Thứ Hai, 5 tháng 9, 2016

GIỚI THIỆU CHƯ YANG SIN SỐ 287- tác giả NGUYỄN THỊ MINH NGUYỆT

Tác giả NGUYỄN THỊ MINH NGUYỆT

DUYÊN TƯƠNG NGỘ
Tản văn

Con người à? Đôi khi khó hiểu tới kì quặc và có lẽ chính ta cũng chẳng hiểu bản thân mình muốn gì, nghĩ gì, cần gì... "Có thể an ủi người ta, nhưng chẳng thể làm bản thân hết buồn... Có thể cho lời khuyên, nhưng mình thường bế tắc... Có thể chọc cười thiên hạ, nhưng chẳng thể mua vui cho chính mình... Có thể đi với rất nhiều người, nhưng khi cô đơn nhất lại chẳng muốn ai ở cạnh"... một chiều buồn gặm nhấm thứ cảm giác chênh vênh của tuổi đời khiến lòng hoang mang, xao xuyến lạ! Cuộc đời tựa vòng tròn khép kín, tràn đầy mà cũng muôn phần cô độc, chẳng biết bản thân thiếu gì, muốn gì... vậy nên mỗi người cần có một nơi nương tựa đủ an toàn - tri kỉ!
Ấy vậy mà, hiểu mình đã khó, thấu nỗi niềm của kẻ khác còn gian nan hơn gấp bội…lấy dây đâu đủ dài mà đo đặng lòng người? Đời khúc khuỷu, lòng người quanh co quá đỗi. Cứ thế, ta khao khát kiếm tìm tri kỉ, một tâm hồn đồng điệu đến mức chỉ qua ánh mắt, cử chỉ là đủ hiểu nỗi lòng ta, đủ thân thiết để những lúc buồn chán, có thể tìm đến, nghe họ hỏi han, còn mình tha hồ gục lên bờ vai nọ mà khóc cho nước mắt rơi rớt đủ mạnh lấn át, che lấp, ướt đẫm nỗi sầu, sau đó buồn rầu cứ thế từ từ đi vào quên lãng.
Quả thật, đời người là những lời chào gặp mặt và tạm biệt chia phôi mãi cho đến ngày ta có đủ duyên tương ngộ. Hội ngộ thì vui mà chia tay thì sầu lênh láng. Cũng đôi lần giữa dòng đời ồn ã, chợt thèm khát cảm giác yên an, để rồi ghé chạm dừng chân và tự hỏi: “Cái duyên, cái phận đời mình sao mỏng quá đỗi, vội đến mà cũng vội đi mau, cứ lưu lạc chốn nào?”. Ừ thì “duyên do trời định, phận do người tạo”. Nhưng cứ nương theo ý trời, ngồi mỏi mòn đợi chờ duyên đến, bồi hồi để gió chở duyên đi xa mãi, xa hoài về dĩ vãng liệu có đáng? Suy cho cùng con người ta tìm đến các mối quan hệ như một sự bám níu sự sống, khao khát thứ cảm giác bình yên một đời...
Cuộc đời chảy trôi, mỗi ngày lại tích cóp thêm những mối quan hệ mới, đôi lúc gắn bó vài tháng, vài năm, thậm chí vài ngày, vài giờ… tựu chung lại cũng chỉ là chữ QUEN. Cuối cùng, sau giờ khắc chia xa, chút còn đọng lại cũng chỉ là cái ôm xiết chặt, cái vẫy tay chệch nhịp vụng về, ánh mắt lạc lõng, lưu luyến đượm mùi hoài niệm, đôi chân có dấu hiệu hững hờ với cái sự dịch chuyển đó đây… chầm chậm như muốn níu thời gian ngừng trôi chảy.
Thảng hoặc, để trân trọng chút duyên còn thắm đượm, người ta dành tặng cho nhau những món quà xinh mà thường thì là sách… Có người dồn cả tâm tư, tình cảm vào việc chọn lựa ấy, tay nâng lên, hạ xuống một quyển sách rồi suy tư, nghĩ ngợi: “Liệu người ấy có thích hay không nhỉ?” Trái lại, cũng có những kẻ coi việc tặng sách như một phong trào. Thấy bạn bè, người thân tặng cũng gắng làm như thế, mà mục tiêu chủ yếu cốt là sống ảo tối về đăng hình lên face với đôi dòng tâm trạng đại loại: “Lựa sách vất vả quá”, “cuối cùng cũng tìm một cuốn gói trọn lòng mình”… Hoặc cũng có những kẻ sau hàng giờ lang thang giữa những giá sách cao quá đầu người, họ tiện tay vơ đại một cuốn, lật vội ghi đôi dòng tâm sự: có chút sến súa, đôi lời bóng bảy, nghe sao thoảng mùi giả tạo… Biết là vậy, họ vẫn cứ miệt mài viết dẫu cho là có trái lòng đi chăng nữa…
Để rồi, ngày kia khi nhận dòng tin nhắn cảm ơn từ đối phương đề cập vấn đề liên quan tới cuốn sách được tặng hay và ý nghĩa thế này thế nọ, lòng tự nhiên trùng xuống không rõ lí do. Lôi vội trong mớ kí ức hỗn độn, cố nhớ nhưng liệu có định hình được nội dung chăng khi mà ngay cả kí ức về tên tựa đề cũng chỉ là khoảng trắng…
Tôi không thích hay đúng hơn là có chút khó chịu với những hành động vô tâm, sáo rỗng và thiếu suy nghĩ như thế. Chẳng biết với bạn sẽ ra sao nhưng với tôi, việc chọn sách là một nghệ thuật, nó thể hiện sự nâng niu, tấm lòng, thiện chí của ta trong một mối quan hệ.
Lúc này đây, trong góc nhỏ nhà sách cũng có một con bé dáng nấm lùn với đôi kính cận 1.5 diop đang loay hoay kiếm tìm một cuốn sách ưng ý dành tặng người thương - không ai khác đó chính là tôi.
Tôi muốn dành tặng món quà nhỏ như một lời cảm ơn, một chút hoài niệm về duyên hội ngộ với người thầy tôi yêu quý, kính trọng dẫu cho thời gian gắn bó chưa nhiều. Thầy không còn trẻ, không đủ teen để ngấu nghiến với những chồng sách dày đượm mùi tiểu thuyết, cũng chả hợp với kiến thức nghiên cứu khoa học vĩ đại của toàn nhân loại… Tôi nghĩ hẳn là như thế bởi thầy của tôi mang một trái tim lãng tử của một hồn yêu văn, hương văn, chất men say đắm của văn chương đã hòa quyện trong suy nghĩ, tâm hồn con người ấy tự lúc nào, để rồi khi bắt gặp ta không thể nhầm thầy với bất cứ ngành nghề khác, có lẽ số phận đã an bài, thầy sinh ra là một phần của nghệ thuật. Phong cách văn chương của thầy khá ấn tượng triết lí, sâu sắc và đặc biệt vô cùng cô đúc, ngắn gọn, thầy không thích loại văn chương chuộng ngôn từ có cánh, bay bổng, lung linh mà sáo rỗng… với tôi, thầy thật duy lí và pha chút khô khan. Ấy vậy, chẳng hiểu duyên đưa phận đẩy thế nào, một đứa học trò theo chủ nghĩa mộng mơ, thơ mộng như tôi lại lọt vào tầm chú ý của thầy giữa biển trời học sinh.
Thầy là giảng viên chuyên ngành tập làm văn của một trường sư phạm vừa tầm tọa lạc ngay trung tâm phố núi, không quá nổi tiếng như giáo sư này, tiến sĩ nọ nhưng với nền văn học của tỉnh nhà, thầy tựa bóng cây đại thụ lớn. Còn bản thân tôi, chỉ là cô học sinh lớp chuyên Văn. Tôi chẳng ấp ủ nguyện vọng theo sư phạm, và đặc biệt hơn là không bao giờ tôi có ý định gắn bó đời sinh viên với mảnh đất cao nguyên đầy nắng và gió này. Hai con người, hai cuộc đời, hai ngã rẽ riêng biệt trong khoảnh khắc lướt ngang đã vô tình chạm vào nhau ở khúc giao của duyên phận.
Tôi cũng sẽ chỉ là cô học trò ngây thơ, hồn nhiên trong trẻo, mơ mộng về một chàng bạch mã hoàng tử, ngày ngày ngấu nghiến những bộ phim Hàn lãng mạn, tranh nhau một gói đồ ăn vặt như bao cô bạn cùng tuổi khác. Vòng xoáy công việc, bộn bề lo toan của cuộc sống thường nhật cứ cuốn thầy đi lạc trong miền không gian áp lực. Ngày ngày tới tiết thầy vẫn lên giảng đường đều đặn, tối về rảnh rỗi lướt face đọc đôi dòng tin tức, đôi khi trầm lắng, suy nghiệm về cuộc đời với khói thuốc, ngắm cơn mưa bụi lướt qua hàng hiên, nhâm nhi li cà phê đắng để muôn trùng xúc cảm, những phiền lo, toan tính cứ lặng lẽ như mây bay trôi về phía cũ… Tất cả cứ vẫn sẽ bình yên, sẽ diễn ra theo quy luật như thế nếu như không có sự chen ngang của lần gặp gỡ định mệnh ấy…
Chẳng hiểu văn chương có sức hút chi, chứa đựng ma lực gì ghê gớm mà đủ sức khiến tôi nằng nặc đòi thi vào chuyên Văn cho kì được. Tình yêu văn chương hơn tất thảy mọi thứ trên cõi đời đã đẩy quyết tâm xa nhà lên phố học trọ để sống tới cùng với đam mê dâng cao đỉnh điểm. Thế mới nói, đôi lúc đam mê, nhiệt huyết cũng khiến con người ta dần trở nên mù quáng, lao đầu học văn, hi vọng quá nhiều vào những kì thi lớn để rồi năm 11, tôi bị quẳng ra khỏi cuộc chơi và nhận về cú sốc tinh thần quá lớn. Luận sai vấn đề là điều tối kị trong văn chương, ấy vậy mà tôi lại sa lầy một cách ngu ngốc. Tương lai như khép lại và tôi có thể mường tượng cảnh đứng chót bảng đầy vẻ vang. Thế mà, tôi lại lọt vào đội tuyển dự bị với số điểm bất ngờ 15/20 cho sự sai lầm không đáng có ở câu 8 điểm. Tuổi 17 ngây thơ và tôi nghĩ đó là may mắn, là có quý nhân phù trợ.
Trong vài lần đi học ké lớp bồi dưỡng của đội tuyển chính thức, tôi có gặp thầy nhưng ấn tượng không nhiều. Tình cảm trong tôi bấy giờ cũng chỉ đơn thuần là đôi chút ngưỡng mộ về bài giảng triết lý, kiến thức uyên thâm nhưng có gì lạ lẫm đâu chứ bởi thầy là giảng viên đại học. Mà đã là giảng viên tài năng là điều không phải bàn. Tuổi 17, cuộc chạm mặt của tôi và thầy diễn ra thật chóng vánh, tôi có nộp một vài bài viết mong thầy góp ý… tất cả chỉ dừng tại đó, không có chút gì đặc sắc.
Năm 12, không quá bất ngờ khi tôi đậu nhất tỉnh, nhận kết quả trong niềm vui vừa đủ và coi đó như điều hiển nhiên cho những nỗ lực đã bỏ ra.
Cho đến một ngày...
Cô dạy chuyên đã kể cho tôi tất cả… Và có lẽ sợi dây gắn kết giữa thầy và tôi dần nảy sinh từ giờ khắc ấy. Những khúc mắc, canh cánh trong lòng cuối cùng cũng được giải tỏa đôi phần. Thì ra mọi chuyện là như thế…
