Thứ Năm, 17 tháng 10, 2013

BAN MÊ MÙA THU tản văn của HỒNG CHIẾN - CHƯ YANG SIN SỐ: 242 THÁNG 10 NĂM 2012








Nhắc đến mùa thu người ta thường nghĩ ngay đến cảnh lá vàng úa một màu phủ lên cây và mặt đất, chờ những cơn gió đến mang đi, để trơ lại những cành như đã hết sức sống chống chọi với mùa đông. Còn trên thành phố Ban Mê được mệnh danh là “thủ phủ Cao Nguyên” lại hoàn toàn khác với những gì các văn nghệ sĩ từng viết về mùa thu trên đất Bắc; thu về, trời nổi cơn giông và những hạt mưa cứ thi nhau rơi xuống, rơi xuống làm cây cối đua nhau đâm chồi nảy lộc, khoe với đất trời một màu xanh bất tận, tươi tắn và đầm ấm.
Nếu bạn đến thành phố từ sân bay Buôn Ma Thuột sẽ được thấy con đường đẹp như tranh vẽ với các cây cổ thụ cao chót vót sừng sững hai bên đường như những người lính nghiêm trang đón chào. Đường Nguyễn Lương Bằng – con đường được đánh giá đẹp nhất thành phố đưa bạn qua rừng cây thực nghiệm gần trăm tuổi với những gốc cây hai người ôm không hết, cành lá xanh tươi. Xa xa, rừng cà phê khoe màu lá xanh um để lộ ra nơi nách lá từng chùm quả màu xanh sẫm, tròn căng như được một bàn tay khéo léo gắn vào. Cuối thu nhiều cây đã điểm đôi quả chuyển từ màu xanh qua phớt hồng báo hiệu sắp đến mùa thu hoạch.
Nếu đến Ban Mê từ phía bắc theo con đường Hồ Chí Minh, bạn sẽ thấy con đường rộng thênh thang được trang điểm bằng những ngôi nhà cao tầng tọa lạc hai bên đường hay các nhà máy, xí nghiệp đồ sộ được quy hoạch hiện đại có cây xanh mượt mà tỏa bóng. Thành phố đang tiếp tục phát triển về phía Bắc và sau các dãy nhà cao tầng ấy là những cánh rừng cao su bạt ngàn đang vươn mình lao lên trời xanh khoe tán lá xanh đen như những chiếc ô khổng lồ làm chúng ta có cảm giác của sự mát mẻ của vùng đất thanh bình thân thiện với thiên nhiên.
Còn bạn là người từ phía Nam lên theo quốc lộ 14, khi vượt qua cầu Srêpôk – nơi có dòng sông chảy ngược ồn ào tung bọt trắng qua các gềnh đá - đặt chân lên địa phận thành phố, bạn sẽ được chứng kiến những ngôi nhà khang trang nép mình sau những hàng cây cảnh khoe lá non tơ đang khoan khoái đón những hạt mưa tắm gội. Thỉnh thoảng bên đường lại để lộ ra những đám ruộng vừa mới thu hoạch xong, các gốc rạ đua nhau mọc lên những nhánh lúa mới quyến rũ đàn cò trắng mải mê dạo bước ngắm nhìn.
Trong thành phố, con đường nào cũng rợp bóng cây xanh. Cây nào cũng như đua nhau khoe sắc, khẳng định sức sống mạnh mẽ của thiên nhiên. Có lẽ hiếm có nơi nào như thành phố trẻ này, ngay tại phố trung tâm thành phố nơi được đầu tư xây dựng Nhà bảo tàng nguy nga, lộng lẫy vẫn giữ lại được cả một khu rừng nho nhỏ của đại ngàn với các cây cổ thụ hàng trăm tuổi, có cây gốc to bốn năm người ôm không hết. Thỉnh thoảng một cơn gió nhẹ thổi qua giật trên tán lá đôi chiếc lá vàng thả theo gió chao nghiêng trước khi đáp xuống mặt đường và theo nước mưa vội vã chui xuống các ống cống bên đường. Quy luật của cuộc sống là vậy, lá xanh chuyển qua vàng và rời cành cây về với đất mẹ, đó là quy luật muôn đời của tạo hóa phải như thế. Song qua những cơn gió, đôi khi ta thấy những chiếc lá còn xanh cũng bị gió ném xuống mặt đường. Gió cũng chỉ làm công việc của mình theo quy luật tự nhiên: những chiếc lá chưa vàng, nhưng bị sâu gặm hay những chiếc lá do tác động ngoại cảnh không thể chịu đựng được thử thách của môi trường sẽ phải tự đào thải để trả lại màu xanh mượt mà cho cây cối; âu đó cũng là quy luật tất yếu của cuộc sống!
Mùa thu Tây nguyên nói chung, mùa thu trên thành phố Ban Mê nói riêng bao giờ cũng tràn căng sức sống với màu xanh mượt mà của cây cối làm không gian đượm không khí thanh bình của một vùng đất thơ mộng, nồng ấm. Mùa thu Ban Mê là vậy, nếu ai chưa đến hãy ghé thăm một lần cho biết khung cảnh nơi đây và tôi tin chắc rằng, nếu bạn đã đến một lần thì sẽ muốn đến nhiều lần và có khi muốn ở lại luôn mảnh đất có khí hậu ôn hòa, cây cối bốn mùa tươi tốt và con người cũng chân tình với nhau hơn qua ly cà phê thơm nức tỏa hương vào không gian.
Ban Mê mùa thu là thế!

