Thứ Năm, 21 tháng 6, 2018

VẠT NẮNG CUỐI CHIỀU truyện ngắn của BÍCH THIÊM - CHƯ YANG SIN SỐ 310 tháng 6 năm 2018



"Tút...tút...tút", những âm thanh rời rạc ấy đã tắt lịm rồi mà ông Tân vẫn thẫn thờ như chưa tỉnh lại. Mãi khi con cún con kéo vào gấu quần pyjama ông mới thoát khỏi trạng thái đó. Ông bước lại bên bể nước, múc một gáo và dội lên đầu. Nước mát lạnh làm da mặt ông tê tê rần rần. Rồi ông lấy tay vuốt tóc và đi vào nhà. Chiếc bàn trà vàng rực ánh nắng cuối ngày cùng tập giấy và cây bút đang đợi chờ, ông cố tập trung vào công việc mà không được. Cứ thấy khuôn mặt, tiếng cười của người ấy hiển hiện trước mắt.
Sau mấy năm nằm liệt do tai nạn giao thông, dù được chăm sóc chu đáo, nhưng rồi người bạn đời của ông cũng vẫn ra đi. Thời gian đầu, mấy đứa con thay nhau đưa con cái về ở với cha trong những ngày nghỉ cuối tuần. Sau rồi, công việc cuốn đi, vả lại thấy cha có vẻ quay lại nếp sống thường ngày nên chúng ít về hơn. Ngay cả An, con trai đầu của nhà, sau một vòng đi giới thiệu sản phẩm của công ty với đối tác nước ngoài, anh mới chạy về thăm cha được. Mới có sáu tháng, anh không gặp cha. Trông ông có phần gầy hơn, tấm lưng còng xuống. Sau bữa cơm chiều, hai cha con ngồi uống nước dưới giàn hoa thiên lý đang trổ hoa. Hương thơm ngọt ngào, chốc chốc làn gió thổi từ bên kia đường khiến những ngọn non dập dờn như mái tóc của thiếu nữ buông lơi.
Ông Tân nhấc ly trà tên rồi lại đặt xuống mấy lần. Ông hắng giọng rồi  xoay xoay chiếc ly trong tay. An thấy lạ. Có bao giờ cha anh khác lạ như vậy đâu. Anh khẽ hỏi:
- Hình như bố có chuyện gì muốn nói với con?
Ông Tân ngẩng lên nhìn sáng An và khẽ cười. Nụ cười ngượng nghịu.
- Bố có chuyện này muốn nói với con.
Ông ngừng lời và lại uống nước. Có chuyện gì mà cha anh có vẻ khó nói thế nhỉ? Có bao giờ ông cụ như vậy đâu.
- Bố nói đi, con đang nghe đây.
- Ừ, bố nói - Ông Tân nói và vừa nhìn bâng quơ đôi ngọn thiên lý ngoài sân rồi khẽ khàng - Bố...Bố muốn kiếm người về ở cùng…
An nhìn cha, và cố kìm một hơi thở đang rộn lên trong lồng ngực.
- Mẹ các con cũng đã “hết khó”, các con đi suốt, bố lại hay đau yếu, nên bố muốn có người bầu bạn lúc trái gió trở trời.
- Vâng, vậy bố đã nhắm được ai chưa? An vừa hỏi vừa hơi cười cười. Mấy anh em vẫn thấy bố quanh quẩn ở nhà, chả đi xa bao giờ nên chắc ông nói vậy chứ chắc gì đã có ai.
- Có, bố tìm được rồi đấy. Ông nhìn con, và trong mắt lấp lánh một ánh nhìn trẻ trung: Cô Xoan làng Nội.
- Cô Xoan? An buột mồm rồi vội chữa ngay khi gặp ánh mắt dò hỏi của cha- Bố, bố có nhầm không?
- Không, dạo trước bố không để ý, mãi đến hôm đình làng làm lễ đầu năm, cô ấy nói chuyện thật vui, lại còn khen bố lịch lãm. Mà khen những hai lần cơ đấy. Ông Tân hể hả cười. Nụ cười làm mờ vết hằn bên khoé miệng và  mắt ông lấp lánh niềm vui.
- Ối Trời ơi! An thở hắt ra. Cô ấy khen xã giao mà bố cũng tin ư? Anh định nói câu ấy, nhưng rồi nhìn vẻ mặt của bố, anh lại không nỡ. Anh đứng lên, chế thêm nước vào bình trà, rót thêm vào li của hai cha con. Vừa rót, anh vừa hỏi với vẻ hồ hởi:
- Vậy sau đó như thế nào nữa, bố?
- Thế nào là thế nào? Ông Tân ngơ ngác,  hỏi lại.
- Thì gặp nhau, nói chuyện, bày tỏ tình cảm, rồi bàn tính chuyện về với nhau như thế nào ấy. Chuyện đó là bình thường mà bố.
