Thứ Ba, 11 tháng 11, 2014

GIỚI THIỆU CHƯ YANG SIN SỐ 266 - tác giả ĐÀM LAN








Mưa thức



Đêm đã mộng sao mưa còn thức mãi
Nhỏ tong tong từng giọt xuống hiên buồn
Ly rượu đắng vơi đầy bên mắt cửa
Gió thì thầm một khúc nhớ bâng khuông

Sao đã lặn sao mưa còn ngơ ngác
Rơi lao đao vật vã giữa đêm chùng
Con dế ngủ co mình trong hốc cỏ
Chiếc lá gầy khép mặt phiến màu xanh

Cơn mưa dài trên lối nhỏ loanh quanh
Vày tha thẩn những giọt thầm rí rách
Cơn mưa qua đá sũng buồn tê lạnh
Suối bập bềnh con sóng giấc nửa khuya

Mưa vẫn thức suốt canh dài mơ mải
Phía trời xa le lói ánh mai rừng
Mưa tạ từ vì sao nhỏ rưng rưng
Mành trăng khuyết chập chờn sau kẽ lá.



Thứ Bảy, 8 tháng 11, 2014

XỨNG DANH ANH HÙNG ghi chép của HỒNG CHIẾN - CHƯ YANG SIN SỐ 267 THÁNG 11 NĂM 2014






Chuẩn bị kỷ niệm 40 năm ngày thành lập Công ty cà phê 719 Anh hùng thời kỳ đổi mới, chúng tôi về thăm Công ty. Xuôi theo quốc lộ 26 từ Buôn Ma Thuột về thành phố Nha Trang, đến km 47 rẽ phải độ 3km tới khu vực trụ sở Công ty. Một vùng đất tận cùng phía đông của huyện Krông Păc, vậy mà… thật ngạc nhiên ngoài cả trí tưởng tượng… trước mắt chúng tôi hiện ra một khung cảnh rất đẹp: Con đường rải thảm nhựa rộng hơn chục mét phẳng lì, trên vỉa hè giành cho người đi bộ được đổ bê tông, lát gạch hoa đã trồng các cây xanh cao trên chục mét, xếp hàng uy nghi hai bên đường chạy xa đến tít tắp. Những ngôi nhà xây kiên cố nổi bật lên trên nền xanh mượt mà của cà phê và cây ăn trái, cách nhau một khoảng  nhất định nhìn như những tòa biệt thự ở vùng nghỉ dưỡng của các nước Tây Âu.
Qua các trường trung học cơ sở, trung học phổ thông, khu hoa viên bất ngờ xuất hiện rộng đến 3 ha được quy hoạch rất đẹp mắt: Những con đường đổtông dọc ngang tạo nên những ô vuông được trồng cỏ xanh rì; trong khuôn viên có sân bóng chuyền, khu vườn tượng, khu hồ bơi và phía trong cùng chếch một chút về phía đông nam, một hội trường có sức chứa gần một ngàn chỗ ngồi, ẩn hiện dưới tán cây cổ thụ vây quanh tạo nên một bức tranh tĩnh vật đẹp rạng rỡ. Vùng đất hoang vu xưa kia chỉ có rừng già ngự trị, qua bàn tay của những người chiến sĩ Trung đoàn 719, thuộc Sư đoàn 333, Quân khu V, đã chuyển mình như trong chuyện cổ tích để thành một thành phố hiện đại thu nhỏ. Lần đầu tiên đến đây, tôi không khỏi ngỡ ngàng và cảm phục con người đã làm nên kỳ tích ở vùng đất này.
Khuôn viên nhà làm việc của Công ty được thiết kế khá hoành tráng, bên cạnh ngôi nhà làm việc cao tầng còn có hòn non bộ, vườn hoa, cây cảnh… vây quanh trông rất đẹp. Ông Hoàng Sỹ Dũng - Giám đốc Công ty, người to, cao, nước da ngăm đen, khuôn mặt cương nghị vui vẻ đón tiếp chúng tôi như người bạn lâu ngày gặp lại. Sau khi thưởng thức li trà Thái Nguyên thơm phức, tôi đặt vấn đề để làm việc, ông vui vẻ nói:
- Công việc ta tính sau, giờ mời các anh đi với tôi!
Ông nói xong đứng dậy dẫn mọi người xuống cầu thang ra xe của Công ty đợi sẵn dưới sân. Cả đoàn chúng tôi rất ngạc nhiên vì chưa hiểu vị Giám đốc định đưa mình đi đâu. Anh lái xe hỏi:
- Đi đằng nào trước thủ trưởng?
- Mời các bác ra gốc đa.
Xe nhắm hướng đông chạy một đoạn rẽ qua phía bắc… Vẫn những con đường nhựa phẳng lỳ được thiết kế vuông góc với nhau và hai bên đường là những ngôi nhà xây kiên cố có vườn cây ăn qủa, cà phê và tiêu bao quanh… Qua khu dân cư đến rừng cà phê xanh mượt mà, trên các cành quả non xanh biếc chen nhau bám vào kẽ lá như ngầm giới thiệu một mùa bội thu sắp tới. Giám đốc Hoàng Sỹ Dũng cho mọi người biết: Tổng diện tích cà phê của Công ty năm 2013 là 323.3 ha, năng suất bình quân 10,9 tấn quả tươi/ha, tổng sản lượng: 3.524 tấn; ước tính sản lượng năm nay sẽ tăng hơn năm ngoái. Chính nhờ thiên nhiên ưu đãi về chất đất, nguồn nước làm nên sản lượng và chất lượng cà phê 719 nổi tiếng. Để có được những cánh rừng cà phê tươi tốt này, các anh bộ đội đầu tiên của Trung đoàn 719 – hầu hết là những người con xứ Nghệ đã vào đây khai hoang vừa dùng sức người vừa dùng sức máy để làm nên phép màu biến rừng hoang vu thành rừng cà phê phục vụ con người. Trong công cuộc chinh phục thiên nhiên ấy họ đã làm nên những câu chuyện cổ tích có thật trong đời, đó chính là cây đa mà ông đưa mọi người tới.
Con đường rải nhựa đến cách gốc cây đa khoảng 20 mét được tách làm hai nhánh vòng qua hai phía đông - tây như hai cánh tay ôm gốc cây vào giữa. Cây đa rất lớn, gốc phải đến năm người lớn ôm mới kín, ngoài ra có nhiều rễ mọc từ trên cao xuống cắm vào lòng đất, mỗi cái rễ ấy to khoảng nửa vòng ôm tạo nên những hình thù rất lạ. Lạ hơn nữa, các cành cây trên cao có đường kính độ 0,5 mét đan vào nhau tạo thành những góc vuông, dính liền vào nhau như được đúc từ một khuôn… Theo lời ông Giám đốc, sở dĩ cây đa đứng giữa đường thế này là vì khi ủi đường đến đây, cứ máy nào vào húc cây không chết máy cũng đứt xích một cách lạ lùng; có lẽ do gốc cây to quá. Lãnh đạo đơn vị thấy thế mới quyết định làm đường tránh qua hai bên, giữ lại cây đa cổ thụ và giờ đây trở thành biểu tượng cho thế hệ đi sau chiêm ngưỡng. Cây đa lớn, thuộc loại hiếm có ở Đắk Lắk, vươn mình lên trời cao tỏa bóng mát cả một đoạn đường, làm chỗ dừng chân lý tưởng cho khách bộ hành, nghỉ tránh nắng. Mùa khô những đêm trăng thanh gió mát dưới tán đa là nơi sinh hoạt của lớp trẻ… và đối với những người dân nơi đây cây đa còn là biểu tượng của quê hương mới; dù có đi xa đến đâu thì hình ảnh của cây như một lời nhắc nhủ, tự hào nhớ về vùng đất thân yêu…
