Thứ Sáu, 25 tháng 1, 2019

MƯA XUÂN tùy bút của BÍCH THIÊM - CHƯ YANG SIN SỐ: 317+318 THÁNG 1&2 NĂM 2019

Nhà văn Bích Thiêm


Những ngày cuối năm 2018, cơn bão số 9 đi qua vùng duyên hải miền Trung khiến thời tiết trên toàn quốc có một sự dao động nhẹ: miền Bắc trở nóng trước khi đón gió mùa đông bắc, Nam bộ và miền Trung Tây Nguyên lại có không khí lạnh và đặc biệt là làn mưa bụi. Nó gợi nhớ mưa xuân của  ngoài Bắc bộ. Đã lâu lắm rồi tôi mới lại thấy làn mưa lay phay trong cái lạnh se se như mấy ngày qua. Chợt nhớ da diết quê nhà với không khí đón chào Tết cổ truyền và mùa xuân như thế này.
Gọi là mưa xuân vì nó thường có vào lúc cuối mùa đông chuyển sang xuân, nhưng chủ yếu vào mùa xuân. Nó không ồn ào như những cơn mưa rào mùa hạ, cũng không lê thê dai dẳng như mưa của mùa Ngâu tháng Bảy. Nó chỉ là những làn mưa nhỏ như bụi, như bột mà thiên nhiên đang rắc đều khắp cả không gian. Bắt đầu là bầu trời chuyển màu rất khẽ. Đang từ những ngày nắng ong ong và trời xanh ngăn ngắt, bỗng một ngày nắng nhạt hẳn đi, rồi sầm sì như khuôn mặt của cô gái hờn dỗi khi người yêu mải nhìn người con gái khác. Từ lưng chừng trời, những hạt mưa nhỏ cứ lớp lớp tuôn đều xuống. Nhìn tinh lắm mới thấy những hạt bụi nước bé xíu đang hối hả rơi càng ngày càng dày hơn. Mưa phủ những hạt li ti trên đôi hàng mi cong của thiếu nữ, lấm tấm trên mái tóc để trần của cậu trai đang dắt xe đạp đi bên. Cái dáng ngúng nguẩy của cô bé gợi nhớ một cảnh như vậy vài chục năm về trước, ở một trường huyện trung du, khi chuẩn bị thi học kỳ và chiếc xe đạp bị xì hơi để cho ai đó có cớ dắt xe đi bộ cùng ai. Mưa thường kéo dài từ tháng Chạp giá rét cho đến ra Giêng. Trời lạnh, ngồi trong khung cửa nhìn ra thấy mưa bay lất phất. Những hạt mưa xiên chéo trong không gian, đầm đìa trĩu nặng trên những cánh hoa mận hoa đào. Mẹ và bà đi chợ về, áo bông chần hạt lựu cũng lấm tấm đọng những hạt mưa thấm rất êm rất nhẹ. Đứa con gái út nhõng nhẽo ôm ngang lưng, thấy chút mát lạnh của những hạt mưa xuân trên áo mẹ, ngày đó chỉ vô tư nghĩ đến món quà quê mẹ mua đang để trong thúng, giờ nghĩ lại thấy thương mẹ biết bao. Phiên chợ Tết hối hả tất bật và đông đúc cũng in sâu trong nỗi nhớ của những đứa con đi xa quê. Trong làn mưa xuân dịu dàng, thấp thoáng bóng những người hớn hở cùng nhau dạo chơi ngắm cảnh, hay mua sắm hàng hóa cho cuộc sống hàng ngày và cho cái Tết cổ truyền. Tiếng cười khúc khích lướt qua những khuôn mặt rạng ngời niềm vui. Cái lạnh se se giúp các chị em phụ nữ được dịp khoe ra những kiểu trang phục đẹp và cá tính của mỗi người. Đường làng ngày Tết rộn rã những người, những xe đi thăm hỏi chúc Tết nhau. Chút lạnh của tiết xuân làm hồng thêm cặp má thiếu nữ, đôi mắt đen cứ lóng lánh ánh nhìn tinh nghịch cùng tiếng cười khúc khích như làm cho bức tranh xuân năm mới càng thêm sinh động và hấp dẫn lòng người. Dường như không khí năm mới cùng làn mưa xuân hối hả rơi ấy cũng làm con người hồ hởi, tươi mới và xích lại gần nhau hơn. Những câu chào hỏi, những lời chúc tụng, những cái nắm tay… Tất cả như muốn gửi gắm và hòa cùng nhau trong không khí náo nức những mong chờ một mùa xuân mới, một năm mới mọi điều tốt đẹp sẽ đến với mọi người.
Vài ba năm gần đây, các cơ quan công sở thực hiện việc chào cờ sáng thứ hai hàng tuần. Cũng đã thành nếp nên không lạ với việc cả cơ quan xếp hàng nghiêm chỉnh trong sân cơ quan, lá cờ đỏ từ từ kéo lên, bài Quốc ca trầm hùng, tà áo dài màu xanh thướt tha của nữ nhân viên, bên những dáng áo công sở khỏe khoắn của nam nhân viên, tất cả đều diễn ra trong làn mưa xuân cùng chút se lạnh đang rón rén bên kia hàng rào. Trên tán lá xanh ướt nước mưa, tiếng gió thổi lá cờ bay phần phật, ta như thấy có cả những ngày xưa và những mùa xuân của dân tộc đang về. Lá cờ đỏ bay trong làn mưa xuân ấy bất chợt khiến lòng người như chùng xuống trong một nỗi xúc động sâu xa. Mùa xuân năm nào của chiến khu Việt Bắc với “Xuân giang xuân thủy tiếp xuân thiên” trong thơ Hồ Chủ tịch chắc hẳn cũng làn mưa xuân êm đềm như những ngày này chăng? Và mưa xuân trong truyện Kiều của Nguyễn Du cũng thấm nhuần đất đai cây cỏ, nên mới có bức tranh “Cỏ non xanh rợn chân trời/ Cành lê trắng điểm một vài bông hoa”. Rồi thời kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ với mùa xuân đại thắng 1975 đã ghi một dấu son chói lọi trong lịch sử bốn ngàn năm dựng và giữ nước của dân tộc ta, hẳn cũng có những làn mưa xuân như thế này. Màu đỏ của lá cờ cùng làn mưa xuân hiền hòa bao phủ đất trời trong buổi sáng xuân nay gợi nhớ sự hi sinh của bao nhiêu người đã dâng hiến tuổi xuân đẹp nhất của mình cho Tổ quốc trường tồn và mùa xuân yên bình tươi đẹp được về khắp muôn nơi.
Mỗi năm một dịp xuân về, và mỗi năm một dịp chúng ta đón làn mưa xuân bay bay trong những ngọt ngào nồng ấm của tình người tình xuân. Mưa cho đất trời tươi nhuần trở lại, cho mầm non và lộc nõn được bung nở từ những cành khẳng khiu sau khô hạn mùa đông. Dẫu cuộc sống chưa hẳn hết khó khăn gian khổ, nhưng mưa xuân về vẫn làm lòng người náo nức, bao ước mộng ấp ủ cho một năm mới an lành may mắn đến với bản thân và mọi người xung quanh. Dù ở miền đất nào, thì mưa xuân và mùa xuân cũng đều thân thương với mỗi con người. Bởi ai cũng đều từ một miền quê có những ngày đón năm mới trong làn mưa xuân dịu nhẹ đang rơi.
Nào, bạn hãy cùng tôi, chúng ta cùng vui đón mưa xuân thôi, bạn ơi!

