Thứ Năm, 21 tháng 9, 2023

LẦN ĐẦU TIÊN NGỦ RỪNG truyện ngắn của HỒNG CHIẾN - BÁO HẢI PHÒNG số ra ngày 15 tháng 9 năm 2023

 

Những gốc cây rừng đang dần dần sẩm lại báo hiệu màn đêm sắp ập xuống, H’Chi quyết định chọn cây mít rừng có gốc to tới ba người ôm chưa hết làm chỗ dựng lều. Sáng nay amí(1) bận dự lễ đâm trâu của buôn mà người ốm, bụng to như đeo trống, da vàng như nghệ đến xin thuốc nhiều quá nên H’Chi phải một mình vào rừng hái thuốc. Việc ngủ giữa rừng già qua đêm là chuyện bình thường của những lần đi tìm cây thuốc. Mọi lần có amí đi cùng, việc dựng lều amí làm, mình kiếm củi; còn hôm nay lần đầu tiên ngủ một mình giữa đại ngàn phải tự tay dựng lều, quả thật cũng hơi buồn một chút. Nhưng ta cũng đã gần mười bốn tuổi, học sinh lớp chín rồi, có phải bé con đâu mà sợ - H’Chi tự nhủ rồi bật cười.

Chiếc lều được làm đơn giản bằng bốn cây to bằng ngón chân cái, mỗi cây dài hơn sải tay, buộc hai cây làm thành hình chữ A in đặt tựa gốc mít rừng, hai cây hình chữ A còn lại dựng cách khoảng hai mét, lấy một cây dài độ hai sải tay gác lên đỉnh hai chữ A buộc lại rồi vắt tấm ni lông qua cây ngang kéo xuống hai bên sẽ thành một ngôi nhà tránh sương đêm. Dưới mặt đất chặt vài ôm lá rắc đều làm nệm. Việc nặng nhọc nhất còn lại là chuẩn bị củi đốt qua đêm. H’Chi chọn những cây khô mới gãy xuống to bằng bắp đùi, chặt mang về xếp trước cửa lều. 

Xong việc kiếm củi đến việc tìm nước. Ở núi cao mỗi lần ngủ lại qua đêm, amí bao giờ cũng chọn nơi gần suối, vừa  sẵn nước tắm rửa lại có thể hái rau, bắt tôm cua, cá... cải thiện. Trong rừng già thuộc dãy núi Krông Jin có loại cua núi to bằng con cua đồng lớn, màu sắc rực rỡ; con đực đỏ tươi như được quét một lớp sơn, con cái màu vàng chanh trông rất đẹp mắt. Buổi sáng sớm hoặc chiều tà chúng bò từ trong các kẻ đá ra phơi mình giữa dòng suối nước trong vắt trông giống một vườn hoa. Còn hôm nay ở giữa rừng già không có sông suối, việc kiếm nước phải dựa vào các loài dây leo. Ở rừng có loại dây chạc chìu trong thân chứa nhiều nước lắm, chọn một dây to độ bằng ngón chân cái, chặt đứt ngang thân hơi vát một chút đưa quả bầu khô mang theo đón dòng nước trong vắt từ trong thân dây chảy ra chỉ một chốc là đầy; không biết loài dây này chứa nước ở đâu mà nhiều đến thế. Nước trong dây chạc chìu, giống như nước suối, nhưng uống vào đỡ khát hơn nước suối. Có lẽ loài dây này đã chắt lọc nước từ trong lòng đất nên dù có uống cả tuần cũng không bị đau bụng bao giờ, vì thế người đi rừng ưng uống nước cây hơn nước suối.

***

Trong rừng, màn đêm buông xuống quá nhanh, nhóm được lửa bén vào cây nhìn ra xung quanh chỉ còn thấy một màn đen đặc quánh.

-T… ắc k …è! T… ắc  k …è! …

Tiếng con Tắc kè ở trên cây mít đột ngột vang lên làm H’Chi giật mình, tự diễu: đến con tắc kè kêu mà sợ! Người dân Tây Nguyên không ai lạ gì con tắc kè, trông nó giống con thạch sùng bám trên trần nhà nhưng lớn hơn nhiều, có con phải bằng cổ tay người lớn; trên thân mình được trang điểm những đốm xanh, đỏ, đen, vàng... lóng lánh. Người Kinh bắt tắc kè làm thuốc chữa bệnh và bồi dưỡng sức khoẻ cho người già. Nghe tiếng kêu, có thể biết nó sống bao nhiêu mùa rẩy, lớn bằng chừng nào. Con nào chỉ kêu được ba tiếng rồi tắt, đó là con chưa qua một mùa rẫy, cứ mỗi năm thêm một tuổi, nó kêu thêm một tiếng. Trong rừng có những con kêu tới mười lăm, mười sáu tiếng một lần; loại này quí lắm dùng làm thuốc cho người già, người mới ốm dậy thì tuyệt vời. Song bắt được chúng trên các hốc cây cao hay vách đá dựng đứng quả thật không dễ chút nào, phải có bí quyết riêng mới làm được.

Vừa ăn hết cơm mang theo còn lại từ buổi trưa, H’Chi vừa nghĩ miên man đến chuyện nhà: chắc giờ này mọi người đang ăn cơm tối, amí sẽ nóng cái bụng khi mình chưa về kịp trong ngày! Lần đầu tiên vào rừng thiêng một mình, gặp bao điều lạ; song có lẽ cái lạ nhất ở khu rừng này là các loài thú còn nhiều lắm, cứ như được người ta nuôi vậy. Gỗ chưa bị đốn một cây nào, ngay như cây mít rừng khổng lồ này sẽ cho bao nhiêu là gỗ, thớ gỗ vàng óng đóng giường, bàn, tủ… thì nhất. Cây mít rừng lá giống mít nhà, quả cũng vậy nhưng nhỏ hơn, quả lớn nhất mới bằng ấm pha trà, khi quả chín múi vàng ươm, ăn vừa ngọt lại có vị hơi chua chua. Trong rừng, nơi nào có mít chín, nơi đó có khỉ, vượn, chim, sóc... đến ăn đông như chợ tết.

***

-Gâu! Gâu! Gâu!

Tiếng sủa của bầy chó sói xen lẫn tiếng rú gọi nhau xé toang màn đêm tỉnh mịch. Ban ngày chỉ có một số ít loài vật kiếm ăn như người, còn đa số các loài thú phải chờ ông mặt trời ngủ một hơi dài mới rủ nhau thức dậy đi kiếm ăn. Bầy sói này chắc lại gặp con thú xui xẻo nào rồi, đang đuổi bắt đây!

Hôm trước ama(2) nói: rừng vùng này chỉ có một loài sói lửa, gọi như vậy vì bộ lông của chúng giống nhau, có màu vàng sẩm như bị lửa cháy. Chúng sống theo bầy, mỗi bầy có trên chục con, do một con cái nhanh nhẹn, khỏe mạnh nhất chỉ huy. Gặp thú rừng, chúng sủa, rú nhặng xị cả lên, con nào yếu không chạy kịp sẽ bị chúng bắt ăn thịt. Thỉnh thoảng người trong buôn vẫn bắt được heo, nai do chúng săn, đuổi chạy lạc ra buôn hoặc đuổi xuống suối móc mắt và ruột ăn hết, còn thịt bỏ lại. Đi trong rừng nếu nghe tiếng chó sủa đứng im một chỗ, ta đến thế nào cũng gặp cảnh hổn chiến giữa bầy sói và con thú bị săn mà thường con thú bị săn là heo rừng hoặc nai. Khác với loài thú ăn thịt khác như: hổ, báo… ăn thịt con mồi là chính; còn loài sói thích moi ruột, tim, gan, móc mắt... con vật bị bắt ăn trước. Phải công nhận lũ sói khéo léo trong cuộc chiến săn mồi. Khi gặp nai, chúng đuổi cho nai chạy mệt phải xuống suối tắm. Lũ sói chạy đến đứng trên bờ sủa ầm ỹ, không cho nai lên. Mấy con sói khỏe nhất nhất lao xuống nước bơi theo nai, con cắn tai, con nhè mắt nai gậm trước cho nai mù mắt không biết đường chạy. Con đầu đàn bơi phía sau con nai, dùng bộ răng sắc nhọn của mình cắn hậu môn kéo hết ruột ra ngoài, trong lúc con mồi vẫn sống, vẫn bơi trên suối. Bầy sói ăn hết bộ lòng, chúng mới xúm nhau cắn bụng lôi tim gan con vật xấu số ra chia nhau, còn thịt bỏ lại lúc nào đói mới lại ăn tiếp. 