Rời cây đa, chúng tôi lên đường đi tiếp. Qua khu cà phê, trước mắt chúng tôi hiện ra cánh đồng lúa nước rộng gần 900 ha trải dài tít tắp. Những dãy núi của Vườn quốc gia Chư Yang Sin ở phía nam, dãy núi Chư Pa ở phía đông mờ mờ trong mây, tạo nên một khung cảnh nổi bật của cánh đồng lúa đã đỏ đuôi, sắp vào vụ thu hoạch; các bông lúa dài hơn cả gang tay, xếp lên nhau đều chằn chặn, trông như một bức tranh thiên nhiên kỳ thú. Điều lạ, cánh động rộng mênh mông này rất phẳng, giống như mặt một sân bóng đá khổng lồ. Hệ thống mương và các cống tưới tiêu làm bằng bê tông kiên cố chạy song song với những con đường lớn chia cắt cánh đồng thành từng ô lớn.
Mọi người đang mải mê ngắm cánh đồng, một ông trung niên chạy chiếc xe máy đời mới của hãng Honda từ ngoài cánh đồng về thấy chúng tôi dừng lại chào. Ông cho biết vừa đi kiểm tra ruộng lúa của gia đình về; công việc làm nông ở đây cơ bản bằng máy móc cả, từ làm đất, sạ lúa đến thu hoạch được cơ giới hóa hoàn toàn; hiện nay chỉ còn một số việc thủ công, máy móc chưa làm được như điều tiết lượng nước ở trong các thửa ruộng sao cho phù hợp với từng chu kỳ phát triển của cây lúa. Gia đình ông thu hoạch ổn định mỗi năm cũng được vài trăm triệu đồng, đủ nuôi các con ăn học dưới thành phố và dư thừa chút đỉnh! Hình như nhìn thấy khuôn mặt ngạc nhiên của mọi người, ông Hoàng Sỹ Dũng cười nói:
- Cánh đồng lúa các bác đang xem giá một ký lúa thành phẩm đắt gấp hai lần lúa bình thường vì đây là lúa giống, thu hoạch xong có xe đến nhận chuyển đi khắp cả nước đấy. Năm 2013 Công ty gieo 1.415 ha, năng suất bình quân đạt 7.5 tấn/ha; tổng sản lượng đạt 10.612 tấn.
Việc Công ty Giống cây trồng Trung ương chọn cánh đồng của Công ty cà phê 719 liên kết sản xuất lúa giống từ năm 2011 là một thành công lớn ở đây; đánh dấu một mốc son quan trọng từ sản xuất lúa “thịt” giá trị thấp, sang sản xuất, lúa giống có giá trị và chất lượng cao, góp phần tăng thêm thu nhập cho người lao động. Hình ảnh người nông dân đi làm đồng phi xe máy đến tận nơi, căn cứ theo lịch đo nước rồi điều tiết cho phù hợp, xong lên xe trở về nhà; trước đây tôi chỉ nghe nói bên Nhật Bản và gần đây nước  Israel có công nghệ sản xuất lúa nước hiện đại như vậy; không ngờ giờ đây, tại vùng xa xôi ở Tây Nguyên này cũng đã có. Khi công nghệ sản xuất hiện đại, năng suất được nâng cao, sức lao động giảm, giá thành lại tăng, thu nhập ổn định, nên người lao động càng gắn bó với Công ty cũng là lẽ đương nhiên. Công nhân Công ty đã có thế hệ thứ ba, những người ông, người cha khai khẩn vùng đất hoang vu thành cánh đồng lúa tươi tốt, lớp con cháu tiếp theo được học hành bài bản, mang khoa học kỹ thuật về áp dụng để nâng cao năng suất cây trồng làm cho làng quê ngày một trù phú hơn lên, cuộc sống ngày một đổi mới tốt đẹp.
Xe tiếp tục đưa chúng tôi đi một vòng qua các cánh đồng lúa của Công ty, nơi nào xe qua cũng chỉ thấy lúa bạt ngàn như tấm thảm khổng lồ trải dài đến tận chân trời. Điều kiện thiên nhiên ưu đãi, công nhân cần cù có kiến thức khoa học cao và nhân tố quyết định là những người lãnh đạo Công ty năng động, sáng tạo trong công việc… với truyền thống của Bộ đội Cụ Hồ đi làm kinh tế đã tạo nên những cánh đồng rộng lớn, thành vựa lúa khổng lồ trên cao nguyên. Hôm nay những người thuộc thế hệ đi sau được giao trọng trách gánh vác công việc nặng nề này, các anh các chị không những hoàn thành mà còn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Năng suất không ngừng được nâng cao, chất lượng cũng tốt hơn và điều đặc biệt, đội ngũ lãnh đạo giai đoạn 2010 - 2015 của Công ty đã tìm ra một hướng đi cho cánh đồng kiểu mẫu nơi là sản xuất lúa giống. Hạt lúa của Công ty cà phê 719 hôm nay không chỉ đơn thuần là lương thực, mà nó còn vươn lên thành một thương hiệu lúa giống góp phần quyết định nâng cao sản lượng và chất lượng, gieo mầm cho sự phát triển cây lúa ở nhiều vùng miền của Tổ quốc; tôn vinh cho hạt lúa Việt Nam trên thị trường thế giới.
Sau khi tận mắt chứng kiến cánh đồng lúa của Công ty cà phê 719, thấy các hộ gia đình công nhân ở đây có cuộc sống sung túc và một thế hệ công nhân còn rất trẻ được trang bị đầy đủ kiến thức khoa học từ các trường đại học danh tiếng trở lại quê nhà góp phần làm giàu đẹp thêm cho quê hương, tôi thật sự cảm phục. Thành công ở Công ty cà phê 719 Anh hùng sau 40 năm hình thành và phát triển có sự đóng góp mang tính quyết định của các vị lãnh đạo chủ chốt nhiệm kỳ 2010 – 2015 như: Bí thư – Giám đốc Hoàng Sỹ Dũng, Phó bí thư – Phó giám đốc Nguyễn Huy Bá, Phó giám đốc Nguyễn Duy Tuấn, Phó giám đốc Nguyễn Quang Vinh… Những người luôn thấm nhuần lời dạy của Bác: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết; thành công, thành công, đại thành công”. Sự đoàn kết trong lãnh đạo trên tinh thần đồng chí, đồng đội, kết hợp với tinh thần dân chủ trong Đảng và chính quyền từ cơ quan đến cơ sở, tạo nên sức bật mới giúp Công ty cà phê 719 giữ vững danh hiệu Anh hùng trong thời kỳ đổi mới và đang có những bước phát triển vượt bậc. Với những kết quả đạt được như hôm nay cán bộ và công nhân của Công ty cà phê 719 thật xứng danh Anh hùng!