Thứ Sáu, 11 tháng 10, 2013

CON GẦM GÌ NÂU truyện ngắn của HỒNG CHIẾN - CHUYANGSIN SÔ: 142 tháng 10 năm 2004










Ông mặt trời như chiếc chảo lửa treo chính giữa đỉnh đầu đổ cái nóng bức, ngột ngạt xuống khắp mọi nơi! Rừng cây thiu thiu ngủ, quên cả  cựa mình làm bầy chim Chơ Rao đứng trên cành há miệng thở hổn hển. Mặt Y Khuôn mồ hôi chảy thành dòng, rơi thành hạt một xuống mặt đất. Chiếc gùi sau lưng có một trái bầu khô đựng nước cũng làm tăng thêm sự nóng bức. Hết buổi sáng chủ nhật, lội khắp các cánh rừng, mỏi nhừ cả hai chân vẫn không tìm thấy bóng dáng một con  gầm gì nào cả. Mọi năm cứ đến mùa quả cọ già, chim gầm gì kéo nhau về ăn bay kín cả mặt trời, loài chim này có hình dáng giống y bồ câu nhà, sống tít tắp trong rừng sâu chỉ đến mùa cọ có quả gần chín mới tìm về. Mỗi bầy thường phải hàng ngàn con, con nào con ấy to như con gà mái mẹ; khoác bộ lông màu nâu sẫm giống màu lông chim ngói. Chúng ăn theo bầy, vừa ăn vừa tíu tít trò chuyện như người Kinh họp chợ buổi sáng. Mùa chim tìm về ăn quả cũng là mùa săn của các chàng trai choai choai rỗi việc, nghịch ngợm. Cọ thường mọc thành rừng ở các vùng đầm lầy có nhiều lau, lách che kín gốc. Không biết chúng có từ bao giờ nhưng cao lắm, bọn trẻ không bao giờ dám trèo lên cho dù có bắn được chim mắc trên cành.
          Mùa săn – khi trời tờ mờ sáng đám con trai rủ nhau núp quanh gốc cây chờ chim về. Vì cây cọ quá cao sức bay của mũi tên lên đến mục tiêu thường sai lệch, có trúng chim cũng bay một đoạn xa mới rơi. Cứ mỗi lần có đứa nào bắn trúng, cả bọn hò hét ầm ĩ  đuổi theo tìm nhặt. Bầy chim tham ăn giật mình bay lên liệng vài vòng lại đáp xuống; nhiều con đứng im nhìn, một chốc lại tíu tít trò chuyện như không có việc gì xảy ra.
          Mọi năm là vậy, còn bây giờ người dân di cư  tự do  vào nhiều quá, chặt phá hết để làm ruộng gieo trồng nên chim không về nữa. Bực thật!
          Lâu lắm rồi bọn con trai cùng lứa với Y Khuôn, đứa nào cũng phải ghen tị tài bắn của nó. Nó đã xách nỏ vào rừng là y như hôm đó phải có thịt trong gùi vậy mà hôm nay có lẽ phải về không .
-         Gù – gì ! Gù- gì !
Thoảng như có tiếng chim gù gì đâu đó xa xa vọng lại, mắt Y Khuôn sáng lên khi phát hiện một cây cọ còn sót lại đứng bên bờ suối. Chắc ở đó rồi, mừng quá, xốc vội gùi, xăm xăm vượt qua đám ruộng nước cuốc nham nhở còn dày đặc gốc cọ bị đốt cháy đen thui. Tiếng chim kêu như  có lực hút mãnh liệt làm Y Khuôn quên cả mặt nước đầy phèn đặc quánh, nóng bỏng. Quên luôn cả ông mặt trời hừng hực lửa dội xuống đầu. Hai mắt dán chặt vào ngọn cây cọ nơi phát ra tiếng chim.
Cây cọ cao tít tắp, nhì tàu lá chỉ to như chiếc nón, chen tàu lá, từng buồng trải vươn dài rũ xuống đen đen, nhìn không rõ quả. Đậu ngay trên chùm quả, con gù gì đang gật gù ném vào không gian những tiếng kêu buồn buồn : gù gì ! gù gì !
Không biết vì sao nó lại đi chỉ có một mình nhỉ? Chẳng lẽ rừng bị phá hết nên chúng đi vào rừng xa sinh sống? Hay chúng chết hết rồi vì không còn rừng kiếm sống? Hay đây là con chim đi trinh sát trước khi gọi bầy về ăn? Mặc kệ, phải bắn nó thôi. Chiều nay về buôn thấy mình xách con gầm gì chắc bọn họ sẽ lác mắt; phải thôi, vua rừng mà!
Y Khuôn nép sát vào thân cây sung chỉ cách gốc cọ vài bước, cẩn thận ngắm vào ức. Đây là chỗ hiểm nhất của con chim, da mỏng sát ngay với diều, mũi tên chạm nhẹ cũng dính vào diều, chim đau không bay được; còn mạnh một chút chạm vào các đốt xương cổ chim sẽ rơi ngay, không bay được. Với đà bay của mũi tên, chắc chắn con gầm gì sẽ gãy cổ, rơi ngay tại gốc.
- Phựt!
Tiếng lẫy nỏ vang lên, mũi tên xé gió xuyên đúng mục tiêu. Con gầm gì cuống quýt xòe cánh cố gắng lấy thăng bằng, nhưng nó vẫn từ từ rơi xuống như một chiếc lá lìa cành. Hối hả buơn qua góc sình còn đám lau, lách chưa phát, lội qua suối, leo được lên bờ phía bên kia.Y Khuôn chợt sửng lại khi nhận ra một mái nhà tranh hai gian trát đất khá xinh xắn mới dựng. Trước nhà hai đứa bé, một trai, một gái ngồi chơi. Quay nhìn ngọn cây cọ, ước tính điểm rơi, Y Khuôn biết con chim chỉ rơi cạnh ngôi nhà này thôi; chắc bọn trẻ nhặt mất rồi. Thằng con trai chỉ bằng tuổi mình, em nó nhỏ hơn sẽ không dám gây sự đâu. Tính trước như  vậy, biết phần thắng về mình, Y Khuôn đi thẳng vào sân hỏi:
-         Hai đứa vừa nhặt con chim của mình bắn rơi phải không?
-         Không!
Thằng anh đứng dậy trả lời, còn con em dấu tay ra sau lưng, mắt nhìn như tìm vật gì rơi xuống đất. Cả hai anh em đều mặc áo chàm không có khuy nhựa, chắc là người Tày rồi .
-         Tao vừa bắn nó trên cây cọ kia, chắc chắn phải rơi ở đây.
-         Từ gốc cọ tới đây xa cả trăm mét, làm sao mày biết nó rơi xuống chỗ này ?
Bọn này thấy con chim to, ngon quá nổi máu tham ăn cướp của mình đây; phải dạy cho nó bài học mới được. Nhưng nó nói cũng có lý, làm sao có chứng cớ buộc nó phải nhận. Con chim lớn vậy, rơi xuống chắc phải có dấu để lại trên mặt đất. Tìm được dấu bọn chúng hết đường chối cãi. Nghĩ vậy Y Khuôn đưa mắt nhìn quanh sân, đám vườn được cuốc đất, làm cỏ sạch sẽ, chuẩn bị trồng.
-         A! Đây rồi.
Y Khuôn reo lên chạy lại đám đất gần giếng còn in rõ vết máu thấm vào đất và một ít lông vương vãi.
-      Chúng mày nhặt chim của tao rồi. Đưa trả đây. Ăn cướp của người khác như vậy là không tốt đâu .
-      Tại sao mày cứ bảo tao nhặt chim của mày? Chúng tao có chết đói cũng không ăn trộm của người khác, chứ thèm gì con chim.
-      Nó rơi ở đây không mày thì đứa nào vào đây nhặt? Hay con bé này nhặt? Đưa không?
       Y Khuôn sấn lại chỗ con bé đứng, nó sợ quá chạy lại níu áo anh, giọng mếu máo:
-      Anh!
-      Con kia mày đưa tay tao xem, tay phải còn dấu máu đây; chối cãi nữa không? Trả mũi tên cho tao.
       Thằng anh đứng như khúc gỗ, mặt đỏ nhừ, con em buông áo anh chạy lại nhấc chiếc chổi lấy mũi tên lên :
-   Sao anh ác thế!Con chim đẹp như vậy anh nỡ bắn nó. Anh không đi học phải không?
- Con này láo, mày dám bảo tao ngu à?
- Không phải em bảo anh vậy đâu; em nghĩ nếu anh đi học các thầy cô sẽ dạy cách bảo vệ thú rừng  thì anh không đi bắn chúng.
            Con bé ghê thật, nó nhỏ tí mà dám bắt bẻ cả mình, nhìn tướng bé tẹo thế này cùng lắm học lớp năm là cùng, phải kém mình tới ba lớp chớ không ít. Nó nói cũng có lý đấy; song muốn ăn cướp của mình nên già miệng đây. Giờ có đủ tang chứng rõ ràng, chắc chắn chúng phải trả cho mình rồi.
-   Không nói lôi thôi nữa, trả chim cho tao mau !
-   Em không lấy thật mà !
-   Láo ! Không lấy sao có mũi tên dấu ở đây? Chúng mày có đưa không thì bảo.
-   Em thả cho nó đi rồi .
-   Trúng tên của tao chỉ có chết chứ làm sao còn bay được. Hay bay vào bếp nhà mày rồi ?
-   Sao mày coi thường anh em tao thế ? Mũi tên chỉ chạm vào cánh xuyên qua phần da, con chim không vỗ cánh được nên mới rơi xa gốc cây như vậy.
-   Dấu đầu thò đuôi nhé. Anh em nhà mày có nhặt được nó mới biết nó bị thương thế nào chứ. Trả cho tao nhanh lên.
             Y Khuôn túm cổ áo thằng anh vung tay đấm một cú thật mạnh.
-   Đừng đánh nữa, nó ở đây này!
Con bé nói như khóc, giơ tay chỉ lên ngọn cây đa sau nhà, con gầm gì đang đậu trên cành, cánh bên trái còn vết máu tím sẫm.
Em xin anh đừng bắn nó, để nó về rừng đi. Ai cũng như anh cả còn đâu thú rừng nữa.
Nhìn con bé đang cầu xin, nhìn thằng anh có vẻ cam chịu, đôi mắt buồn vời vợi,bất giác Y Khuôn thở dài hạ nỏ xuống.
-   Anh tha cho nó rồi phải không?
Con bé reo lên, chạy lại cầm lấy tay Y Khuôn giật giật.
-Ừ! Mình xin lỗi hai anh em nhé.
-   Xuỳ, xuỳ, bay đi, bay đi nào.
Con bé mừng rỡ buông tay Y Khuôn chạy lại bên gốc cây kêu ầm lên, hai tay khua loạn xạ. Có lẽ con gầm gì cũng hiểu được tiếng người, nó vỗ cánh lao vút lên trời xanh, nhằm ngọn núi cao bay tới. Ba đứa đứng nhìn nó bay, bay mãi cho đến khi nhỏ dần, nhỏ dần và lẫn vào bóng núi.
                                                                            

