Chủ Nhật, 20 tháng 8, 2017

MÙA SĂN DẾ Tác giả HỒNG CHIẾN - CHƯ YANG SIN SỐ: 300 - THÁNG 8 NĂM 2017





Ama(1) lái xe công nông chở cả nhà lên rẫy chạy trước, năm chiếc xe của người cùng buôn theo sau. Rời đường nhựa xe chạy vào con đường đất đỏ, nhảy chồm lên như bò bị cọp đuổi, hết nghiêng bên nọ lại ngả về bên kia làm H’Lê Na lúc vịn vào ami(2), khi phải vịn vào ché rượu cần buộc trên xe, cười như bắp rang. Lâu lâu được theo ama ami lên rẫy thích thật.
Rẫy nằm nghiêng nghiêng bên cạnh dãy Chư Pá, đầu gối lên sườn đồi, chân đạp vào dòng suối nhỏ, tạo nên ranh giới với cánh rừng già phía nam. Trên rẫy, thân bắp, đậu đã khô cong lại làm chỗ cho gai mắc cỡ và các loại dây leo khác mọc xanh um. Lác đác những gốc cây rừng còn sót lại vẫn đâm những cành non như mũi tên lao lên trời xanh. Cuối mùa khô, mới sáng ra ông mặt trời đã nhăn nhó hắt cái nóng hầm hập xuống mọi nơi.
Xe dừng, ama cùng với mấy chú phụ giúp cột ché rượu bên chòi canh rẫy, dựng thêm bốn cây cọc to bằng cổ tay, cách mặt đất một mét đặt bàn thờ đan bằng tre chiều dài bốn gang, chiều ngang ba gang tay. Trên bàn thờ đặt con gà trống cúng Yang. Ami xuống suối gùi nước lên đổ vào ché rượu cần buộc cạnh bàn thờ, còn chín người phụ nữ khác xách chiêng ra đứng xếp hàng chuẩn bị làm lễ cúng Yang xin được dọn rẫy chuẩn bị đất gieo mùa mới.
Ông thầy cúng râu tóc bạc phơ, ngang trán quấn sợi dây màu đỏ, mình mặc chiếc áo thổ cẩm màu đen, cổ và vạt áo viền chỉ đỏ có tua màu đỏ dài hơn ngón tay. Ông đứng lom khom, khấn những từ nghe không rõ, rồi chiêng nổi lên: bi… nh bo… ng, bi… nh bo… ng… vang vọng khắp không gian. Tiếng chiêng vọng vào vách núi làm bầy voọc giật mình cùng đồng thanh hú họa theo. Aduôn(3) bảo ông thầy cúng là người nói chuyện được với Yang, vậy mà trông ông giống như mọi người già trong buôn, chỉ khác cái dây buộc trên đầu và cái áo đang mặc khi cúng; chắc ai buộc dây và mặc áo ấy cũng nói chuyện được với Yang thì phải.
Sau lễ cúng, ami mang xà gạc ra phát mấy bụi cây trước chòi canh rẫy làm phép theo lệ rồi mọi người quây quần bên ché rượu cùng uống. Hình như người dân tộc Êđê có chuyện vui, chuyện buồn gì cũng đến với ché rượu cần và ngay cả nói chuyện với Yang cũng phải có ché rượu. Hàng năm người ta tổ chức nhiều lễ cúng Yang lắm, nào là lễ cúng bến nước, cúng xin Yang cho dọn rẫy, cúng xin Yang cho gieo hạt, cúng Yang mừng lúa mới…
***
- Đi bắt dế không?
Y Kô học cùng lớp, hai nhà cạnh nhau đang hếch mắt lên tò mò nhìn ông thầy cúng lầm bầm khấn vái bị H’Lê Na đến bên đập vào vai hỏi giật mình quay lại, mừng quá trả lời ngay:
- Cho đi với, nhưng bắt thế nào?
- Có bùa đây rồi.
H’Lê Na giơ chiếc ống nứa ra trước mặt lắc lắc, nở nụ cười bí hiểm. Hai đứa chạy ra rẫy. Dưới gốc cây bắp khô thỉnh thoảng có những đống đất mới đắp bằng những hạt đất nhỏ như viên bi, to bằng que tăm. H’Lê Na bẻ một chiếc que, gạt bỏ đống đất để lộ ra một chiếc hang nho nhỏ, được đào rất khéo léo rồi nói:
- Dế đấy!
- Dế ở trong ấy hả?
- Ừ!
- Để mình lại chòi lấy cuốc lên đào nhé!
- Bắt dế cần gì đến cuốc.
- Lấy tay đào đất à?
- Xem đây!
H’Lê Na nói xong giật một cọng cỏ may dài hơn gang tay, mở nút ống tre mang theo nhúng cọng cỏ may vào ống rồi từ từ rút ra; một chú kiến đen to bám vào cọng cỏ may, giơ chiếc hàm có hai răng đen bóng khua khua khư chuẩn bị chiến đấu. Từ từ, H’Lê Na đút chiếc cọng cỏ may có con kiến vào trong hang, chắp tay trước ngực lẩm bẩm câu thần chú… chỉ một phút thôi, chú dế vàng ươm thò đầu có hai chiếc râu dài ra khỏi tổ ngó nghiêng, quan sát rồi leo lên mặt đất. H’Lê Na khum bàn tay phải lại như chiếc rổ con, chụp xuống tóm gọn con dế bỏ vào quả bầu khô, lấy túm lá chuối khô nút lại để con dế nhảy nhót tróng đó rồi đưa cho Y Kô cầm, nháy mắt cười nói:
- Thấy tui tài chưa?
- Tài, nhưng đọc câu gì mà con dế chịu chui ra thế?
- Đùa thôi, bỏ kiến vào hang dế, dế thấy kiến vào hang, sợ bị cắn nên phải chạy ra ngoài.
- Sao biết cách bắt dế hay vậy?
- Ami dạy thế.
Y Kô bật cười khi hiểu ra cách bắt dế đơn giản mà hiệu quả. Hai đứa dạo một lúc đã tóm được khá nhiều, con nào cũng vàng ươm, to như ngón tay cái, mập ú. Y Kô bảo:
- Để mình bắt một con cho biết nhé.