Con số 15/20 và ngay cả lần đứng đầu bảng này chẳng phải may mắn nào ra, tất cả như được lập trình sẵn dưới sự điều hành của duyên số. Theo lời cô kể, thầy khá ấn tượng về giọng văn của tôi từ hồi 11 và thầy cũng đã cố vớt vát bài viết chệch nhịp ấy nhưng rồi cũng đành ngậm ngùi bất lực. Điều đáng bàn là sau hẳn một năm, những ấn tượng về tôi trong thầy vẫn chưa hề nhạt phai. Trong vô vàn bài thi, vô vàn nét chữ thầy vẫn nhận ra tôi và bảo vệ bằng được quan điểm rằng: “Cách hành văn, lối tư duy này chắc chắn sẽ được đánh giá cao và mang lại vinh dự cho tỉnh nhà”.
Đáng nói hơn, ngày bồi dưỡng đầu tiên, thầy đã nhận ra tôi ngay cả khi một năm đã trôi qua ngay cả khi những lần tôi - thầy chạm mặt trong kí ức chỉ vẻn vẹn trên đầu ngón tay. Tôi nhận được sự quan tâm của thầy nhiều hơn các bạn khác trong lớp đôi chút, dẫu thầy không nói nhưng ai cũng có thể cảm nhận được thứ tình cảm ấy. Đơn giản là ánh mắt đảo khắp lớp kiếm tìm tôi mỗi lần bước vào, nét trìu mến trong bài giảng hướng về góc ngồi quen thuộc, đôi lúc ghé qua thầy tiện tay gõ vài nhịp xuống bàn, lặng đứng nhìn tôi viết… Đặc biệt hơn một chút, những lúc giáp mặt ở canteen, thầy bước tới xoa đầu tôi và cười: “Nhỏ quá!”. Thật sự, nói ra chẳng hãnh diện gì cho cam với cái dáng vẻ hạt mít cùng gương mặt sặc mùi con nít này, tôi dường như bị lạc giữa thời đại, lọt thỏm giữa những dáng hình cao lớn. Cũng có thể vì vẻ ngoài mỏng manh, nhỏ nhắn ấy mà tôi nhận được sự quan tâm nhiều hơn bạn bè đôi lứa chăng? Buổi ra chơi hôm ấy, thầy có mua đồ ăn cho nhưng tôi khẽ khàng từ chối. Người ta thường nói, thầy trò muốn thân thì không nên câu nệ, khách sáo làm chi, đồng nghĩa với trong những lần gặp mặt cứ vui vẻ nhận tấm chân tình của đối phương, đơn giản như những lời mời uống nước, dùng bữa, cà phê...vv... như một lẽ hiển nhiên. Quan điểm của tôi không như vậy. Mặc dù muốn, rất muốn thân với thầy, muốn nói lời cảm ơn chân thành nhất nhưng rồi sự ngại ngùng, e thẹn vốn có đã ngăn cản điều đó.
Tôi lặng ngắm thầy từ xa. Dáng thầy nhìn ngồ ngộ, có chút gì đó dễ thương của mèo máy Doremon, khuôn mặt toát lên vẻ nhân hậu, những vết chân chim đã hiện lên rõ rệt. Gần thầy, tôi cảm nhận được sự yêu nghề, nhiệt huyết, đam mê. Đó không phải chút bồng bột say đắm chợt đến chợt đi của tuổi trẻ mà triết lí, trải đời, sâu sắc lắm, có lẽ nó thấm đượm mùi vị của đời…
Một dạo, sau khi ra hiệu cho lớp nghỉ giải lao, thầy trìu mến hỏi: “Đi uống nước thôi nào?”, chẳng ai dám trả lời vì biết đó là lời mời xã giao. “Đi thôi Minh Nguyệt! Thầy mời rồi đấy nhé, không nói lại lần hai đâu” thầy đã gọi tôi như thế. Thật tuyệt vời và tôi đã lon ton chạy theo dáng thầy. Tuổi trẻ năng động hoạt bát và tuổi xế chiều đĩnh đạc, điềm đạm song hành bên nhau. Đôi lúc chệch nhịp, cái dáng chim chích ham chơi ù té chạy về hướng bạn bè trên sân bóng. Thầy dừng bước lặng lẽ đứng nhìn tôi, màu tóc hoa tiêu khẽ bay trong chiều gió cuốn gợi lên dáng vẻ của người cha già thân thuộc, trong tôi tự lúc nào đã xem thầy như một kí ức chẳng thể nào phai của tuổi thanh xuân…
Nhịp sống vẫn cứ xoay vòng, vạn vận vẫn đều đặn theo quỹ đạo, những buổi học sau đó, tôi và thầy có trao đổi ngoài lề về cuộc sống, đam mê và cả tương lai. Thầy hỏi tôi sẽ theo cái gì? Tôi ấp úng bởi lẽ tôi dã dành hết tâm sức vào cuộc thi HSG quốc gia này, tôi khao khát cảm giác an yên nắm trong tay quyền đặc cách. Thầy khuyên tôi hãy tiếp tục theo văn đi, rồi học cao học lên bởi “Minh Nguyệt sinh ra là để dành cho văn, để làm văn, làm báo, không phải dành cho lĩnh vực khác”, “Theo ngành báo đi em, nghề đó rất hay và rất phù hợp với em nữa. Đừng nghe đồn đại mà nói ngành báo khổ, thật ra nó không nghèo như ta vẫn nghĩ đâu! Phong phú lắm mà lại được phát huy tài năng và cá tính vốn có của em nữa đó!”
Ngày thi cận kề, áp lực, lo lắng bộn bề giữa được và mất chồng chất, trong cuộc chơi không có bất cứ sự ưu ái nào huống chi đây lại là kì thi lớn, điều đó là không thể! Tôi lo sợ bản thân sẽ không thể vượt qua nổi áp lực, không thể sống và cháy hết mình với đam mê, mơ hồ về một tương lai mất mát, uổng phí sức lực, hi vọng mà không tránh khỏi cú ngã ngựa trắng tay, đau đớn và ê chề. Thầy lặng lẽ xuất hiện, ai ủi, căn dặn tôi nhiều điều rằng: “Minh Nguyệt cố lên nhé, thầy tin hi vọng ở em lắm!”, “Mạch văn thì tốt rồi, cần chú ý trọng tâm, tăng cường chất lý luận và các thao tác nghị luận! Hãy nhớ là VĂN NGHỊ LUẬN, không phải là VĂN NGHỆ THUẬT!”…
Xúc động và nghẹn ngào, không nén được cảm xúc trào dâng tôi đã dành riêng lời cảm ơn tới thầy, dù cho đó chỉ là dòng tâm trạng trên face nhưng tôi nghĩ thầy có thể hiểu những gì tôi đang ấp ủ: “Thầy! Lại một lần nữa, trong phút hoang mang và tuyệt vọng, vẫn con người ấy đến bên con. Chẳng nhiều nhặn gì, chỉ là những lời khuyên rất thân thương nhưng với con sao quý giá lắm. Một lần có thể là tình cờ nhưng ba lần rồi thầy ạ, ba lần đủ để cứu một tình yêu trỗi dậy. Chẳng biết cái nghiệp này sẽ trôi nổi về đâu nhưng con hạnh phúc và mãn nguyện khi có những người hiểu thấu lòng mình, biết mình cần gì trong phút lặng lòng... Đã xa rồi không biết có ngày gặp lại chăng? Duyên thầy trò thoáng qua liệu có đủ sức trụ lại giữa dòng đời không nữa? Cảm ơn thầy vì đã tin con. Đợi niềm vui của con một ngày không xa thầy nhé...”
 Và rồi...
Ngày thi cũng đến, tôi đã viết hết mình, cứ ngỡ mình nắm chắc trong tay giải khuyến khích, thế mà đời nào như mơ, những điều thầy lo ngại đã xảy ra. Tôi nhận về cú sốc tinh thần không thể vực dậy, suy sụp lắm chứ cũng đôi lúc trong tâm trí xoẹt ngang ý nghĩ quẩn quanh, muốn nhắm mắt để trôi hồn về nơi xa xôi chưa định hình để mà lẩn tránh cho trọn nỗi đau này. Chẳng biết đối diện với thực tế ra sao nữa khi mà tôi đã làm những người tôi thương, làm thầy phải buồn lòng… Cứ ngỡ thầy sẽ thất vọng và không quan tâm tới mình nữa. Nhưng không, càng trong lúc khó khăn, tôi nhận được sự yêu thương nhiều hơn bao giờ hết. Văn chương không thể nói trước điều gì, thầy vẫn luôn công nhận năng lực của tôi và trân trọng đam mê, nhiệt huyết tuổi trẻ. Thật cảm ơn vì điều đó!
Sau đó, mối quan hệ của thầy trò vẫn tốt, ít nhiều vẫn khá thân thiết cho đến hiện tại. Thỉnh thoảng những lời hỏi thăm, đôi dòng chia sẻ vẫn diễn ra tuy không đều đặn như trước. Dẫu vậy, với tôi thế là đủ để lưu giữ một miền không gian của nỗi nhớ…
Không biết sau này sẽ ra sao khi mà vòng quay tương lai hé mở cho tôi cánh cửa mới tiến về phương xa, tôi sẽ rời xa thành phố chật hẹp này thẳng tiến tới miền đất mới, sẽ gặp được nhiều con người mới, xây dựng thêm những mối quan hệ mới, có chăng thời gian để hoài niệm dĩ vãng?… Còn thầy đã đi quá dốc bên kia của cuộc đời, không biết liệu kí ức, hình ảnh về cô trò nhỏ này trong thầy có còn được lưu giữ trọn vẹn theo chiều năm tháng? Thời gian sao nỡ vô tình, mà quy luật sinh tồn khắc nghiệt lắm, sinh - li - tử - biệt chỉ đếm trong gang tấc. Mới đó, mới đây thôi cuộc gặp vừa tàn mà xa nhau muôn trùng khơi, ngàn thu không bao giờ hội ngộ. Đời là vậy đó, chẳng thể biết sẽ trụ lại trong bao lâu hay sẽ sớm trở về với cát bụi? Những ngày còn sống, còn thấy ánh mặt trời, được hít thở trong cái bầu không khí bụi bặm đượm mùi đời này cũng đã là một hạnh phúc! Liệu thầy trò tôi có còn nhớ về nhau hay 5 năm, 10 năm, thậm chí chỉ 2, 3 năm sau gặp lại giữa dòng đời chẳng hề nhận ra nhau hoặc may mắn cũng chỉ là đôi phút ngờ ngợ “dáng hình ấy, nụ cười, khuôn mặt ấy sao quen quá!” rồi chợt lãng quên ngay… Không! Xin đừng bao giờ như thế! Khao khát tháng năm quay ngược trở lại để tôi thêm một lần sống trong miền nhớ, miền thương thuở nào... Năm tháng ơi xin đừng trôi xa mãi thế! Đừng vô tâm bào mòn những kí ức trinh nguyên và vô tình điểm thêm màu tóc trắng. Đừng để tôi đổi thay giữa dòng đời, hãy để dáng hình thầy lưu mãi trong tim!
Cuộc đời là thế! Duyên phận là thế! Có những người chỉ gặp một lần nhưng cả đời nhớ mãi. Có người gặp cả ngàn lần, ngày ngày đối mặt mà chẳng thể tìm ra một lần để mà nhớ, mà thương! Những người đã, đang và sẽ xuất hiện trong đời ta, có lẽ đều mang một ý nghĩa nhất định, vấn đề cốt lõi là ta có chịu bỏ chút thời gian để lắng đọng, để hiểu cơ duyên nào cho ta hội ngộ không.
Khởi duyên tại trời, giữ duyên tại người là như thế! Lo lắng thay vô tâm là tác nhân bào mòn muôn nỗi nhớ! Nhớ nhé con người hai chữ vô tâm!


