Thứ Hai, 11 tháng 12, 2017

YANG PHẠT truyện ngắn của Hồng Chiến





Buôn Um quê tôi chỉ có hơn hai chục nóc nhà sàn dựng ngay dưới chân dãy Chư Yang cao vút. Ban ngày tiếng chim hót, vượn hú và có cả tiếng chim công gọi nhau: “Tố hộ, tố hộ!” vang vọng vào từng góc bếp. Mùa bắp, mọi người phải thay nhau gác rẫy suốt ngày đêm, đốt lửa gõ chiêng xua đuổi heo, nai, khỉ, két… tìm về phá hoại. Chẳng biết chúng ở đâu mà kéo về nhiều đến thế, có bầy két mỗi lần bay qua rẫy làm tối cả góc trời, tiếng vỗ cánh như tiếng gió lốc. Người dân nơi đây chủ yếu trồng lúa nước, bắp, đâu theo mùa, nhờ Yang(1) nhà ai cũng đủ gạo ăn quanh năm. Những ngày lễ tết cũng vây quanh ché túc, ché ba rôm rả cả đêm.
Rừng sát nhà, toàn những cây hàng mấy trăm mùa rẫy đứng chen nhau bên những tảng đá khổng lồ. Đã bao đời nay khi đốn gỗ làm nhà những chàng trai lực lưỡng phải đi xa tìm cây ưng ý đốn, chẻ, kéo về chứ không phá rừng gần. Vì vậy buổi sáng sớm khi con gà rừng giật mình tỉnh giấc cất tiếng gọi bình minh cũng là lúc đôi chim “năm trâu sáu cột – bắt cô trói cột” tìm thấy nhau, không khắc khoải gọi nữa, nhường lời cho các chú dọc, vượn nhảy nhót, rung cây hú gọi vang trời đất. Đó cũng là lúc các amí, amai(2) dậy nhóm lửa, thổi cơm chuẩn bị cho một ngày mới.
Chiều đến khi ông mặt trời nấp sau dãy núi, mọi người cơm nước xong lại vây quanh bếp lửa lắng nghe già làng kể khan(3). Chuyện già làng kể nhiều lắm song từ bé tôi đã nghe và nhớ mãi chuyện Yang phạt người tham lam vì dám động đến rừng.
*
**
Không biết từ bao giờ trên dãy Chư Yang cao vút có một bầy sơn dương đông đúc. Chúng là loài vật hiền lành nhưng khéo léo vô cùng. Những tảng đá to như gian nhà chen lấn nhau từ chân núi kéo lên tận đỉnh trơn như đổ mỡ, vậy mà chúng lon ton chạy nhảy,  nô đùa trên đó cấm có trượt chân bao giờ. Những cây sung sum suê bên bờ suối người còn không trèo nổi, vậy mà chúng vẫn hái được những chùm quả ở lưng chừng cây. Lúc hái quả trên cao chúng khéo léo đứng bằng hai chân sau, hai chân trước bám vào cây hoặc kéo lá xuống để ăn. Điều đặc biệt của bầy sơn dương là không bao giờ phá phách hoa màu. Chúng chỉ nhởn nhơ trên triền núi đá, chiều chiều khi ông mặt trời sắp ngủ lại kéo nhau lên mỏm núi, nơi có những tảng đá cao vút, đứng nhìn xuống buôn. Những ngày đẹp trời ngồi trên nhà sàn có thể nhìn rõ con đầu đàn to như con bò, đen bóng đứng uy nghi nổi bật giữa bầu trời trong xanh. Từ xa xưa cho đến nay dân buôn Um không ai săn bắt sơn dương bởi đó là loài thú quá tinh khôn, không dễ gì bắn hạ. Hơn nữa chúng không làm hại gì ai mà chỉ tăng thêm vẻ đẹp cho quê hương. Mỗi buổi bình minh hay lúc chiều tà trên các mỏm núi vương vất những sợi nắng vàng chúng lại rủ nhau xếp hàng đứng nhìn xuống buôn như những vị thần được Yang sai xuống bảo vệ mùa màng cho con người.

*
**
Năm ấy bỗng có người lạ vào buôn lân la trò chuyện, rủ rê đám thanh niên đi săn. Con thú người lạ muốn mua chính là bầy sơn dương trên đỉnh núi Chư Yang. Người ấy cho biết con sơn dương quý lắm, bộ xương đem nấu cao dùng cho đàn ông thì tuyệt vời, chắc chắn không có loại thuốc tây – đông nào sánh được và các bà vợ sẵn sàng móc hầu bao mua dành cho chồng. Cặp sừng sơn dương có giá trị gần như sừng tê giác chuyên dùng để chữa các bệnh đường ruột – cách dùng cũng cực kỳ đơn giản: Mài đầu sừng vào chén sành, pha chút rượu trắng thì dù có đau bụng vật vã thế nào, chỉ một phút sau khỏi ngay. Bộ phận quý nhất của con sơn dương – đặc biệt con sơn dương chúa – chính là bốn cái chân. Sở dĩ chúng thuộc loài móng guốc nhưng leo trèo trên cây, trên đá được là nhờ trong móng của nó có túi mật. Chính túi mật này giúp chân sơn dương dù có bị té cũng lành ngay. Nhìn chung trong con sơn dương cái gì cũng làm thuốc được, vì thế người lạ mới phải lặn lội vào buôn thuê người săn bắn. Từ lâu người buôn Um xem sơn dương là biểu tượng của thần may mắn, mang lại mùa màng bội thu cho mọi nhà. Vì vậy cho dù cái giá được đặt ra đổi con sơn dương đầu đàn là cả chục con bò mẹ vẫn không ai nhận lời. Già làng nghe chuyện đã nói: “Sơn dương là bạn của buôn ta, không ai được sát hại. Kẻ nào làm điều ác với nó sẽ bị đuổi khỏi buôn!”.
Nhưng không phải ai cũng nghe theo lời đúng, trong buôn vẫn có kẻ tham lam, xem rượu, tiền là trên hết, sẵn sàng đánh đổi mọi thứ. Hắn chính là Y Reo, một kẻ đẹp mã, lực lưỡng nhưng lười lao động, chỉ thích uống rượu và tính chuyện đổi chác kiếm lời. Có lẽ vì vậy nên đã hơn hai chục mùa rẫy rồi hắn vẫn chưa có ai thèm bắt làm chồng, tháng ngày cậy nhờ vào mẹ, vợ chồng chị gái, em gái. Nay nghe chuyện một con sơn dương đổi cả chục con bò, hắn mừng như bắt được vàng. Hắn tin đã đến lúc hắn được đổi đời giàu có hơn người và khối cô gái sẽ chạy theo hắn xin bắt làm chồng. Già làng đã cấm không được săn bắn, và hắn cũng sợ luật bất thành văn ấy, song bỏ lỡ cơ hội này thì hắn tiếc lắm. Phải có cách để nhận số bò của người khách lạ. Cuối cùng, cái đầu đầy rượu nhưng không kém phần xảo quyệt của kẻ ưa đổi thứ này lấy thứ khác kiếm lời hơn là đi phát rẫy làm nương cũng vạch ra một kế hoạch táo bạo để thoát khỏi lời nguyền của già làng. Quả thật không ai ngờ hắn lại liều lĩnh làm vậy.
*
**
Đêm cuối tháng, bầu trời mùa khô Tây Nguyên trong vắt rắc đầy những vì sao óng ánh nhấp nháy như những con mắt đang dõi theo hai bóng den soi đèn pin nối nhau bám vào vách đá đeo lên đinh Chư Yang. Kẻ dẫn đường không ai khác ngoài Y Reo. Dù phải bám vào từng mép đá, mò mẫm đặt chân lên các cạnh đá sắc như dao cạo, có hòn  trơn tuột song trên vai hắn chiếc gùi đựng nước, đựng rượu và khô nai vẫn được giữ cẩn thận. Kẻ bám theo sau vác khẩu sung Galíp sản xuất tại Hoa Kỳ chính là vị khách lạ cần mua sơn dương. Theo kế hoạch của Y Reo, hai đứa lợi dụng đêm tối trèo lên đỉnh  núi, núp gần hòn đá lớn, nơi mỗi sáng sớm hay hoàng hôn con sơn dương chúa thường dẫn bầy ra đứng nhìn xuống buôn. Lúc đó, chỉ cần kéo cò chắc chắn sẽ hạ được con mồi. Không ai phạt được Y Reo vì hắn có bắn đâu, người lạ bắn đấy chứ! Còn người lạ thì đâu phải người dân buôn Um nên không bị ràng buộc bởi lời nguyền. Bọn chúng quả thật “ngưu tầm ngưu, mã tầm mã”, tìm đến với nhau để làm chuyện đen tối.
Mặc dù rất khó khăn, vất vả gần sáng khi bầy vượn ở lưng chừng núi gọi nhau thức dậy, hai đứa cũng đến được nơi cần đến. Đứng trên mỏm đá, bọn chúng hết nhìn phải, rồi nhìn trái tìm chỗ ẩn nấp. Một bên là vực sâu hun hút, đen thui, một bên là đá lởm chởm chỉ cần sơ xuất một chút thôi sẽ rơi xuống vách đá. Đắn đo, cân nhắc mãi, hai đứa cũng tìm được chỗ núp chỉ cách mỏm dá bầy sơn dương thường đứng khoảng gần hai chục mét. Với khoảng cách ấy, một viên đạn gồm chục viên bi khi bay ra khỏi nòng sẽ tỏa rộng như một chiếc chài chụp xuống, chắc chắn sẽ có viên trúng đích – cho dù người bắn có dở đến mấy đi nữa.
Như thường lệ, khi phương đông ửng hồng, ông mặt trời từ từ rẽ mây trèo lên đỉnh núi xa xa, đem theo những tia nắng vàng rải lên vách núi, cũng là lúc bầy sơn dương theo nhau lên vách đá đứng ngắm buôn Um và đón bình minh. Cả bầy vẫn vô tình nhảy nhót theo sau con sơn dương chúa đen bóng đang giương cặp sừng cong vút về phía sau, chìa bộ râu dài có lẽ phải đến nửa mét uốn cong về phía trước phất phơ trước làn gió nhẹ ban mai, tận hưởng không khí trong lành và nào có biết đâu cái chết đang chờ ngay phía trước mặt.
“Ầm!”. Tiếng súng nổ xé toang cảnh bình minh thanh bình, vọng vào vách đá dội lại như tiếng một quả bom tấn ném xuống làm rung chuyển cả núi rừng. Tội nghiệp con sơn dương chúa. Nó chồm lên theo bản năng, tung hai chân trước lao vào không khí, nhằm đúng nơi tiếng súng phát ra bổ xuống.
*
**
Sau này có người kể rằng họ thấy sơn dương chúa bay ra khỏi mỏm đá lao vào hai kẻ bắn trộm rồi lăn xuống vực thẳm kèm theo một tiếng nổ kinh hồn, tiếng nổ ấy còn lớn hơn cả tiếng súng vừa nổ nhằm vào nó,  kéo theo đất đá lăn xuống ầm ầm, khói bụi mù mịt che lấp cả bầu trời.
Già làng tức giận, kéo cả đoàn thanh niên trai tráng trong buôn bươn bả leo lên đỉnh núi, định trị tội kẻ dám làm trái quy định của buôn, xúc phạm thần linh. Nhưng khi lên đến nơi nhìn hai kẻ bắn trộm ông lại bất giác trào nước mắt. Y Reo nằm ngã ngửa, giữa trán in rõ chiếc móng sơn dương đóng vào làm bay mất một con mắt. Còn người lạ đôi mắt trợn ngược bị bầy kiến vàng bu kín. Có lẽ cả hai đã rơi từ mỏm đá trên chục mét xuống hòn đá to phía dưới. Yang phạt mà!
Kể từ hôm ấy buôn Um chúng tôi không còn ai nhìn thấy bầy sơn dương ấy nữa. Những thế hệ sau này chỉ còn được nghe kể lại về chúng với một niềm tiếc nhớ xót xa.