Bọn sói sợ người lắm, dù đang săn hoặc đang ăn, thoáng thấy bóng người sẽ bỏ chạy hết. Có lẽ do sợ con người nên không bao giờ chúng xuống bắt trộm thú nuôi của người ở vùng này.

***

Tiếng sủa xa dần rồi tắt hẳn, con heo hoặc con nai nào đó bị săn đuổi còn khỏe nên chưa dễ gì bầy sói bắt được. H’Chi xếp thêm củi vào bếp, ngọn lửa bùng lên liếm láp các thân cây, dần dần để lộ ra những cục than hồng óng ả, than này mà đặt bắp hoặc khoai mì lên trên nướng tuyệt vời lắm đây. Gió rừng nhè nhẹ thổi mang đến tiếng nhạc rừng thì thào của lá cây va vào nhau như đệm cho tiếng khắc khoải trả lời của đôi chim “năm trâu sáu cột; bắt cô trói cột”, đối đáp nhau vang vọng trong đêm. Thỉnh thoảng mụ cú mèo  gõ vào không gian nhịp phách lạc lõng: Cú! Cú! Cú! Gây cho ta cảm giác rờn rợn.

-Thủ thỉ thù thì! Thủ thỉ thù thì!

Tiếng chim ăn đêm gọi gần làm H’Chi vừa nằm xuống vội bật dậy; thật đáng gét cho loài chim ăn thịt tàn bạo này. Con thủ thỉ thù thì - người ta lấy tiếng kêu của nó để đặt tên cho nó; con trưởng thành to như con ngỗng, chuyên săn mồi ban đêm. Đi đến đâu nó cũng cất giọng thê lương gõ vào màn đêm báo cho mọi vật biết sự hiện diện của mình. Nó đến mang theo thần chết đi kèm, bắt tất cả các loài vật khác nếu có thể tha được lên cây cho dù đó là chó, mèo, heo con…

Những con heo mẹ dẫn con đi ăn không cảnh giác, chỉ nghe vèo một tiếng, tám móng chân như tám gọng kìm của chim đóng chặt vào lưng heo nhấc bổng lên trời để lại trong không trung tiếng kêu: éc, éc, éc... thảm thiết. Heo mẹ chỉ còn biết nghiến răng, hộc lên những tiếng tắc nghẹn không làm gì nổi. Loài chim thủ thỉ thù thì, tạp ăn lắm; nó có thể bắt cả rắn, kì đà, tắc kè… dù có độc hay không độc để ăn. Đây là loài chim ăn thịt lớn nhất Tây Nguyên, tiếng kêu to nhất và cũng khó chịu nhất khi phải nghe tiếng nó lặp đi lặp lại... Bực mình H’Chi nhặt một mẩu gỗ cháy dở ném lên phía tiếng kêu. Hòn than hồng được gió thổi sáng rực vẽ một đường vòng cung trước khi va vào cây làm bắn ra hàng ngàn những tia sáng nhỏ li ti như pháo hoa, con chim giật mình đập cánh ào ào bỏ đi.

***

- G… a... o!

Tiếng gào của con báo vang lên xé toạc màn đêm nghe rợn cả da. Có lẽ nó ngồi rình mồi đâu đó phía sau gốc cây mít hay đang tò mò nhìn đống lửa, bất ngờ thấy cục than H’Chi ném ra xua chim, giật mình gào lên. Tiếng gào hoảng hốt trong đêm giữa rừng già tạo tiếng vọng nhái lại, nghe ghê ghê. Từ xưa đến nay ở vùng này chưa bao giờ nghe nói báo tấn công người. Con báo có trọng lượng nhỏ, con trưởng thành nặng không quá bốn chục kí, leo trèo khéo léo như khỉ, chạy nhanh hơn cả hươu nai nên thức ăn luôn luôn dư thừa; có lẽ vì thế chúng luôn luôn tránh xa người. 

Nhưng tại sao đêm nay con báo lại đến đây? Nó tình cờ đi qua hay cố tình rình mình? H’chi băn khoăn, đứng dậy chất thêm mấy khúc củi lớn, ngọn lửa bốc cao mang theo những tàn than đỏ, nhỏ li ti bay lên trời. Loài thú dù lớn đến đâu, hung dữ như thế nào đều sợ con người vì con người biết dùng lửa; mình có thể yên tâm ngủ được rồi, H’Chi tự nhủ. 

Ban đêm dưới tán lá rừng nhìn lên chỉ thấy một màu đen mênh mông bao phủ, lá cây xào xạc chặn mất tất cả ánh sao trời, không cho lọt xuống mặt đất. Giữa đại ngàn nằm một mình mới thấy lẻ loi làm sao, thèm được nghe một tiếng người quá chừng. Thoảng trong gió có mùi thơm của con cầy hương mới đi qua. Thôi, phải ngủ một tí mai lấy sức còn về. H’Chi ngã mình lên lớp lá, nhắm mắt lại. Tiếng rì rầm của cây rừng được cô gió tấu khúc nhạc đêm như tiếng ru của amí, đưa H’Chi chìm dần vào giấc ngủ.  

 

 

 

Chú thích tiếng Êđê:

1. Amí: má.

2. Ama: ba.

Mời đọc tại đây:

https://baohaiphong.com.vn/baohp/vn/home/InfoDetail.jsp?ID=81340&cat=103

Thứ Bảy, 16 tháng 9, 2023

BÊN DÒNG SÔNG HUYỀN THOẠI bút ký của HỒNG CHIẾN - THỜI BÁO VĂN HỌC NGHỆ THUẬT số 37 ra ngày 14/9/2023

 

Đang chúi mũi vào chiếc điện thoại để giết thời gian, bỗng có người reo to: “Cột cờ Hiền Lương kia kìa”. Tôi giật mình nhìn lên, qua kính xe thấy cột cờ uy nghiêm cao vượt lên trên các dãy nhà, cây cối, in đậm nét trên nền trời xanh với lá cờ đỏ sao vàng phấp phới bay như chào đón du khách đến thăm. Anh chị em trên xe bỏ hết việc đang làm, hướng mắt về phía Cột cờ với khuôn mặt thành kính.

Thế là tôi đã đến Cột cờ bên cầu Hiền Lương, phía bắc sông Bến Hải - niềm tin yêu và hy vọng của đồng bào miền Nam khi đất nước tạm thời bị chia cắt hai miền. Đây cũng là niềm tự hào của miền Bắc xã hội chủ nghĩa, khẳng định cuộc chiến tranh chính nghĩa giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước của dân tộc ta.

Gần 70 năm trước, Hiệp định Giơnevơ (Thụy Sỹ) được ký về đình chỉ chiến tranh, khôi phục hòa bình ở Đông Dương, bãi bỏ quyền cai trị của người Pháp, công nhận nền độc lập của ba quốc gia Việt Nam, Lào và Campuchia, chính thức chấm dứt chế độ thực dân Pháp tại Đông Dương. Theo Hiệp định khi đó đất nước ta tạm thời bị chia cắt bởi giới tuyến 17, với ước vọng ba năm sau sẽ Tổng tuyển cử, thống nhất non sông. Nhưng rồi bọn hiếu chiến, lực lượng phản động quốc tế can thiệp nhằm chia cắt nước Việt làm đôi; buộc nhân ta lại phải bước vào trận chiến mới để giành lại trọn vẹn non sông. 

