt tên như người.
Sau khi bắt Y Khuyết về làm chồng cho con gái, lại thấy voi giúp được nhiều việc nên già làng cũng muốn có một con voi. Y Khuyết nhớ lại câu chuyện cứu voi của mình liền nghĩ ra cách làm bẫy bẫy voi nói cho già làng nghe. Già làng vui lắm liền giao Y Khuyết thực hiện. Sau khi cúng Yang đủ ba ngày ba đêm, Y Khuyết dẫn trai tráng trong buôn vào sâu trong rừng le, nơi có bầy voi thường đi kiếm ăn qua, cho đào một hố sâu hơn một sãi tay, dài năm sãi tay, rộng hai sãi tay rồi lấy le bắc ngang qua miệng hố, trên lát tấm nứa đan mỏng đổ đất lên trên. Chuẩn bị xong xuôi, Y Khuyết dẫn voi của mình cùng đoàn người đi mai phục. Sáng hôm sau thấy có bầy voi đang ăn ở khu rừng gần nơi làm bẫy, Y Khuyết bố trí cánh thanh niên mang chiêng bao vây đàn voi ba mặt, còn mình thúc voi đi phía sau cùng để đuổi bày voi chạy về phía rừng le nới có bẫy. Nghe tiếng người hò hét, gõ chiêng ầm ĩ, bầy voi rừng hoảng sợ bỏ chạy, một con voi cái không may rơi xuống hố không lên được. Y Khuyết cho mọi người  kiếm củi đốt bốn đống lửa lớn bốn phía để đàn voi rừng sợ không dám đến cứu voi bị nạn. Lại bày cho bọn thanh niên đào hai con hào nhỏ hai bên hông phía chân trước con voi, dùng sợi dây da trâu để khô cột vào chân trước. Sau ba ngày bỏ đói, đến ngày thứ tư, già làn mang thân cây chuối rừng đến bên con voi đưa cho nó ăn. Chắc đói quá nên nó phải ăn, khi voi chấp nhận ăn là đã thành công bước đầu. Sau năm ngày, mọi người đào rãnh phía trước để đưa voi lên mặt đất. Voi thoát khỏi hố nhưng chân trước đã bị cột dây, lại bị voi nhà dùng vòi dẫn về gần buôn buộc vào gốc cây rừng. Sau một con trăng được con người cho ăn chuối, ăn cơm có thêm chút muối trộn vào, thế là voi rừng chịu nghe lời người điều khiển, ở lại với con người. Nghề bắt và thuần dưỡng voi hình như bắt đầu như thế.
Trong những ngày nhàn rỗi, khi công việc thu hoạch mùa vụ đã xong, Y Khuyết thường cỡi voi Y Khoa vào rừng săn bắn. Một lần vào rừng sâu không may Y Khuyết bị đau bụng phải xuống đất đi cầu nhiều lần; voi Y Khoa thấy vậy bỏ đi, một lúc sau quay lại, trên vòi mang theo một chùm lá thả xuống trước mặt Y Khuyết ra hiệu bão ăn. Y Khuyết ăn một ít lá cây, một lúc sau thấy hết đau bụng, người trở lại bình thường, mừng lắm mang số lá còn lại về kể cho vợ nghe. Vợ Y Khuyết không những trẻ đẹp, lại thông minh nghe chồng kể chuyện ăn lá chữa được bệnh liền đi kiếm cây có lá đó về trồng trên rẫy, ai bị đau bụng lên hái về cho ăn thấy hiệu nghiệm, mừng lắm. Sau này trong những lần đi săn thấy voi bị thương hay bị rắn cắn, voi hái thứ gì ăn Y Khuyết đều nhớ và cũng hái lá, cây, hoa quả, củ... mang về cho vợ, cô vợ dùng những thứ đó cứu người bị bệnh đều thấy hiệu quả. Dần dần người vợ trở thành người nỗi tiếng vì chữa được nhiều bệnh cứu người, mọi người quý trọng xem như Yang hạ thế; nghề hái thuốc của dòng họ bắt đầu như vậy.