Chú thích:
1.     Yang: thần linh – tiếng Êđê.
2.     Ami, amai: má, chị - tiếng Êđê.

3.     Kể khan: Sử thu - tiếng Êđê.

NGHE KỂ SỬ THI TRONG KHÔNG GIAN CHĂN THẢ ĐÀN TRÂU BÒ - tác giả TRƯƠNG BI - CHƯ YANG SIN SỐ: 303 - THÁNG 11 NĂM 2017

     

 
Tôi còn nhớ vào những năm 1990, chúng tôi đi điền dã sưu tầm sử thi ở địa bàn huyện Cư M'gar. Hôm ấy, đoàn chúng tôi đến Phòng Văn hóa-Thông tin của huyện nhờ chị H'Năm Niê, Phó phòng dẫn đến gặp pô khan (nghệ nhân kể khan) là Aê Wưi Niê tại nhà riêng, nhưng Aê Wưi không có ở nhà. Con cháu của ông cho hay: "Aê đi chăn bò ở ngoài bờ suối Ea M'ngar, chiều tối mới về". Chúng tôi liền đi đến bãi cỏ bên suối Ea M'ngar, tìm một lúc mới thấy pô khan Aê Wưi đang ngồi kể khan dưới gốc cây plang cho lũ trẻ chăn bò nghe. Chúng tôi bước nhẹ đến và im lặng đứng nghe kể khan. Một lúc sau, nghệ nhân Aê Wưi dừng lại để hút thuốc. Chúng tôi chào nghệ nhân. Chị H'Năm liền giới thiệu với nghệ nhân Aê Wưi: "Có các cán bộ văn hóa trên tỉnh đến gặp ông, tối nay nhờ ông kể khan, để họ ghi âm các bài khan". Nghệ nhân Aê Wưi nhìn chúng tôi một cách hiền từ rồi nói: "Mình suốt ngày ở ngoài bãi chăn bò, tối mới về nhà, ăn cơm xong là nghỉ, chứ không khan ban đêm đâu, vì đã già rồi, sức khỏe không được tốt, năm nay mình đã hơn 95 mùa rẫy rồi mà. Cán bộ muốn nghe và ghi âm bài khan thì hàng ngày ra bãi chăn bò này nghe cùng lũ trẻ và ghi âm các bài khan cho tiện".
Nghe nghệ nhân Aê Wưi nói vậy, chúng tôi cảm ơn, rồi hỏi: "Pô khan đang kể khan gì vậy?"
Nghệ nhân Aê Wưi trả lời: "Mình đang kể khan Đăm Săn thời trẻ cho lũ trẻ trong buôn nghe đây mà!"
Tôi hỏi tiếp: "Chúng tôi đi nhiều buôn của đồng bào Êđê và sưu tầm rất nhiều bài khan, nhưng chưa hề nghe một pô khan nào nói đến bài khan này, nay nghe Aê Wưi nói thì thấy rất lạ, có lẽ đây là bài khan chỉ lưu truyền trong buôn này phải không?"
Aê Wưi chậm rãi nói: "Đây là bài khan được lưu truyền trong buôn Sak của mình từ bao đời nay rồi, nhưng ít người biết đến. Ông bà trước đây kể như thế nào thì bây giờ mình kể lại như thế ấy. Nhưng mình thấy Đăm Săn thời trẻ khổ cực lắm, nghèo khổ lắm. Nó không giống như khan "Đăm Săn" thường lưu truyền trong các buôn làng người Êđê. Ở đây các chị của Đăm Săn thời trẻ cũng không phải tên H'Âng, H'Lý như trong khan Đăm Săn, mà là tên khác, tên hai chị là H'Prak và H'Nui. Trong Đăm săn thời trẻ, kể về ba chị em là Đăm Săn, H'Prak, H'Nui lúc còn nhỏ đã mồ côi cha mẹ, không còn ai nương tựa phải đi ở cho tên M'tao M'xây giàu có tham lam, độc ác. Họ bị M'tao M'xây hành hạ vô cùng khổ cực, bắt làm việc suốt ngày đêm, thế mà cơm ăn bữa có bữa không, áo váy không có mặc. Một hôm ba chị em được người nhà M'tao giao cho giữ rẫy lúa đang chín rộ, không may bị đàn heo rừng kéo về ăn hết một vạt lúa. Thế là M'tao M'xây nổi giận đuổi ba chị em ra khỏi buôn làng. Họ van xin M'tao M'xây tha tội, nhưng vẫn không được, cuối cùng ba chị em phải dắt nhau ra sống ngoài bìa rừng trong một một túp lều nhỏ mục nát của những người coi rừng bỏ lại. Hàng ngày ba chị em phải lên rừng hái măng, nhặt nấm, đào củ mài để sống. Họ sống khổ cực lắm, chứ không phải sung sướng như chàng Đăm Săn trong khan Đăm Săn đâu. Có lẽ đây là một khan riêng, không phải cùng một chuyện với khan Đăm Săn đâu!". Kể đến đây, Aê Wưi nói: "Chuyện còn dài lắm, bây giờ phải đưa đàn bò về buôn, kẻo trời đã tối rồi, sáng mai các cháu cứ ra bãi chăn bò này mà nghe khan cùng lũ trẻ và ghi âm các bài khan của già này kể".
Sáng hôm sau chúng tôi ra bãi chăn bò của buôn Sak sớm hơn. Vừa đến gốc cây plang, chúng tôi đã thấy nghệ nhân Aê Wưi dẫn đàn bò khoảng gần 50 con đến thả ở bãi cỏ ven suối Ea M'ngar. Sau đó, Aê Wưi đến bên gốc cây plang. Thấy chúng tôi đang chờ, ông liền nói: "Để cho bọn trẻ thả xong đàn bò, đến đây tụ họp đông đủ rồi già này sẽ kể tiếp khan hôm qua cho các cháu nghe".
Lúc này chúng tôi tranh thủ thời gian chờ bọn trẻ, liền trao đổi với nghệ nhân Aê Wưi: "Ông biết kể khan từ lúc nào?”
Aê Wưi, cười hiền từ rồi nói: "Mình biết kể khan lâu lắm rồi, bây giờ không còn nhớ nữa, chỉ biết lúc lên năm, sáu mùa rẫy, hàng ngày mình theo ông nội đi chăn đàn bò và được ông kể khan cho nghe. Ngày nào cũng được nghe những bài khan quen thuộc, như: Đăm Săn, Đăm Săn thời trẻ, Đăm M'lan, Đăm Ji, Sing Nhã và nhiều khan khác nữa. Như mưa dầm thấm lâu, ngày nào cũng được nghe đi nghe lại mãi, nên mình nhớ hết các bài khan ấy. Lớn lên khoảng mười hai, mười ba mùa rẫy, ông nội và cha mình cho mình đi dự các lễ hội trong buôn làng cùng các buôn lân cận, và được nghe kể khan nhiều đêm liền. Năm nào cũng vậy, cứ đến mùa lễ hội là được nghe ông nội mình kể khan, nhờ vậy mà mình thuộc nhiều khan và biết cách kể khan và sau này lớn lên trở thành pô khan của buôn làng".
Chúng tôi hỏi tiếp: "Từ trước đến nay Aê Wưi đã truyền dạy được bao nghiêu cháu trong buôn biết kể khan?" Aê Wưi nói: "Mình có truyền dạy gì đâu! Chủ yếu là kể trong lúc chăn thả đàn trâu bò, rồi nơi có lễ hội của buôn làng, lúc đi rừng, lúc giữ lúa trên chòi rẫy, lũ trẻ theo nghe nhiều lần rồi có đứa nhớ và kể lại cho bạn bè nghe. Mình đã chứng kiến và nghe các cháu kể khan, khoảng hơn chục cháu ở bon này biết kể khan. Sau này lớn lên chúng nó lấy vợ, ở lại bên nhà vợ, nên buôn này chỉ còn vài người biết kể khan. Nhưng bây giờ thì không còn ai cả, vì chúng nó lớn lên, đi học rồi đi làm ăn xa. Nay chỉ còn già này thôi!". Nói đến đây, Aê Wưi cười vui vẻ.
Lúc này lũ trẻ đã thả đàn bò gặm cỏ bên bờ suối Ea M'ngar về tụ tập xung quanh gốc cây plang. Thấy lũ trẻ đã đến đông đủ, Aê Wưi liền khấn nhỏ trong miệng làm thủ tục xin phép thần linh, tổ tiên, ông bà được kể khan cho lũ trẻ và khách trên tỉnh cùng nghe. Rồi ông đằng hắng lấy giọng và bắt đầu kể tiếp khan Đăm Săn thời trẻ: "Ba chị em Đăm Săn sống ngoài bìa rừng trong túp lều mục nát dưới gốc cây plang. Hàng ngày họ lên rừng đào củ mài để sống. Họ đào hết rừng này qua rừng khác, nhưng chẳng được củ nào. Tiếng đào đất ngày đêm lục cục, lục cục, nó vang khắp núi rừng rồi vọng lên trời cao, làm cho ông Trời lấy làm lạ, liền cử con của mình xuống trần gian xem sao. Hai người con của ông Trời bay xuống trần gian thì thấy ba chị em Đăm Săn đang đào củ mài. Chị em họ đào mãi mà chỉ được vài sợi rễ. Thấy vậy, hai người con của ông Trời hóa phép cho họ đào được nhiều củ mài to. Củ mài chất đầy gùi, hai người theo ba chị em Đăm Săn gùi củ mài trở về túp lều xiêu vẹo. Thấy ba chị em ở trong túp lều tơi tả này, hai người con của ông Trời vô cùng thương hại, họ liền hóa phép cho túp lều biến thành một ngôi nhà dài to đẹp. Họ còn giúp ba chị em có kho lúa đầy, có áo váy để mặc, trong nhà có chiêng ché, nồi bảy, nồi ba, có trâu bò, heo gà đầy bãi, đầy sân, có kẻ hầu hạ, rồi hai người con của ông Trời kết nghĩa anh em với ba chị em Đăm Săn. Cuộc sống của ba chị em Đăm Săn ngày càng sung túc. Chẳng bao lâu ba chị em Đăm Săn trở thành người giàu có chẳng kém gì những M'tao trong vùng. Tiếng lành đồn xa, đến tai M'tao M'xây. Hắn cho tay sai đến đốt nhà của chị em Đăm Săn. Nhưng đều bị Đăm Săn bắt làm nô lệ. M'tao M'xây vô cùng tức giận liền kéo hàng trăm quân đến đánh Đăm Săn. Nhờ sự giúp đỡ của hai người con ông Trời, chàng Đăm Săn đã giết chết M'tao M'xây độc ác. Chàng kéo đến buôn làng của M'tao M'xây, giải thoát cho những người nô lệ, rồi lấy lúa bắp, trâu bò, heo gà, chiêng ché của M'tao M'xây chia đều cho mọi người dân trong buôn. Chàng được dân buôn tôn vinh làm tù trưởng của buôn làng. Chàng xây dựng lại buôn làng to đẹp hơn xưa. Nhờ hai người chị là H'Prak và H'Nui làm mối, chàng cưới một cô gái mồ côi xinh đẹp làm vợ. Từ đó vợ chồng chàng cùng hai người chị và dân làng sống yên vui, đầm ấm. Tiếng tăm của chàng vang khắp mọi vùng. Người Lào, người Khơ Me, người Bih, người M'nông, Ba Na, Sê Đăng, Ja Rai... tìm đến kết nghĩa anh em với chàng Đăm săn...".
Cứ mỗi buổi nghe kể khan, nghệ nhân Aê Wưi nghỉ giải lao hai lần để lũ trẻ đi xem đàn bò có ăn đúng vị trí không, sau đó lại về nghe kể khan tiếp. Còn nghệ nhân Aê Wưi ngoài việc xem lại đàn bò, ông còn nghỉ ngơi uống nước, hút thuốc. Một lúc sau bọn trẻ lại về ngồi dưới gốc cây plang nghe Aê Wưi kể tiếp. Khi lời khan ngân vang, tất cả đều ngồi trật tự, im lặng lắng nghe, như bị cuốn hút vào những nhân vật trong chuyện. Có ngày trời mưa, nhưng việc kể khan không vì thế mà gián đoạn, vì tất cả mọi người đều mang áo mưa cùng ngồi dưới góc cây plang nghe Aê Wưi kể khan say sưa. Cả người kể, người nghe như bị chìm trong không gian của trời mưa tầm tã. Mặc cho trời mưa, gió rừng thổi ào ào, nhưng vẫn không sao ngăn được lòng nhiệt tình của người kể và sự say mê như bị thôi miên của người nghe. Cứ thế mọi người say sưa trong không gian kể khan tại bãi thả đàn bò một cách lạ kỳ.
Suốt thời gian gần một tháng trời, chúng tôi cùng các em nhỏ chăn bò được nghệ nhân Aê Wưi Niê kể cho nghe trong không gian bãi chăn bò, dưới gốc cây plang bên bờ suối Ea M'ngar, buôn Sak, xã Ea Tul, huyện Cư M'gar gồm các khan: Đăm Săn thời trẻ, Đăm Kteh M'lan, Xing Nhã, M'hiêng, Đăm Ji, mỗi tác phẩm chúng tôi ghi âm được từ 8 đến 12 băng cassettes (mỗi băng 90 phút) làm tư liệu để tiếp tục nghiên cứu sử thi Êđê.