Chủ Nhật, 4 tháng 9, 2016

CHIM ÉN VÀ MÙA XUÂN

Nhà văn Nguyễn Việt Nga - Đại biểu Quốc hội khóa XII


Tùy bút của HỒNG CHIẾN 

Làng Vân Trang quê tôi định cư dưới chân gò Chan, tất cả các ngôi nhà trong làng đều hướng ra phía đông có sông Thị Long - ranh giới của hai huyện Nông Cống - Tỉnh Gia chảy qua. Sông Thị Long cung cấp nguồn nước tưới tiêu cho nhân dân sản xuất nông nghiệp trong vùng. Có lẽ do dòng sông bồi đắp hàng triệu năm nên hai bên bờ sông có nhiều cánh đồng trồng lúa rộng mênh mông. Thời nhỏ tôi thường theo chị dắt trâu đi qua đường sắt xuống bãi Cháy, cồn Mua, đồng Xoài… cho  ăn. Trên đường đi, hai bên là cánh đồng lúa trải dài từ làng chạy xa tới tận làng Kén – xóm đạo duy nhất của xã Tượng Sơn, có cây thánh giá hình chữ thập xây trên nóc nhà thờ in dấu trên nền trời xanh.
Mùa đông, chị em tôi khoác thêm chiếc áo tơi kè chống chọi với gió lạnh. Một hôm khi đi qua cánh đồng lúa, thấy những con chim bé nhỏ, cánh dài, lưng màu xám đen, bụng màu trắng bạc chao lượn trên các ruông lúa; chị tôi reo lên: “Én về rồi! Mùa xuân về rồi”! Tôi ngạc nhiên hỏi chị: “Chim én và mùa xuân có gì liên quan với nhau”? Chị bảo: “Ngốc thế, mùa đông lạnh giá chim én từ phương bắc phải bay về phương nam tránh rét, đến mùa xuân âm áp chúng lại bay về phương bắc, về nhà của chúng đấy; vì thế đang mùa đông mà thấy én bay về biết ngay thời tiết đã chuyển qua mùa xuân”. Ra thế!
Từ ấy trong tôi và lũ trẻ chăn trâu xóm núi khi mùa đông đến co ro vì lạnh thường tụm đầu nói với nhau niềm ao ước mong được thấy chim én bay về, xua đi lạnh giá, mang mùa xuân tới. Chim én bay về, hàng xoan sau vườn làm ranh giới với nhà hàng xóm không có một chiếc lá, cành cây gân guốc như đã chết, bỗng bung chồi, nảy lộc rồi khoe với đất trời từng chùm hoa tím rung rinh theo gió. Mà cũng lạ, không chỉ cánh chăn trâu chúng tôi, ngay cả người lớn cũng mong ngóng chim én về. Có lần sau những ngày mưa phùn gió bấc sáng ra thấy chim én bay về, cha tôi nói với mẹ: “Năm nay chim én về sớm chắc chắn được mùa”. Hình như sự xuất hiện của những con chim én ấy làm các gia đình trở nên đầm ấm hơn, vui vẻ hơn.
Hôm qua chương trình thời sự trên ti vi vừa giới thiệu kết quả bầu cử Quốc hội khóa XIV và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016 – 2021, làm náo nức lòng người. Thắng lợi của cuộc bầu cử lần này thể hiện sự gắn bó giữa ý Đảng lòng dân chắc chắn sẽ đưa nước nhà tiếp tục phát triển lên một tầm cao mới. Đắk Lắk, một tỉnh được suy tôn là “Thủ phủ Tây Nguyên” dù vừa bị hạn hán nặng nề, kinh tế nhiều gia đình bị ảnh hưởng vẫn nô nức đi bầu cử với tỷ lệ khá cao; điều ấy chứng tỏ Đảng bộ và Chính quyền địa phương đã làm tốt công tác vận động bầu cử, nhân dân tin tưởng tuyệt đối.
Nhà văn Lê Khôi Nguyên