Tổ tiên mình giỏi thiệt, có biết bao chuyện đã làm được lưu truyền đến ngày nay để con cháu học tập – H’Chi tự nhủ, không biết mình là người thứ bao nhiêu được chọn đảm nhiệm trọng trách nối nghiệp của dọng họ hái thuốc cứu người. Cây thuốc có nhiều loại, mỗi loại mọc ở một khu rừng hay dòng suối, hang đá nhất định, vì thế khi có người ốm lại phải một mình vào rừng hái thuốc nên việc ngủ một mình trong rừng đêm cũng là chuyện thường tình như người ta đi rẫy vậy thôi.
 Hôm qua người ở buôn xa đến xin thuốc chữa bệnh, bệnh nặng rồi phải có loại cây mọc trong rừng xa mới chữa khỏi; ami bạn công việc không đi được, vì thế H’Chi lại phải vào rừng tìm thuốc và ngủ một mình trong rừng. Con gái mười bốn mùa rẫy rồi đâu còn nhỏ nữa, H’Chi tự nhủ và mĩm cười với chính mình.
Đêm về khuya, tiếng các loài chim gọi nhau nghe buồn bã đến nao lòng. Đi rừng đã nhiều rồi nhưng đôi khi nghe vẫn thấy rờn rợn. Thôi, phải ngủ một tí mai lấy sức còn về. H’Chi ngã mình lên lớp lá rừng trãi trên mặt đất, nghe xào xạc dưới lưng. Tiếng rì rầm của cây rừng được cô gió tấu khúc nhạc đêm như tiếng ru của ami đưa H’Chi chìm dần vào giấc ngủ. 

Chú thích:
1.      A duôn: bà ngoại – tiếng Êđê;
2.      Khan: Sử thi Êđê;
3.      Yang: thần thánh - tiếng Êđê;
4.      Ami: má – tiếng Êđê;
5.      Yeng: váy – tiếng Êđê;





Thứ Sáu, 21 tháng 4, 2017

GIỚI THIỆU TẠP CHÍ CHƯ YANG SIN SỐ: 296 - THÁNG 4 NĂM 2017 - tác giả HỒNG CHIẾN


Tác giả HỒNG CHIẾN

MAÊNG RÖØNG

Truyện ngắn

H’Lê Na đặt trước mặt Thạch Sơn chén nước màu nâu sẫm rồi bảo:
- Bạn bôi nước này lên giày để ngăn vắt cắn, rừng nhiều vắt lắm đấy.
- Nước gì vậy?
- Nước lá thuốc, chỉ loại này mới trị được lũ vắt thôi.
- Đây là loại cây thuốc quý của người Êđê à?
- Không phải thuốc quý gì đâu, lá cây thuốc mà người già vẫn dùng tẩu để hút ấy ngâm nước sôi vài phút là được.
- A, thế mà mình không biết.
Thạch Sơn reo lên thích thú khi khám phá thêm những điều hay ở nhà người bạn học cùng lớp. Thạch Sơn quê tận ngoài Bắc, bố người dân tộc Mường vào Tây Nguyên công tác gặp cô giáo dưới xuôi lên dạy học gần cơ quan, ưng ý thế là nên vợ nên chồng rồi sinh ra Thạch Sơn. Hôm qua, Thạch Sơn xin bố mẹ ngày mai cho theo bạn vào rừng hái măng. Mẹ không muốn cho đi, nhưng bố ủng hộ con trai, nói với mẹ: “cho nó theo chúng bạn làm quen với phong tục nơi đây, mở rộng hiểu biết chứ bắt con cả ngày ngồi bên bàn học sẽ thành robot mất. Học sinh lớp bảy rồi chứ còn nhỏ lắm đâu”. Thế là mẹ vui lòng cho đi.
Sáng nay bố đưa cho Thạch Sơn chiếc dao, mũi nhọn như ngọn mác thời chiến tranh chiếm hữu nô lệ, cán dài hơn ba gang tay hướng dẫn cách dùng để hái măng mà người Mường vẫn làm.
Hai đứa đạp xe lên rẫy, H’Lê Na bảo Thạch Sơn:
- Dựng xe đây, ta vào rừng le hái măng.
- Có xa không?
- Trên triền núi xanh xanh kia kìa.
