Chủ Nhật, 11 tháng 10, 2015

ĐIỀU KHÓ NÓI truyện ngắn của HỒNG CHIẾN - CHƯ YANG SIN SỐ 277 tháng 10 năm 2015




Mặt trời leo qua đỉnh núi Mẹ Bồng Con một đoạn dài, ném xuống buôn những hơi thở ấm áp của buổi sáng. Dân buôn M’Lai và buôn Tai hôm nay bồng bế nhau, rồng rắn kéo đến khu đất trống dưới chân núi Cư Bukso, cạnh suối Ya Brô chứng kiến cuộc đua tài thi bắt cá giữa hai buôn. Không biết tục lệ này có từ bao đời nay, hàng năm cứ đến những ngày cuối cùng của mùa khô Tây Nguyên, khi công việc trên ruộng rẫy đã xong xuôi, già làng hai buôn M’Lai và buôn Tai lại gặp nhau định ngày tổ chức thi. Thành phần tham gia được thống nhất như sau: mỗi buôn cử ra một đội gồm: hai cặp nam nữ trung niên đã có gia đình, hai cặp thanh niên và một thiếu niên tham gia cuộc thi. Những người được chọn đại diện cho buôn tham dự cuộc thi, phải là những người khỏe mạnh, nhanh nhẹn và đặc biệt khéo tay, giỏi bắt cá; vì thế ai được chọn đều hãnh diện lắm.
Năm nay trong đội buôn Tai có H’Dung, con út già làng đang học lớp 8 trường nội trú huyện, vinh dự đứng đầu hàng đối diện với đội buôn M’Lai cũng có chín người; người đứng đầu hàng là Y Khoa bạn học cùng lớp với H’Dung. Y Khoa tóc quăn, người cao lêu khêu nhưng đá bóng khá lắm. Nhìn cái mặt vênh vênh của Y Khoa, H’Dung thấy ấm ức trong bụng, tự hứa với chính mình: hắn làm lớp phó phụ trách Văn Thể hay ăn hiếp cánh con gái, lần này mình phải thắng, thắng thật oanh liệt cho hắn ta bớt vênh váo.
 Sau khi hai đội chiêng của hai buôn cùng tấu bài Cảm ơn Yang cho mưa thuận gió hòa, con người và loài vật mạnh khỏe, nay xin Yang suối Ya Brô cho được tổ chức cuộc thi bắt cá làm sản vật tạ ơn các Yang. Ông thầy cúng lẩm bẩm khấn vái, vảy nước bốn phía xong hai đội thi đấu cúi đầu chào nhau. Buôn M’Lai năm nay bắt được lá thăm may mắn đứng phía đầu suối, còn buôn Tai đứng phía cuối dòng. Tham gia tranh tài cánh đàn ông ai cũng đóng khố mới, khoe tấm lưng sạm nắng gió như đồng hun; cánh phụ nữ cũng diện yeng mới như đi dạ hội, trên tấm lưng trần đeo chiếc gùi mây lớn để đựng cá.
Điểm được chọn tổ chức cuộc thi hàng năm là vụng suối đoạn chảy qua gần hai buôn. Nhờ Yang ban phước cho vùng đất này nên khi suối chảy đến ranh giới của hai buôn tự nhiên phình bụng to ra tạo thành một cái vụng, quanh năm không bao giờ cạn nước. Vụng suối này dài gần bốn chục sải tay, chỗ rộng nhất năm sải tay, nơi nước sâu nhất hơn sải tay. Cuối mùa khô suối cạn dần, cá các nơi dồn vào vụng. Buổi chiều trước ngày tổ chức thi, thanh niên hai buôn ra đàn hát, khơi dòng cho nước chảy bớt đi, chỗ nào sâu nhất chỉ còn khoảng sáu gang tay.
Tung… tung… tung! Dứt ba hồi trống, hai đội đặt vội gùi xuống bãi cát rồi lao xuống suối trổ tài… tay không bắt cá. Họ nháo nhào lội ngược lội xuôi làm khúc suối đục ngầu, cá chạy loạn xạ, nhiều con thúc cả vào chân, nhảy lên lao cả vào ngực. Mấy người trung niên mò sát bờ khe bắt cá không vảy rúc vào, cánh thanh niên háo hức quần nhau nơi giữa suối bắt những con cá quả lớn. Cá bắt được ném lên bờ để nhặt bỏ vào gùi. Y Khoa thấy lũ cá trắng to bằng hai, ba ngón tay nổi lên nhiều, bắt ném mỏi tay quá liền chạy lên bờ lấy gùi đeo vào lưng xuống bắt cho nhanh; H’Dung nhìn thấy vậy cũng làm theo, lúc gùi nặng quá, chạy lên bờ đổ rồi xuống bắt tiếp. Hơn một tiếng sau, số cá trắng sặc nước bùn thò đầu lên thở bị tóm hết, mọi người đua nhau bắt các con cá đen như: trê, quả…    
Trên bờ, tiếng chiêng, tiếng trống thi nhau gõ, tiếng người lớn, trẻ em hò hét động viên vang động cả góc trời làm những người tham gia cuộc thi càng hăng say hơn. Y Khoa mặt vẫn tỉnh khô, nhanh tay tóm cá ném vào gùi hình như không nhìn thấy H’Dung. H’Dung ức lắm nên quyết phải nhanh tay cùng góp sức bắt cho được nhiều hơn. Mấy anh chị thanh niên thỉnh thoảng lại cười ré lên khi bắt được cá to hay vô tình nắm được tay nhau dưới nước. Y Khoa vẫn chăm chỉ bắt không thèm nhìn ai cả, bổng hét toáng lên:
-A, tóm được rồi!
Hét lên xong Y Khoa ngồi xuống nước ngập đến cổ, ngập luôn chiếc gùi, bao nhiêu cá bắt được bơi ra hết; rồi gồng mình, từ từ đứng lên ôm theo một tảng đá lớn bước vội lên bờ. Mọi người nhìn theo, ngạc nhiên, chưa hiểu vì sao thì thấy Y Khoa cố hết sức lẳng hòn đá lên bãi cát. Mọi người ồ cả lên ngạc nhiên khi thấy hòn đá to như chiếc chiêng, thò đầu, đuôi, chân ra bơi bơi trong không khí. Ai đó kêu lên:
-Rùa, ôi con rùa to quá!
Nhiều người chạy lại xem, Y Khoa được thể cái mặt càng vênh lên như đã cầm giải nhất rồi ấy, trông ức quá; H’Dung nghĩ bụng: mình phải tóm được con cá to chứ không thèm nhặt “hòn đá” như thế. Nhưng làm thế nào để bắt được cá to khi chúng còn khỏe và bơi nhanh lắm? A, phải làm thế này mới được, trong đầu H’Dung nảy ra một ý nghĩ táo bạo vội ngồi xuống cho nước ngập đến cổ rồi từ từ đứng lên; mỗi lần như vậy lại lôi lên bờ một con cá quả lớn, làm mọi người ngạc nhiên, khen ngợi. Mọi người trong cuộc thi đều đổ dồn hết cả mắt lại xem H’Dung biễu diễn bắt cá một cách thần kỳ. Khuôn mặt vênh vênh của Y Khoa đã biến mất, nhường cho khuôn mặt đỏ gay như say rượu và cũng bắt chước ngồi xuống, quờ tay xung quanh để bắt, nhưng toàn vớ được những con nhỏ làm cặp mắt như muốn nhảy ra ngoài.    
Sau hơn hai tiếng thi tài, già làng hai buôn quyết định ngưng tiếng chiêng, tiếng trống, hai đội lên bờ và phân định thắng thua. Đội buôn M’Lai bắt được ít cá hơn, không có nhiều cá to nhưng tóm được con rùa nặng gần hai chục ký. Đội buôn Tai bắt được hơn chín gùi cá, trong đó có nhiều cá quả to. Già làng hai buôn hội ý chưa biết phân định thế nào, Y Khoa lên tiếng:
-Bên nào bắt được con nặng nhất, to nhất bên ấy thắng cuộc.
Người buôn M’Lai reo ầm lên, hoan hô và xúm lại định công kênh Y Khoa, người chắc sẽ được chọn giỏi nhất cuộc thi vì bắt được con to nhất. H’Dung bước lại gần hai già làng nói:
-Hôm nay hai buôn thi bắt cá, những con cá còn sống, khỏe mạnh chạy trong nước ai bắt được nhiều, có nhiều con to thì thắng; còn con rùa tuy lớn nhưng nó có bơi đâu mà không bắt được, phải không ạ!
-Phải lắm, phải lắm!
-H’Dung nói đúng quá!
Người dân buôn Tai reo ầm lên hưởng ứng. Chờ mọi người trở lại im lặng, H’Dung nói tiếp:
-Dạ, con nghĩ hôm nay hai buôn ta thi bắt cá chứ không thi bắt rùa, rùa không phải là cá nên bắt được rùa không tính, phải thả cụ rùa xuống suối lấy may thôi.
Mọi người lại reo ầm lên tán thành, hai già làng cũng nhất trí như thế. Những người trong đội tham gia thi ai cũng ướt sũng; đầu tóc, da khố, yeng bám đầy bùn nhưng đôi mắt long lanh, cái miệng tươi như hoa, trừ Y Khoa mắt cứ như đang tìm cái kim rơi dưới đất. H’Dung vui lắm, thế là ngay mai lên lớp, “hắn” sẽ bớt khinh khỉnh đi. Già làng buôn M’Lai mời già làng buôn Tai lên nhận thưởng. Giải thưởng cuộc thi năm nào cũng như nhau: bên bắt được ít cá hơn thì phải thưởng cho bên bắt được nhiều hơn một con heo năm gang (đo độ dài từ đầu đến mông), một ché rượu cần lớn (cao ngang lưng người lớn); bên bắt được nhiều cá hơn tặng lại cho bên thua một nửa số cá mình bắt được kèm theo một con gà trống, một ché rượu bé (cao ngang đầu gối người lớn); sau đó giải thưởng của hai bên góp chung lại để tổ chức liên hoan đoàn kết hai buôn. 