Người Êđê có nhiều không gian kể sử thi khác nhau, như trong không gian nhà dài, không gian lễ hội, không gian trên chòi rẫy v.v... Nhưng trong không gian bãi chăn bò lại hợp với nhu cầu sinh hoạt văn hóa của lớp trẻ hơn cả. Ở đây thực sự là một không gian "sống". Bởi có người kể (pô khan), còn người nghe là các em nhỏ chăn bò và địa điểm là dưới gốc cây plang bên bãi thả đàn trâu bò của buôn làng. Tất cả ba yếu tố này tạo nên không gian "sống" của sinh hoạt văn hóa kể sử thi. Chính không gian này không chỉ là nơi giải trí đơn thuần, mà còn là môi trường giáo dục phẩm chất nhân cách và chắp cánh ước mơ lý tưởng cho lớp trẻ trước khi bước vào đời. Đây cũng là nơi truyền dạy, bảo tồn, gìn giữ kho tàng sử thi của dân tộc Êđê từ thế hệ này sang thế hệ khác, làm cho nó được sống, được lưu truyền mãi trong cộng đồng.

Thứ Bảy, 9 tháng 12, 2017

NHÀ GIÁO NHÂN DÂN Y NGÔNG NIÊ KDAM - tác giả NGUYỄN HỮU ĐỨC - CHƯ YANG SIN SỐ: 303 - THÁNG 11 NĂM 2017



Đã có rất nhiều người viết về bác sỹ Y Ngông Niê kdam, chẳng những sau khi ông qua đời, mà sinh thời ông đã được nhiều người ca ngợi. Theo tôi, ông như một nhân vật huyền thoại, như một cây đại thụ, một con hổ oai hùng, một chú voi khổng lồ của đại ngàn Tây Nguyên. Tôi có may mắn và hạnh phúc lớn khi được ông quan tâm, thương yêu, động viên trong công việc chia sẻ với tôi những điều ông mơ ước, tâm huyết của cả đời ông: Làm sao để các dân tộc Tây Nguyên nhanh chóng hết đói cơm, đói chữ, đẩy lùi bệnh tật, nền văn hóa truyền thống đặc sắc được bảo tồn và phát huy…
Ông từng giữ nhiều chức vụ quan trọng, trên nhiều lĩnh vực khác nhau, như: Hiệu trưởng trường Học sinh dân tộc miền Nam, Giám đốc Khu học xá học sinh miền Nam tại Quế Lâm (Trung Quốc), Thứ trưởng Bộ Giáo dục, Ủy viên BCH Trung ương Đảng, đại biểu Quốc hội 9 khóa liền (từ khóa I đến khóa IX), Chủ tịch UBND rồi Bí thư Tỉnh ủy Đắk Lắk, Hiệu trưởng Trường Đại học Tây Nguyên, Chủ tịch Hội đồng dân tộc của Quốc hội… Nhân kỷ niệm 95 năm ngày sinh của ông (1922-2017), nhân ngày Nhà giáo Việt Nam, tôi xin kể một vài kỷ niệm về ông – bác Y Ngông Niê kdam – tôi muốn được gọi ông như thế - như một nén nhang thơm gửi tới bác nơi vĩnh hằng.
1. Năm 1979, tôi là Hiệu trưởng Trường cấp I Lê Thị Hồng Gấm, thuộc Thị xã Buôn Ma Thuột. Hưởng ứng phong trào “Em làm kế hoạch nhỏ” của Đội Thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh hồi ấy, nhà trường tổ chức cho các em học sinh các khối lớp 3, 4 và 5 đi lượm cà phê rơi vãi ở Nông trường 10 tháng 3. Toàn thể cán bộ, giáo viên, nhân viên cùng khoảng 800 học sinh của trường chọn ngày chủ nhật để gióng trống, mở cờ ra quân. Từ trường đến lô cà phê gần 10km, cả thầy trò đều đi bộ. Suốt dọc đường các “ca sỹ vườn” dùng loa cầm tay hát động viên. Ai nấy đều vui vẻ, hồ hởi, quên cả mệt nhọc. Lãnh đạo Nông trường rất mừng khi trường chúng tôi nghĩ ra việc làm có ích này. Họ cử người hướng dẫn các địa điểm đã thu hái xong có nhiều hạt rơi rớt. Có nhiều khi trái chín chưa kịp hái nên rụng xuống, trái bị chim, sóc, chồn... ăn, một phần do công nhân hái nhưng tuốt cành bị văng khỏi bao tải hay tấm bạt. Số hạt rụng ấy thường bị vùi lấp dưới gốc, bên trên là lớp lá mục, phải bới lên mới lượm được. Sau một ngày tích cực làm việc, thầy trò chúng tôi giao nộp lại Nông trường hơn 2 tạ trái cà phê khô và hơn 8 tạ trái tươi. Lãnh đạo Nông trường biểu dương ngay tại chỗ. Chúng tôi vô cùng phấn khởi vì đã góp phần giáo dục tình yêu lao động cho thầy và trò, đặc biệt là giáo dục tính thật thà cho các em. Hễ nhặt được bao nhiêu, các em đều tự giác nộp hết cho Nông trường, tuyệt đối không tham, không giấu để đưa về nhà (khi ấy giá cà phê rất đắt). 
Ba ngày sau đó tôi được UBND tỉnh triệu tập. Tôi vô cùng hồi hộp và lo lắng, không biết có việc gì với trường hoặc với cá nhân mình đây?  Đích thân bác Y Ngông (khi ấy là Chủ tịch) tiếp tại văn phòng, cùng thầy Phan Văn Uyển, Phó trưởng Ty Giáo dục. Tôi bước vào, bác đến gần, bắt tay rồi ôm chặt tôi vào lòng. Ông cười vang sảng khoái “Cháu giỏi lắm! Muốn được thưởng cái gì nào?” Tôi đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác bởi chưa hiểu sao bác lại khen mình? Phần nữa vì bác, một con người nổi tiếng với địa vị cao như thế, sao lại quá đỗi dân dã, giản dị và tình cảm thế? Bác biểu dương việc làm của thầy trò chúng tôi vừa qua, chỉ thị cho thầy Uyển gửi công văn đến tất cả các trường cấp I, II trong toàn tỉnh thông báo việc làm tốt của thầy trò Trường cấp I Lê Thị Hồng Gấm, phát động ngay phong trào làm “kế hoạch nhỏ” bằng việc thu gom hạt cà phê rơi ở các nông trường (sau đó tôi còn được Ty Giáo dục cho đi báo cáo kinh nghiệm tổ chức buổi lao động ở một số trường nữa. Thầy Uyển qua vụ nầy đã sáng tác được bài hát “Em đi lượm hạt cà phê” rất hay). Lúc ấy tôi chỉ dám xin bác thưởng một bộ trống nghi thức Đội, món quà mà từ lâu thầy trò chúng tôi mơ ước. Sau này mới biết Chủ tịch tỉnh nghe báo cáo của lãnh đạo Nông trường về việc làm nhỏ của trường chúng tôi nên đã kịp thời quan tâm, động viên và chỉ đạo ngành Giáo dục nhân rộng phong trào.
2. Bác Y Ngông đã tham gia sưu tầm, dịch thuật, biên soạn một số sử thi, từng viết bài giới thiệu và phát biểu ở nhiều hội nghị về văn hóa dân gian Tây Nguyên. Bác là người đầu tiên đề nghị đạo diễn Lê Dân làm phim về huyền thoại Đam San. Kịch bản đã xong, chỉ tiếc Bộ Văn hóa – Thông tin không cấp kinh phí để thực hiện.
Ông cũng là một trong những hội viên đầu tiên của Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam. Đến năm 1990 cả vùng Tây Nguyên mới có 4 hội viên Trung ương: bác Y Ngông Niê kdam, chị Linh Nga Niê kdam (con gái bác), anh Y Thí Mlô (cán bộ Ty Văn hóa- Thông tin Đăk Lăk) và tôi (lúc ấy là giảng viên của Trường Cao đẳng Sư phạm Buôn Ma Thuột, nay là Trường CĐSP Đắk Lắk). Được sự động viên lẫn thuyết phục cấp trên của bác (khi đó thành lập các hội còn khó lắm), chúng tôi đã tổ chức đại hội thành lập Chi hội Văn nghệ dân gian Việt Nam đầu tiên của Tây Nguyên tại Trường CĐSP Buôn Ma Thuột. Tôi được bầu làm Chi hội trưởng. Chúng tôi mang Sổ vàng đến vận động xin kinh phí tổ chức đại hội và hoạt động, bác đã ghi những dòng đầy tâm huyết và tặng 1 triệu đồng. Ngày đại hội, bác đến dự và phát biểu sôi nổi, nhắc nhở thầy trò, nhất là khoa Văn – Sử,  phải làm nòng cốt cho hoạt động của Chi hội, tích cực góp phần gìn giữ, phát huy kho tàng văn hóa dân gian của các dân tộc Tây Nguyên.
Bác yêu mến và tâm huyết với văn hóa các dân tộc thiểu số Tây Nguyên đến mức có thể không tiếc thời gian làm việc ở cơ quan lẫn ở nhà. Hễ ai gặp bác mà nói về đề tài này là bác say sưa bàn luận. Bác nhắc chúng tôi – những người nghiên cứu và giảng dạy văn hóa học, dân tộc học, văn học dân gian - rằng: “Các cháu phải đầu tư nghiên cứu xem mẫu hệ Êđê có còn phù hợp với thời đại bây giờ hay không? Điều gì hay, điều gì dở? Từ trong máu thịt, bác thấy nó hết sức thiêng liêng. Bác đặc biệt yêu quý con gái, cháu gái hơn là con trai, cháu trai (cười). Các cháu giải thích điều này thế nào?”…..
Trên các cương vị công tác khác nhau, bác Y Ngông Niê Kdam đều dành thời gian quan tâm và ủng hộ cho sự nghiệp bảo tồn và phát huy văn hóa dân gian, giáo dục và y tế trên địa bàn Tây Nguyên và các tỉnh miền núi phía Bắc. Làm hiệu trưởng, bác gợi ý cho Trường Đại học Tây Nguyên tổ chức các hội thảo khoa học, kêu gọi các nhà khoa học trong và ngoài nước đến hợp tác, giúp đỡ Tây Nguyên...
Nhớ về bác Y Ngông Niê Kdam là nhớ về một nhân cách lớn với hoài bão lớn lao và tính nhân văn sâu sắc.