Kết quả sơ bộ được thông báo tạo nên một trận “bão” thông tin, trên các quán cà phê, bên bàn nhậu, qua câu chuyện hàng ngày của các cụ bên ấm trà… ở đâu người ta cũng nói về kết quả bầu cử với những lời háo hức, tin tưởng, chờ mong… Trong không khí ấy, những người làm văn nghệ Đắk Lắk không đứng ngoài cuộc; họ còn vui hơn khi biết tin nhà văn Lê Khôi Nguyên – Bí thư Đảng đoàn, Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh tái đắc cử Hội đồng nhân dân tỉnh.  Anh em văn nghệ sỹ mong và hy vọng nhà văn Lê Khôi Nguyên tái đắc cử lần này sẽ có nhiều đóng góp vào những quyết sách phát triển chung về văn hóa xã hội tỉnh nhà và đặc biệt là Văn hóa Văn nghệ. Trong nhiệm kỳ 2010 – 2015, trên cương vị Chủ tịch Hội Văn Nghệ tỉnh, mặc dù còn nhiều khó khăn thách thức, nhưng đã tập hợp được đội ngũ văn nghệ sỹ say mê sáng tạo, năm nào cũng có hội viên đạt giải cao trong các cuộc thi, liên hoan, triển lãm... chuyên ngành Khu vực, Quốc gia và Quốc tế. Hy vọng với kinh nghiệm tích lũy từ Hội đồng Nhân dân tỉnh khóa trước, khóa mới này Nhà văn sẽ tham mưu cho Hội đồng nhân tỉnh ban hành những quyết sách để phát triển văn hóa xã hội nói chung và văn nghệ nói riêng sát với tình hình địa phương, có bước phát triển vượt bậc, đáp ứng được nhu cầu của công cuộc đổi mới của Đảng và Nhà nước trên địa bàn tỉnh nhà.
Tin vui nối tiếp tin vui, tại cuộc họp do Ban Tuyên giáo Trung ương tổ chức tại thành phố Đà Nẵng trong hai ngày 17 và 18 tháng 6 vừa qua lại được nghe nhà văn Đỗ Kim Cuông - Phó chủ tịch Liên hiệp các Hội văn học Nghệ thuật Việt Nam thông báo: nhà thơ Nguyễn Thị Việt Nga, Chủ tịch Hội Văn Nghệ tỉnh Hải Dương trúng cử Đại biểu Quốc Hội khóa XIV! Vui quá, lần đầu tiên Quốc hội Việt Nam có một đại biểu là nữ nhà thơ. Mừng cho Hội Văn Nghệ Hải Dương đã có người đại diện cho một vùng đất là nữ nhà thơ và mừng cho cả giới văn nghệ sỹ nước nhà lại có thêm một cán bộ nữ làm công tác quản lý văn nghệ thành đại biểu Quốc Hội. Chúng ta hy vọng trên cương vị mới, gánh vác trọng trách nặng nề, Nhà thơ sẽ có những đề xuất, kiến nghị với Quốc hội ban hành những chính sách phù hợp với đường lối văn hóa - văn nghệ của Đảng, khuyến khích Văn nghệ sỹ nước nhà tiếp tục có những tác phẩm đứng được với thời gian, góp phần xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Nhà văn  Nguyễn Việt Nga

Văn nghệ sỹ được suy tôn là “chiến sỹ tiên phong trên mặt trận văn hóa văn nghệ của Đảng”, đã có những đóng góp to lớn trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất nước nhà, bảo vệ biên cương của Tổ Quốc và công cuộc xây dựng đất nước hiện nay. Tiếc rằng thời gian qua còn có nơi áp dụng chính sách chưa phù hợp đối với giới văn nghệ sỹ như vận dụng Nghị định Số: 45/2010/NĐ-CP của Thủ tướng chính phủ ban hành ngày 21 tháng 4 năm 2010 xếp Hội Văn học Nghệ thuật vào nhóm các hội đặc thù cùng chung với với các Hội: Người mù, Người tù, Chất độc màu da cam… là chưa được thỏa đáng.
Và lo, lo cho anh chị em Văn nghệ sỹ Hải Dương mất đi con chim đầu đàn vì phải nhận nhiệm vụ mới, người gách vác trách nhiệm thay thế sẽ là ai để tiếp tục giữ được phong trào văn nghệ tỉnh nhà như những năm trước đây! Ở Tây Nguyên đã có những bài học đau lòng về công tác bố trí cán bộ làm quản lý văn nghệ. Cách đây gần chục năm tôi có đi dự Đại hội Hội Văn Nghệ của một tỉnh bạn. Vào đại Hội chính thức, sau phần báo cáo kiểm tra tư cách đại biểu, bỗng có hội viên giơ tay xin phát biểu. Khi được phép của Đoàn Chủ tịch, vị hội viên nói: “Thưa Đại hội, cái ông ngồi ghế ở giữa Đoàn Chủ tịch kia là ai?” Tiếng hội viên cười ầm lên và có người trả lời: “Ông ấy đương là Chủ tịch Hội ta đấy!” Vị hội viên nói tiếp: “Ông ấy được Tỉnh cử sang làm Chủ tịch Hội từ giữa nhiệm kỳ, nay hết khóa phải trở về nơi cũ; còn đây là Đại hội của anh chị em văn nghệ sỹ tỉnh nhà, ông ấy không phải hội viên, không phải khách mời, thì không đủ tư cách dự Đại hội, sao lại ngồi trên ghế Đoàn Chủ tịch. Xuống!” Cả Hội trường lặng đi, trong khi ấy tại Đại hội có mặt lãnh đạo cao nhất của Đảng và Chính quyền tỉnh.
Lại có tỉnh, Đại hội không bầu Chủ tịch Hội để sau Đại hội, tỉnh mới điều một vị ở Ban Kiểm tra về làm Chủ tịch. Chưa được hai năm xảy ra đủ chuyện: kiện tụng, mât đoàn kết, vi phạm bản quyền… làm chấn động dư luận cả nước. Khi trả lời phóng viên ông Chủ tịch Hội “được điều động” đã nói rất thẳng thắn: Tôi học xong phổ thông thì đi bộ đội, xuất ngũ về làm công tác Đảng, đến khi tổ chức điều động thì về làm Chủ tịch Hội Văn Nghệ chứ tôi có biết văn nghệ là gì đâu"!?
Nhắc lại chuyện cũ tuy rất buồn nhưng đó cũng là bài học kinh nghiệm xương máu cho các cấp khi quy hoạch bố trí, cơ cấu lãnh đạo các hội văn học nghệ thuật. Lãnh đạo Hội không những phải có TÂM, có TẦM mà còn có UY TÍN mới tập hợp được đội ngũ văn nghệ sỹ. Chúng ta đều biết Văn nghệ sỹ là những người được đất trời thiên phú cho những tài năng đặc biệt và lòng đam mê mà thành. Họ đam mê cái đẹp, đi tìm cái đẹp và bảo vệ cái đẹp dựa trên nền tảng văn hóa dân tộc. Họ biết mình có tài nên để tập hợp họ phải là những người cùng giới và có cái “uy” về chuyên môn giỏi hơn người khác. Hội là nơi tập hợp đội ngũ văn nghệ sỹ cùng đi dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, dù những con người ấy là đảng viên hay chưa phải là đảng viên nhưng đã tự nguyện cống hiến sự nghiệp của mình cho Đảng, cho đất nước.
Những dấu hiệu tốt đẹp đã xuất hiện sau khi công bố kết quả bầu cử, nhân dân cả nước nói chung và giới Văn nghệ sỹ nói riêng trông chờ Quốc hội khóa mới hoạch định chiến lược phát triển đất nước trong giai đoạn mới sát với thực tế, hợp lòng dân, đúng theo ý Đảng. Để phát triển văn học nghệ thuật trong giai đoạn mới cần có những quyết sách phù hợp với chủ trương của Đảng, thực hiện thắng lợi Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 9/6/2014 Hội nghị Trung ương 9 khóa XI  về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước.
Những cánh én đã về báo hiệu mùa xuân mới sắp đến, mùa của cây cối đâm chồi nảy lộc, đơm hoa kết trái, cho một mùa bội thu. Và chúng ta tin nữ nhà thơ Nguyễn Thị Việt Nga – tân Đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa XIV sẽ có những đóng góp nhất định về hoạch định những chính sách phù hợp với tình hình hiện tại và định hướng phát triển trong tương lai, giúp anh em văn nghệ sỹ nước nhà siết chặt đội ngũ, vững bước dưới lá cờ quang vinh của Đảng, đóng góp công sức hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị mà Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XII đã đề ra.


