Thứ Hai, 20 tháng 2, 2017

GIỚI THIỆU TẠP CHÍ CHƯ YANG SIN SỐ XUÂN ĐINH DẬU-2017, tác giả PHẠM MINH TRỊ





MÙA XUÂN NHO NHỎ - ƯỚC NGUYỆN LỚN LAO



Thanh Hải tên khai sinh là Phạm Bá Ngoãn, sinh năm 1930 và mất năm 1980. Ông quê ở huyện Phong Điền, Thừa Thiên Huế. Bài thơ này được ông viết trước khi qua đời không lâu, thể hiện niềm tha thiết yêu cuộc sống, đất nước, con người và ước nguyện cống hiến của mình.
Bài thơ Mùa xuân nho nhỏ đã từng được phổ nhạc và rất nhiều người yêu thích. Riêng điều đó cũng phần nào khẳng định giá trị của bài thơ, đặc biệt về tính nhạc của nó. Mở đầu bài thơ là không gian thơ mộng, có dòng sông nước trong xanh, có sắc màu tím biếc của hoa giữa dòng và tiếng chim chiền chiện rộn rã, hối thúc, vang vọng khắp bề rộng và chiều cao của không  gian mênh mông đầy sức sống: Mọc giữa dòng sông xanh/ Một bông hoa tím biếc/ Ơi con chim chiền chiện/ Hót chi mà vang trời/ Từng giọt long lanh rơi/ Tôi đưa tay tôi hứng. Câu chữ vừa cất lên, tình người đã chan hòa, đằm thắm, rộn ràng, rạo rực. Bởi khí xuân, gió xuân và cả dòng nhựa xuân đương lưu chuyển trong mỗi con người. Chợt nhớ tới cũng âm thanh tiếng chim chiền chiện trong Thăm lúa của Trần Hữu Thung ở những năm khi hai miền Nam Bắc còn có sông Bến Hải chia cắt đau thương. Khi ấy, tiếng chim cũng cất cao nhưng lảnh lót vút lên như một ánh sao báo hiệu niềm tin chiến thắng. Còn âm thanh tiếng chim của Thanh Hải giờ đây bao trùm cả chiều rộng, chiều cao và trong cả sâu thẳm của tâm tưởng. Vì thế tác giả mới nhìn thấy: Từng giọt long lanh rơi/ Tôi đưa tay tôi hứng. Một phép hoán chuyển rất lạ và độc đáo. Chuyển từ vô hình sang hữu hình, từ không trọng lượng sang có trọng lượng, từ thính giác sang cảm giác, từ diện rộng không giới hạn sang cụ thể, nhỏ gọn (âm thanh – giọt – rơi ). Mùa xuân tràn đầy sức sống nên âm thanh cũng mang sắc màu lung linh, hấp dẫn (âm thanh – long lanh). Tác giả rất thính nhạy. Người đọc thấy rất rõ tấm lòng trân trọng đến mức tôn thờ của tác giả. Động từ đưa, hứng thể hiện rõ điều đó. Thông thường có thể viết: tôi giơ tay tôi hứng. Thái độ của đưa giơ khác nhau hoàn toàn. Một bên trân trọng, say mê, háo hức, chủ động; một bên thờ ơ, bình thường, vô tình, bị động.  Và người đọc nhận cảm rõ tấm lòng tha thiết, cuồng nhiệt của nhà thơ, sự trân trọng niềm yêu say rạo rực của tác giả đối với mùa xuân đất trời.
Tác giả yêu mùa xuân, say mê mùa xuân đến nỗi nghe được cái xôn xao, nhìn thấy được nhịp hối hả của mùa xuân. Dường như mùa xuân hiện diện ở khắp mọi nơi, từ trên tầng cao vũ trụ tràn xuống, toả bao lấy con người và cảnh vật ở dưới mặt đất. Tưởng như từng nhịp bước đi của mùa xuân tác giả đều cảm thấy, nhìn thấy. Mùa xuân đối với người cầm súng bảo vệ non sông đất nước được tác giả diễn tả bằng hình ảnh: Lộc dắt đầy trên lưng. Mỗi bước quân hành, mỗi chặng đường gian khó, người chiến sĩ đều mang mùa xuân theo. Và chính họ đã gieo mùa xuân cho mọi miền Tổ quốc. Với người nông dân, có niềm vui nào hơn mùa bội thu, gieo trồng vì thế mùa xuân có: Lộc trải dài nương mạ. Công việc chăm bẵm, cấy cày, trồng tỉa của nhà nông diễn ra trên đồng ruộng, nương rẫy  hàng ngày nên mùa xuân cũng theo về, song hành với họ. Mùa xuân đến với họ và họ cũng mang mùa xuân cho cuộc sống tươi trẻ ngập tràn. Mùa xuân về, từ chiếc lá nhỏ,  thớ vỏ đến con người, tiếng chim, từ dòng sông đến sắc biếc của hoa. Tất cả như bừng tỉnh, phấn khích bởi có một dòng nhựa tích tụ bật ra: Tất cả như hối hả/ Tất cả như xôn xao. Dường như từ ngữ, hình ảnh không thể diễn tả nổi sức sống diệu kỳ tươi rói mới mẻ rạo rực đang tí tách, phập phồng trong từng tế bào của người và vạn vật. Để diễn tả điều đó không gì bằng biện pháp so sánh kết hợp với từ láy (hối hả, xôn xao) vừa chỉ mức độ, vừa có tính tạo hình cao như tác giả đã dùng. Điệp ngữ tất cả – từ chỉ lượng toàn thể, khái quát – được lặp lại hai lần, cùng với biện pháp so sánh cũng được lặp lại hai lần. Và đặc biệt hơn ở cách dùng từ láy. Câu trên – hối hả – thanh trắc, chỉ hành động nhanh, gấp, liên tục. Câu dưới - xôn xao -  thanh không, chỉ biến thái trong tâm trạng cảm xúc. Rõ ràng sức sống mãnh liệt của mùa xuân len tận trong con người và tràn ra ngoài cảnh vật, từ trên xuống dưới, điệp trùng chồng chất, từ cảnh vật đến con ngưòi đều như bừng dậy, sảng khoái như có một luồng sức sống diệu kỳ đang hối thúc. Cái hay của hai câu thơ ở sự tự nhiên, tự nhiên từ câu chữ đến giọng nhịp, từ cách hòa kết nhuần nhuyễn các biện pháp tu từ. Vì thế người đọc cảm nhận rõ hơi xuân, khí xuân, sắc xuân và đặc biệt sức bật của sức xuân lan toả cứ tràn ra từ câu chữ.
Do sức hút không thể cưỡng của mùa xuân mà tác giả tự nguyện cống hiến: Ta làm con  chim hót/ Ta làm một cành hoa/ Ta nhập vào hoà ca/ Một nốt trầm xao xuyến. Ở đây ngoài biện pháp điệp từ còn có cả biện pháp ẩn dụ, hoà xen. Vừa nhấn mạnh ý thơ vừa tạo sự suy nghĩ sâu sắc cho người đọc. Sự tự nguyện đem đến cho đất trời và cả lòng người (chim – hoa – hoà ca – nốt trầm) cái phần tinh hoa nhất của mình đã được tích tụ từ lâu. Nhà thơ khiêm tốn nói: Lặng lẽ dâng nhưng không kém rạo rực, hối hả cho đời. Đâu phải nho nho cả cuộc đời, cả thân phận, cả tâm hồn và thể xác ước nguyện dâng cho đời để làm Đời đẹp hơn, Xuân hơn, tình nghĩa hơn. Tác giả ước vọng, sự tự nguyện trong mỗi con người sẽ trở thành nét đẹp văn hoá trường tồn như mùa xuân của đất trời (Câu Nam ai, Nam bình – Nước non ngàn dặm – Nhịp phách tiền đất Huế). Mỗi chúng ta đều có một mùa xuân nho nhỏ song ước vọng cống hiến lớn lao vô cùng.






Thứ Năm, 16 tháng 2, 2017

GIỚI THIỆU TẠP CHÍ CHƯ YANG SIN SỐ XUÂN ĐINH DẬU-2017, tác giả ĐỖ THỊ THU HUYỀN





ĐỘI NGŨ NHÀ VĂN TRẺ
NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở VIỆT NAM
 


