Thứ Bảy, 15 tháng 6, 2013

BẾN NƯỚC BUÔN TƠ LƠ

Theo chân các họa sĩ đi thăm bến nước buôn Tơ Lơ, xã Ea Na, huyện Krong Ana


Thêm chú thích
Thêm chú thích

Thêm chú thích

Thêm chú thích

Thêm chú thích

Thêm chú thích

Thứ Sáu, 14 tháng 6, 2013

THĂM TRẠI SÁNG TÁC MỸ THUẬT ĐẮK LẮK NĂM 2013



Các Trại viên và cán bộ Văn phòng Hội VHNT Đắk Lắk chụp ảnh lưu niệm

Trại trưởng - họa sĩ Lê Vấn đang mãi mê làm việc

Thêm chú thích

Thêm chú thích

Thêm chú thích


Thứ Hai, 10 tháng 6, 2013

MA RỪNG truyện ngắn của HỒNG CHIẾN - CHƯ YANG SIN số: 154 tháng 6 năm 2005



Con đường ngoằn ngèo đưa hai đứa hết lên dốc, xuống đèo, lại lên dốc xiên qua cánh đồng trồng điều xanh ngắt trãi dài đến tận chân núi cao. Ông mặt trời đỏ hồng như trái dâu da đất chín mọng, lười nhác leo lên đỉnh núi Krông Jin rãi những tia nắng vàng xuống mặt đất. Lũ bươm bướm đủ màu sắc bay lượn kín cả đường đi; chúng đông đến nỗi Quí cứ tưởng giơ tay ra có thể bắt được cả nắm.
- Y Ví ơi! Bướm ở đâu ra nhiều thế?
           - Bướm ở trong rừng già đấy. Cứ đến mùa hoa cà phê nở chúng kéo nhau bay kín cả trời đất. Chúng không bay thẳng như chim hay chuồn chuồn đâu nhé, mà bay theo đường gần giống hình sin ấy.
           Ừ đúng thật, đàn bướm rủ nhau bay như múa, cứ lên xuống, lên xuống hoài, tạo cho ta cảm giác vui vui khi nhìn chúng giống như những mảnh vải mới nhiều màu sắc được nhà ảo thuật tài ba biểu diễn.
           - Loài bướm này lạ nhỉ? Nó bay giống y như đi theo con đường từ nhà cậu ra rẫy vậy. Cứ đỉnh đồi, xuống yên ngựa lại lên đỉnh đồi. Tại sao không đi men chân đồi cho đỡ dốc?
Y Ví ôm bụng cười ngặt nghẽo, thiếu chút xíu nữa té, mặt đỏ bừng. Quí nhìn bạn càng ngạc nhiên hơn, nói thêm:
-                     Cậu cười cái gì? Nhìn xuống chân đồi xem, nếu ta đi theo ven đồi làm gì phải lên lên, xuống xuống hoài thế này.
-           Ông cụ đồng bằng ơi! Đi men chân đồi không phải leo đèo, xuống dốc ư? Ai san đường, cuốc núi, lấp khe, xây cầu cho ta đi hở? Nhìn dễ vậy đó nhưng đi men theo chân đồi có khi xa gấp ba bốn lần đường đi thế này đấy. Không phải ngẫu nhiên người ta chọn đường qua yên ngựa, lên đỉnh đồi rồi lại xuống yên ngựa đâu. Đường này dốc nhiều nhưng không phải qua bất cứ con khe, ngọn suối nào cả nên mùa mưa, xe trâu, máy cày đều có thể chạy được, không cần làm đường. Còn đi dưới chân đồi thì . . .
-   Ừ nhỉ, thế mà mình không nghĩ ra. Thảo nào các con đường ở đây toàn đi qua đỉnh đồi, may mà đồi không cao. Rẫy nhà bạn ở đâu?
-   Gần đến rồi, chỗ xanh xanh sát chân núi kia kìa.
  Theo tay Y Ví chỉ về phía xa xa, sát chân núi cao có đám lá xanh non của đậu đang lung linh dưới ánh nắng ban mai. Lần đầu tiên được bố mẹ cho theo Y Ví lên rẫy thấy cái gì cũng lạ, cũng thích; bầu trời như rộng hơn, cao hơn và xanh hơn. Không khí có mùi thơm của các loài hoa lá quyện vào nhau tạo cho ta cảm giác sảng khoái và nhất là tầm mắt được vươn xa hơn, không bị vướng víu chật chội. Ở thành phố, nhìn đâu cũng nhà cao tầng, ngẩng mặt nhìn chỉ thấy một khoảng trời con con được quây bằng những lan can và nóc nhà. May mẹ chuyển công tác, theo ba lên Tây Nguyên Quí mới thoát cảnh tù túng suốt ngày nhốt mình trong căn phòng sau giờ đến trường. Lúc nào cũng học, người như chiếc cây cớm nắng, xanh dãi. Còn bây giờ được tắm mình trong không khí Tây Nguyên trong lành, chạy nhảy khắp nơi và nhất là được bạn bè cùng lớp ưu ái đặt cho biệt danh "Tướng thành phố" vì cái gì cũng lạ, cái gì cũng không biết, thậm chí đến hoa, lá, quả trong rừng nhầm lẫn lung tung không biết thứ nào ăn được, thứ nào không.