- Ờ…ờ…Ông Tân hơi lúng túng. Bọn bố - ông vội sửa ngay - bố và cô ấy chưa nói đến đoạn đó. Bố tính, nếu các con đồng ý thì cha con mình đem khay trầu rượu sang nhà nói chuyện rồi rước cô ấy về. Bố chưa dám gặp cô ấy…
- Chúng con không phản đối nhưng chuyện này cần thêm thời gian bố ạ. Không đơn giản như thời bố với mẹ ngày trước đâu, bố.
Xoan là người xóm trên, cô có dáng người thấp đậm, làn da nâu khoẻ khoắn, và hơn An vài tuổi. Cô vẫn ở một mình sau khi người chồng đi sang Nhật lao động xuất khẩu và lấy luôn vợ bên đó không về. Xoan hay cười hay nói, nhanh giận mà cũng nhanh lành, vậy cũng là may chứ nếu không chắc cô chỉ buồn với sầu khi đi về một mình trong căn nhà nhỏ bé cuối xóm. Cánh đàn ông trong xóm trong những lúc trà dư tửu hậu vẫn hay gán ghép và trêu cô là “lãng phí tài nguyên”. Cánh phụ nữ bên cạnh một số người thông cảm thì cũng có người luôn nhìn cô như một mối nguy tiềm ẩn, cứ như cô sẽ quyến rũ chồng mình bất cứ lúc nào. Dù cùng xóm nhưng ông Tân ít đi ra bên ngoài nên những câu chuyện bù khú của mấy ông bợm nhậu hay của cánh phụ nữ hầu như ông không nghe tới. Chỉ đôi lần, họp khu phố thì ông mới chạm mặt Xoan. Chị bao giờ cũng đến đúng giờ, ngồi trong góc phòng và luôn nhỏ nhẹ lịch sự khi nói chuyện với những người phụ nữ khác. Vừa rồi, làng mở hội. Lúc làm lễ, vô tình mà ông và Xoan đứng hai bên hàng đối diện nhau để đón vị chủ tế. Nhìn ông chỉnh tề trong bộ vest đen, cô không giấu vẻ thán phục. Lúc làm lễ xong, Xoan thốt lên: “Nhìn ông lịch lãm quá”. Lúc đầu ông thấy ngượng ngượng. Đã mấy năm chăm sóc người bạn đời bị tai nạn, lần đầu tiên có người phụ nữ khen ông, mà lại là khen công khai trước bao người. Thấy vui vui, ông ngỡ ngàng nhìn Xoan, một lần, hai lần và rồi bâng khuâng mãi bởi ánh nhìn trẻ trụng, giọng điệu sôi nổi của chị. Và vu vơ trong ông một niềm tơ tưởng.  Ra vào trong căn nhà vắng, ông hình dung tất cả sẽ sáng bừng lên, rộn rã lên nếu có bóng dáng đậm đà cùng tiếng cười của Xoan. Đắn đo mãi, rồi ông mới dám gọi điện và ướm thử ý của chị. Đáp lại câu hỏi: “Em nghĩ về tôi thế nào? Liệu có thể cho tôi một cơ hội không?”. Chị im lặng rồi ngập ngừng. Sự ngập ngừng ấy ông cảm nhận được qua sự im lặng giữa câu chữ rời rạc và tiếng ho khẽ.
- Em cứ nói đi. Anh chịu được mà.
- Vâng, em nói... Em nói ạ. Có tiếng Xoan thở mạnh. Hình như chị đang lấy quyết tâm. Em rất ngưỡng mộ chú…à anh…(hình như chị đang bối rối tìm cách xưng hô tthích hợp).
- Chỉ vậy thôi ư? Câu ấy bật ra vô thức trên môi ông. Thế em khen tôi là giả à?
- Ô, không, không ạ. Khi đó em khen anh rất thật lòng, nhưng còn chuyện kia…thì thì…Cô nói nhanh: Em có bạn rồi.. Và cô trầm giọng xuống: Em xin lỗi ạ.
- Không, không sao đâu em. Cám ơn em đã nói thật nhé.
…Em đã có người khác. Em từ chối mình. Có lẽ thời nay không còn chuyện chắp nối như thời trước. Thời mà rổ rá cặp lại đơn giản là tìm người bạn già về góp gạo thổi cơm chung, là sớm hôm hủ hỉ cùng nhau. Sao mình lại u mê không nghĩ ra thế nhỉ? Đầu ông ong ong những câu hỏi ấy. Ừ, cũng phải. Cô ấy mới chừng ngoài bốn mươi một chút, đang độ mặn mà, đằm thắm. Mình nhìn còn thuận mắt huống chi người khác. Bất giác ông thở dài mà không hay. “Thôi thì cứ coi như một lần dũng cảm, một lần thử thách để vượt qua mặc cảm tuổi tác vậy”. Ông nghĩ vậy và chìm vào giấc ngủ ngắn ngủi của tuỏi bảy mươi.