Buổi chiều, sau khi ông thầy cúng bày lễ tế Yang: một con gà luộc, một con cá quả nướng, một chiếc thủ heo có thêm: đuôi heo, một ít thịt và tim gan heo. Ông thầy cúng lâm rấm khấn mời các Yang về chung vui với dân hai buôn. Chiêng trống nổi lên, người dân hai buôn không kể già trẻ, lớn bé kéo về dự liên hoan, vít cần rượu và cùng thưởng thức các đặc sản chế biến từ cá. Y Khoa cũng bắt chước người lớn vít cần rượu làm mấy ngụm, một lúc sau lấy hết can đảm lại bên H’Dung nói nhỏ:
-H’Dung cho tao hỏi một câu được không?
Nhìn khuôn mặt buồn rười rượi của bạn học cùng lớp bao nhiêu bực tức bay đâu mất cả, trong lòng H’Dung chỉ còn lại sự thông cảm, không còn sự hả hê của người chiến thắng nữa, trả lời:
-Nói đi!
-Tại sao H’Dung ngồi xuống là bắt được cá to, còn mình cứ chạm vào là chúng chạy mất. Bắt cách nào giỏi thế?
Nghe hỏi, hai má H’Dung đỏ hồng cả lên, quay mặt ngó lơ chỗ khác, nói mà lời như mắc trong cổ:
-Bí mật mà!
-Không chia sẻ được à?
Y Khoa gặng hỏi thêm, H’Dung lắc đầu. Mấy anh chị thanh niên đứng gần đấy cũng quay lại vây xung quanh H’Dung gạn hỏi cách bắt cá. Ai cũng khen H’Dung giỏi, khéo tay và muốn học cách bắt cá để lần sau thi góp phần giành chiến thắng cho buôn mình. H’Dung cười ngượng nghịu:
- Bí mật mà, không nói được đâu!
Mọi người cười ồ cả lên làm H’Dung tự nhiên đỏ mặt, thầm nghĩ: Đúng là bí mật thật, ai lại đi nói ra cơ chứ… vì nói ra ngượng chết đi được. Cách bắt cá hôm nay đơn giản là dùng… yeng; khi ngồi xuống, hai tay nắm hai góc, xòe yeng ra chờ cá chạy qua đụng vào bụng thì túm yeng, nhốt luôn cá lại và… bắt. Chỉ đơn giản vậy thôi, nhưng nói ra… ngượng chết!

Mùa thu năm 2015

Thứ Hai, 5 tháng 10, 2015

TRUYỀN THUYẾT CHƯ PAL truyện ngắn của HỒNG CHIẾN - VĂN NGHỆ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH SỐ: 373 THÁNG 10 NĂM 2015




Dãy núi Chư Pal cao sừng sừng sững, kéo dài từ dãy Chư Yang Sin lao ra phía bắc, tạo bức tường thành phía tây chắn gió cho cái buôn Jai nhỏ bé có hơn năm chục nóc nhà dài định cư. Sáng sớm hay chiều về, khi ông mặt trời sắp đi qua phía tây để ngủ, lũ vượn thường ra sườn núi nô đùa, buông mình từ ngọn cây này bay qua ngọn cây khác, hò hét inh rừng.
          Theo ngoại kể: ngày trước trên dãy núi này có một đàn sơn dương đông cả trăm con, con nào cũng có bộ lông đen bóng như hòn than cây kơ nia mới đốt. Con đực đầu đàn to bằng con bò cái, sừng cong vút về phía sau, nhọn hoắt. Thỉnh thoảng, một tháng đôi lần chúng kéo nhau ra sườn núi, phía sau buôn, nơi chỉ có cỏ gianh vây quanh những hòn đá lớn chồng lên nhau như những mái nhà để nô đùa. Con đực đầu đàn bao giờ cũng chọn một hòn đá lớn nhất, cao nhất so với cả vùng, leo lên đứng để nhìn xuống buôn như đang nghiền ngẫm điều gì trọng đại lắm, bộ râu dưới cằm dài hơn hai gang tay người lớn vểnh ngược ra phía trước trông ngồ ngộ. Mấy chú sơn dương nhỏ lao đầu vào nhau, quần thảo, thử sức, khi mệt cũng leo lên các tảng đá nằm nghỉ, đầu quay xuống buôn xem con người làm việc. Người dân trong vùng quý bầy sơn dương này lắm, vì chúng không phá hoại hoa màu của người dân mà chỉ làm cho núi rừng thêm đẹp. Người già còn bảo nếu đi rừng ai may mắn nhặt được sừng sơn dương rụng thì coi như được zàng tặng quà; con người bị gió gió độc làm đau bụng, chỉ cần mài một chút sừng vào đĩa sứ, đổ chén rượu nhỏ hoặc nước đun sôi để nguội vào, uống là khỏi ngay.   