Sáng nay Quí dậy thật sớm, đạp xe đến nhà Y Ví, theo bạn lên rẫy. Ngôi nhà sàn có lẽ phải dài tới hơn ba phòng học ghép lại giành phần lớn làm phòng khách; còn lại được ngăn thành từng ngăn nhỏ theo gian, mỗi gian có một bếp riêng. Bữa sáng mọi người ngồi quây quần bên bếp ăn cơm, bữa ăn chính vì ăn xong đi làm đến chiều tối mới quay về; bữa trưa được ăn tại rẫy. Điều lạ đối với Quí qua bữa cơm sáng nay là mọi người không kể chủ khách tất cả thức ăn đều chia đều vào các chén cho mọi người; Thức ăn có bao nhiêu món là mỗi người đều có  từng ấy chén để trước mặt; Không ai ăn chung đĩa, chén với ai ngoài nồi cơm. Hay thật! Ăn xong lấy ống bầu đựng nước đổ ra rửa tay ngay bên cửa sổ, chứ không cần đi lại. Vừa ăn Y Ví vừa tranh thủ dặn: cầu thang đi vào phòng khách bắc ngay đầu hồi nhà, ai lên hoặc xuống cũng được, còn cầu thang cuối nhà khách không được đi, nếu lên hoặc xuống nhà bằng cầu thang này người già giận đấy! Những điều mới mẻ, lạ lẫm ấy khác xa nơi thành phố Quí ở.
-   Mỏi cái chân rồi à?
-   Chưa đâu mình còn dư sức leo lên đỉnh núi Krông Jin đấy.
-   Quí phải nhanh cái chân lên, A Xâu còn chờ kìa.
A Xâu - tiếng người Ê Đê gọi chó. Đôi chó nhà Y Ví đi theo hôm nay một con vện tua cau, một con đen tuyền, loài chó cỏ, nhìn không có gì khác lạ so với đồng bọn nuôi trong buôn, ấy là chưa kể so với những con Bẹc giê nuôi ở thành phố, chúng chỉ bé tí thôi; nhưng tuy nhỏ vậy, nó lại nổi tiếng vì tài săn đuổi thú rừng. Bầy chó năm con leo trèo cầu thang như làm xiếc, chủ gọi con nào con ấy đi, con nào không được gọi đứng trên sàn nhà nhìn theo kêu nho nhỏ trong cổ họng, có vẻ ấm ức lắm, mắt thèm thuồng ra vẻ ganh tị với những con được đi theo chủ đang đủng đỉnh rảo bước đi trước.
Đôi chó săn có lẽ được huấn luyện kỹ, cứ một mạch thẳng bước, không tạt ngang hay nô đùa đuổi bắt đàn bướm chập chờn trước mặt. Lâu lâu chúng lại quay đầu nhìn chủ như chế giễu: Sao chậm thế! Đám rẫy nhà Y Ví chắc phải rộng hơn héc ta trồng đậu đen xen bắp, xanh mơn mởn nhìn mát cả mắt.
-   Khu rẫy này nhà nước mới cấp thêm cho dân buôn mình đấy. Bên này của nhà mí H' Nhất, phía bên kia của nhà mí H' Bông, đám phía dưới của mí H'Jua.
-    Tại sao toàn rẫy nhà Amí cả thế này, thế buôn mình không có đàn ông à?
-   Ông ngốc ơi, người Ê Đê theo chế độ mẫu hệ, đàn bà làm chủ gia đình nên tài sản đều đứng tên họ chứ không như người kinh đâu.
-   Vậy à ?
-   Ừ, như mình đây cũng mang họ mẹ đấy.
            Nhìn dáng người vạm vỡ, rắn chắc, khuôn mặt rất đàn ông của Y Ví, Quí thấy thèm quá, giá mình được sức khoẻ như bạn .
-   Đi thăm rẫy sao không lội vào giữa rẫy xem mà lại đi xung quanh bờ thế này?
-   Cậu không biết vì sao thật à?
-   À, mình biết rồi, cậu sợ đi vào giữa rẫy giẫm gãy đậu chứ gì?
-   Sai bét! Rẫy nhà mình tiếp giáp với rừng, hay bị các loài thú xuống phá phách. Vì thế phải đi xung quanh mới biết được thú có đến phá không. Nếu có, chúng đi từ đâu tới biết mà đuổi đi chứ. Đây cậu nhìn này.
            Theo tay Y Ví chỉ, một vạt đậu bị ăn sạch lá còn trơ ra toàn cộng đứng run rẩy mỗi khi có gió lùa qua. Trên mặt đất dấu chân in rõ hình móng guốc như móng chân bê con.
-   Ai thả bê vào phá rẫy nhà mình thế này?
-   Không phải bê đâu, con mang đấy. Ngoài bắc gọi nó là con hoẵng, to chỉ bằng con bê con nhưng chạy nhanh lắm. Điểm khác  biệt lớn nhất của con mang với con bê chính là chiếc đuôi. Đuôi của nó chỉ ngắn chút xíu bằng nửa gang tay thôi, chứ không dài như đuôi bò. Con này mới ăn ở đây tối qua, có cả đôi đấy. Nhìn dấu chân đây này.
            Đúng thật, quan sát kỹ thấy hai dấu chân to nhỏ khác nhau, có con móng dài, con móng tròn. Hất mái tóc xoắn tít rủ xuống trán, Y Ví nói tiếp :
-   Quí đứng đây, chờ mình đi khoảng mười phút mới được xua chó theo dấu chân mang vào rừng. Sau đó cậu vừa đi vừa hô: Huầy, huầy! Men theo mép rẫy đến bên kia có đường xe ben chở gỗ, theo đó đi vòng lên sẽ gặp mình phục chỗ gốc cây đa to phía kia dọa cho nó sợ để lần sau không dám xuống nữa. Nhớ hô to để mang nó sợ chạy về phía mình nhé.
-   Yên tâm, việc hò hét chắc chắn tớ làm tốt. Cậu đi đi.