Thứ Năm, 10 tháng 10, 2013

NƠI CƠN LŨ ĐI QUA ghi chép của HỒNG CHIẾN - CHƯ YANG SIN SỐ: 182 tháng 10 năm 2007







Trong bảy chục năm gần đây mà người già còn nhớ được, thì chưa bao giờ người dân Dak Lak phải chứng kiến những trận mưa xối xả như trút nước, rồi những cơn lũ gầm rú dữ dội như trận bão số hai tháng 8 năm 2007 vừa qua gây ra. Cầu Nước Đục trên quốc lộ 26A thuộc địa phận xã Ea Phê, huyện Krông Păk cao là thế mà vẫn bị nhấn chìm dưới dòng nước gần một mét, cuốn phăng cả chiếc ô tô bốn chỗ ngồi đang lưu thông trên đường, ném  xuống ruộng lúa. Huyện Ea Soup hàng chục hộ bị nước cướp mất nhà cửa, tài sản dành dụm mấy chục năm trời phút chốc bỗng trắng tay. Nhưng thiệt hại kinh khủng nhất phải kể đến huyện Krông Năng, một huyện có vị trí địa lý nằm ở phía đông bắc tỉnh, một vùng đất trù phú, cuộc sống người dân tương đối ổn định, nhiều người dân từ các vùng quê xa xôi như Thái Bình, Thanh Hoá, Cao Bằng, Bắc Cạn, Thừa Thiên-Huế… đến lập nghiệp không những thoát nghèo mà còn đang thực sự giàu lên; nhà cửa khang trang, tiện nghi sinh hoạt trong gia đình tương đối đầy đủ, con cái được ăn học đến nơi đến chốn. Con người cần  cù, đất đai màu mỡ và cứ thế người dân huyện Krông Năng nói chung và người dân xã Phú Xuân nói riêng đã tạo dựng được một cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Nào ngờ cơn bão số hai như một con quỷ dữ vụt đến, phá tan cuộc sống thanh bình của người dân nơi đây. 270 héc ta cà phê bị trốc gốc, nước cuốn trôi; 850 hec ta lúa đến ngày thu hoạch bị nhấn chìm; 48 ngôi nhà bị hư hỏng; 47 ngôi nhà bị ngập úng; 31 hộ bị nuớc cuốn trôi toàn bộ tài sản. Nhưng có lẽ  những thiệt hại đó chưa thấm gì so với sự mất mát về con người: 9 người bị nước cuốn trôi, 2 người chết và 4 người mất tích; cho đến nay đã gần một tháng trời trôi qua, hàng ngàn lượt người dân và các lực lượng quân sự được huy động đi tìm vẫn không thấy xác những người xấu số; trong đó có một gia đình bị nước cướp sạch cả người và nhà cửa. Những con số thống kê thiệt hại của huyện Krông Năng cho ta thấy mức độ tàn phá ghê gớm của cơn bão số hai gây ra.
Nhằm chia sẻ nỗi đau thương, mất mát của nhân dân và tìm hiểu xem chính quyền địa phương đã khắc phục thiên tai như thế nào, tôi khăn gói tìm về xã Phú Xuân. Trụ sở UBND xã rất đông người, nhưng đa sôù lãnh đạo đi vắng, chỉ còn một vị Phó chủ tịch xã ngồi ngay cạnh nhân viên văn thư, tiếp dân, giải quyết các sự vụ. Người dân xếp hàng chờ đến lượt mình được tiếp khá đông. Nhà thơ Trần Chi, Phó trưởng Đài Truyền thanh -Truyền hình huyện Krông Năng đưa tôi vào gặp ông Lê Đình Chủng, Phó chủ tịch xã; ông bắt tay và nói như thanh minh: Anh thấy đó người dân đang đợi đến lượt được giải quyết công việc nhiều như thế, vậy mà  chỉ có mình tôi ở nhà, các anh ấy đi xuống các thôn buôn cả rồi.
Nhìn khuôn mặt khắc khổ của vị Phó chủ tịch xã, tuổi chỉ độ trên bốn mươi, lòng tôi xốn xang. Có lẽ đã nhiều đêm thức nên đôi mắt thâm quầng, khuôn mặt phờ phạc, nhưng vẫn phải gồng mình lên với công việc. Bàn làm việc tiếp dân và tiếp chúng tôi chỉ có sổ sách, bút mực và thêm một chồng hồ sơ; không ấm, không ly uống nước như các công sở khác mà chúng tôi thường đến. Nhìn phong cách làm việc của người cán bộ xã vùng lũ vừa đi qua thấy thương đến nao lòng
 Biết anh rất bận, tôi xin  được nắm sơ qua một vài số liệu của xã sau khi cơn bão số hai tràn qua và tình hình khắc phục sau bão. Theo báo cáo tổng hợp của văn phòng UBND xã, đa số các hộ dân bị mất mát, hư hỏng nhà cửa do cơn bão gây ra đã được chính quyền giúp đỡ sửa chửa lại nhà cửa, ổn định cuộc sống; ngoài ra những hộ bị lũ cuốn trôi, mất hết tài sản còn được chính quyền trợ cấp chăn màn, quần áo, lương thực để vượt qua cơn hoạn nạn. Tất cả các em học sinh được giúp đỡ sách vở cho kịp thời dự khai giảng, không có học sinh bỏ học vì khó khăn kinh tế. Để làm được điều đó một phần nhờ sự hỗ trợ kịp thời của tỉnh, huyện; một phần nhờ sự giúp đỡ của các đoàn cứu trợ nhân đạo của các tỉnh bạn. Trong thời gian qua đã có hơn chục đoàn cứu trợ nhân đạo của các cơ quan ban ngành trong và ngoài tỉnh đến thăm hỏi, tặng quà, giúp đỡ các gia đình  gặp nạn. Sự có mặt của các đoàn cứu trợ nhân đạo không những góp phần khắc phục khó khăn về đời sống vật chất cho các gia đình bị nạn mà điều đáng quý hơn gấp nhiều lần là các hộ gia đình ấy cảm nhận được vòng tay nhân ái của bạn bè khắp nước chia sẻ với mình, làm vơi đi nỗi buồn đau do thiên tai giáng xuống mà cố gắng gượng dậy, gây dựng lại cơ nghiệp.
Cuộc trao đổi của chúng tôi bị gián đoạn nữa chừng vì tiếp tục có hai đoàn cứu trợ nhân đạo từ thành phố Hồ Chí Minh lên xin gặp. Thông cảm với địa phương, tôi xin phép được xuống thăm gia đình bị thiệt hại nặng nhất do cơn bão gây ra. Bắt tay thật chặt, Phó chủ tịch  xã giọng áy náy nói thêm: Tình hình địa phương như vậy, anh thông cảm nhé!
Trên đường về thôn Xuân Thái II thăm gia đình ông Nguyễn Văn Tá, gia đình bị nước lũ cuốn trôi nhà và năm người vào buổi sáng oan nghiệt mùng bốn tháng tám vừa qua; tiện đường, nhà thơ Trần Chi đưa tôi vào dự lễ công bố quyết định công nhận thôn Văn hóa, thuộc xã Phúù Xuân. Ở một vùng đất vừa bị lũ quét tàn phá nặng nề thế mà nhân dân địa phương vẫn cố gắng gượng dậy, đứng lên, khắc phục khó khăn, ổn định cuộc sống, xây dựng cuộc sống mới thì thật đáng khâm phục. Thấy chúng tôi, ông Trần Văn Huy Chủ tịch UBND xã niềm nở ra bắt tay đưa vào. Hội trường đông nghịt người dân đến dự lễ, khuôn mặt ai cũng thấy bừng sáng niềm vui. Trên sân khấu, các em học sinh đang biểu diễn văn nghệ chào mừng. Trao cho tôi ly nước, ông Chủ tịch xã không giấu được vẻ tự hào nói: Sau mấy chục năm trời phấn đấu đến khi chuẩn bị được công nhận Thôn Văn hoá thì cơn bão số hai ập vào; cũng may, do vị trí các hộ gia đình thôn Xuân Mỹ ở cao nên không bị thiệt hại về người, còn nhà cửa hư hại, hoa màu bị tàn phá có nhẹ hơn so với các thôn khác trong xã; đặc biệt nhân dân trong thôân Xuân Mỹ này toàn là người xứ Huế vào xây dựng kinh tế mới cách đây tròn ba chục năm hết sức đoàn kết, giàu lòng nhân ái, tình làng nghĩa xóm sâu nặng nên các hộ thiệt hại ít giúp hộ thiệt hại nhiều, nhanh chóng khắc phục hậu quả; ngoài ra còn giúp đỡ thêm các thôn khác nữa. Trong khó khăn, hoạn nạn mới hiểu hết lòng nhau.