GIỚI THIỆU CHƯ YANG SIN SỐ 287- tác giả VIỆT NGA

Nhà văn Việt Nga


CHIẾC MAI CUA
Tản văn



Đi liên hoan tiệc tùng, tất cả mọi người đều thắc mắc tại sao ngồi vào mâm có món hải sản cua ghẹ là tôi lại tránh. Không những tránh ăn mà còn tránh nhìn nữa. Tránh ăn thì cũng nhiều người rồi. Thời hiện đại, thật lắm bệnh tật đòi hỏi con người ta phải kiêng khem đủ thứ. Nhưng tránh nhìn thì nghĩa là sao? Nghĩa là mỗi khi nhìn thấy mai cua trên mâm, tự dưng tôi cứ ứa nước mắt, không thể nào tiếp tục cầm đũa, cầm bát nổi nữa.
Tất cả gắn với con bạn hồi đi mẫu giáo và tuổi thơ cơ cực của cả hai. Ba mươi năm có lẻ rồi mà như mới hôm qua…
Con bạn ấy tên là cái Tấm. Không biết bố mẹ nó đặt tên con là nghĩ đến cô Tấm ở trong chuyện cổ tích hay tại nhà nó nghèo quá, quanh đời ăn gạo tấm, thứ đầu gạo vụn, gẫy bán rẻ hơn gạo nguyên lành. Mà gạo tấm lại phải độn với đủ thứ quanh năm. Cao cấp  nhất là độn khoai. Còn lại là rau muống, rau má, thậm chí là củ chuối già.
Nhà Tấm nghèo và đông con như nhiều gia đình khác ở trong làng. Tấm là con út, trước nó có đến 7 anh chị. Tấm bằng tuổi tôi, lại chung một ngõ nên tôi với nó chơi thân lắm. Thân đến nỗi có gì ăn được cũng để phần nhau. Trẻ con nhà quê lúc nào cũng đói, lúc nào cũng thèm ăn nên việc phần nhau một miếng ăn là điều vĩ đại vì nhau. Những món ăn mà nó để dành để dè cho tôi chỉ là nửa củ khoai nướng vội bằng bếp rạ, phía vỏ ngoài cháy đen như than nhưng trong lõi vẫn còn sống, ăn vào vừa đen nhẻm mồm miệng, vừa sậm sà sậm sật. Là một mảnh bánh đa nướng bé tí bằng bàn tay mà mẹ nó giấu giếm mua ngoài chợ mang về cho con (có lần bố nó biết mẹ nó bớt tiền đong gạo để mua bánh đa, bố nó tát mẹ nó chảy cả máu mồm). Một đàn con có 8 đứa mà chỉ có một cái bánh đa nướng nên phần của Tấm chỉ con con thế thôi. Nhưng nó chỉ dám nhấm một tí xung quanh, rồi để phần chờ tôi đi học mẫu giáo cùng ăn. Có hôm chẳng có gì ăn được, nó dấm dúi bốc trộm một tí muối vừng, nắm trong lòng tay, đợi tôi ra đầu ngõ mới xòe tay. Dúm muối vừng mặn chát giữa lòng tay ướt nhẹp. Hai đứa cứ mút đầu ngón tay, chấm xuống muối vừng rồi lại cho lên miệng mút. Mặn rụt lưỡi mà thấy ngon như cao lương mỹ vị trên đời. Ra lớp mẫu giáo khát nước quá, tôi với nó rủ nhau chạy xuống cầu ao phía cổng vào lớp, mắt trước mắt sau không thấy cô giáo ở quanh đấy là thi nhau vốc nước ao uống ngon lành. Có lần uống xong, cái Tấm còn la lên: tao vừa uống phải một con tép mày ơi! Tôi  bắt nó há miệng xem, nhưng con tép thì đã theo nước ao chui xuống dạ dày nó tự bao giờ.
Nhưng món ăn vặt mà tôi với cái Tấm “tâm đắc” nhất lại chính  là món cua luộc. Không phải cua bể, mà là cua ao. Bờ ao nhà nó dày đặc bè rau muống lẫn với bèo tây. Mỗi sáng mẹ nó thường mang cái rổ xuống ao, xúc xúc trong đám rễ bèo tây và rau muống, nhấc lên, thể nào trong rổ cũng có vài con tép, con cua hay con cá thòng bong, cá mại cờ đang cuống cuồng tìm cách thoát thân. Chục lần chao như thế, mẹ nó đã có nguyên liệu để nấu canh rau muống. Không riêng gì nhà cái Tấm, hầu như nhà nào trong làng tôi cũng kiếm thức ăn theo cách đó cả. Hoặc là chao xúc ở ao nhà, hoặc vác rổ, vác dậm ra đầm, ra sông, ra đồng… Những con cá, con cua, con tép xúc về, nếu nhiều thì kho lên, ít thì đổ cả vào nồi nước, đun sôi, cho nắm muối, thả rau muống bè vào. Thế là thành thức ăn để đưa cơm. Nhà cái Tấm đông người, anh chị em nó phải chia nhau từng con cua trong nồi canh (cua để nguyên con, chỉ thả vào nồi nấu cho chín, khi nào có nhiều cua mới giã ra lọc lấy nước nấu canh). Cái Tấm không ăn con cua của nó ngay mà thường để dành. Khi đi học với tôi nó mới lôi ra, cẩn thận xé đôi con cua. Lúc thì nó ăn phần mai, tôi ăn phần thân. Lúc nó ăn phần thân, tôi phần mai. Mai cua cứng, chỉ có thể mút mút chút nước và chút gạch cua. Thế mà thấy ngon không thể tả. Có lần tôi mút nhiệt tình quá, phần gai cứng ở mai cua cào rách cả môi.
Hôm ấy, chẳng hiểu sao tôi và cái Tấm rủ nhau đi học sớm hơn thường lệ. Đến lớp mẫu  giáo rồi mà chưa thấy cô giáo, cũng chẳng có bạn nào. Hai đứa tha thẩn rủ nhau ra phía bờ ao để đào củ gấu. Củ gấu của cây cỏ gấu, bé xíu như cọng rơm, đen sì. Cỏ gấu mọc cơ man là nhiều khắp mảnh sân đất của lớp mẫu giáo, nhưng ở ven bờ ao, đất ẩm hơn, cỏ gấu tốt hơn và củ cũng to hơn. Đất bờ ao lại mềm, dễ đào. Lũ trẻ chúng tôi thường kiên nhẫn lấy que, đào củ gấu, rồi lấy móng tay cạo cạo sơ qua lớp vỏ đen bên ngoài, cho vào miệng nhai ngấu nghiến. Chẳng biết đứa nào phát minh ra việc củ gấu có thể ăn được, nhưng sự thực thì nó không ngon lành gì, mùi hăng hăng mà vị thì hơi chan chát. Thế nhưng bọn trẻ con tứ mùa đói kém chúng tôi cứ miệt mài đào và ăn suốt. Đang đào củ gấu, chợt tôi thấy cái Tấm vứt cái que, reo: có con cua to chưa kìa! Theo tay nó chỉ, tôi thấy không phải một mà những hai con cua càng đang cắp nhau, bám vào cây bèo tây bập bềnh ven bờ ao. Cái Tấm hí hửng men xuống ao để bắt hai con cua. Chưa gì nó đã chia: mày một con, tao một con, tối về cho vào nồi canh nhá! Tôi chỉ kịp thấy cái Tấm khom người, với tay ra phía hai con cua… Mọi chuyện sau đó diễn ra quá nhanh. Chỉ biết khi tôi cố chạy ra đường, bủn rủn và hoảng loạn gào lên được một câu: cái Tấm ngã xuống ao, thì nó cũng đã chìm nghỉm.
Cái Tấm mãi mãi năm tuổi rưỡi. Mãi mãi là đứa bạn thân nhất lớp mẫu giáo lớn của tôi. Mỗi thanh minh về nghĩa địa làng thắp hương cho nó, nước mắt tôi vẫn chan chan như hôm túm vạt áo bà, bước thấp bước cao đi theo chiếc quan tài tí tẹo mà ông Sùng rỗ làng tôi vác trên vai, đi ra cánh đồng Mả Mộc. Mỗi lần nhìn thấy những chiếc mai cua, cổ họng tôi vẫn nghẹn đắng lại, xót xa…