Ông ngoại ma Jin vào rừng hái thuốc đã nhặt được một cái như thế, dân trong buôn góp bò, heo, gà và rượu, nổi chiêng để cúng Zàng tạ ơn hẳn một tuần. Mấy buôn  trong vùng nghe tin cũng dắt heo, bò đến chúc mừng, vui lắm. Ngày đầu tiên cúng một con heo năm gang (cách tính con heo có vòng ngực năm gang tay người lớn), làm thịt xong rồi cắt thủ và cái đuôi đem luộc chín để lền mẹt, xung quanh đặt thêm một ít gan, lòng và thịt luộc; thầy cúng làm lễ tế, gọi Zàng về nhận và cùng hưởng cho vui. Hôm sau thịt một con bò lớn chặt đầu, đuôi (để sống) đặt lên giàn giáo làm trước buôn, trên bốn cột làm giàn giáo thờ cúng được bôi huyết bò; thầy cúng khấn mời Zàng về nhận để đưa bò đi theo… Sau khi cúng Zàng xong chiếc sừng sơn dương được giao cho già làng cất giữ, ai có bệnh thì đến lấy để dùng và xem đó lộc chung của cả buôn, cả vùng.
          Cuộc sống bình yên ấy kéo dài cho đến một ngày…
          Ngày cuối cùng của tháng ta - mặt trăng cả đêm không bao giờ xuất hiện, ông mặt trời mỏi mệt đi xuống đứng trên đỉnh núi, rãi nốt những tia nắng vàng cuối cùng lên các nóc nhà như một lời tạm biệt trước khi đi ngủ. Bổng có tiếng chó gầm lên, bầy sơn dương đang mãi ngắm buôn, giật mình chồm dậy, nhảy tót lên những hòn đá lớn nhìn xuống. Phía dưới, sơn dương mẹ và đứa con nhỏ của mình không kịp leo lên những hòn đá lớn, bị bảy con sói vây quang. Lũ sói, con nào lông cũng màu hoe hoe đỏ như cỏ gianh gần cuối mùa khô; ngực nở, bụng thon, có cái mỏm dài nhe ra bộ răng có hai chiếc răng nanh mọc hai bên khóe mép, nhọn hoắt, gớm giếc; khi sủa, cái đuôi cũng cong ngược lên, vẻ vẩy như giương cờ, ra chiều đắc ý lắm. Chúng thi nhau vừa gào vừa khoe những chiếc răng sắc nhọn, và tìm cách lao vào gậm chú sơn dương con tội nghiệp. Con sơn dương mẹ hết ngảy qua bên phải, lại nhãy qua bên trái, tả xung hữu đột: tung chân, húc đầu cố đẩy lui bầy sói. Lũ sói vừa nhanh nhẹn chạy tránh đòn, nhưng cũng tranh thủ lao vào mông chú sơn dương con táp những cái rất mạnh làm tọac cả da, tứa máu. Chú sơn dương con tội nghiệp, đứng run rẫy, chịu trận; thỉnh thoảng lại té khụy xuống khi lũ sói tấn công. Bầy sói siết chặt vòng vây, tính mạng của chú sơn dương con có lẽ chỉ còn tính bằng dây, mẹ chú đã cố lắm rồi nhưng sức đã kiệt, không còn nhanh nhẹn nữa để có thể ngăn được lũ sói hung hãn…
          Ông mặt trời khuất hẳn về phía tây, cánh rừng chuyển qua màu sẫm. Dưới buôn, những ngọn khói xanh thường ngày bay lên từ các nóc nhà sàn dài báo hiệu bữa cơm chiều sắp đến, hình như hôm nay cũng không thấy. Người trong buôn còn mãi đứng lặng nhì lên sườn núi chứng kiến cuộc chiến không cân sức đang diễn ra. Cánh thanh niên trong buôn hậm hực rủ nhau định mang nỏ và gậy gộc lên đuổi sói, cứu con sơn dương tội nghiệp; già làng ngăn lại, bảo: đó là việc của rừng, phải để rừng tự giải quyết, con người không nên can thiệp vào, Zàng giận! Lũ thanh niên buộc phải nghe theo nhưng nhìn ai cũng thấy trong mắt có ngọn lửa.
          Trên núi, cuộc chiến chắc sắp đến hồi kết thúc một cách bi thảm… Trong lúc nguy cấp, bổng một bóng đen như hòn đá lớn từ trên cao lao vút xuống, và… một tiếng kêu thảm thiết vang lên; tiếng kêu ấy phát ra từ miệng một con sói vừa lao vào cắn chú sơn dương con. Đàn sói ngừng tiếng gào thét, trố mắt nhìn con sơn dương đầu đàn vừa lao xuống, dùng hai chân trước cắm vào bụng con sói tham ăn làm tọac một đường dài như bị chém, máu phun ra đỏ lòm. Con sói bị thương kêu la thảm thiết, đuôi cụp lại lũi luôn vào rừng. Sơn dương đầu đàn tung hai chân trước lên trời, khua khua trong không khí, giương bộ râu vểnh ngược oai nghi như một dấu phẩy lớn làm cã lũ sói hoảng hồn lùi ra xa, đuôi cụp xuống nhưng vẫn cố ngẫng cao đầu như sắp sửa lại lao vào. Hình như những giọt máu nơi mông chú sơn dương nhỏ bé, tôi nghiệp có sức hấp dẫn quá lớn nên sáu con sói còn lại chỉ nới rộng vòng vây, tránh những cú lao chết chóc của sơn dương đầu đàn chứ không chịu bỏ cuộc; cụp đuôi xuống, ngẫng cao đầu, thi nhau gào lên, khoe hàm răng sắc lẹm như sắp lao vào một trận tử chiến. Hình như tiếng đồng thanh gào thét của lũ sói làm chúng thêm tự tin, chúng không chạy nữa mà tạo thành vòng tròn vây quanh cả ba con sơn giương vào giữa. Con sơn dương đầu đàn tuy khỏe là vậy nhưng chạy mãi cũng xuống sức, bầy sói chỉ chạy tránh những cú bổ như giáo đâm, song cũng không chịu bỏ vòng vây…
Đúng lúc ấy, một phép màu xuất hiện, hơn chục con sơn dương đực đen bóng từ trên các hòn đá bổ xuống, cát bụi bay mù mịt, bầy sói nhiều kon dính đoàn kêu la thảm thiết rồi kéo nhau lẫn luôn vào rừng già.
          Trời sẫm tối, trên đỉnh cao nhất của dãy núi Chư Pal còn le lói vài tia nắng vàng yếu tớt trước khi tắt hẳn, còn kịp cho mọi người nhận ra bóng sơn dương con nhỏ bé leo lên từng hoàn đá nhỏ, lên cao dần, cao dần, in hình thành bức tranh màu xám trên nền trời đang nở đầy sao sớm.