                                                                  Buôn Ma Thuột, tháng 10 năm 2014


Thứ Bảy, 1 tháng 11, 2014

GIỚI THIỆU CHƯ YANG SIN SỐ 266 - tác giả THI LAN

Nhà thơ ĐẶNG BÁ TIẾN



THAO THỨC NỖI RỪNG
(Đọc trường ca Rừng cổ tích của Đặng Bá Tiến,
NXB Hội Nhà văn – 2012)
                             
“Cánh rừng còn hôm qua/ Hôm nay thành đất trắng”… Đọc trường ca Rừng cổ tích của nhà thơ Đặng Bá Tiến thấy sao mà rấm rứt. Cái rấm rứt của người công nhân gắn bó với rừng, yêu rừng như yêu cơ thể của mình vậy. Càng yêu vẻ đẹp huyền bí của rừng, ơn rừng che chở trong những năm chiến đấu, hiểu giá trị thực tiễn của rừng với con người, nhà thơ càng xót xa trước cảnh rừng đang bị tàn phá khốc liệt. Mang cái tôi công dân đầy trách nhiệm, cộng với một tâm hồn thi sĩ nhạy cảm, ông đã viết nên tập trường ca dài hơi mà sâu lắng, đậm sắc thái Tây Nguyên. Đây là tập trường ca thao thức nỗi rừng - thao thức nỗi đời có giá trị nhân sinh sâu sắc.
Với mười khúc: Vùng kỷ niệm, Trở lại, Đam mê, Tình yêu, Nỗi đau, Đêm Bản Đôn, Giữ rừng, Hồi sinh, Hồi tưởng, Vĩ Thanh, tác giả đã khái quát cuộc đời mình trong cuộc đời cây, cuộc đời rừng. Rừng đã sẻ chia với con người buồn, vui, sướng, khổ, tức là rừng cũng có thân phận, có biến cố, có linh thiêng… Bởi thế mối quan hệ con người với rừng là mối quan hệ cộng sinh, tương hỗ và vững bền. Tác giả dường như đã hóa thân vào rừng  Tây Nguyên để “thấu tận nguồn cơn”,  để sẻ chia và kiếm tìm sự đồng cảm, để cùng nhau vừa bảo vệ rừng, trồng rừng, vừa lên tiếng cảnh tỉnh những kẻ phá hoại rừng. Mặc dù viết về vấn đề thời sự nóng hổi (vốn lại là một nhà báo), nhưng chất trữ tình trong trường ca rất đậm đà. Đó là thế mạnh khiến cho Trường ca trở nên gần gũi và giàu sức thuyết phục.
Có một Rừng cổ tích đẹp như mơ, đẹp như thơ mà đã từng rất thực ở đời, đã cùng anh trong những đêm hành quân “chợp mắt trong hương rừng/ trong tiếng suối ru/ trong bàn tay vuốt ve của lá”. Lá rừng được nhà thơ ví “như trái tim”, “như bàn tay xòe ra đợi người yêu dấu”. Lá và người bầu bạn sớm khuya: “Lá xòe ô chở che/ … lá lót dạ cho anh/ Lá làm nệm làm giường/… Lá là bức tranh trời đất tác thành”. Lá mộng mơ, cùng anh “ngắm những cô gái M’nông, Êđê đùa nhau bên bến tắm/ ngắm đàn voi đủng đỉnh hút nước phun mưa như thủy tinh long lanh trong nắng/ nghe tiếng tù và dìu dặt gọi trăng lên”. Ngợp hồn, mê hồn quá! Thiên nhiên ban tặng cho Tây Nguyên vẻ đẹp thật quyến rũ. Dẫu chưa một lần được tận hưởng cái thi vị cũng khát khao một lần được vào Rừng cổ tích, thong dong, say sưa giữa đại ngàn để lắng hồn mình trong tiếng lá, tiếng tù và… Mới hiểu tại sao anh dẫu có hành quân đi xa mà “tâm trí tình yêu ở lại/ Với cánh rừng bạt ngàn/ dòng sông thác trắng, hùng vĩ, mộng mơ/ Với những amí, ama cái bụng đầy khan, ốt n’rông và chuyện buồn vui xứ sở”. Bởi cái đẹp ấm tình đó đã thôi thúc lòng anh “sống chết với đất này”. Khúc Trở lại chính là sự trở về của người lính thắng trận từ Bình Phước, Đồng Nai… tìm lại Bản Đôn - Tây Nguyên đất xưa từng gắn bó những ngày trận mạc, với “buôn làng anh đã khắc vào tim”. Anh mang theo cả “nỗi nhớ quê… làng Chùa nơi chôn rau cắt rốn”, nỗi nhớ mẹ “cồn lên như ghềnh như thác”, cả “người hậu phương” không biết “đã lấy chồng?”. Như một duyên nợ, như tiền định, anh “ở lại với mảnh đất này” với những “Đam mê”.