7.2016

Thứ Sáu, 2 tháng 9, 2016

NGƯỜI HÁI MÂY

Hà Nội ngày 8 tháng 01 năm 2016

Truyện ngắn của HỒNG CHIẾN

Phía tây, những đám mây từ từ chuyển  màu đen sẫm. Bóng tối trùm dần lên thung lũng. Đâu đó tiếng chim “bắt cô trói cột” đều đều gõ vào màn đêm nghe lạnh buốt sống lưng. Thoảng trong cơn gió rừng xào xạc, tiếng chim ăn thịt vang vọng: “Thu thỉ thủ thì -thủ thỉ thù thì”. Hòa theo là tiếng cú rúc từng nhịp một như kẻ cầm nhịp trong ban nhạc tang. Xa xa tiếng suối chảy réo rắt… tất cả tạo nên không gian ghê rợn của núi rừng.
Hơn ba chục con người nằm quây quanh đống lửa. Che cho họ là những tấm màn một, thêm tấm nilông phủ bên trên, ba bốn người ngủ chung qua đêm. Ngày mai khi bình minh đến, họ đã phải hối hả nhen lửa nấu cơm ăn sáng và nắm theo phần buổi trưa, chiều tối mới lục tục kéo nhau về. Người khỏe bứt được nhiều về sớm, kẻ kém may mắn về muộn hơn. Tính vội tính vàng cho chủ rồi lại bắc bếp nấu ăn cho qua bữa. Cuộc sống cứ vậy đều đều tái diễn. Mỗi ngày cũng kiếm được năm, ba chục ngàn. Nhưng đêm nay…
-Anh em ngủ sớm thế?
Tiếng một người nào đó nói vọng vào núi, núi nhái lại: th…ế… kéo dài không dứt. Mọi người bực mình ngồi dậy ngó kẻ quấy rầy. Hắn khệnh khạng trong bộ quần áo rằn ri, ngang hông đeo khẩu súng ngắn, bao súng che kín bộ hạ, chân đi đôi  giày cao cổ còn mới gác lên trên khúc củi cháy dở. Ánh lửa leo lét soi rõ khuôn mặt đen như than, môi thâm sì, hai hốc mắt sâu hoắm phát ra tia lành lạnh. Hắn trạc khoảng năm mươi nhưng khuôn mặt đầy góc cạnh, có lẽ đó là dấu ấn của đói khát và sốt rét.
- Mời tất cả anh em dậy ta nói chuyện.
            Mọi người nhìn vóc dáng, điệu bộ đã đoán ra hắn là ai nên tất cả im lặng, không ai dám lên tiếng.
- Quan ngài đây mời bà con ra bếp lửa nói chuyện.
Ông chủ thầu mây không biết chui ra từ lúc nào đứng bên người lạ, khúm núm nhắc  lại. Vẫn không có ai đủ can đảm bước ra. Ông ta bực mình đi đến từng chiếc màn một nói rất khẽ:                                                                                                                                                                    - Chúng mày muốn chêt hở, dậy ngay đi!
Việc làm của lão chủ thầu có tác dụng. Đám người nhếch nhác, quần áo xộc xệch, kéo nhau đến bên đống lửa. Người nào người ấy mặt cúi gằm, cứ như dưới chân có vật gì cần tìm.
- Mời anh em ngồi xuống .
Chờ mọi người ngồi xuống hết, người lạ mới nhìn lướt qua đám người làm thuê đang kiếp sợ, nói tiếp:
-Tôi là Y Dhen Bya - Đại tá kim Tỉnh trưởng, kiêm Sư trưởng sư 272 của lực lượng Phun-rô.
Mọi người bất giác rùng mình, ngồi xích lại gần nhau hơn. Cái điều ai cũng đoán nhưng rồi ai cũng sợ hãi khi có người nhắc đến: Phun-rô!
- Anh em đừng sợ. Chúng  tôi không làm gì ai cả, chỉ muốn trao đổi một chút để mọi người hiểu chúng tôi chống Cộng có mục đích...
Giọng hắn đều đều, phát âm khá chuẩn tiếng Kinh. Hắn nói rành rọt  như đọc một bài học thuộc lòng. Kết thúc bài diễn văn, hắn nói thêm:
- Anh em thấy chưa, Phun-rô chúng tôi muốn đấu tranh chống Cộng sản nên sẵn sàng đoàn kết với mọi người, xem mọi người như anh em cả thôi.
Tất cả lặng im, nghe rõ cả tiếng nổ lách tách của bếp lửa và cả tiếng của lũ thú ăn đêm. Y Đhen, tên Phun-rô,khét tiếng chuyện đốt nhà, giết người không ghê tay từ trước giải phóng đến nay bỗng nhiên giở giọng mị dân, chắc nó có ý đồ gì đây.
-Tôi nói vậy đúng không thầy giáo?
Y Đhen đi lại gần bếp lửa vỗ vào vai người đàn ông có vóc dáng thư sinh, làm người này giật mình.
- Thầy giáo đừng sợ. Trước đây bọn giáo viên từ miền Bắc vào dạy cái chữ cho dân là chống lại chúng tôi. Chúng  tôi xem bọn đó là kẻ thù nguy hiểm số một cần phải tiêu diệt. Nhưng còn thầy, tôi biết rõ.
Hắn cười rồi móc gói thuốc Zét lấy một điếu châm hút, chìa một điếu cho người thanh niên, nói tiếp:
- Thầy hút đi! Chúng tôi rất trọng người tài như thầy. Có những bài viết mà đài BBC Luân Đôn sử dụng quả là hiếm lắm. Nhưng có lẽ vì tài quá hóa mang tội với chế độ này.
- Dạ, ông nói hơi quá, nhưng sao ông lại biết điều đó?
- Người chúng tôi có mắt khắp mọi nơi tại sao lại không biết cái chuyện lớn tày đình như vậy. Chúng tôi còn biết thầy bốn lần ra vành móng ngựa, trong đó có hai lần tòa án tối cao Việt cộng xử, có đúng không? Vậy chúng tôi tin và muốn hợp tác với thầy cùng đấu tranh cho thế giới tự do.
- Cảm ơn ông! Nhưng tôi còn cha, mẹ, vợ, con.…
-Thầy cứ suy nghĩ cho kỹ. Đây, tôi tặng thầy cái này làm lưu niệm.
Nói xong y vỗ tay, lập tức từ trong bóng tối một tên Phun-rô còn trẻ, ăn mặc rách rưới bước ra đưa cho Y Đhen chiếc răng heo rừng cong vút. Y cầm lấy đặt vào bàn tay người y vừa gọi là thầy giáo:                                                                                                                                                           -Thầy cầm lấy, nó sẽ là bùa hộ mệnh cho thầy. Đoạn quay sang lão chủ thầu:
- Này ông chủ, có gì khao vui cho cuộc hội ngộ hôm nay chứ!
- Dạ có rượu chanh Hà Nội chính cống ạ.
- Được, mang ra đây.
Ông chủ thầu mây ôm ra năm chai rượu chanh loại 0.75 lít và một nắm cá nục khô xếp lên chiếc chiếu trải sát đống lửa.
- Mời tất cả cùng uống, chúc mừng cuộc gặp gỡ hôm nay.
Y Đhen nhắc chai rượu tu một hơi dài, rồi bất ngờ ngửa cổ hú một hồi. Lập tức từ trong rừng xuất hiện thêm sáu tên quần áo vá chằng vá đụp, giày dép rách nát, tay khư khư ôm súng tiến lại gần đống lửa.
- Xin giơi thiệu với các anh em, đây là đồng đội của tôi. Bạn bè cả, ta cùng uống với nhau cho vui.
Tội nghiệp chín người đàn bà, già có, trẻ có, ngồi dúm dó lại với nhau, trùm chung một tấm chăn chiên, mặt cúi gằm xuống đất, không dám ngửng lên.
Bọn lính được phép uống rượu, chúng tu ừng ực rồi sán lại mấy vị đàn ông quần áo còn tươm tất đề nghị kết nghĩa anh em. Nhìn họng súng đen ngòm ai cũng run sợ nên họ muốn gì mà chẳng được. Đã kết nghĩa anh em phải trao vật kỷ niệm cho thêm phần “thân thiết” với lý lẽ rất “tình cảm”, bọn lính Phun-rô cởi giày, dép, áo, quần rách rưới đổi cho đám người bất hạnh, lấy đồ mới mặc vào người.
Cuộc gặp mặt kéo dai hơn hai giờ đồng hồ, khi đã khật khừ, Y- Đhen mới đứng dậy bảo mọi người:
- Thôi, xin tạm biệt, hôm sau lại tới. Nhưng cấm không ai được nói chuyện hôm nay. Nếu không… hắn giơ tay cứa ngang cổ mình – đó là hình phạt của kẻ phản bội. Này thầy giáo, tạm biệt và suy nghĩ cho kỹ. Chúng tôi muốn sự tự nguyện của thầy. Không bắt ép.
Khi bọn lính bị màn đêm nuốt chửng, đám người mới òa ra những tiếng thở dài ngao ngán. Tất cả vây quanh người thầy giáo bất hạnh như chớ đợi phán quyết.
- Việc họ họ làm, việc ta ta làm. Khuya rồi, bà con đi nghỉ mai còn làm sớm. Ngày mai ta đi từng nhóm năm sáu người giúp đỡ lẫn nhau. Không việc gì phải sợ người ta cả.
- Ông giáo nói phải đấy! Ông chủ thầu đế thêm; bà con không phải lo gì, họ cũng là người cả thồi!
Mọi người lại tản ra xung quanh bếp lửa, tiếng rì rầm cứ luẩn quất mãi không ngừng. Ông chủ thầu mây kéo người đàn ông được gọi là thầy giáo lại bên chiếc lều duy nhất được che tạm bằng lá cọ, sàn lát cây rừng, có trải chiếc chiếu một. Tuy trông tạm bợ nhưng chắc chắn, chống lại được gió rừng và những hạt sương lạnh buốt. Thêm mấy cây củi cho bếp cháy to lên, ông chủ thầu bảo:
- Anh thông cảm, kiếm được miếng ăn cũng khổ lắm chứ  sướng gì đâu. Ở trong này phải đóng thuế cho Phun-rô bằng gạo, muối, quần áo; có thế họ mới để cho yên. Chứ không à, còn lâu mới đặt chân vào đây được, ấy là chưa kể phải có giấy vận chuyển... nói thế để anh hiểu cái nghề này nó cũng khốn nạn lắm. Anh hút thuốc!
- Cảm ơn bác. Thế Phun–rô có đông không mà khiếp vậy?
- Chắc khoảng trên dưới chục người thôi.
Ông ta lấy  khăn lau chiếc trán ngắn ngủn và khuôn mặt nung núc những thịt. Là một tay buôn lậu cà phê nổi tiếng liều lĩnh một thời, nay chuyển qua thầu song mây; nghe đâu nghề này phất lắm, một sợi song mây lời tới hai, ba chục ngàn đồng. Một xe chở 700 trăm sợi lời ba, bốn cây vàng; vì vậy ông ta phải bám vào rừng bằng mọi giá. Còn anh người thầy giáo bị buộc thôi việc, không nghề ngỗng gì, đành phải đi bứt song mây thuê kiếm sống qua ngày. Nhắp ngụm nước trà chát đắng, ngửa bàn tay phồng lên vì không quen cầm dao, kéo mây, anh khẽ thở dài, hỏi trống không.
- Làm sao bọn chúng lại biết tôi?
- Anh thông cảm, tại tôi cả thôi. Chúng thấy anh không có vẻ gì là người làm thuê, tôi cứ thật tình kể với họ về anh. Ngài Y Đhen có vẻ thích thú lắm. Ngài xem anh như một người hùng có thể hợp tác.
- Thế ông có nói tôi sinh ra và lớn lên tại Thanh Hóa không?
- Có chứ, tôi còn nói cả nhà anh đều làm giáo viên, bố anh trước làm quan cho Pháp nữa cơ. Chính vì vậy nên anh mới được tin cậy.
- Tại sao ông làm vậy?
- Cũng vì miêng ăn cả thôi. Nếu anh nhận lời với họ, họ sẽ tạo điều kiện cho tôi kinh doanh, nhất định tôi sẽ giúp đỡ chị và hai cháu ở nhà. Anh nghĩ xem. Thời buổi này…
-Thôi được, bác để tôi nghĩ đã. Xin phép bác.
-Ngủ lại đây với tôi.
-Khuya rồi, để tôi về ngủ với mấy người bạn kẻo họ chờ.
-Tùy anh.
Bầu trời đầy sao, những vì sao nhỏ bé li ti như những con mắt đang thấp thỏm nhìn anh. Bốn hòn núi cao sừng sững nghiêng bóng che kín cánh rừng… Từng đợt gió ào ào luồn qua đám cây lật mấy tấm ni lông bay phần phật. Phía xa xa, tiếng gà rừng nối nhau báo sáng.
Vân thập thững bước lại chiếc màn của mình định ghé lưng nằm xuống đống lá rừng chợp mắt.
-Anh về rồi à! Thanh lồm cồm ngồi dậy hỏi vọng ra.
-Ừ, sao các cậu không ngủ đi.
-Bọn em lo cho anh quá.
Thanh và Bá là hai thanh niên khỏe mạnh từ Ninh Bình vào đây tìm việc làm với mong muốn kiếm ít tiền làm vốn để học nghề gì đó. Thấy Vân là thầy giáo, không quen vất vả nên thương tình rủ làm chung, nhường cho việc kéo mây, bó song nhẹ nhàng hơn là phát cây, hay leo trèo tận ngọn cây cao chặt bớt gai để kéo dây xuống.
-Anh nằm vào giữa cho ấm. Bá bò ra ngoài nhường chỗ. Lớp lá xanh lót phía dưới gãy rào rào Vân ngả lưng xuống kéo Thanh cùng nằm.
-Bọn em lo cho anh quá. Hay mai anh trốn về, chứ ở đây lỡ bọn chúng bắt thì khổ. Bá ôm ngang lưng Vân thì thào.
-  Kệ nó, sức đâu mà lo, chúng nó sắp chết đói cả, lấy gạo đâu mà nuôi mình. Việc ta, ta làm. Thôi ngủ đi, mai còn dậy đi làm .
Một lát sau Vân đã ngáy đều đều. Bá chép miệng lẩm bẩm: “Người đâu vô tâm thế”!