1.  Phát hiện và khơi dòng
Hiện nay, văn học dân tộc thiểu số hiện đại từng bước có những vận động mạnh mẽ và đa diện. Thế hệ đặt nền móng và thế hệ sung sức của thế kỷ trước đã hoàn thành sứ mệnh một cách xuất sắc, những tác giả của thời kỳ đương đại, đặc biệt là lứa những tác giả trẻ 7X, 8X đang trên đà khẳng định mình và một lứa các cây viết thế hệ 9X đang tiếp nối bước chân của bậc cha anh trên con đường sáng tạo đầy nhọc nhằn.
Muốn có được những mùa bội thu thì lẽ dĩ nhiên phải gieo trồng, ươm mầm. Văn học dân tộc thiểu số ngoài việc cần được tập trung hơn nghiên cứu và giới thiệu nhiều hơn nữa đến với độc giả, thì công tác bồi dưỡng và phát hiện những tác giả trẻ cần được chú ý và đẩy mạnh trên nhiều phương diện, bằng nhiều phương thức. Giai đoạn hiện tại, các trại sáng tác, các cuộc hội thảo tọa đàm, các ấn phẩm công bố và trao đổi sáng tác đã và đang làm tương đối tốt việc phát hiện và khơi dòng cho những sáng tác trẻ dân tộc thiểu số; đồng thời có vai trò quan trọng trong việc kết nối trao đổi kinh nghiệm sáng tác giữa các tác giả cùng thế hệ và khác thế hệ với nhau. Từ những diễn đàn đó, các cây bút trẻ người dân tộc thiểu số khắp cả nước có cơ hội giao lưu, gặp gỡ và thu nhận kiến thức; ý thức rõ rệt hơn về trách nhiệm và đặc biệt là củng cố những say mê và hứng khởi cho hành trình đi và viết của mình.
Văn học dân tộc thiểu số thời kì đương đại xuất hiện sự phân hóa sâu sắc giữa các khuynh hướng, giữa các thế hệ. Bên cạnh những tác giả thuộc thế hệ thứ hai, thứ ba đã thành danh với nhiều cống hiến được ghi nhận, những người tác giả trẻ đã và đang là niềm hy vọng mới cho văn học dân tộc thiểu số. Họ có thể sẽ đại diện cho cả một thế hệ những người viết trẻ có khả năng làm thay đổi diện mạo của văn học dân tộc thiểu số. Họ không hề tỏ ra thua kém trước sự phát triển rầm rộ của văn học đương đại và những xu hướng mới du nhập với trình độ ngoại ngữ, sự đào tạo bài bản và quan trọng hơn nữa là ý thức dấn thân và không ngại đổi mới. Có những tác giả bước vào độ chín của sáng tác, phong cách định hình khá rõ rệt, nhiều tác giả có những triển vọng đi xa và quyết liệt như Bùi Thị Tuyết Mai (Mường), Đinh Thị Mai Lan, Bế Phương Mai, Nông Thị Tô Hường, Hoàng Chiến Thắng (Tày), Hoàng Thanh Hương (Mường), Niê Thanh Mai (Êđê)... và những tác giả trẻ sau này như Phạm Văn Vũ, Ngô Bá Hòa (Tày), Tuệ Nguyên (Chăm)... Điểm chung của những sáng tác trẻ của dân tộc thiểu số là sự ý thức thường trực về một bản sắc cần lưu truyền cộng hưởng với khả năng đổi mới hòa nhập vào dòng chảy văn học đương đại nhưng không phải là không định hướng một sự khẳng định chính mình.
Những năm đầu thế kỷ XXI chứng kiến sự xuất hiện rầm rộ của văn học các dân tộc thiểu số, cả khu vực Đông Bắc, Tây Bắc đến Tây Nguyên và Nam Trung bộ. Các tuyển tập ghi dấu ấn bởi sự công phu, chọn lọc (Những chiếc lá Chu đồng - Thơ Mường đương đạiCây hai ngàn lá, Văn học Chăm hiện đại,  Tuyển tập thơ, truyện ngắn Bắc Kạn (2000-2010), Một thế kỷ văn thơ Lào Cai, Thơ dân tộc và miền núi đầu thế kỷ XXI)... Nhiều nhất, phong phú hơn cả phải kể đến sự ra đời các tác phẩm của cá nhân thuộc thế hệ trẻ, với hai hình thức xuất hiện: thứ nhất là xuất bản và phát hành theo cách truyền thống: in tại các nhà xuất bản, đăng trên báo, tạp chí và hình thức được nhiều tác giả trẻ sử dụng khá phổ biến là đăng tải trên báo và tạp chí mạng, facebook và website cá nhân.
Đội ngũ tác giả trẻ người dân tộc thiểu số còn có sự chưa cân đối trên các vùng miền, số lượng tác phẩm xuất bản nhiều vẫn thuộc về những dân tộc vốn có truyền thống và bề dày thành tựu văn học. Ngoài dân tộc Tày, tín hiệu đáng mừng là đội ngũ những tác giả kế cận của các dân tộc như Dao, Mường, Thái, H’mông, Nùng, Ê đê, Chăm... cũng bắt đầu khẳng định được bản lĩnh sáng tạo của mình để tiếp bước thế hệ trước; và thậm chí có những dân tộc lần đầu xuất hiện một cách tự tin như Cao Lan… Theo nhà văn Linh Nga Niêkđam, những thế hệ kế cận các “liền chị 8X” rất đáng kỳ vọng: đầu tiên là hai gương mặt Êđê (duy nhất của khu vực miền Trung và Tây Nguyên) tốt nghiệp lớp Đại học viết văn từ sự phối hợp của Hội Nhà văn Việt Nam và Trường ĐH VHNT Quân đội là H’Phi La Niê (văn xuôi) và H’Wê Ra Êban (thơ). Tiếp đến là những truyện ngắn hồn nhiên mà bước đầu đã có tính cách riêng của Hồng Nhật Ya Lan (M’nông)… rồi những Đinh Su Giang, Y Việt Sa (Xê Đăng – Hội viên Hội VHNT Kon Tum), H’Xíu H’Mok, H’Siêu Êban (Êđê – Hội viên Hội VHNT Dak Lak)… và sẽ còn nữa, từ những ươm gieo trên bàn tay nâng niu chăm bẵm của các lớp văn nghệ sĩ đi trước(1).
Nhà thơ Bùi Tuyết Mai trong bài viết Mấy vấn đề bồi dưỡng tác giả văn học nghệ thuật trẻ người dân tộc thiểu số có dẫn ra số liệu về tình hình các tác giả dân tộc thiểu số: với 945 hội viên thì có 45 tác giả trẻ dưới 35 tuổi (Nguồn: Hội VHNT các dân tộc thiểu số Việt Nam, Báo cáo kiểm điểm nhiệm kỳ 2007-2014 và phương hướng nhiệm vụ phát triển văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số nhiệm kỳ 2014-2019) trong đó bao gồm cả những tác giả người dân tộc đa số có sáng tác về miền núi. Ở các trại sáng tác hay những lớp bồi dưỡng của các địa phương xuất hiện ngày càng nhiều những gương mặt trẻ đáng chú ý. Tuy tuổi đời mới ngoài hai mươi, trong số đó nhiều em chưa phải hội viên Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam, tuy thế đã có những dấu hiệu cho thấy một sức viết mới lạ như: Triệu Hoàng Hiếu, Vy Thị Ngọc Hằng, Trịnh Thị Thứ, Lâu Văn Mua, Lý Thị Thảo…
Lứa những tác giả thế hệ 7X, 8X vẫn có sự chênh lệch vùng miền, dân tộc nhưng giai đoạn hiện tại dù chưa lấp hết những khoảng trống đó thì sự xuất hiện của những tác giả dân tộc “hiếm” tác giả văn học như Cao Lan, Xê đăng, M’nông… đem đến những tín hiệu lạc quan, như một minh chứng cho sự trỗi dậy của một lứa các cây viết khi được chú trọng đào tạo bài bản và quan tâm bồi dưỡng. Thời đại kết nối toàn cầu, những tác giả trẻ luôn trong tâm thế sẵn sàng nhập cuộc và sẵn sàng tìm đến chia sẻ cùng nhau, qua nhiều kênh thông tin. Chính tâm thế thoải mái, tự do công bố tác phẩm và sòng phẳng, công khai trong việc nhận phản hồi giúp các tác giả trẻ nhanh trưởng thành hơn, kịp thời tích lũy cho mình những kinh nghiệm quý giá. Và việc kết nối không chỉ dừng ở các cá nhân với nhau, trong một ấn phẩm thuộc từng địa phương mà còn ở sự mở rộng theo khu vực (Chi hội nhà văn Sông Chảy…).
2.Từ sự đông đảo kỳ vọng về đa diện
Văn học dân tộc thiểu số thế kỷ XX với ba thế hệ nhà thơ đã có những đóng góp làm thay đổi không chỉ diện mạo văn học dân tộc thiểu số mà còn giúp định hình lại cách quan niệm về văn học dân tộc thiểu số. Sang thế kỷ XXI, đặc biệt là trong khoảng mươi năm trở lại đây chứng kiến sự trưởng thành cũng như sự bứt phá của nhiều cây bút dân tộc thiểu số trẻ. Số tác giả hiện nay khá đông đảo, trải dài từ các tác giả thuộc thế hệ thứ hai, ba đến các tác giả thuộc thế hệ 8X, 9X song song tồn tại và đều có những đóng góp không thể phủ nhận.