Nhìn Y Ví hăm hở khuất sau đường rẽ, Quí thấy vui vui. Lần đầu tiên đi làm nhiệm vụ đặc biệt, được chỉ huy hai chú lính cẩu, oai thật! Hai con chó ngồi xổm mắt chăm chăm nhìn như đợi lệnh. Cầm cây xà gạc Quí dứ dứ thử, nếu con mang nhìn thấy mình thế này chắc là sợ chết khiếp rồi. Chiếc đồng hồ điện tử đeo trên tay lười nhác, chậm chạp bước từng bước kéo kim giây như dính chặt vào một chỗ. Cuối cùng nó cũng lôi kim phút đến chỗ đã định.
-   Nào, tiến lên! Huầy! Huầy!
Hai con chó chỉ chờ có vậy theo nhau lau vút vào rừng bám theo vết chân con mang đã đi. Quí chạy men theo rìa rẫy đến con đường xe chở gỗ. Con đường rộng hơn ba mét thoáng đãng, dốc thoai thoải.
-Gâu! Gâu! Gâu! . . .
Tiếng chó sủa rộ lên làm Quí thêm phấn chấn, vừa hò hét vừa lăm lăm cây xà gạc phòng thủ. Chắc con mang chạy lẩn quẩn trong rừng nên tiếng chó lúc gần, lúc xa, rồi lại gần hơn.
-   Lộc cộc! Lộc côc! Lộc cộc!
Bỗng nhiên có tiếng động như tiếng vó ngựa chạy trên đường nhựa cứ đều đều gõ nhịp, mỗi lúc một rõ dần. Tại sao giữa rừng lại có tiếng xe ngựa chạy? Hè năm trước được ba mẹ cho lên Đà Lạt nghỉ mát, buổi tối thuê xe ngựa chạy xung quanh bờ hồ Xuân Hương ngắm cảnh. Tiếng chân ngựa gõ xuống đường nhựa giống y tiếng này. Chẳng lẽ có ma? Ngày nhỏ nghe bà ngoại kể chuyện trên rừng có nhiều loài ma lắm; ma cây đa, ma núi, ma suối và đặc biệt là ma lọ hay đi bắt hồn người, nhốt vào lọ... Mỗi lần di chuyển ma lọ lăn theo vết mòn tạo thành tiếng lộc cộc, lộc cộc. Thôi chết, ma thật rồi. Quí vội vàng bỏ chạy, phải chạy nhanh đến chỗ Y ví thôi. Nhưng càng chạy, tiếng lộc cộc càng gấp gáp đuổi sát phía sau, mỗi lúc một gần hơn.
-   Y Ví ơ . . .. i!
Thật may, khi tiếng lộc cộc đuổi gần sát đến người, Quí thấy Y Ví đứng giữa đường giơ tay múa may ra hiệu.
-   M . . . a! M. . .a!
-   Cậu nhìn lại đằng sau xem.
Quí ôm chầm lấy Y Ví, xuýt làm hai đứa ngã, thở không ra hơi; nghe lời bạn ngoái cổ nhìn lại phía sau lưng và chợt đỏ bừng mặt. Té ra tiếng lộc cộc phát ra đều đặn là do con nai đực nghe tiếng chó sủa giật mình bỏ chạy. Con nai to như con bò đực lớn màu xám đen, ức trắng, trên đầu có bộ sừng kềnh càng như hai cành  cây lớn cong vút về phía sau. Con nai chạy theo đường kéo gỗ sát đến chỗ hai đứa đứng mới giật mình đứng sững lại trước khi rẽ ngang lao vút vào rừng. Phía sau, đôi mang chạy nối đuôi nhau, mỗi bước nhảy phải cách xa đến bốn năm mét, khi Y Ví xô Quí ra, đôi mang cũng khuất vào rừng.
-   Con trai gì nhát như thỏ đế vậy; lỡ mất dịp dọa cho chúng sợ rồi.
-   M . . . ình, m . . . ình tưởng có ma lọ đuổi.
-   Ôi! Học lớp bảy rồi còn tin có ma à? Xấu quá!
Dừng một chút Y Ví nói thêm:
-   Đôi mang này chắc sợ khiếp vía không dám bén mảng về đây nữa đâu. Gọi chó về thôi.
Quí ngượng chín người, tự trách mình sao lại hèn thế.
- Thôi ta đi chặt cây lấp mấy chỗ mang vào ăn đi. Cây xà gạc đâu ?
-   Thôi chết, mình, mình . . .
-   Ta quay lại tìm đi, chắc cậu làm rơi khi nghe tiếng nai chạy chứ gì?
-    Ừ!
-    Trong rừng làm gì có ma, chỉ có thú thôi. Khi gặp, phải bình tĩnh ứng phó với chúng chứ cứ chạy như vậy có hôm té què giò đó.
-   Mình nhớ rồi. Nhưng bạn đừng kể chuyện hôm nay với lớp nhé.
-Tại sao sợ bạn bè biết nhỉ? Có thể qua chuyện của Quí hôm nay sẽ giúp  các bạn trong lớp cảm thông hơn với “Ông tướng thành phố” và không ai còn sợ “ma” thế nữa.
            Nghe Y Ví nói, hai tai Quí lại đỏ bừng, khi hiểu ra mình vẫn sợ người khác biết về tật xấu của mình làm sao có thể sửa được. Mình vấp ngã đứng dậy và bảo người đi sau chỗ mình ngã, để không có người bị vấp giống mình nữa mới phải chứ. Điều đơn giản vậy mà không hiểu!.
-   Thôi, chuyện qua rồi, xem đó là bài học đầu tiên của người lần đầu vào rừng, đừng băn khoăn nữa.
-   Mình biết rồi!.
-Xa xa mấy đôi chim công gọi nhau: Tố hộ! Tố hộ! Lay động cả góc rừng. Cả không gian như đẹp hơn lên dưới bầu trời xanh thăm thẳm, đong đầy  tiếng chim.