“Đam mê” là khúc trọng tâm của trường ca viết về anh - người trồng rừng mê mải nghe được cả tiếng “đất thở”, tiếng “đất đai đang hoài thai sinh nở” ước “được thành lá xanh/ được thành nụ hoa/ được hóa mùa màng/ hóa những rừng cây”. Cơ thể anh hòa vào cây lá đến mức “ngỡ như từng tế bào cơ thể anh cũng run rẩy bật chồi”. Anh nghe thấy hồn cốt  non sông, hình hài đất nước trong đại ngàn. Và ngược lại đại ngàn lại là “hồn thiêng muôn đời chảy dọc những lời khan/ là mạch nguồn tỏa sáng lời chiêng”. Bởi sự kỳ tài đó hay ân huệ của thiên nhiên giành cho anh mà anh trở thành trung tâm của đại ngàn, thành niềm tin của dân làng. Sức mạnh của anh, ý chí của anh, trái tim của anh vừa gần gũi, vừa hoang dã, lại vừa mang màu sắc huyền ảo cổ tích: “Anh thành cây Kơ nia để dân làng trú mát niềm tin/ thành ánh nắng hong khô những nỗi buồn ẩm ướt/ Thành chim t’lang, chim ch’rao mang nhiều giọng hót/ đem niềm vui đến khắp buôn làng”. Anh đam mê những lời khan, chuyện Đam san, Xinh Nhã, tiếng tù và… nhưng say nhất  là “mê việc lâm trường”. Anh trở thành “đứa con chung của buôn làng”, đứa con luôn đau đáu với rừng xanh. Tình yêu cũng từ đây “đơm hoa kết trái”. Khúc Tình yêu của chàng trai xứ Nghệ và cô gái Êđê là một bản nhạc rừng say đắm.
Chất trữ tình đậm đặc trong khúc ca này. Tình yêu của đôi trai gái gắn với cây rừng, con suối, muông thú, lá hoa… Tình yêu của họ xe duyên từ câu ví dặm ân tình với điệu ay ray tha thiết, mộng mơ. Cô gái Êđê mê chàng trai xứ Nghệ “hiền lành, cần mẫn” và  “lòng cô như có sóng sông La”, “mà trái tim cô dạt dào câu ví dặm”. Còn chàng trai thì mãnh liệt vô cùng: “Ta muốn rước về ở chung một buồng tim/ ta muốn đưa về ở chung một bếp”. Tình yêu của họ cảm động rừng xanh, sức lao động của họ tưới tắm cho rừng xanh nên “rừng cây lên xanh/ có tình anh đêm đêm tưới trăng vàng cho cây xum xuê long lanh sắc lá/ có tình em mỗi ban mai rải ánh nắng hồng cho cây mơn mởn chồi non”. Có tình yêu rừng, có tình em chan chứa, anh lao động không biết mệt đến “hõm mắt mòn chân”, “đến tím tái thịt da bởi muỗi mòng sên vắt”, nhưng niềm vui vỡ òa hạnh phúc trên tay là thành quả ngọt lành: “Thân gỗ mỗi ngày phổng phao như lòng anh chờ đợi”. Họ vui hơn, hả hê hơn trong những đêm hội với men rượu ủ nếp nương ngất ngây men rượu, men tình: “Nhịp xoang quay/ tay ấp bàn tay/ mắt liếc đong đưa/ gọi bước chân say/ bỏ hội vui chung, ra bờ cây tình tự…”. Bản tình ca đại ngàn tưởng cứ thế ru ca cùng tình yêu đôi lứa… ngờ đâu nỗi đau ập đến “anh chợt nhói lòng khi thấy rừng rung lên nghiêng ngả/ nghiêng ngả đại ngàn/ đảo điên cổ thụ/ nhựa cây tuôn tràn như máu ứa luênh loang…”.
Chương Nỗi đau chính là tâm tư nỗi lòng của anh muốn giải bày, muốn lên tiếng để giữ lấy đại ngàn quý giá biết bao: “Anh đau đớn cầm tay những người anh em vừa tới/ nóng tay mình dòng máu râm ran/ người anh em cùng chung bài hát kết đoàn/ người anh em cùng chiến hào đánh Mỹ/ những người anh em những người đồng chí/ …trái tim anh đau/ nhưng lời anh tha thiết: “…hãy thương lấy cánh rừng”. Cái tôi của một công nhân cất lời khảng khái: “Rừng cho ta tránh bão bùng/ cho ta qua nắng lửa/ rừng là hồn thiêng ngàn năm xứ sở/ không có rừng/ người sẽ sống bơ vơ/ không có rừng/ trái đất sẽ ngẩn ngơ/ trái đất sẽ điên khùng nổi loạn/ không có rừng/ sẽ chết cả lời chiêng trên suối cạn/ sẽ mỏi mòn, tàn úa sử thi… Một loạt các tính từ bơ vơ, ngẩn ngơ, mỏi mòn, tàn úa… để chỉ sự nguy hại của tàn phá rừng làm rẫy, lập làng thiếu quy hoạch. Những người kéo nhau từ nhiều phương tới, họ chỉ thấy cái vui trước mắt mà bỏ cái lợi lâu dài. Từ sự khảng khái đến những lời như ứa máu: “chúng ta mưu sinh/ nhưng đừng lột da mình/ đau đớn lắm”. Lời anh chẳng ai tỏ. Nỗi xót xa hiện ra trước mắt: “tiếng rìu, tiếng cưa/ tiếng cú quạ mất nhà/ tiếng hổ báo thét gào chạy trốn/ tiếng cây đổ ào ào như bão cuốn/ anh đau đớn ngỡ mình vừa bị chém ngang lưng!”