Thế hệ những tác giả thuộc 8X “đời đầu” đã thành danh và phủ sóng rộng rãi như Vi Thùy Linh, Hoàng Chiến Thắng (dân tộc Tày), Niê Thanh Mai (dân tộc Êđê)... thì lứa những tác giả trẻ, “muộn” hơn đôi chút nhưng cũng đã bắt đầu có những dấu ấn đặc biệt cho riêng mình: Lục Mạnh Cường, Phạm Văn Vũ, Nông Quang Khiêm, Lý Hữu Lương, Phạm Tú Anh, Ngô Bá Hòa, Lý A Kiều, Hà Thị Thu, Trần Mỹ Thương, Phùng Hương Ly…
Ngoài những gương mặt khá nổi bật kể trên, còn rất nhiều những tác giả đã và đang tìm cho mình một lộ trình để khẳng định cá tính riêng trong sáng tác. Đội ngũ đông đảo và sôi động hiện tại cho phép chúng ta kỳ vọng vào một lứa các tác giả cẩn trọng, vững vàng hơn trong tương lai, từ những Lương May Huyền, Dương Công Lương, Phạm Thanh Thắng, Triệu Hoàng Giang, Nguyễn Văn Toan, Triệu Hoàng Hiếu, Lâu Văn Mua…
Tuy nhiên, giữa một dàn đồng ca, tìm điểm sáng, nhất là trong sáng tạo văn chương không phải chuyện đơn giản và có thể vội vàng. Trong những khuôn mặt triển vọng của văn học dân tộc thiểu số, có một vài tác giả không nổi bật theo kiểu thu hút được truyền thông hay những sáng tác gây sự chú ý choáng ngợp, tò mò với độc giả đại chúng, mà chinh phục bạn đọc bằng sự điềm tĩnh, sắc sảo và không ngừng đặt cho mình những giới hạn cần vượt qua.
Mỗi tác giả trẻ luôn phải tự đặt mình trong những “ngưỡng” để bứt phá, định hình phong cách. Theo Từ điển thuật ngữ văn học, phong cách nghệ thuật là một phạm trù thẩm mĩ, chỉ sự thống nhất tương đối ổn định của hệ thống hình tượng, của các phương tiện biểu hiện nghệ thuật, nói lên cái nhìn độc đáo trong sáng tác của một nhà văn, trong tác phẩm riêng lẻ, trong trào lưu văn học hay văn học dân tộc. M.B. Khrapchenko cho rằng phong cách “cần phải được định nghĩa như phương thức biểu hiện cách chiếm lĩnh hình tượng đối với cuộc sống như phương thức thuyết phục và thu hút độc giả”(2).  Xem xét những đặc điểm trong cá tính sáng tạo của nhà văn, cách nhìn, cách biểu hiện của nhà văn đối với thế giới trong hành trình sáng tạo của những tác giả đạt được nhiều thành tựu như Nông Quốc Chấn, Vi Hồng, Y Phương, Triệu Kim Văn, Kim Nhất, Cao Duy Sơn, Lò Cao Nhum…, ta thấy được cái nguyên tắc xuyên suốt, nhất quán trong xây dựng hình thức nghệ thuật, đem lại cho tác phẩm một tính chỉnh thể, một giọng điệu và sắc thái thống nhất. Trong tiến trình văn học hiện đại dân tộc thiểu số, có nhiều tác giả đã và đang tạo được những bản sắc riêng cho sáng tác của mình, cũng như ghi dấu ấn sâu đậm, có sự ảnh hưởng lớn đối với thế hệ sau, bởi lẽ “các tác giả văn học lớn là những nhà tư tưởng, là người báo hiệu, mở đường cho một thời đại”(3)
Có thể kể ra không ít những sự thú vị trong cách viết của lớp các tác giả trẻ dân tộc thiểu số hiện tại. Ngô Bá Hòa sau thành công với thể loại thơ thiếu nhi đã ngày càng thể hiện một bút lực vững vàng, chững chạc. Gần đây là Cánh đồng cỏ úa với những nét vẽ sắc sảo hơn, những xúc cảm giản dị mà nhiều gợi mở. Hòa cũng dần từ bỏ lối viết thẳng hàng ngay ngắn như khi viết cho thiếu nhi để tìm cho mình những cách biểu đạt tự do phóng túng và nhiều ngẫm ngợi hơn:
Chạy đua với thời gian níu chút sức tàn nâng niu kỉ vật…
đồng đội cha chưa bao giờ mất, thân thể nương náu chốn hư vô, linh hồn về nơi cha đoàn tụ.
Không bia, không mộ, kỷ vật hóa nghĩa trang xây đắp bằng thương nhớ
Rộng như tâm hồn người lính, dài hơn mọi cuộc chiến chinh.
Nông Quang Khiêm cũng là một tác giả trẻ thành công ban đầu với thơ thiếu nhi, chính từ óc quan sát nhạy bén và cái nhìn tinh tế ấy, những truyện ngắn của Khiêm cũng chiếm lĩnh được tình cảm của bạn đọc bởi sự thông minh, hóm hỉnh (Rừng Pha Mơ yêu dấu). Không bó buộc mình vào một thể loại duy nhất là cách mà nhiều tác giả trẻ lựa chọn như Lục Mạnh Cường, Lý Hữu Lương, Phùng Hải Yến… Gió từ phía mặt trời của Lục Mạnh Cường đầy tính nhân văn dù môtip quen thuộc, Nàng Hương nửa hư nửa thực vấn vít tâm trí người đọc hệt như cách anh lồng ghép những lời then Khảm hải vào trong mạch chính của câu chuyện về thân phận nàng Va. Cái kết của truyện buồn và ám ảnh. Trong khi đó, cũng khai thác phong tục của người dân tộc thiểu số, Kiều Duy Khánh – một tác giả người Kinh cũng mang đến cái nhìn thú vị và lựa chọn được những tình tiết đắt khi nói về phong tục dân tộc trong Chiếc vòng bạc vía. Truyện ngắn Triệu Hoàng Giang cần thêm sự nhấn nhá cho câu chuyện lôi cuốn hơn. Ưu điểm của cây bút này là nhiều chi tiết và nét đẹp trong cuộc sống vùng cao nhưng cần một mạch chính xâu chuỗi để tác phẩm có nét riêng hơn. Giang cũng bắt đầu có sự duyên dáng khi kể với Hoa lửa, Chim đón dâu… Trong các tác giả trẻ gắn bó với văn xuôi, Lý A Kiều bước đầu tạo được sự chú ý khi lựa chọn một lối viết dung dị, dễ đồng cảm. Tình cảm vợ chồng quý giá hơn cả sinh mạng trongChuyện dưới núi Ka Lum, những ký ức gắn bó theo suốt cuộc đời qua tấm Khăn trải bàn… có thể neo lại những thiện cảm nơi bạn đọc.  
Ở thể loại ký và tản văn, thu hút sự thử sức của hầu hết các tác giả viết văn xuôi, tuy nhiên thành công đến với ít người. Chúng ta đã được thưởng thức những trang viết nhiều trăn trở của Linh Nga Niêkđam với Đi tìm hồn chiêng, Nxb. Văn nghệ Quân đội 2003;Trăng Xí Thoại, Nxb.VHDT 2004, Nhân danh ai, Nxb. Quân đội, 2008; mang đến một cái nhìn phong phú, đa chiều về bản sắc văn hóa Tây Nguyên và cả những đổi thay khi con người nơi đây đối mặt với di cư, hòa trộn văn hóa. Hay như Mã A Lềnh - một tác giả xuất sắc của văn học dân tộc thiểu số không chỉ bởi những vấn đề phong phú, cập nhật được đề cập mà còn bởi phong cách viết bút ký tự nhiên, hấp dẫn, từ những câu chuyện thường ngày như Chúng tôi làm nghề rừng ở Phúc An, Ríu rít một mái trường, Nông dân phải ở ruộng nương, Ghi ở Ngài Thầu… đến những vùng đất với nhiều bí ẩn, độc đáo trong Huyền thoại Nà Rin, Chuyện bí ẩn về đá… đều một chất giọng gần gụi, dễ hiểu, lượng thông tin chính xác và súc tích. Đến nay, thế hệ trẻ tiếp bước cũng với một vài gương mặt tạo được dấu ấn riêng, tuy nhiên hành trình đi một chặng đường dài còn chờ đợi nhiều bứt phá.
Tản văn của Phùng Hải Yến mang lại dư âm trong người đọc bởi những đề tài được cẩn thận chọn lựa. Tuổi thơ là một nhân chứng, là một cái cớ đẹp đẽ để yêu quê hương. Với Phùng Hải Yến, nhớ về tuổi thơ là những kỉ niệm gắn bó, khi thì là miếng bánh bò mẹ mua mỗi lần xuống chợ (Vị bánh bò tuổi thơ), khi thì là hình ảnh con dốc quê trên đường đi học: “Trong những giấc mơ ngày xa quê của tôi, cứ chập chờn khung cảnh sau con dốc, tôi mường tượng mình cũng vượt dốc, để lại thấy cảnh thanh bình trên miền quê rất đỗi thân thương của mình” (Con dốc quê); khi thì lại là hương vị dân dã của quán phở bà Mây mỗi lần đến phiên chợ (Phở chợ phiên)… Khi những giao thoa văn hóa, tiếp xúc cũ – mới khiến những biến động tâm hồn con người nảy sinh nhiều suy luận, ngẫm ngợi và lựa chọn. Thể ký, tản văn sẽ phù hợp để biểu hiện những ý tưởng, những cảm xúc thăng hoa trong tư tưởng riêng của từng tác giả. Con người một mặt vươn tới sự hòa nhập, một mặt níu giữ và khẳng định giá trị cá nhân, bởi thế ý thức về sự tồn tại của mỗi người (nói rộng ra là mỗi nền văn hóa) càng được đề cao và luôn được nhận thức lại.