Chi huýt...Chi huýt...Chi huýt.Tiếng chim hót rộn ràng bên cửa sổ làm ông thức giấc. Ông khẽ trở mình và từ từ ngồi dậy.Từ từ lùa chân vào đôi dép xốp trên nền nhà. Ông chống tay và hơi ngả người ra sau. Mắt khép hờ và hơi thở nhẹ, ông giữ nguyên trạng thái đó trong vài phút.
- Thôi thì đành vậy.
Ông nghĩ thế rồi đứng dậy, khoan thai bước những bước nhẹ nhàng êm ái và khẽ khàng mở cửa. Có con chim gì nhỏ như chim ri, lông cánh xanh biếc đang đậu trên cành hồng tỷ muội chi chít những bông hàm tiếu nhỏ xinh.
Ông nheo mắt nhìn con đường ngập nắng chạy qua trước cửa. Lòng thoáng bâng khuâng như nghe thoảng bên tai tiếng cười khúc khích của cô ấy.
Chi huýt chi huýt chi huýt. Tiếng con chim vẫn còn rơi lại trước khi nó vụt bay đi, đôi cánh nhỏ lấp loá ánh nắng vàng ngời ngợi cứ vẫy vẫy như bàn tay nhỏ đang múa giữa  tầng không.

Thứ Tư, 20 tháng 6, 2018

CON TẮC KÈ CỤT ĐUÔI truyện ngắn của HỒNG CHIẾN - CHƯ YANG SIN SỐ 310 tháng 6 năm 2018



- A, thằng Tắc Kè Hoa đến chúng mày ơi!
Một con Thạch Sùng bất chợt reo lên khi nhìn thấy Tắc Kè Hoa vừa nhô đầu lên sau miếng vỏ cây. Cả đám ba con Thạch Sùng choai choai chắc vừa trốn ba má chui ra khỏi chỗ ngủ để đùa nghịch. Thạch Sùng đứng ngoài cùng bên phải nói:
- Hắn ở đâu ra thế? Đôi mắt mới kinh khủng làm sao, cứ như chuẩn bị rơi ra ngoài ấy.
Thạch Sùng đứng ngoài cùng bên trái bảo:
- Người lại đầy màu sắc lóng lánh nữa chứ, chắc hắn mới đi dự sinh nhật về rồi đi lạc đến đây đấy?
Con Thạch Sùng nhỏ nhất đứng giữa, thân trong veo, nhìn thấy cả ruột gan bên trong, giương cặp mắt tròn xoe ra nhận xét:
- Hình như hắn ở xa đến, trông có vẻ mệt mỏi lắm.
- Ơ, hắn cụt đuôi kìa.
Con Thạch Sùng bên trái lớn nhất bọn reo lên như vừa phát hiện ra một điều gì đó vĩ đại lắm, rồi từ từ tiến lên phía trước. Con Tắc Kè Hoa đứng im, mắt căng lên quan sát đối thủ đang tiến lại gần, hình như bốn cái chân bắt đầu run.  Thạch Sùng bé nhanh nhảu lao lên trước, bỗng kêu lên:
- Hắn bị thương rồi, máu còn chảy đây nè!
Cả bọn Thạch Sùng xúm lại xung quanh Tắc Kè Hoa quan sát, làm quen. Hình như tuổi trẻ cùng trang lứa với nhau dễ thông cảm, nhất là khi gặp hoạn nạn, nên chỉ một chốc thôi chúng đã trở thành thân thiết. Mấy con Thạch Sùng dẫn Tắc Kè Hoa đến bên một chỗ lõm của vỏ cây để nghỉ rồi vội vã chia nhau tản đi, con chạy về nhà lấy nước, con mang đồ ăn, có con mang đến một con ruồi to để Tắc Kè Hoa ăn cho đỡ đói… Thấy con ruồi, Tắc Kè lắc đầu không nhận vì chưa bao giờ ăn xác chết; hàng ngày chỉ quen ăn các ấu trùng trốn trong các vỏ cây hay các động vật nhỏ như: dế, châu chấu, muỗi, gián, nhện… Tuy bị thương và rất mệt, Tắc Kè Hoa vẫn tỏ ra một thiếu niên có bản lĩnh.
Lũ Thạch Sùng tò mò muốn biết Tắc Kè Hoa ở đâu, tại sao lại đi đến đây với cái thân mình đầy thương tích như thế. Tắc Kè Hoa thở dài, kể lại:
Sáng sớm hôm nay khi còn đang ngon giấc như mọi ngày, bỗng có tiếng động vang lên:
- R…e…ét, r…e…ét.