Sông Bến Hải không rộng, nước chảy êm đềm; đôi bờ cây và cỏ, hoa đua nhau sinh sôi, nảy nở như mọi con sông khác trên đất nước Việt Nam. Vậy mà nơi đây từng phải chứng kiến những trận đánh dữ dội của quân và dân ta với bọn xâm lược không phải bằng vũ khí, súng đạn mà bằng trí tuệ, mưu lược trên mặt trận ngoại giao để giữ vững chủ quyền đất nước, trọn vẹn non sông.

***

Tôi, sinh ra ở mảnh đất xứ Thanh, lớn lên dưới chế độ xã hội chủ nghĩa. Năm học 1964 - 1965, lần đầu tiên trong đời cắp sách tới trường đã được thầy cô nói về vĩ tuyến 17, dòng sông Bến Hải, cầu Hiền Lương... với nỗi đau đất nước bị chia cắt, nhiều gia đình ly tán, con mất cha, vợ mất chồng... Nỗi đau ấy đã thấm vào máu thịt. Thời ấy rất nhiều thầy cô và bạn bè khi cùng hát bài: “Câu hò bên bờ Hiền Lương” của nhạc sỹ Hoàng Hiệp, nước mắt ướt đẫm hai má. Và câu chuyện huyền thoại về Cột cờ phía Bắc cầu Hiền Lương, trong mưa bom bão đạn của kẻ thù, cột bao giờ cũng cao hơn cột cờ phía bờ Nam; ngạo nghễ giữ chặt lá cờ đỏ sao vàng tung bay phấp phới. Hình ảnh ấy giúp chúng tôi - những cô cậu học trò nhỏ bé lúc đó thêm kính yêu lớp cha ông đã lên đường vào Nam chiến đấu giải phóng từng tấc đất thiêng liêng của Tổ Quốc, in đậm trong tâm trí tôi.

Lớn lên một chút, chúng tôi hiểu thế nào là chiến tranh khi được tận mắt thấy, tai nghe tiếng gầm gào của máy bay, tiếng rú của đại bác; tiếng bom nổ và cả tiếng thét hãi hùng của những đứa trẻ trúng mảnh bom từ máy bay thả xuống, đại bác từ biển Đông bắn vào. Nhà tan, cửa nát, có lớp học ở quê tôi buổi sáng còn đủ 35 học trò và cô giáo; trưa đến chỉ còn một hố bom to đùng, sâu hoắm. Cách lớp học một đoạn, trên ngọn tre những miếng áo, mảnh quần, sách, vở... vương máu của cô trò còn sót lại, dính vào.

Chúng tôi biết yêu thương đất nước từ bé, và hiểu: sự man rợ của kẻ thù, sự tàn ác của chiến tranh gieo lên đất nước này qua các cuộc chiến tranh đã hun đúc lên lòng tự hào dân tộc, khí phách của người Việt Nam: “quyết tử cho Tổ Quốc quyết sinh”. Có lẽ chính khí phách người Việt, Văn hóa của người Việt trường tồn qua các thế hệ đã làm nên sức mạnh Việt Nam: “quét sạch lũ cướp nước và bán nước”.

***

Trong “Nhà trưng bày vĩ tuyến 17 và khát vọng thống nhất” xây gần cầu Hiền Lương, cô Võ Thị Hồng - hướng dẫn viên tuổi ngoài ba mươi nghẹn lời, trào nước mắt khi nhắc lại những mất mát đau thương của Quảng Trị nói chung và cầu Hiền Lương nói riêng trong những ngày đấu tranh không khoan nhượng để bảo về giá trị văn hóa Việt Nam, bảo vệ từng tấc đất linh thiêng nơi lịch sử đã giao cho mảnh đất này.

Nước mắt của cô hướng dẫn viên Võ Thị Hồng, nước mắt của các anh chị văn nghệ sỹ đến từ vùng đất Cao nguyên ra thăm; dù họ sinh ra và lớn lên ở nhiều tỉnh khác nhau trên cả nước, thuộc nhiều dân tộc khác nhau nhưng đều là dân nước Việt, đến đây mắt đều nhòa lệ vì xúc động.

Nhà văn Niê Thanh Mai - Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Đắk Lắk, Trưởng đoàn nắm chặt tay cô hướng dẫn viên, mắt ngấn lệ, nhưng một tay vẫn nắm chặt cây bút và cuốn sổ. Tôi biết chắc chắn, những ngày tới chị sẽ có thêm tác phẩm ưng ý về vùng đất này.

Nhà giáo - nhà văn Nguyễn Văn Rèn, người con của đất thép Vĩnh Linh, sinh ra trên vùng địa đạo Vịnh Mốc, lên chín tuổi đã phải xa gia đình sơ tán ra tỉnh Thái Bình học tập - một chủ trương sáng suốt của Đảng ta lúc ấy để bảo vệ nhân dân và đào tạo nguồn cho thế hệ tiếp theo. Nay trở lại đây, mái tóc đã ngã màu sương gió, nghe giới thiệu về quê mình cũng không cầm được nước mắt; chăm chăm nhìn vào từng hiện vật trưng bày - hình như những kỹ vật này có cả máu thịt của người thân đã ngã xuống, hòa vào trong ấy. Bao người thân yêu đã ngã xuống để mang lại cuộc sống tốt đẹp hôm nay, chắc chắn ý tưởng sẽ được khơi nguồn từ đây, tạo nên tác phẩm đứng được với thời gian của tác giả.

Nhạc sỹ, họa sỹ Hồ Tuấn, nắm chặt tay tôi lúc nào không biết, nghẹn ngào nói nhỏ: “chiến tranh còn khủng khiếp hơn cả những ngôn từ ta đang nghe hôm nay, hình như tiếng Việt cũng chưa diễn tả hết được”.  Người con trai xứ Huế, hội viên của Hội hiện đang công tác tại Phòng Văn hóa Thông tin huyện Krông Năng. Tuổi thơ Hồ Tuấn sống ở thành phố Huế, tận mắt chứng kiến sự tàn khốc của chiến tranh và tinh thần quật khởi của dân tộc ta để đi đến chiến thắng cuối cùng. Trở lại vùng đất Quảng Trị hôm nay đã khơi dậy cho nghệ sỹ cảm hứng sáng tác, chắc chắn tác phẩm của anh sẽ mang đến cho người xem, người nghe về huyền thoại của một vùng đất thép anh hùng, nói lên được cả những điều mà ngôn từ tiếng Việt không diễn tả hết. 

Và nhiều anh chị trong đoàn đến đây, nghe kể về vùng đất này, tận mắt xem những kỷ vật còn sót lại, nước mắt rưng rưng... sẽ có cảm xúc để sáng tạo.

***

Lau vội dòng nước mắt lăn dài trên má, cô hướng dẫn viên Võ Thị Hồng cao giọng khi nói về Đồn Công an Vũ trang bên cầu Hiền Lương, những người dũng cảm, mưu trí, có thần kinh thép khi mặt đối mặt trực tiếp với kẻ thù chỉ cách nhau một cánh tay. Các anh phải dùng tài hùng biện của mình khuất phục kẻ thù, buộc chúng phải cúi đầu khâm phục. Nhưng cũng có lúc phải nắm chắc tay súng trừng trị kẻ thù ngoan cố; không tiếc xương máu để bảo về chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ đất nước. 