Nhìn khuôn mặt cương nghị, rắn rỏi của vị Chủ tịch xã Phú Xuân tôi thấy an lòng. Các anh, những người cán bộ được Đảng và nhân dân tín nhiệm đã vững tay chèo, vượt qua thử thách, ổn định được đời sống cho mọi người sau thiên tai. Cơn bão khủng khiếp tràn qua chưa lâu, nhưng có những vùng như thôn Xuân Mỹ đã khắc phục được hậu quả và mừng hơn, còn được vinh dự  công nhận danh hiệu: Thôn Văn hoá. Việc tổ chức đón nhận Thôn Văn hoá trong thời điểm này sẽ là nguồn cổ vũ rất lớn đối với thôn Xuân Mỹ nói riêng và cả xã Phú Xuân nói chung. Đây là sự ghi nhận của chính quyền cấp trên đối với những cố gắng vượt bậc của Đảng, Chính quyền và nhân dân không chỉ thôn Xuân Mỹ mà cả xã Phú Xuân trong thời gian qua.
Rời thôn Xuân Mỹ, chúng tôi tiếp tục cuộc hành trình về thăm gia đình ông Nguyễn Văn Tá. Đoạn đường từ Công ty cà phê 49 rẽ vào rất khó đi vì lầy lội. Đoàn từ thiện Phật giáo từ thành phố Hồ Chí Minh lên phải để xe ô tô ngoài đường nhựa đi bộ vào. Tôi và Trần Chi đánh vật với chiếc xe mô tô, hết trượt bên phải lại lao qua bên trái; nhiều chỗ bùn lút gần nửa bánh xe, quần áo lấm vùi. Con đường men theo lô cà phê dài độ 5km cuối cùng cũng lùi lại phía sau, chúng tôi đến bờ sông Krông Năng.
Đứng trên bờ sông nhìn dòng nước giờ này đã hiền hoà hơn, chiều ngang chỉ độ hơn hai chục mét, nước sông đỏ sậm phù sa. Trần Chi vỗ vai tôi chỉ lên rặng tre gai mọc bên bờ sông: Anh nhìn những cọng rác còn mắc trên ngọn tre kia kìa. Hôm lũ tràn về ngập đến tận  đó. Tôi ước tính từ mặt nước lên đến bụi tre cũng phải hơn chục mét, vậy mà ngọn tre cao gần chục mét ấy bị nước tràn qua thì thật kinh khủng. Theo chân Trần Chi, tôi đến ngôi nhà của người đàn ông không may Nguyễn Xuân Tá. Theo như giới thiệu của người em trai ông Tá, ngôi nhà xây năm phòng khá kiên cố, tường xây gạch dày hai mươi phân, móng nhà được đổ giằng bằng bê tông cốt thép, mái lợp tôn màu theo kiểu nhà Thái. Đây là tài sản dành dụm hơn hai chục năm trời của cặp vợ chồng bằng nghề chèo đò. Những tưởng xây được căn nhà kiên cố, đẹp đẽ, khang trang để con cái có chỗ học hành theo kịp bạn bè. Nào ngờ cơn lũ ập đến, cả nhà gồm hai vợ chồng, hai đứa con và người em vợ ngoài quê mới lặn lội hơn ngàn cây số vào thăm anh chị và các cháu đã bị dòng nước nhấn chìm, cuốn đi. Ngôi nhà xây kiên cố là thế, giờ chỉ còn trơ lại cái móng nhà, còn tất cả đã bị dòng nước xoá sạch, không để lại dấu vết. Ba ngày sau cơn lũ quét, người dân địa phương tìm thấy xác người em bị vùi dưới cát cách ngôi nhà gần hai chục km. Bốn người còn lại trong gia đình cho đến nay vẫn không tìm thấy xác. Trên nền ngôi nhà cũ, giờ đây chỉ còn một trang thờ nhỏ khoảng một mét vuông do bà con thân thuộc dựng lên làm chỗ thắp hương cho những người đã khuất. Bên trang thờ, một em bé gái đầu chít khăn trắng đang đứng lặng bên bình hương nghi ngút khói. Qua giới thiệu của những người anh em, bà con thân thích đến thắp hương tưởng nhớ cho những người xấu số, tôi biết em tên là Nguyễn Thị Nga, học sinh lớp chín trường PTCS 49, người con còn lại duy nhất trong gia đình năm khẩu. Trong cái ngày định mệnh ấy em về  thăm quê nên thoát nạn. Khi đi, cha me,ï các em còn ríu rít đưa tiễn; ngày về tất cả vắng lặng đến ghê người. Căn nhà xưa đã bị xoá sạch chỉ còn trơ lại cái nền nham nhở. Vành khăn tang trên đầu em bé mảnh mai ấy gánh cả cho năm người xấu số. Không nhà, không còn tiện nghi sinh hoạt, em đang được dòng họ cưu mang và cả các bàn tay nhân ái của Đảng, chính quyền các cấp quan tâm, giúp đỡ để vượt lên. Theo như  bà con hàng xóm cho biết: lãnh đạo của một sở nọ ở tỉnh Dak Lak đã hứa giúp em vào học tại trường Văn Hoá II trên thành phố Buôn Ma Thuột; nhưng lời hứa đó qua đã lâu rồi mà em vẫn còn ở đây! Mong sao những người có trách nhiệm đã hứa với đứa con gái mồ côi tội nghiệp này hãy giữ lời để em khỏi mòn mỏi trông chờ. 
Dòng sông nước vẫn chảy, những ngôi nhà sập tường, tốc mái đã được dựng lại; nhưng những vành khăn tang thì còn lại với những người thân, không dễ gì có thể hàn gắn được. Thiên tai quá ác, sự giận giữ của thiên nhiên quả là khủng khiếp. Giờ này, những người còn sống, những người có trách nhiệm phải ngồi lại với nhau tìm cho ra nguyên nhân nào dẫn đến sự thiệt hại về người và vật chất tàn khốc đến thế. Có phải do người dân chủ quan vì lâu lắm rồi chưa ai thấy lũ lụt ghê gớm như thế xảy ra, không ai đề phòng nên mới thiệt hại như vậy! Hay tại hệ thống cảnh báo lũ lụt của chúng ta chưa tốt, không dự báo  trước được những trận lũ quét lớn sẽ xảy ra! Hay tại con người cạo trọc rừng xanh nên thiên nhiên giận dữ trút nước xuống không có gì ngăn cản, dồn lại thành thác lũ trả thù con người!...
Vâng! Sau tai hoạ người ta đang mổ xẻ tìm ra nguyên nhân để từ đó rút ra bài học kinh nghiệm. Để có được điều ấy, các ngành chức năng có trách nhiệm ở tỉnh, ở trung ương, cần phải có sự nghiên cứu kỹ lưỡng, dự báo chính xác giúp người dân tránh được những thiệt hại không đáng có.