Chạy ra cửa ngó xuống thấy cả xóm tắc kè đang nhốn nháo. Thôi thì già, trẻ cứ chạy rối mù cả lên, hình như không tin vào điều gì đó khủng khiếp đang xảy ra. Tiếng cưa máy vang lên, lưỡi cưa cắn vào cành cây to hơn một vòng tay người chìa ngang qua phía tây, làm cành cây rung lên bần bật. Cành cây to có nhiều cành nhỏ, cành nhỏ có nhiều lá che mát cho cả một vùng rộng lớn. Cành cây là nơi trú ngụ của họ hàng nhà tắc kè. Trong đám lá xanh trên cành cao nhất còn có ngôi nhà mới xây của vợ chồng chim chèo bẻo. Chèo Bẻo có bộ lông xanh đen, óng mượt, bay nhanh như gió nhưng rất khéo tay, xây nhà đẹp lắm. Chim đi tìm những sợi dây nhỏ, mềm mại, óng mượt, vàng ươm lót phía trong; những sợi dây cứng đan bên ngoài, tạo thành cái tổ tròn như một chiếc chén ăn cơm. Đôi vợ chồng Chèo Bẻo hạnh phúc lắm, từ sáng sớm đến chiều tối cứ tíu tít bên nhau, thỉnh thoảng mới bay vút đi tóm mấy con bướm lạc đàn, hay cào cào, châu chấu… mang về chia nhau ăn. Khi cành cây bị con người cưa, vợ chồng chim Chèo Bẻo bay vút ra khỏi tổ cuống quýt chao lượn xung quanh tán cây như muốn níu kéo, giữ cành cây lại.
Cây cổ thụ có tên lạ hoắc: Óc Rồng. Cách đây hơn một trăm năm, khi con người vừa xây xong toà nhà này cho một ông công sứ người Pháp ở. Ông chủ mới mang từ bên “mẫu quốc” sang hai cây gỗ quý trồng phía trước ngôi nhà cho đỡ nhớ quê. Cùng với thời gian, cây ngày một xanh tốt, gốc to đến bảy người ôm chưa kín, tạo nên một khung cảnh rất đẹp bên toà biệt thự cổ kính. Hôm trước mấy người đến bàn nhau cưa bớt cành thấp nhất chìa ngang qua đường làm xe ô tô của ông “sếp” mới tậu không vào được. Họ còn nói, trên cành cây này nhiều tắc kè, có con sống đến trên chục năm tuổi, bắt làm thuốc quý lắm. Một người ngạc nhiên hỏi:
- Làm sao biết tắc kè sống bao nhiêu tuổi?
- Căn cứ vào tiếng kêu, nếu con nào chỉ kêu được một tiếng rồi dừng, loại đó mới một năm tuổi; còn con nào kêu từ hai tiếng trở lên, cứ thêm một tiếng là thêm một tuổi. Trên cành này có con kêu tới mười sáu tiếng mới ngừng.
- Ô, hay nhỉ!
 Một người có vẻ ngạc nhiên reo lên tỏ vẻ thích thú. Mấy người nói với nhau thế, tưởng chuyện cho vui, ai ngờ sáng nay họ làm thật. Cành cây lớn bị cưa đứt lìa khỏi thân, rơi xuống thảm cỏ kêu đến rầm một cái như bom nổ, tôi bị văng ra đám cỏ xỉu luôn. Khi tỉnh lại thấy con người đã bắt hết gia đình tôi bỏ vào bao tải. Hình như ba tôi đã nhìn thấy tôi núp bên một cái lá nên ông hét lên:
- Út, chạy lại gốc cây kia, leo lên nhé.
Cây Óc Rồng bị mất một cành lớn trông như con người cụt mất một tay, từng giọt máu tím bầm chảy ra rơi xuống đất. Hình như cây đau lắm, đang oằn mình chống chọi, thỉnh thoảng một cơn gió thổi qua kéo theo từng chùm lá xanh bay lả tả. Mất một cành lớn như thế, không biết cây có sống nổi không. Gốc cây ở gần chỗ tôi văng ra các cành vươn lên phía trời xanh, cành lá xanh tốt lắm. Chờ đám người đi khuất, tôi mới nhằm gốc cây chạy lại để leo lên. Khi đang băng qua đám cỏ, bỗng tiếng cô Chèo Bẻo rít lên rồi nhắm tôi lao xuống. Cái mỏ như gọng kìm tóm gọn đuôi tôi kéo bổng lên không trung. Tôi giãy dụa, tự cắt đuôi mình để rơi xuống đất rồi lao vào gốc cây ẩn nấp, từ từ leo lên đây.
- Chắc cô Chèo Bẻo tưởng họ hàng Tắc Kè phá nhà nên trả thù đấy mà. Thật vô lý quá. – Thạch Sùng út nói.