- Ừ.
Bắt chước H’Lê Na, Y Kô cũng khum khum bàn tay phải, chờ con dế vừa chui lên khỏi miệng hang liền úp tay xuống. Nhanh hơn một tích tắc, con dế lao vút lên, thúc vào mặt làm Y Kô chỉ chụp được miệng lỗ không. Con dế nhảy xa tới nửa mét mới rơi xuống dừng lại, Y Kô vội lao lại chụp tiếp thì… Cốp, đầu hai đưa đụng vào nhau, hai tay vồ chạm nhau, còn con dế lẫn vào đám lá biến mất. H’Lê Na cười cười, nói:
- Bắt dế dễ nhỉ!
- Tại cậu chứ không mình tóm được nó rồi, giờ để mình bẫy, còn cậu giỏi thì bắt nhé.
- Nhất trí cả hai tay.
H’Lê Na đưa ống nứa đựng kiến cho Y Kô. Hai đứa đi tiếp, tìm thấy một hang dế mới, Y Kô làm theo như thao tác của bạn: Bứt một sợi cỏ may, mở nắp ống đưa sợi cỏ vào ống và từ từ kéo ra… công việc dễ ợt thôi mà. Sợi cỏ may theo tay Y Kô từ từ được kéo ra, nhưng trên cọng cỏ không phải một con mà tới bốn con cùng bám vào. Y Kô bất ngờ thét lên: Oái! Rồi ném luôn cả ống nứa và cọng cỏ may, mặt nhăn nhó, tay trái xoa rối rít vào tay phải. H’Lê Na giật mình nắm tay bạn, hỏi:
- Sao thế?
- Kiến cắn, đau quá!
- Yang ạ, phải cẩn thận chứ.
- Tại sao bạn kéo ra chỉ có một con, còn mình kéo ra tới bốn con, lại có con ở đâu cắn vào cạnh bàn tay nữa.
- Tại tớ quên không dặn bạn: trước khi mở nắp phải lắc nhẹ cho kiến rơi xuống đáy ống, lúc đưa cọng cỏ may vào chạm lũ kiến thì rút ra ngay chỉ một con là đủ. Xin lỗi nhé.
- Để người ta bị cắn rồi mới nói, xấu quá.
- Thế là học thành tài rồi đấy, ta về chòi thôi.
***
Người lớn vẫn chuyện trò râm ran và vít cần rượu uống, không ai để ý đến hai đứa trẻ. H’Lê Na đổ một ly lớn rượu cần vào quả bầu cho lũ dế uống say, nhảy búa xua trong ấy tự làm sạch mình một lúc, rồi đổ ra gùi, dùng que tre chẻ nhỏ như que tăm dài hai gang tay, xuyên qua vòng cổ từng con thành một xâu dài. Y Kô, đặt từng xâu dế lên trên than hồng, thỉnh thoảng xoay nhẹ. Nước từ các xâu dế nướng rơi xuống than tạo nên tiếng kêu: xèo, xèo… nghe rất vui tai, hương thơm ngào ngạt tỏa ra. Mấy người lớn vít cần rượu đã lâu, giọng líu lại mà vẫn ngửi thấy mùi nên quay đầu nhìn. Ông thầy cúng khật khưỡng bước tới bên bếp cầm một xâu dế vừa nướng chín, đưa lên mũi ngửi, gỡ một con bỏ vào miệng nhai, đầu gật gù:
- Ngon, hai đứa này giỏi thiệt!
Mùa thu 2016



Chú thích:
(1) Ama – ba: tiếng Ê đê;
(2) Ami – má: tiếng Ê đê;
(3) Aduôn – bà: tiếng Ê đê.



Thứ Sáu, 18 tháng 8, 2017

GIỚI THIỆU TẠP CHÍ CHƯ YANG SIN SỐ: 300 - THÁNG 8 NĂM 2017 Tác giả PHẠM THỊ THÚY QUỲNH






MỘT NGÀY
Truyện ngắn



Người dân của thị trấn chỉ có hai tư giờ ký ức.
Cách đây hai trăm năm, không rõ vì lí do gì mà cư dân bị xoá hết trí nhớ theo đúng nghĩa đen của nó. Họ tỉnh dậy trong màn đêm u tối. Trăng chạy trốn khỏi bầu trời, chỉ còn lại những mây mù khuất, những tiếng cú rúc lên nghe gai người.
Cứ vậy, họ lần mò ra khỏi nhà, họ nhìn nhau, chẳng biết hàng xóm của mình là ai, thậm chí quên mất tên mình là gì, đứa trẻ đang ngủ trong nôi kia là con ai. Và hơn hết, họ đang ở đâu? Tất cả đều đang mong đây chỉ là một giấc mơ. Nhưng hiềm nỗi, họ phải chung sống với giấc mơ này cho tới rốt đời. Mọi chuyện như thuở sơ khai, họ là những sinh vật mới thành hình bước ra khỏi hang đá, đối diện với thế giới.
Vậy đấy, tất cả chỉ là ngẫu nhiên. Bỗng một ngày, chúa trời bảo rằng tất cả phải quên sạch ký ức đi, để có thể sống tốt đẹp hơn. Thị trấn này là thí nghiệm đầu tiên, sau đó ta sẽ xoá ký ức của toàn nhân loại. Nếu thế, không còn lo về ngày mai, không còn tư tưởng đối lập, không còn chiến tranh chém giết, tất cả tội lỗi của loài người được rửa sạch và trận đại hồng thuỷ tiếp theo sẽ chẳng phải quét tới một lần nữa.
***
Ban mai, nắng phủ lên các mái nhà âm ẩm nhám nước. Trận mưa đêm qua quả thực đáng kinh hoàng, người ta còn tưởng mực nước sông Quên có thể cuốn trôi toàn bộ kiến trúc, dân cư và gia súc, hoa màu. Vậy mà sáng nay thôi, thảy đều hoan hỉ bước ra khỏi nhà, nhìn đường phố sạch sẽ một cách bất thường và chăm chú đọc lại các trang nhật ký đã ghi lại vào đêm qua.