Thứ Năm, 7 tháng 12, 2017

MẤY CẢM NHẬN TỪ “THÀ CỨ MỘT MÌNH RỒI QUEN” - tác giả THU HƯƠNG - CHƯ YANG SIN SỐ: 303 - THÁNG 11 NĂM 2017


Nhà văn - nhà báo THU HƯƠNG


Không giống như những lần trước, đọc một lần cho hết một tập truyện, lần này với “Thà cứ một mình rồi quen” tôi đọc từ từ mỗi ngày vài ba truyện. Tôi làm vậy để thay đổi thói quen thưởng thức của mình. Và rồi, đúng như tôi chờ mong, mỗi ngày tôi lại được nếm trải những cảm xúc, những bất ngờ thú vị từ 20 truyện ngắn mà tác giả Nguyễn Anh Đào giới thiệu trong tập truyện ngắn “Thà cứ một mình rồi quen”.
Đến với tập truyện ngắn “Thà cứ một mình rồi quen” của tác giả Nguyễn Anh Đào, người đọc như cảm nhận được mỗi trang văn là mỗi trang đời. Mỗi một truyện ngắn là một cách thể hiện đầy mới lạ và người đọc không cảm thấy nhàm chán mà chỉ muốn tò mò đọc tiếp các truyện khác để khám phá những bí mật bất ngờ. Theo tôi, thành công trong truyện ngắn của Nguyễn Anh Đào là đã hòa quyện được các yếu tố: cảm xúc người viết, kịch tính trong câu chuyện và phong cách thể hiện.
Điều tôi thích nhất trong những truyện ngắn của Nguyễn Anh Đào chính là cảm xúc. Cảm xúc khiến cho tác giả như nhập thân vào nhân vật để vui sướng, hồi hộp, hay khổ đau. Nó khiến cho mỗi câu văn như lay động người đọc. Và, những cảm xúc chân thật đó đã truyền sang người đọc để người đọc đồng cảm nhiều hơn, để rồi cùng khóc với nhân vật như trong truyện “Mảnh vỡ”, “Lao xao hoa mận trắng”, “Thế giới cô đơn”, “Khói bếp mùa xuân”; cùng thổn thức một cảm giác yêu đương mà khắc khoải trong các truyện ngắn “Yêu nhau lần nữa”, “Lửa từ trái tim em” hay cùng chiêm nghiệm về lẽ sống ở đời như “Hư danh”, “Con chim phụng què”...
Những truyện ngắn của Nguyễn Anh Đào hấp dẫn một phần cũng nhờ tác giả đã tạo ra được những chi tiết và tình huống điển hình, tạo ra được kịch tính và cao trào cho mỗi câu chuyện. Đó là hình ảnh người phụ nữ cứ ngày ngày đi xếp những viên sỏi thành hình trái tim để mong tìm lại được người thân của mình trong truyện ngắn: “Trò chơi định mệnh”; đó là mùi dầu xanh đầy ám ảnh xuất hiện từ đầu cho đến cuối truyện ngắn “Mùi dầu xanh”; đó là hình ảnh người con trai nôn ọe khi bắt gặp mùi của xấu xa, lừa đảo trong truyện ngắn “Mùi trinh nguyên”; vòng hoa giấy trong “Đường mẹ về nhà”; là nồi bánh tét trong “Khói bếp mùa xuân”...
So với các tập truyện trước đây thì tập truyện “Thà cứ một mình rồi quen” đa dạng trong cách thể hiện hơn. Cũng vẫn là những câu chuyện về người phụ nữ nhưng không đơn thuần được kể thông qua nhân vật người vợ, người con mà lần này được kể bằng nhiều nhân vật khác, trong đó có cả người đàn ông. Có thể kể đến truyện ngắn “Mùi dầu xanh”. Nhân vật chính lần này là người đàn ông đang say, một người đàn ông vô tâm nhưng luôn nghĩ mình vĩ đại nhất thế giới và luôn mượn rượu để làm người vĩ đại. truyện này, tác giả đã rất khéo léo và tài tình khai thác tâm lý của một người đàn ông say rượu. Quá khứ với thực tại cứ trộn lẫn, để rồi cuối cùng sau cơn tỉnh rượu, người đàn ông mới nhớ ra hôm nay là ngày giỗ vợ và bò được về đến nhà thì 2 đứa con gái bị bệnh lâu ngày không được chữa trị đã chết. Bi kịch như được đẩy lên đỉnh điểm và kẻ vô tâm ấy đang bị trừng phạt bởi chính lương tâm của mình. Truyện ngắn có thể sẽ khiến ai đó bừng tỉnh ngộ. Xuyên suốt truyện ngắn là mùi dầu xanh đầy ám ảnh và kết thúc là hình ảnh “Cả nước mắt của gã bây giờ, cũng giống như trong đêm mưa hôm qua, nồng một mùi dầu xanh, cay xè”.
Nhiều truyện trong tập truyện được tác giả sử dụng yếu tố hư ảo, ma mị kích thích sự tò mò, hồi hộp như các truyện ngắn “Tái sinh”, “Ngôi sao xanh”, “Hồng nhung không còn gai nhọn”.
Trong Thà cứ một mình rồi quen có nhiều truyện ngắn với những câu chuyện tình yêu nhẹ nhàng, dễ thương và có cái kết đẹp, đó là các truyện ngắn “Yêu nhau lần nữa”, “Lửa từ trái tim em”, “Anh sẽ nhận ra em”...
Tập truyện mang nhiều ý nghĩa nhân văn, mỗi truyện ngắn là mỗi trang đời, ở đó tác giả gửi gắm những thông điệp về cuộc sống, để cuộc sống mỗi ngày chúng ta biết trân trọng, biết yêu thương. Chúng ta biết cách để yêu thương một người già: “Người già, dù tha phương nơi nào cũng muốn về nơi mình sinh ra, đều muốn được chết ở đó... Người già, đừng mang họ ra khỏi quê hương”Thế giới cô đơn.
Chúng ta biết cách để chia sẻ với sự bất hạnh của người khác, đem về niềm vui cho họ, bởi khi ai đó vui, chắc chắn mình cũng tìm được hạnh phúc: “Tim bà Thu cũng hết nhói lên rồi, ngực bà cũng hết tức rồi, bà bỏ mấy ngày đi tìm thằng nhỏ, như đi tìm thuốc chữa bệnh cho Bảy. Mà chữa bệnh cho Bảy, khác nào chữa cho bà. Bà chỉ muốn nhìn thấy nụ cười ngờ nghệch đó của Bảy mỗi ngày mà thôi” - Lao xao hoa mận trắng
Cuộc sống chỉ có ý nghĩa tiếp tục khi ta biết rũ bỏ quá khứ đau thương, bất hạnh, mở lòng đón nhận yêu thương: “Cô mang thai sau bao nhiêu năm tưởng rằng không thể. Ngoài kia, những con tàu vẫn đi về sau mỗi chuyến đánh bắt. Nhưng cô đã thôi chờ đợi. Hoàng biết điều đó từ trong ánh mắt cô cười.”- Tái sinh.
Tác giả chia sẻ, mỗi một truyện ngắn trong tập truyện đều bắt nguồn từ những câu chuyện có thật mà tác giả được chứng kiến. Có lẽ nhờ vậy mà các truyện ngắn nhận được nhiều đồng cảm, chia sẻ từ người đọc. Tôi thích tập truyện “Thà cứ một mình rồi quen” hơn các tập truyện trước của tác giả Nguyễn Anh Đào vì sự thể hiện đa dạng hấp dẫn của tác giả. Không còn những bi lụy, đau thương. Niềm khao khát yêu thương được đề cập đến với rất nhiều dáng vẻ làm cho tập truyện hấp dẫn hơn; bởi thế nó chạm được vào trái tim người đọc.