*       *
*

Đêm. Mọi người hối hả ăn uống rồi chui vào mùng ngủ ngay; không ai dám ngồi la cà bên bếp lửa. Đống lửa được chất bằng những khúc cây Kơ nia to như đầu người cháy lên hừng hực. Ai cũng mong được một đêm yên thân. Xa xa tiếng chó sói trú lên từng hồi dài lạnh lẽo. Vân cùng Bá, Thanh nằm úp thìa, không ai nói với ai điều gì. Tất cả đều thao thức nhưng làm ra bộ ngủ  say. Bá và Thanh đều có chung tâm trạng lo sợ  Phun -rô hành hình, bắt cóc, lo cho tương lai không biết sẽ ra sao. Còn Vân, anh thao thức không biết có phải vì nhớ vợ con đang sống ngoài thị trấn kia, hay anh thao thức vì nỗi bất hạnh của cuộc đời mình. Một học sinh xuất sắc suốt  mười năm trời theo học  phổ thông, một thầy giáo được trò yêu, đồng nghiệp mến, một cán bộ quản lý giáo dục có năng lực, thế mà bỗng nhiên mất sạch vì những bài báo anh viết bị đài B.B.C xuyên tạc đưa lên làn sóng... và bị quy tội có dụng ý bôi nhọ chế độ. Cuộc đời sao oái oăm làm vậy. Nhưng Vân thao thức có thể còn một lẽ khác: bọn Phun-rô, chúng cần mình để làm gì? Có phải như chúng nói muốn đưa mình ra nước ngoài! Hay bọn chúng chuẩn bị rút qua Thái Lan huấn luyện? Hay đây chỉ là cạm bẫy thử mình?
- Này, thầy giáo dậy cho tôi nhờ chút.
Ông chủ thầu mây mò mẫm đến bên cạnh mùng giật giật, nói nhỏ.
-Có gì để mai, đêm hôm thế này không đi đâu cả. Tiếng Bá  quyết liệt.
-Có chuyện cần tôi mới nhờ, dậy đi.
Vân uể oải ngồi dậy đáp :
-Bác chờ tôi một chút .
-Anh khoác thêm cái áo của em cho đỡ lạnh. Thanh cởi áo đang mặc khóa lên người Vân nói thêm:  Anh yên tâm, hai đứa tôi ôm nhau ấm chán.
Vân lầm lũi bước về chòi ông chủ thầu, không hỏi gì thêm.
Bên cạnh đèn dầu, Y Đhen đang nhấm nháp ly rượu chanh  Hà Nội. Thấy Vân vào, hắn lịch sự giơ tay bắt.
-       Mời thầy ngồi  xuống  đây làm một ly.
-          Tôi uống kém lắm, chỉ một ly là đỏ từ đầu đến chân. Đi không nổi.
-          Thế thì thôi, hôm nay tôi có cái này bất ngờ dành cho thầy đây. Thầy đi theo sẽ rõ; ta đi.
Đêm tối mịt mù, đường núi lởm chởm đá, cách nhau hai mét nhìn không thấy gì ngoài cây rừng. Ánh đèn pin chỉ đủ soi một khoảng trống nhỏ nhoi. Vân thập thững bước theo được một đoạn ngã oạch, trán va vào cây rừng  đau điếng, nước mắt muốn ứa ra. Y Đhen  quay lại cười:
-Nhà báo dở quá, đường rộng thế này mà con ngã .
Có ai túm tay lôi Vân đứng lên; lúc này anh mới biết phía sau anh một quãng còn có mấy tên Phun-rô lặng lẽ bám theo. Chẳng lẽ chúng định giết anh? Không, nếu chúng muốn giết đâu cần phải bày trò thế này. Hay chúng cần gì ở anh? Loanh quanh gần hai giời đồng hồ  mới tới một chiếc lán dựng tạm, một mái, rộng khoảng chục mét vuông, nền  được lát bằng những cây lồ ô bổ đôi, ba phía che bằng mấy tầu dừa núi.
-Mời thầy giáo vào “nhà”.
Vân bước vào nhà và giật mình nhìn thấy người phụ nữ, hay đúng hơn một xác phụ nữ nằm sát vách. Ánh lửa leo lắt lúc sáng, lúc tối hắt lên khuôn mặt hốc hác, xanh xao, đượm vẽ sầu não.
-Thầy lại gần xem có quen người này không?
Vân bước lại gần, tháo loa đèn pin cho ánh sáng tỏa ra chung quanh, nhìn vào khuôn mặt chỉ còn da bọc xương, trên trán lòa xòa  mấy sợi tóc lưa thưa khe khẽ rung theo hơi lửa phả qua. Nguơi con gái mở mắt, hai giọt nước long lanh trào qua khóe mắt, môi mấp máy:
-Nai * Vân !
-Cô là ai, sao lại biết tôi?
Bàn tay nhăn nheo chỉ còn da bọc xương từ từ rút ra khỏi tấm mền giơ lên run rẩy nắm chặt tay Vân áp vào má mình, đôi môi mấp máy, thì thào:
-          H’Ren đây, thầy không nhận ra em sao?
-          Trời, H’Ren!
Vân kêu lên như không tin ở tai mình, mắt mình. Cô học trò nhí nhảnh, thông minh nhanh nhẹn, hay tìm cách trêu ghẹo thầy ngày trước đây sao? Vào cái tuổi mười lăm em như một nụ hoa đầy sức sống, thế mà giời đây…
-          Các bạn em ở đâu ?
-          Theo Yang ** cả rồi !
H’Ren nghẹn ngào, nước mắt chảy thành dòng nhỏ xuống sàn. Vân cũng thấy mọi vật chìm dần, chìm dần vào biển xương mù  dày đặc. Vân không khóc được, chỉ ngồi bất động nắm chặt tay H’Ren để mặc cho vị mặn chát chảy xuống miệng.
   -Nhà báo mềm yếu quá, như vậy không thể trở thành chiến binh được. Người lính phải xem thường cái chết, có thể mới giải phóng đất nước Đê-ga tươi đẹp này. Giới thiệu  với thầy giáo đây là bà Thiếu tá H’Ren quận trưởng  H. 6 một sĩ quan dũng cảm của chúng tôi. Bà ấy bị sốt rét quật ngã đấy.
-          Tại sao các ông không chạy chữa cho cô ấy.
-          Chính vì việc đó, tôi mới mời thầy đến đây. Thầy qua bên này.
Vân gỡ tay H’Ren đặt trả lại trong mền.
Bên kia bếp lửa, chai rượu chanh được bật nắp, bên cạnh đặt tàu lá chuối với mấy miếng thịt nai khô to bằng ngón chân cái, dài độ gang tay.
Y Đhen vui vẻ bảo:
-Mời thầy làm một hớp cho ấm bụng.
Nói là làm, Y nâng cả chai kê vào miệng tu một hơi dài, rồi đặt chai xuống sàn xé thịt nhai nhồm nhoàm, hất hàm bảo:
-Uống đi chứ!
Vân cũng cầm chai nhấp một ngụm nhỏ xong xé thịt nhấm nháp. Thịt nai hăng hăng mùi khói xen mùi thum thủm vì phơi không được nắng, xung quanh miếng thịt trứng ruồi đẻ trắng hếu.
-Nói thật với thầy – Đôi mắt Y Đhen lóe sáng chiếu thẳng vào mắt Vân.  Bọn tôi cái gì cũng thiếu thốn, nhất là thuốc men, lương thực và tư trang. Thầy có cách gì giúp được chúng tôi không?
Im lặng một lúc, Vân nói:
-Theo tôi, ngày mai các ông nhờ ông chủ thầu mây chở hẳn cho một xe lương thực và tư trang vào đây chắc là được.
             -Thầy nói nghe dễ nhỉ. Nếu bắt nó chở nhiều lỡ nó bỏ không vào, lại báo Công an thì nguy.
-Dễ thôi, ông báo với họ chở đồ vào, một mặt cho họ tự do khai thác song mây trong vùng, không ai làm khó dễ; một phần lấy quế, sừng nai phụ thêm một chút. Mặt khác dữ chủ thầu mây lại là yên tâm. Còn chở lương thực vào nhiêu giải thích dễ ợt: có nhiều người lấy song mây phải cần nhiều lương thực, quần áo, chăn màn... vậy thôi.
-Hay! Hay, thế mà tôi không nghĩ ra – Nhưng … e.
Cặp mắt hắn tối lại, nhìn chòng chọc vào Vân.
-Nếu bọn Công an biết, theo vào đây có phải ta tự sát không?
-Theo tôi, khi xe vào khu vực các ông kiểm soát, tăng thêm trạm quan sát và vào một điểm nhất định nào đó chặn xe lại kiểm tra rồi cho rẽ theo đường đến chỗ cất đồ dự trữ tạm thời, sau đó vận chuyển tiếp đến nơi an toàn cất giấu. 
-Được.
Nói dứt lời y lại vớ lấy chai rượu ngửa cổ làm một hơi dài.
-Thầy giỏi lắm, ở lại với chúng tôi chứ!
-Tôi không thể đi với các ông được vì tôi là người Kinh, còn vợ, còn con. Nhưng nếu cần gì cứ gọi tôi sẽ đến.
-Thế cũng tốt.
Vân bước  lại bên H’Ren, thấy mắt cô vẫn mở nhìn trân trân vào khoảng không. Đặt bàn tay lên chiếc trán nóng bỏng, Vân khẽ gọi:
- H’Ren! H’Ren!
H’Ren từ từ quay lại, đôi mắt ráo hoảnh nhìn sâu vào mắt Vân. Môi mấp máy  nói điều gì nghe không rõ. Nhúng chiếc khăn mùi xoa vào dòng nước rót từ trái bầu khô, Vân gấp lại đặt lên trán H’Ren, cô học trò bé bỏng ngày xưa đã cùng tám cô bạn gái bỏ lớp chạy vào rừng theo Phun –rô. Kết cục chỉ còn lại một người như thế này đây.
-          Thầy! – Tiếng H’Ren nghẹn ngào:  Hãy tha lỗi cho em!
Gỡ tay H’Ren, Vân vội vã quay đi như chạy …

