Thứ Bảy, 9 tháng 6, 2018

NGƯỜI ĐÀN BÀ HÀNG CHÀI TRONG "CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA" CỦA NGUYỄN MINH CHÂU NHÌN TỪ THI PHÁP NHÂN VẬT lời bình của TRẦM THANH TUẤN - CHƯ YANG SIN SỐ: 308 - THÁNG 5 NĂM 2018

 



(Ngữ văn 12 – tập II)



Nhân vật văn học là kết quả của quá trình hư cấu sáng tạo của nhà văn. Nhà văn muốn thông qua nhân vật để gửi gắm những thông điệp của mình, hoặc những chiêm nghiệm trước cuộc sống. Vậy nên mỗi nhân vật mà nhà văn sản sinh ra không thể là hình chiếu một trăm phần trăm nguyên mẫu từ cuộc sống mà nó đều mang tính "quan niệm". Nhân vật bao giờ cũng hiện ra trong cách hình dung, cảm nhận của tác giả về những vấn đề nhân sinh trong cuộc sống. Nguyễn Minh Châu là một nhà văn lúc nào cũng trăn trở "tìm hạt ngọc ẩn sâu trong tâm hồn mỗi con người". Thế nên khi xây dựng nhân vật ông luôn có ý thức đặt nhân vật của mình lên bàn xoay để từ đó từng góc độ, từng khía cạnh của nhân vật tự bộc lộ. Người đàn bà hàng chài trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa là một nhân vật như thế.
Người đàn bà xuất hiện lần đầu tiên trong sự chứng kiến của Phùng, một nhiếp ảnh gia sau khi đã chứng một cảnh đắt trời cho. Nguyễn Minh Châu miêu tả “Người đàn bà trạc ngoài bốn mươi, một thân hình quen thuộc của đàn bà vùng biển, cao lớn với những đường nét thô kệch. Mụ rỗ mặt. Khuôn mặt mệt mỏi sau một đên thức trắng kéo lưới, tái ngắt và dường như đang buồn ngủ”. Đây là nhân vật tiêu biểu cho dạng “nhân vật tính cách – số phân”(1) trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu. Bằng một giọng văn lạnh lùng, tác giả đã bằng vài thông tin ngắn gọn mù mờ: người đàn bà ấy trạc bốn mươi, người miền biển, thân hình cao lớn thô kệch. Người đàn bà miền biển ấy lại được gọi bằng “thị, ả, mụ” thiếu thiện cảm.thế nên nhiều người khi đọc đến đây, họ lại muốn “phản biện” Nguyễn Minh Châu (2). Vì họ cho rằng nhà văn không nên gọi người đàn bà hàng chài như thế. Người đàn bà này không đáng “bị” gọi như vậy. Phàm những tài năng lớn thường vẫn vượt qua được cái khó của ngôn từ. Mà hi họ đã vượt qua được cái khó ấy thì ắt hẳn họ sẽ tiến tới làm chủ ngôn từ. Nam Cao vẫn gọi nhân vật của mình là mụ Lợi (Lang Rận) rồi lại còn “mụ béo trục, béo tròn, mặt mũi như tổ ong bầu, mắt trắng môi thâm”, Kim Lân gọi nhân vật là thị vốn là một cô “vợ nhặt”… mà ta có thấy những nhân vật ấy bị suy giảm phẩm chât nghệ thuật đâu. Ở đây, Nguyễn Minh Châu không hề có cái nhìn rẻ rúng nhân vật của mình. Người đàn bà không tên lại được gọi là “mụ” ấy, sẽ là một trong những mấu chốt tạo nên những tình huống “bừng tỉnh” trong Phùng và Đẩu sau này. Cái nhìn ban đầu càng thiếu thiện cảm thì phút giây “ngộ” của nhân vật càng có ý nghĩa, càng sâu sắc.
Trong những chi tiết đầu miêu tả nhân vật người đàn bà làng chài, tôi chú ý hơn đến chi tiết "Khuôn mặt mệt mỏi sau một đêm thức trắng kéo l­ưới, tái ngắt và dường như­ đang buồn ngủ". Đây là một chi tiết được tạo dựng để tác giả nhấn mạnh sức cam chịu của người đàn bà trước những đắng cay tủi hờn do người chồng vũ phu gây ra. Thông thường sau một đêm thức trắng, mệt mỏi và buồn ngủ sẽ khiến con người ta trở nên cáu gắt. Ấy thế mà người đàn vẫn chịu đựng những cơn cuồng nộ không có lí do của người chồng vũ phu trong trạng thái tâm lí ấy. Và cũng bắt đầu từ những chi tiết  này. Chiếc bàn xoay từ từ chuyển động, nhân vật bắt đầu hé lộ những phẩm chất đáng quý.
Khi đã cùng chồng vào bờ, người đàn bà làng chài ấy thừa biết chuyện gì sẽ sắp xảy ra với mình. Nguyễn Minh Châu đã tạo dựng một chi tiết giàu ý nghĩ: "Người đàn bà đứng lại, ngư­ớc mắt nhìn ra ngoài mặt phá nước chỗ chiếc thuyền đậu một thoáng, rồi đưa một cánh tay lên có lẽ định gãi hay sửa lại mái tóc nhưng rồi lại buông thõng xuống, đư­a cặp mắt nhìn xuống chân". Tại sao người đàn bàn ấy lại phải nhìn trở lại mặt phá nơi có chiếc thuyền của gia đình bà đang neo đậu. Phải chăng đó là cái nhìn để thêm một lần xác thực không có đứa con nào của bà trên chiếc thuyền ấy phải mục kích cảnh cha của chúng hành hạ mẹ chúng. Sau khi đã chắc chắn, lũ con sẽ không nhìn thấy người đàn bà ấy đã "sửa soạn" cho mình một tâm thế để hứng chịu trận đòn của ông chồng vũ phu. Bà đã phải chịu một trận đòn phủ phàng từ chiếc thắt lưng của người chồng độc dữ. Nhưng người đàn bà ấy vẫn "cam chịu đầy nhẫn nhục, không hề kêu một tiếng, không chống trả, cũng không tìm cách chạy trốn". Tuy nhiên bà không ngờ thằng Phác đã phát hiện và nó đã chạy sổ đến giật chiếc thắt lưng từ tay của cha mình. Hậu quả của tình trạng bạo lực trong gia đình cậu bé Phác là nỗi đau khổ nặng nề của người mẹ. Lúc này người mẹ khổ đau ấy không chỉ bị hành hạ về thể xác mà còn bị giày vò về tinh thần: "Miệng mếu máo gọi, người đàn bà ngồi xệp xuống trước mặt thằng bé, ôm chầm lấy nó rồi lại buông ra, chắp tay vái lấy vái để, rồi lại ôm chầm lấy. Thằng nhỏ cho đến lúc này vẫn chẳng hề hé răng, nh­ư một viên đạn bắn vào người đàn ông và bây giờ đang xuyên qua tâm hồn người đàn bà". Bà luôn nơm nớp lo sợ con cái bị tổn thương. Dù bà hết sức che chắn (xin chồng đừng đánh mình trên thuyền, trước mặt con cái) nhưng rồi những đứa con vẫn biết sự thật khiến bà "vừa đau đớn vừa vô cùng xấu hổ, nhục nhã". Đứa con - cậu bé Phác - vì yêu mẹ, thương mẹ mà thành căm ghét bố. Nó xông vào đánh bố để bảo vệ mẹ và như vậy niềm tin trong trẻo của tuổi thơ đã bị rạn vỡ. Trong những đứa con của bà có lẽ bà lo cho thằng Phác hơn cả. Trong sự nhạy cảm tuyệt vời của người mẹ, bà biết thằng Phác sẽ là đứa bị tổn thương nhiều nhất. Bởi vì trong tất cả những đứa con nó là đứa giống cha nhất. Thế nên không phải ngẫu nhiên mà bà đã để cho con lên ở với ông ngoại trên rừng vì chỉ có ở trên ấy thằng Phác mới được cách li hoàn toàn, thằng Phác mới giảm bớt những tổn thương tinh thần chính do cha nó tạo ra để sau này nó lớn lên một cách bình thường. Nó sẽ không đi lại đoạn đường mà cha nó đã đi. Chao ôi! Đằng sau cái xù xì ấy là cả một con người dạt dào yêu thương và thông tuệ.