Thứ Tư, 30 tháng 9, 2015

GIỚI THIỆU CHƯ YANG SIN SỐ 277- tác giả TRẦN BĂNG KHUÊ





ĐÁNH DẤU
Truyện ngắn


Anh xịu mặt. Chân anh bối rối, chẳng biết nên đi hay dừng. Anh đứng trân trân nhìn những hàng cây. Chúng vừa bị đánh dấu. Lòng anh cờn cợn về giấc mơ tối qua. Chúng ám ảnh. Những hàng cây nối dài trên phố giữ gìn cho anh từng góc nhớ. Mối tình đầu bện trong mùi hoa sữa nồng nàn và day dứt. Tháng năm xưa trằn trỗi trong lồng ngực. Anh nhớ những mùa hè của trẻ con cùng phố. Ánh mắt thất thần khi mẹ tiễn bố ra khỏi ngõ nhà quen thuộc. Có ai ngơ ngẩn vì điều đó giống anh không? 
Mười năm dài, anh ròng rã chơi trò đuổi bắt những giấc mơ qua cái đít chai đến khù khờ. Anh về. Những hàng cây, sau mùa xuân, chưa kịp xanh thẫm màu lá non. Người ta vẽ những xù xì của nước sơn còn dính bệt trên thân cây. Một dấu X vàng to đùng, nằm trong vòng tròn đỏ. Anh nhíu mày nhìn lên bầu trời đầy mây trắng. Hình như có một lỗ thủng. Chúng gom nắng mùa hè rọi thẳng vào mắt anh. Chói lóa. Đau nhức. Gió lặng. Và chết đứng như anh vậy. Anh nhớ nàng. 
Nàng lấy chồng. Nàng làm mẹ. Đứa bé giống hệt nàng. Ở đôi mắt. Buồn như vệt nắng chiều rơi xuống bờ sông, khi anh vòng tay ôm chặt lấy nàng lần cuối. Cây bằng lăng, cây xà cừ chết lặng. Cây hoa sữa, sấu già rũ bóng nghẹn ngào cho đôi tình nhân gần mười năm mưa nắng đi về. Nàng thảng thốt giật mình khi nghe tiếng gió hú dưới sông. Anh đi đã gần mười năm. Con bạn nàng thỉnh thoảng gào lên: "Mày buông bỏ bớt cho nhẹ gánh. Yêu chỉ là một trạng thái tình cảm có giai đoạn, có bắt đầu và có kết thúc". Nàng so vai gầy. Rưng rưng hai khóe mắt.
Sáng nay, nàng đến cơ quan sớm. Một vài đồng nghiệp thở dài đánh thượt. Nàng hỏi. Họ bâng quơ trả lời. “sắp chết”. Nàng vặn vẹo: “Cái gì sắp chết?”
- “Cây. Những dấu nhân. Vòng tròn đỏ. Vài cái máy cưa rè rè quật đổ cả gốc vào ban đêm. Sáng ra, chỉ còn trơ rễ với đất. Xót lắm!”. Nàng nghiêng người qua cửa sổ tầng hai của văn phòng. Hàng cây phía dưới vẫn còn. Nhưng, lá và cành ngả nghiêng, héo quắt. Nàng chợt nghĩ đến cây hoa sữa của mình. Liệu chúng có bị đánh dấu? 
Anh không dám tự ý gặp nàng khi trở về. Ít ra đó là điều duy nhất anh muốn được gìn giữ. Chắc nàng cũng thế. Có lần, anh thấy nàng vụt qua trước mắt. Mảnh mai như sương. Mỏng tang hơi nước. Anh sợ cái cảm giác vồ vập từng nhịp đập trong tim mình sẽ đánh bật hết những kìm nén. Hóa ra anh vẫn còn yêu, vẫn cô đơn đến lạc lõng giữa mê lộ cuộc đời mỗi lần dừng chân trước góc đường này. Anh bỗng thèm được làm cha, thèm nghe tiếng trẻ con bi bô gọi bố. Anh lần tìm đến cây hoa sữa ngay cuối ngõ, rẽ sang một ngã tư nữa. Nhà nàng ở đó. Trên thân cây có một dấu x nhỏ. Người ta vẫn thường gửi cho nhau nụ hôn hờ hững bằng cách vẽ một chữ x, và n chữ x. Anh cũng chơi trò này. Những lá thư viết tay của anh và nàng nằm im trong hộp kín. Anh khóa chặt. Xót xa. Câm lặng.
Mẹ anh đi ra đi vào, cán chổi trên tay bà vung lên rồi hạ xuống. Chẳng nhát nào quét được mấy cụm lá khô rụng lác đác trên sân. Thỉnh thoảng bà lẩm bẩm nói chuyện một mình. Anh nghe loáng thoáng hình như là ca cẩm về điều gì đó. Anh quay sang hỏi. Giọng mẹ vẫn thì thào như tiếng gió mùa đông, bị bão giông át mất. Anh nhớ, mẹ thương cây và chăm cây mát tay lắm. Mấy cây non trước vỉa hè nhà anh xõa bóng trên mái, xuống mặt đường. Cái ngõ bỗng dưng thành nơi để anh tụ họp đám bạn cùng phố. Dưới gốc cây. Thân của nó chắc mười vòng ôm trong đôi tay bé xíu lúc ấy cũng chẳng xuể. Mẹ thường nhắc nhở, nghiêm khắc. Cấm chúng bay vặt lá, bẻ cành, trèo cây.
Năm anh hai mươi bảy tuổi. Nàng gửi thiệp mời cưới. Lòng anh rối bời. Chưa hết mùa xuân. Bố anh lên viện K, rồi mất sau vài tháng đau đớn. Mẹ nước mắt ngắn, nước mắt dài buộc mảnh vải nhỏ màu trắng lên thân cây trước nhà. Anh không khóc được. Bố ít khi ngó ngàng đến cây cối ngoài đường sá. Nhưng, bố lại hay nhìn lén rồi cười mỉm mỗi lần thấy mẹ quét nhà, trò chuyện với cây. Anh thì mơ về điều khác. Hình như nàng cũng có những khoảnh khắc như mẹ. Anh yêu. Bố chẳng còn. Mẹ vẫn thường nói chuyện một mình với cây. Nhà có thêm chú chó. Anh đi. Mẹ làm bạn với cây và chó.
Mùa nắng đổ. Mặt trời rực rỡ. Váng vất. Rập rình trên những nóc nhà, ngõ phố. Đường vẫn chật ních hơi người. Anh chỉ thấy sự trống rỗng bao quanh. Mẹ chẳng thèm bước chân ra khỏi ngõ. Chiếc máy may cũ mèm rền rền từng khoảnh khắc như muốn nối lại đường chỉ đã bị đứt. Mẹ vẽ chữ x trên mép vải. Đánh dấu chỗ sẽ lia đường kéo lên đó. Cắt rời. Anh nghĩ về hàng cây trên con đường lớn ven sông. Chúng đều được đánh x hàng loạt. Cây chết dần trong đêm. Anh nơm nớp nghĩ ngợi. Có khi nào cây hoa sữa của anh và nàng cũng đã bị người ta khoanh tròn, đánh dấu?
Hàng cây khúm núm trước mặt anh. Nàng đã hai đứa con. Anh chưa vợ. Hồi ấy, nàng bảo: “Nếu duyên không thành thì xóa dấu vết trên thân cây này đi nhé”. Anh cười khì khì. “Làm gì có chuyện đó. Chúng mình tự đánh dấu x vào tim nhau rồi.”. Nàng nhăn mặt, chun mũi hít hà. Đêm. Hoa sữa nồng nhất. Ngày. Mùi của nắng. Hơi người ngập ngụa. Át hết. Anh nhìn thấy một dấu x nhỏ được rạch bằng lưỡi dao bén ngọt. Vỏ cây xù xì, gồ ghề. Hơn mười năm. Nó vẫn còn ở đó. Cái vết ấy hóa thành sẹo lồi. Anh cười nhạt. Kiếp người xứ này cũng vậy. Tất cả đều bị đánh dấu. Như cây. 
Anh vặn khóa. Nhấn ga. Tiếng máy nổ không còn giòn và đều nữa. Khói nghẹn. Phố rỗng. Con đường rẽ thành bốn ngã. Chéo nhau. Hình chữ x. Ngay tuyến chính. Anh nhớ tiếng đạp máy may của mẹ. Những bình yên bao giờ cũng nằm trên một nốt lặng và đợi anh trở về.