Chủ Nhật, 9 tháng 6, 2013

CHUYỆN NHỮNG NGƯỜI “CÕNG CHỮ” VÀO RỪNG CƯ SAN bút ký của HỒNG CHIẾN - CHƯ YANG SIN SỐ: 250 tháng 6 năm 2013



 



Anh Tạ Hồng Diện – Phó trưởng Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện M’Đrăk dẫn đoàn chúng tôi về thăm Trường tiểu học La Văn Cầu, đây là trường xa trung tâm huyện nhất và cũng là trường hiện nay khó khăn nhất của huyện M’Đrăk. Xe đưa đoàn xuôi quốc lộ 26 về phía thành phố Nha Trang, qua đèo M’Đrăk, đường uốn lượn như con trăn khổng lồ đang lách mình qua các mỏm núi, vực sâu lao về hướng biển. Hai bên đường rừng thông, keo tai tượng, bạch đàn… tươi tốt bao phủ hết các ngọn đồi. Đến địa phận xã Ea Trang, hai bên đường vẫn thưa thớt bóng nhà như cách đây… thời tôi mới tới.
Cuối năm 1978, tôi được cấp trên giao nhiệm vụ về xã Ea Trang phối hợp với chính quyền địa phương vận động nhân dân xây dựng Trường nội trú Ea Trang; tôi chọn một ngọn đồi tại thôn Hai để làm trường vì thôn Hai là trung tâm xã và gần Trạm kiểm soát Phượng Hoàng, đảm bảo an ninh cho thầy và trò. Ngày ấy hai bên Quốc lộ 21 (nay là Quốc lộ 26) chỉ có cỏ tranh, cỏ lau và cây đót mọc được, trải dài lên tận các đỉnh đồi – Người dân địa phương bảo: Tại thằng Mỹ rải chất độc hóa học phát quang cây cối, đề phòng Quân giải phóng chặn đánh đường nên mới thành ra như vậy! Đứng dưới Quốc lộ 21 vào buổi chiều thỉnh thoảng vẫn thấy nai, hoẵng và heo rừng đùa giỡn trên triền núi. Trường lúc ấy làm tạm bằng cây rừng và lợp cỏ tranh thôi, nhưng quan trọng là có trường, có nhà để các em học sinh cấp II là người Êđê đến ở và học. Trường làm xong, tôi bàn giao lại và đi xây dựng trường mới rồi đi học và chuyển qua công tác khác, không ở ngành giáo dục nữa. Thấm thoắt gần 30 năm sau - năm 2007 – tôi mới có điều kiện quay lại trường cũ cùng thầy Lê Cảnh Truật – khi ấy đương chức Phó phòng Giáo dục và Đào tạo huyện. Trường cũ còn đây, nhưng tên trường đã thay đổi, cơ sở vật chất cũng đổi thay, những lớp học tạm bợ ngày xưa nay đã được kiên cố hóa, mái ngói đỏ tươi; học trò không chỉ có người Êđê mà nay còn có: Kinh, Tày Nùng, H’Mông… Nhưng các em không có chế độ nội trú mà hoàn toàn phụ thuộc vào gia đình. Nhìn những túp lều bằng tre, nứa lợp cỏ tranh hoặc vải bạt dựng tạm để ở và học tập của các em người dân tộc thiểu số (vì ở quá xa trường, học xong không về được phải ở lại đến hết tuần) tôi có bài phóng sự: “Gian nan đường đến cái chữ!” phản ánh một thực tế buồn ở địa phương và góp phần kiến nghị để Nhà nước ban hành chính sách hỗ trợ cho học sinh bán trú dân nuôi ở vùng xa xôi, hẻo lánh, khó khăn. Mới đó mà đã gần sáu năm, sáu năm trôi qua, theo như báo cáo, một số trường ở đây vẫn còn nhiều khó khăn lắm, tôi cũng muốn biết những khó khăn đó là gì, và có cách gì tháo gỡ hay không?
Xe đưa tôi qua cổng trường cũ, đến gần đèo Phượng Hoàng, rẽ phải theo Tỉnh lộ mới làm, được rải nhựa phẳng phiu, uốn lượn qua các mỏm núi cao vực sâu để đến địa phận xã Cư San, có đoạn dài hơn 10 km không một nóc nhà, một bóng người. Anh Tạ Hồng Diện cho biết: Xã Cư San mới được thành lập, toàn bộ dân số của xã là dân tộc các tỉnh phía Bắc di cư tự do vào làm ăn sinh sống và đông dần lên, thế là thành một xã mới ở vùng sâu cách xa trung tâm huyện khoảng 40 Km. Do địa thế hiểm trở: núi cao, suối sâu, đường sá đi lại khó khăn, học sinh ở phân tán… điều kiện kinh tế của xã cũng như huyện còn khó khăn nên đầu tư cho trường còn hạn chế lắm, nhưng được các thầy cô nhiệt tình nên gắng gượng vượt qua. Tôi hỏi: Trường khó khăn như thế nào mà được xếp “nhất” huyện? Các bác cứ đến tận nơi sẽ rõ! Nghe câu trả lời của Phó trưởng phòng Giáo dục và Đào tạo huyện, tôi hơi ngac nhiên và thoáng chút bất ngờ… Lãnh đạo của một phòng quan trọng của huyện thuộc hàng khó khăn nhất tỉnh lại là một người còn khá trẻ, tuổi chỉ độ ngoài ba chục, dáng mảnh khảnh, hoạt bát, nhưng được đào tạo cơ bản theo “chuẩn”.
Bất ngờ, một cô gái đi xe máy vòng qua đầu xe của chúng tôi giơ tay ra hiệu cho lái xe đi theo; xe bỏ đường nhựa, rẽ theo đường đất leo lên sườn đồi. Con đường đất do nước chảy nhiều nên tạo ra vô số rãnh và “ổ voi, ổ trâu”, làm người ngồi trên xe lắc lư như ngồi trên thuyền ra đảo; đi một đoạn nữa, xe bò đến đỉnh đồi có treo tấm biển: Trường tiểu học La Văn Cầu. Trước mắt tôi một ngôi trường hai tầng với 6 phòng học còn khá mới, sân trường trồng hai hàng đa và si đã vươn cao hơn 3 mét, cành lá sum suê xanh tốt làm bớt đi cái nắng nóng của đá sỏi màu nâu đỏ dưới sân trường hắt lên. Trong lớp, các thầy cô đang say mê giảng bài. Tôi thầm nghĩ, trường đẹp thế này sao bảo khó khăn?