*      *
*

Ngọn lửa bập bùng  soi rõ những khuôn mặt ngồi vây quanh. Họ ngả nghiêng bên những chiếc chai vứt chỏng chơ, tay huơ huơ những xiên thịt nai chưa kịp hơ qua lửa. Họ nhồm nhoàm nhai, nuốt, uống... như chưa từng được uống, chưa từng được ăn. Những khuôn mặt đen thui chỉ thấy hố mắt trũng sâu với xương gò má in nét lên da.
Chếnh choáng, Y Đhen xách chai rượu bước lại gần Vân:
-  Tất cả nghe đây, có ngày hôm nay là nhờ công của ông thầy giáo đây. Sư đoàn 272 chúng ta đã vững mạnh. Ngày mai sẽ cấp thêm quần áo, giày dép mỗi người một bộ. Lương thực dự trữ đủ dùng cho cả chục năm. Chúng ta sẽ thắng. Nào, xin chúc mừng, chúc mừng!
-H’Ren đâu? Vân hỏi.
-Bà thiếu tá H’Ren, người phụ nữ dũng cảm đã có công lao to lớn gây dựng phong trào. Sau này đất nước giải phóng chúng ta sẽ khắc tên vàng cho bà ta. Hôm nay vì con ma rừng đã chấm nên không thể giữ bà ấy lại được nữa. Tôi cho bà ấy đi theo Yàng rồi.
-Không, cô ấy còn có thể khỏe lại mà. Có thuốc sẻ khỏi thôi.
-Thuốc dành cho người khỏe. Ở đây chỉ có ra lệnh và chấp hành. Nào uống đi.
-Uống, uống!
Cả sư đoàn 272 chỉ có 14 người, mười bốn con người đói khát, bệnh tật sống chui lủi trong rừng, thỉnh thoảng mò ra các buôn gần rừng đánh lén cướp của, giết người, đốt nhà... tội ác chồng chất; người dân căm hận, không ai tiếp tế cho nữa. Vì thế chúng phải chui vào rừng sâu làm rẫy mong bảo toàn lực lưỡng. H’Ren, cô thiếu nữ 21 tuổi sau sáu năm chạy vào rừng không biết đã gây ra những tội ác gì cho người dân lương thiện trong vùng, lại bị chính đồng bọn thanh toán. Vân bất giác thở dài.
Phương đông ửng hồng, bữa liên hoan mừng chiến dịch hậu cần thắng lợi, ngoài một tên lính gác theo quy định, còn tất cả được uống thả dàn, uống đến say sưa, nôn mửa... uống đến lúc thịt da biến thành rượu mới thôi. Bao nhiêu năm mới có một bữa liên hoan vui vẻ thế này. Bọn lính nằm còng queo bên đống lửa đã lụi. Đứa ngã bên này, đứa ngã bên kia nhưng trước ngực luôn luôn có khẩu AR15, cái vật giết người đó như dính chặt vào chúng không thể rời ra. Vân lóp ngóp bò ra sau gốc cây cách xa đống lửa, vịn vào gốc cây đứng dậy, lần từng bước.
-Đứng lại!
Một tiếng thét vang lên từ ngọn cây trên đỉnh đầu Vân. Vân ngửa mặt nhìn lên trả lời:
-Vân đây! Sáng rồi, xuống làm chút cho ấm bụng. Mọi người say cả, chỉ có mày là đói thôi đấy. Thấy tên lính còn ngần ngừ. Vân tiếp :
-Không sợ chỉ huy la đâu, tôi nói cho.
Tên gác tụt xuống, đứng chưa vững đã bị giáng một đòn vào gáy, đổ xuống như cây chuối. Khẩu súng đeo sau lưng cướp cò nổ rung chuyển cả núi rừng. Bọn lính hoảng hốt chồm dậy, loạng choạng định lao vào rừng; nhưng những bóng áo xanh từ sau các gốc cây lao vào quật ngã chúng. Cái “sư đoàn 272” của bọn Phun-rô bị xóa sổ hoàn toàn. Tên Y Đhen trợn tròn mắt kinh ngạc nhìn viên Trung tá Công an chỉ huy trận đánh ôm chầm lấy người thầy giáo khi gặp lại, hắn bất giác thở dài, cúi đầu lầm lũi bước theo đồng bọn.
Hai tháng sau, khi mùa thu đến, tiếng trống trường vang lên đón học trò vào năm học mới, người ta lại thấy Vân – người thầy giáo đi hái mây ngày nào cắp cặp bước lên bục giảng giữa tiếng nói cười của các em học sinh người thiểu số vây quanh.

Chú thích:
Nai: tiếng Êđê gọi thầy giáo dạy học.

Yang: tiếng Êđê gọi trời.