Thứ Ba, 29 tháng 9, 2015

NHÀ MỚI CỦA CON GÁI.






GIỚI THIỆU CHƯ YANG SIN SỐ 277 - tác giả ĐÀO MẠNH LONG





MẸ LÊN THÀNH PHỐ

Tản văn
  

Mẹ lên thành phố thăm tôi. Tôi đón mẹ ở bến xe. Mẹ mặc chiếc áo hoa trắng điểm xanh mà tôi mua cho mẹ bằng món tiền nhuận bút đầu tiên từ mấy năm trước. Tôi còn nhớ như in mẹ ướm thử rồi bảo: “Suốt ngày lấm lem bùn đất ngoài đồng mặc áo mới sao được!”. Mẹ gấp chiếc áo cẩn thận bỏ vào túi nilon cất trong tủ có dịp đi đâu xa mới đem ra mặc. Loẹt quẹt đôi dép lê, mẹ khệ nệ một tay ôm nửa bao gạo, tay kia xách chiếc làn mây đầy ắp đồ. Lỉnh kỉnh, nào là chai nước mắm, gói bột canh, bột ngọt, cân đường, dăm ba quả chanh, mấy quả ớt, bó rau muống mẹ dậy từ sáng sớm hái từ mảnh vườn nhỏ bên cạnh bờ ao, mớ tôm rang muối gói trong mảnh lá chuối – món mà con thích ăn nhất,… Mẹ bảo: “Đồ ăn trên thành phố vừa đắt mà không an toàn, đây là rau mẹ trồng còn mớ tôm dì con đánh dậm được đem cho”.
Mẹ kể cho tôi nghe đủ thứ chuyện ở quê, nào là chuyện thuốc lào mất giá, cả vụ bán được năm sáu triệu, nào là chuyện cây khế cạnh bờ tường hoa quả sai trĩu, ai đến chơi đều khen, nào là con mèo tam thể đẻ được ba con mà chẳng hiểu sao con nào con nấy lông đen nhẻm, chắc là chúng giống mèo bố,... Rồi mẹ kể chuyện thằng bé hàng xóm thường sang giúp mẹ mấy việc lặt vặt, bố nó bị ngã giàn giáo mất từ hồi nó mới mấy tháng tuổi, mẹ nó đi làm giúp việc cho một gia đình tận làng bên từ sáng sớm đến tối mịt, thằng bé lên chín lên mười mà tự làm mọi việc trong nhà từ nấu nướng, dọn dẹp, giặt quần áo... Mẹ thỉnh thoảng cho nó bát canh, khúc cá rán hay mấy miếng thịt kho. Bố đi làm ăn xa, tôi đi trọ học ở thành phố, nhà còn một mình mẹ may có thằng bé hàng xóm cũng đỡ cô quạnh. Tôi ngồi sát bên mẹ, nắm chặt lấy bàn tay gân guốc, thô ráp của mẹ và mẹ cũng siết chặt lấy tay tôi. Vừa ngồi nghỉ được một lúc mẹ đứng dậy dọn dẹp căn phòng trọ của tôi.  Rồi mẹ quét sạch tinh tươm hành lang khu trọ mà thường ngày chẳng có ai thèm ngó ngàng tới. Tính mẹ là thế, ở quê cứ luôn chân luôn tay nên ngồi không một chút là không chịu được. Hai mẹ con ngồi ăn cơm với nồi canh mướp nấu lõng bõng nước, mớ tôm rang muối mẹ mang từ quê. Tôi và miếng cơm mà cứ nghèn nghẹn ở cổ họng. Bữa cơm ấm cúng ở nơi đất khách quê người. Lòng tôi chợt thấy ấm áp lạ. Mọi ngày tôi đi học rồi đi làm thêm đến khi những ô cửa sổ vuông vuông trên những tòa nhà cao lênh khênh bật sáng mới lóc cóc về phòng trọ, ăn tạm gói mì hay cái bánh mì cho qua bữa.
Tôi đi học, mẹ loanh quanh trong căn phòng trọ chật hẹp mười mấy mét vuông rồi bắc ghế ra tựa cửa nhìn dòng xe cộ như mắc cửi trên con đường phía trước mặt. Hôm sau mẹ vội vã về quê vì mẹ lo cho đàn gà ở nhà bị bỏ đói và vườn rau héo không có ai tưới rồi còn công việc đồng áng đang bước vào mùa vụ. Bảo rằng sẽ đưa mẹ đi chỗ này chỗ kia cho mẹ biết thành phố mà chẳng được. Cả cuộc đời chân lấm tay bùn sau lũy tre làng mẹ có biết thành phố là gì đâu! Mẹ giúi vào tay tôi một trăm nghìn rồi bảo: “Mẹ cho thêm mấy đồng để mua sữa uống nhé, dạo này mày gầy quá… Cứ cầm lấy, ở quê rau cháo mẹ cũng sống được, mày một thân một mình trên thành phố những lúc túng thiếu biết trông cậy vào ai!” Mẹ dặn dò tôi đủ thứ từ chuyện học hành đến miếng ăn giấc ngủ. Tôi đưa mẹ lên xe khách tìm ghế ngồi, đặt chiếc làn mây dưới gầm ghế, đưa mẹ mấy chiếc bánh mỳ mua ở cổng bến xe về làm quà. “Mẹ về đến nhà nhớ gọi điện báo cho con nhé, hôm nào được nghỉ học con về thăm mẹ!”. Đứng nhìn theo chiếc xe khách khuất bóng vào dòng người tấp nập, cơn gió heo may se sẽ len lỏi vào lòng.