Ban giám hiệu và một số thầy cô không phải lên lớp đón chúng tôi như đón người thân lâu ngày về thăm nhà. Tay nắm tay, tiếng cười rộn rã, cùng bước lên tầng 2 của ngôi trường, nơi có phòng Hội đồng, phòng Hiệu trưởng, Hiệu phó… cùng chung trong một phòng học. Tôi đề nghị với Ban Giám hiệu nhà trường sau giờ dạy buổi sáng, mời hết các thầy cô và cán bộ công nhân viên của trường đến giao lưu với đoàn. Thầy Lê Quý Sỹ - Hiệu trưởng nhà trường - tuổi ngoài bốn mươi, phát âm chuẩn tiếng… xứ Thanh nên không cần giới thiệu về quê quán nhưng ai cũng nhận ra - báo cáo tóm tắt tình hình nhà trường: Trường thành lập năm 2008, đến năm học 2012 – 2013 toàn trường có 13 lớp với 321 em học sinh; học sinh dân tộc ít người: 317 em, học sinh nữ: 140 em, nữ dân tộc: 139 em;  về đội ngũ: toàn trường có 21 cán bộ, giáo viên, công nhân viên; trong đó: nữ 15, dân tộc ít người 02; trình độ chuyên môn: Đại học: 6 người, Cao đẳng: 6 người, Trung cấp: 8 người, chưa qua đào tạo: 01 người (bảo vệ trường); trường có một chi bộ 8 đảng viên. Hiện nay ngoài trường chính với 8 lớp học một buổi, còn có hai điểm trường là điểm Ea Sanh cách trường chính 5 km và điểm Sông Chò cách trường chính hơn 7 km có 3 lớp với 60 em học sinh, ở điểm này có một lớp ghép; toàn bộ số giáo viên ở điểm Sông Chò đang phải ở nhờ trong Trường Mầm non, điều kiện sinh hoạt rất khó khăn với “3 không”: Không điện, không nước sạch và không… nhà vệ sinh.
Qua báo cáo của Hiệu trưởng và trao đổi với các thầy cô giáo tại trường, tôi giật mình trước con số “ba không” mà thầy cô giáo dạy tại các điểm xa trường chính đang phải chấp nhận. Mùa mưa, nước lũ ầm ầm đổ về cuốn theo mọi thứ, nước đỏ đậm phù sa cùng rác rưởi, nhưng đó cũng là nước ăn và sinh hoạt cho các thầy cô và học trò; mùa khô dòng  nước cạn kiệt, các thầy cô lại phải xua trâu bò, heo gà… để chắt từng can nước đầy váng, mang về để dùng; đêm đến lại căng mắt bên ngọn đèn dầu leo lét soạn giáo án, chấm bài để mặc muỗi rừng vây quanh… Không điện, là không ti vi và các điều kiện tiện nghi khác của thời hiện đại – thế kỉ XXI, thế mà vẫn cam chịu, bám lớp bám trường. Nhưng khốn khổ nhất là… không nhà vệ sinh thầy cô và trò đều ra núp sau bụi cây, ngọn cỏ để “giải quyết”; trời nắng còn đỡ, trời mưa thì quả là cực hình; thầy còn dễ, các cô thì không biết nói thế nào để diễn tả cho hết... Kinh phí của ngành không có, xã lại quá nghèo không thể hỗ trợ nổi nên đành… chờ vậy! Có lẽ thấy vẻ ngạc nhiên xen lẫn băn khoăn của tôi, thầy Lương Bá Từ, Phó hiệu trưởng nhà trường nói thêm: Trường chính thì đỡ hơn, chỉ hai không thôi là: không nước, không công trình vệ sinh! Tôi giật mình, hỏi lại: Thật thế sao? Để chứng minh mình nói không sai, thầy Phó hiệu trưởng đưa tôi ra hành lang ngắm nhìn quang cảnh toàn trường: ngoài ngôi trường 2 tầng với 6 phòng học đứng chơ vơ trên đỉnh đồi, không có một công trình phụ trợ nào, bên cạnh cổng trường có thêm một phòng học mẫu giáo lợp tôn, đường từ cổng vào sân trường được trồng ba hàng keo tai tượng cao hơn đầu người, còn lại là cỏ tranh và cỏ dại trải dài xuống tận dưới chân đồi, phía xa xa nơi chân núi hiện lên mờ mờ những nóc nhà ẩn hiện qua nền khói của người dân đốt rừng làm rẫy. Ngọn đồi trường đóng ở biệt lập với khu dân cư, nên học sinh đến trường đều phải băng qua một cánh đồng rộng và một vài con suối. Thầy Lương Bá Từ chỉ tay vào mỏm đồi phía bắc nói thêm: Đấy là khu nhà công vụ của trường đấy anh ạ, cũng may mà còn có điện lưới và đầu năm nay được đầu tư đào giếng để anh chị em thoát cảnh dùng nước suối dưới chân đồi. Tôi hỏi thêm: Cả khu trường chính không có nước thì làm thế nào? Đành phải cho các em học sinh thay nhau xuống chân đồi múc nước suối lên dùng tạm. Anh tính từ đây xuống đến chỗ múc nước cũng phải gần 150 mét chứ ít gì mà đường lại dốc như vậy… Giọng của thầy Hiệu phó có cái gì đó nghèn nghẹn nơi cổ làm tôi bỗng thấy rưng rưng.