Trong đoạn trên tòa án huyện, câu chuyện người đàn bà được lần giở từng trang. Mỗi trang đời của chị ta là một sự bừng ngộ thấm thía với Phùng và Đẩu. Bằng nghệ thuật phân tích tâm lí bậc thầy và một trái tim nhạy cảm trước nỗi đau của những mảnh đời bình dị trong cuộc sống, Nguyễn Minh Châu đã làm một cuộc phản biện quyết liệt để đánh đổ những định kiến của chính những nhân vật của mình và với cả cảm nhận ban đầu của người đọc.
Người đàn bà hàng chài không phải là con người chỉ biết cam chịu và nhẫn nhịn đến mức ngờ nghệch như Đầu và Phùng đã nghĩ mà ngược lại có thể nói đây là một người phụ nữ thông minh tinh tế.
Sự thông minh tinh tế có thể thấy được qua cách mà người đàn bà hàng chài đã chủ động thay đổi cách xưng hô từ "con"- quý tòa" sang "chị - các chú". Dưới góc nhìn ngôn ngữ có thể thấy người phụ nữ khốn khổ ấy đã khéo léo chuyển từ mối quan hệ thứ bậc (con - quý tòa) sang quan hệ thân sơ (chị - chú). Chính cách chuyển đổi như thế, người phụ nữ ấy đã buộc Phùng và Đẩu tiếp nhận câu chuyện của cuộc đời mình ở một vị thế khác. Chính vị thế ấy, người nghe mới có thể mở lòng hơn để chấp nhận câu chuyện mà bà sắp thuật lại. Như vậy đây chẳng phải là một điểm sáng đầu tiên đã phát lộ trong thế giới tâm hồn của người đàn bà hàng chài?
Trong quá trình giao tiếp, người phụ nữ đáng thương ấy lại tiếp tục khiến cho Phùng và Đẩu chuyển từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác khi bà bộc lộ sự tinh tế của mình trong quá trình giao tiếp: "Đây là chị nói thành thực, chị cám ơn các chú. Lòng các chú tốt, nhưng các chú đâu có phải là người làm ăn... cho nên các chú đâu có hiểu được cái việc của các người làm ăn lam lũ, khó nhọc...".
Khen người ta trước "lòng các chú tốt" rồi mới phê bình người ta "các chú đâu có hiểu được cái việc của các người làm ăn lam lũ, khó nhọc..." đấy chẳng phải là một "chiêu thức" hữu hiệu để bà có dịp chỉ cho Đẩu và Phùng thấy được những khuyết điểm của mình nhưng Phùng và Đẩu, những người trí thức, lại không thể phản ứng một cách mạnh mẽ vì bà đã chạm vào lòng tự ái của họ? Có thể nói đây chính là cách "phản đòn" khiến Phùng và Đẩu bất ngờ "cũng phải nói thật, những lời ấy, nhất là đấy lại là lời một người đàn bà khốn khổ, không phải dễ nghe đối với chúng tôi. Dầu mặt hãy còn trẻ, Đẩu cũng là một chánh án huyện. Còn tôi, một người đáng lẽ mụ phải biết ơn... Nhưng người đàn bà để lộ ra cái vẻ sắc sảo chỉ đến thế, chỉ vừa đủ để kích thích trí tò mò của chúng tôi".
Quả thật khi khuyên người đàn bà bỏ chồng: "Ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng. Cả nước không có một người chồng nào như hắn. Tôi chưa hỏi tội của hắn mà tôi chỉ muốn bảo ngay với chị: Chị không sống nổi với cái lão đàn ông vũ phu ấy đâu! Chị nghĩ thế nào?", Đẩu đã không đi sâu để tìm hiểu phận đời của những người đàn bà miền biển, trong đó có người đàn bà đang ngồi trước mặt anh. Cuộc đời của họ gắn chặt với con cái và phương tiện sinh nhai duy nhất của họ là con thuyền trên mặt biển đầy bất trắc. Và tất nhiên mỗi chiếc thuyền luôn luôn phải có một người đàn ông chèo chống. Bắt bà thôi chồng cũng đồng nghĩa với việc cắt đứt nguồn sống duy nhất để duy trì cuộc sống của một bầy con thơ "Mong các chú cách mạng thông cảm cho, đám đàn bà hàng chài ở thuyền chúng tôi cần phải có người đàn ông để chèo chống khi phong ba để cùng làm ăn nuôi nấng đặng một sắp con nhà nào cũng trên dưới chục đứa". Tôi đã thật thú vị khi liên kết chi tiết này với một chi tiết khác trong truyện "Viên chánh án huyện rời chiếc bàn xếp đến phát ngốt lên những chồng hồ sơ, giấy má. Đẩu đi đi lại lại trong phòng, hai tay thọc sâu vào hai bên túi chiếc quần quân phục đã cũ. Một cái gì vừa mới vỡ ra trong đầu vị Bao Công của cái phố huyện vùng biển, lúc này trông Đẩu rất nghiêm nghị và đầy suy nghĩ". Tôi băn khoăn mãi với những suy nghĩ vẫn vơ: Phải chăng sự nhiệt huyết kia của anh chánh án Đẩu chỉ đang dừng lại ở những hiểu biết thủ tục giấy tờ? Và đây cũng chính là điều mà Nguyễn Minh Châu âm thầm gửi gắm vào đứa con tinh thần của mình?
Với Phùng, chính câu chuyện của người đàn bà cũng phần nào giúp anh nhìn lại chính mình. Trong anh vẫn tồn tại quan niệm: những người bên kia giới tuyến đều là những người ác, người xấu. Phùng hỏi người đàn bà một câu như lạc đề: "Lão ta trước hồi bảy nhăm có đi lính ngụy không?". Có lẽ nguyên nhân khiến Phùng hỏi câu này chính là sợi dây thắt lưng của lính ngụy mà lão đàn ông đã dùng để đánh đập vợ. Một chi tiết nhỏ nhưng hàm chứa ở đó một tinh thần phản biện quyết liệt của nhà văn Nguyễn Minh Châu.
Như vậy đã rõ, nhân vật người đàn bà hàng chài trong phân đoạn này được tác giả Nguyễn Minh Châu tạo dựng nhằm mục đích soi sáng tính cách của nhân vật Đẩu và Phùng.