Cơn lũ đã đi qua, cuộc sống dần dần trở lại sự bình yên như vốn có của nó. Để có được điều đó chúng ta ghi nhận sự cố gắng rất lớn của Đảng, chính quyền xã Phú Xuân nói riêng và huyện Krông Năng nói chung. Chúng ta tin và mong rằng với truyền thống tốt đẹp của người dân Việt Nam “lá lành đùm lá rách”, người dân vùng lũ xã Phú Xuân lại gồng mình đứng lên gây dựng lại cơ đồ tươi đẹp hơn những gì vừa bị dòng lũ cướp mất...

Chủ Nhật, 6 tháng 10, 2013

TỶ PHÚ NHỜ CÂY DÓ BẦU


Chú thích ảnh trên: anh Khúc Văn Liệu bên vườn dó bầu

Ghi chép của HỒNG CHIẾN

Gần đây ở huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk dư luận bàn tán xôn xao về một người nông dân “bất ngờ” trở thành tỷ phú, chuyện thật được bao nhiêu chưa rõ, nhưng cũng làm nhiều người tò mò, trong đó có tôi muốn biết thực hư ra sao nên cất công đi tìm cho biết. Theo quốc lộ 26A từ thành phố Buôn Ma Thuột xuôi về phía thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa; đến Km 68 rẽ phải theo đường liên xã vào xã Cư Brông. Con đường nhựa ngày nào, nay chỉ còn lại dấu vết những hố lồi lõm và những rãnh đá sỏi trộn nhựa gập ghềnh; nhiều nơi đường chỉ còn trơ mặt đất đầy bùn đỏ quạnh. Sau khoảng 6 km đánh vật với quãng đường hư hỏng nặng, tôi cũng hỏi thăm đến được ngôi nhà mình cần đến.
Trước mắt tôi một ngôi nhà xây cấp bốn, lợp ngói, ba gian; giống như mọi căn nhà bình thường khác ở vùng nông thôn đồng bằng Bắc bộ; trước sân dựng chiếc xe máy hãng Honda màu xanh. Anh Khúc Văn Liệu, chủ nhà tuổi chắc chưa đến bốn chục và người vợ còn khá trẻ, ra cửa niềm nở mời chúng tôi vào nhà. Trong nhà kê bộ xalong thẻ ở gian chính giữa, gian bên phải để chiếc giường đôi và tủ đựng chiếc ty vi màu; gian bên trái dùng làm phòng ngủ cho người mẹ già trên tám chục tuổi. Quả thật, nhìn cơ ngơi của gia đình tôi nghĩ chắc chỉ ngang tầm như những hộ kinh tế thường thường bậc trung của vùng này mà thôi.
Qua trao đổi, tôi biết anh Khúc Văn Liệu là con thứ năm trong một gia đình có sáu anh chị em ở tỉnh Hải Hưng, năm 1988 theo chính sách định canh định cư của Nhà nước, gia đình vào huyện Ea Kar xây dựng kinh tế mới. Cuộc sống lúc ấy vô cùng vất vả; bố mẹ, anh chị em dựng một “ngôi nhà” tranh vách đất ở tạm. Hàng ngày gia đình vào rừng đốt than, chặt củi bán mua gạo kiếm sống qua ngày. Cơ cực là thế, nhưng nhờ chăm chỉ làm ăn, cuộc sống cũng dần dần ổn định; theo dòng thời gian, các anh chị và em gái út lấy vợ, lấy chồng ra làm ăn riêng; bố mẹ già ở với với anh. Khoảng năm 1998 trở về trước, vùng đất của thôn Quyết Tiến, xã Ea Ty, thuộc huyện Ea Kar, đa số đất canh tác là cát hoặc pha cát nên không thể trồng được cà phê như các vùng khác trong huyện mà chủ yếu trồng khoai, sắn hoặc cây nông sản ngắn ngày. Khi ấy chưa có nhà máy chế biến sắn như bây giờ nên giá rẻ lắm, trồng một ha chăm sóc cả năm trời, khi thu hoạch lời lãi chẳng được là bao nên xoay ra trồng các cây nông nghiệp khác, kết qủa cũng chẳng mấy khả quan.
Trong những ngày mùa khô năm 1992, thấy người dân của tỉnh Phú Yên lên rủ đi tìm trầm, anh bằng lòng đi theo; phần vì mưu sinh, phần vì tò mò muốn biết mặt mũ cái cây trầm như thế nào mà quý giá đến thế. Sau mỗi chuyến đi hàng tuần, có khi cả tháng ăn ngủ trong rừng sâu, núi cao cũng có lúc những người “ngậm ngải tìm trầm” ấy tìm thấy thứ họ cần tìm. Riêng Khúc Văn Liệu lại tìm thấy một thứ khác: cây dó bầu. Việc những người đi tìm trầm, họ thấy cây dó bầu nào to cỡ bắp đùi trở lên đều hạ xuống để bổ cây ra xem có trầm ở trong đó không; hành động đó đã tàn phá cả một nguồn tài nguyên rừng quý giá bao đời để lại, làm anh băn khoăn tự hỏi: sao ta không trồng để khai thác mà cứ phải vào rừng tàn phá? Cây mọc trong rừng có trầm, sao ta không tự trồng mà lấy? Từ trăn trở ấy, anh về nhà mày mò tìm sách đọc để hiểu thêm về cây dó bầu và nung nấu một dự định khác người: trồng cây dó bầu. Dịp may bất ngờ đến với anh, năm 2001, tại Hội chợ Buôn Ma Thuột, anh đã thấy người ta giới thiệu và bán cây giống dó bầu. Anh về bàn với bố mẹ và vợ mua 300 cây về trồng thử. Năm sau thấy cây phát triển tốt, anh lại mua thêm 400 cây nữa về trồng, và năm sau nữa thấy cây lên đẹp quá, anh dốc hết vốn và vay thêm