Sáng nay, theo giới thiệu của Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện, chúng tôi đến thăm Trường tiểu học Kim Đồng, đóng ở trung tâm thị trấn huyện, cơ sở vật chất quả là bề thế, xứng danh Chuẩn quốc gia giai đoạn I; phòng họp hội đồng rộng rãi, thoáng mát có trang bị quạt, ti vi, bàn ghế đạt chuẩn. Cô Vũ Thị Hòa, Hiệu trưởng nhà trường giới thiệu sơ qua về cơ sở vật chất của trường làm mấy anh phóng viên đi theo tròn mắt và khi ra thăm lớp học bấm máy liên tục, không dứt ra được. Tôi theo chân cô Nguyễn Thị Bắc, Phó hiệu trưởng nhà trường thăm phòng làm việc của hiệu trưởng, các hiệu phó… phòng nào cũng lớn chắc phải trên 15 m2, ngoài bàn làm việc, tủ hồ sơ, máy vi tính còn có bộ xalon bọc da tiếp khách; lên gác thăm phòng học của khối 4 và 5, lớp nào cũng trang trí rất đẹp; bàn ghế, bảng chống lóa đúng chuẩn. Vòng ra phía sau khu lớp học là khu nhà vệ sinh xây khép kín đạt chuẩn theo quy định của ngành… Phía trước sân trường, bên cạnh những gốc bàng, gốc phượng… những chiếc ghế đá xếp vòng quanh làm chỗ nghỉ cho thầy và trò giờ ra chơi; còn giờ đây đứng trên sân Trường tiểu học La Văn Cầu, cũng là trường tiểu học như nhau sao mà khác nhau quá xa đến thế!
Theo chân các thầy cô lên thăm khu nhà công vụ giáo viên, khu nhà cấp IV tường xây lợp tôn, mỗi phòng rộng chừng 3 mét, dài 5 mét; nếu thầy cô có gia đình được ưu tiên một phòng còn độc thân thì mỗi phòng kê hai hoặc ba chiếc giường một, và một chiếc bàn liền ghế 2 chỗ ngồi của các em học sinh tiểu học. Tôi hỏi thầy Nguyễn Thành Tâm, Tổng phụ trách của trường: Bàn ghế bé tẹo thế này làm sao ngồi mà soạn bài được? Dạ, bàn ghế để ấm chén làm chỗ uống nước, còn soạn bài thì kê va ly lên giường ạ! Tôi tròn mắt trước thực tế của khu nhà công vụ của trường khi biết thêm đầu năm nay khu nội trú này mới có giếng nước để các thầy cô sử dụng, còn trước đây vẫn dùng nước suối; hơn chục cán bộ công nhân viên và giáo viên ở khu nhà công vụ này vẫn chưa có nhà vệ sinh, đang phải thực hiện theo tập quán cổ xưa là ra… triền đồi!
Trở về thị trấn huyện, tôi tìm gặp thầy Phạm Ngọc Thạch, Trưởng phòng Giáo dục và Đào tạo, trao đổi về những điều mắt thấy tai nghe tại Trường tiểu học La Văn Cầu, thầy cho biết: Tôi đã vào thăm trường nhiều lần, biết anh em ở đó rất khó khăn, thương lắm; nhưng kinh phí của ngành không có, chưa biết làm thế nào được cả! Nghe lãnh đạo ngành trả lời như vậy, tôi mang băn khoăn đến trao đổi với ông Lê Đình Điền, Phó bí thư Huyện ủy kiêm Chủ tịch UBND huyện M’Đrắk, ông cho biết: Địa phương cũng biết những khó khăn của các thầy cô nhưng điều kiện tài chính chưa cho phép nên năm nay mới đầu tư đào giếng cho khu nhà công vụ, sang năm học sau chúng tôi sẽ tháo gỡ dần dần! Tôi biết ông Chủ tịch huyện cũng trăn trở với giáo dục rất nhiều vì bản thân ông cũng từng là giáo viên tiểu học về huyện M’Đrắk năm 1977 như tôi, đã từng phải vào tận từng nhà dân vận động học sinh đến trường; từng đối diện với cái chết khi bị bọn Fulro tập kích vào Trường dân tộc nội trú M’Đrắk năm 1979 bằng sự mưu trí và lòng dũng cảm, ông đã chiến thắng; vượt lên tất cả, ông đứng vững, trụ lại với mảnh đất quê hương thứ hai của mình, cống hiến cho ngành Giáo dục và giờ đây là cán bộ lãnh đạo chủ chốt của huyện, chắc chắn những khó khăn của Trường tiểu học La văn Cầu nói riêng và của cả ngành Giáo dục huyện M’Đrắk nói chung sẽ được ông tham mưu cho Đảng và chính quyền địa phương tìm cách tháo gỡ vào đầu năm học mới. 
Rời huyện M’Đrắk trở về, trong tôi đọng lại ấn tượng khó quên về các thầy cô giáo ở Trường tiểu học La Văn Cầu, tuy phải chiụ đựng và chấp nhận tất cả khó khăn, vất vả đời thường để “cõng chữ” đến với các em học sinh với mong muốn thực hiện lời dạy của Bác: “ai cũng được học hành”. Ban Giám hiệu cùng với Công đoàn và Đoàn thanh niên của trường biết phát huy dân chủ, thổi bùng lên ngọn lửa nhiệt tình của người thầy được Đảng và Nhà nước đào tạo, mang ánh sáng văn hóa đến với mọi nhà, vận động các em đến lớp học cái chữ của Bác, của Đảng, mở mang kiến thức để mai này xây dựng đất nước ta, địa phương ta “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”. Sự cố gắng ấy của thầy và trò Trường tiểu học La Văn Cầu đã gặt hái được thành công nhất định; kết quả cuối năm học 2012 – 2013: Chi bộ trường được đề nghị công nhận trong sạch vững mạnh xuất sắc; trường được đề nghị công nhận đạt danh hiệu: Tập thể lao động tiên tiến.
Chúng ta mong rằng các cấp có thẩm quyền ở Đắk Lắk nói riêng và các tỉnh có dân định cư tại xã Cư San nói chung, sớm có kế hoạch phối hợp đầu tư cơ sở vật chất để các thầy cô ở đây bớt khó khăn, vất vả, an tâm công tác “cõng chữ vào rừng”; và các em học sinh đa số là người dân tộc thiểu số nơi đây có cơ sở vật chất tạm đủ để học tập đạt kết quả tốt hơn.