Tôi vẫn thích thú khi qua mỗi dòng mỗi chữ trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu, tôi đã có dịp nhìn sâu hơn vào "hạt ngọc ẩn sâu trong tâm hồn mỗi con người " bị che khuất bởi những lấm láp của cuộc đời. Tâm hồn của người đàn bà là hạt ngọc như thế. Bà là một người phụ nữ đầy bao dung và thấu hiểu lẽ đời. Chao ôi! Để thấu thị được lẽ huyền diệu của cuộc đời đâu phải là việc dễ dàng gì đối với con người trong cuộc sống đầy biến động. Ấy thế mà một người đàn bà vùng biển "thô kệch", "xấu xí" quê kiểng đã thể hiện sự thấu hiểu lẽ đời của mình bằng những cách lí giải dung dị khi đề cập đến sự tha hóa tính cách của lão chồng: "Lão chồng tôi khi ấy là một anh con trai cục tính nhưng hiền lành lắm, không bao giờ đánh đập tôi". Bà hiểu được nguyên nhân của sự tha hóa ấy. Bằng tấm lòng bao dung cam chịu bà tự nhận tất cả trách nhiệm ấy lên mình: "Giá tôi đẻ ít đi, hoặc chúng tôi sắm được một chiếc thuyền rộng hơn", "nhưng cái lỗi chính là đám đàn bà ở thuyền đẻ nhiều quá, mà thuyền lại chật". Bà đang chiêu tuyết cho chồng mình, đang cố gắng để Đẩu và Phùng thấy nguyên nhân chính của việc tha hóa ở người chồng là cuộc sống đói khổ thiếu thốn, áp lực về nhu cầu áo cơm của một gia đình đông con khiến con người ta biến chất trở thành tàn bạo. Đây có thể xem là một ẩn ý, một tiếng nói hiện thực, một lời cảnh tỉnh của Nguyễn Minh Châu?
Hơn thế nữa tiếng nói ấy càng trở nên quyết liệt hơn khi Nguyễn Minh Châu xây dựng chi tiết: thằng Phác vì để bảo vệ mẹ mà đã hai lần phản kháng lại cha. Nhưng nguy hiểm hơn cả là lần thứ hai thằng Phác đã dùng con dao găm để bảo vệ mẹ nó trước những đòn roi tàn nhẫn của người cha. May mà cô chị gái tước đoạt con dao găm mà đứa em trai định dùng làm vũ khí để bảo vệ người mẹ đáng thương. Tội ác đã không xảy ra nhưng nguy cơ tha hóa trong tâm hồn non nớt của Phác vẫn đang hiện hữu, và chính những vết sẹo tâm hồn này sẽ đẩy thằng Phác đến những bi kịch khác trong tương lai.
Tôi vẫn khâm phục người đàn bà hàng chài khi bà thể hiện quan niệm của mình về hạnh phúc. Câu hỏi hạnh phúc là gì? Luôn là câu hỏi lớn trong cuộc đời của mỗi con người. Bà quan niệm hạnh phúc khi được nhìn thấy các con ăn no, gia đình quây quần bên mâm cơm "ở trên chiếc thuyền cũng có lúc vợ chồng con cái chúng tôi sống hoà thuận, vui vẻ", "vui nhất là lúc ngồi nhìn đàn con tôi chúng nó được ăn no...". Bà biết chắt lọc những hạnh phúc nhỏ bé trong cuộc sống để làm điểm tựa giúp bà vượt qua những khổ đau của cuộc đời.
Chính cuộc đời của người đàn bà hàng chài đã làm thay đổi sâu sắc quan niệm về cách nhìn nhận đánh giá con người cũng như quan niệm về nghệ thuật của nhiếp ảnh gia Phùng. Chi tiết cuối tác phẩm, chi tiết về "tấm ảnh trong bộ lịch năm ấy" là một chi tiết thể hiện sự thức ngộ của người nghệ sĩ về mối quan hệ giữa nghệ thuật và hiện thực đời sống "Không những trong bộ lịch năm ấy mà mãi mãi về sau, tấm ảnh chụp của tôi vẫn còn được treo ở nhiều nơi, nhất là trong các gia đình sành nghệ thuật. Quái lạ, tuy là ảnh đen trắng nhưng mỗi lần ngắm kĩ, tôi vẫn thấy hiện lên cái màu hồng hồng của ánh sương mai lúc bấy giờ tôi nhìn thấy từ bãi xe tăng hỏng, và nếu nhìn lâu hơn, bao giờ tôi cũng thấy người đàn bà ấy đang bước ra khỏi tấm ảnh, đó là một người đàn bà vùng biển cao lớn với những đường nét thô kệch, tấm lưng áo bạc phếch có miếng vá, nửa thân dưới ướt sũng, khuôn mặt rỗ đã nhợt trắng vì kéo lưới suốt đêm. Mụ bước những bước chậm rãi, bàn chân giậm trên mặt đất chắc chắn, hoà lẫn trong đám đông..." . Nghệ thuật chân chính phải bắt thật sâu vào đời sống của con người. Nghệ thuật chân chính là thứ nghệ thuật vì con người. Nhiệm vụ thiêng liêng của nghệ thuật là đi sâu vào khám phá đời sống chân thực trong  tâm hồn của mỗi con người.
Như vậy có thể nói qua từng ấy những con người trong câu chuyện của người đàn bà hàng chài, từng ấy những quan niệm mà bà đã ấp ủ, người mẹ miền biển lam lũ khó nhọc  đã "tự nhiên" cãi "trắng án" cho mình.
Và vì thế mà sẽ không quá lời khi tôi nghĩ rằng: Người đàn bà không tên của Nguyễn Minh châu sẽ tiếp bước những người đàn bà vô danh khác trong văn học nước nhà để trở thành những người đàn bà nổi danh trong văn học Việt Nam.