Tôi có một cách khác hơn, ấy là đọc báo. Mỗi sáng, người ta sẽ đưa tới cho tôi mười tờ báo, một tờ do nội bộ thị trấn phát hành, còn lại là báo an ninh vũ trụ, báo thời sự trong nước, báo văn nghệ, tạp chí thời trang. Tất thảy là nguồn thông tin cần thiết cho cái sự quên ở đây, tôi biết được hầu hết tình hình mọi nơi mà chẳng phải ghi chép quá nhiều. Trong cuốn nhật ký, tôi chỉ chép các cảm xúc, người ta dễ dàng quên đi cảm giác yêu thương, đau khổ, tuyệt vọng nếu như không có ký ức. Có thể đây là một đặc ân chăng? Tôi nằm xuống ghế mây, giở báo ra đọc. Ngoài kia, ánh nắng ngập tràn và mấy con se sẻ bắt đầu sa xuống để kiếm ăn. Tôi bóp vụn mẩu bánh mì rải ra trước thềm, quan sát chúng nghiêng nghiêng cái đầu nhỏ bé với tâm trạng vui vui.
Tôi gác tay lên trán toan đánh một giấc. Mỗi ngày của mọi người trong thị trấn đều hối hả, ai cũng sợ trải nghiệm không đủ để ghi chép lại, sợ vuột mất những kỷ niệm.
Chính vì không có những cảm xúc trường cửu nên đã lâu lắm rồi, thị trấn của chúng tôi không xuất hiện một nhà văn, nhà thơ nào nữa, đến ca sĩ cũng hiếm khi xuất hiện, cho dù có thì cũng nhại lại nơi khác mà thôi. Các bài hát dần chìm vào quên lãng, mọi người chỉ chăm chăm đối thoại với nhau, học đi học lại bảng chữ cái vì sợ mình sẽ quên mất khả năng đọc, viết, nói chuyện, sợ rằng sẽ trở lại thời thuỷ nguyên ban sơ hỗn loạn.
Tình hình Trung Đông bất ổn, Triều Tiên thử vũ khí hạt nhân, diễn viên A cướp chồng của bạn thân, người mẫu B đi đôi giày hai tỷ… Chà, các toà soạn mấy tuần qua chỉ chăm chăm vào mấy tin tức như vậy thôi sao? Tôi quăng tờ báo trên tay xuống.
Lớp vỏ của thị trấn là một rừng bách xanh ken dày, che kín hầu hết lối ra lối vào, chỉ giữ lại một đường lớn để đưa giấy và các vật dụng cần thiết tới. Ngay cả việc người dân chỉ có ký ức một ngày cũng được giấu kín nhằm tránh khỏi sự rình rập của thế giới bên ngoài.
Khi không thể giữ cho bản thân khỏi tổn thương vì không có ký ức, chúng tôi phải đề phòng cả đồng loại. Tôi ngồi dậy và quyết định ra khỏi nhà. Bây giờ là chín giờ sáng, tôi còn mười lăm tiếng để ghi chép lại sự kiện hôm nay.
Phía đông có một quả đồi nhỏ mọc đầy cỏ may và các loại hoa dại. Nhưng sự đẹp đẽ ấy chẳng hề được lưu giữ lại quá lâu. Cầm tờ giấy chép về nó, tôi lần theo đường chỉ dẫn, đọc lại hình ảnh, mùi hương của những đoá hoa, đọc lại cảm xúc của mình. Cứ vậy mà bước đi, ánh nắng dìu dịu. Thốt nhiên, trong khoảnh khắc này tôi cảm thấy mình thật bất hạnh khi chẳng thể lưu lại cảm giác hạnh phúc bây giờ quá lâu, tôi không dám lập gia đình, không dám nói chuyện với ai quá nhiều, tôi ném mình ra khỏi hối hả của thị trấn.
- Một ngày thật đẹp nhỉ? - Trên đường đi, tôi bắt gặp một người phụ nữ đang đi ngược lại về phía mình, cô lên tiếng.
- Vâng - Tôi gật đầu - Một ngày đẹp trời để đi dạo.
Người phụ nữ nhoẻn miệng cười, đấy chỉ là một câu nói xã giao mà thôi. Chúng tôi chẳng nhớ được về ai. Tôi chỉ nhớ về một đoá hoa cúc màu tím… Khoan đã! Tôi giật mình, đứng sững lại. Vội vàng giở sổ tay ra, hoạ lên đó hình đoá hoa vừa thành hình trong ký ức. Đây cánh tròn mềm như lụa, đây cánh non màu phớt chửa thành hình, đây cánh bị gió dập mưa vùi cùng toả ra từ một nhị nắng. Tôi choáng váng. Không thể nào có chuyện này được. Tôi lại nhớ hình ảnh của một đoá hoa ư? Mà đoá hoa này lại thuộc về quá khứ? Có lẽ lúc nãy tôi đã đi lướt qua một đoá nào đó rồi nhớ lại trong vô thức? Phải rồi. Thẫn thờ gập sổ lại, tôi chẳng thể có ký ức.
Sổ ghi chép thứ ba, trang thứ năm đã có từ “Thẫn thờ”, “thất vọng”. Vậy là chẳng cần thêm thắt gì nữa, tôi xốc lại tinh thần và tiến về phía ngọn đồi.
***
Hương thơm rót tràn, vòm không vời vợi.
Trong bụi cây xanh thấp kia điểm vài đốm lửa nhỏ. Tôi lại giở sổ - cuốn thứ hai - mục cây cỏ, xung quanh là các gốc xoan, gốc dẻ, bụi “lửa” nọ có tên “mâm xôi”, trái ăn được. Tôi hái đầy một vốc quả chín, ngồi xoãi xuống cỏ, ngồi ngắm cảnh phía xa và nhấm nháp vật phẩm chua ngọt mọng đỏ này.