Thứ Năm, 24 tháng 9, 2015

GIỚI THIỆU CHƯ YANG SIN SỐ 277 - tác giả NGUYỄN ANH ĐÀO




 Tác giả NGUYỄN ANH ĐÀO

MẶT NẠ DIỆU KỲ
Truyện ngắn


Gã dò đường bằng gậy, cố xốc lại ba lô nặng trên vai, nhìn bốn bên để tìm mặt trời nhưng gã bất lực. Gã chính thức bị lạc đoàn, điện thoại mất sóng. Dưới chân gã xào xạc lá khô, êm êm cỏ dại, trượt chân, ào! Gã rơi! Rơi trong cái hố sâu đen ngòm, rơi nhanh cho tới khi không thở được, gã bất tỉnh.
Trước mặt gã là mặt trời, là bãi biển, là nhà cửa. Gã bật cười, hóa ra con đường trở về chỉ là đi qua một hố sâu, vậy mà gã chưa từng biết rằng trước đây chỗ đó có con đường tắt như thế. Gã bật điện thoại lên, may quá, sóng đầy, nhưng chưa kịp bấm vào danh bạ thì điện thoại báo hết pin rồi tắt ngóm. Gã chống gậy đứng lên, đi vào trong làng, trước tiên là tìm cái gì bỏ vào bụng, sau đó tìm chỗ sạc pin để xem “đồng bọn” đang ăn chơi đàn đúm chỗ nào, hay lại tá hỏa đi tìm gã, cần cho họ biết gã đã an toàn.
Khu chợ nằm ở ngay đầu làng, đông đúc và nhộn nhịp, rất ngạc nhiên ở khu chợ này, nơi nhộn nhịp nhất, giàu có nhất chính là những gian hàng bán mặt nạ. Gã thầm nghĩ, có lẽ dân ở đây họ chơi trò hóa trang quanh năm. Trong khi nơi gã ở, thì những cửa hàng thời trang mới chiếm ưu thế. Gã loanh quanh chọn cho mình vài cái làm kỷ niệm. Nhưng sực nhớ là mình đang đói, gã đi tìm hàng ăn, những người xung quanh gã đều có những gương mặt hoặc là vui, hoặc là buồn, hoặc giận dữ, và họ giữ nguyên những trạng thái đó trong suốt quá trình quan sát của gã, tới khi gã nhận ra họ đều đeo mặt nạ thì gã mới thôi thắc mắc. Từ già trẻ bé con gì cũng mang mặt nạ, xung quanh đây, độc nhất chỉ có gã là không đeo, nên gương mặt gã chuyển đổi rất nhiều trạng thái.
Gã chặn hỏi một người đàn ông
- Anh ơi, xin lỗi, tôi muốn tìm một nơi để ăn!
Người đàn ông có gương mặt cười chỉ tay cho gã đi về phía cuối chợ. Gã rối rít cảm ơn và đi, gã đi qua nhiều cửa hàng bán mặt nạ, qua những cửa hàng giày dép hiếm hoi, gã ngơ ngác chẳng thấy cửa hàng ăn nào, gã lại hỏi một người đàn ông có gương mặt buồn đang ngồi ủ rũ ở góc chợ, người đàn ông chỉ tay cho gã về phía nhà vệ sinh.
- Tôi tìm hàng ăn, xin lỗi ông, chứ không phải nhà vệ sinh!
Gã đàn ông vẫn không nói gì, chỉ thẳng tay vào nhà vệ sinh. Gã bất lực không muốn giải thích, đúng là ông già điên, không nên đôi co với người điên, dù bây giờ gã đang rất đói. Thôi thì gã tự đi tìm. Gã đi thêm một vòng nửa thì ngửi thấy mùi thức ăn, gã bỗng bật cười, quái nào mà nguyên khu chợ không ai chỉ được cho mình quầy thức ăn, gã đánh hơi cái mùi thức ăn đó ở đâu rồi đi theo như con chó được huấn luyện tìm đồ bị mất vậy.
Trong quán ăn, từ chủ quán tới nhân viên cũng đeo mặt nạ, gã bắt đầu thấy chán, tiếp xúc với những con người bằng xương bằng thịt mà gã thấy như mình đang tiếp xúc với robot, với những cỗ máy được lập trình sẵn. Gã vẫn thích những cô gái chàng trai phục vụ nhoẻn miệng cười hỏi gã muốn ăn gì khi gã từng vào nhiều quán trước đây. Bây giờ, tới cả một câu đùa gã cũng không dám hỏi, ăn thế này thì ngon lành gì, nhưng bụng đang đói, gã mặc kệ và gọi đại món mì xào thịt bò bằng cách chỉ vào hình trên thực đơn mà gã phục vụ vừa đưa ra.
Gã ôm thóp bụng vì cơn đói cồn cào, còn gã phục vụ vẫn chậm rãi với mặt nạ không biểu lộ cảm xúc gì, cứ thộn ra khiến người khác rất bực mình. Thế quái nào cứ biểu lộ ra thế ấy, sống thế này thì sống làm gì khi không biết người đối diện mình có cảm xúc ra sao sau lớp mặt nạ ấy. Món ăn của gã được bưng ra, đặt mạnh lên bàn khiến gã giật mình thối lui, tên phục vụ gập người cung kính mời gã ăn. Gã hoảng sợ gật đầu, rón rén cầm đũa lên ăn. Đúng là kỳ lạ, quán to thế này mà phục vụ chả ra làm sao. Tới khi tính tiền, với một đĩa mì xào to đùng với thịt bò chỉ có mười lăm ngàn đồng, bất giác gã cười và thốt lên “ôi, rẻ thế!”. Ngay lập tức có hai bảo vệ chặn ngang gã, giật ví gã và lấy đúng mười lăm ngàn rồi trả ví lại. Mọi người nhìn gã, hình như họ tức giận, gã thấy có vài người chống nạnh, gã đoán thế.
Ra khỏi quán trong tư thế người vừa thoát chết, gã hoang mang, không biết mình chỉ đơn giản lạc vào một lễ hội hay là lạc vào một xứ sở nào khác cái xứ sở gã đang sống. Một thằng bé trắng trẻo, dễ thương đứng nhìn gã, rồi nó nói:
- Sao chú không đeo mặt nạ?
- Tại sao phải đeo?
Giờ thì gã thấy thằng bé không có mặt nạ, nó biết cười, biết nheo mắt
- Ở đây ai cũng đeo để chứng tỏ họ hiểu biết và trưởng thành!
- Hiểu biết và trưởng thành? – gã bật cười, xoa đầu thằng bé – Ai nói với cháu như thế?
- Cả nhà cháu ai cũng có mặt nạ, nhưng họ bảo cháu chưa đủ tuổi, cháu đang chờ đến ngày được mang mặt nạ đó lên mặt!
Thì ra là vậy, những con người gã đã thấy đều là những người đã “hiểu biết và trưởng thành”, giờ thì gã hiểu rồi, đó chỉ là phong tục, nhưng cái dân tộc nào mà lạ thế không biết, gã cũng từng đi du lịch nhiều, từng đọc sách nhiều, gã chưa nghe về cái này bao giờ. Nhưng rồi gã lại thắc mắc, tất nhiên mang thắc mắc ra hỏi một thằng bé thì cũng không hi vọng mang lại nhiều kết quả, nhưng gã biết hỏi ai đây trong khi chẳng ai thèm nói với gã một câu.
- Này cháu, ta hỏi chút, khi nãy ta tìm một hàng ăn, nhưng có cái lão điên cuối chợ chỉ ta cái nhà vệ sinh, rồi ta vào hàng ăn, ta khen họ bán rẻ thì họ tức giận… ta làm gì sai sao?
Thằng bé vuốt vuốt cái mũi cao của nó, nhìn gã rồi cười:
- Những người đã được đeo mặt nạ, thì không được phép nói thật và nói đúng những gì mình nhìn thấy hay cảm nhận, mà phải nói ngược lại.
- A! – Gã bật thốt lên một tiếng như có ai đánh vào gáy gã, thì ra là thế - Mà này cháu bé, cháu phải học gì để trưởng thành?
Thằng bé chỉ cười rồi chạy vút đi. Quả là thú vị, trong chuyến phượt lần này gã đã đến một nơi mà không ai dự tính trước, phải rồi, “đồng bọn” gã đang ở đâu nhỉ? Gã lang thang đi tìm chỗ để cắm sạc điện thoại. Gã bắt đầu thấy đau đầu khi nhớ lời thằng bé, nếu xin sạc điện thoại mà phải nói ngược lại người ta mới hiểu thì phải nói là gì? “Điện thoại của tôi đầy pin, tôi cần sạc à?” Ôi, điên mất thôi! Mà phải mở lời làm sao khi quanh đây, chẳng nghe nổi một tiếng người, ai cũng lầm lũi làm công việc của mình và mang những gương mặt cố định.
Gã lại đi lang thang, vừa ra khỏi rìa của khu chợ thì gã thấy người ta bắt đầu bu đen bu đỏ, người mỗi lúc một đông, những người bạn của gã, “đồng bọn” của gã đang co rúm vì sợ hãi, người ta đang dồn họ vào chính giữa bằng vòng vây của những chiếc mặt nạ gớm ghiếc. Nghe có tiếng ai đó hô “ném!”, những chiếc mặt nạ bắt đầu nhặt đá, những viên đá cuội dưới đường ném vào những người bạn của gã, họ ào ào ném vào những con người tội nghiệp đang không biết mình đã phạm phải lỗi gì. Gã xông vào giữa vòng vây người, chỉ như phản xạ tự nhiên, gã muốn bảo vệ họ. Nhưng đám đông không ngớt hung hăng, đứng ở giữa, gã kịp nhìn thấy nhiều gương mặt đã tháo mặt nạ muôn màu ra, họ quen, rất quen mà trong lúc hoảng loạn gã không kịp nhớ mình đã gặp khi nào.
Gã chịu không ít đá họ ném vào, mặt đường sạch bóng những viên đá to nhỏ, đám đông tháo hết mặt nạ ra, dùng tay chỉ trỏ và dùng những lời thô tục ném vào họ. Mỗi người khi ném vào họ một câu chửi rủa và những viên đá thì trên mặt họ mặt nạ tự nhiên được chuyển đổi, dần dần đám đông đều mang một mặt nạ giống nhau, không phải giận dữ như khi họ muốn giết nhóm bạn của gã, họ đều mang mặt nạ của các thánh nhân.
Những “thánh nhân” bắt đầu lục tục rời đi sau khi gã sực nhớ trong ba lô mình có vài cái mặt nạ mới mua, đưa cho những người bạn gã đeo vào. Gã chợt hiểu rằng, ở trong một cộng đồng giống nhau, mình mình khác biệt thì chắc chắn sẽ chết vì đá và nguyền rủa.
Nhóm phượt của gã ê ẩm nhìn nhau, rồi tự dưng bật cười khi thấy những gương mặt khác, ai đó trong họ lên tiếng “nhàm chán quá!”, rồi mọi người cùng ồ lên một cách phấn khích “nhàm chán quá! Nhàm chán quá!”. Ôi cái mặt nạ kỳ diệu làm sao!