  Không riêng gì người dân tộc thiểu số, cuộc sống tinh thần con người nói chung đang đứng trước những thách thức về sự pha trộn bản sắc, sự mai một đi vốn văn hóa truyền thống. Với các tác giả trẻ, khi dùng trang viết của mình để tái hiện, ngợi ca, cũng là cách níu kéo vốn văn hóa ấy. Giddens mô tả bản sắc như một công cuộc bởi ông cho rằng bản sắc là một cái gì đó mà chúng ta tạo ra, luôn luôn chuyển động, một sự chuyển động về phía trước chứ không phải việc đến đích. Nói như cách của Lò Ngân Sủn: “Dân tộc nào cũng có văn hóa, văn nghệ dân tộc mình - dù dân tộc đó lớn hay nhỏ, dân số nhiều hay ít”(4). Cách ông viết thể hiện rất rõ lối tư duy vùng cao:
Chúng tôi
Những người con của núi
Sống ào ào như thác đổ
Sống dữ dội như nước cuốn.
Sau đó vài thập kỷ, tác giả trẻ Sương Thu cũng ý nhị nhắn gửi:
Là con gái của núi
Phải biết nơi mình sinh ra
Bếp nào cũng lửa
Nhưng không phải khói đâu cũng là nhà.
(Con gái của núi)
Có thể thấy, không chỉ riêng với dân tộc thiểu số, khát vọng có được những độc đáo, đặc trưng riêng của từng tác giả trong một nền văn học giàu có luôn chính đáng, bởi sự rập khuôn sẽ dẫn đến xòa nhòa mọi nét độc đáo làm nên gương mặt riêng từng tác giả. 
3.  Nhập cuộc và hành trang để đi xa
Cũng như khi đánh giá về một tác giả trẻ tuy không phải người dân tộc thiểu số nhưng có những sáng tác hay về miền núi - Hoàng Anh Tuấn, người viết có nhấn mạnh, với người sáng tác, khi có tuổi trẻ, người ta dễ cho mình nhiều lựa chọn, nhiều đặc quyền - quyền được thử sức, được tung tẩy và được cả những vấp váp. Các tác giả trẻ người dân tộc thiểu số nhiều lúc tự cho mình quyền được bứt phá, được thử nghiệm, nhưng cái căn cốt nhất để đứng được và đi xa là sự tự trang bị và học hỏi để cho ra đời những tác phẩm từ cá tính sáng tạo của chính bản thân mình. Không màu mè, hoa mĩ là phong cách thường thấy ở lớp tác giả trước, tác giả trẻ người dân tộc thiểu số hiện nay tìm đến sự đa dạng về cách viết.
Chất liệu vẫn thế, ngôn ngữ - vỏ âm thanh cũng không có gì quá lạ lẫm, nhưng ai đi được bằng đôi chân của chính mình thì người đó tiến xa hơn. Thế hệ trước, từ những người mở đường như cố nhà thơ Nông Quốc Chấn đã viết những câu thơ hiện đại hóa, mới mẻ mà thời kỳ của ông khó ai sánh kịp. Sau này, lớp những tác giả tiếp nối và làm rực rỡ, tân kỳ, sôi động hơn cho nền văn học dân tộc thiểu số hiện đại đã tồn tại gần một thế kỷ như Y Phương, Cao Duy Sơn, Hà Thị Cẩm Anh, Inrasara, Lò Cao Nhum… đều gặp nhau ở lối viết dân tộc và hiện đại. Vẫn những tính tẩu, điệu páo dung, tiếng khèn, lời khan – khắp- cọi; vẫn cuộc sống chân tình của người miền núi; vẫn sự đa sắc của phong tục tập quán; vẫn tình yêu bền bỉ mộc mạc của trai gái vùng cao… mà thơ, truyện, ký đến cư trú, khai thác mãi không cạn nguồn.
Cái được và cũng là cái khó của lớp những người viết trẻ là ở đó. Thành tựu bề thế để học hỏi nhưng phải làm sao để không dẫm vào “vết chân những người khổng lồ”. Điều này nhiều tác giả đã và đang thực hiện được khi sáng tạo ra một lối tiếp cận và biểu hiện của riêng mình. Ví như cùng chọn lựa một biểu tượng không thể thiếu trong sinh hoạt văn hóa của cộng đồng của dân tộc Tày là cây đàn tính, ba thế hệ với ba cách nói khác nhau: Nông Quốc Chấn “diễn thơ” sự tích đàn tính:
Chiếc đàn tính vốn có mười ba dây
Vì tiếng nó vang to vang xa
Nên vua ra lệnh cắt đi gần hết...
Nhưng chẳng vua nào cắt nổi âm thanh dân tộc
Đàn ba dây vẫn thánh thót giữa cuộc đời
(Đàn ba dây)
Với Y Phương, đàn tính là tiếng lòng từ ngàn năm vang vọng lại, là lời đau thương, lời ly biệt: Cây đàn này đâu phải cây đàn/ Bầu nước mắt trăm năm cười khóc/ Cây đàn này đâu phải cây đàn/ Bọc sinh nở, lời chào ly biệt… Còn Hoàng Chiến Thắng lại khai thác sự xuất hiện song hành của tiếng đàn tính và câu hát then - nguồn khải lực để Then thoát hồn, thông quan với các loại thần linh:
Người ta săn bằng cung tên
Người ta săn bằng lưỡi mác
Thít nín đợi bầy thú hoang
Ta săn ánh trăng
Bằng lời then thủ thỉ
Buông câu sli ta dắt lối trăng về...
Những người sáng tạo văn học nghệ thuật chính là những nghệ sĩ tài hoa lưu giữ một cách sinh động, thấm thía đời sống văn hóa tinh thần một cộng đồng. Đòi hỏi này với người viết trẻ dường như khó và cũng lại cần thiết. Nếu như lớp cha anh trước thường có xu hướng sáng tác sau khi “ra đi” bôn ba phiêu dạt tới nhiều miền đất thì lại khát khao “trở về” với cội nguồn, bản làng mình; mà nói như nhà văn Cao Duy Sơn, chính bởi xa quê hương, cái nhìn hồi cố trở lại mới thêm phần “nét”. Các tác giả trẻ hiện nay có điều kiện va chạm và tiếp xúc với nhiều vùng đất, thậm chí xa xôi vượt ra ngoài lãnh thổ đất nước, nhưng “được sống” thực sự với vốn văn hóa bản địa, chuyển tải nó mới đem lại căn cước riêng cho những sáng tác, dù không phải lúc nào cũng khoác lên những mĩ từ “đậm đà bản sắc dân tộc”, “gìn giữ văn hóa”…
Điểm khác biệt của văn học dân tộc thiểu số với văn học miền xuôi đầu tiên phải kể đến là ngôn ngữ. Theo Octavio Paz thì “Nghệ thuật luôn luôn được nuôi dưỡng từ ngôn ngữ xã hội”(5), tuy nhiên không phải cứ lặp lại những gì đã và đang có trong đời sống dân tộc mình thì được cho là ngôn ngữ thơ có tính dân tộc. Các tác giả trẻ phải sống và tư duy theo cách nghĩ, cách nói của dân tộc mình mới mong tạo ra những trang viết không lai tạp, vay mượn vụng về. Hiện nay, sự va chạm và chọn lựa văn hóa diễn ra rộng khắp. Đặc biệt là các tác giả trẻ với vô vàn những cơ hội học hỏi và chọn lọc. Bốn bước đầy đủ nhất của quá trình sản sinh và thâm nhập cái mới trong văn hóa là chọn lọc, tái tạo, thích nghi và liên kết hóa (Ngô Đức Thịnh). Bên cạnh những lựa chọn đổi mới, bứt phá, nhiều tác giả trẻ tìm cho mình sự neo đậu với vốn văn hóa dân tộc, trở về với cội nguồn để tìm điểm tựa, như cách nói hình tượng của Kiều Duy Khánh “vịn dáng mẹ, con thẳng lưng mà bước”.
Sinh sống và sáng tạo trong một không gian mới, những va chạm và buộc phải lựa chọn văn hóa là điều không thể tránh khỏi. GS Cao Xuân Huy đưa ra một biểu tượng cho văn hóa Việt Nam, đấy là nước hay tính chất Nhu đạo, còn GS Trần Quốc Vượng gọi đó là khả năng ứng biến của người Việt Nam, lối sống và văn hóa Việt Nam(6). Kinh nghiệm viết ký của nhà văn Mã A Lềnh đem lại những gợi mở cho thế hệ trẻ. Khi viết, ông luôn cảm thấy mắc nợ với đời và “phải viết lên những gì tai nghe mắt thấy, nghĩa là cuộc sống đang vận động vô cùng phong phú để vươn lên ấm no, hạnh phúc, tuy nhiên phải có sự chắt lọc đã được kiểm nghiệm qua thời gian”(7). Không có con đường nào ngắn để đón nhận thành công ngoài sự nỗ lực để trưởng thành. Xu thế hiện nay, với những gì đã làm được, bằng nhiều cách, các tác giả trẻ người dân tộc thiểu số cần và phải trang bị thêm cho mình những hành trang để đi xa từ kinh nghiệm, từ vốn văn hóa tích lũy, từ lựa chọn của tiếp xúc cũ – mới, sau khi đã nhập cuộc và dấn thân.