Chúng tôi phải học rất nhiều mỗi ngày, nếu dừng lại thì sẽ chẳng thể tồn tại được trước thiên nhiên ngồn ngộn. Đã từng muốn tự sát, để thôi phải sống trong cảnh khổ đau này, song tôi lại thường bị thiên nhiên quyến rũ, bảo rằng “thôi, hãy để đến ngày mai”, con người ta ai cũng nghĩ mình có ngày mai. Ngày mai của chúng tôi là trắng xoá, là gãy đứt, là không còn gì, là điểm khởi đầu.
- Xin lỗi…
Chợt, một giọng nói trong vắt rót vào tai. Tôi hơi giật mình ngẩng đầu lên. Trước mắt, nơi ánh nắng chiếu vào, nổi bật trên nền xanh của trời của thảo mộc là hình ảnh của một thiếu nữ mặc chiếc váy xoè trắng có hoạ tiết hoa cỏ đồng nội, làn da nàng hồng hào và vẻ đẹp của nàng có thể khiến cho bất kỳ ai cũng phải say đắm. Tôi không hề khoa trương hay thêm thắt, tôi đã lược bớt nhiều từ bởi tôi đâu thể nhớ ra được những từ đó. Nàng đẹp, đẹp đến mức tôi tưởng như nàng chẳng có thật.
- Xin lỗi - Thiếu nữ thấy tôi ngây người ra, bèn ngại ngùng nói thêm một câu nữa - Anh có thể cho tôi mượn một cây bút được không?
Vật bất ly thân của chúng tôi chính là giấy và bút. Trớ trêu thay, điều này lại chẳng sinh ra được nhà văn, nhà thơ nào. Tôi trấn định trái tim đang đập thình thịch, bảo:
- Vâng, đây, cô cầm lấy.
Nàng nhoẻn miệng cười, để lộ má lúm đồng tiền nơi khoé môi và đôi mắt đen huyền ấy cứ lấp lánh sáng lên mãi, tựa hồ ức vạn vì sao… Tôi có thể tưởng tượng ra cả một bầu trời như vậy, cho dù đêm tối có là vĩnh hằng thì tinh tú luôn khiến nó trở nên rực rỡ. Tôi thót mình, sống lưng buốt lạnh. Tại sao tôi có thể nhớ được cả bầu trời đầy sao? Tại sao tôi lại có thể hình dung rõ được nó? Thiếu nữ thấy tôi tái mặt, vội đón lấy cây bút, sốt sắng:
- Anh có sao không?
Tôi tỉnh lại, cười gượng:
- Không, tôi không sao.
- Chà, cảnh vật và thời tiết hôm nay đáng để hoạ một bài thơ ngắn hoặc một đoạn văn lắm.
Thiếu nữ nói xong, ngồi xuống cạnh tôi. Chiếc váy trắng xoè toả lấm tấm hoa cỏ may. Nàng giở cuốn sổ tay bọc bìa da màu đỏ, bên trong ép bông hoa khô nay đã biến sắc chỉ còn màu nâu trơ trọi. Tôi chăm chú quan sát. Nàng ngẫm nghĩ, đôi khi lại cười nụ, cuối cùng hí hoáy viết lên trên giấy những dòng chữ dày đặc. Chữ nàng đẹp, nét thanh tròn và hơi nghiêng nghiêng, nom như hàng liễu rủ. Cũng như nàng, tôi chẳng để mình rảnh rỗi bèn ghi chép lại sự việc hôm nay, miêu tả và kể về cảm xúc của mình.
- Tặng anh - Nàng viết xong, xé tờ giấy đó và đưa cho tôi.
- Sao lại tặng tôi?
- Đây là một bài thơ.
- Thơ ư?
- Đúng vậy, tôi muốn trở thành một nhà thơ! – Nàng khẳng định.
Tôi bật cười:
- Chúng ta chỉ có một ngày ký ức, một ngày cảm xúc, thậm chí một ngày để sống. Cô làm thơ thì ngày mai cô cũng sẽ quên đi thôi. Chắc cô cũng biết rằng hai trăm năm qua, thị trấn chúng ta không hề có nhà thơ, nhà văn.
Thiếu nữ vẫn cười, một sợi tóc mai nương theo làn gió, vấn vít vào đôi môi hồng của nàng.
Thiếu nữ thì thầm, tuồng như tự nhủ mà cũng như chế giễu:
- Nếu như chỉ vì có một ngày ký ức mà bỏ quên rung cảm của mình thì còn ý nghĩa gì nữa?
Chúng tôi còn là con người vì chúng tôi biết nói chuyện. Còn là con người vì chúng tôi biết nghĩ. Còn là con người vì chúng tôi biết buồn bực, đau khổ, sợ hãi và vui mừng. Song nếu như thiếu thơ văn và tiếng hát, liệu chúng tôi còn là con người không? Nếu như một ngày kia, thảy thôi có nhu cầu đối thoại, ghi chép, khép kín cánh rừng thì chúng tôi còn là con người không?
Sổ ghi chép thứ tư, bài báo “Vì sao người ta ít đọc sách” có một ý kiến thế này: “Cho dù không có thơ, tiểu thuyết, chúng ta vẫn sống tốt”, ý kiến này có lẽ đúng. Vẫn sẽ sống thôi, con người ấy, song sẽ nghèo nàn hơn và độc ác hơn, dã man hơn. Có lẽ loài người sẽ bị đẩy về thời chẳng có nhân tính, bước đến vực thẳm diệt vong. Nguy cơ của thị trấn chúng tôi đang ở ngay trước mắt, nhưng tôi có thể làm được gì khi nỗi tuyệt vọng này sẽ biến mất vào ngày mai, hình ảnh thiếu nữ cũng thế - hoạ may tìm được trong những ghi chép rời rạc mà thôi.
Cơn gió thốc ngang đưa những ngọn cỏ may vươn lên trời cao, tán loạn thành cơn lốc xoáy nhỏ làm tôi cay mắt. Ngẩng đầu lên, thiếu nữ đã biến mất, trong tay tôi chỉ còn lưu lại mảnh giấy viết bài thơ. Bên trong đó ghi lại cảnh vật, các đoá hoa đẹp đẽ thanh tân. Tôi ngửi thấy cả mùi hoa cỏ, mùi hương của dòng nước suối thanh khiết chảy qua rừng… Lại một điểm sáng trong ký ức! Tôi lại giật mình. Cuộc đời tôi đã giật mình bao nhiêu lần vì những điểm sáng này? Tại sao chúng xuất hiện, tại sao chúng quấy nhiễu cuộc đời của kẻ chỉ có một ngày?