Thứ Tư, 6 tháng 12, 2017

DỌN RẪY - truyện ngắn của HỒNG CHIẾN




Ba mà và mấy người hàng xóm dàn hàng ngang từ phía trước chòi canh, bắt tay vào công việc dọn rẫy, đón mưa chuẩn bị cho một mùa vụ mới. Người nào cũng hơi khom lưng, vung tay đưa từng nhát cuốc cày lên mặt đất một nhát rất mỏng vừa đủ cắt đứt rễ hất gốc cỏ, gốc lúa héo khô và các loại dây leo mới mọc lên khỏi mặt đất. Người tiến đến đâu, bụi mù bao phủ đến đó, để lại phía sau khoảng đất trống cỏ cây ngã xếp lớp lên nhau. Ngồi trên sàn nhìn mọi người lao động thấy thích lắm, nhưng má phân công làm đầu bếp nên H’Lê Na chỉ biết nhịn thèm thôi, mỗi người một việc mà.
Bắc xoong lên bếp, đổ nước, chụm củi đun để chốc nữa mọi người giải lao có nước uống. Củi trên rẫy nhiều lắm, những gốc cây lâu ngày chết khô được người lớn đánh bật lên, đến lấy mang lại chất đầy bếp. H’Lê Na ra bìa rẫy tìm thêm mấy dây cam thảo, rửa sạch, bỏ vào nồi nước uống cho thơm.
Đang mùa khô, trời trong xanh không một gợn mây. Thỉnh thoảng từng làn gió nhẹ thổi đến xua bớt đi đám bụi đang quấn lấy mọi người. Đám rẫy rộng mênh mông, kéo dài từ ngã ba suối lên đến bìa rừng già. Theo tập quán của người dân tộc Ê đê, mỗi đám rẫy chỉ canh tác ba hoặc bốn vụ rồi bỏ, người ta đi làm rẫy nơi khác để đất nghỉ; vài năm sau mới quay lại làm tiếp. Một gia đình thường có ba bốn cái rẫy như thế, lương thực ăn quanh năm không bao giờ phải lo. Rừng già có nhiều đặc sản quý, trên ấy sẵn sàng chu cấp miễn phí cho con người từ hoa quả đến các loại thực phẩm khác như: măng, nấm, mật ong, thịt, cá… Rừng già nhiều thú là chuyện đương nhiên, nhưng các con suối trong vắt từ các hẻm núi cao chót vót vượt qua bao thác ghềnh mới xuống tới rẫy; vậy mà nơi nào có nước cũng có cá. Cá suối Tây Nguyên nhiều loại, to nhỏ khác nhau và có mùi vị rất đặc biệt, đã ăn một lần là nhớ mãi; mấy người lớn nói với nhau như vậy. H’Lê Na vừa đi ven suối tìm lá nấu nước uống, vừa thầm nghĩ.
*
*    *
-         Kỳ đà, bắt, bắt lấy!
Tiếng má reo lên, ba và mấy người đàn ông chạy ào ào như bị voi đuổi, thỉnh thoảng có người lao lên, nằm sấp xuống, hai tay chộp gốc rạ; có người đang chạy vướng dây ngã úp mặt xuống. Tiếng má và cánh phụ nữ hò hét động viên, còn cánh đàn ông hăng hái thay nhau… vồ. Con kỳ đà bị đuổi, nhằm hướng suối chạy xuống vô tình chạy thẳng lại bên cạnh H’Lê Na. Cái đầu con kỳ đà to như cổ tay người lớn, đầu nhọn như đầu rắn, mồm há to, có chiếc lưỡi màu tím lè ra, thụt vào như muốn nhát người. Nó chạy rất nhanh, đầu ngửng cao, thân uốn lượn như sóng kéo lê chiếc đuôi dài hơn cả sải tay. Đang cố chạy để tránh đám người đuổi bắt phía sau, bất ngờ gặp H’Lê Na nó hình như giật mình, đứng khựng lại. Có lẽ chỉ chờ có thế ama(1) Sơn lao cả người định nằm đè con kỳ đà, nó uốn cái đuôi như hình sóng lượn rồi tung lên… Ama Sơn nằm lăn ra đất, tay trái nắm lấy tay phải tỏ vẻ đau đớn sau khi bị con kỳ đà dùng đuôi đánh trúng. Con kỳ đà chạy sát chân H’Lê Na rồi lao xuống suối nghe một tiếng… ùm.
Mọi người nhìn nhau tiếc rẻ, ama Sơn đứng dậy bảo:
-         Phải đến hai chục ký đấy, nó khỏe quá. Sao H’Lê Na không bắt?
-         Nó dài hơn cháu nhiều nhiều mà.
Mọi người cười ầm lên, má liếc ba rồi nói:
-                 Đàn ông hôm nay nhanh nhẹn như con rùa núi chạy thi ấy nhỉ, lần sau tránh ra để chị em tôi bắt cho nhé.
Phụ nữ được dịp cười ầm lên, còn đám đàn ông lè lưỡi không ai nói gì. Mọi người lại vui vẻ tiếp tục dọn rẫy. H’Lê Na tủm tỉm cười, tự nhủ: “lúc nãy nếu mình dẫm lên lưng con kỳ đà chắc chắn tóm được nó rồi, nhưng con vật đẹp thế, ai nỡ bắt làm thịt cơ chứ”. Đang định mang nắm lá quay lại chòi canh rẫy, bỗng H’Lê Na đứng khựng lại, sững sốt nhìn. Con kỳ đà đang chậm rãi từng bước một ôm cây đa leo lên. Cây đa to đến ba người ôm, vậy mà nó đủng đỉnh dùng móng sắc nơi bàn chân cắm vào vỏ cây để leo. Cách leo cũng ra vẻ làm dáng, cứ uốn xương sống, cong bên này, vẹo bên kia leo cao mãi đến gần ngọn mới rẽ ngang qua một cành nhỏ, nằm lên trên thả cả bốn chân treo lũng lẵng xuống phái dưới. Tia nắng mặt trời chiếu vào những tấm vảy nhỏ như hạt tấm, màu nâu vàng phát ra màu óng ánh như gương trông dễ thương quá. Chắc nó đến cảm ơn mình lúc nãy không bắt đây – H’Lê Na nghĩ vậy.
*
*   *
Mặt trời đứng bóng, mọi người ngừng công việc xuống suối rửa tay chuẩn bị ăn cơm trưa. Bất chợt ama Sơn reo lên:
-         Con kỳ đà, con kỳ đà khi nãy đây rồi!
-         Đâu, đâu?
Mấy người đàn ông nhốn nháo cả lên chạy lại bên gốc cây đa, nhìn theo hướng ama Sơn chỉ. Con kỳ đà vẫn thản nhiên nằm phơi nắng như đang ngủ để mặc cánh đàn ông bàn tán phía dưới. Ama H’Ri sống hơn bốn chục mùa rẫy, tỏ vẻ băn khoăn:
-         Làm cách gì tóm nó đây?
-                 Tất cả mọi xuống suối đứng, còn ama Sơn chặt le nối lại thành cây sào, thọc vào chân cho nó sợ nhảy xuống suối chắc chắn ta bắt được.
Ama Thanh hiến kế, mọi người gật gù đồng ý. Ama Sơn còn trẻ, lại nhanh nhẹn, khỏe mạnh nhất đám đàn ông hôm nay đi rẫy, nhìn ngọn cây đa rồi bảo:
-                 Chắc nó đang ngủ, để tôi leo lên thòng dây vào cổ nó cột lại thì mới chắc ăn, trả cú đánh lúc nãy.
-         Hay đấy, làm đi!
Ama H’Ri tán đồng rồi chạy đi chặt một cành le dài hơn hai sải tay, đầu ngọn le thắt một sợi dây nhỏ hình thòng lọng đưa cho ama Sơn. Ama Sơn buộc đầu cây le vào lưng quần rồi bám đám dây leo phía đối diện có cành cây con kỳ đà đang ngủ leo lên. Những người đàn ông còn lại chạy xuống suối dứng chờ sẵn, nhiều người đứng nước ngập đến háng. Mấy người phụ nữ thấy vậy cũng kéo nhau ra đứng bên gốc cây đa xem. Mọi người nín thở nhìn ama Sơn đu đám dây, leo lên cành cây phía trên con kỳ đà đang nằm; rất nhẹ nhàng ngồi dựa vào thân cây đa, chỉnh lại thòng lọng cho cân đối rồi từ từ, rất từ từ đẩy cây le lại gần con kỳ đà.
H’Lê Na đứng dưới đất nhìn lên trong đầu cầu xin Yang có phép màu nhiệm để con kỳ đà thức giấc chạy trốn, nhưng nó vẫn ngủ.  Làm sao bây giờ, có cách gì cứu được nó mà mọi người không mắng mình đây – H’Lê Na băn khoăn tự hỏi mà chưa biết phải làm thế nào. Mọi người đều căng mắt nhìn, lặng im. Hình như ai cũng không dám thở mạnh sợ đánh thức con kỳ đà. Đầu cây le buộc chiếc thòng lọng được đẩy dần lên trên cổ, rồi lên trên đầu… chỉ hạ thấp dây một chút nữa và kéo ngược ra phía sau sẽ tóm gọn. Con kỳ đà vẫn nằm im.
-         A, tóm được kỳ đà rồi, hoan hô ama Sơn!
Bất ngờ, H’Lê Na hét toáng lên, nhanh tay túm sợi dây leo có ngọn quấn đầu cành cây con kỳ đà đang nằm giật mạnh. Cùng lúc ama Sơn giật vội cành le, chiếc thòng lọng trượt qua đầu con kỳ đà. Chắc nó giật mình, từ trên cao đến gần hai chục sải tay lao xuống suối như bay; bốn chân giang ra, chiếc đuôi dài uốn cong, vẻ những đường trong không gian như dấu hỏi. Ầm, con kỳ đà rơi cách chỗ mấy người đàn ông đứng chỉ hơn một sải tay. Họ vội lao lại để bắt, nhưng mấy cái đầu va vào nhau chìm vào nước ướt sũng, còn con kỳ đà lặn mất tăm. Đám phụ nữ trên bờ được dịp vỗ tay reo hò:
-         Giỏi quá, giỏi quá!
-         Tại H’Lê Na kêu không tôi tóm được rồi!
Ama Sơn tụt xuống đất đi lại bên mấy người phụ nữ nói với giọng bực bội, H’Lê Na vội thanh minh:
-         Ô, tại cháu thấy chú bắt được rồi nên mừng quá đấy ạ.
-         Người Kinh có câu: “Vụng múa lại chê đất lệch”, kém thì nhận đi sao lại đổ lỗi cho cháu tôi thế?
Ami(2) Sơn lên tiếng bênh cháu làm mọi người lại được dịp cười rộ lên. H’Lê Na cười vui hết cỡ vì đã giúp con kỳ đà thoát nạn; bụng thầm nghĩ: Sao người lớn chỉ thích nhậu thôi, không thấy vẻ đẹp của nó nhỉ. Xa xa nơi chân núi tiếng chim công bất chợt vang lên: T… ố… hộ, T… ố… hộ. như chúc mừng.
Ami H’Lê Na đứng trên chòi canh rẫy kêu lớn:
-         Mời mọi người lại ăn cơm không nguội hết rồi!