- Bây giờ bạn tính sao?
Thạch Sùng lớn nhất bọn hỏi Tắc Kè Hoa. Thạch Sùng em vội nói:
- Còn sao với giăng gì nữa, ở lại đây thôi, chốc nữa ta về xin má nhé.
Chiều, má Thạch Sùng thức giấc, mấy đứa con tranh nhau kể về hoàn cảnh của Tắc Kè Hoa. Má Thạch Sùng nghe qua câu chuyện, lòng rất cảm động nên thu xếp để Tắc Kè Hoa được sống chung cùng gia đình trên chạc cây. Thế là ba con Thạch Sùng với một con Tắc Kè Hoa to bằng nhau, hình dáng bên ngoài cũng giống nhau, chỉ khác màu áo mặc; sống với nhau rất hoà thuận, vui vẻ.
Ngày tháng trôi qua, Tắc Kè Hoa lớn nhanh như thổi, thân to gấp hai rồi gấp ba, gấp bốn lần Thạch Sùng. Họ hàng nhà Thạch Sùng đều mặc giống nhau: Khoác trên mình chiếc áo màu nâu sẫm, gần giống với màu của vỏ cây Óc Rồng, nơi đang sinh sống. Còn Tắc Kè Hoa càng lớn, chiếc áo mặc trông rực rỡ hẳn lên: Trên nền xanh da trời được điểm thêm những nốt đỏ, xanh lơ đều nhau như được một bàn tay khéo léo sắp đặt. Chiếc đuôi đứt ngày nào bây giờ đã mọc lại, dài ra và to bằng Thạch Sùng anh. Ban ngày cả bọn đi ngủ, đêm đến mới thức dậy đi săn mồi, kiếm sống.
Cuộc sống cứ vậy cho đến một hôm… Khi ông mặt trời đứng trên đỉnh ngọn cây, cả nhà Thạch Sùng đang say sưa ngủ. Bỗng mùi hôi thối nồng nặc theo gió xộc vào nhà, một con quái vật đầu hình tam giác, cái mắt nhỏ tý tẹo, còn lưỡi đỏ lòm có hai nhánh cứ thò ra, thụt vào trong miệng tiến dần đến. Má Thạch Sùng hoảng hốt thét lên:
- Rắn, chạy đi các con ơi, chạy đi!
Cả bọn hoảng hốt lao ra khỏi cửa leo tít lên ngọn cây cao. Má Thạch Sùng đứng bên cửa chờ cả nhà chạy hết mới vội vã bò đi sau cùng. Con rắn thân dài ngoằng, da xanh như tàu lá non, đầu ngẩng cao, mồm bạnh ra rồi bất ngờ bổ xuống một cái thật mạnh, túm được đuôi má Thạch Sùng. Hắn cất tiếng cười man rợ. Thạch Sùng út trông thấy thế, sợ quá ngã lộn nhào từ trên cành cao xuống đám lá phía dưới, may mà không rơi xuống đất. Các anh chị Thạch Sùng chết lặng như bị dính chặt vào cây. Trong thời khắc tuyệt vọng ấy, Tắc Kè Hoa từ trên cao lao thẳng đến, dùng hết sức bình sinh cắn một nhát thật mạnh vào lưng rắn. Con rắn đau quá kêu thét lên, làm văng má Thạch Sùng ra khỏi miệng. Sau nhát cắn chí mạng, Tắc Kè Hoa chạy qua phía bên kia cây. Con rắn tuy không có một cái chân nào, thế mà leo cây rất giỏi. Nó cất cao đầu nhìn xung quanh tìm đối thủ nhưng không thấy nên lại áp cổ vào cây, dùng đám vảy dưới bụng như bàn chân bám vào cây, định đuổi theo má Thạch Sùng đang nặng nhọc nhích từng tý một ở phía trước, chiếc đuôi bị rơi đâu mất, máu chảy thành dòng. Chỉ chờ có vậy, Tắc Kè Hoa rời chỗ nấp, lao đến cắn tiếp một cái thật mạnh vào phía sau lưng con rắn gần phía đuôi. Con rắn oằn mình đau đớn, quay cả cái thân dài ngoằng lại định cắn kẻ tấn công mình, nhưng… cái thân dài như một sợi dây ấy tuột khỏi thân cây rơi luôn xuống thảm cỏ dưới đất, kèm theo tiếng kêu: oạch, một đám bụi tung lên; con rắn đau đớn, hốt hoảng bỏ chạy.
Qua cơn hoạn nạn, cả gia đình Thạch Sùng quây quần bên nhau, Thạch Sùng út tò mò hỏi Tắc Kè Hoa:
- Không sợ quái vật đó à?
- Khi… ấy, khi… ấy, không thấy sợ mà chỉ thương má thôi.