Cầu giới tuyến Hiền Lương nối đôi bờ nam bắc rộng chưa đến hai mét, nhịp cầu làm bằng sắt, mặt cầu lát gỗ được phục chế để bảo tồn và là điểm nhấn để du khách đến đây tham quan. Trong những năm tháng đất nước còn chía cắt theo Hiệp định Giơnevơ (Thụy Sỹ), một nửa cầu phía nam do chế độ Miền Nam Cộng hòa kiểm soát, nửa phía bắc cầu do ta kiểm soát. Hàng ngày hai bên gặp nhau ở giữa cầu để trao đổi - đây thật sự là một trận chiến không tiếng súng nhưng cũng không kém phần cam go, quyết liệt. Cán bộ chiến sỹ Đồn Hiền Lương do Công an Vũ trang khi ấy (sau này ta đổi tên thành “Bộ đội Biên Phòng”) đảm trách. Các anh đã bẻ gãy mưu đồ đen tối của kẻ thù nhằm hủy hoại Hiệp định Giơnevơ, đồng thời nêu bật ý chí của nhân dân ta cương quyết đấu tranh không khoan nhượng để thực hiện Hiệp định. Cuộc chiến pháp lý ấy đã trở thành tiếng sấm chấn động năm châu, được nhân dân yêu chuộng hòa bình trên toàn thế giới khi ấy ủng hộ.  

Gần Cột cờ cầu Hiền Lương về phía tây còn có tượng đài Đồn Công an Vũ trang uy nghi, hùng tráng khắc ghi lại hình ảnh người Công an Vũ trang nắm chắc tay súng giữ yên bờ cõi; góp công vào chiến thắng chung của dân tộc. Đánh giá về chiến công xuất sắc Đồn Công an Vũ Trang Hiền Lương, Tổng bí thư Lê Duẫn đã viết: “Đồn Hiền Lương là một đồn Anh Hùng rất xứng đáng với dân tộc Anh Hùng, Quân đội Anh Hùng của toàn thể nhân dân Việt Nam” (2/2/1973).

***

Quy luật của thời gian không chiều lòng người, thoáng chốc ông mặt trời vội vã chui xuống dãy núi phía tây. Phương nam, có ánh mây hồng rực rỡ như một bó hoa lớn dâng lên trời xanh, khép lại một ngày để chuẩn bị đón ngày mới hôm sau. Chúng tôi, đến từ tỉnh Đắk Lắk trù phú và xinh đẹp, vùng đất hiện nay có gần 50 dân tộc của khắp các vùng miền về hội tụ, đều tin tưởng tuyệt đối vào Đảng và Nhà nước. Cuộc sống ấm no, hạnh phúc của các gia đình Việt ở Đắk Lắk hôm nay nói riêng và Tây Nguyên nói chung đã chắp cánh cho thành công, phát triển của văn học nghệ thuật. Cũng chính văn học nghệ thuật đã góp phần cổ vũ, khởi xướng và định hướng bảo tồn giá trị văn hóa cho các vùng miền dưới sự lãnh đạo của Đảng, góp phần mang lại bình yên cho một vùng đất. 

Hôm nay trở lại cầu Hiền Lương, trở lại vùng đất thép tỉnh Quảng Trị, chúng tôi hiểu, và thấm thía hơn về cuộc sống tốt đẹp hôm nay của chúng ta đã phải trả bằng xương máu của cha ông đổ xuống để bảo vệ và gìn giữ mà có. Nhưng những thế lực ngoại bang thù địch, cấu kết với bọn phản động lưu vong vẫn chưa từ bỏ tham vọng làm mất an ninh trật tự; phá hoại cuộc sống thanh bình, hạnh phúc của nhân dân ta. Chúng ta phải luôn nâng cao cảnh giác, chống lại luận điệu tuyên truyền xuyên tạc, bôi nhọ Đảng, nói xấu chế độ của chúng; để bảo vệ Đảng bảo vệ đất nước trong tình hình mới. Bác Hồ đã dạy; “KHÔNG CÓ GÌ QUÝ HƠN ĐỘC LẬP TỰ DO”, lớp cha ông đi trước đã làm được, nhiệm vụ của chúng ta giờ đây là GÌN GIỮ VÀ PHÁT HUY những thành quả đã đạt được ấy. 

Tự hào với non sông đất nước tươi đẹp và anh hùng. Tự hào với truyền thống anh hùng của người Việt Nam trường tồn theo thời gian. Hôm nay tôi có may mắn được tham gia đoàn đi thực tế sáng tác của Hội Văn học nghệ thuật Đắk Lắk, về lại địa danh anh hùng - niềm tự hào của cả nước và cũng là địa điểm làm kẻ thù khi nhắc đến phải kinh hãi. Tôi tin rằng, từ địa danh anh hùng này, chúng ta những văn nghệ đến đây  sẽ mang theo ngọn lửa được thắp sáng từ trái tim, thổi bùng nhiệt huyết của “người chiến sỹ trên mặt trận văn hóa tư tưởng”; sáng tạo nên tác phẩm đứng được với thời gian, góp phần xây dựng quê hương, đất nước thành niềm tự hào với bạn bè quốc tế về một vùng đất anh hùng, đáng sống.

 

Buôn Ma Thuột 17/7/2023

Thứ Sáu, 15 tháng 9, 2023

BẮT CÁ TRÊN CAO NGUYÊN truyện ngắn của HỒNG CHIẾN - VĂN CHƯƠNG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ngày 13 tháng 9 năm 2023

 








H’Lê làm lớp trưởng lớp 9A1, người dân tộc Êđê có nước da bánh mật, mặt trái xoan, tóc xoăn tự nhiên tạo nên một vẻ đẹp huyền bí. H’Lê học cùng lớp nhưng hơn Thanh một tuổi, người rắn chắc, khỏe mạnh ra dáng một thiếu nữ. Còn Thanh sinh ra, lớn lên ở ngoại ô thành phố, quanh năm nghe tiếng gầm của sóng biển.

Bầu trời trong xanh như một chiếc lồng bàn lớn úp lên Cao nguyên được điểm xuyến bằng ông mặt trời đỏ ối chuẩn bị xuống núi phía tây đi ngủ, tạo thành một bức tranh tuyệt đẹp. Buôn Tu Sria với gần bảy chục nóc nhà dài quây quần trên một triền đồi gần suối cùng tên. Các nóc nhà, đua nhau nhả ra những ngọn khói trắng bay lên như mấy ông già ngồi hút thuốc, báo hiệu bữa cơm chiều sắp đến. Mười ba người phụ nữ trên lưng mang mười hai chiếc gùi xếp thành một hàng dài, đầu hơi chúi về phía trước vì chiếc gùi đè nặng trên lưng, băng qua đồi cỏ tranh nhuộm một màu vàng tươi, lầm lũi tiến về phía tây. Cũng lạ, hàng người ấy đi theo một quy định nghiêm ngặt, người nhiều tuổi nhất đi trước, người ít tuổi đi sau và người nhỏ tuổi nhất đi sau cùng. Thanh nhỏ tuổi hơn cả lại không phải đeo gùi như mọi người nên đi cuối, cái chân đã thấy nằng nặng nên vịn vào gùi người đi trước để bước.

  • Thanh mỏi chân à, gần về đến nhà rồi, cố lên nhé!

H’Lê, người bạn học cùng lớp ngoái đầu lại hỏi, chân vẫn bước đi không ngừng lại. Thanh gật đầu nhưng miệng vẫn nở nụ cười vui. Không vui sao được khi lần đầu tiên được theo bạn đi bắt cá theo một kiểu đặc biệt lạ lùng như thế này. Hôm qua khi học xong tiết cuối cùng, cô giáo chủ nhiệm thông báo cho nghỉ Tết một tuần, H’Lê chạy lại nói:

  • Sáng mai Thanh có đi ruốc cá với mình không?
  • Ruốc cá là lễ nghi gì của người Êđê vậy?
  • À đây là cách bắt cá suối mang về ăn.
  • Đi bắt cá hả, thích quá để mình về xin bố mẹ đã nhé.
  • Ừ, tám giờ qua nhà đi cùng với mọi người trong buôn, vui lắm đấy.
  • Vậy hả, cảm ơn bạn.