bạn bè mua thêm 500 cây trồng kín diện tích gần ba ha. Sau năm năm đầu cây phát triển tốt, đến năm thứ sáu bọ rầy và sâu róm ở đâu đổ về ăn trụi hết lá cây, anh lại phải tìm sách báo đọc rồi mua thuốc về phun; cây mới xanh tốt trở lại. Trong những năm đầu, cây còn nhỏ, tranh thủ đất trống trồng thêm đậu, sắn, ngô xen kẻ, lấy ngắn nuôi dài; khi cây khép tán không trồng được cây nông sản thì nuôi gà, nhờ vậy trong thời gian qua cuộc sống gia đình năm khẩu cũng tạm đủ ăn. Buồn nhất là rất nhiều người không tin vào cây dó bầu có thể mang lại kinh tế cao, có người độc miệng bảo: trồng chỉ để làm... củi; hay: cây dó bầu phải trên cả trăm tuổi mới có trầm, chờ đến lúc đó thì...! Tuy người ngoài dèm pha nhiều, nhưng trong nhà bố mẹ và vợ lại rất ủng hộ, gia đình tôn trọng niềm đam mê của anh cũng như tin cây dó bầu sẽ mang lại kết quả tốt đẹp, nhờ vậy anh an tâm chăm sóc và tìm hiểu thêm về cách tạo trầm.
Mấy năm gần đây, công nghệ thông tin phát triển, qua mạng anh liên lạc với một số người cùng sở thích và được hướng dẫn đặc tính của cấy dó bầu có trầm. Cây dó bầu trong tự nhiên có trầm là do sâu đục thân, hoặc tác động của tự nhiên làm cây sứt sẹo, những vết thương ấy được cây tiết ra một loại nhựa để tự chữa, lâu dần thành trầm; còn cây trồng ta muốn nhanh có trầm phải tạo ra vết thương và hiện đại hơn là cấy nấm vào trong thân cây để cây tự hình thành trầm. Từ thông tin quý giá ấy, năm 2011anh liên hệ với một người bạn ở tỉnh Quảng Nam, nhờ lên tận nơi xem và cấy thử 50 cây, nhưng thất bại; không nản chí, đầu năm 2012 cũng qua mạng, anh làm quen với một người ở thành phố Hồ Chí Minh, được giới thiệu loại nấm mới cấy cho cây dó bầu sẽ cho trầm chất lượng cao; anh đặt mua và cấy cho 100 cây; sáu tháng sau thử thấy kết qủa tốt nên đã đầu tư cấy toàn bộ số cây còn lại trong vườn.
Theo chân vợ chồng chủ nhà, chúng tôi ra thăm khu vườn trồng cây dó bầu. Trên diện tích gần ba ha, cây gió bầu được trồng thẳng hàng như lô cao su, tán lá khép kín, gốc cây trồng lứa đầu, đường kính phải đến 25cm, cao khoảng chục mét. Quanh gốc cây không có cỏ chỉ trơ cát, và bầy gà đông đúc đang đào bới tìm mồi. Chỉ những chỗ khoan vào thân cây để cấy trầm, Khúc Văn Liệu hoan hỷ nói: ‘Trầm phát triển tốt lắm, hồi tháng ba vừa rồi, có một công ty ở thành phố Nha Trang lên trả giá mua bình quân mỗi cây hai triệu đồng; vườn có hơn một ngàn cây, tính sơ sơ cũng được trên hai tỷ; thấy cây đẹp quá, lại chưa cần phải chi lớn nên em không bán. Giá mua của công ty đó hiện nay là hai lăm đến ba chục triệu một ký trầm; vườn em chăm thêm vài năm nữa thì chắc thu phải gấp nhiều lần giá họ trả hôm nay”. Cô Nguyễn Thị Ngát, vợ anh góp lời: “Ông mất năm kia, giờ còn hai vợ chồng, hai con nhỏ và mẹ già thu nhập hai cái ao thả cá có diện tích khoảng năm sào, mỗi năm thu hai vụ, mỗi vụ khoảng tấn rưỡi cá, thế là tạm ổn chi cho các việc lớn; còn sinh hoạt hàng ngày có thu nhập từ cây nông sản và chăn nuôi rồi”.
Nhìn đôi vợ chồng trẻ khỏe mạnh, sống trên vùng đất khô cằn, khí hậu khắc nghiệt nhưng dám nghĩ, dám làm đã xây dựng được cuộc sống không những sung túc mà giờ đây còn có thể nói đã thực sự trở thành tỷ phú. Họ có tiền tỷ một cách bất ngờ nhất vì không thể hình dung ra chỉ sau hơn 10 năm, vườn cây đã có giá  cao đến như vậy. Người thanh niên quanh năm lam lũ với đồng ruộng, học vấn chỉ vừa hết trung học cơ sở, không vốn liếng, từ hai bàn tay trắng đã làm nên sự nghiệp, trở thành tỷ phú. Phải chăng chính lòng đam mê và kiên trì mang bản chất con người Việt Nam, ham học hỏi, cần cù trong lao động nên đã gặt hái được thành công. Từ mô hình trồng rừng bằng cây gió bầu của anh Khúc Văn Liệu ở thôn Quyết Tiến 2, xã Ea Ty, huyện Ea Kar, chúng ta hy vọng không chỉ ở vùng đất cát xã Ea Ty mà nhiều nơi khác có thể học hỏi để tiến tới có nhiều khu rừng dó bầu, một loại nguyên liệu quý mà thiên nhiên ban tặng cho nước ta sẽ phủ xanh nhiều đồi trọc, mang lại nguồn lợi lớn cho người dân, góp phần không những xóa đói giảm nghèo mà còn trở thành giàu có!

Buôn Ma Thuột mùa mưa 2013

Thứ Sáu, 4 tháng 10, 2013

NHỮNG NGƯỜI BẠN THỦY CHUNG bút ký của HỒNG CHIẾN - CHƯ YANG SIN SỐ: 254 tháng 10 năm 2013