Chú thích
1. Theo Linh Nga Niêkđam, Văn hóa nghệ thuật các dân tộc Tây Nguyên: Những băn khoăn, trăn trở, baodaklak.vn.
2. M.B. Khrapchenko, (1978), Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự phát triển văn học, Nxb. Tác phẩm mới; tr. 279
3. Phương Lựu, Trần Đình Sử, Nguyễn Xuân Nam, Lê Ngọc Trà, La Khắc Hòa, Thành Thế Thái Bình (1997), Lý luận văn học, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, tr. 716
4. Lò Ngân Sủn, Hiểu và viết về người dân tộc thiểu số, trong cuốn “Nhà văn dân tộc thiểu số – đời và văn”, Nxb, Văn hóa dân tộc, H.2003; tr.523
5. Paz Octavio (1998), Thơ văn và tiểu luận, Nxb. Đà Nẵng; tr. 229
6.  Trần Quốc Vượng, Văn hóa Việt Nam tìm tòi và suy ngẫm, Nxb. Văn học, 2003; tr.41, 94

7. Mã A Lềnh, Nhọc ngoài với ký, Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Lào Cai, 2000; tr.6

Thứ Hai, 13 tháng 2, 2017

GIỚI THIỆU TẠP CHÍ CHƯ YANG SIN SỐ XUÂN ĐINH DẬU- 2017, tác giả NGUYỄN VĂN RÈN





YẾU TỐ SIÊU THỰC TRONG BÀI THƠ 
ĐÂY THÔN VĨ DẠ CỦA HÀN MẶC TỬ


Những bài thơ hay thường khó phân tích, khó giảng giải, bởi vì thơ hay “ phải có sự kết hợp giữa cái mơ hồ và cái chính xác” ( Hoàng Ngọc Hiến), “ Thơ hay là sự lung linh giữa khả giải và bất khả giải”. Bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử ( Ngữ văn 11 – THPT) là một trường hợp khá tiêu biểu.
Khi giảng dạy bài thơ này, các thầy cô giáo thường chú ý phân tích vẻ đẹp cảnh sắc thiên nhiên vườn quê thôn Vĩ, từ đó gợi lên tâm trạng và lòng yêu thiên nhiên, quê hương đất nước của thi nhân. Như thế là chúng ta quan niệm bài thơ viết bằng bút pháp “ tả cảnh ngụ tình” theo lối truyền thống. Thực ra, đây là một bài thơ rất hiện đại dù vẫn mang cái dáng vẻ cổ điển. Khi viết bài thơ này, Hàn Mặc Tử đã chịu ảnh hưởng khá sâu sắc khuynh hướng thơ siêu thực của văn học Pháp đầu thế kỷ XX. Các nhà thơ siêu thực quan niệm có hai thế giới: Thế giới hiện thực là thế giới có thể nhìn thấy được, sờ mó được, còn thế giới siêu thực chỉ có thể cảm thấy trong giấc mơ, trong tiềm thức, ảo giác, mê sảng. Họ hướng về thế giới vô thức mà họ cho là một lĩnh vực vô hạn đối với sự sáng tạo nghệ thuật, đề cao ngẫu hứng, chú trọng ghi chép những cái lướt qua trong đầu.
Bài thơ mở đầu bằng một câu hỏi tu từ chứa đầy tâm trạng: “ Sao anh không về chơi thôn Vĩ - Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên - Vườn ai mướt quá xanh như ngọc - Lá trúc che ngang mặt chữ điền”. Vườn quê Vĩ Dạ thơ mộng như một bức tranh với ánh “ nắng mới lên” lại được lọc qua tán lá “ hàng cau” gợi lên vẻ đẹp trinh nguyên, tươi mới, thanh thoát. Từ “ mướt” gợi độ trơn, độ non tơ óng chuốt của lá cây và lời trầm trồ ngợi khen “ mướt quá” càng làm cho cảnh sắc khu vườn tươi tắn như rạng rỡ hẳn lên. Trong khu vườn xanh tươi cây lá ấy xuất hiện hình ảnh con người “ Lá trúc che ngang mặt chữ điền”( Có người cho rằng “ chữ điền” là chữ thường treo trước cửa nhà ở Huế xưa). Thực chất, đây là nét mặt người thấp thoáng trong khu vườn, nhưng “ mặt chữ điền” không phải là nét mặt cụ thể mà là một nét ước lệ. Nét ước lệ ấy lại được “ lá trúc che ngang” tạo nên vẻ đẹp chấm phá, hài hòa vào bức tranh vườn quê Vĩ Dạ.
Tuy nhiên, bức tranh vườn quê thôn Vĩ ấy không phải là ngoại cảnh mà là tâm cảnh. Nhà thơ đã trở về thôn Vĩ trong mộng tưởng, trong hoài niệm nhớ thương da diết. Nhờ thế mà cảnh vật, thiên nhiên thấm đượm tâm trạng, càng trở nên sinh động hơn, ám ảnh hơn.
Ở khổ thơ thứ hai, cảnh vật được nhìn rộng ra trong không gian và thời gian nhưng không còn cái sinh động, tươi tắn như ở khổ thơ đầu mà nỗi buồn đã thấm vào không gian, cảnh vật: “ Gió theo lối gió mây đường mây - Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay - Thuyền ai đậu bến sông trăng đó - Có chở trăng về kịp tối nay”. Những hình ảnh “gió”, “mây”, “ thuyền”, “ bến”, “trăng”, “ hoa” tưởng là cụ thể nhưng đều là hình ảnh của ấn tượng. Gió mây vốn là biểu tượng của sự hòa quyện, ở đây lại gợi lên sự chia lìa “ Gió theo lối gió mây đường mây”. Hai chữ “ gió” đóng khung một hình ảnh, hai chữ “ mây” cũng khép kín vòng, gợi lên sự hờ hững và chia lìa. Vì vậy, dòng nước “ buồn thiu” và hoa bắp vật vờ lay động càng gợi nỗi buồn. Đây là nỗi buồn của lòng người khép kín, cô đơn, là dự cảm chia lìa đôi ngả giữa nhà thơ với cuộc đời, với người trong mộng. Hình ảnh “thuyền” - “bến” cũng thường gợi sự chờ đợi, hy vọng vào sự gặp gỡ nhưng ở đây, niềm hy vọng đó thật mỏng manh vì nó được đặt dưới dạng nghi vấn: “ Thuyền ai đậu bến sông trăng đó - Có chở trăng về kịp tối nay”. Cảnh vật mờ ảo dưới ánh trăng lung linh, huyền diệu và ánh trăng như là ánh sáng của cõi mộng. Sông không còn là sông nước mà trở thành “ sông trăng” và thuyền biến thành thuyền “ chở trăng”.
Khổ thơ cuối, yếu tố siêu thực được dùng để thể hiện hình ảnh con người càng tạo ra ấn tượng mờ ảo, mông lung: “ Mơ khách đường xa khách đường xa - Áo em trắng quá nhìn không ra - Ở đây sương khói mờ nhân ảnh - Ai biết tình ta có đậm đà”. Có người tìm cách giải thích tường minh rằng “ mơ” ở đây là ai mơ ? và “ khách đường xa” là ai ? Chủ thể hay là đối tượng trữ tình ? Nhưng càng cố gắng lý giải càng đi vào bế tắc. Chỉ biết rằng, từ “ mơ” đã gợi sự mơ hồ, kết hợp với cụm từ “ khách đường xa” lặp lại như một điệp khúc càng gợi lên ấn tượng nhạt nhòa, mờ ảo như đi mãi không bao giờ trở lại. Hình ảnh người con gái cũng mờ ảo trong sương khói “ Áo em trắng quá nhìn không ra”. “ Áo trắng” ở đây đã biến thành ảo giác - ảo giác về một hạnh phúc đã trở thành kỷ niệm, trở thành nỗi đau quặn lòng.
Thơ Hàn Mặc Tử ở giai đoạn cuối đời thường có hai thế giới: Thế giới “ ở đây” - thế giới tâm hồn nhà thơ và thế giới “ ngoài kia” là thế giới thực, là cuộc đời. Nhà thơ vừa khao khát hướng ra, níu kéo cái thế giới “ ngoài kia”, hướng đến cuộc đời và tình yêu, nhưng mặc cảm về những nỗi đau lại đẩy nhà thơ ra khỏi thế giới cuộc đời ấy. Như thế, “ ở đây” không còn là ngoại cảnh, không còn là thôn Vĩ nữa mà là thế giới tâm hồn, tâm tưởng của thi nhân. Ở đó, trong cảnh “ sương khói mờ nhân ảnh”, tất cả đều mờ mịt, luất lấp, mất dạng, “ nhìn không ra”.