Chú thích:
1.      Ama Sơn – ba thằng Sơn: tiếng Ê đê;
2.      Ami Sơn – má thàng Sơn: tiếng Ê đê;








Thứ Ba, 5 tháng 12, 2017

NGUYỄN KHUYẾN - XANH THẲM MỘT HỒN THU - tác giả LÊ THÀNH - CHƯ YANG SIN SỐ: 303 - THÁNG 11 NĂM 2017



(Đọc Thu điếu của Nguyễn Khuyến, SGK Ngữ văn 11)


Nguyễn Khuyến viết ba bài thơ thu vào loại tuyệt bút có lẽ sau khi đã cáo quan về "vườn Bùi chốn cũ" năm 1884. Sau hơn mười năm bôn ba chốn quan trường "hàng thần lơ láo phận mình ra chi" (Nguyễn Du), cụ Tam Nguyên lui gót về quê dạy học và sống cuộc đời thanh bần lạc đạo. Chính lúc này đây, khi buông bỏ tất cả hư danh đeo bám đời sống từ thuở còn là một nho sinh, hồn thơ Nguyễn Khuyến mới thực sự cất cánh reo ca cùng làng quê yêu dấu. Trong ba thi phẩm mùa thu: Thu vịnh (Vịnh cảnh mùa thu), Thu điếu (Câu cá mùa thu) và Thu ẩm (Uống rượu mùa thu), theo nhà thơ Xuân Diệu thì "Thu điếu điển hình hơn cả cho mùa thu làng cảnh Việt Nam".
Mùa thu là đề tài muôn thuở của thi ca nói chung và trong vườn thơ Việt nói riêng. Ở miền Bắc, thời tiết khắc nghiệt, mùa hạ nắng nóng, mùa đông lạnh lẽo, duy chỉ có mùa thu là dịu dàng, mang vẻ đẹp thăng hoa của thiên nhiên ban tặng. Nguyễn Khuyến chọn khoảng thời gian gần như đẹp nhất trong năm để phô diễn hồn mình bằng một cái nhìn tinh tế trước cảnh sắc mùa thu, đồng thời qua đó gởi gắm tâm trạng của một thi nhân trước tình cảnh đất nước rơi vào tay giặc. Thật vậy, nỗi niềm ấy lớn lao và cao đẹp biết dường nào!
Thu điếu làm theo thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật nhưng rất giàu cá tính sáng tạo. Do đó, đọc và cảm bài thơ này, ta cũng không theo cái nhất nhất quen thuộc bấy nay. Chuyện đề, thực, luận, kết đã là một lẽ; song phải uyển chuyển để cảm nhận bút pháp tinh tế của nhà thơ khi miêu tả cảnh sắc mùa thu qua âm thanh, màu sắc, đường nét, nhất là cái điệu tình thu, tâm sự mùa thu ẩn giấu phía hồn người.
Cùng với Thu vịnhThu ẩm, Nguyễn Khuyến viết Thu điếu quá tự nhiên khi cảm xúc nhà thơ đã trào dâng mãnh liệt. Ngòi bút thi nhân dường như không kìm nén được cảm xúc đang độ thăng hoa. Do vậy, ta để ý thì thấy sáu câu thơ đầu hoàn toàn tác giả miêu tả cảnh sắc mùa thu nơi đồng bằng Bắc bộ, đến hai câu kết bài mới phảng phất một chút tâm sự ngậm ngùi, bâng khuâng trước tình nhà nợ nước khi chiếc cần câu buông nơi ao chuôm nhỏ khẽ lay qua tiếng "cá đâu đớp động dưới chân bèo". Từ đó, tất cả bỗng òa vỡ trong lặng lẽ và chan chứa nỗi niềm của một hồn thu xanh thẳm mênh mang.
Trước tiên, hai câu thơ đầu mở ra một không gian nghệ thuật mà điểm tựa hiện thực là khung cảnh đồng bằng Bắc bộ vào độ thu sang. Giữa làn nước ao thu lạnh lẽo là một chiếc thuyền câu "bé tẻo teo", có một ông lão buông cần câu giữa bốn bề thinh lặng, và chỉ chừng đó những nét vẽ đơn sơ, mộc mạc mà đẹp đến mê hồn:
Ao thu lạnh lẽo, nước trong veo,
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo.
Hai câu thơ đâu chỉ đơn thuần tác giả miêu tả hình ảnh làn nước lạnh lẽo biếc xanh và con thuyền câu bé nhỏ giữa ao cá mùa thu. Ở câu đầu bài thơ, hai tính từ "lạnh lẽo", "trong veo" thật gợi. "Lạnh lẽo" giúp người đọc cảm được cái rét mướt buổi thu về. "Trong veo" là để chỉ làn nước ở trong ao trong lắm, có thể nhìn thấu tận đáy. Người thực lòng muốn đi câu cá để kiếm cái ăn hay bán mua đắp đổi cuộc sống hằng ngày mấy ai chọn nước ao kiểu này mà câu, "trong veo" thế liệu có cá hay không nhỉ? Vậy đó, bao nhiêu là nghi ngại cho một cuộc đi câu của Nguyễn Khuyễn ngay từ khi mới dạo bước vào hai câu có tính mở đầu mà Nguyễn Khuyến gợi tả. Thú vị nữa là âm điệu của vần "eo" mà tác giả gieo ở câu 1 và câu 2 quả thật nó rất phát huy hiệu quả nghệ thuật. Chính cái âm khép miệng "eo" này đã làm cho các sự vật miêu tả thu nhỏ hẳn đi: một cái ao chuôm nhỏ bé, con thuyền câu vì thế cũng "bé tẻo teo" và người đi câu cũng trở nên cô đơn, bé nhỏ hơn bao giờ hết.
Ban đầu, Nguyễn Khuyến quan sát cảnh thu từ điểm nhìn nghệ thuật rất gần, ngay ở trong cái ao câu thôi, đến hai câu thơ tiếp theo, tác giả mới đưa tầm mắt ra xa hơn, cao hơn để đón nhận vẻ đẹp của mùa thu dịu lành qua làn nước khẽ khàng lay động cùng chiếc lá mùa thu chao cánh bay:
Sóng biếc theo làn hơi gợn tý
Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo
Lâu nay cảm nhận hai câu thơ này, người ta thích thú nhất là nghệ thuật đối rất chỉnh, rất tài hoa của thi hào Nguyễn Khuyến. Một làn sóng biếc đối với một chiếc lá vàng, sự lan tỏa nhẹ nhàng của làn nước biếc xanh đối với sự lay động khẽ khàng của chiếc lá vàng thu rụng. Âm thanh và màu sắc của thiên nhiên, thị giác và thính giác của thi nhân như cũng lặng lẽ thu nhận về nhau để hòa điệu cùng với đất trời dịu vợi. Người đọc có cảm giác như nhà thơ đang trên chiếc thuyền câu mà tâm hồn thì đang nhẹ trôi theo làn nước biếc, hay đang bay theo vũ điệu của chiếc lá thu phai. Hóa ra, cái cảnh nước thu "trong veo" rất hợp với lão ngư phủ kỳ lạ này, tất cả cứ chơi vơi, dịu nhẹ, thanh thoát đến vô cùng. Nhờ đó, cảnh sắc mùa thu đạt đến vẻ đẹp cực điểm, từ âm thanh, màu sắc cho đến những khẽ khàng thanh âm lay động hồn người.
Đến hai câu thơ luận, bằng điểm nhìn nghệ thuật bao quát rộng lớn hơn, nhà thơ đã phóng chiếu tầm mắt của mình đến khoảng không vời vợi của bầu trời xanh ngắt. Có lẽ, từ chiếc lá vàng rơi ở câu thơ thứ 4, điểm nhìn của tác giả mới có điều kiện quan sát lên cao hơn, lên cao nữa mà bắt gặp tầng mây lơ lửng giữa bầu trời xanh ngắt:
Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt
Ngõ trúc quanh co khách vắng teo
Trong sáng và thanh thoát nhất của bức tranh thu phải kể đến hai câu thơ này. Bầu trời xanh ngắt mở ra một không gian bao la vô tận làm xao xuyến hồn người trong buổi thu sang. Chữ "ngắt" thanh trắc (T) lại đặt ở cuối câu có cảm tưởng thi nhân đã đẩy bầu trời vút lên cao mãi. Hình ảnh bầu trời "xanh ngắt" này ta đã bắt gặp trong cả ba bài thơ thu của Nguyễn Khuyến như một ám ảnh. Thu vịnh với "Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao", Thu ẩm lại "Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt" và đến Thu điếu là "Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt". Chính cái màu "xanh ngắt" thăm thẳm vô cùng, cao sâu vô tận ấy như một nỗi niềm không dễ đoán định. Nguyễn Khuyến tả cảnh mà ngụ tình tài hoa là ở chỗ ấy. Thêm nữa, những cụm mây mùa thu lửng lờ trôi tạo cảm giác xa vắng huyền hồ, tất cả chỉ nằm trong cảm giác khẽ khàng và lặng lẽ. Nhìn vào không gian làng mạc, tất cả cũng vắng bóng người, chỉ còn những ngõ trúc tiếp nối nhau quanh co chạy mãi. Hóa ra, mùa thu đẹp quá nhưng lại u buồn vì thiếu vắng thanh âm, tất cả chỉ lay động tế vi qua cõi hồn thi nhân đang chìm đắm vào cảnh vật cùng nỗi niềm suy tư lặng lẽ.
Tóm lại, sáu câu đầu trong bài thơ Thu điếu miêu thuật lại một bức tranh thu rất đẹp của đồng bằng Bắc bộ từ một điểm nhìn của tác giả. Điều đặc biệt ở đây là sắc thu không úa vàng rơi rụng mà bao trùm là một màu xanh mênh mang trải rộng qua nhiều chiều của không gian thu. Màu xanh của sóng biếc, màu xanh của bầu trời, màu xanh của ngõ trúc quanh co, màu xanh của cần câu buông xuống..., đẹp thay là hình ảnh chiếc lá vàng sẽ sàng bay ngang trước gió như một gam màu độc đáo để phô diễn sắc thu. Âm thanh trong sáu câu thơ cũng huyền hồ, xa vắng như chính tiếng thu lặng lẽ chạm xuống cõi hồng trần. Tâm hồn thi nhân đang lắng sâu vào vô tận khiến cho mùa thu mang một vẻ đẹp man mác, song vẫn gần gũi với tâm hồn con người Việt Nam trước mùa thu xứ Bắc.
Nếu như sáu câu thơ trên là cảnh mùa thu được phả vào đó chút ít nỗi niềm tâm sự của thi nhân thì đến hai câu thơ cuối bài, tình thu mới thực sự ngân vang qua nỗi đợi chờ của người đang "buông cần lâu chẳng được". Tiếng cá đớp động như đánh thức người đi câu trở về với thực tại đau buồn của đất nước:
Tựa gối ôm cần lâu chẳng được
Cá đâu đớp động dưới chân bèo
Người câu cá "tựa gối buông cần lâu chẳng được" ấy vốn là một ông quan to trong triều Nguyễn nhưng đã lặng lẽ từ quan, né chốn hư danh để tìm về với bờ ao khóm trúc. Tiếng cá đớp động đã làm cho ông già Yên Đổ đang đắm chìm trong cảnh sắc mùa thu phải giật mình sực tỉnh mà nhận ra một thực tại đau buồn của đất nước đang bị ngoại bang xâm lược. Hóa ra, "đau đời, có tránh được đời đâu" (Huy Cận) như nghiệp dĩ của một tâm hồn yêu nước thiết tha, thầm kín. Thảo nào giữa cảnh sắc mùa thu, hồn thơ Nguyễn Khuyến vẫn thâm trầm và kín đáo với đất nước, quê hương.
Bài thơ Thu điếu là một thi phẩm đặc sắc nằm trong chùm thơ thu "nức danh" của Nguyễn Khuyến. Bút pháp nghệ thuật tả cảnh ngụ tình, lấy tĩnh tả động, ý ở ngoài lời... đã thực sự mê đắm lòng người suốt bao nhiêu thế hệ. Mỗi lần mùa thu trở về chạm ngõ bâng khuâng, ta lại lắng nghe hồn thơ thu Nguyễn Khuyến trào dâng tha thiết, xanh thẳm một điệu tình riêng.
Logo Giới thiệu-PB-NC