. Đau đớn hơn là sự phá hoại của lâm tặc: “trăm phương mò tới/ chúng ngấu nghiến ăn rừng trong bóng tối/ ăn rừng giữa bạch nhật, thanh thiên/ chúng nuốt cả cây gỗ dài như sợi bún…/ chúng bán mua cả rừng gỗ giản đơn/ bằng những dự án đỏ lòm con dấu/ và bầm tím những mưu đồ ẩn náu/ chúng nháy mắt nhau là rừng đổ ào ào/ những cánh rừng đẫm máu thương đau”. Nỗi đau của anh trước những sinh linh của rừng khiến người ta ứa lệ: “Anh chứng kiến sự mất rừng như mất đi những người thân thiết nhất/ đêm ngủ giật mình thấy những vòng trắng trong mơ/ những vòng trắng đung đưa/ trên những gốc cây cụt đầu ứa đầy nhựa đỏ/ những vòng trắng quấn trên đầu người sau cơn bão tố/ sau những trận lũ rừng/ người, thú bập bềnh trôi”. Anh lên án cách bảo vệ rừng mang tính hình thức “chúng tôi đang quyết liệt bảo vệ rừng”, nhưng điều trái mắt vẫn diễn ra “rừng trước mũi cung/ yến, oanh dần tắt tiếng… chỉ còn khét nồng mùi khói/ cháy lòng anh”. Anh là con của rừng nên đau nỗi đau mất mẹ: “Là người yêu từng chiếc lá mầm cây/ đêm anh khóc ướt đầm cả gối/ đêm anh lang thang dọc theo con suối/ con suối mùa khô mảnh trăng cũng khô giòn/ đâu còn nữa những mát lành, róc rách/ đâu còn nữa bờ hoa khoe sắc/ đâu còn nữa bóng nai lồng bóng nước/ anh cúi đầu ngồi như mỏm đá mồ côi”. Khúc VI: Đêm Bản Đôn tiếp tục của nỗi đau mất rừng: Đêm bản Đôn/ có một người không còn nước mắt/ và mái đầu tóc bạc như lau”. Phải là cả một sự dấn thân với rừng mới có được sự thổn thức đến thế. Lời thơ quyết liệt mà nghẹn ngào, day dứt. Với Đêm Bản Đôn anh đã ném vào đời một câu hỏi lớn: “Lẽ nào đành bất lực/ buông tay?. Người lính trong tâm thế của con người đấu tranh vì chính nghĩa: “ta bất lực là vong ơn bội nghĩa/ ta buông tay/ là quên máu bạn ta đã tưới đầm chiến địa/ để giữ từng tấc đất mầm cây/ ta buông tay/ là đầu hàng lâm tặc/ là đại ngàn này/ mặc chúng phanh thây”. Anh kêu gọi đồng đội thời đánh Mỹ, bây giờ dù là người quyền chức hay dân cày hãy chung tay vào “cuộc chiến này để bảo vệ rừng xanh/ bảo vệ ngọn gió lành/ bảo vệ nguồn nước mát/ bảo vệ lời ru câu hát/ tiếng T’rưng vang vọng ngàn đời”. Khúc Giữ rừng là ý chí của anh: Dũng cảm, gan dạ, chịu mọi gian khổ để vạch trần xảo trá, vạch mặt kẻ tham lam bằng chứng cứ trong “băng tiếng, băng hình” khiến “những kẻ bao che phải lấm lét cúi đầu/ những kẻ vô cảm với rừng xanh/ cũng động lòng trắc ẩn” và cùng chung tay “vây bắt lũ quỷ rừng từ trăm hướng ngàn phương”. Khúc vui “Hồi sinh” đã thỏa lòng khao khát của anh. Dẫu không phải ngày một ngày hai rừng hồi sinh trở lại: “Sau cơn mưa/ hơi đất lại rụt rè/ tỏa nhẹ/ vấn vương trong ban mai tinh khiết”. Đến cả tiếng chiêng tác giả thể hiện trong khúc “Vĩ thanh” cũng có linh hồn, cười, hát, reo ngân dài xa lắc… mang cả lòng người hớn hở vút tận trời xanh.
“Nửa trái tim anh vẫn thao thức nỗi rừng” - Tình yêu và cả sự hy sinh thầm lặng, đánh đổi cả tuổi thanh xuân, hạnh phúc lứa đôi để sống chết với rừng. Vợ chồng người gác rừng lặng lẽ gác cả bình yên cho buôn làng, giữ cả màu xanh cho cây lá, nay anh vẫn giữ rừng bằng trái tim, ý chí: “vẫn cầm canh/ giữ cho rừng bình yên mãi mãi…”
Nhịp thơ nhanh, điệu thơ khắc khoải, ngôn ngữ đa nghĩa, hình tượng đã kéo người đọc vào mạch thơ không dứt. Có gì ám ảnh đến lạ! Có gì đau đáu đến lạ! Nhà thơ Đặng Bá Tiến đã truyền sang ta khúc vui, khúc buồn, khúc mờ, khúc tỏ… nhưng khúc nào cũng chất chứa nỗi niềm thao thức về rừng. Mười khúc với những cung bậc trữ tình khác nhau tác giả đã sẻ chia, giải bày nhiều khát vọng, đồng thời cảnh tỉnh và tố cáo những kẻ hại rừng rất thực tế trong cuộc sống đã và đang diễn ra.