H’Lê làm lớp trưởng lớp 9A1, người dân tộc Êđê có nước da bánh mật, mặt trái xoan, tóc xoăn tự nhiên tạo nên một vẻ đẹp huyền bí. H’Lê học cùng lớp nhưng hơn Thanh một tuổi, người rắn chắc, khỏe mạnh ra dáng một thiếu nữ. Còn Thanh sinh ra, lớn lên ở ngoại ô thành phố, quanh năm nghe tiếng gầm của sóng biển. Chiều đến bố cùng mấy người bạn lên thuyền ra biển đánh cá đến sáng hôm sau mới về. Sáng ra, mẹ vội ra bờ biển đón bố rồi mang cá ra chợ bán, gần trưa quay về ăn vội miếng cơm để kịp ra đồng cày cấy. Bọn bạn cùng tuổi như Thanh ngoài thời gian đến lớp học bài phải đi chăn trâu, bò; hôm nào vui thì rủ nhau đi móc cua ven bờ ruộng lúa. Vào mùa hạ, nước trên kênh ngừng chảy liền rủ nhau be bờ, tát nước bắt cá. Cứ thau, chậu hay bí quá thì lấy luôn nón đội đầu làm gàu tát nước; cá, ốc, cua đồng… bắt không được bao nhiêu nhưng vui lắm.

Hồi cuối năm ngoái, theo kế hoạch di dân đi xây dựng kinh tế mới, cha mẹ Thanh cùng với gần nửa làng đến đây định cư. Thanh được vào lớp học mới, có bạn mới và thân nhất là H’Lê. Vì thân nhau nên H’Lê cho biết nhiều điều về phong tục, tập quán, văn hóa của người Ê đê; Thanh ngạc nhiên và thích lắm. Nay được đi theo xem bắt cá thì còn gì bằng.

*

*    *

Dựng chiếc xe đạp dưới gầm sàn, leo lên cầu thang Thanh thấy mẹ H’Lê đang xếp mấy đoạn vỏ cây tươi dài độ ba gang tay, vào gùi. Tò mò Thanh hỏi H’Lê:

  • Đi bắt cá chứ có phải đi nấu ăn đâu mà amí mang theo nhiều vỏ cây thế?
  • Không có vỏ cây ấy thì làm sao bắt cá!
  • Ra suối bắt cá không có lưới thì phải đắp đất khoanh vùng lại tát cạn nước mà bắt cá chứ lấy mấy thanh vỏ cây bé tý ấy thì bắt làm sao?
  • Bạn cứ đi sẽ biết.

Mười hai người phụ nữ lưng đeo gùi, trong gùi có mấy quả bầu khô đựng nước uống và có thêm một ít vỏ cây, phía trên gùi buộc thêm một cái rổ. Họ ngược theo dòng suối đi về phía đông. Cao nguyên vào mùa khô suối ít nước, dòng nước nhỏ dần, len lỏi qua các hòn đá trước khi đổ vào đoạn suối tự nhiên to ra như bụng con trăn ăn no. Đi cách buôn độ hơn ba ki lô mét đến một khúc suối phình lớn, tạo thành một cái ao chiều ngang khoảng hơn ba mét, chiều dài mười lăm mét; đoàn người dừng lại bỏ gùi ra khỏi vai rồi chia nhau làm việc. Hai người lấy mấy miếng vỏ cây lại đầu con suối dùng đá đập dập ra, dũ nhẹ vào mặt nước. Lạ thay, nước suối chảy qua chỗ vỏ cây vừa đập ấy đổi thành màu nâu sẫm hòa dần vào vũng nước suối lớn. Bất ngờ gặp nước dòng nước màu nâu chảy đến, lũ cá vội ngoi lên mặt nước như người say rượu; lờ đờ bơi lượn, có con còn giơ chiếc bụng trắng bạc lên để bơi nữa. Chỉ chờ có thế, mọi người cởi áo để lại trên bờ, ùa xuống dùng rổ xúc cá đổ vào gùi. Các mẹ, các chị không ai mặc áo nữa, rất tự nhiên lội xuống suối, người nào ra chỗ sâu, nước ngập đến đâu vén váy đến đấy, cuối cùng là túm lại choàng lên đầu như chiếc khăn. Làn nước chuyển màu nâu nhưng vẫn nhìn rõ bàn chân của từng người lội trên cát trắng dưới mặt nước. Thanh thấy vậy đỏ mặt, tự nhủ: may mà mình cũng giới nữ, nếu có đàn ông đi qua thì sao nhỉ!

Mọi người vừa xúc cá, vừa hát, một điệu dân ca êm ái như lời ru làm vang động cả một khoảnh trời. Nhìn mọi người bắt cá thấy thích quá, Thanh cũng xắn quần nhảy xuống dùng tay tóm từng con một ném vào gùi H’Lê. Những con cá trắng bạc, mắt đỏ hoe nằm trong gùi rồi thỉnh thoảng còn quẫy đuôi như muốn bơi. Khi vớt hết cá nổi, đoàn người lại tiếp tục ngược dòng đến khúc suối khác, lại thay nhau đập vỏ cây, thả xuống nước và vớt cá cho đến lúc cả mười hai gùi đầy cá, mọi người mới dừng lại bên một ghềnh đá tắm rửa rồi về.

Thanh ngạc nhiên về cách bắt cá quá nên hỏi H’Lê:

  • Tại sao khi bắt cá lại phải hát đồng thanh như thế?

-À hát vừa giúp mọi người cùng vui vẻ làm việc, nhưng điều quan trọng nhất là báo cho cánh đàn ông biết chị em đang bắt cá để không đến quấy rầy.

  • Ơ, hay nhỉ. Ai dạy cho người trong buôn bắt cá kiểu này thế?
  • À, nghe bà ngoại kể lại…

Ngày xưa, lâu lắm rồi, vào năm ấy, tháng ấy… trời khô hạn. Ông mặt trời suốt ngày đổ lửa xuống trần gian làm các con suối cạn khô cả nước, lũ cá cũng trốn đi biệt tăm. Nhà nọ có hai vợ chồng thương nhau lắm, cưới nhau đã mấy mùa rẫy mà vẫn chưa sinh được người con nào. Có lẽ do trời nóng quá, người chồng lăn ra ốm, thuốc thang mãi không khỏi. Một hôm người chồng nói với vợ:

  • Anh muốn ăn một miếng cá lắm.
  • Để mai em đi bắt.

Sáng hôm sau người vợ mang gùi, đội rổ xuôi theo dòng suối tìm các vũng nước còn đọng lại để bắt cá. Kì lạ, cá rất nhiều, nhưng bắt kiểu gì cũng không được; lũ cá cứ như Yang(1), bay lượn trên mặt nước; có khi xúc vào rổ hay gùi rồi chúng cũng nhảy vù ra ngoài như chim. Quần thảo với lũ cá từ sáng đến quá trưa rồi sang chiều mà không bắt được con nào, người vợ đành xách gùi lên vai trở về nhà, nước mắt chảy dài trên gương mặt phúc hậu. Vừa khóc vừa leo lên bờ suối, không may chiếc yen vướng vào một khúc rễ cây làm người vợ ngã lăn xuống suối, còn chiếc yen nằm lại với rễ cây; may mà khi ấy chỉ có một mình chứ không thì… Giận quá cô ta vác xà gạc lại chặt nát khúc rễ cây rồi ôm chúng quẳng xuống suối cho hả giận và cũng để giúp người đi sau không bị ngã như mình.

Lạ thay, khi ném đống rễ cây vừa bị chặt xuống suối một tý, lũ cá bỗng nhiên nổi hết lên mặt nước, có con đớp bóng, có con bơi lừ đừ, lại có con ngửa cả bụng lên trời… Mừng quá, người vợ vội lội xuống lấy rổ xúc cá đổ đầy gùi rồi vừa đi vừa chạy về nhà. Người chồng đang ốm không ngóc đầu dậy được, chỉ mong ăn miếng cá để thanh thản về với Yang. Người vợ nướng cá cho chồng ăn; một con, hai con, ba con… anh chồng ăn cá đến no bụng rồi vươn vai một cái, hình như bệnh tật bay đi mất cả, đứng dậy đi lại bình thường. Chị vợ mừng quá, mang hết số cá còn lại đến từng nhà trong buôn chia cho mọi người.