Ngày mai, tôi sẽ quên bài thơ này, và thiếu nữ nữa. Nàng đẹp biết chừng nào, vẻ đẹp buốt tâm hồn khiến người ta không dám nhìn thẳng.
Ngày mai, tôi sẽ quên…
***
- Cậu là con trai tôi nhỉ?
Trên đường về nhà, tôi bỗng bắt gặp một bà lão. Bà hấp háy mắt nhìn tấm ảnh trong tay, nhìn tôi và hỏi như vậy. Tôi cũng rút ảnh gia đình trong túi áo ra, quan sát bà, gật đầu bảo:
- Vâng, chào mẹ, là con đây.
Bà mỉm cười, dụi đôi mắt kèm nhèm của mình và khoác lấy tay tôi, bảo:
- Mẹ nấu cơm rồi, về nhà ăn thôi.
Tôi gật đầu. Hai mẹ con cùng tiến về trung tâm thị trấn. Đồng hồ điểm 11 giờ 30 phút, có nghĩa rằng tôi chỉ còn mười hai tiếng nữa thôi. Ngày mai, tôi sẽ quên. Bài thơ trong túi áo vẫn còn hơi ấm, tuồng có cả tiếng trái tim đang đập. Trái tim, hình ảnh ngậm máu nóng hổi ngồn ngộn sinh mệnh của nó đang hiện dần lên trong não, tôi vẫn chưa quen với việc này. Trái tim có bốn ngăn. Bởi hôm nay tôi chưa hề đọc lại mục “các bộ phận trong cơ thể người” nên trái tim chẳng thể nào có bốn ngăn được đúng không? Tôi lại đang suy diễn rồi.
- Con sao thế? Trông con xanh lắm! - Mẹ tôi chau mày.
- Mẹ này, mẹ nghĩ sao nếu như con viết tiểu thuyết, cuốn tiểu thuyết về thị trấn mình?
Tôi buột miệng hỏi khi bà tra chìa khoá vào ổ. Mẹ thảng thốt quay lại nhìn tôi rồi bật cười:
- Nếu con viết hôm nay thì ngày mai con sẽ quên, tiểu thuyết, chà sáng nay ta mới đọc lại định nghĩa về nó. Đôi khi con phải mất cả đời để viết nó, nhưng ở đây, con chỉ có một ngày.
Tôi lắc lắc đầu thở dài. Mẹ tôi đẩy cửa. Cả hai cùng bước vào trong. Vầng dương vẫn thôi chưa tắt nhưng trước mắt chỉ thấy bóng đêm thâm u hun hút. Tôi bỗng nhiên nhớ về thiếu nữ, nàng quả thực giống như ánh nắng. Chỉ là sức của một người có thể xua hết đêm đen hay không?
Mùi thơm từ nồi canh toả ra kích thích cơn đói. Mẹ tôi có vẻ nghe thấy tiếng dạ dày của con trai mình đang réo sùng sục thì nhoẻn miệng cười dịu dàng. Tôi vội ghi mấy dòng vào sổ tay: “Làm mẹ là bản năng của người phụ nữ, dù có xảy ra chuyện gì đi chăng nữa, chỉ cần chảy chung một dòng máu thì bà luôn yêu thương bạn trong vô thức.”
Ngồi vào bàn, chúng tôi cặm cụi ăn, không nói với nhau câu nào. Suy cho cùng thì có chuyện gì để nói đây? Mẹ tôi không lấy chồng, bà có tôi sau cuộc gặp gỡ ngắn ngủi với bố - người mà tôi chẳng hề biết mặt, mẹ tôi không nhớ ông là ai - mà tôi cũng chẳng hay nó có đúng nghĩa một cuộc tình bởi người ta chẳng thể yêu ai chỉ trong một ngày cả. Mẹ ít nhắc về điều này dù tôi biết bà có chép nó vào nhật ký. Có thể cuộc tình ngắn làm bà đau khổ, thỉnh thoảng tôi lại nghĩ rằng mọi chuyện bị xoá sạch vào ngày tiếp theo chẳng hề tệ như mình vẫn tưởng, các nỗi đau nên bị xoá đi chứ, người ta sống với nỗi đau để làm gì?
Bỗng, mẹ lên tiếng:
- Con làm gì sáng nay?
- Con đi dạo, thời tiết đẹp mà.
Mẹ tôi lại cười:
- Về ý định viết tiểu thuyết, mẹ nghĩ con viết cũng được.
- Con chỉ buột miệng nói thế thôi, con không có ký ức…
Mẹ ngắt lời và nhìn tôi trìu mến:
- Con có những cuốn sổ.
- Vẫn không được.
Mẹ tôi thở dài, nhìn tôi và trong mắt hiện lên đôi nét thương hại. Bài thơ của thiếu nữ đang sưởi ấm ngực tôi. Một ngày là quá ngắn để làm được điều gì đó.
***
Nói về mình, tôi cũng có một công việc, nhưng vì hôm nay là chủ nhật nên tôi được nghỉ ở nhà. Tôi làm tại phòng giám sát của uỷ ban nhân dân, làm bàn giấy nên đôi lúc thời gian bị ném qua cửa sổ mà chẳng biết làm cách nào để giữ lại. Nghe nói mỗi đời chủ tịch lên thay nhau đều khá tần phiền, bởi vì thị trấn tôi biệt lập và cũng không muốn để ai nắm được điểm yếu nên toàn bộ các quan chức trong vùng đều là dân bản địa.
Kể từ khi định mệnh ác nghiệt ập đến, người đứng đầu đã đề ra một yêu cầu, đấy là mỗi gia đình đều phải viết nhật ký hằng ngày, sau đó dán lên cửa chính, phải ghi thật chi tiết kể cả cảm xúc của mình. Cách này tuy rằng hơi rắc rối nhưng cũng thu lại hiệu quả, thị trấn trở thành nơi tiêu thụ giấy mực lớn nhất tỉnh. Hễ trong tỉnh có mười xe giấy trắng thô được chở ra ngoài thì có tới tám xe là đi tới thị trấn. Ai ai cũng có hàng chồng sổ tay các loại.