Chú thích
([1]) Tôn Phương Lan – Phong cách nghệ thuật Nguyễn Minh Châu – NXB KHXH - 2002
([1]) Trên Văn học và tuổi trẻ số tháng 4 (185) 2009 đã đăng tải tả nhiều ý kiến xung quanh một bài viết "Có phải Nguyễn Minh Châu lỡ lời không?" đã được đăng ở Văn học và tuổi trẻ số tháng 2 (185) 2009, trong đó có ý kiến của Trần Quang Đại xem đây là "một chi tiết lỗi".




Thứ Tư, 6 tháng 6, 2018

MÁU TIM ANH ĐÃ NHUỘM HỒNG SẮC NẮNG lời bình của LÊ THÀNH VĂN - CHƯ YANG SIN SỐ: 308 - THÁNG 5 NĂM 2018

Nhà thơ Phạm Doanh

Sổ tay Thơ:

MỘT NGÀY KHÔNG CHIẾN TRANH

Một ngày không chiến tranh
Khí tượng báo một ngày trong trẻo lắm
Cha đi bừa đồng sâu
Mẹ và chị hái dâu
Em ủ mạ cho mùa gieo thẳng...
Trời xanh, xanh bất tận
Đâu đẹp bằng quê anh?

Một ngày không chiến tranh
Người ta yêu đương và sinh nở
Người ta gieo hạt và hái quả
Người ta tham thú làm giàu
Người ta phô trương của nả
Người ta ve vuốt nhau...

Người ta nào biết đâu
Nơi rừng khộp khô cằn biên giới
Anh đang phải leo đèo lội suối
Mật phục tuần tra
Ghì khẩu súng trong tay với cơn sốt rừng già
Người ta nào biết đâu
Chốn biên thùy hoang dã
Những viên đạn hận thù còn ẩn trong kẽ lá
Hướng theo anh như vắt hướng theo người

Và sáng nay lá đỏ vòm trời
Chim gõ kiến báo ngày trong trẻo lắm
Sao bỗng nhiên từ một phía đồi
Tiếng ác điểu lại rít lên thù hận
Để phía lưng mình cuộc sống cứ yên vui
Anh đã lấy ngực mình che chắn...