- Cảm ơn con!
Má Thạch Sùng xúc động nói.
- Dạ, chuyện bình thường thôi ạ.
Tắc Kè Hoa hình như ngượng ngùng trả lời và bất ngờ cất tiếng kêu:
- T …ắ …c k …è!
Lần đầu tiên trong đời, tiếng kêu buột miệng thoát ra, cả thân hình to lớn của Tắc Kè Hoa hình như rực rỡ hẳn lên, lấp lánh dưới ánh mặt trời. Má Thạch Sùng vui mừng nói:
- Ôi, con đã thành thanh niên rồi. Một người lớn thực thụ rồi.
- T …ắ …c k …è!
Bất ngờ tiếng của một con tắc kè ở cây Óc Rồng bên cạnh vang lên như trả lời tiếng gọi của Tắc Kè Hoa bên này. Mẹ Thạch Sùng vui mừng bảo:
- Thế là con có bạn rồi đấy.
- Sao ạ?
Tắc Kè Hoa ngạc nhiên hỏi lại, đôi mắt hình như cũng sáng hơn một ít. Mẹ Thạch Sùng giải thích:
- Con đã thành thanh niên mới có thể kêu như thế và có tiếng đáp lại, chứng tỏ có người trong gia đình, họ hàng con còn sống bên đó đã nghe tiếng của con. Ngày mai qua tìm nhé.
Tắc Kè Hoa xúc động cúi đầu, hình như đôi mắt long lanh một chút thì phải. Bầy Thạch Sùng xúm lại chúc mừng và bàn nhau cách tìm đường qua cây Óc Rồng bên cạnh.
Buổi tối hôm sau, Tắc Kè Hoa bịn rịn không muốn chia tay, nhưng tiếng kêu của dòng họ thôi thúc trái tim, thúc giục đi tìm. Cả nhà Thạch Sùng dàn hàng ngang, lưu luyến nhìn bóng Tắc Kè Hoa khuất dần sau lớp vỏ cây. Ánh trăng đêm rằm vừa nhô lên ở phía đông xa xa bao phủ lên cảnh vật như được dát bạc. Bất ngờ một tiếng kêu gọi bạn từ một nơi xa vọng đến, xoá tan màn đêm tĩnh mịch:
- T …ắ …c k …è!
- T …ắ …c k …è!
Lũ Thạch Sùng cũng buột miệng kêu lên trả lời:
- T ..ặc t …ặc!
- T ..ặc t …ặc!
Mùa thu năm 2017


LÀM BÁO THỜI KHÁNG CHIẾN tác giả HỮU CHỈNH - CHƯ YANG SIN SỐ 310 THÁNG 6 NĂM 2018




Ngày 8 Tết Mậu Tuất (23.2.2018), Tỉnh uỷ, HĐND, UBND, UBMTTQ Việt Nam tỉnh Đắk Lắk tổ chức cuộc gặp đầu xuân với đại diện văn nghệ sĩ, trí thức, báo giới. Tôi được phép lên nói vài lời. Dù có 8 năm làm Phó Ban vận động và 11 năm làm Chủ tịch Hội Văn nghệ nhưng tôi lại nói về báo chí thời ở rừng.
Nhìn khắp hội trường, tôi nói vui: “Còn có 3 mống” làm nhân chứng vật chứng. Đó là tôi, Nguyễn Trúc, Ngô Minh Kha. Sau 43 năm thống nhất đất nước, còn gặp nhau là may mắn lắm rồi. Các bậc đàn anh có người không còn, có người đau yếu không đến dự, tôi chỉ điểm lại một số mà tôi còn nhớ.