H’Lê Na chỉ lên ngọn núi phía trước rồi khoác lên vai chiếc gùi đan bằng mây rất đẹp, có cả hoa văn tinh xảo viền quanh miệng. Trên vai vác cây xà gạc, lưỡi chỉ to bằng ba ngón tay, dài độ một gang. Thạch Sơn khoác chiếc ba lô vải lên vai định bước đi, H’Lê Na ngạc nhiên hỏi:
- Thạch Sơn đi hái măng bằng ba lô à?
- Ừ, có cả dao đây.
Đặt ba lô xuống đất, Thạch Sơn lấy con dao bố đưa lúc sáng cho bạn xem. H’Lê Na ngạc nhiên hỏi lại:
- Cái này dùng để hái măng à?
- Ừ, bố mình bảo ông bà nội ngoài quê đều dùng nó để hái măng đấy, cậu xem nhé – Thạch Sơn làm động tác và giải thích thêm: ấn mũi dao vào giữa cây măng ở vùng sát mặt đất, quay nhẹ qua bên phải hoặc bên trái nửa vòng tròn, bẩy nhẹ một cái đã có thể lấy cây măng lên rồi đấy.
Đôi mắt rực sáng trên khuôn mặt thông minh có nước da trắng hồng của Thạch Sơn tỏ vẻ tự hào về quê cha đất tổ của mình. H’Lê Na nhìn bạn, mỉm cười nói:
- Lạ nhỉ, chắc ngoài miền Bắc toàn măng to nên phải hái vậy, còn măng le trong này chỉ to bằng cổ tay, chặt nhẹ một nhát sát gốc là lấy được ngay mà. Thôi ta đi.
Từ ngoài nắng bước vào rừng già cảm thấy mát lạnh. Tán cây rừng xòe lá ngăn không cho ánh sáng mặt trời chiếu xuống thảm lá mục bên dưới tạo nên một vùng đất ẩm ướt. Đường quanh co, xuống gần suối đã thấy có những bụi nứa ngọn cao chót vót đứng tựa vào các cây cổ thụ và…
- Ối!
Thạch Sơn thét lên rồi nhảy tưng tưng, mắt nhắm lại. Trên mặt đất, lũ vắt như những cây chông nhỏ đứng dày đặc trên các mặt lá mục, đầu ngọ nguậy đánh hơi người, có con bò như sâu đo, lại có con đã leo cả lên giày. H’Lê Na giữ tay bạn, bật cười bảo:
- Mở mắt ra mới thấy đường đi chứ, cậu xem mấy con vắt leo lên giày đã chết cả rồi, không sợ nó cắn nữa đâu.
- Thật không?
Thạch Sơn hai tay vẫn níu vai bạn, mắt từ từ mở ra nhìn xuống chân. Lạ quá, lũ vắt cứ leo lên giày lại từ từ ngã lăn quay xuống đất; con nào cố bò lên một chút nữa thì cong người lại như bị phơi khô, nằm im bất động. Kéo bạn đi tiếp, H’Lê Na bảo:
- Do nước lá thuốc đấy, chúng độc lắm không con vắt nào chịu nổi đâu. Vào rừng sâu nhất là vùng ven suối có nhiều nứa mọc, đất ẩm ướt, vắt nhiều lắm, phải có thứ nước thuốc này mới trị được chúng đấy.
***
Nhảy qua mấy hòn đá, băng qua suối, leo lên trảng cỏ gianh đã thấy rừng le xanh thẫm chen nhau đứng dưới tán cây bằng lăng. Những cây le không biết mọc từ bao giờ cao khoảng năm sải tay, các cây đều to như cổ tay, óng ả. Từ gốc lên cao quá đầu người không có một cành ngang nào, lên cao các cành mới vươn ra quấn lấy nhau tạo thành cái ô lớn che cho gốc không để ánh sáng mặt trời lọt xuống mặt đất. Các bụi le, nhỏ độ một vòng ôm, lớn đến ba bốn vòng tay, các ngọn măng đâm lên tua tủa tạo thành một vòng bao quang các bụi le, trông đẹp quá. H’Lê Na đặt gùi xuống đất nói:
- Mình chặt măng, bạn nhặt xếp vào gốc cây bằng lăng kia nhé.
- Sao, không bóc vỏ đi cho nhẹ? – Thạch Sơn ngạc nhiên hỏi lại.