Và máu tim anh đã nhuộm hồng sắc nắng
Một ngày không chiến tranh.
                                                                        PHẠM DOANH
LỜI BÌNH:


Viết về đề tài thương binh - liệt sĩ, văn học cách mạng Việt Nam từ sau 1945 đến nay tập trung phản ánh khá nhiều. Riêng mảng thơ ca, con số thi phẩm phải lên đến hàng ngàn bài, xuất hiện ở nhiều vùng miền, địa phương khác nhau và cũng được nhiều thế hệ tác giả lắng lòng thể hiện nỗi niềm cảm xúc trước những hi sinh, mất mát của biết bao nhiêu người con anh dũng. Nhưng cũng phải thú thật rằng, càng lùi về sau những cuộc chiến tranh chống ngoại xâm của đất nước, nhất là hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, cảm hứng sáng tạo về đề tài này dường như cũng vơi giảm dần, nhường chỗ cho các vấn đề thế sự, nỗi đau phận người giữa chênh chao cuộc sống thường ngày trong giai đoạn hội nhập mới của đất nước. Những buồn vui, được mất lắng nhịp trong từng cá - thể - người với sự khám phá vô cùng tận đang là mảnh đất giàu sức sáng tạo cho thi ca suốt mấy chục năm qua. Vì thế, cảm hứng về mối quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng ít nhiều phai nhạt. May thay, giữa nhiều bài thơ không được dành nhiều năng lượng sáng tạo ấy, trong mảng thơ của một tỉnh vùng cao nguyên như Đak Lak, tôi đã bắt gặp một thi phẩm viết ra giữa cuộc sống thời bình mà nhuộm máu hi sinh bằng một cảm xúc chân thành và một kỹ thuật thơ nhuần nhuyễn. Một ngày không chiến tranh đã gieo vào hồn độc giả một tiếng lòng oán thán, một nỗi niềm xót xa và thương cảm cho người lính nằm xuống nơi mảnh đất biên cương, đem lại hòa bình cho hàng triệu người dân yêu quý.
Như đã nói, bài thơ bộc lộ chân thành về mặt cảm xúc khi diễn tả được sự hi sinh của một người lính trong thời bình. Theo thời điểm sáng tác năm 1994 của tác phẩm, nghĩa là đất nước đã bước sang một giai đoạn hòa bình khá lâu rồi, vậy mà máu vẫn đổ xuống. Bằng cách mở đầu thật nhẹ nhàng nhưng đầy ý tứ, Phạm Doanh đã luyến láy lại cụm từ "một ngày" như một điệp khúc nhằm khẳng định cái phi lý, cái không thể tin được, cái làm cho mọi người phải bất ngờ, thảng thốt: "Một ngày không chiến tranh/ Khí tượng báo một ngày trong trẻo lắm". Vâng! Một ngày rất đẹp và thanh bình, những tưởng không có gì phải lo âu, sợ hãi. Lời thơ tự sự mà chứa bao triết lý về đời sống nhân sinh. Gia đình anh, gia đình người lính ấy, vẫn như bao mái nhà đang bình yên kia, mỗi người mỗi công việc trong không gian sinh tồn vốn dĩ quen thuộc với mình:
Cha đi bừa đồng sâu
Mẹ và chị hái dâu
Em ủ mạ cho mùa gieo thẳng...
Song, chưa dừng lại ở đó, như một nhà thiết kế sân khấu có tài dựng cảnh, nhà thơ Phạm Doanh điểm xuyết thêm trên cái nền không gian của quê hương người lính với vẻ đẹp của bầu trời xanh bất tận, một vẻ đẹp bình thường, đơn sơ nhằm để khắc sâu thêm sự bình yên từ cảnh vật đến con người:
Trời xanh, xanh bất tận
Đâu đẹp bằng quê anh?
Một câu hỏi tu từ thật hay, hỏi nhưng là để khẳng định cái vẻ đẹp bình yên của quê hương bản quán người lính. Nào đã có điều gì chẳng lành dự báo trước về sự bất trắc mà người lính phải đón nhận sau này đâu! Chính trên cái nền của cảnh vật thanh bình, tươi đẹp và cuộc sống con người lao động hiền hòa nơi mảnh đất quê hương, nhà thơ đã chuẩn bị cho một "kíp nổ" bắt đầu. Tứ thơ độc đáo, sự òa vỡ cảm xúc và tác động đến người đọc cũng nằm ở chỗ đó.
Tiếp mạch cảm xúc tạo nên về một không gian thanh bình, yên ả, vẫn cách lặp lại cấu trúc thơ như khắc, như chạm vào hồn người đọc, một lần nữa Phạm Doanh nâng cái bình yên lên đến đỉnh điểm của "một ngày không chiến tranh". Giữa không gian bình yên sự sống kia, tất cả mọi người hướng theo khát vọng của chính mình: yêu đương và sinh nở, gieo hạt và hái quả, tham thú làm giàu, phô trương của nả...Tất nhiên khi liệt kê một chuỗi hành vi của ngươi đời, ít nhiều tác giả cũng bộc lộ những dằn vặt, những suy tư, đồng tình cũng có mà chua chát cũng nhiều. Vấn đề cốt lõi mà nhà thơ muốn hướng đến chính là sự hi sinh thầm lặng của người lính biên phòng kia. Để có được cuộc sống bình yên nơi hậu phương ấy, giữa nơi rừng khộp biên giới khắc nghiệt, người lính biên phòng phải đối diện với gian lao, vất vả, phải "mật phục điều tra/ ghì khẩu súng trong tay với cơn sốt rừng già". Nguy hiểm hơn, đau đớn hơn khi "những viên đạn hận thù còn ẩn trong kẽ lá/ hướng theo anh như vắt hướng theo người" giữa một ngày tưởng chừng như bình yên, không có chiến tranh:
Người ta nào biết đâu
Nơi rừng khộp khô cằn biên giới
Anh đang phải leo đèo lội suối
Mật phục tuần tra
Ghì khẩu súng trong tay với cơn sốt rừng già
Người ta nào biết đâu
Chốn biên thùy hoang dã
Những viên đạn hận thù còn ẩn trong kẽ lá
Hướng theo anh như vắt hướng theo người
Chưa dừng lại ở đó, một lần nữa, để đẩy lên cao trào của bi kịch đau thương, nhà thơ đã lặp lại vẻ đẹp thanh bình của một ngày trong trẻo lắm. Người đọc như đang trôi trong một không gian của vòm trời lá đỏ, bỗng kinh hoàng và giật mình nghe tiếng "ác điểu rít lên thù hận" khi người lính đã lấy ngực mình che chở cho hậu phương có được cuộc sống yên bình, hạnh phúc. Và anh ngã xuống: "máu tim anh đã nhuộm hồng sắc nắng" giữa một ngày không có chiến tranh. Câu thơ đẹp với hình tượng đầy bi tráng, đầy chất thơ. Chính cách viết gợi cảm của tác giả đã phần nào làm giảm bớt nỗi đau thương, mất mát về những hi sinh mà hình tượng người lính biên phòng cũng là nguyên mẫu từ liệt sĩ Trần Văn Tài thể hiện trong bài thơ.
Bằng một hình mẫu có thật ngoài đời, một cảm xúc chân thành kết hợp với một bút pháp nhuần nhuyễn từ nhiều thủ pháp nghệ thuật khác nhau, Một ngày không chiến tranh của nhà thơ Phạm Doanh thật sự đã để lại nhiều ấn tượng đối với người đọc về những chiến công và hi sinh thầm lặng của người lính biên phòng trong cuộc sống hiện nay, góp phần giữ vững bình yên cho đất nước, cho cuộc sống của mỗi người dân đất Việt.