Bỗng nhiên, kế hoạch của chúa trời bị phá sản. Hiềm nỗi, đôi khi tôi phân vân, liệu những thứ được lưu giữ trên giấy trắng mực đen mà không có chút tình cảm nào của người viết ra thì có trường tồn? Đồng nghiệp như những cái bóng, ra ra vào vào theo đúng nhiệm vụ của mình, khi rỗi việc, mọi người đều ưa nhìn ra ngoài cửa sổ và ngắm bầu trời, ngóng thời gian trôi, một ngày kết thúc. Hôm sau, quá trình làm quen lại bắt đầu, guồng quay của hôm trước lại tiếp diễn. Làn da mọi người đổi sang trắng xanh, cơ hồ chuẩn bị biến mất vậy.
Thị trấn đang đứng bên bờ vực.
 Bữa trưa kết thúc, tôi nằm trên chiếc ghế mây, ngắm giàn hoa giấy đang nở. Sực nhớ bài thơ, tôi lại giở ra xem. Bài thơ chứa cả hình bóng thiếu nữ, đẹp rợn người. Chỉ là, khi sục tay vào túi thì nó đã không cánh mà bay. Tôi hoảng hồn bật dậy, lần khắp người, rồi chạy vào trong để tìm chiếc áo mà mình mặc sáng nay.
Bài thơ mất tích rồi.
Tôi thừ người ngồi xuống sàn đá hoa lạnh. Trong đầu tự hình thành các liên kết để gắng nhớ xem bản thân đã đánh rơi nó ở đâu. Toàn bộ quãng đường lên đồi, vẻ đẹp và gương mặt thiếu nữ, giọng nói của nàng, câu nói của nàng, hình ảnh đoá cúc tím, hình ảnh ánh mặt trời, vì sao, mẹ, con đường trở về, bữa ăn trong bếp,… Tất cả và tất cả, chẳng thể thấy được manh mối. Có lẽ nó vẫn còn ở trên đường.
Bài thơ mất tích rồi.
Tôi phải lên đường tìm nó. Hiện đã là ba giờ chiều, tôi chỉ còn chín tiếng nữa thôi.
***
Chợ chiều, tiếng lái buôn vang lanh lảnh, giòn giã, người người qua lại chen nhau mua bán tự dệt nên buổi chiều tấp nập. Các nụ cười gượng gạo, các lời nói sáo rỗng, thị trấn chúng tôi chừng như không có thực.
Bài thơ đang ở đâu?
Có vụ xô xát nào đang xảy ra. Tay thanh niên trẻ măng đang nắm cổ một ông già, nhấc lên và rủa xả:
- Sao lão dám đâm vào bố?
Loạn rồi, loạn thực rồi. Tôi chen qua dòng người. Lại chợt nhớ ra hai người kia hình như là bố con thì phải, họ sống cạnh nhà tôi, thi thoảng có chí choé cãi nhau. Cậu con trai lêu lổng cả ngày, còn ông bố thì trồng rau trồng đậu để kiếm tiền sống cho qua tháng đoạn năm. Gia đình họ chỉ còn hai bố con nương tựa vào nhau để mà sống.
Nhưng, sao tôi lại biết được chuyện này? Liệu có phải tác dụng của Caféin chăng? Lắc lắc đầu, tôi bỏ đi, tôi lại đang suy diễn. Sao hôm nay tình trạng này lại xảy ra với tôi nhỉ?
Tôi đang đi tìm bài thơ.
Nếu có thể, tôi sẽ cho mọi người biết đó là bài thơ hay nhất mà mình từng đọc, bài thơ đến từ thị trấn của những kẻ chỉ có một ngày ký ức.
Lách được khỏi khu chợ, tôi tìm lại con đường đến quả đồi phía đông. Có vẻ tôi đã đánh rơi nó khi đang trên đường về nhà. Tôi nhớ nội dung bài thơ, tôi có thể chép lại, nhưng những dòng chữ của tôi khác dòng chữ của thiếu nữ ấy. Chữ tôi sổ ngang dọc quằn quại đau đớn, chữ của nàng thì khác, đẹp và tươi. Có lẽ việc viết lách đã cứu rỗi nàng chăng?
Đồng hồ điểm chín giờ tối, tôi chỉ còn ba tiếng mà thôi.
Tìm làm gì nữa đây?
Bóng đêm đã phủ dày trên các ngõ phố, các lùm cây, các khu vườn. Bây giờ mới tới thời điểm hội họp, thị trấn sáng đèn rực như ban ngày. Các vũ công thay quần áo tiến về phía sân vận động để nhảy múa, các bài ca du nhập từ nơi khác được nhại lại, đám trẻ đi xem kéo thành từng đoàn người, gặp gỡ và trò chuyện như chưa từng quen biết dù biết đâu đấy, hôm qua họ từng đi cùng trên một tuyến đường, từng giúp đỡ lẫn nhau? Cuộc sống của người trong thị trấn đều mơ hồ, chẳng cách nào tỏ tường nổi.
Tôi nằm vật trên trảng cỏ may, nhìn về phía vũ hội. Muôn vạn vì sao trên nền trời toả sáng quần tụ quanh mặt trăng rằm tròn vành vạnh. Đẹp quá. Vẻ đẹp không hề giả trá. Tôi lại tưởng hôm nay là ngày rằm nữa rồi. Có phải vì chỉ có một ngày nên trí não hoạt động quá mức gây ra chứng hoang tưởng chăng?
“Ngày mai, mình sẽ viết tiểu thuyết về những người chỉ có một ngày ký ức” - Tôi lật sổ, ghi điều này vào trang tiếp theo với nét chữ đậm.
Sẽ ra sao nếu không có ký ức? – Đó là câu thơ đầu tiên trong bài thơ của thiếu nữ.