- Bạn cứ xếp lại đó chốc hai đứa ngồi bóc luôn một thể cho vui.
- Ơ, hay nhỉ.
Thạch Sơn reo lên vui vẻ như khám phá ra thêm điều mới lạ khi nghe H’Lê Na trả lời. H’Lê Na tay phải vung xà gạc lên cao cách mặt đất chừng nửa sải tay chém mạnh xuống, thân cây măng bị tiện sát mặt đất một nhát rất ngọt như người ta xắt khoai lang đem phơi, cây măng đổ nghiêng, tay phải cầm lấy ngọn quẳng lại bên gùi. Những cây măng dài hơn một gang tay hoặc cao nhất ba gang, to như cổ tay, khoác lớp áo màu xanh sẫm; riêng phía gốc bị chặt, bẹ rơi ra để lộ thân màu trắng xanh trông ngon lắm. H’Lê Na khéo tay quá, nhát dao nào cũng chỉ chặt vừa đứt hết thân măng nhưng không đứt lớp áo dưới cùng. Một lát sau, Thạch Sơn đã ba lần xếp đầy gùi mang lại đổ bên gốc cây bằng lăng. H’Lê Na lấy vạt áo lau khuôn mặt đẫm mồ hôi, cười hỏi Thạch Sơn:
- Mệt chưa?
- Chưa đâu, nhưng nhiều rồi mang về sao hết?
- Vừa đủ cho hai đứa gùi thôi.
Dựng đứng cây măng lên, H’Lê Na dùng dao ấn nhẹ hai đường hai bên cây măng gọt sạch lớp bẹ phía ngoài để lộ thân cây măng phía trong màu trắng hiện ra; bỏ dao dùng tay tách nhẹ, lớp áo bên ngoài rơi đi hết, còn lại cây măng. Nhìn cách bóc măng của H’Lê Na, Thạch Sơn tỏ ra ngạc nhiên và thích thú liền lấy dao làm thử. Thấy bạn rọc măng như róc mía, dễ vậy nhưng khi tự làm lại không được như ý; nhát sâu quá mất cả thân măng, nhát lại chỉ bóc được một đoạn vỏ. H’Lê Na vui vẻ chỉ cho bạn cách cầm con dao, lưỡi dao phải hơi nghiêng một chút, ấn nhẹ sẽ cắt gọn lớp bẹ ngoài mà không đụng vào thân cây măng. Làm riết cũng quen, đống măng to vậy, khi lột vỏ xong cũng vừa đủ xếp đầy gùi và ba lô, hai đứa xuống núi khi ông mặt trời còn chưa lên đến đỉnh đầu.
***
Cắm cúi bước đi theo con đường xuôi theo triền đồi tránh khu vực nhiều nứa ven suối khi sáng có vắt, H’Lê Na nói cho bạn biết các loài le ở Tây Nguyên, không chỉ có loại cây to không gai, còn có những cây le thân lớn nhất chỉ to bằng ngón tay cái, lá cũng nhỏ trông dễ thương lắm, măng loại le này to như ngón tay út, bẻ ra có thể ăn ngay không cần đun nấu gì cả. Đang mải vui chuyện, bỗng Thạch Sơn hai tay níu chặt vào gùi H’Lê Na, giọng líu lại:
- L…ê N…a!
- Sao vậy?
H’Lê Na hốt hoảng quay lại thấy mặt Thạch Sơn tái mét, chiếc ba lô đựng măng rơi xuống đất từ lúc nào rồi. Từ từ ngồi xuống để chiếc gùi trên mặt đất khỏi đổ, H’Lê Na cầm tay bạn:
- Bạn có sao không?
- C… ó m… ùi h… ôi l…ắm!
- À chắc có con gì chết gần đây thôi, có gì đâu mà sợ.
- Kh… ông ph… ải, h… ổ đ…ấy, l… eo l… ên c…ây đ…i.
H’Lê Na thoáng giật mình, bất giác nhìn xung quanh. Phía trước mặt là khu rừng già gần suối nước, băng qua suối sang bên kia triền đồi là rẫy nhà mình rồi. Bên cạnh chỗ hai người đang đứng có cây lồng bàng lớn, H’Lê Na bảo bạn:
- Cậu leo lên cây đi.