Dạy bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ, cần chú ý những yếu tố siêu thực với những câu hỏi tu từ tạo nên vẻ đẹp lung linh, đa nghĩa của bài thơ, tránh lối phân tích xã hội học dung tục và suy diễn tùy tiện. Cần cho học sinh cảm nhận được sự giao hòa giữa cảnh sắc thiên nhiên đẹp của một vùng quê nổi tiếng với nỗi niềm bâng khuâng da diết,một tâm hồn thiết tha yêu thương đồng cảm, gắn bó với cuộc đời nhưng cũng đầy đau đớn với mặc cảm chia lìa của thi sĩ tài hoa, bạc mệnh Hàn Mặc Tử.

Thứ Bảy, 11 tháng 2, 2017

GIỚI THIỆU TẠP CHÍ CHƯ YANG SIN SỐ XUÂN ĐINH DẬU- 2017, tác giả PHAN THUỲ DUNG


(Trại viên Trại Núi Hoa, huyện Cư M’Gar)


NỤ VÀ HOA

Truyện ngắn



Lớp chuyên Toán ghét lớp chuyên Văn, điều đó thì ai cũng biết, nhưng cái lí do mà họ ghét nhau thì vô lí cực kì…
Đó là chuyện khi đang còn học lớp 10. Năm đó trường tổ chức thi Hội khỏe Phù Đổng để chào mừng Ngày Nhà giáo. Trời xui đất khiến làm sao mà lớp chuyên Toán bắt cặp thi với lớp chuyên Văn . Vì lớp chuyên Văn toàn là gái với một cậu con trai gầy như cò hương, vì vậy lớp Toán chấp mấy nàng công chúa lớp Văn đến ba người nữa. Vậy là cuộc thi diễn ra với đội hình là 13-10. Cứ tưởng, phần thằng nắm chắc trong tay lớp chuyên Toán rồi… oái ăm thay, lớp Toán thua 3-1 trước các nàng công chúa lớp bạn. Cả trường đang xôn xao trước kết quả đầy bất ngờ này, dân Toán đờ đẫn giữa sân trường, khó chịu không phục. Là lớp trưởng của lớp chuyên Văn nên Ngọc ra cầu hòa, cô tiến lại gần cậu lớp trưởng lớp Toán niềm nở :
- Chào cậu, mình là lớp trưởng lớp chuyên Văn !
Mặt cậu lớp trưởng kia bí xị, vẻ giận dữ không nói gì. Ngọc tiếp lời:
- Hôm nay lớp cậu chơi cừ lắm đó, chỉ là lớp tớ được ăn hên thôi mà…!
Cậu lớp trưởng kia vẫn ra vẻ khó chịu, nhếch mép cười:
- Thật sao?
Ngọc hơi chột dạ trước câu nói của đối phương:
- Thật… Thật đấy.. lớp cậu cừ lắm…!
- Ha… thật vậy sao! - Cậu ta cười lớn:
- Vậy mà vẫn thua lớp Văn của cậu đấy, thấy lớp tôi cừ ghê chưa!
Câu nói “móc họng” của cậu ta làm cho Ngọc không thể nói được gì thêm. Cậu ta vẫn vẻ mặt khó chịu ấy mà nói với Ngọc:
- Cậu nói xem, lớp tôi đường đường là một đám nam nhi mà đi thua cái lớp toàn là bọn công chúa ẻo lả với một thằng gầy nhom kia thì thử hỏi xem lớp toán chúng tôi để mặt mũi đi đâu hả?
- Chỉ là một cược chơi thôi mà… cậu …!
Cậu lớp trưởng kia nhìn Ngọc với ánh mắt cháy lửa, quay lưng lại đi về phía dân Toán đang bực dọc. Ngọc lầm bầm: “Người đâu mà khó chịu đến vậy, dân toán chả nhẽ ai cũng vậy hay sao?”. Sau chuyện bị thua thê thảm của dân Toán, mối quan hệ của hai lướp Văn - Toán từ trạng thái “xa lạ” trở thành “kẻ thù” của nhau. Từ ngày đó, lớp Văn thường hay nghe dân Toán truyền tai nhau rằng lớp Văn thiếu thông minh, tâm hồn bay bổng như đang ở trên trời, thiếu thực tế vân vân và mây mây. Lớp Văn cũng đâu có dễ bị bắt nạt như vậy, lâu lâu lại qua lớp Toán rủ hàng xóm “cùng đi chơi kéo co nào”. Mỗi lần như vậy dân Toán lại đỏ mặt tía tai.
 Thấm thoắt đã qua hai mùa tựu trường, cả hai lớp vẫn chưa giải quyết được “mối thâm thù” này. Trường năm nay lại tổ chức cho khối 12 đi tham quan Vườn Quốc gia, lại duyên trời định… lớp Văn và lớp Toán lại đi chung một đoàn. Vườn quốc gia thật lớn, tán cây xum xuê mát rượi khiến ai cũng thích đến mê mẩn, đang mải miết với máy chụp hình Ngọc lỡ dẫm chân lên chân của bạn nào đó, một giọng nói đanh đá nghe quen quen cất lên sau lưng cô:
- Đi với đứng cái kiểu gì vậy?
Ngọc quay lại, hóa ra là Trung lớp trưởng chuyên Toán chứ ai, cô cười mỉa mai:
- Có vậy mà cũng la om sòm lên, con trai gì mà…!
Trung liếc nhìn cô:
- Cái chân như chân voi dẫm vào chân người ta không đau làm sao được!
- Này nhé cậu vừa phải thôi nhé, con trai gì mà ích kỉ quá vậy…!
Cuộc cãi vã của hai người một to hơn, họ không để ý là đoàn của mình đã đi rất xa họ. Cả khu rừng đang xôn sao vì tiếng cãi vã của Ngọc với Trung bỗng chốc im lặng hẳn đi. Họ nhận ra mình đã bị bỏ lại phía sau, nói đúng hơn là bị lạc nhóm mất rồi. Còn gì tệ hơn là phải ở chung với kẻ thù của mình trong một khu rừng không một bóng người. Trời đã quá trưa, mãi mà chưa có ai quay lại tìm họ, cả Ngọc và Trung lúc này có vẻ đều rất hoang mang. Ngọc ngồi xuống tảng đá gần đó, mở ba lô ra cẩm lấy hai cái bánh mì, một cái ném về phía Trung:
- Cái cuối cùng đó, lo mà ăn đi!
Trung tròn mắt nhìn Ngọc:
- Tôi không đói cậu ăn đi!
- Làm giá ghê nhỉ? Không còn cái thứ hai nữa đâu ăn đi ông!
Ngọc nhìn Trung cười rồi cô ngủ thiếp đi trên tảng đá. Trung ngạc nhiên, không hiểu sao kẻ thù của mình hôm nay lại hiền quá vậy, thay đổi 360 độ so với mọi ngày luôn. Cậu ăn cái bánh mà Ngọc đưa cho mình, rồi tiến lại gần Ngọc, nhìn cô ấy ngủ, chưa bao giờ cậu thấy một người con gái nào lại xinh dến vậy… Trung thấy lòng mình chợt rung rinh như những tia nắng đang xuyên qua từng chiếc là trong khu rừng này...
Trời đã xế chiều, Ngọc tỉnh giấc vì nắng hắt vào mặt cô, mở mắt ra, cô ngạc nhiên khi Trung đang cầm một cái là gì đấy như là lá môn, che nắng cho cô. Trên tay Trung vẫn còn một nửa cái bánh mì được gói lại đàng hoàng, cậu ta nghĩ đó là cái cuối cũng nên dành cho mình, ngốc quá vậy! Nhìn Trung ngủ gật, tay vẫn cầm cái lá che cho mình, cô mắc cười, thấy Trung thật đáng yêu không đanh đá như ngày thường, lúc nào cũng như vậy có phải hơn không? Trung tỉnh dậy, vội vàng vứt ngay cái lá đang cầm trên tay đi, nhưng không Ngọc đã thấy điều này tữ nãy giờ rồi:
- Thôi, không cần làm bộ đâu tớ thấy cả rồi nhé!
- Ơ hay có ai làm gì đâu mà thấy với không thấy chứ!
- Cậu tốt tính thế kia mà sao cứ tự làm mình xấu đi trong mắt người khác thế nhỉ?
- Không phải như cậu nghĩ đâu nhé!
- Chứ là như thế nào? Tớ thấy cậu che nắng cho tớ ngủ kìa, không tốt thì là gì!
- Không phải tớ chỉ là…!
- Chỉ là gì cơ?
Ngọc cười tủm tỉm còn Trung thì mặt đỏ ửng:
- Chỉ là tớ cầm là lên che cho mình thôi chứ ai hơi đâu mà đi che nắng cho cậu ngủ chứ!
Ngọc lại cười trong cái nắng đang dịu đi của cảnh rừng chiều, nụ cười ấy làm Trung say nắng…
- A..a…a, mọi người kia rồi ! Ngọc kêu lớn.
Cuối cùng thì mấy bạn trong lớp Văn- Toán và một số thầy cô khác cũng đã tìm được hai tên lớp trưởng này, Trung chạy một mạch về gần chỗ đám đông, bỏ mặc cô bạn dễ thương đang ở đằng sau. Chuyến tham quan đầy những kỷ niệm đáng nhớ, có lẽ đã có một nụ hoa của tình cảm trong lòng Ngọc  và Trung đang chờ ngày nở thành một đóa hoa xinh đẹp…
Thời gian trôi qua. Thêm một sự cố nữa khiến cho mối quan hệ của hai lớp Văn, Toán lại căng như sợi dây đàn. Một sáng sớm đẹp trời nọ, Tiến - đứa con trai duy nhất của lớp chuyên Văn phải trực nhật, chẳng hiểu chân tay thê nào mà cậu ta hất nguyên chậu nước vào người của một cô bạn nào đó đi ngang qua lớp, cậu vội chạy ra rối rít xin lỗi:
Xin lỗi bạn… xin lỗi bạn mình không cố ý đâu…thật đấy!
Cô bạn kia liếc nhìn Tiến một cái đau điếng:
- Bộ xin lỗi là được đấy hả? Ướt thế này rồi sao tôi đi học đây, mới sáng mà gặp phải cô hồn rồi!
- Mình… không cố ý mà…!
- Tưởng ai chứ, hóa ra là Bích, hoa khôi lớp Toán cạnh bên đây mà!
Ngọc bước tới, nói với giọng đầy mỉa mai vì vốn dĩ Bích nổi tiếng chua chát. Bích mặt hầm hầm tiến về phía Ngọc đẩy cô bạn ra:
- Cậu thì biết cái gì mà nói chứ!
- Cậu quá đáng rồi đó nha, Tiến đã xin lỗi cậu rồi cơ mà, lớp Toán các cậu hiếp người vừa thôi nhé!
Bích đỏ mặt, đưa tay định tát Ngọc, thấy vậy như sợ cô lớp trưởng của mình bị đánh Tiến chạy lại xô Bích té ngã, vừa lúc đó Trung từ đâu chạy đến, cậu ấy quay lại đỡ Bích đứng lên.
- Lớp Văn đúng là vô duyên vô cớ mà ăn hiếp người quá đáng mà! Trung nói với giọng điệu đầy mỉa mai.
Ngọc nhìn Trung, rồi quay phắt lại kéo tay áo Tiến đi. Trung nhìn Ngọc nhưng cô không một lần quay lại nhìn thêm một lần nào nữa. Trung bối rối. Bỏ đi vậy thôi chứ Ngọc không để yên cho Bích đâu. Ra về, cô chạy nhanh ra đến nhà xe, tính kế hãm hại Bích, Cô nghĩ tới cái cảnh cậu ta phát điên trên đường về mà không nhịn được cười, cô thích chí, từ đằng sau một bàn tay đập nhẹ vào vai cô:
- Này cậu cười cái gì đó!
Ngọc giật mình, quay lại:
- Này cậu theo dõi tôi đấy hả?
- Không có nha!
- Chứ sao cậu theo tôi ra đây làm cái gì chứ!
- À … Thì tớ có chuyện muốn nói với Ngọc đấy!
- Chuyện gì nói lẹ coi !
- À chuyện quan trọng đó mà!
Ngọc thoáng chút bối rối, tim đập  nhanh hơn:
- Chuyện gì mà quan trọng thế chứ!
- À… Không về chung nhé!
Trung nở một nụ cười với Ngọc. Cô ngập ngừng đồng ý, chưa bao giờ cô nhận được một nụ cười nào ấm áp như vậy từ một người con trai nào, cô nhận ra điều gì đó trong tim mình, cả Trung nữa cậu cũng vậy. Hai người cũng về nhà trên con đường nắng đang dịu đi nhẹ nhàng khẽ đọng lại trên vai áo, một thứ tình cảm đang nảy nở lạ và đẹp như một bông hoa trong lòng Ngọc và Trung.