Thứ Ba, 5 tháng 6, 2018

BỌ ĂN MÀY truyện ngắn của Hồng Chiến - báo VĂN NGHỆ SỐ: 22 ngày 2 tháng 6 năm 2018




          

Chiều nay cả xóm Bùn trú ngụ dưới đáy ao bỗng ồn ào cả lên vì câu chuyện của cô Ốc Nhồi. Thôi thì thiên hạ ngồi đâu cũng thấy bàn tán rôm rả về cái tin: phía trên mặt nước còn có trời xanh cao và rộng lắm, có ông mặt trời sưởi ấm muôn loài, mặt đất không có nước, trên ấy còn có cả mây bay không cần đuôi và vây... Lạ thế ai mà tin được.
Từ khi nhận biết mọi vật xung quanh, bà Hến suốt ngày cắm mặt vào khối bùn đáy ao để mưu sinh, thân hình giống như hai chiếc quạt giấy xòe ra úp vào nhau to hơn móng tay cái một chút, màu xanh đen. Khi nghe cô Ốc Nhồi kể chuyện phía trên nước có mây bay lượn không cần vây, đuôi như lũ cá làm cả nhà bà Hến bò lăn ra cười. Bà Hến bảo:
-Cô Ốc Nhồi giống như hòn đá đen, không chân, không đuôi, không vảy; suốt ngày úp mặt xuống bùn, lê đi từng tý một thì làm sao bơi lội được như cá mà khoe vượt lên trên cả mặt nước để thấy… trời? Trời là gì nhỉ, nó có giống nước không? Chuyện hoang đường.
-Bà Hến nói phải lắm!
Bà Ngao ở bên cạnh tán đồng. Không viết bà Ngao bao nhiêu tuổi nhưng thân hình to lớn lắm, lớn gấp cả trăm lần bà Hến. Bà Ngao nhìn bên ngoài gần giống hình quả bàng khổng lồ bị bổ đôi rơi xuống ao, chỉ khác cái áo giáp bao bọc quanh thân màu vàng nhạt có vân óng ánh màu ngọc trai. Bà Ngao quanh năm lặn ngụp dưới bùn giống như bà Hến, chưa bao giờ cất mình lên khỏi đám bùn nên đồng tình với bà Hến cũng là chuyện đương nhiên rồi.
Nhìn các loài cá bơi lượn, cư dân định cư dưới đáy ao kết luận: muốn bơi được trong nước phải có vây và đuôi. Loài nào không có những thứ ấy sẽ không thể cất mình lên khỏi mặt bùn. Cư dân xóm Bùn dưới đáy ao ngoài gia đình ốc, hến, ngao còn có bọ ăn mày. Bọ ăn mày thân hình chỉ lớn hơn đầu đũa một chút, có sáu chân, thân không có vỏ bọc ngoài cứng như ốc, hến; cũng không có vảy như cá mà khoác chiếc áo màu đất, có nhiều khớp nối nhìn gần giống như áo của tôm tép. Đầu và ngực bọ ăn mày nhỏ bằng một phần năm bụng. Nhìn bụng bọ ăn mày trông phát sợ, vừa to, vừa dài giống như cái váy cũ của một bà già. Trên lưng bọ cũng có một đôi cánh nhỏ xíu, nghe đâu đó là di truyền của cha mẹ để lại, chứ bọ ta chưa bao giờ gặp họ cả. Anh em nhà bọ giống như đám trẻ mồ côi, quanh năm kiếm ăn nơi đáy ao, an phận với cuộc sống thường ngày. Có lẽ do bề ngoài xấu xí nên người ta đặt tên cho bọ là Ăn Mày. Hôm nay nghe cái tin sốt dẻo nói về trời, về mây… lạ quá cứ tròn mắt ra mà ngạc nhiên. Một con bọ lớn nhất đám, mon men đến gần cô Ốc Nhồi, hỏi:
-Có thật trên nước còn có trời, có mây không?
-Đúng vậy thật đấy.
-Có đẹp không?
-Đẹp lắm và đặc biệt còn có cả gió nữa, những cơn gió thật tuyệt vời.
-Gió như thế nào, có lớn hơn cụ cá Chép hay qua đây không?
Cô Ốc Nhồi cười nghiêng ngả, cười đến mức bắn cả bùn dưới mặt lên vỏ, một lúc sau mới trả lời:
-Gió á, to hơn cả cái ao này, gần bằng trời ấy chứ; nhưng ta chỉ cảm nhận được thôi, còn thấy thì chưa.
-Sao lạ thế, không thấy mà chỉ cảm nhận được thôi à?
-Ừ, muốn biết hãy lên đó một chuyến cho biết.
-Đường đi có xa không, có khó lắm không ạ?
-Cô không có chân còn đi được, cháu có hẳn sáu cái tay chân thế kia mà lại sợ khó khăn gian khổ thì làm sao thoát khỏi mặt bùn, mở tầm mắt với thiên hạ?  
Nghe cô Ốc Nhồi nói vậy, bọ Ăn Mày hình như mắc cỡ, đôi mắt to quá cỡ, lồi ra trên đỉnh đầu cũng đỏ lên thì phải, ấp úng hỏi:
-Cô đi đường nào để lên được trời?