Thạch Sơn ôm lấy cây nhưng không tài nào leo lên được, cứ trườn lên cao được khoảng ba gang tay lại rơi bịch xuống đất. Thấy vậy, H’Lê Na dùng tay đẩy đít bạn lên cao hơn, nói nhỏ:
- Sao mọi ngày trèo giỏi thế, mà bây giờ lại… Bám lấy cành ngang trước mặt, đu người lên.
Thấy bạn bám được vào cành cây H’Lê Na mới cúi người xuống định lấy cây xà gạc thì… phịch! Cả người Thạch Sơn rơi ngay xuống lưng H’Lê Na, cả hai ngã quay lơ trên mặt đất. Mặt Thạch Sơn mặt tái nhợt như không còn giọt máu nào, tay chân run lập cập. H’Lê Na đứng lên kéo bạn dậy, vừa phủi bụi, gỡ lá cây mắc trên tóc vừa nói:
- Sao bạn bảo có hổ?
- H… ôi l… ắm!
- Aduôn bảo rừng này tuy nhiều hổ nhưng chưa bao giờ dám tấn công người và cũng không dám bắt thú của người nuôi, sợ gì. Bạn ngồi đây để mình lên trước xem sao.
- Kh… ông, s… ợ l… ắm.
- Thế thì đi sau mình nhé.
Thạch Sơn hai tay nắm chặt vạt áo bạn lò dò bước theo sau H’Lê Na. H’Lê Na tay cầm xà gạc, mắt quan sát xung quanh từ từ đi xuống bìa suối nơi phát ra mùi hôi nồng nặc, rồi bỗng bật cười reo lên:
- Hổ của cậu kia kìa!
- H… ổ a… à!
- Nhìn bên gốc cây gỗ hương kia kìa.
H’Lê Na kéo tay bạn chỉ lại gốc cây phía trước cách khoảng chục sải tay, xác một con heo rừng dài độ năm gang tay, bị thú rừng ăn hết ruột gan, ruồi bọ bay vù vù xung quanh. Kéo bạn quay lại lấy ba lô, H’Lê Na hỏi bạn:
- Sao bạn lại tưởng tượng ra hổ chặn đường?
- Nghe bố mình kể, ngoài quê nội ngày xưa hay có hổ chặn đường bắt người ăn thịt. Người đi rừng nếu đi ngược chiều gió ngửi thấy mùi thối phải leo lên cây hò hét thật nhiều để Hổ sợ bỏ đi mới dám trèo xuống đi về nhà.
- À ra thế, đấy là chuyện ngày xưa ở vùng Tây Bắc thôi, còn vùng này không ai thấy có chuyện như vậy cả.
Thạch Sơn ngượng ngùng nói với H’Lê Na:
- Chuyện hôm nay đừng kể lại với các bạn trong lớp nhé. Xấu hổ quá!
- Lần đầu vào rừng ai mà chẳng có những bỡ ngỡ, không sao đâu.
- Hứa không?
- Hứa!
Hai đứa ngéo tay nhau tiếp tục đeo gùi và ba lô trở về. H’Lê Na đi trước, mái tóc hoe vàng, cong tự nhiên như được uốn bay bay hai bên gùi trông đẹp quá. Con gái Tây Nguyên có khác: tay chân tròn lẵn, nước da màu đồng thau thể hiện sự khỏe mạnh làm người khác nhìn phát thèm, mong được như thế. Thạch Sơn bước theo, thầm ngắm bạn, lòng không khỏi có chút ghen tỵ. Sau lưng, nơi cánh rừng già, bầy chim chơ rao bỗng cất lên điệp khúc làm xáo động cả không gian.

                  Mùa thu năm 2016



  


Thứ Năm, 20 tháng 4, 2017

BÍ MẬT RỪNG THIÊNG - CHƯƠNG VI


RỪNG ĐÊM



        Những gốc cây rừng đang dần dần sẩm lại báo hiệu màn đêm sắp ập xuống, H’Chi quyết định chọn cây mít rừng có gốc to tới ba người ôm chưa hết làm chỗ cắm lều. Việc ngủ giữa rừng già qua đêm là chuyện bình thường của những lần đi tìm cây thuốc. Mọi lần có amí(1) đi cùng, còn hôm nay lần đầu tiên ngủ một mình  giữa đại ngàn phải tự tay dựng lều, quả thật cũng hơi buồn.