Tôi chợt biết, tình cảm của mình dành cho nàng là gì. Cảm giác khi yêu ai đó khi mới gặp lần đầu là gì. Bỗng nhiên, tôi thấu hiểu mẹ. Có lẽ bà đã từng như tôi, gặp được một người đàn ông đủ để khiến bản thân say đắm và trao gửi cả đời dầu biết cả đời của mình là vô khối sự quên.
Bài thơ mất tích rồi.
Ngày mai tôi sẽ không còn nhớ.
Bài thơ và thiếu nữ.
Hương cỏ xanh thanh thanh lùa vào ngực, vào môi, vào mắt. Tôi ngủ thiếp đi. Chẳng còn gì để mất.
Tôi không biết mình đã ngủ bao lâu, lúc tỉnh lại thì đã thấy bản thân nằm trên cỏ. Một con cún con lạc đường đi ngang qua, ngó nghiêng nhìn kẻ lạ mặt. Đầu tôi đau buốt tựa có hàng triệu con giòi đang gặm nhấm phần não mềm bên trong. Sao tôi lại biết điều này? Hôm qua, tôi đã ngủ quên. Tôi có một bài thơ bị đánh mất. Sao tôi lại biết điều này?
Nỗi hoang mang tràn trề dồn nặng xuống. Tôi có thể nhớ được các việc mà mình đã làm hôm qua, hôm kia, mười năm trước, hai mươi năm trước. Ngay lúc này, tất cả ập tới như trăm vạn mũi đao sắc tấn công liên tiếp. Tôi bị thương bởi ký ức, cảm thấy trái tim mệt mỏi muốn ngừng đập. Trước mắt trắng xoá, tôi ngã lăn ra đất và mất ý thức.
Thiếu nữ ấy có lẽ cũng biết điều này.
Bỗng nhiên, tôi mất hoàn toàn tình cảm với nàng.
Tự đánh lừa mình, tự dối người.
Ông trời đã thắng trong trò chơi khăm này hẳn đang đang hả hê lắm.
Khi đầu óc tỉnh táo trở lại, tôi mở mắt, phía trên là bầu trời thăm thẳm cao. Trời muôn đời cao. Ánh nắng tãi vụn. Tôi gượng ngồi dậy hít đầy một bầu không khí. Tôi cũng có một bài thơ bị đánh mất, một cuộc đời bị đánh mất.
Bây giờ, tôi sẽ trở về và tìm lại nó.







Thứ Tư, 16 tháng 8, 2017

GIỚI THIỆU TẠP CHÍ CHƯ YANG SIN SỐ: 300 - THÁNG 8 NĂM 2017

Tác giả TRẦN VĂN LỢI


DƯỚI BÓNG CỜ SAO PHẤP PHỚI TUNG BAY


Những sự kiện lịch sử trọng đại “long trời lở đất”: Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công cùng với sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ngày mồng 2 tháng 9 đã mở ra một kỷ nguyên mới cho dân tộc Việt Nam – kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội, đã làm thay đổi căn bản vị thế của đất nước ta trên trường quốc tế, đưa nhân dân ta từ chỗ bị áp bức, bóc lột trở thành chủ nhân của đất nước. Giữa không khí vui mừng trào dâng khôn xiết đó, ngay lập tức rất nhiều bài thơ đã nhanh chóng được ra đời nhằm thể hiện niềm hạnh phúc lớn lao của toàn dân tộc và ca ngợi đất nước, ca ngợi cách mạng với một tinh thần phơi phới, hân hoan.
Trong số đông đảo các nhà thơ xuống đường cuốn theo dòng cảm xúc của mùa thu lịch sử đó, Tố Hữu vẫn luôn là lá cờ đầu của nền thơ ca cách mạng. Lúc ấy, ông cùng với Trần Huy Liệu được phân công nhiệm vụ trở về Huế để thay mặt cách mạng tiếp nhận chính quyền từ tay vua Bảo Đại. Chính vì vậy, Tố Hữu càng hiểu ý nghĩa hết sức to lớn của cuộc Cách mạng Tháng Tám khi ông được tận mắt chứng kiến nền quân chủ tồn tại hàng nghìn năm đã sụp đổ và xiềng xích của chế độ thực dân nửa phong kiến bị đập tan ở ngay dưới chân mình. Nhà thơ cùng hòa vào niềm vui triều dâng thác lũ của dòng người cuồn cuộn giữa không gian của Huế tháng Tám tràn ngập cờ đỏ sao vàng tung bay trong luồng gió cách mạng. Niềm hạnh phúc lớn mà cả dân tộc đợi chờ bao năm, bị kìm nén quá lâu nay được dịp thổi bùng lên thật mạnh mẽ, khiến ai cũng hào hứng, say sưa: 
Gió ơi gió! Hãy làm giông làm tố
Cuốn tung lên cờ đỏ máu thơm tươi
Vàng vàng bay, đẹp quá, sao sao ơi!