Các đồng chí không đi tập kết ra Bắc năm 1954 được cài cắm ở lại, sau này là lãnh đạo tỉnh qua từng giai đoạn đều có viết những bài tuyên truyền, cổ động hoặc dịch tiếng Kinh ra tiếng dân tộc và dịch ca dao, dân ca của đồng bào dân tộc thiểu số ra tiếng Kinh. Các đồng chí gắn bó nhiều năm ở Đắk Lắk, hiểu phong tục tập quán biết nhiều ngôn ngữ bản địa, điển hình là các đồng chí Nguyễn Xuân Nguyên, Huỳnh Văn Cần, Tô Tấn Tài (Ama H’Oanh), Ama Thương (Siu Pui)… Đến nay không còn nhớ ai là người dịch, dịch bài nào trong hoàn cảnh cụ thể nào, chỉ biết nó hay, nó đẹp:
                         Uống chén nước có tấm lòng của Đảng
                         Ăn bát cơm có tình nghĩa Bác Hồ
                                                                     (Dân ca Êđê)
                         Bác Hồ chỉ cho dân
                         Trồng lúa lên xanh tốt
                         Trồng kê lên to bông
                         Lập buôn sang làng gần
                                                                     (Dân ca M’Nông)
                         Hỡi con chim Pơrơtốc mày xinh đẹp lắm
                         Nhưng đẹp sao bằng mắt Bác Hồ
                         Mắt Bác Hồ nhìn sáng bốn ông sao
                         Dẫn dắt đồng bào kết đoàn đánh Pháp
                                                                     (Dân ca Ja Rai)
Cùng với việc dịch dân ca, các đồng chí lãnh đạo còn làm thơ, dù để tuyên truyền nhưng vô cùng xúc động:
                         Trong chiến đấu, người cuối cùng gục ngã
                         Còn mình ta trận địa giữ hay lùi
                         Quyết đứng vững quyết không rời vị trí
                         Trước quân thù, một bước chẳng hề lui
                                                                     (Ra đi – Nguyễn Xuân Nguyên)
Và đây là vẻ đẹp của đêm hậu cứ
                         Trăng lên đầu cành trăng đậu
                         Màn sương trắng rắc le the
                         Loáng sáng luồn qua khe lá
                         Vờn đùa đầu võng đung đưa
                         Gió rét, mưa đông lắc rắc
                         Rẫy ai bếp lửa rực hồng
                                                         (Tiếng rừng đêm đông – Ama H’Oanh)
Vượt lên việc tuyên truyền cổ động, trong các anh đã tràn ngập tâm hồn thi sĩ, thơ mới có tình như thế.
Ngoài các đồng chí lãnh đạo, còn nhiều người tham gia làm báo ở trong rừng, tôi không nhớ hết, chỉ biết nhớ ai thì viết về người đó.
Nhà báo Hoàng Thi quê ở Tuy Hoà, Phú Yên đã hy sinh vào Tết Mậu Thân – 1968 trong đợt Tổng tiến công nổi dậy.
Năm 1996 nhân kỷ niệm 50 năm toàn quốc kháng chiến, Quân khu V đặt Đài tưởng niệm văn nghệ sĩ, báo chí khu V tại Bảo tàng Quân khu. Phiến đá đỏ nặng hơn 10 tấn nguyên khối từ Tây Sơn – Bình Định được tạc hình ngọn lửa có ghi danh các liệt sĩ, trong đó có Hoàng Thi.
Tôi thay mặt đoàn Đắk Lắk được Trung tướng Phan Hoan – Tư lệnh quân khu V gắn Huy chương nhưng trong thâm tâm thấy mình chưa xứng đáng bằng nhiều anh chị.
Nhà báo Lâm Quý – dân tộc Cao Lan, quê ở Vĩnh Phúc – được Thông tấn xã Việt Nam cử vào thường trú tại Đắk Lắk. Lâm Quý được ưu tiên hơn chúng tôi, do đặc thù là phản ánh, thông báo tình hình ở chiến trường nên được cơ yếu của Tỉnh uỷ hoặc Tỉnh đội đánh Moóc-xơ gửi về khu V hoặc Hà Nội, còn chúng tôi viết tay, muốn có bản lưu thì kê lên giấy than mà viết rồi gửi bằng đường giao liên.
Lâm Quý có tâm hồn thơ, đi trên cao nguyên Đắk Lắk, thấy đồi xanh uốn lượn như sóng biển nhấp nhô nên có bài thơ Đồng cỏ - biển xanh với mơ ước sự phồn vinh của Đắk Lắk sau giải phóng.
Hoạ sĩ Phan Thế Cường quê ở Nam Định, là hoạ sĩ duy nhất ở chiến trường Đắk Lắk, vẽ tranh để tuyên truyền, cổ động nhưng việc chính lại là phát rẫy để có ăn. Có lần từ Krông Bông vượt đường 21 (nay là 26) mất mấy ngày đường chỉ để chụp ảnh Đại hội Đảng bộ tỉnh tại Đleiya. Chính Phan Thế Cường chụp ảnh Lâm Quý và Nguyễn Trúc bên dòng sông Sêrêpốk mà đến nay Nguyễn Trúc còn giữ được, coi như báu vật.
Có chuyện vui về Phan Thế Cường, bây giờ mới kể, chàng hoạ sĩ vẽ thì ít, làm rẫy và chống biệt kích thì nhiều nên nhớ vẽ. Chàng lấy giấy và vải đủ 7 màu lợp lên mũ nan vừa để đội đầu, vừa để ngồi lên khi nghỉ ngơi.
Sau Hiệp định Pari 1973, vùng giải phóng đã lớn mạnh nên không sợ bị địch càn quét. Anh Châu Khắc Chương cử Phan Thế Cường treo cờ Mặt trận giải phóng miền Nam. Đáng lẽ phải treo nửa đỏ ở trên, nửa xanh ở dưới nhưng Cường làm ngược lại. Anh Chương góp ý thì Cường cãi ngang, cho là mình đúng, còn viện dẫn câu thơ Tố Hữu:
                         Lá cờ nửa đỏ, nửa xanh
                         Màu đỏ của đất, màu xanh của trời
                         Ngôi sao chân lý của đời
                         Việt Nam – vàng của lòng người hôm nay.