Buôn Hồ, tháng 7.2015


Thứ Ba, 22 tháng 9, 2015

ĐIỀU KHÓ NÓI



Truyện ngắn của HỒNG CHIẾN
 TẶNG CÁC CHÁU NHÂN DỊP TẾT TRUNG THU  NĂM CON DÊ - 2015

Mặt trời leo qua đỉnh núi Mẹ Bồng Con một đoạn dài, ném xuống buôn những hơi thở ấm áp của buổi sáng. Dân buôn M’Lai và buôn Tai hôm nay bồng bế nhau, rồng rắn kéo đến khu đất trống dưới chân núi Cư Bukso, cạnh suối Ya Brô chứng kiến cuộc đua tài thi bắt cá giữa hai buôn. Không biết tục lệ này có từ bao đời nay, hàng năm cứ đến những ngày cuối cùng của mùa khô Tây Nguyên, khi công việc trên ruộng rẫy đã xong xuôi, già làng hai buôn M’Lai và buôn Tai lại gặp nhau định ngày tổ chức thi. Thành phần tham gia được thống nhất như sau: mỗi buôn cử ra một đội gồm: hai cặp nam nữ trung niên đã có gia đình, hai cặp thanh niên và một thiếu niên tham gia cuộc thi. Những người được chọn đại diện cho buôn tham dự cuộc thi, phải là những người khỏe mạnh, nhanh nhẹn và đặc biệt khéo tay, giỏi bắt cá; vì thế ai được chọn đều hãnh diện lắm.
Năm nay trong đội buôn Tai có H’Dung, con út già làng đang học lớp 8 trường nội trú huyện, vinh dự đứng đầu hàng đối diện với đội buôn M’Lai cũng có chín người; người đứng đầu hàng là Y Khoa bạn học cùng lớp với H’Dung. Y Khoa tóc quăn, người cao lêu khêu nhưng đá bóng khá lắm. Nhìn cái mặt vênh vênh của Y Khoa, H’Dung thấy ấm ức trong bụng, tự hứa với chính mình: hắn làm lớp phó phụ trách Văn Thể hay ăn hiếp cánh con gái, lần này mình phải thắng, thắng thật oanh liệt cho hắn ta bớt vênh váo.
 Sau khi hai đội chiêng của hai buôn cùng tấu bài Cảm ơn Yang cho mưa thuận gió hòa, con người và loài vật mạnh khỏe, nay xin Yang suối Ya Brô cho được tổ chức cuộc thi bắt cá làm sản vật tạ ơn các Yang. Ông thầy cúng lẩm bẩm khấn vái, vảy nước bốn phía xong hai đội thi đấu cúi đầu chào nhau. Buôn M’Lai năm nay bắt được lá thăm may mắn đứng phía đầu suối, còn buôn Tai đứng phía cuối dòng. Tham gia tranh tài cánh đàn ông ai cũng đóng khố mới, khoe tấm lưng sạm nắng gió như đồng hun; cánh phụ nữ cũng diện yeng mới như đi dạ hội, trên tấm lưng trần đeo chiếc gùi mây lớn để đựng cá.
Điểm được chọn tổ chức cuộc thi hàng năm là vụng suối đoạn chảy qua gần hai buôn. Nhờ Yang ban phước cho vùng đất này nên khi suối chảy đến ranh giới của hai buôn tự nhiên phình bụng to ra tạo thành một cái vụng, quanh năm không bao giờ cạn nước. Vụng suối này dài gần bốn chục sải tay, chỗ rộng nhất năm sải tay, nơi nước sâu nhất hơn sải tay. Cuối mùa khô suối cạn dần, cá các nơi dồn vào vụng. Buổi chiều trước ngày tổ chức thi, thanh niên hai buôn ra đàn hát, khơi dòng cho nước chảy bớt đi, chỗ nào sâu nhất chỉ còn khoảng sáu gang tay.
Tung… tung… tung! Dứt ba hồi trống, hai đội đặt vội gùi xuống bãi cát rồi lao xuống suối trổ tài… tay không bắt cá. Họ nháo nhào lội ngược lội xuôi làm khúc suối đục ngầu, cá chạy loạn xạ, nhiều con thúc cả vào chân, nhảy lên lao cả vào ngực. Mấy người trung niên mò sát bờ khe bắt cá không vảy rúc vào, cánh thanh niên háo hức quần nhau nơi giữa suối bắt những con cá quả lớn. Cá bắt được ném lên bờ để nhặt bỏ vào gùi. Y Khoa thấy lũ cá trắng to bằng hai, ba ngón tay nổi lên nhiều, bắt ném mỏi tay quá liền chạy lên bờ lấy gùi đeo vào lưng xuống bắt cho nhanh; H’Dung nhìn thấy vậy cũng làm theo, lúc gùi nặng quá, chạy lên bờ đổ rồi xuống bắt tiếp. Hơn một tiếng sau, số cá trắng sặc nước bùn thò đầu lên thở bị tóm hết, mọi người đua nhau bắt các con cá đen như: trê, quả…    
Trên bờ, tiếng chiêng, tiếng trống thi nhau gõ, tiếng người lớn, trẻ em hò hét động viên vang động cả góc trời làm những người tham gia cuộc thi càng hăng say hơn. Y Khoa mặt vẫn tỉnh khô, nhanh tay tóm cá ném vào gùi hình như không nhìn thấy H’Dung. H’Dung ức lắm nên quyết phải nhanh tay cùng góp sức bắt cho được nhiều hơn. Mấy anh chị thanh niên thỉnh thoảng lại cười ré lên khi bắt được cá to hay vô tình nắm được tay nhau dưới nước. Y Khoa vẫn chăm chỉ bắt không thèm nhìn ai cả, bổng hét toáng lên:
-A, tóm được rồi!
Hét lên xong Y Khoa ngồi xuống nước ngập đến cổ, ngập luôn chiếc gùi, bao nhiêu cá bắt được bơi ra hết; rồi gồng mình, từ từ đứng lên ôm theo một tảng đá lớn bước vội lên bờ. Mọi người nhìn theo, ngạc nhiên, chưa hiểu vì sao thì thấy Y Khoa cố hết sức lẳng hòn đá lên bãi cát. Mọi người ồ cả lên ngạc nhiên khi thấy hòn đá to như chiếc chiêng, thò đầu, đuôi, chân ra bơi bơi trong không khí. Ai đó kêu lên:
-Rùa, ôi con rùa to quá!