Ghi chép của HỒNG CHIẾN


Cách đây gần tròn 35 năm, Công ty khai hoang Cơ giới 4 thuộc Bộ Nông nghiệp được thành lập, đảm nhiệm công tác khai hoang chủ lực trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên. Năm tháng trôi qua, sau vết xe lăn của công ty đã hình thành nên những cánh đồng lúa, cà phê, cao su… bạt ngàn; hay các công trình giao thông, thủy lợi… góp phần khắc phục tình trạng đói nước cho con người và muôn loài nơi đây. Thành quả các anh để lại chính là những công trình bền vững với thời gian và ngày càng phát huy hiệu quả kinh tế, góp phần quan trọng trong công cuộc chinh phục thiên nhiên, bắt rừng thiêng nước độc phục vụ con người và giúp con người có cuộc sống ấm no hạnh phúc. Tây Nguyên huyền bí là thế, nhưng các anh đã chinh phục tất cả, để đem lại sự huyền diệu cho cuộc sống, góp phần làm trù phú thêm trên cả một vùng đất rộng lớn của tổ quốc nơi tận cùng của biên giới Tây nam. 
35 năm thời gian chưa phải là nhiều so với bề dày của lịch sử đất nước, nhưng những người công nhân Công ty khai hoang Cơ giới 4, và hôm nay có tên gọi mới: Công ty cổ phần thi công cơ giới Đồng Tâm (Công ty Đồng Tâm)vẫn tiếp tục gánh trọng trách là người bạn lớn thi công các công trình giao  thông thủy lợi hay khai hoang phục hóa không chỉ ở Việt Nam mà còn vươn qua các nước bạn như: Lào, Vương quốc Cam Pu Chia. Các công trình nối tiếp các công trình, được hoàn thành đưa vào sử dụng mang dấu ấn những người công nhân Công ty Đồng Tâm. Năm tháng qua đi, ba thế hệ nối tiếp nhau cùng chung tay xây nên lịch sử Công ty có truyền thống đoàn kết nội bộ, cùng nhau vượt qua gian nan thử thách để hoàn thành xuất sắc kế hoạch đề ra; cũng như tạo dựng được tên một thương hiệu đứng được với thời gian; và có lẽ nhờ thế, đến hôm nay Công ty vẫn có đủ việc làm cho công nhân, thu nhập nhập ổn định. Trong thời buổi suy thoái kinh tế toàn cầu Công ty vẫn hoạt động bình thường, lợi nhuận cao, đó quả là một kỳ tích đáng khâm phục. Điều gì giúp công ty Đồng Tâm đạt được điều ấy, tôi muốn đi tìm một câu trả lời cho những tò mò của mình nên tìm đến Công ty.
Ông Trần Đức Thành – Bí thư đảng ủy kiêm chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty Đồng Tâm vui vẻ đón tôi tại phòng làm việc. Vẫn giáng cao gầy, phát âm “chuẩn” tiếng xứ Thanh mà quá nửa đời người xa quê vẫn không bỏ được. Người Thanh Hóa là thế, mộc mạc, dễ gần và vui tính. Anh em quen biết nhau đã lâu lại đồng hương “rau má” nên trao đổi cũng cởi mở. Ông cho biết: Sau 35 thành lập, Công ty đã phục vụ các đơn vị như: Công ty cà phê Thắng Lợi, Công ty cà phê Phước An, các đơn vị trong Tổng công ty cà phê Việt Nam, Công ty Cao su Đắk Lắk, Krông Buk, Ea H’leo, Binh đòan 15, Binh đoàn 16… Từ năm 2005, Công ty Cao su Đắk Lắk đầu tư sang Lào, Công ty Đồng Tâm được phục vụ công tác khai hoang trồng cao su trên đất bạn đến năm 2009 tiếp tục chuyển qua Cam Pu Chia làm cho Công ty Cao su Đakmoruko. Năm 2010 nhận công việc khai hoang đất trồng cao su cho Công ty Cao su Krông Buk – Ratanakiri tại Cam Pu Chia… có thể nói sự thành công của Công ty như hôm nay là nhờ sự ưu ái của các đơn vị bạn dành cho công ty trong công việc suốt 35 năm qua; dù đó là nơi thuận tiện như ở trong nước hay khó khăn, gian khổ như trên đất nước bạn.
Kể về các đơn vị bạn từng ký kết hợp đồng công việc với công ty, tôi thấy mắt ông sáng lên, giọng hồ hởi: Vì sao Công ty Đồng Tâm lại được ưu ái như thế? Điều đầu tiên và quan trọng nhất của bạn hàng thời cơ chế thị trường là chữ TÍN. Anh phải tạo dựng được lòng tin ở những đối tác – bạn hàng bằng chính việc làm cụ thể thông qua công việc được giao: kết quả thế nào, chất lượng ra sao, thời gian hoàn thành… dù Công ty có khó khăn đến mấy cũng đảm bảo đúng tiến độ thi công, không để lỡ công việc của đơn vị bạn. Xây dựng được chữ TÍN đã khó, giữ được nó trong lòng bạn bè lại càng khó hơn và đó là cả một quá trình mà từ cán bộ đến công nhân Công ty phải cùng nhau nâng niu, gìn giữ. Có thể nói, đến hôm nay chúng tôi đã làm tốt điều đó; các công trình hoàn thành và bàn giao cho đơn vị bạn trở thành những kỷ vật khó quên như Công ty cà phê 719 đặt tên cây cầu trên công trình Công ty thi công là cầu “Đồng Tâm”; điều ấy làm anh em chúng tôi hết sức cảm động. Con đường đơn vị thi công sau một thời gian nhất định phải làm lại, cây cầu cũng có tuổi thọ nhất định rồi cũng phải xây lại cây cầu mới, nhưng tên Đồng Tâm sẽ còn đứng được với thời gian. Cái tên cầu Đồng Tâm không chỉ ghi danh đơn vị thi công mà còn thể hiện tình cảm của hai công ty gắn bó chân tình với nhau. Hạnh phúc của những người thi công các công trình là sau khi bàn giao, các công trình ấy phát huy hiệu quả đúng như thiết kế. Đến hôm nay nhìn lại các công trình Công ty thi công cho Công ty cao su Đắk Lắk, Công ty cao su Krông Buk trên nước bạn Lào và Cam Pu Chia đã và đang mang lại hiệu qủa kinh tế cao, chúng tôi mừng lắm. Mừng vì chất lượng công trình chúng tôi thi công đảm bảo, mừng vì đơn vị chủ quản kinh doanh phát đạt và vì thế khi có công trình mới liên quan đến nghề chúng tôi, họ sẽ nhớ đến những người ở Công ty Đồng Tâm “mát tay” mà giao việc. Công ty rất cảm ơn các bạn hàng đã đồng hành cùng chúng tôi suốt 35 năm qua và hy vọng tiếp tục cùng song hành trong thời gian tới, gặt hái được những thành công mới!
Ông bí thư Đảng uỷ kiêm Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty Đồng Tâm say sưa trao đổi với tôi về các đối tác “ruột”, những người bạn chí cốt từng cộng tác với nhau với một vẻ tự hào. Những người bạn cùng đồng cam cộng khổ lúc khó khăn vất vã đã hết lòng vì công việc của nhau, thể hiện một tình bạn trong sáng. Có người nói: “trong cơ chế thị trường, thương trường là chiến trường”; vì công việc, nhiều công ty tranh giành, lừa gạt nhau để tồn tại, để có lợi... Nhưng quan hệ đối tác trong công việc tại Công ty Đồng Tâm, tôi thấy ở đây chỉ có tình bạn, lấy niềm tin làm đầu. Từ niềm tin ấy các công việc được giao nhận đúng quy trình, mang lại niềm vui cho cả đôi bên. Điều ấy quả là hạnh phúc cho những người lao động hôm nay và chắc chắn có cả những người làm công tác quản lý, điều hành các công ty. Người Việt chúng ta vốn trọng chữ TÍN đúng như ông Trần Đức Thành đã nói, và nếu giữ được chữ tín ấy mọi công việc mới dẫn đến thành công; tôi nghĩ các anh đã làm được đúng điều đó.
Chia tay Công ty Đồng Tâm, tôi thấy vui vui vì câu hỏi đi tìm đã được trả lời. Công ty Đồng Tâm “đứng” được và phát triển trong thời buổi khó khăn này bởi họ có một truyền thống tốt đẹp xây dựng từ lâu và lớp sau kế tiếp lớp trước để chung tay cùng gìn giữ trọn vẹn hai chữ “Đồng Tâm” trong đối nội. Về đối ngoại, họ đã xây dựng được sự tin cậy đối với các bạn hàng. Chính những người “bạn” ấy đã tạo điều kiện để đôi bên cùng phát triển. Ông cha ta từ xưa đã từng có lời dạy con cháu: “Giàu vì bạn…” quả là đúng lắm. Xin chúc cho Công ty Đồng Tâm cùng các bạn hàng đã và sẽ mãi mãi là những đối tác tin cậy của nhau.