Chủ Nhật, 3 tháng 12, 2017

TIẾNG TRỐNG TRƯỜNG ĐÃ ĐIỂM CHƯA EM … - tác giả NGUYỄN NGỌC PHÚ - CHƯ YANG SIN SỐ: 303 - THÁNG 11 NĂM 2017





(Đọc một số bài thơ viết về nhà trường và thầy giáo)


Tôi muốn lấy một câu thơ trong bài “Một giờ mười phút” của nhà thơ Phạm Tiến Duật để làm đầu đề cho bài viết này khi đọc lại một số bài thơ viết về đề tài nhà trường và thầy giáo. Phạm Tiến Duật vốn là sinh viên Đại học Sư phạm Hà Nội và bài thơ này ông viết tặng người yêu là giáo viên dạy toán, sau này là bạn đời của ông. Bài thơ “Một giờ mười phút” là sự phát hiện của: “Cứ một giờ lại nghỉ mười phút/ trong buổi hành quân đi bộ sáng nay/ Anh  bỗng nhớ em lên lớp mỗi ngày/ Cứ mỗi giờ lại nghỉ mười phút”. Cái thông lệ tuần tự thời gian ấy, ai trong nghề giáo cũng biết. Nhưng chỉ có nhà thơ mới nhận ra khi ông liên hệ với người lính hành quân đã rút ngắn khoảng cách hậu phương với chiến trường. Và thật ra, trong con người ông vẫn đầy ắp những kỷ niệm, ký ức nghề sư phạm của mình trước khi thành người lính: “Lúc em ngồi với học sinh là lúc/ Anh đứng đỉnh trời gió thổi mênh mông”. Trong trường liên tưởng của Phạm Tiến Duật hay có cách nói song song như một sự so sách thật tự nhiên mà cảm động: “Tấm bảng đen vẽ những đường cong/ Tấm bảng đêm anh vạch lên đường đạn/ Viên phấn trắng và đường chớp sáng/ Ở hai đầu trận địa em ơi”. Cách nói của Phạm Tiến Duật có chút tếu táo chất lính nhưng ngẫm lại đằng sau đó là bao lắng sâu trải nghiệm, nhất là khi nghĩ về công việc của nhà giáo. Cũng như thế nhà thơ Đặng Hấn vốn là một thầy giáo dạy toán đã viết nhiều cuốn sách công trình toán học lại rất hồn nhiên và độc đáo dí dỏm khi viết thơ cho thiếu nhi với những hình ảnh gần gũi với nghề giáo để thổi vào tâm hồn các em tình yêu thiên nhiên và vạn vật quanh mình. Ông đã “lạ hóa” “trẻ thơ hóa” với cái nhìn ngộ nghĩnh của tư duy thi sĩ vốn là thầy giáo dạy toán mới phát hiện ra. Ví như bài thơ “Cầu chữ Y” (một cây cầu lớn ở thành phố Hồ Chí Minh): Cầu nào cũng chữ I/ Nhưng chỉ là I ngắn/ Cầu quê em lạ lắm/ giống hệt chữ Y dài”. Và tứ thơ bất ngờ được nâng lên một khái quát tạo cho các em bao thú vị khi lần đầu nhận ra: “Ôi người đi trên chữ/ Chữ nâng người lên cao”. Cả bài thơ không nói gì đến phẩm chất giáo dục mà gieo vào tâm hồn các em những ý nghĩa của tri thức “chữ” hơn nhiều. 
Có một điều đặc biệt, trong các bài thơ viết về hình ảnh người thầy giáo, bao giờ các nhà thơ cũng đều tỏ lòng biết ơn và trân trọng, vì họ từng trải qua lứa tuổi học trò. Như dân tộc việt Nam ta có truyền thống “Tôn sự trọng đạo” hay “muốn con hay chữ phải yêu lấy thầy”. Nhà thơ Hữu Thỉnh có bài thơ “Thưa thầy” (đã từng được giải nhất cuộc thi thơ do Bộ Đại học và trung học chuyên nghiệp cùng Đoàn thanh niên CSHCM tổ chức) “Thưa thầy” hai tiếng thiêng liêng ấy gắn bó với tất cả những ai có một thuở cắp sách tới trường. Hữu Thỉnh bằng kinh nghiệm sống từng trải của mình khi gửi về thầy giáo cũ đã viết: “Trước ngọn thước là con đường xa  lắc”. Ngọn thước của thầy giáo đã chỉ ra một đường thẳng nhưng cuộc đời không đơn giản thế . “Thưa thầy” là một lời thưa mà cũng chính là lời tự thú khi nhà thơ là cậu bé học trò ngày nào nhận ra: “Đã vấp ngã, thưa thầy nhiều vấp ngã/ Chẳng ở đâu xa ở ngay giữa con người”, đó là cách nhìn thẩm thấu sâu sắc nhiều trực cảm. Hình ảnh người thầy giáo hiện lên: “Đời mau quá tóc thầy khói phủ/ Giáo án mông mênh bão giật đời thường”. Những hình ảnh tương phản cứ gieo vào lòng ta bao sự trắc ẩn, sẻ chia. Hai câu thơ ám ảnh nhất trong bài: “Cây trước cửa gió ở ngoài trang vở/ Thầy một mình vật vã với văn chương”. Rõ ràng văn chương đích thực bao giờ cũng hướng về cuộc đời hướng tới những số phận con người với những bài học không chỉ khuôn trong trang vở. Hành  trình của “Thưa thầy” khép lại bằng tiếng giảng Kiều, một áng văn bất hủ bi thương: “Giở trang Kiều thầy giảng chạnh lòng đau” đau trong day dứt trong nhận thức để mình sống tốt hơn. Trái với Hữu Thỉnh cũng viết về thầy, tâm sự với thầy, nhà thơ Võ Thanh An có một cách nói khác: “Dạ thưa thầy” với giọng thơ tự sự nhiều chiêm cảm điềm đạm bằng chính sự khiêm nhường tự vấn của mình. “Dạ thưa thầy” là lời thưa cẩn trọng nhưng cũng là sự bức xúc muốn được bộc bạch chia sẻ với thầy giáo kính yêu của mình. “Con vẫn nhớ lời thầy diệt oán bằng ân/ Dạ thưa thầy, viên phấn trắng đã đổi màu/ Ngày nay bảng đen có nơi thay đổi Fooc mi ca màu trắng/ Buộc lòng viên phấn là bút dạ đen”. Sự nghịch lý này chỉ ra những mâu thuẫn nội tại bản chất bắt đầu thay đổi từ hình thức. Và đây, hình ảnh cậu học trò run lên thật đơn sơ tinh khiết trọn vẹn: “Dạ thưa thầy con vẫn là một đứa bé y nguyên/ Run lên trước cuộc đời như đã từng run lên mỗi lần thầy gọi lên bảng”. Chắc khi viết những dòng này, nhà thơ Võ Thanh An như được sống lại những phút giây của tuổi học trò với những giăng mắc níu kéo, những thấp thỏm lo âu cứ đan xen nhau tạo ra sự phấp phỏng  nội  tâm chân thành. Câu thơ không còn sự trang sức màu mè nào khác mà đi thẳng vào lòng người với tất cả tình cảm chân thật nhất của mình. Người thầy như là một điểm tựa cứu cánh. Nhà thơ đã tìm đến “sự nhịn” của triết lý nhà Phật: “Dạ thưa thầy con vẫn tin sự nhịn là cứu cánh/ Bao giờ cuộc đời lành hơn”. Chữ “lành” ở đây hàm chứa bao ý nghĩa minh triết không chỉ là sự lành lặn mà còn là sự an lành ở người thầy luôn toát ra vẻ đẹp hào quang nhân ái bao dung như thế…
Trong số các nhà thơ viết về thầy giáo thì thần đồng thơ Trần Đăng Khoa là một trong số các tác giả có nhiều thành công nhất. Bởi với lứa tuổi học sinh thì hình ảnh người thầy thật sinh động và thân thiết luôn là tấm gương sáng để các em noi theo. Thầy không những dạy chữ mà còn dạy cả bài học đạo đức làm người. Không chỉ bằng kiến thức có trong sách vở mà bằng cả nhân cách sống của mình trong cuộc sống đời thường. Đó là hình ảnh người thầy giáo thương binh đã để lại một phần máu thịt ở chiến trường, để trở về mái trường cũ truyền dạy kiến thức cho các em. Điều đó được thể hiện rất rõ trong bài thơ “Bàn chân thầy giáo”: “Thầy ngồi trên ghế giảng bài/ Xếp cạnh bàn đôi nạng gỗ/  Một bàn chân thầy ở đâu rồi/ Chúng em không  rõ”. Và từ đó chú học trò Trần Đăng Khoa nhận ra một điều lớn lao hơn: “Chúng em nhận ra bàn chân thầy giáo/ Như nhận ra cái chưa hoàn hảo của cuộc đời mình”. “Nghe thầy đọc thơ” cũng là một một tứ thơ hay. Tiếng thơ của thầy chứa đựng trong đó bao vẻ đẹp của thiên nhiên đất nước của tình yêu con người đã gieo vào lòng các em sự trong sáng