Thì phải treo trời xanh ở trên, đất đỏ ở dưới (tôi cũng nghĩ Phan Thế Cường biết sai nhưng cãi cho vui).
Gần cơ quan Giáo dục H9 của tôi có vệt bom B52 tạo thành nhiều giếng nước khi mưa đến. Một lần đến thăm tôi, Cường vẽ khu giếng ấy, tôi có bài thơ Giếng giữa rừng, sau này in vào tập Nhân chứng một thời cùng Trúc Hoài.
                         Cả khu giếng xếp hàng đều tăm tắp
                         Rất đúng cự ly, rất đúng đội hình…
                         Rồi khu giếng được thu vào bức vẽ
                         Với chú thích đề:
                                                         Giếng giữa rừng – Vệt bom B52!
Một người ít được nhắc đến trên cương vị làm báo là Ama Pheng (Ama Bhiăng) vì anh viết không nhiều, chủ yếu là dịch từ tiếng Kinh ra tiếng Êđê. Sau này anh hoạt động công tác đoàn thể, làm Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc của tỉnh. Nhưng chính Ama Pheng là người được cử đi học làm báo tại Tây Ninh do Trung ương cục miền Nam tổ chức.
Nguyễn Hữu Trí là Thiếu tá binh địch vận, biết tiếng Pháp nên được khai thác tư liệu cả tù hàng binh người Việt và người nước ngoài, giúp cho Tỉnh uỷ nắm rõ hơn tình hình của địch. Sau giải phóng làm Giám đốc Sở Khoa học Công nghệ, xuất bản tập Hồi ức mùa xuân, có giá trị về tư liệu lịch sử và văn học.
Ngô Minh Kha có khả năng viết chữ ngược rất đẹp nên được giao viết để in litô. Chính Ngô Minh Kha phải trực tiếp đi xin tấm bia mộ từ Quảng Nhiêu (Cư M’gar) về Krông Bông mài nhẵn mặt lưng của bia để viết.
Nguyễn Trúc còn được Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ cấp giấy phép vào HC38 – địa điểm trao trả tù binh để khai thác tài liệu. Ít người biết Nguyễn Trúc còn giữ trung liên đánh địch càn vào đồi Điện Ảnh (thực ra là tổ chiếu phim). Nguyễn Trúc bị viên đạn sượt qua ngực để lại vết sẹo dài, may chỉ bị phần mềm. Anh cũng là người kéo cờ giải phóng ở Trường tỉnh hạt (nay là trường Lê Thị Hồng Gấm) mùa xuân Mậu Thân – 1968.
Sau Mậu Thân ta bị tổn thất, địch thọc sâu, càn quét vào căn cứ nhiều đợt, tới đầu năm 1969 chưa dứt.
Đây là hồi tưởng về Tết của cơ quan văn hoá ngày ấy, cụ thể là đoàn văn công đón Tết:
                         Em có nhớ vùng buôn Chàm lửa cháy
                         Giặc đổ quân vây quét mấy ngày
                         Tết đến rồi mà lán thành tro bụi
                         Đón giao thừa với củ sắn trên tay.
Hình ảnh các cô văn công xinh đẹp: Nguyệt, Tâm, Thu… lại hiện về và tôi ghi lại niềm khát vọng qua đầu đề bài thơ là: Mùa xuân về đậu trên môi em.
Thời gian qua đi mấy chục năm rồi nên nhớ nhớ quên quên, người còn kẻ mất… Còn nhiều người tham gia làm báo mà không nhớ hết. Những người vượt đường 21 (nay là 26) từ cánh Nam lên cánh Bắc, từ cánh Đông sang cánh Tây (đường 14), gùi cõng, liên hệ mua giấy, mực ở đồn điền Rôsi hay cửa khẩu Kỳ Lộ, Phú Yên để in báo, khi có báo rồi lại mang đến các đơn vị, các buôn làng…
Có một thời để nhớ như thế.
Sau này Nguyễn Trúc có tiểu thuyết Từ sông Krông Bông, tôi có nói: Anh đã trải lòng để cảm ơn cuộc đời, cảm ơn cuộc kháng chiến vĩ đại trên quê hương Đắk Lắk.
Với tôi, văn với báo chỉ là một, khác nhau ở cách thể hiện. Nhân dịp kỷ niệm 93 năm Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam, tôi ghi lại một số người làm báo thời ở rừng, họ đã sống và viết bằng sức mạnh của niềm tin chiến thắng.
                                                                                       Tháng 6-2018