Chiếc lều được làm đơn giản bằng bốn cây cọc, mỗi cây dài hai sải tay, buộc đầu hai cây làm thành hình chữ A in đặt tựa gốc mít rừng, hai cây hình chữ A còn lại dựng cách khoảng hơn sải tay, lấy một cây dài độ hai sải tay gác lên đỉnh hai chữ A rồi vắt tấm ni lông qua cây ngang kéo xuống hai bên sẽ thành một ngôi nhà tránh sương đêm. Dưới mặt đất chặt vài ôm lá rắc đều làm nệm. Việc nặng nhọc nhất còn lại là chuẩn bị củi đốt lửa qua đêm. H’Chi chọn những cây khô mới gãy xuống to bằng bắp đùi, chặt mang về xếp trước cửa lều. Xong việc kiếm củi đến việc tìm nước. Ở núi cao mỗi lần ngủ lại qua đêm, amí bao giờ cũng chọn nơi gần suối, vừa  sẵn nước tắm rửa lại có thể hái rau, bắt tôm cua, cá... cải thiện. Trong rừng già thuộc dãy núi Krông Jin có loại cua núi to bằng con cua đồng lớn, màu sắc rực rỡ; con đực đỏ tươi như được quét một lớp sơn, con cái màu vàng chanh trông rất đẹp mắt. Buổi sáng sớm hoặc chiều tà chúng leo từ trong các kẻ đá ra phơi mình giữa dòng suối nước trong vắt trông giống một vườn hoa. Còn hôm nay ở giữa rừng già không có sông suối, việc kiếm nước phải dựa vào các loài dây leo. Ở rừng có loại dây chạc chìu trong thân chứa nhiều nước lắm, chọn một dây to độ bằng ngón chân cái, chặt đứt ngang thân hơi vát một chút đưa quả bầu khô mang theo đón dòng nước trong vắt từ trong thân dây chảy ra chỉ một chốc là đầy; không biết loài dây này chứa nước ở đâu mà nhiều đến thế. Nước trong dây Chạc chìu, trông giống như nước suối, tuy hơi chát một chút nhưng uống vào đỡ khát hơn nước suối. Có lẽ loài dây này đã chắt lọc nước từ trong lòng đất nên dù có uống cả tuần cũng không bị đau bụng bao giờ, vì thế người đi rừng ưng uống nước cây hơn nước suối.
          Trong rừng, màn đêm buông xuống quá nhanh, nhóm được lửa bén vào cây nhìn ra xung quanh chỉ còn thấy một màn đen đặc quánh.
*
*  *
          -T… ắc k …è! T… ắc  k …è! …
          Tiếng con Tắc kè ở trên cây mít đột ngột vang lên làm H’Chi giật mình, tự diễu: đến con tắc kè kêu mà sợ! Người dân trong vùng không ai lạ gì con tắc kè, trông nó giống con thạch sùng bám trên trần nhà nhưng lớn hơn nhiều, có con phải bằng cổ tay người lớn; trên thân mình được trang điểm những đốm xanh, đỏ, đen, vàng... lóng lánh. Người Doan(2) bắt tắc kè làm thuốc chữa bệnh và bồi dưỡng sức khoẻ cho người già. Nghe tiếng kêu, có thể biết nó sống bao nhiêu mùa rẩy, lớn bằng chừng nào. Con nào chỉ kêu được ba tiếng rồi tắt, đó là con chưa qua một mùa rẫy, cứ mỗi năm thêm một tuổi, nó kêu thêm một tiếng. Trong rừng có những con kêu tới mười lăm, mười sáu tiếng một lần; loại này quí lắm dùng cho người già, người mới ốm dậy thì tuyệt vời. Song bắt được chúng trên các hốc cây cao hay vách đá dựng đứng quả thật không dễ chút nào, phải có bí quyết riêng mới làm được.