Đêm đã khuya, nhiều nhà tắt đèn đi ngủ. Bỗng nghe tiếng gọi làm mọi người bừng tỉnh vội ra mở cửa, thấy cô vợ người ốm mang cá đến cho và nói rõ lý do; thế là dân trong buôn rủ nhau mang rượu đến nhà người ốm vít cần uống cả đêm thấu sáng. Tiếng chiêng, tiếng cồng vang lên, bay xa để tạ ơn Yang.

Cũng từ đó người dân trong vùng biết cách bắt cá dùng bằng rễ cây. Người ta còn nói ăn loại cá bắt theo cách này góp phần làm tăng thêm sức khỏe tránh được một số bệnh tật. Chỉ có điều, cách này chỉ bắt được cá màu trắng thôi, còn các loài cá có nước da màu đen thì không bao giờ bắt được vì chúng không nổi lên. Các con cá trắng không bị bắt, chỉ một thời gian sau lại tỉnh táo bơi lội bình thường, lạ thế!

Trên đường đạp xe về nhà, hình như chiếc xe nó tự chạy hay sao ấy, cứ bon bon lướt tới mặc dù phía sau còn đèo thêm bao tải đựng nửa gùi cá amí(2) H’Lê cho. Lúc đầu Thanh đã không lấy, nhưng thấy amí nói chân thành quá nên phải nhận. Về nhà kể chuyện bắt cá hôm nay chắc bố mẹ ngạc nhiên lắm đây. 

H.C

Chú thích tiếng Ê đê:

  • Yang: thần linh.
  • Amí: mẹ.

Thứ Ba, 5 tháng 9, 2023

TRẢI NGHIỆM CÙNG BẠN Y KHOA truyện ngắn của HỒNG CHIẾN - NHÀ BÁO &CUỘC SỐNG số tháng 9 năm 2023

 


Sáng chủ nhật Mậu xin phép bố mẹ lên nhà Y Khoa, bạn học cùng lớp để đi câu cá. Hai đứa đạp xe theo đường mòn, hết lên dốc lại xuống đèo, gần trưa mới tới gốc cây đa to mọc bên suối. Y Khoa dừng lại bảo:

-Chúng mình để xe ở đây.

-Để đây lỡ có ai đi qua lấy mất thì sao?

-Trong rừng này không ai vào ăn trộm đâu, nếu bạn sợ mất xe ta giấu trong bụi cây kia.

Y Khoa đẩy xe đặt vào giữa bụi rậm có nhiều dây leo cách gốc đa độ ba chục bước chân; Mậu dắt xe theo rồi nhấc lên đặt cạnh xe Y Khoa, kéo thêm mấy cành lá che lại. Xong việc, Mậu ngửa mặt nhìn lên ngọn cây đa thấy lũ chim chào mào, cu xanh, gầm ghì… thi nhau vặt quả đa chín để ăn, hình như chúng không thèm để ý đến hai người đứng gần gốc cây. Y Khoa dục:

-Đi câu thôi.

-Ở đây nhiều chim quá, con nào cũng đẹp.

-Rừng Tây Nguyên mà bạn, chim thú nhiều lắm; dưới nước cá nhiều như thả trong chậu luôn.

-Mình cũng nghĩ thế nên bạn đi câu mà bạn chỉ mang xà gạc với gùi để xúc cá?

-Câu cá suối khác câu ở ao hồ nhiều đấy, chốc nữa bạn sẽ biết.

Y Khoa nói xong, đặt gùi xuống đất, cầm dao chặt hai cây nứa bên lối đi to hơn ngón tay cái một chút, dài độ sải tay; chặt bỏ hết cành nhỏ thành hai cái cần câu xinh xinh. Mậu buột miệng khen:

-Cần câu chuẩn luôn.

-Giờ ta đi chọn chỗ câu.

-Y Khoa bảo ở đây cá nhiều như nhốt trong chậu thì ngồi chỗ nào câu chẳng được.

-Đúng là dân “cuốc đường nhựa” không biết cách câu cá suối rồi.

Mậu cười, không trả lời, cố nhảy qua các hòn đá ngược dòng suối cho kịp Y Khoa. Đến bên một tảng đá lớn to bằng chiếc chiếu đôi, mặt phẳng như mặt bàn, Y Khoa dừng lại nói:

-Hôm nay ta câu ở đây.

Mậu bước ra mép đá nhìn xuống phía dưới, dòng suối rộng khoảng năm mét, nước len lỏi qua các kẽ đá, đến chỗ này bị đá chắn nên xoáy vào bờ, tạo thành một vũng rộng như chiếc ao nhỏ, trước khi băng mình trườn lên mấy hòn đá thấp phía dưới chảy tiếp. Mậu ngắm Y Khoa, tự nhủ: Anh bạn Tây Nguyên da đen, tóc quăn, mặt dài, trán dô nhưng có đôi mắt nhìn như hút hồn người khác, tìm được chỗ câu lý tưởng quá.

Y Khoa vơ lá khô, bật quẹt nhóm lửa, nhặt thêm mấy cành cây gãy trên mặt đá bỏ vào. Mậu ngạc nhiên hỏi:

-Ơ, đi câu sao lại đốt lửa làm gì thế này?

-Từ từ sẽ biết. 

Y Khoa cười rồi lục gùi lấy ra một chiếc vợt đường kính hơn một gang tay, đi lại tổ kiến đỏ bên bờ suối; dùng que chọc vào phía dưới tổ kiến rồi vừa rung tổ, vừa đưa vợt hứng những quả trứng kiến to như hạt gạo nếp, trắng tinh rơi ra khỏi tổ. Chỉ một tý đã được khoảng một chén trứng lẫn những con kiến vàng cong ngược đít lên trời, cuống quýt bò đi tìm kẻ thù phá tổ. Đổ tất cả trứng lẫn kiến vào chiếc lá chuối rừng tươi vừa chặt, nhanh tay gói lại rồi hơ lên ngọn lửa. Lá chuối bị lửa đốt chuyển từ màu xanh qua màu nâu đen; Y Khoa nhấc ra, đặt lá chuối xuống đá, mùi thơm tỏa ra ngào ngạt, vui vẻ nói:

-Có mồi rồi, ta câu thôi.

Lấy trong gùi ra hai cuộn chỉ, một đầu buộc lưỡi câu uốn bằng chiếc kim băng, đưa cho Mậu một cuộn; còn một cuộn buộc vào đầu cần câu của mình rồi lấy một quả trứng kiến móc nhẹ vào lưỡi câu, buông xuống nước. Nước suối trong vắt, nhìn rõ cả những hạt cát trắng nằm sâu phía dưới, vậy mà… Vừa buông câu, cá ở đâu ùa ra cả bầy, con lớn nhất to hơn ba ngón tay một tý, lao ra đớp mồi. Hai đứa thi nhau giật, tiếng cười nhiều lúc ré lên khi hai dây câu vướng vào nhau mà cá thì… bay mất.

***

Câu một lúc đầy gùi cá, nhiều con rơi ra ngoài, nhảy tưng tưng trên mặt đá. Mậu kêu lên:

-Nhiều quá rồi, không còn chỗ đựng nữa, dừng lại thôi.

-Đồng ý.

Y Khoa gỡ chỉ khỏi cần câu cuốn lại, rồi dùng xà gạc chặt cần câu thành từng khúc dài khoảng một gang tay. Mậu ngạc nhiên hỏi:

-Bạn làm gì thế?

-Mậu chẻ nhỏ những khúc này ra, cắm vào miệng cá; ta nướng cá ăn no rồi về.

-Hay!