-Không phải lên trời mà lên khỏi mặt nước để nhìn thấy trời. Cháu có thấy cái cây chỗ kia không? Đấy cứ theo cây ấy mà đi, đi mãi sẽ hết nước và thấy trời, mây bay và những điều lý thú phía trên ấy.
Nghe vậy, bọ ta mừng lắm, quyết về từ biệt đám bạn để đi thám hiểm bầu trời. Đám bọ ăn mày con thì khen có chí, có con lại chê dở hơi, tự nhiên đi tìm cái cực vào thân, không may còn mất mạng ấy chứ. Một con tép đi ngang qua còn dèm pha:
-Đúng là lũ ngốc, cô Ốc Nhồi phải liều mình bám cọc leo lên trên ấy để đẻ trứng, nhờ ông mặt trời ấp hộ mới nở thành con; còn đám bọ các cậu á, đi khỏi mặt bùn chỉ làm mồi cho lão cá Chuối, cá Trê thôi.
Cả đám bọ nghe Tép nói đều dựng cả râu lên, tỏ vẻ khiếp sợ lắm. Bọ Ăn Mày lớn không những không sợ mà còn tăng thêm tò mò muốn khám phá bầu trời nên quyết chí ra đi.
*
**
Hôm sau, bọ Ăn Mày lớn từ biệt lũ bạn và cư dân xóm Bùn bò đến gốc cây tre hôm qua cô Ốc Nhồi chỉ, bắt đầu cuộc hành trình. Cây cọc tre được cắm xuống mặt ao để báo mực nước, trên thân cây sơn đen, đỏ cách quãng và ghi các con số. Bọ ta cứ bám cây leo lên, càng lên cao, mặt nước hình như càng ấm hơn và có nhiều loài cá bơi lượn xung quanh. Một đàn cá mương thân chỉ lớn bằng ngón tay út, vảy màu trắng, sáng lấp lánh bơi ngang qua chợt reo lên:
-A, bọ Ăn Mày tập leo cây kìa.
-Chắc bọ đi du lịch đấy. – Một con khác trả lời.
-Không phải đâu, bọ ăn mày đi tìm ba má đấy.
Một cụ cá chép to đùng, to đến nỗi vảy của cụ to hơn cả bà Hến xóm Bùn, vừa bơi ngang qua cũng dừng lại góp chuyện. Một con cá mương ngạc nhiên hỏi lại:
-Cụ ơi, thế con bọ Ăn Mày này bị lạc đường à?
-Không phải vậy đâu. Ba má bọ ăn mày sống trên mặt nước, nhưng khi sinh nở lại gửi trứng xuống nước, nhờ nước ấp hộ, đủ ngày tháng nở ra bọ ăn mày. Bọ ăn mày khi trưởng thành phải tìm đường bò lên khỏi mặt nước, phơi khô bộ áo quần xấu xí để lột xác thành con chuồn chuồn xinh đẹp.
Nghe cá chép nói thế, bọ Ăn Mày cũng ngạc nhiên không kém, vội hỏi:
-Lúc nào cháu lột xác được ạ?
-Khi nào cháu leo lên khỏi mặt nước một chút để ông mặt trời hong khô quần áo đang mặc, cháu sẽ bỏ lại bộ đồ cũ, mặc bộ đồ mới có thêm đôi cánh để bay lượn trong không gian. Khi ấy thỏa thích ngắm cảnh đẹp trên mặt đất không có nước như ở đây và sẽ gặp gia đình cháu trên ấy.
-Thật vậy à cụ?
Bọ Ăn Mày hớn hở hỏi lại, cụ Cá Chép gật đầu rồi khẽ cong đuôi, vẫy nhẹ, cả thân hình to lớn lao vút về phía trước. Đám cá Mương gần trăm con bơi vòng quang con bọ Ăn Mày cổ vũ, động viên. Vùng nước sáng dần lên, cảnh vật cũng nhìn thấy được xa hơn, hình như đã sắp lên khỏi mặt nước.
- Chuối đấy, chạy đi!
Bỗng một con cá Mương hét lên, cả bầy cá Mương cuống cuồng chạy trốn. Bọ Ăn Mày nhìn lại phía sau đã thấy một con cá khổng lồ, đầu tròn lẳn như bắp chân người, há miệng nhe ra đầy những răng trắng nhọn hoắt đang lao như tên bắn về thẳng phía mình. Nó bủn rủn tay chân, suýt tuột chân ngã nhào xuống nước thành mồi cho con quái vật ăn thịt. Bản năng sinh tồn trỗi dậy, trong khoảng khắc giữa cái sống và cái chết hết sức mong manh, bọ Ăn Mày vội vã bò qua phía bên kia, ẩn mình sau cây, cũng vừa lúc lão cá Chuối lao đến, ngoạm một cái thật mạnh vào cây tre, để lại hai đường xước dài. Đớp hụt mồi, mắt lão Chuối đỏ ngầu lên, bơi vòng ra xa rồi quay lại nhìn, thấy bọ Ăn Mày đang núp phía đối diện liền há mồm đỏ lòm lao thẳng đến định nuốt sống. Bọ Ăn Mày theo bài cũ, vội chạy qua phía đối diện để tránh thì phát hiện ra một con cá Trê đen thui, mình không một cái vảy, đầu bẹp lép; có một chùm râu mọc từ hai bên mép và bốn cái dưới cằm, nhìn giống một cụm rễ cây, cũng há mồm nhe răng lao đến.