Trường ca Rừng cổ tích chính là nỗi quê – nỗi rừng của tác giả về  Tây Nguyên hôm nay, nhưng đã chạm tới cái tâm tư chung của mọi miền, mọi người. Sức lan tỏa của trường ca phải chăng chính là từ sự thao thức nỗi rừng hội tụ trong con người Đặng Bá Tiến - một người công dân đồng thời cũng là nhà báo, nhà thơ, nhà nhiếp ảnh có cái tôi nhân hậu nhưng “sắc nhọn giác quan” và yêu tha thiết cuộc đời này.

Thứ Năm, 30 tháng 10, 2014

GIẢI THƯỞNG VHNT DAK LAK NĂM 2014

Hội đồng Giải thưởng Hội VHNT Dak Lak họp xét giải VHNT năm 2014

Sáng ngày 30 tháng 10 năm 2014, tại văn phòng Hội VHNT Dak Lắk, Hội đồng Giải thưởng VHNT của Hội đã xét giải năm 2014 dưới sự chủ trì của Nhà văn Lê Khôi Nguyên - Bí thư Đảng đoàn, Chủ tịch Hội. Hội đồng nhất trí trao giải thưởng VHNT năm 2014 gốm: 
04 giải A: 
1. tác phẩm Tượng tròn  của Họa sỹ Nguyễn Tân;
2. tác phẩm Nghề thủ công truyền thống của các dân tộc Tây Nguyên của Nhà văn - Nhạc sỹ Linh Nga Niê Kdam
3. tác phầm Nắng Cao nguyên của NSNA Bảo hưng
4. tập thơ Phía ngày loang nắng của Nhà thơ Huệ Nguyên.
 05 giải B:  
1. tác phẩm Quân xanh màu lá của Họa sỹ Ngô Tiến Sĩ
2.  tác phẩm Cái chữ vùng cao của NSNA Nam Phương; 
3. Chùm thơ 8 bài của Nhà thơ Vũ Dy; 
4. Ca khúc Âm vang ngày mới của Nhạc sỹ Nguyễn Văn Hạnh; 
5. ca khúc Niềm vui sống của Nhạc sỹ Lê Nhật Thanh.
07 giải C
1. tác phẩm Biển đảo quê hương của họa sỹ Trương Văn Linh; 
2. tác phẩm Sự tích hạt gạo của Trương Bi; 
3. tác phẩm Lễ hội mùa xuân của NSNA Lê Quang Khải; 
4. chùm thơ 9 bài của Nhà thơ Tiến Thảo; 
5. chùm 04 truyện ngắn của Nhà văn H'Xíu Hmok; 
6. chùm 04 truyện ngắn của Nhà văn Nguyễn Anh Đào; 
7. ca khúc Krong Păc tôi yêu của Nhạc sỹ Nguyễn Hưng.
. Xin được gửi lời chúc mừng và chia vui với các tác giả đoạt giải