Mậu rút chiếc dao đeo bên hông chẻ cây. Y Khoa leo lên bờ suối chặt hai khúc nứa bánh tẻ to bằng cổ chân, một đầu có mắt, một đầu rỗng mang lại. Mậu nhìn hai ống nứa, ngạc nhiên hỏi:

-Lấy hai cái ống này làm gì?

-Nấu canh chua. Bỏ cá và lá giang vào ống rồi lấy lá chuối khô nút lại, đặt lên bếp đốt cho cháy vỏ ngoài sẽ có món canh chua tuyệt vời luôn.

Mậu tròn mắt, ngạc nhiên nhìn bạn rồi nói:

-Để mình làm thịt cá, bạn kiếm lá giang nhé.

-Lá giang đây rồi. Cá suối ở đây chỉ ăn quả cây chín và rêu nên ăn cả ruột luôn. Ruột chúng ăn hơi đắng một chút nhưng đó lại là vị thuốc quý chữa bệnh đường ruột đấy.

Nói xong, Y Khoa lôi trong túi quần ra một nắm lá lớn. Mậu lại tròn mắt, ngạc nhiên hỏi lại:

-Lạ quá, thế có phải đổ nước vào ống nứa không?

-Không, tự trong thân cây nứa tươi đã có nước rồi. 

-Để mình làm thịt cá, bóc bỏ mang, đánh vãy đi ăn cho ngon.

Mậu nói xong cầm cá xuống cuối hòn đá ngồi làm. Nhìn bạn thịt cá, Y Khoa thầm nghĩ: con một, bố mẹ làm thầy giáo đi theo đoàn dân đi kinh tế mới vào định cư vùng này có khác: khéo tay như phụ nữ. Học giỏi, đẹp trai mà nhút nhát, hay bị bạn nữ trong lớp bắt nạt nhưng không giận ai bao giờ. Khi nào bực lắm mặt cau lại, hai má từ màu trắng chuyển qua màu hồng, tay nắm chặt… chỉ vậy thôi; có lẽ vì thế nên trong lớp ai cũng mến.

Cá nướng chín, Y Khoa lấy ra xếp lên lá chuối trải trên mặt đá, dựng hai ống nứa đựng cá và lá giang vào giữa bếp, kê thêm đá cho ống đứng nghiêng nghiêng rồi vui vẻ nói:

-Chúc mừng bạn đến với dòng sông thơ mộng Tây Nguyên. Khai tiệc!

-Cảm ơn bạn!

Cá nướng chín, vàng rộm; bóc bỏ vảy chấm muối ớt, ăn thịt còn xương ném luôn vào đống lửa; vừa ăn, Mậu vừa xuýt xoa:

-Ngon quá, mình chưa được ăn cá ngon đến như vậy bao giờ.

-Cá niên Tây Nguyên mà bạn!

Ăn no cá nướng, cũng vừa lúc cá nấu lá giang chín. Y Khoa nhấc từng ống ra nhúng xuống nước cho lớp than cháy vỏ nứa bên ngoài tắt rồi rút nút lá, đưa lên mũi hít hà. Mậu làm theo bạn, mùi thơm đặc trưng của món canh cá niên nấu lá giang không còn từ nào để tả… cả hai nhìn nhau cười tít mắt.

 

Thứ Năm, 27 tháng 7, 2023

CHUYỆN CỦA GÃ truyện ngắn của HỒNG CHIẾN - VĂN HỌC SÀI GÒN ngày26 tháng 7 năm 2023

 


Những chiếc lá bàng vàng khè run rẩy, buông cành xoay tròn trước khi ném mình xuống mặt đất. Từng cột bụi đỏ ngàu xoáy tròn bò lên các ngọn cây hết đợt này đến đợt khác che lấp cả mặt trời tím bầm đang mệt mỏi rơi mình xuống ngọn núi Chư Bông phía tây.

Con đường đất đỏ lổm nhổm những hòn đá to như nắm tay, lặn ngụp trong lớp đất bột bị cày xới bởi xe máy cày, công nông đang oằn mình đón từng đoàn người mặt cúi gằm, chân bước thoăn thoắt, mặc cho những chiếc gùi no căng đè lên lưng, lên đầu. Mấy con chó lon ton chạy sau thè lưỡi đỏ lòm. Tất cả đều hối hả, vội vã chuẩn bị kết thúc một ngày sắp qua, đón màn đêm trở về.

Sân trường vắng lặng. Ông bảo vệ to như vị hộ pháp nặng nề vác chiếc bụng thừa mỡ giống ông địa người dân vẫn thờ nơi xó bếp đặt phíc nước lên bàn hỏi Gã.

– Chiều thứ bảy, thầy Hiệu phó không đi đâu à?

– Không!

Gã đáp cụt lủn, mắt nhìn đăm đăm ra sân trường nơi chỉ có gió và lá đang vật vã, quấn quýt với nhau trước khi giật mình rời nhau, bỏ lại đám lá cong keo, rách nát úp mặt vào đất. Gã biết phải đi đâu bây giờ! Ông Hiệu trưởng hết giờ làm việc, nhảy lên xe lao vào cột bụi, chạy về nhà; vì nơi xa xa vợ con đang đợi. Anh em giáo viên đồng nghiệp với Gã chưa kịp xây dựng gia đình, cũng chờ mong tan trường, nổ máy, rồ ga chạy như bị ma đuổi về thị trấn, nơi có đèn xanh, đèn đỏ nhấp nháy chào mời.

Còn Gã biết về đâu bây giờ? Quá nữa đời người, gần tròn ba chục năm gắn bó với mảnh đất Tây Nguyên đầy gió bụi, để rồi giờ đây chỉ còn lại một mình, trước không gian rộng lớn mà cô quạnh. Không! Đúng ra Gã cũng từng có một mái ấm gia đình, cũng từng có những buổi chiều thứ bảy hối hả đạp xe, lao mình qua những cột bụi đỏ ngàu về bên hai đứa con và người vợ đảm đang tháo vát. Gã cũng từng nếm mùi vị thơm tho của mỹ từ: Hạnh phúc! Bạn bè từng ganh tị với thành đạt của Gã; đem nhà Gã ra làm chuẩn mực để phấn đấu.

Vợ Gã, nói của đáng tội – trời không ban cho nhan sắc nhưng thông minh, sắc sảo trong cuộc sống. Vì thế, từ một cô giáo tiểu học đào tạo gấp gáp về gõ đầu trẻ trong chiến dịch xóa mù: “lấy số lượng làm chất lượng”, đã từ từ bước lên làm “đầy tớ nhân dân”, miệng thét ra lửa; để rồi những “ông chủ, bà chủ” dưới quyền mỗi lần được mời không bao giờ dám nhìn mặt, mà chỉ cúi đầu vâng, dạ. Nhờ vào bàn tay đảm đang ấy, ngôi nhà của vợ chồng Gã nằm giữa thị trấn không to lắm nhưng đầy đủ những thứ thiên hạ ao ước. Con Gã có hai đứa nối nhau vào đại học, ra trường các cơ quan giành nhau mời về làm việc. Với hoàn cảnh ấy, điều kiện sống ấy chắc chắn đức ông chồng trong ngôi nhà ấy phải hạnh phúc lắm mới phải chứ đâu lại lang thang vô định giữa chiều buồn thế này! Con người ta có số nên đến lúc đọan trường gặp toàn chuyện tai ương – lão nghĩ thế.

***

Có số thật không nhỉ? Hơn ba mươi năm về trước, Gã tình cờ về cộng tác “ba cùng” với người dân bản địa Tây Nguyên và tình cờ gặp ba cô giáo trẻ đồng hương vào cắm bản xóa mù. Việc của Gã làm chỉ mong mang lại bình yên cho cuộc sống cộng đồng, cảm hóa những người con buôn làng lầm lỗi bị dụ dỗ lôi kéo vào rừng trở về làm người dân lương thiện. Công việc còn giang dở, Gã đã bị hạ. Gã gục ngã không phải vì những viên đạn AR 15 găm vào ngực, cũng không phải bị mũi tên thuốc độc cắm vào người. Gã đổ chỉ vì một chén cơm trộn bột cây độc ăn phải. Cái thân xác to như hộ pháp của Gã đổ gục dưới chân cầu thang nhà sàn, nơi có ba cô giáo đồng hương ở nhờ. Không biết may hay không may, Gã được một cô giáo bị sốt rét ở nhà không đi dạy nhìn thấy, dìu ra quốc lộ đón xe đưa vào bệnh viện và thần chết lắc đầu trả gã về trần gian, vì Gã chưa hết kiếp lưu đày nơi trần thế.