Thứ Năm, 3 tháng 10, 2013

SAU VẾT XE LĂN ghi chép của HỒNG CHIẾN - CHƯ YANG SIN SỐ: 230 THÁNG 10 NĂM 2011






Trong những năm đầu cả nước bắt tay vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, công việc khai hoang phục hóa được đẩy mạnh. Những người  “Cơ giới khai hoang” phải đi đầu trong chiến lược tăng nhanh sản lượng lương thực cả nước; trong bối cảnh ấy Công ty Cơ giới 4 được thành lập để phục vụ công cuộc phát triển nông nghiệp trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên.
Hơn ba mươi năm, thời gian chưa phải là dài so với công cuộc xây dựng đất nước, nhưng cũng đủ để ghi dấu lại mà một thời trải qua và chiêm nghiệm. Những bãi bom mìn sau chiến tranh, những đám sình lầy hay cánh rừng khô cằn đã dần dần chuyển thành những cánh đồng lúa nước thẳng cánh cò bay trên cao nguyên như: cánh đồng Buôn Trấp, Buôn Triết – huyện Krông Ana; vựa lúa được tạo lập ở các nông trường: 719, 720, 721... của hai huyện Krông Păc – Ea Kar v.v... và nhiều nữa các công trình phục vụ phát triển nông nghiệp trên Tây Nguyên đều có công đóng góp của những người công nhân Công ty khai hoang Cơ giới 4 - nay là Công ty Cổ phần cơ giới Đồng Tâm.  Sau vết xích xe của các anh lăn qua, để hình thành các cánh đồng, nông trường... mọc lên và sau đó cuộc sống mới hồi sinh, phát triển, hình thành những khu dân cư trù phú.
Hơn 20 năm đã qua, hai cây thông bách tán được trồng trước ngôi nhà làm việc của Công ty, nay đã cao vượt lên, dáng hiên ngang mạnh mẽ, gốc to gần trọn một vòng tay người ôm. Trên tán lá xanh biếc, từng đàn chim sâu tí tách nhảy nhót nô đùa. Thỉnh thoảng một cơn gió lùa qua để hé lộ nhũng chùm quả nho nhỏ, xinh xinh điểm xuyến cho cảnh thanh bình của cuộc sống bình yên.
Trước sân, hai bể cá có đắp hòn non bộ và một số cây cảnh trồng cùng thời với cây bách tán, lặng thầm phát triển. Việc cắt tỉa cành tán cũng ít được chăm sóc, trong điều kiện thiếu nắng, thiếu nước nó vẫn mạnh mẽ vươn lên; bộ rễ bám chặt vào các thớ đá trông vững vàng, kiên cường vượt khó vươn lên thể hiện ý chí của những người đi mở đất. Xa hơn một chút về phía bắc, một dãy nhà xưởng đang được khẩn trương xây dựng, sắt thép còn để ngổn ngang – dấu hiệu của sự phát triển và đổi mới. Những người lãnh đạo mới như: Trần Quốc An, Trần Đức Thành, Nguyễn Hữu Lợi... tiếp tục công việc các lớp cha anh giao lại, để đáp ứng đòi hỏi của cuộc sống thời cơ chế thị trường trong thời kỳ mới; bánh xe của các anh vẫn quay, vẫn quay và liên tục quay để lại phía sau vết xe ấy là những hồ chứa nước rộng lớn làm giảm cơn khát của vùng đất đỏ ba zan, là những hồ thủy điện rộng lớn cung cấp nước cho các nhà máy thủy điện phục vụ sự nghiệp “công nghiệp hóa đất nước”... Thật ngạc nhiên hơn khi các anh đã vươn mình vượt qua biên giới đến tận các nước bạn láng giềng góp phần nâng cao đời sống vật chất – tinh thần cho nước bạn, ghi đậm dấu ấn của tình đoàn kết, hòa bình hữu nghị của Việt Nam với các nước láng giềng.
Những “người cơ giới khai hoang” ngày trước chỉ quen với đồng đất Tây Nguyên, nay đã theo các doanh nghiệp ngành Cao su Việt Nam đi mở các các nông trường trên đất bạn: Lào, Campuchia. Vết xích máy ủi đã dần thay vết xích xe tăng, chiến tranh đã lùi xa, giúp đỡ sự nghiệp giải phóng đất nước bạn, được tiếp bằng sự nghiệp phát triển kinh tế lớn lao hơn, lâu dài hơn. Nhiều năm qua, các địa danh Atopu, Champasac, Xalavan, XeKong đã trở nên quen thuộc, giờ đây các vùng đất Mondukiri, Ratanakiri cũng rất đỗi thân thương với những người công nhân Công ty Cơ giới 4. Họ không chỉ là những người lao động bình thường làm công ăn lương mà còn mang hình ảnh đẹp của người công nhân Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ đổi mới, giúp bạn xóa lạc hậu đưa nền kinh tế ngày một phát triển. Vị thế của các anh không chỉ là người công nhân lao động bình thường mà ngay trong cái bình thường ấy đã toát lên cho nhân dân nước bạn biết tinh thần đoàn kết anh em của các dân tộc đã cùng chung một chiến hào chống kẻ thù chung, đấu tranh giành độc lập tự do cho dân tộc mình trước đây, ngày nay tiếp tục cùng nhau xây dựng đất nước phồn vinh, dân giàu nước mạnh.
Hơn ba mươi năm trôi qua, những người lãnh đạo chủ chốt của Công ty Cổ phần Cơ giới Đồng Tâm đã chuyển qua đến thế hệ thứ ba. Đây là một trong số ít những công ty cơ giới của ngành Nông nghiệp còn tồn tại, và cũng là đơn vị thay đổi lãnh đạo chủ chốt ít nhất, 32 năm chỉ có 2 “đời” Giám đốc… ông Nguyễn La Vân làm từ 1978 đến 1993, ông Vũ Đức Bùi làm từ 1993 đến 2010. Sự ổn định về tổ chức cũng mang cho nó một sức mạnh, lúc rời nhiệm vụ những người đi trước vẫn thấy yên lòng… vẫn biết sự phát triển của Công ty còn lâu dài, song lịch sử là sự kế tiếp của các thế hệ, mỗi người cố gắng hoàn thành trong một thời gian nhất định là quí lắm rồi. Những người lãnh đạo hôm nay, tuy tuổi đời còn ít nhưng được đào tạo cơ bản, có kiến thức khoa học tiên tiến, chắc chắn sẽ làm tròn trách nhiệm của lớp cha anh đi trước trao lại, Công ty tiếp tục ngày một phát triển, góp phần vào thành công của công cuộc đổi mới mà Đảng và Nhà nước ta đang tiến hành.
Những hạt mưa đầu mùa thu gieo nhẹ lên các tán cây, gió thổi qua làm các cành cây như mỉm cười, xòe những chiếc lá bé nhỏ tung ra những hạt nước bé tý ty  theo nhau bay vào không trung lấp lánh như chuỗi ngọc trai trước khi đáp xuống đất. Phải chăng đó là những tín hiệu mừng của cây cối đối với cuộc sống ấm no hạnh phúc nơi đây. Mùa thu đến, người ta nghĩ cảnh lá tơi tả rơi, vàng óng cả góc trời, nhưng ở Tây Nguyên nói chung và Dak Lak nói riêng – mùa thu là mùa của trái ngọt. Trên cành cây, bên nách những chiếc lá xanh biếc, quả cà phê trĩu cành chuyển dần từ màu xanh qua đỏ, báo hiệu một mùa bội thu. Hương sầu riêng thơm phức ngào ngạt trong gió nhắc nhở người đi qua có quả vừa chín và ngạc nhiên hơn, mấy cây hoa lộc vừng trên sân đã lại đâm bông, những cánh hoa nhỏ bé mượt mà, đỏ tươi khoe sắc; chắc chúng cũng đang háo hức chào đón mùa thu – mùa của bội thu trái ngọt. Mưa đã giảm dần, mùa khô sắp tới, sau ngày kỷ niệm thành lập Công ty Cổ phần cơ giới Đồng Tâm 23 - 10 hằng năm, các anh lại chuẩn bị lên đường tới các miền đất xa xôi, tiếp tục công việc của mình “Guồng xích quay, ngày vui đã mở, tháng mười về đẹp lắm tháng mười ơi”.