của tiếng Việt: “Em nghe thầy đọc bao ngày/ Tiếng thơ đỏ nắng xanh cây quanh  nhà” để rồi: “Thân yêu tiếng hát nụ cười/ Yêu thơ em thấy đất trời đẹp ra”. Cùng một niền tâm tưởng da diết này, nhà thơ Đoàn Vị  Thượng nhớ lại những ký ức một thời với bao sâu lắng bồi hồi trong nhịp lục bát hiền hòa mà chứa đựng bao giãi bày yêu thương tha thiết trong bài thơ “Lời ru của thầy”. Tứ thơ lạ, bởi lâu nay ta chỉ nghe nói và chú trọng đến lời ru của mẹ, của bà. Ở đây lời ru của  thầy mang lại bao ân tình: “Mỗi nghề có một lời ru/ Dở hay thầy cũng chọn ru khúc này”. Và lời ru chân thành đó: “Bắt đầu cái tuổi lên ba/ thầy ru điệp khúc quê nhà cho em”. Từ: “Lời ru của gió màu mây/ con sông của mẹ, đường cày của cha”. Thật cảm động khi  nhà thơ bộc lộ những thảng thốt day dứt của mình: “Thầy không ru đủ nghìn câu/ Biết con chữ cũng đứng sau cuộc đời”. Hai câu thơ hay nhất trong bài cũng là lời nhắn gửi ân tình: “Trong em hạt chữ xếp dày/ Đừng quên mẹ vẫn lo gầy hạt cơm”. “Hạt chữ” và “hạt cơm”  là những hạt được gieo qua bao mồ hôi nhọc nhằn nuôi lớn em cả thể xác và tâm hồn khi: “Hẳn là thầy cũng già thôi/ Hóa thân vào mỗi cuộc đời các em”. Vâng, chính sự hóa thân vì học sinh thân yêu đó chính là hành trang thầy mang theo trọn đời: “Thì dù phấn trắng bảng đen/ Hành trang ấy đủ thầy đem theo mình”. Viết đến đây tôi bỗng nhớ đến những cô giáo đang ngày đêm “gùi chữ” lên núi cao để mang con chữ đến với các bản làng heo hút trong bài thơ “Em đi” của nhà thơ Lê Đình Cánh: “Em đi gieo chữ trên rừng/ Đã qua  măng ngọt đã từng cay chua”. Hoàn cảnh của những cô giáo ở vùng cao muôn vàn khó khăn vất vả không chỉ thiếu thốn về vật chất mà còn cả khát khao tình cảm tình yêu thương: “Ở rừng tự hát ru nhau/ Lá trầu chị héo quả cau em già/ Ước ao có một  gian nhà/ Có trưa đưa võng đón bà lên chơi”. Ước mơ thật giản dị và thiết thực biết bao nhưng họ đã vượt lên: “Em đi nón chạm mây trời/ Bản mường gieo chữ cất lời ngân nga”. Hình ảnh “nón chạm mây trời” thật đẹp. Chiếc nón che mưa che nắng đan cài, đan dệt bao vầng trăng tròn như vành nón cứ mòn theo năm tháng tóc pha sương trắng, mây trắng nhưng lời giảng vẫn trong trẻo ngân nga hòa vào tiếng rừng, tiếng suối. “Em đi” gánh theo bao nỗi chập chùng như những nét chữ ngổn ngang trong bập bùng những bó đuốc soi đường đến trường khi sương mù buông xuống.
 Có hai thầy giáo một thời là thần đồng toán học, là những cây bút xuất sắc của báo “Toán học và tuổi trẻ” đó là  nhà thơ Lê Quốc Hán và thầy giáo Lê Thống Nhất. Đọc thơ viết về thầy giáo của các ông tôi mới nhận ra ngoài tư duy lô - gic của toán học thì họ còn có những phi lô - gic nhưng rất hợp lý của tâm hồn. Toán học và thi ca cũng đều gặp nhau ở chóp nhọn chóp nón của trí tương tượng. Lê Quốc Hán hàm súc cô đọng chất thiền, lắng đọng với bao suy tư, trong bài thơ “Tự cảm” chỉ vỏn vẹn bốn câu mà ông đã tải được bao chiêm nghiệm về nghề: “Mỗi năm mùa hạ đến/ Viên phấn nặng gấp đôi/ Chuyến đò ngang về bến/ Nhẹ tênh như không người”. Rất nhiều người ví thầy giáo như “người lái đò” chở bao lứa học trò qua sông mải miết theo tháng năm. Cái sự nặng nhọc, đầy vơi trong “Tự cảm” thật âm thầm lặng lẽ mà thanh cao tự trọng biết bao. Bài thơ “Lời mùa thu” của Lê Quốc Hán là lời tâm sự chân tình: “Một trang sách mỏng cầm tay/ Thầy đi suốt cả vạn ngày bên con/ Một viên phấn trắng gầy mòn/ Vạch cho con thấm vòng tròn đã vơi”. Bài thơ không nói đến thời gian mà ta nghe được, đếm được bước chân nghiệt ngã của thời gian. Của “mỏng” của “mòn” của bao sự “vuông tròn đầy vơi”. Nhưng thời gian vẫn chưa đủ đong đếm tuổi tác tháng năm, không mài mòn được nguyện tâm sắt son gắn bó với nghề yêu nghề của người thầy giáo thi sĩ: “Thước nào đo được dại khôn/ Vui chỉ là một cánh buồm lẻ loi/ Nguyện thành một mặt gương soi/ Tránh sao khỏi hạt bụi rơi lấm mình”. Trái với giọng thơ nhiều suy tư chiêm nghiệm của Lê Quốc Hán thì thầy giáo Lê Thống Nhất trẻ trung dí dỏm trong bài “Thơ vui về nghề giáo”. Với những lời  đùa tếu táo khi hội lớp, hội trường với các đồng nghiệp, Lê Thống Nhất phát hiện ra thật vui: Chẳng đi tu cũng gọi là “sư”/ Không ở tù cũng kêuPhạm”/ Thời gian khổ chúng tôi thường hay  ngẫm/  “Ăn sư” “Ở phạmđám chúng mình. Phải lạc quan yêu đời, yêu nghề biết mấy thì mới có thể tự họa tự gán cho mình như thế. Vượt lên những lời đùa vui lại có một giọng thơ hào sảng tự tin (hay tự hào) với nghề thầy giáo của mình: “Xung quanh chúng tôi là ánh mắt nụ cười/ đâu chỉ có bảng đen phấn trắng/ trước mắt chúng tôi là sân trường rực nắng/ chỉ chúng tôi mới hiểu cánh phượng hồng”. Đại từ nhân xưng nhóm “chúng tôi” với bao cộng hưởng sẻ chia như muốn truyền cảm hứng đặc biệt đến với các đồng nghiệp những người mà “Chỉ chúng tôi mới hiểu cánh phượng hồng” thiết thân rạo rực tươi hồng  đỏ chảy trong huyết quản, trong năng lượng sống vừa là thông điệp của mùa hè vừa là thông điệp tình yêu nghề giáo.

Kết thúc bài viết này tôi muốn được cùng nhà thơ Phi Tuyết Ba (cũng là một cô giáo) về với miền thương nhớ “Vùng phấn bay” gợi cho ta một hồi ức định vị một vùng nhớ thương với bao vòng sóng tâm tình lan tỏa. Viên phấn trắng gắn bó với công việc của người thầy truyền giảng tri thức cho học trò. Phấn càng mòn kiến thức càng đầy đặn hơn. Nhưng ở đây hình ảnh bụi phấn bay nhiều đến vùng phấn bay tạo một trường liên tưởng ám ảnh nhuộm xuống mái tóc của thầy: “Phấn xưa đã kết thành mây trắng đầu”. Và “Bao nhiêu viên phấn đã mòn/ Bao nhiêu giáo án chẳng còn trẻ trung”. “Phấn mòn” là ước lệ của thời gian, nhưng giáo án không còn trẻ trung là nỗi niềm của thân phận. Trong sự lao động phân công của xã hội thì nghề giáo cực nhọc về cả môi trường làm việc luôn tiếp xúc với bụi phấn để thanh lọc kết tụ thành những tri thức bài giảng từ tâm huyết của mình để cho: “Trang đời xanh thắm hôm nay” để cho “Sông đời bất chợt nông sâu/ Học thầy em bắc chiếc cầu chữ Tâm”. Viên phấn trắng – mái tóc thầy bạc trắng để cho trang vở cuộc đời học trò trắng tinh gieo xuống đó bao chữ tình chữ nghĩa: “Dòng sông kiến thức sóng xô/ Mong manh trang vở học trò trắng tinh”. Tôi vẫn ngỡ như còn nghe vọng lại những nhịp sóng yêu thương vô bờ vỗ vào con đò nhân thế thầy chở học trò qua sông miệt mài qua năm tháng. Cũng như còn nghe vọng lại nhịp tiếng trống trường vào lớp, ra chơi cần mẫn như quả lắc đồng hồ thời gian điểm nhịp. Và bây giờ dù đã xa tuổi học trò đã lâu, con tim tôi vẫn luôn thổn thức bồi hồi rạo rực với “tiếng trống trường đã điểm chưa em? …” như ngày nào.