Sau ba tháng lăn lóc ở bệnh viện chuyên ngành, Gã trở lại Tây Nguyên tuyên bố cưới vợ, cưới người cứu Gã làm cả cơ quan trợn tròn mắt tưởng đùa. Tính Gã là thế, đã quyết là làm cho được, bất chấp mọi lời can ngăn, khuyên bảo của bạn bè đồng nghiệp vẫn cắm đầu lao vào. Chưa đầy tháng sau, Gã ân hận biết mình nhầm nhưng nào có thể sửa sai được nữa.

Với khẩu súng Tổ quốc giao cho, Gã không ngại hòn tên mũi đạn lao vào công việc với mong muốn mang lại sự bình yên cho vùng đất mà mình đang sống. Bọn phản động không phải là hình nộm, càng không phải là tấm bia trên thao trường, đã năm lần bảy lượt tìm Gã thanh toán. Trong một lần bất ngờ chạm mặt, gã nhận hai viên AR15 vào người. Nhưng thần chết vẫn không chịu đón Gã.

Gần một năm lang thang qua các bệnh viện, cuối cùng gã dừng chân với một công việc mới: gõ đầu trẻ. Gia cảnh buồn, không dám san sẻ cùng ai, gã đành rót vào ngòi bút, ngập tràn trên giấy thành những vần thơ xoa dịu con tim tả tơi, rách nát. Gã làm thơ để tự an ủi mình, để giả thoát khỏi hiện tại và mơ ước vào tương lai, chứ đâu phải làm đăng báo.

Anh bạn cùng cơ quan ngày trước ghé nhà thăm khi gã đi vắng, vô tình đọc bài thơ để trên bàn, thấy hay hay mang về đăng trên tờ tin cơ quan. Thế là gã “nổi tiếng”, thành “nhà thơ”! Vợ Gã mừng quýnh, mang tờ tin in thơ Gã đi khoe khắp nơi và cuối cùng dừng lại trên bàn ông Chủ tịch huyện.

Ông Chủ tịch huyện người dân tộc bản địa, cả đời gắn bó với với mảnh đất nơi đây, đi xuyên suốt qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp rồi chống Mĩ; trên người mang đầy những vết sẹo do bom, đạn găm vào và có cả những vết cào của các loài ác thú; mắt tròng xoe khi nghe cô văn thư báo cáo: huyện ta có một nhà thơ mới xuất hiện! Quá nửa đời người ông chỉ biết có súng đạn, trận mạc; văn hóa mới xong chương trình cấp một bổ túc chứ nào có biết thơ phú là gì; nay nghe có “nhà thơ” thì quý lắm, kính trọng lắm nên ra quyết định điều ngay vợ “nhà thơ” về Phòng Giáo dục công tác, để nhà thơ yên tâm sáng tác. Thế là vợ Gã trở thành “đầy tớ của dân”!

Những tưởng số phận mỉm cười với Gã khi hai con ngày một khôn lớn, khoẻ mạnh, học giỏi và vợ Gã như diều no gió trên đường công danh. Gã vắt kiệt sức mình qua từng trang giáo án, từng tiết dạy để đón nhận ánh mắt kính trọng của đồng nghiệp, học trò, phụ huynh. Nhưng những ánh mắt ấy không xoa dịu được nỗi cô đơn mỗi khi phải bước chân về ngôi nhà của mình. Buồn, Gã lại tìm đến với thơ, gửi tâm sự vào thơ.

Có lẽ đó là định mệnh chăng, khi “ai đó” chép thơ gã gửi đăng báo tỉnh, đề rõ tên Gã. Báo phát hành người khen thơ hay, người kêu lên ủy mị quá, thiếu chất chiếu đấu; thậm chí có người còn cho rằng đây là bài thơ có “vấn đề”. Họp, họp và họp! Người ta lại lôi Gã đi họp để nghe phê bình, đấu tố vì bài thơ có tính chất phản động, chống chế độ… thế là Gã bị kỹ luật.

Một buổi chiều, lại là buổi chiều như một định mệnh, vợ Gã nặng nề bước vào nhà đặt lên bàn làm việc của Gã tờ đơn xin li hôn, chấm dứt hai sáu năm chung sống. Gã kí và chưa tròn tháng sau tòa trao cho gã quyết định li hôn. Gã gầm lên, bẻ bút ném ra sân, thề với đất trời sẽ không bao giờ viết lách gì nữa rồi xách chiếc va li đựng mấy bộ đồ cùng những tập giấy thấm đẫm mồ hôi qua bao năm tháng về khu nhà công vu, bỏ lại sau lưng tất cả những gì cho là phù phiếm.

Bạn bè đứa chửi, đứa la, bảo Gã: Ngu! Điên! Gã chỉ cười, còn được dạy học đã là tốt lắm rồi! Gã chỉ cần có học trò, có đồng nghiệp để được chỉ cho người ta thấy cái hay, cái đẹp, cái cao thượng qua từng con chữ trong sách giáo khoa; thế là toại nguyện!

***

          Hoàng hôn tím sẫm, đường chân trời chỉ còn một cụm mây hồng mờ ảo xa xăm. Gã nhìn mãi, nhìn mãi vào đường viền chân trời đang mờ dần. Vài ngôi sao lạc lỏng vừa xuất hiện trên nền trời xanh thẳm. Mải nhìn trời, gã khỗng thấy đứa bé gái da đen nhẻm, tóc xoắn tít, gập người cõng chiếc gùi to quá khổ bước vào khoanh tay trước ngực.

– Thưa thầy!

Gã giật mình ngước nhìn cô học trò bé nhỏ, đầu tóc mặt mũi dính đầy bụi, miệng cười tươi khoe hàm răng trắng đều như bắp nếp đủ nước, thỏ thẻ:

– Amí(1) bảo mang cho thầy mấy quả ăn Tết ạ!

Nói dứt lời, cô bé đặt gùi xuống, lấy ra một chùm ổi vàng rộm, thơm lừng; chục quả bắp vừa bẻ, bẹ còn xanh rờn và một quả thơm to đùng đặt lên bàn.

– Về nói với ama(2), amí thầy cảm ơn nhé!

– Dạ!

Cô bé gập mình, khoanh tay chào trước khi nhấc gùi đứng dậy đi ra cửa, bước về phía mặt trời lặn. Ánh mặt trời cuối ngày bất chợt chui khỏi đám mây trên đỉnh núi, lóe lên, buông xuống những giọt vàng phủ lên vai, lên tóc cô học trò làm rực lên những ánh sáng lung linh huyền ảo. Gã sửng sốt nhìn theo rồi vội vã vào bàn cầm bút, hối hả viết, viết như sợ ai tranh mất phần.

Viết! Phải chăng đó là cái nghiệp gã đã mang nên trọn đời gánh chịu, dù nó có phủ phàng, tàn nhẫn đến đâu đi nữa. Viết, đó là lẽ sống hay nói đúng hơn đó là những khoảng khắc gã chộp được về thân phận con người, mảnh đời, xã hội… ngày một tốt đẹp hơn lên trong cuộc sống, buộc gã phải bắt lấy, giữ lại bằng tác phẩm của mình và quên mất… lời thề bẻ bút vứt đi hôm trước!

Mùa đông năm 2005

 

 

 

Chú thích tiếng Êđê:

1. Amí: má;

2. Ama: ba;