 Tháng 6 năm 2013



Thứ Bảy, 8 tháng 6, 2013

GIỚI THIỆU CHƯ YANG SIN SỐ: 250 - THÁNG 6 NĂM 2013



Tạp chí Văn Nghệ CHƯ YANG SIN
Xuất bản hàng tháng

Số: 250

Tháng 6/2013


                                   Tòa soạn:                    
172 Điện Biên Phủ - TP.Buôn Ma Thuột - Đắk Lắk
ĐT :  0500.3840 276
Email: cuyangsindaklak@gmail.com
                                              
Quyền Tổng biên tập:
KHÔI NGUYÊN

Phó Tổng biên tập thường trực:
 HỒNG CHIẾN

Phó Tổng biên tập:
 ĐẶNG BÁ TIẾN

Ban biên tập:
NGUYỄN VĂN THIỆN
PHẠM HUỲNH
AN QUỐC BÌNH
HUỲNH NGỌC LA SƠN

Trình bày:

Y KUAN NY NIÊ

AN QUỐC BÌNH

Thiết kế mỹ thuật:
AN QUỐC BÌNH

Sửa bản in:
TRẦN THỊ ÁNH NGUYỆT

Trong số này


 VĂN:
       Người nông dân kiểu mẫu (ghi chép) – TRẦN CHI
 Màu cuộc sống (tản văn) – H’XÍU HMOK
Thành phố mưa bay (truyện ngắn) MỘC ANH
 Đàn bà (truyện ngắn) – HUỲNH THẠCH THẢO 
Thức dậy một tiềm năng (ghi chép) – HỒNG CHIẾN
 Chuyện những người “cõng chữ” vào rừng Cư San () VÂN TRANG
Có một M’đrăk khác… (ghi chép) TRẦN CHI
 Màu xanh Cư Króa (ghi chép) ĐẶNG BÁ TIẾN
 Sự tích Dray Knao (truyện ngắn) H’SIÊU BYA
Jatin và đôi giày xăng đan (Truyện ngắn nước ngoài) VÕ HOÀNG MINH (dịch)