Bọ Ăn Mày thoáng nghĩ: thôi thế là hết, hết được gặp gia đình, dòng họ đang bay lượn trong không trung; hết được thấy mặt trời và mây bay không đuôi… Nhưng rồi bản năng sinh tồn trỗi dậy, bọ Ăn Mày lại bám cây xoay ngang. Hai con cá dữ đớp hụt mồi liền quay lại tấn công nhau. Con cá Chuối tức giận vì nghĩ con cá Trê cướp mồi của mình nên húc một cái thật mạnh vào bụng cá Trê. Cá Trê cũng không phải tay vừa, tung ngay một một cú đánh chí mạng bằng cái ngạnh dài nhọn hoắt mọc nơi mang tai, làm bay hẳn một chiếc vảy của cá Chuối. Tranh thủ hai kẻ thù bận choảng nhau, bọ Ăn Mày vội vã leo tuốt lên cây, ra khỏi mặt nước và thích thú reo lên:
-Trời là đây sao?
Chênh chếch về phía tây, ông mặt trời tròn như chiếc đĩa, bốc cháy dữ dội. Sau lưng ông mặt trời, bầu trời xanh lơ hiền hòa, thân thiện hiện ra. Thỉnh thoảng những đám mây trắng bồng bềnh bơi qua. Bọ Ăn Mày chợt nghĩ: lũ mây lạ quá, chẳng ra hình thù gì cả và cũng không có vây, không có đuôi, thế mà vẫn bơi được, bơi nhanh hơn cả cụ cá Chép dưới ao, tại sao thế? Gần nơi đầu cây tre, một đám trứng màu hồng nhạt của cô Ốc Nhồi chắc phải hơn trăm quả tròn như hòn bi con dính vào nhau, bám chặt vào cây. Bọ Ăn Mày bò qua đám trứng ốc để lên  đỉnh cây tre, nhìn ngắm trời được rõ hơn.
“Ào!” Nghe tiếng động dưới mặt nước, bọ Ăn Mày nhìn xuống thì… cái miệng lởm chởm đầy răng nhọn của lão cá Chuối há to hết cỡ, rời khỏi mặt nước nhằm bọ Ăn Mày bay đến. Trời, lên đến đây rồi mà vẫn còn bị truy sát sao, bọ Ăn Mày đau đớn kêu lên vì không kịp lẩn trốn nữa, nhắm mắt cam chịu...  “Tùm!” Tiếng rơi của cả thân hình to lớn của lão cá Chuối xuống mặt nước tạo nên tiếng vang lớn, nước bắn tung tóe; có hạt văng trúng vào mặt Ăn Mày. May quá, chắc là Ăn Mày đã leo lên cao quá tầm với nên lão cá Chuối không nhảy tới, hú vía.
*
**
Leo đến đỉnh cây tre, bọ Ăn Mày sung sướng nhìn ngắm mây, trời rộng mênh mông và lạ hơn, trên mặt đất không có nước, mà có nhiều loài cây, to nhỏ khác nhau cùng sinh sống. Lạ hơn nữa, bộ áo giáp thân đốt mang theo trên mình từ thuở lọt lòng hình như đang nhẹ dần, nhẹ dần rồi vỡ ra. Từ trong lốt một con bọ Ăn Mày xấu xí, rũ bỏ bộ cánh cũ, bỗng hiện lên một thân hình hoàn toàn khác, màu đỏ tươi có đôi cánh mỏng tanh. Một cơn gió thoảng qua và hình như có tiếng reo vang lên:
-A, một con chuồn chuồn!
-Ai nói đấy?
Bọ Ăn Mày vẫy vẫy cánh, ngạc nhiên cất tiếng hỏi. Một cơn gió ào đến, cất tiếng trả lời;
-Ta là Gió đây, ta đang nói về cháu đấy, Chuồn Chuồn.
-Cô có nhầm không? Cháu là bọ Ăn Mày chứ!
-Ừ, trước đây cháu là bọ Ăn Mày sống dưới nước; giờ lột xác thành Chuồn Chuồn rồi đấy. Cháu có cánh, hãy vẫy cánh và bay lên theo cô nào.
Bọ Ăn Mày từ từ vẫy nhẹ, rồi vẫy mạnh cánh một chút, thân mình theo gió bay lên, bỏ lại bộ quần áo cũ rách nát nơi đầu cọc, chao nghiêng qua mặt ao; nó sung sướng reo lên:
-Cháu biết bay rồi, bọ Ăn Mày biết bay rồi.
-Bây giờ cháu không còn là bọ Ăn Mày nữa mà là Chuồn Chuồn, Chuồn Chuồn Ớt.
-Cô Gió ơi, sao lại gọi cháu là Chuồn Chuồn Ớt?
-Vì cháu có thân hình màu đỏ như quả ớt chín nên mới có tên như thế.
-Cháu cảm ơn cô!
Chuồn Chuồn Ớt sung sướng nói với cô Gió rồi nghiêng cánh bay vút lên cao. Trời đất bao la, cây cối tốt tươi, nhà cửa cao chọc trời và con người… bao nhiêu thứ mới lạ; giờ là lúc phải đi khám phá xung quanh, đi tìm ba má. Ba má chắc ở phía mặt trời, Chuồn Chuồn Ớt nghĩ và bay đi; nó đuổi theo cô gió, bay lên cao dần, cao dần. Một chân trời rộng mở phía trước.

Tháng mười năm 2017