Nhiều người chạy lại xem, Y Khoa được thể cái mặt càng vênh lên như đã cầm giải nhất rồi ấy, trông ức quá; H’Dung nghĩ bụng: mình phải tóm được con cá to chứ không thèm nhặt “hòn đá” như thế. Nhưng làm thế nào để bắt được cá to khi chúng còn khỏe và bơi nhanh lắm? A, phải làm thế này mới được, trong đầu H’Dung nảy ra một ý nghĩ táo bạo vội ngồi xuống cho nước ngập đến cổ rồi từ từ đứng lên; mỗi lần như vậy lại lôi lên bờ một con cá quả lớn, làm mọi người ngạc nhiên, khen ngợi. Mọi người trong cuộc thi đều đổ dồn hết cả mắt lại xem H’Dung biễu diễn bắt cá một cách thần kỳ. Khuôn mặt vênh vênh của Y Khoa đã biến mất, nhường cho khuôn mặt đỏ gay như say rượu và cũng bắt chước ngồi xuống, quờ tay xung quanh để bắt, nhưng toàn vớ được những con nhỏ làm cặp mắt như muốn nhảy ra ngoài.    
Sau hơn hai tiếng thi tài, già làng hai buôn quyết định ngưng tiếng chiêng, tiếng trống, hai đội lên bờ và phân định thắng thua. Đội buôn M’Lai bắt được ít cá hơn, không có nhiều cá to nhưng tóm được con rùa nặng gần hai chục ký. Đội buôn Tai bắt được hơn chín gùi cá, trong đó có nhiều cá quả to. Già làng hai buôn hội ý chưa biết phân định thế nào, Y Khoa lên tiếng:
-Bên nào bắt được con nặng nhất, to nhất bên ấy thắng cuộc.
Người buôn M’Lai reo ầm lên, hoan hô và xúm lại định công kênh Y Khoa, người chắc sẽ được chọn giỏi nhất cuộc thi vì bắt được con to nhất. H’Dung bước lại gần hai già làng nói:
-Hôm nay hai buôn thi bắt cá, những con cá còn sống, khỏe mạnh chạy trong nước ai bắt được nhiều, có nhiều con to thì thắng; còn con rùa tuy lớn nhưng nó có bơi đâu mà không bắt được, phải không ạ!
-Phải lắm, phải lắm!
-H’Dung nói đúng quá!
Người dân buôn Tai reo ầm lên hưởng ứng. Chờ mọi người trở lại im lặng, H’Dung nói tiếp:
-Dạ, con nghĩ hôm nay hai buôn ta thi bắt cá chứ không thi bắt rùa, rùa không phải là cá nên bắt được rùa không tính, phải thả cụ rùa xuống suối lấy may thôi.
Mọi người lại reo ầm lên tán thành, hai già làng cũng nhất trí như thế. Những người trong đội tham gia thi ai cũng ướt sũng; đầu tóc, da khố, yeng bám đầy bùn nhưng đôi mắt long lanh, cái miệng tươi như hoa, trừ Y Khoa mắt cứ như đang tìm cái kim rơi dưới đất. H’Dung vui lắm, thế là ngay mai lên lớp, “hắn” sẽ bớt khinh khỉnh đi. Già làng buôn M’Lai mời già làng buôn Tai lên nhận thưởng. Giải thưởng cuộc thi năm nào cũng như nhau: bên bắt được ít cá hơn thì phải thưởng cho bên bắt được nhiều hơn một con heo năm gang (đo độ dài từ đầu đến mông), một ché rượu cần lớn (cao ngang lưng người lớn); bên bắt được nhiều cá hơn tặng lại cho bên thua một nửa số cá mình bắt được kèm theo một con gà trống, một ché rượu bé (cao ngang đầu gối người lớn); sau đó giải thưởng của hai bên góp chung lại để tổ chức liên hoan đoàn kết hai buôn. 


Buổi chiều, sau khi ông thầy cúng bày lễ tế Yang: một con gà luộc, một con cá quả nướng, một chiếc thủ heo có thêm: đuôi heo, một ít thịt và tim gan heo. Ông thầy cúng lâm rấm khấn mời các Yang về chung vui với dân hai buôn. Chiêng trống nổi lên, người dân hai buôn không kể già trẻ, lớn bé kéo về dự liên hoan, vít cần rượu và cùng thưởng thức các đặc sản chế biến từ cá. Y Khoa cũng bắt chước người lớn vít cần rượu làm mấy ngụm, một lúc sau lấy hết can đảm lại bên H’Dung nói nhỏ:
-H’Dung cho tao hỏi một câu được không?
Nhìn khuôn mặt buồn rười rượi của bạn học cùng lớp bao nhiêu bực tức bay đâu mất cả, trong lòng H’Dung chỉ còn lại sự thông cảm, không còn sự hả hê của người chiến thắng nữa, trả lời:
-Nói đi!
-Tại sao H’Dung ngồi xuống là bắt được cá to, còn mình cứ chạm vào là chúng chạy mất. Bắt cách nào giỏi thế?
Nghe hỏi, hai má H’Dung đỏ hồng cả lên, quay mặt ngó lơ chỗ khác, nói mà lời như mắc trong cổ:
-Bí mật mà!
-Không chia sẻ được à?
Y Khoa gặng hỏi thêm, H’Dung lắc đầu. Mấy anh chị thanh niên đứng gần đấy cũng quay lại vây xung quanh H’Dung gạn hỏi cách bắt cá. Ai cũng khen H’Dung giỏi, khéo tay và muốn học cách bắt cá để lần sau thi góp phần giành chiến thắng cho buôn mình. H’Dung cười ngượng nghịu:
- Bí mật mà, không nói được đâu!
Mọi người cười ồ cả lên làm H’Dung tự nhiên đỏ mặt, thầm nghĩ: Đúng là bí mật thật, ai lại đi nói ra cơ chứ… vì nói ra ngượng chết đi được. Cách bắt cá hôm nay đơn giản là dùng… yeng; khi ngồi xuống, hai tay nắm hai góc, xòe yeng ra chờ cá chạy qua đụng vào bụng thì túm yeng, nhốt luôn cá lại và… bắt. Chỉ đơn giản vậy thôi, nhưng nói ra… ngượng chết!

Mùa thu năm 2015