THƠ của các tác giả:
NGUYỄN VĂN CHƯƠNG – LƯU TIẾN LỄ - HOÀNG THẾ - TRẦN CỘNG SẢN – NGUYỄN LOAN – NGUYỄN NGỌC CHIẾN – NGUYỄN HƯNG HẢI – NINH ĐỨC HẬU – VƯƠNG VĂN BẠNG – TRẦN CHI – NGUYỄN VIẾT CHỮ - VĂN LUÂN – HUỆ NGUYÊN – HOÀNG THANH HƯƠNG – NGUYỄN NGỌC TIẾN – HOÀNG ANH TUẤN – TRẦN PHỐ - LÊ VĨNH TÀI – TRẦN VĂN TƯƠNG – LÊ THỊ MINH NGHIỆM – ĐẶNG BÁ TIẾN – ĐÀM LAN

Nghiên cứu giới thiệu – phê bình:

                       Bài học của bác Hồ dành… -  NGUYỄN THỊ ÁNH HUYỀN
                       Trẻ mục đồng với bức...        PHẠM TUẤN VŨ
                       Gia phả của người M’nông…   - TRƯƠNG BI
                       Nghệ sĩ Trương Ân…               – THU HƯƠNG
                       Sự tích Krông Bông và…          - Y CHINH
                                     
NHẠC
       LÊ NHẬT THANH
        DƯƠNG TẤN BÌNH
                                  NGUYỄN HƯNG                                        

     
               
 Ảnh Bìa 1: Hồn nhiên    Ảnh :   PHẠM HUỲNH
                                                                                                     
            
     
                     TRANH - ẢNH và minh họa của các tác giả:

    PHẠM HUỲNH - AN QUỐC BÌNH – HỒNG CHIẾN – NGUYỄN HUY LỘC – NGUYỄN LIÊN –  XUÂN CHIẾN  -  PHAN VŨ - PV…

                
      

Giấy phép xuất bản số 2687 BC-GPXB của Bộ Văn hóa Thông tin  cấp ngày 15 -11 - 2012. In tại Công ty CP In & DVVH Gia Lai – 102 Phạm Văn Đồng – TP. Pleiku – Gia Lai.

Bìa 1
Bìa 2

Bìa 3

Bìa 4



Lá thư văn nghệ



TRÁCH NHIỆM
CỦA NGƯỜI CẦM BÚT HÔM NAY



Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Bác Hồ, chỉ tính từ năm 1919 đến 1969 (50 năm), Bác đã viết 1524 bài báo. Riêng trên báo Nhân Dân, từ năm 1951 – 1969 Bác đã viết 1205 bài với nhiều bút danh khác nhau. Các tác phẩm báo chí, văn chương của Bác bao giờ cũng được người đọc đón nhận với tất cả niềm say mê, niềm tin và thấm sâu vào gan ruột. Bởi nội dung trong các tác phẩm ấy bao giờ cũng thiết thực, gần gũi với đời sống của nhân dân, lối viết giản dị, trong sáng, nhiều hình ảnh ví von dân dã, ngắn, dễ nhớ, dễ thuộc… Có được điều đó, ngoài vốn hiểu biết cao, rộng, sâu sắc, bản lĩnh sống và viết vững vàng, Bác còn xác định được cho mình một tâm niệm đúng mà ngày nay đã trở thành nguyên lý của bất cứ người cầm bút nào, là:  “Viết cho ai, viết để làm gì?”. Cũng chính vì vậy, Bác không chỉ là nhà cách mạng, là người đặt nền móng cho báo chí, văn nghệ cách mạng Việt Nam ra đời, phát triển, mà còn là nhà báo, nhà thơ, nhà tư tưởng lớn của dân tộc Việt Nam chúng ta.
Học tập Người - Cầm - Bút - Hồ Chí Minh vĩ đại, các nhà báo, nhà văn hôm nay ngoài việc phải hướng ngòi bút của mình vào những sự kiện quan trọng của đất nước để góp phần phát triển kinh tế, xã hội, giữ vững chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, còn phải thể hiện được bản lĩnh của mình trong việc đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 (Khóa 11) để bảo vệ những người dân bị mất đất vô cớ, bảo vệ những người lao động nghèo đang phải làm việc quần quật cho các đại gia, nhưng chỉ nhận được đồng lương chết đói, dám lên án những tên “địa chủ mới” tàn ác: Thả chó bẹc giê ra cắn nát thịt những cụ già, em bé nghèo đi mót cà phê…
Người cầm bút anh đang ở đâu trong cuộc chiến thầm lặng hôm nay nhưng đầy cam go thử thách? anh đang làm gì để góp phần xóa bỏ những ngang trái, bất công trong xã hội để thực hiện điều mơ ước “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”? Đấy là những câu hỏi đồng thời là trách nhiệm, phải được xuất hiện thường trực trong trái tim, trí não của những người cầm bút hôm nay.             
                                                                           CHƯ YANG SIN