Thứ Ba, 28 tháng 10, 2014

ĐƯỢC TẶNG THƠ!

Nhà thơ NGUYỄN THỊ VIỆT NGA 

Uống cà phê với Hồng Chiến ở quán Thiên Đường

Thiên Đường ngỡ ở đâu xa
Loanh quanh phố núi hóa ra rất gần
Cà phê dẫu đắng vạn lần
Vẫn không đắng đót như thân phận người…

Vinh hoa, chỉ áng mây trôi
Sảy chân mới biết tình người thắm, phai
Đêm thì ngắn, mộng thì dài
Phải đâu như gió, thổi hoài trăm năm

Cà phề từng giọt âm thầm
Rơi hoang mang xuống những lầm lẫn xưa
Đã đành sau nắng sẽ mưa
Làm sao sống được như chưa-có-gì

Ngày mai cát bụi thiên di…
Uống đi, cay đắng một ly, một đời…
Bao nhiêu hoa thắm đâu rồi?
Xòe tay chỉ thấy có… mười ngón tay.

Thứ Hai, 27 tháng 10, 2014

GIỚI THIỆU CHƯ YANG SIN SỐ 266 - tác giả THANH VÂN





VÀI CẢM NHẬN QUA MỘT SỐ TRUYỆN NGẮN
CỦA H’SIÊU BYĂ
                                                 


Văn học viết về các dân tộc thiểu số luôn là mảng đề tài hấp dẫn và cuốn hút người đọc như một khu rừng bí ẩn thôi thúc độc giả tìm hiểu và khám phá, như một chìa khóa mở ra giải mã cho chúng ta hiểu về nền văn hóa đặc sắc của các dân tộc miền núi. Trong những tác giả viết về đề tài này có tác phẩm được đăng trên tạp chí Văn nghệ Chư Yang Sin, phải kể đến H’Siêu Byă với những truyện ngắn được sáng tác trong vài tháng gần đây, như: Tôi, Brem và gã con trai họ Kpă, Mùa này dã quỳ nở rộ, Sự tích thác Dray K’nao…
H’Siêu Byă, người dân tộc Êđê sinh ra và lớn lên trên vùng thảo nguyên M’Đrắk thơ mộng, mảnh đất thân yêu ấy có bề dày văn hóa lâu đời của dân tộc Êđê. Được lớn lên hít thở trong môi trường văn hóa của dân tộc mình nên các tác phẩm của cây bút này đã đem đến cho người đọc một sự ngạc nhiên thú vị về đời sống tràn ngập không gian núi rừng và những truyền thống tốt đẹp của buôn làng mang đậm bản sắc dân tộc. Các tác phẩm của HSiêu không có sự gay gắt đấu tranh giữa cái thiện và cái ác mà bằng giọng văn trữ tình, tác giả đã viết về tình yêu đôi lứa mang đậm âm hưởng và phong cách của người Êđê. Tình yêu đó óng ánh, sóng sánh như những giọt mật ong rừng. Qua đó khắc họa nên chân dung của những “chàng trai, cô gái da nâu, mắt sáng, vóc dáng hiền hòa” với những tâm hồn, tính cách và tình cảm hoang dã nhưng rất trong trẻo. Trong như những giọt sương long lanh đọng trên lá  kơ nia soi mình dưới nắng ban mai.
Tác giả viết về vùng đất và con người của dân tộc mình với một niềm tự hào và sự say mê mãnh liệt. Từng câu chữ, lời văn mang hơi thở cuộc sống  đậm bản sắc dân tộc, bản sắc đó được thể hiện rõ nhất trong cách kể của tác giả: “Tiếng hát ấy đã níu chân hai chị em tôi và chúng tôi cùng gùi tiếng hát ấy về đến cầu thang nhà dài của mí”, “Căn nhà dài càng trống trải và lạnh như mùa canh rẫy” (Tôi, Brem và gã con trai họ Kpă). Câu văn đọc lên nghe như câu thơ, bản nhạc trữ tình nhưng cũng rất gần gũi với tiếng nói thường ngày của người dân bản địa.
Với nguồn cảm hứng dạt dào, tác giả đã phác họa cảnh đầy sắc màu sinh động của miền sơn cước. Cách sử dụng từ linh hoạt, các hình ảnh miêu tả sự vật có thêm những hoạt động cụ thể với biện pháp nhân hóa làm cho lời văn có sức gợi đã đưa người đọc đến với những hình ảnh rất độc đáo của Tây Nguyên. Hơn nữa với tình yêu tha thiết cảnh vật, thiên nhiên nơi mình sinh ra và lớn lên nên cảnh vật như cũng có linh hồn: “Trên trời cao, những đám mây mặc váy thổ cẩm nhảy múa điệu chim Grứ. Mềm mại và uyển chuyển xoay vòng, xoay vòng rồi giật giật cánh tay, ngón tay quanh mặt trăng đang cười hả hê nửa mặt” (Tôi, Brem và gã con trai họ Kpă). Tác giả dùng ngôn từ rất hiện đại nhưng vẫn giữ được nét riêng biệt của người Êđê, đan xen một chút tự hào về quê mình và ẩn chứa trong ấy niềm kiêu hãnh về vị thế người phụ nữ Tây Nguyên đang biến mình thành đám mây mặc váy đi dự hội.