          Vừa ăn ít cơm mang theo còn lại từ buổi trưa, H’Chi vừa nghĩ miên man đến chuyện nhà: chắc giờ này mọi người đang ăn cơm tối, amí sẽ nóng cái bụng khi mình chưa về kịp trong ngày! Lần đầu tiên vào rừng thiêng, gặp bao điều lạ; song có lẽ cái lạ nhất ở khu rừng này là các loài thú còn nhiều lắm, cứ như được người ta nuôi vậy. Gỗ chưa bị đốn một cây nào, ngay như cây mít rừng khổng lồ này sẽ cho bao nhiêu là gỗ, thớ gỗ vàng óng đóng giường, bàn, tủ… thì nhất. Cây mít rừng lá giống mít nhà, quả cũng vậy nhưng nhỏ hơn, quả lớn nhất mới bằng ấm pha trà, khi quả chín múi vàng ươm ăn vừa ngọt lại có vị hơi chua chua. Trong rừng, nơi nào có mít chín, nơi đó có khỉ, vượn, chim, sóc... đến ăn đông như chợ tết.
          -Gâu! Gâu! Gâu!
          Tiếng sủa của bầy chó sói xen lẫn tiếng rú gọi nhau xé toang màn đêm tỉnh mịch. Ban ngày chỉ có một số ít loài vật kiếm ăn như người, còn đa số các loài thú phải chờ ông mặt trời ngủ một hơi dài mới rủ nhau thức dậy đi kiếm ăn. Bầy sói này chắc lại gặp con thú xui xẻo nào rồi, đang đuổi bắt đây!
          Hôm trước ama(3) nói: vùng này chỉ có một loài sói lửa, gọi như vậy vì bộ lông của chúng giống nhau, có màu vàng sẩm như bị lửa cháy. Chúng sống theo bầy, mỗi bầy có hàng chục con, do một con cái nhanh nhẹn, khỏe mạnh nhất chỉ huy. Gặp thú rừng, chúng sủa, rú nhặng xị cả lên, con nào yếu không chạy kịp sẽ bị chúng bắt ăn thịt. Thỉnh thoảng người trong buôn vẫn bắt được heo, nai do chúng săn, đuổi chạy lạc ra buôn hoặc đuổi xuống suối móc mắt và ruột ăn hết, còn thịt bỏ lại. Đi trong rừng nếu nghe tiếng chó sủa đứng im một chỗ, ta đến thế nào cũng gặp cảnh hổn chiến giữa bầy sói và con thú bị săn mà thường con thú bị săn là heo rừng hoặc nai. Khác với loài thú ăn thịt khác như: hổ, báo… ăn thịt con mồi là chính; còn loài sói thích moi ruột, tim, gan... con vật bị bắt ăn trước. Phải công nhận lũ sói khéo léo trong cuộc chiến săn mồi. Khi gặp nai, chúng đuổi nai chạy miết đến khi mệt phải xuống suối tắm, còn lũ sói chạy theo đến đứng trên bờ sủa ầm ỹ, không cho nai lên; một con khỏe nhất lao xuống nước bơi theo, dùng bộ răng sắc nhọn của mình móc hai mắt ăn trước; con thú bị mù không thấy đường đi lúc ấy chúng mới thay nhau gậm hậu môn con vật xấu số kéo ruột ra ăn trong lúc con mồi vẫn sống. Ăn hết lòng, chúng mới xúm nhau cắn bụng lôi tim gan con vật xấu số ra chia nhau, còn thịt bỏ lại không thèm ăn. Bọn sói sợ người lắm, dù đang săn hoặc đang ăn, thoáng thấy bóng người sẽ bỏ chạy hết. Có lẽ do sợ con người nên không bao giờ chúng xuống bắt trộm thú nuôi của người.
          Tiếng sủa xa dần rồi tắt hẳn, con heo hoặc con nai nào đó bị săn đuổi còn khỏe nên chưa dễ gì bầy sói bắt được. H’Chi xếp thêm củi vào, ngọn lửa bùng lên liếm láp các thân cây, dần dần để lộ ra những cục than hồng óng ả, than này mà đặt bắp hoặc khoai mì lên trên nướng chắc tuyệt vời lắm đây. Gió rừng nhè nhẹ thổi mang đến tiếng nhạc rừng thì thào của lá cây va vào nhau như đệm cho tiếng khắc khoải trả lời của đôi chim “năm trâu sáu cột; bắt cô trói cột”, đối đáp nhau vang vọng trong đêm. Thỉnh thoảng mụ cú mèo  gõ vào không gian nhịp phách lạc lõng: Cú! Cú! Cú! Gây cho ta cảm giác rờn rợn.