Ta ngã vật trong dòng người cuộn thác…
Giữa khí thế tưng bừng, sục sôi mà vô cùng xúc động đó, dường như mỗi ngọn núi con sông đều thấy mình trẻ lại, rũ bỏ dáng vẻ trầm mặc, u uẩn nghìn năm mà vươn dậy bay lên sống cuộc đời mới. Mỗi người dân Việt Nam như được sinh ra một lần nữa. Nhưng để có cuộc “hoài thai cuộc đời” này thì phải trải qua bao đau thương, hy sinh và gian lao mới thấy được tương lai tươi sáng. Chính vì vậy, ai cũng dâng tràn niềm xúc động:  
Hãy bay lên sông núi của ta ơi
Nước mắt ta trào húp mí tràn môi
Cổ ta ré trăm trận cười, trận khóc
Ta ôm nhau, hôn nhau từng mái tóc
Hả hê chưa, ai bịt được mồm ta
Ta thét huyên thuyên, ta chạy khắp nhà
Ai dám cấm ta say, say thần thánh
Ngực lép bốn nghìn năm, trưa nay cơn gió mạnh
Thổi phồng lên. Tim bỗng hoá mặt trời
                                 (Huế tháng Tám)
Cách mạng Tháng Tám 1945 như  ánh bình minh rực rỡ soi rọi khắp núi sông, xua tan đi cái giá lạnh của đêm trường nô lệ, làm thay đổi cuộc đời của mọi người dân Việt nói chung và thay đổi “ngòi bút” của mỗi nhà thơ nói riêng. Trước đó, Xuân Diệu là nhà thơ tiêu biểu của dòng thơ ca lãng mạn, luôn đề cao cái Tôi cá nhân chật hẹp với giọng ca ủy mị, sướt mướt cùng những thi ảnh quen thuộc như: tôi với người yêu, chàng và nàng, anh và em, nét mi, khoé mắt, mái tóc dài… Nhưng khi được đón nhận luồng gió của cách mạng, Xuân Diệu đã hồ hởi cùng toàn dân tộc cuốn theo cờ đỏ sao vàng và cùng hát lên khúc tráng ca Ngọn quốc kì thật hào sảng, say mê. Cách mạng Tháng Tám đã tác động mạnh mẽ đến mọi góc khuất trong tâm hồn, trong lý trí làm thay đổi nhận thức, thay đổi thế giới quan của Xuân Diệu giúp những câu thơ của ông được “lột xác”, mang một dáng vóc mới cùng một khẩu khí mới: 
Việt Nam! Việt Nam! Cờ đỏ sao vàng!
Những ngực nén hít thở ngày độc lập!
Nghìn lực mới bốn phương lên tới tấp
Nếp cờ bay chen vỗ sóng bài ca…
Chỉ khi có Cách mạng Tháng Tám thì trong thơ Xuân Diệu mới thấy sự xuất hiện của những con người cần lao, lầm than như: chị bán củi, anh kéo xe, em bé đánh giầy… Những con người ấy vốn đã mang sẵn trong mình tinh thần cách mạng, nay mới được bùng ra, vươn dậy. Họ đều phấn khởi, tích cực góp phần của mình để làm lên thắng lợi của cách mạng, làm lên một Việt Nam tươi thắm màu cờ đỏ sao vàng:
Chị bán củi ra thị thành đón lấy
Anh kéo xe làm giấy dán trên mui
Em bé con hì hục cố pha mùi
Ông lão đón mớ lửa hồng vào dạ
Có mấy bữa mà Việt Nam thắm cả
Máu nén lâu từ ấy đã bùng ra
Những túp lều xơ xác cũng ra hoa
Những gốc cũ nảy một chồi sống mới
Cả anh dũng đã tưng bừng trở lại
Một trăm năm tan tác tựa mù sương…
                                                              (Ngọn quốc kì)
Ngọn quốc kì biểu tượng của cách mạng, có một sức mạnh kỳ diệu, làm hồi sinh mọi sự sống và khai sinh trong mỗi tâm hồn một nguồn cảm xúc mới – cảm xúc cách mạng. Và hình ảnh thiêng liêng đó đã xua tan một thế kỷ u ám sương mù để hiện ra khuôn mặt Việt Nam tươi sáng, tràn đầy sức trẻ. Với Xuân Diệu, từ chỗ đang mơ màng, mộng mị trong cái Tôi lãng mạn bế tắc, ông đã bừng tỉnh, nhập thân vào đời sống mới, hát lên những ước vọng của nhân dân trong đấu tranh và dâng hiến:
Càng đấu tranh vàng mới lại vàng ra
Có nung nấu, đỏ mới càng đỏ riết
Theo cờ gọi, những con dân đất Việt
Dâng máu xương không tiếc với sơn hà
                                                              (Ngọn quốc kì)
Tổng khởi nghĩa liên tiếp giành thắng lợi trên cả nước, giúp cho cuộc Cách mạng Tháng Tám thành công nhanh chóng. Để khẳng định quyền độc lập, tự do chính đáng của dân tộc mình trước toàn thế giới, ngày mồng 2 tháng 9 năm 1945, giữa quảng trường Ba Đình vàng tươi sắc nắng, tràn ngập cờ đỏ sao vàng và hoa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt cho đồng bào cả nước, trịnh trọng đọc Bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà:
Hôm nay sáng mồng 2 tháng 9
Thủ đô hoa vàng nắng Ba Đình
Muôn triệu tim chờ, chim cũng nín
Bỗng vang lên tiếng nói ân tình…
                                                              (Sáng mồng 2 tháng 9 – Tố Hữu)
Đó là ngày hội ngộ của núi sông, ngày đoàn tụ của cả dân tộc. Lời của Người là lời của độc lập, tự do, lời của ấm no, hạnh phúc. Dân tộc Việt Nam đã mong đợi phút giây thiêng liêng này đã bao năm nên ai cũng hồi hộp, rưng rưng nước mắt. Giữa không khí trang nghiêm và xúc động đó, nhà thơ Tố Hữu cảm nhận: 
Trời bỗng xanh hơn nắng chói loà
Ta nhìn lên Bác, Bác nhìn ta
Bốn phương chắc cũng nhìn ta đó
Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà !…
Đất nước Việt Nam đã bước sang một trang sử mới tươi sáng hơn. Cả nước đều hướng về Bác và ánh mắt của Người nhìn thấu khắp non sông. Và bốn biển năm châu đều ngưỡng vọng hướng về Việt Nam. Tất cả cùng sung sướng reo lên: Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa!... Đó là lời khẳng định thành quả quan trọng nhất của Cách mạng Tháng Tám 1945, khẳng định niềm hạnh phúc lớn lao của toàn dân tộc …
 Đã 72 năm trôi qua, mỗi lần đọc lại Huế tháng Tám, Ngọn quốc kì và nhiều bài thơ khác ra đời giữa mùa thu lịch sử năm 1945, chúng ta lại được sống trong không khí tưng bừng, phấn khởi của những ngày Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2 tháng 9. Tinh thần cách mạng, hào khí cách mạng sống mãi trong trái tim mỗi người Việt Nam. Mỗi độ thu về, chúng ta lại bồi hồi được đi dưới bóng cờ đỏ sao vàng phấp phới tung bay giữa bầu trời trong xanh nắng vàng rực rỡ…