Cách sử dụng từ của tác giả nữ Êđê còn trẻ tuổi đời nhưng rất “già” trong cách chinh phục người đọc bằng ngôn từ rất đặc biệt, thể hiện sự quan sát tinh tế, sự hòa đồng sâu sắc và một vốn sống dồi dào về dân tộc mình mới có thể chắt chiu để biểu đạt: “Chiều lắm rồi. Buôn mình rục rịch nhóm bếp lửa chuẩn bị buổi tối, đám khói ngoằn ngoèo, chúng chụm lại và toác miệng cười ha hả đắc chí về chuyện tình vỡ toang hoang như quả bầu khô của mình…”, “Ngồi phịch xuống tảng đá, tảng đá cựa quậy, nhìn cánh đồng quỳ, cánh đồng quỳ cựa quậy, ngó đám mây, đám mây, đám mây cựa quậy, liếc dãy núi, dày núi chao đảo ngả nghiêng” (Mùa này dã quỳ nở rộ). Nói về tình yêu tan vỡ nhưng không dùng từ bi quan, than vãn mà bằng giọng điệu riêng của mình, tác giả vẫn diễn tả được hết nỗi đau đớn, vật vã, bão tố… trong lòng nhân vật qua hình ảnh đám khói, tảng đá, cánh đồng… đọc xong ta chỉ biết thốt lên: Hay, độc đáo!
Tác giả còn gây ấn tượng cho người đọc bởi sự mới lạ, khi sử dụng phép so sánh thì hình ảnh được so sánh rất gần gũi, gắn bó với đồng bào Êđê mang tính đặc trưng của vùng đất Tây Nguyên. Tả về vẻ đẹp của chàng trai, tác giả đã viết: “đẹp trai và dũng mãnh như con rắn hổ mang đang gầm gừ trong hang như người già vẫn thường ví…” và “bờ vai rộng và chắc như gỗ kate trong rừng” hoặc “Mặt chàng áp sát vào má tôi, phả lên đấy những hơi thở nóng hổi quyến rũ của con cầy hương mê hoặc” (Tôi, Brem và gã con trai họ Kpă), “Aduôn mình đã già hơn cây M’nut cạnh bìa rừng, lưng còng hơn chiếc cần uống rượu…” (Mùa này dã quỳ nở rộ). Nếu không sinh ra và lớn lên trong buôn làng Êđê thì không thể có được những những từ ngữ gợi hình ảnh rất đặc sắc người Tây Nguyên, vừa hoang dại vừa hư ảo như ta thường thấy trong chuyện cổ tích của người Kinh, lời khan của người Êđê!
Trong các truyện ngắn của mình, tác giả không trau chuốt lời văn theo kiểu “nhả ngọc, phun châu”, không cầu kì trong văn phong mà bằng ngôn ngữ mộc mạc, giản dị, lời văn trong sáng, thể hiện cả tình lẫn ý của tác giả,  con người hiện ra với những tính cách chân chất, vẻ đẹp mặn mòi, duyên dáng thuần hậu. Đặc biệt những chất liệu đặc sắc trong khan của người Êđê được tác giả sử dụng rất thành công: “Vào một ngày trời hanh khô và nắng nóng, con rắn chui vào hang, con mang ngừng ăn tìm chỗ trú, con cú, con vẹt trong tổ không chịu ra, các cô gái trong buôn rủ nhau ra dòng thác tắm táp và nô đùa” (Sự tích thác Đray Knăo); thiên nhiên trên thảo nguyên hiện ra rất thực, rất gần gũi, con người và thiên nhiên như hòa quyện vào nhau. Qua mỗi tác phẩm, chúng ta như đang xem một cuốn phim với những triền đồi khe suối, những dãi hoa quỳ vàng ruộm, cuộc sống, sinh hoạt và phong tục tập quán của dân tộc Tây Nguyên đang hòa trong âm thanh của đing năm, cồng chiêng và những rung ngân của núi rừng.
Mỗi tác phẩm như một chiếc cầu nối để giúp chúng ta hiểu và thêm yêu con người Êđê rất đỗi thật thà, bình dị, hiểu thêm một kho tàng văn hóa đang tiềm ẩn, hiểu thêm một tấm lòng ưu ái đang đau đáu với việc giữ gìn và phát huy bản sắc của dân tộc mình. Hy vọng rằng, với sức trẻ đang căng tràn nhựa sống và năng lực sáng tác của H’Siêu Byă, bạn đọc sẽ được đọc nhiều tác phẩm đậm hơi thở núi rừng, giàu bản sắc Tây Nguyên.