*
*  *
          -Thủ thỉ thù thì! Thủ thỉ thù thì!
          Tiếng chim ăn đêm gọi gần làm H Chi vừa nằm xuống vội bật dậy; thật đáng gét cho loài chim ăn thịt tàn bạo này. Con thủ thỉ thù thì - người ta lấy tiếng kêu để đặt tên cho nó, con trưởng thành to như con ngỗng, chuyên săn mồi ban đêm. Đi đến đâu nó cũng cất giọng thê lương gõ vào màn đêm báo cho mọi vật biết sự hiện diện của mình. Nó đến mang theo thần chết đi kèm, bắt tất cả các loài vật khác nếu có thể tha được lên cây cho dù đó là chó, mèo, heo con, gà…
          Những con heo mẹ dẫn con đi ăn không cảnh giác, chỉ nghe vèo một tiếng, sáu móng chân như sáu gọng kìm của chim đóng chặt vào lưng heo nhấc bổng lên trời để lại trong không trung tiếng kêu: éc, éc, éc... thảm thiết. Heo mẹ chỉ còn biết nghiến răng, hộc lên những tiếng tắc nghẹn không làm gì nổi. Loài chim thủ thỉ thù thì, tạp ăn lắm; nó có thể bắt cả rắn, kì đà, tắc kè… dù có độc hay không độc để ăn. Vì là loài chim ăn thịt lớn nhất, tiếng kêu to nhất và cũng khó chịu nhất khi phải nghe tiếng nó; bực mình H Chi nhặt một mẩu gỗ cháy dở ném lên phía tiếng kêu. Hòn than hồng được gió thổi sáng rực vẽ một đường vòng cung trước khi va vào cây làm bắn ra hàng ngàn những tia sáng nhỏ li ti như pháo hoa, con chim giật mình đập cánh ào ào bỏ đi.
-         G… a... o!
          Tiếng gào của con báo vang lên xé toạc màn đêm nghe rợn cả da. Có lẽ nó ngồi rình mồi đâu đó phía sau gốc cây mít hay đang tò mò nhìn đống lửa, bất ngờ thấy cục than H’Chi ném ra xua chim, giật mình gào lên. Tiếng gào hoảng hốt trong đêm giữa rừng già tạo tiếng vọng nhái lại nghe ghê ghê. Từ xưa đến nay ở vùng này chưa bao giờ nghe nói báo tấn công người. Con báo có trọng lượng nhỏ, con trưởng thành nặng không quá bốn chục kí, leo trèo khéo léo như khỉ, chạy nhanh hơn cả hươu nai nên thức ăn luôn luôn dư thừa; có lẽ vì thế chúng luôn luôn tránh xa người. Nhưng tại sao đêm nay con báo lại đến đây, nó tình cờ đi qua hay cố tình rình mình? H’chi băn khoăn, đứng dậy chất thêm mấy khúc gỗ lớn, ngọn lửa bốc cao mang theo những tàn than đỏ, nhỏ li ti bay lên trời. Loài thú dù lớn đến đâu cũng sợ lửa, mình có thể yên tâm ngủ được rồi, H’Chi tự nhủ.
Ban đêm dưới tán lá rừng  chỉ thấy một màu đen mênh mông bao phủ, ngửa mặt nhìn lên cũng chỉ một màu đen chặn mất tất cả ánh sao trời không cho lọt xuống mặt đất. Gió nhè nhẹ thổi khua lá cây xào xạc. Giữa đại ngàn mới thấy lẻ loi làm sao, thèm được nghe một tiếng người quá chừng. Thoảng trong gió có mùi thơm của con cầy hương mới đi qua. Thôi, phải ngủ một tí mai lấy sức còn đi, H’Chi ngã mình lên lớp lá; tiếng rì rầm của cây rừng được cô gió tấu khúc nhạc đêm như tiếng ru của ami đưa H’Chi chìm dần vào giấc ngủ. 



Chú thích:
1.              Ami – tiếng Ê đê gọi má;
2.              Doan - tiếng Ê đê gọingười Kinh;
3.              Ama – Tiếng Ê đê gọi ba;