Thứ Tư, 8 tháng 2, 2017

GIỚI THIỆU TẠP CHÍ CHƯ YANG SIN SỐ XUÂN ĐINH DẬU- 2017, tác giả TRỌNG HÙNG




ANH TÔI
Truyện ngắn


Tôi lớn lên, nghe mẹ nói, anh tôi đã hy sinh ở Tây Nguyên. Thân xác đã gửi lại mảnh đất Tây Nguyên không sao tìm lại được nên mẹ tôi đã làm cho anh tôi “ngôi nhà” ở phần mộ của gia đình tôi. Tháng Giêng nào, chúng tôi cũng đi tảo mộ. Chúng tôi thắp hương cho cha, cho ông bà, cố can và thắp hương cho anh tôi nữa. Cứ mỗi lần, chúng tôi đi thắp hương về, mẹ tôi mừng mừng, tủi tủi đứng trước di ảnh của anh tôi, hướng về Tây Nguyên cầu khẩn, mong hồn anh tôi được vui vầy ở mảnh đất đầy nắng gió ấy. Có lần, tôi nghe mẹ nói: Có đêm, mẹ mơ thấy nhân dân Tây Nguyên từ người già đến trẻ em, cả thanh niên, phụ nữ… đều đến thắp hương ở một ngôi mộ lớn ở vùng đồi K’Nác. Trận đánh K’Nác ngày ấy, nghe nói quân ta hy sinh nhiều lắm. Lúc rút lui, quân ta không lấy được xác các liệt sĩ. Xác các liệt sĩ phơi trắng ven suối và chân đồi K’Nác!”. Quân địch đã gom lại, đổ xăng đốt nên gia đình tôi năm lần bảy lượt vào Tây Nguyên tìm mộ anh tôi mà không sao tìm được, mẹ tôi mới làm một ngôi mộ ở nghĩa trang của gia đình tôi, để anh tôi có nơi về yên nghỉ với tổ tiên, giòng họ nhà tôi.
Cứ tháng giêng, quê tôi có tục lễ tảo mộ. Hương trầm thả theo gió mùi thơm đến xao xuyến lòng người. Những lần như thế, chúng tôi nhìn lên mộ anh tôi xanh rờn sắc cỏ. Mẹ tôi bảo, đấy là niềm vui của anh tôi dưới mộ đã làm cho cỏ xanh thêm. Tin hay không tin thì ngôi mộ không hài cốt của anh tôi lúc nào cũng ngập tràn hương khói. Nghe nói, trong sương sớm có người đã đến thắp ở mộ anh tôi bùng đỏ như hoa lửa. Có người còn cho gia đình tôi biết: Nhiều đêm, sương dày đặc như tuyết rơi, nhưng ai đó đã đến thắp hương trên mộ của anh rất sớm, hương hồng bồng bềnh trong tuyết trắng. Tàn hương thì quăn lại như tóc người con gái uốn phi-dê. Đã nhiều lần, tôi qua mộ, tôi cũng thấy như thế. Có lần tôi đã rình xem ai đã thắp hương lên mộ, nhưng tôi nào thấy ai. Tôi cứ nghĩ, anh tôi hy sinh vì quê hương đất nước nên Trời, Phật đã cho anh tôi được hưởng hồng phúc như thế.
Anh hy sinh lúc 25 tuổi và đã có 5 năm tuổi quân. Ngày ra đi, anh sợ mẹ tôi già không sao cáng đáng được ruộng vườn để nuôi nấng các em nên đã chơi thân với một chị ở quê. Rồi chị ấy chờ mãi, chẳng thấy anh về. Biết anh đã hy sinh, chị cũng không lấy chồng. Chị bảo, chị mở quán hàng ở gốc đa cuối làng để nhìn rõ mộ anh, rồi sau đó chị xin làm nhà tạm ở đấy luôn. Chị ấy, ngày ấy xinh xắn lắm. Bao trai làng đến dạm hỏi, chị ấy cứ bảo, tôi đã hò hẹn rồi, không thể lấy người khác được. Bọn chúng tôi nào biết chị đã hò hẹn với anh tôi, chỉ thấy sau ngày anh ra đi, chị thường đến nhà tôi giúp đỡ mẹ tôi. Những lúc tôi đi học chậm, chị lấy xe đạp đèo tôi đến trường khỏi muộn. Lúc chia tay, chị thường bảo, em cố học cho giỏi để nối nghiệp nhà nhé. Tôi vâng lời chị, rồi vào lớp.
Một hôm, tôi lục tìm hồ sơ liệt sĩ để đưa cho Văn phòng nhà trường, thấy một phong bì lớn. Mở ra, tôi rất ngạc nhiên khi biết anh tôi đã đến cánh rừng Krông Púk, Đắk Min, đã qua đỉnh Chư Prông, Chư Lây, đèo Măng Giang, đèo An Khê, đã được nghe tiếng chim Kơtia, chim Phí hót, tôi lại nhớ đến chuyện anh hùng Đam San, Xinh Nhã. Tôi tự hào anh tôi đã sống và chiến đấu như những người anh hùng năm xưa. Tôi mơ ước sau khi tốt nghiệp đại học, được về công tác nơi ấy thì sướng biết bao, nhất là để có thời gian đi thắp hương cho anh tôi ở đồi K’Nác. Nghe nói, người Êđê, người M’nông biết cày ruộng nước rồi, biết gọi gió từ rừng về ru cho hồn liệt sĩ, tôi càng yêu Tây Nguyên hơn. Có người lại nói, ngày hội mùa, những cánh tay trần của những cô gái Tây Nguyên rất đẹp, đã làm xốn xang ánh mắt các chàng trai. Tây Nguyên đầy mơ ước, đầy thơ mộng. Không biết những buôn làng ở Ea Tiêu, Ea Súp, Ea K’tua có đẹp như những làng dưới xuôi nơi sông Hồng, sông Lam, sông Mã không nhỉ? Tôi mơ ước về với Tây Nguyên mênh mông đầy nước lành, suối ngọt.
Tốt nghiệp đại học, không về Tây Nguyên vì tôi được cử đi học thêm ở nước ngoài. Học xong, trở về Hà Nội làm việc. Chưa vội nhận công tác, tôi về quê thăm mẹ. Bây giờ mẹ già lắm rồi. Mẹ đã trên 90 tuổi, cái nhớ cái quên. Thương lắm! Rất may, anh thứ hai có cháu gái rất ngoan đã tự nguyện ở với bà nội. Bà cháu thương nhau ríu rít. Ngày ấy, chị Hương ở quán gốc đa vẫn thường xuyên vào thăm nom, chăm sóc mẹ tôi. Khi thì gói quà tấm bánh, lúc gói thuốc bổ, lúc lại là cái khăn ấm đẹp. Có lúc chị còn ở lại nấu nước lá chanh, lá bưởi tắm cho thơm tho, mát mẻ nữa. Chị không công bố, nhưng ai cũng nghĩ, anh tôi và chị chắc đã hẹn hò với nhau rồi…
Đang sửa soạn đồ đạc, tôi nhận được điện, mẹ đã qua đời! Tôi lao về ngay. Tôi có lỗi với mẹ tôi nhiều lắm. Trên đường về tôi ân hận mãi. Giá như xuống sân bay, về cơ quan, tôi xin về ngay thì đâu đến nỗi. Tôi ôm chầm thi hài mẹ, khóc ròng. Trong đám tang, anh chị em, con cháu chúng tôi ai cũng ủ ê, nhưng sao không thấy chị Hương. Tôi nghe anh chị tôi bảo chị Hương tốt với mẹ tôi lắm, sao bây giờ không thấy chị đến, tôi ấm ức trong lòng…
Ba ngày việc tang của mẹ tôi xong, tôi ra quán chị Hương. Chị Hương đã đi gần một tháng rồi. Chị đã y ước với anh bộ đội ở Tây Nguyên về hưu. Anh ấy ngày trước cũng đánh nhau với giặc ở Tây Nguyên. Hiện anh đang ở huyện K’Bang gần đồi K’Nác. Anh chị ấy đã hứa hẹn với nhau vào xây dựng gia đình ở trong đó. Anh ấy còn hứa với chị Hương sẽ trông coi phần mộ anh tôi như người nhà. Hôm ra đi, anh chị ấy cũng đến thăm mẹ tôi và đều hứa với mẹ tôi – luôn hương khói cho phần mộ anh tôi chu đáo. Chao ôi, sao lại có những con người như thế. Phúc đức cho anh tôi. Chị Hương, chị xứng đáng là chị của em. Em hứa, ổn định công tác, em sẽ vào viếng mộ anh và thăm vợ chồng anh chị luôn.
Tháng năm, nghỉ hè, tôi đi Tây Nguyên. Trên đường, những cánh rừng già nguyên sinh, rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ cây cối um tùm, cao vút, còn nguyên vẻ uy nghi của rừng đại ngàn. Trời chiều êm ả, mơ màng. Trên những mái nhà nằm rải rác, chênh vênh thả khói lam thơ mộng, huyền ảo. Theo người hướng dẫn, đây là nhà chị Hương. Tôi xuống xe, vào nhà, chồng chị đi vắng. Chị Hương nhận ra tôi ngay, chị hỏi: “Em về bao giờ, sao không cho chị biết?”.
Tôi nói cho chị hay: “Em đã đến đồi K’Nác, đã đến phần mộ chung của các anh, ngắm mộ anh, em biết mộ ấy đã có bàn tay của chị ấp iu. Không ai như chị cả. Lòng chị đẹp lạ lùng. Tâm hồn chị như nước suối ban mai. Tình yêu của chị và anh vừa lãng mạn vừa hiện thực. Hiện thực như những vòng hương xoăn tít tựa đuôi tóc của chị cắm lên mộ. Nhìn ngôi mộ tập thể ấy, em vẫn biết linh hồn anh em đang xanh rờn khi có mái tóc hương quăn đẹp của chị chia sẻ. Không biết anh Đức có lúc nào ganh tị với anh em không?
“Không đâu, trước khi xây dựng gia đình, anh đã hứa với chị rồi cơ mà. Không có anh ấy, làm sao lại có những cụm hương quăn như thế. Và anh ấy còn bảo ước gì lúc anh qua đời bình hương của anh cũng quăn như vậy. Chị lại bảo, làm sao lại không được như thế! Anh ấy cầm lấy tay chị và bảo: Hồn em đã kết tinh ở những cây hương đó rồi. Chị lại bảo, thế anh không thấy được tình yêu của em đối với anh hay sao? Anh bảo, anh có thấy đầy đủ”.
Nghe chị kể, nước mắt tôi chảy dòng, chi đưa khăn lau cho tôi như lau mặt một em nhỏ. Tôi còn sụt sịt, chị giật giật bảo, chị biết lòng em rồi mà. Em cứ yên tâm đi, lúc nào chị cũng ở bên anh Hường của em cả. Em cứ tin như thế. Lúc nào rảnh rỗi, em lại vào đây, ta đi thăm anh. Tôi sực nhớ, hỏi chị, thế anh Đức chồng chị đi đâu?
“Anh ấy về Nghệ, mười ngày nữa mới vào”.
Hai chị em tôi nói chuyện với nhau suốt chiều hôm áy. Chị bảo, lúc nào chị cũng coi tôi là em ruột của chị. Rồi chị hỏi mẹ thế nào? Tôi bảo: “Mẹ đã đi xa”. Chị òa lên khóc, nước mắt chảy ròng ròng, chị trách, sao không có ai báo cho chị biết? Tôi bảo, em có biết anh chị ở đâu đâu, mấy tháng sau mới tìm được địa chỉ của chị thì muộn rồi. Bởi thế, em mới nhất quyết vào đây thăm mộ anh và thăm anh chị một thể. Chị bảo, lúc về, đầu tiên, em phải đến bàn thờ mẹ, thắp hương cho mẹ và xin lỗi mẹ cho chị. Mẹ mất mà chị không về phúng viếng, chị thật có lỗi. Tôi bảo, nhưng chị và anh đã công bố gì đâu. Chị gắt, dù chưa công bố, nhưng chị đã hứa với anh, chị phải giữ trọn lời hứa, giữ trọn đạo dâu con chứ. Tôi ờ lên một tiếng, rồi im bặt. Chị đứng dậy, mặt ngoảnh về phía bắc vái ba vái và nói to: con xin lỗi mẹ. Xong chị lại ngoảnh về đồi K’Nác vái ba vái, nói lẩm bẩm: “Em xin lỗi anh!”. Trời nổi cơn giông ào ào. Tôi vội đứng chắn gió cho chị. Chị lại bước lên nói to: “Mẹ và anh đã thấu lòng chị”.
Chiều đã tàn, tôi thưa với chị ra thăm mộ anh lần nữa, rồi xin phép chị về. Chị ngẫm nghĩ một lúc rồi à lên một tiếng. Được, để chị cùng đi với em. Thế rồi, hai chị em tôi lên xe ra đồi K’Nác. Một ngày, phần mộ anh tôi, khói hương nghi ngút những hai lần, chắc anh tôi bằng lòng lắm…
Lúc chia tay, trên đường về, tôi nghĩ, thế là anh tôi không cô đơn, không “trắng tay” vì đã có chị Hương. Chị Hương là vợ của anh Hường là chị dâu của tôi. Một ngàn lần, tôi kính yêu chị Hương người vợ thân thiết của anh tôi.


Thứ Năm, 2 tháng 2, 2017

GIỚI THIỆU TẠP CHÍ CHƯ YANG SIN SỐ XUÂN ĐINH DẬU- 2017, tác giả TRẦN BĂNG KHUÊ


 


NGỌN ROI ĐÁ
Truyện ngắn

1.
Đó là một khối hình hộp cũ kỹ đóng vệt rêu xanh, ẩm ướt in đậm thành một cái bóng cô độc dưới nền trời lạnh lẽo. Thỉnh thoảng mới thấy ít mùi nắng lướt qua những khóm cây mỏng manh thưa lá. Thảng hoặc lại thấp thoáng nỗi buồn rũ rượi nào đó lạ lẫm dưới ánh chiều ủ rũ.
Chẳng ai muốn ngắm nhìn những thứ lấp lửng nửa sáng nửa tối ấy. Chúng chỉ là một gam nắng nhạt nhòa chỉ khiến người ta dễ bị váng vất. Và, hẳn nhiên nếu đã nhạt nhòa đến vậy, chắc chắn sẽ không đủ để xuyên thấu qua những vòm lá mỏng manh đã thủng nằm ngay bên cạnh góc vườn nhỏ ấy.
Nếu như ai đó tinh ý một chút hoặc vô tình phát hiện thôi cũng được, sẽ thấy ở ngay khe cửa khép chặt có một đường ánh sáng lấp lánh nằm nghiêng đóng từng lớp bụi nhảy nhót, ít ra vẫn còn thấy một chút ít sự sống đang thoi thóp thở và mong hồi sinh dưới mái nhà của người đàn ông kì lạ kia.
Cánh cửa vẫn đóng. Không hề có một chút động thái hé mở như những ngôi nhà khác vào lúc bắt đầu ánh sáng bình minh hé lộ. Nó lặng yên đến nỗi, khiến những ai bước ngang qua đó cũng có cảm giác rờn rợn rùng mình gai lạnh.
Hẳn nhiên, không phải vì nơi đây vắng vẻ, thiếu tiếng người. Chẳng phải sự lặng yên từ phía ngôi nhà làm người ta sợ, rồi đặt một vài dấu chấm hỏi. Thỉnh thoảng nhìn về phía đó, thấy nắng len lỏi theo từng khe hở, lại mừng vui, mong mỏi một tia hi vọng, chúng cũng sẽ lấp lánh như nắng, biết cách sưởi ấm những ẩn giấu bên trong cánh cửa đó chăng? Hoặc, có thể một ngày đẹp trời, ngôi nhà ấy sẽ mở toang ra với nụ cười và bắt đầu đón ánh nắng ấm áp lan tỏa vào phía bên trong.
Tuy nhiên, thật đáng buồn là, chúng vẫn còn bị khóa chặt từ lúc chiều tối hôm trước, và không có bàn tay nào vươn ra vào sáng sớm hôm sau.
Ngôi nhà cũng buồn như thân phận của những con người đi ra đi vào qua cánh cửa gỗ ấy. Phía trước nhà, là một khoảng sân nhỏ vừa đủ để bày biện vài ba bức tượng đá đã được tạc thành hình thù nào đó lạ kì không rõ rệt. Đôi khi đối với những trí não phong phú thì những bức tượng ấy trở nên thú vị, bởi chúng khơi gợi vài ý nghĩa nghệ thuật mà họ đang quan tâm. Nhưng, với con mắt người thường, chúng chỉ là những bức tượng đá để lâu ngoài sân, và phủ rêu xanh lạnh lẽo.
Mùa hè bỏng lửa.
Những mùa hè thường xuyên bỏng lửa. Và dưới nền trời bỏng lửa ấy, mùa hè đã nhanh chóng trở thành những mùa bão trong một vài khoảnh khắc lấp lánh nắng còn sót lại dưới những mái nhà thấp nằm nem nép nhỏ bé đáng thương. Người miền Trung hình như không ra biển nữa. Nếu có ra, cũng chỉ ngồi thụp xuống bờ cát để ngắm biển đăm đăm từ phía chân trời xa ngút mắt.
Chúng như chiếc hộp cũ kỹ nằm chĩnh chện giữa những khoảng trống chấp chới, nhìn nó, người ta thoáng nghĩ hoặc tưởng chừng cô đọng cả một nỗi buồn lớn của thế giới luôn thường trực, ám ảnh và bám riết lấy ánh mắt đau đáu mỗi lần nhìn vào. Cánh cửa trước của ngôi nhà ít khi thấy mở, dù chỉ he hé hòng đón chút ánh nắng thưa thớt mỏng tang lọt vào phía bên trong mỗi sớm bình minh.
Thỉnh thoảng hàng xóm mới thấy một người đàn ông râu tóc xồm xoàm bước ra, nheo mắt, nhíu mày nhìn mặt trời. Rồi, lẳng lặng bước vào nhà khép cửa lại. Tiếng bản lề hoen rỉ bật lên thứ âm thanh cũ mốc, nặng nề. Cót két.
Khi bóng tối tràn xuống từng nóc nhà, ngoài dàn nhạc của bọn côn trùng thủng thẳng tấu lên những bản giao hưởng của đêm, chỉ còn tiếng thở bị nhốt chặt trong những khối bê tông lạnh buốt. Thi thoảng, những âm thanh vun vút xa lạ đâu đó tạo nên sự đứt quãng tạm thời của thứ bình yên không đáng tin. Tôi lắng tai, cố nghe thử xem đó là thứ âm thanh gì, nhưng chẳng thể. Chúng khó chịu đến mức khiến tôi ngạt thở. Chúng lúc gần, lúc xa, lúc gió thoảng, lúc im bặt tuyệt đối. Rồi chúng quay trở lại chậm rãi, dích dắc như những tiếng nấc đứt quãng, chập chờn như cơn mộng mị. Chẳng thể nào nhầm lẫn được, tôi biết, chúng hẳn là đến từ phía u ám, cô độc của ngôi nhà không mấy khi mở cửa ấy.
2. 
Âm thanh vun vút ấy tiếp tục vung lên, rồi réo rắt bổng trầm. Tiếng rơi có khi thăm thẳm, chùng lại giữa lưng chừng, sau đó lao nhanh như thác đổ. Tựa hồ tiếng của những hòn đá rớt vào giếng sâu. Tôi không muốn tưởng tượng thêm nữa. Tôi thấy khó chợp mắt. Đúng hơn, là không thể chợp mắt vào lúc này.
Tôi gắng chắp vá những thanh âm chập chờn ấy lại với nhau. Trong trí nhớ ngắn hạn của tôi, mảnh sân trước của ngôi nhà ấy có rất nhiều màu sắc. Thi thoảng, vài người đi qua thường dừng chân lại ngắm nghía, đăm chiêu. Một vườn hoa hồng đỏ. Một hàng tầm xuân nằm dọc rào gỗ sơn trắng. Mỗi lần mất ngủ, tôi hay lén nhìn qua khe cửa sổ. Tôi thấy, một đứa con gái vẫn thường lặng lẽ tưới vườn hoa, vào ban đêm. Tôi đoán, chắc nó chờ những bông hoa mơn mởn sương đọng giọt vào buổi sáng hôm sau chăng? Nó hát. Căn nhà xiêu vẹo lọt thỏm giữa tiếng hát và tiếng đục đẽo, nhưng không phải tiếng roi. “Một ngôi nhà đẹp. Chắc chẳng có bí ẩn gì”, tôi lấp đầy ý nghĩ của mình bằng những điều thánh thiện.
Mặt trời gác núi. Thứ tiếng ấy lại ngược chiều gió thổi vang vọng đến đầu giường tôi rồi nhỏ dần. Giấc mơ hoang, lạnh, khiến tôi có cảm giác bất an. Tôi vùng dậy, trừng mắt nhìn vào khoảng trống trước mặt. Ngôi nhà có hàng tầm xuân, hình ảnh cô gái tưới hoa và hát, người đàn ông đam mê đục đẽo những bức tượng đá. Tôi mở bung cửa. Nhất định tôi phải nhìn thấy tận mắt những gì diễn ra bên trong ngôi nhà. Và, tôi có thể sẽ trở thành một kẻ trộm. Ắt hẳn thế. Một kẻ trộm tò mò.
3.
Cơn mưa nhỏ đầu mùa chầm chậm chạm vào da thịt của đất. Gió se lạnh vo tròn ánh mắt tôi về phía ngôi nhà ấy và những hàng cây trơ xương gầy guộc. Tôi mơ về những mầm xanh, chộn rộn đâm chồi nhú lộc trên cành non.
Sau bữa cơm tối, cả nhà tôi thường quây quần lại bên ấm trà nóng và thơm. Thi thoảng, gió lùa thốc vào từng khe cửa. Bất giác, tôi nghĩ về căn nhà cô độc nọ, rồi nhìn nghiêng mái tóc cha, đầy những sợi bạc. Tôi sợ tiếng tíc tắc của chiếc đồng hồ treo tường quay vòng vòng theo từng con số. Đó là thời gian. Những chiếc kim ấy có thể đâm xuyên vào tim tôi đau nhói.
Vài đêm mộng mị với những giấc mơ.
Về căn nhà, về âm thanh của những chiếc roi vun vút, về cô gái tưới hoa buổi đêm, về tiếng hát, tiếng khóc nấc kì lạ trong đêm. “Giá, trời nhanh sáng”, tôi nghĩ. Cha mẹ và kể cả tôi hình như không quan tâm lắm đến những gì đang diễn ra bên ngoài cánh cửa. Những bức tường giáp nhau ở thành phố, lúc nào cũng kín mít.
Một đêm khác, thứ âm thanh đó vẫn vun vút đều đặn.
“Chắc là gió”.
Vách tường nhà tôi kín gió lắm, làm sao gió có thể lọt vào và gào thét? Hẳn là ở phía bên kia, âm thanh ấy phát ra từ phía bên kia. Chúng chỉ cách nhau một bức tường. Những bức tường vẫn còn chút kẻ hở cho gió được phép réo rắt.
4.
Tôi có thói quen đi bộ quanh hồ nước nằm trong khu phố nhỏ của mình cùng mẹ mỗi sáng chủ nhật. Sương từ mặt hồ bung tỏa như khói. “Đêm qua con mất ngủ?”, mẹ đột ngột hỏi. “Có lẽ, tại âm thanh ấy”, mẹ bất ngờ tự trả lời. Tiếng chuông chùa gõ đều phía xa xa. Mẹ nhìn tôi, thì thào: “Đó là người đàn ông đặc biệt. Chú ấy làm nghề điêu khắc”. Tôi bất ngờ nhìn sâu vào mắt mẹ: “Mẹ, chú ấy đặc biệt như thế nào?”. Mẹ nhìn mặt hồ, lặng im. Không ai lí giải nổi những khoảng thời gian trắng của kí ức. 
Đầu tháng, hoặc những ngày rằm tôi chở mẹ lên chùa.
Phố xao xác. Buồn hiu hắt. Chẳng biết lòng mẹ tôi có yên. Có vài lần, tôi sững sờ khi nhìn thấy đứa con gái bằng tuổi mình, bên nhà hàng xóm ngồi đung đưa chân trên thành lan can cao ngất. Khuôn mặt tròn đầy đặn, nụ cười rạng ngời tươi thắm như hoa mặt trời, lòng tôi hoang mang tự hỏi: “Liệu cô có nhìn thấy tôi. Mọi thứ đều khả hữu”, rồi nghĩ thầm: “Hẳn là, cô bé chỉ cần nhìn thấy những chân trời đang trôi ở phía dưới”.
5.
Cha tôi không thích chơi các loại cây cảnh. Sân vườn nhà tôi trống trải. Chỉ có độc mỗi cây khế trước ngõ. Có bận, tôi len lén nghe cha thủ thỉ với mẹ: "Hãy để hoa cỏ được tự nhiên vươn mình, hé nở dưới ánh sáng của mặt trời. Đừng bật gốc, đào mầm, đừng nhốt nó lại trong những bình, những chậu". Tôi liếc nhìn sang khu vườn nhà bên, thấy khóm hồng tỉ muội đã bung nở. Người đàn ông mở tung cánh cửa, khệ nệ mang bức tượng điêu khắc có hình dáng quái dị, giống một chiếc roi tầm xuân màu nâu đất oằn xuống trên giá đỡ ra nắng. Phơi.
Từ khi căn nhà bên mở toang cửa mang bức tượng lạ kì ấy ra phơi nắng, tiếng roi vùn vụt trong đêm biến mất. Mẹ tôi lại thường xuyên mất ngủ. Đôi mắt mẹ trũng sâu. Cha tôi trầm ngâm hút thuốc nhiều hơn. Mẹ bỏ thói quen đi dạo vào sáng chủ nhật. Nhưng, vẫn lên chùa.
Đứa con gái khá duyên. Nhiều lần, tôi định làm quen, vậy mà ngại ngần không dám. Nắng vờn trên lá trong veo cả mùa sương lạnh. Đêm qua, tôi chỉ nằm mơ thấy một mặt trời rạng rỡ như ánh mắt nào đó bên nhà hàng xóm. Mẹ thì thào phía sau lưng tôi: “Tầm Xuân không biết nói. Con bé chỉ biết khóc và hát.”
Cha tôi, yêu mẹ, nhưng mắt cha trĩu buồn khi nhìn thấy ngọn tầm xuân bung nở. Đã từng có những âm thanh rơi như cơn gió vỡ, sau lưng cha mỗi lần người đàn ông ấy mở cánh cửa thường xuyên khép kín.