Thứ Năm, 24 tháng 1, 2019

KÝ ỨC THỜI GIAN bút ký của VÂN TRANG - CHƯ YANG SIN SỐ: 317+318 THÁNG 1&2 NĂM 2019

Chú thích ảnh: Ông Nguyễn Hữu Lượng bên phải ảnh


    
Đúng hẹn, sáng hôm sau dù trời mưa nặng hạt tôi và nhà văn Mai Khoa Thâu được cán bộ Phòng Văn hóa Thông tin huyện Ea H’Leo đưa đến nhà ông Nguyễn Hữu Lượng. Ngôi nhà cấp bốn xây đã lâu năm được vây quanh bằng những hàng cau cao quá mái nhà đứng khiêm tốn bên con đường không lớn lắm gần khu trung tâm thị trấn Ea Đrăng. Cổng không khóa, chỉ khép hờ, anh cán bộ Phòng Văn hóa Thông tin cùng đi mở cửa mời chúng tôi vào. Trên chiếc sân lát gạch vuông kiểu Bát tràng khá rộng để rất nhiều cây cảnh, làm cho ta cảm giác như trở về làng quê của miền đồng bằng ven biển miền Trung chứ không phải ở vùng đất Cao nguyên. Đất tốt lại đang mùa mưa, cây cối xanh tươi mơn mởn, cây lộc vừng buông những chùm nụ dài đến nửa sải tay, hứa hẹn một mùa hoa đẹp. Mấy cây sung, cây si trồng trong chậu lâu năm có thế rất đẹp, khoe những chùm quả non xanh như ngầm giới thiệu chủ nhân là người sành chơi cây cảnh.
Một lát sau, chủ nhà – ông Nguyễn Hữu Lượng mới từ phía sau ngôi nhà ngang lên đón khách, ông xin lỗi vì bận chăm sóc mấy cây cảnh phía sau không biết anh em đến. Con cháu vắng hết, bà vợ cũng ra chợ chưa về… Nhìn ông tôi thấy có nét thanh tao nho nhã.
Bên ấm trà nóng, ông cho chúng tôi biết đôi nét về gia đình: các con lớn đi công tác xa, ở nhà chỉ có hai vợ chồng già. Cô vợ người xứ Thanh đảm đang, học ngành dược ra nên tạo cho ông một cái “sân sau” vững chắc, yên tâm công tác xã hội. Theo dòng thời gian, vui chuyện ông kể cho chúng tôi nghe một quãng đời “gian lao mà anh dũng” gắn với cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và sau hòa bình lập lại là xây dựng vùng đất Ea H’Leo từ những ngày đầu thành lập huyện...
Bố tập kết ra Bắc năm 1954, nhà có hai anh em thay nhau giúp mẹ làm liên lạc cho cách mạng. Đầu năm 1965, ông mới hơn mười tuổi khi trong vai làm đứa bé chăn trâu, chăn vịt, có khi là cậu bé học trò... băng qua các đồn bốt kiểm soát gắt gao của giặc chuyển tài liệu cho cách mạng. Trong những chuyến đi như thế, nguy hiểm luôn rình rập đe dọa đến tính mạng, nhưng ông tin cách mạng sẽ đánh đuổi quân xâm lược để cha ở miền Bắc sớm trở về, gia đình đoàn tụ, con gặp cha – ước mơ nhỏ nhoi, thể hiện khát vọng bình dị của người Việt Nam lúc bấy giờ. Trong thời gian này, ban ngày ông là học sinh, nhưng đêm đến lại hoạt động cho cách mạng. Năm 1967 theo yêu cầu của tổ chức, ông thoát ly lên căn cứ làm giao liên kiêm bảo vệ cho Huyện ủy Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Năm 1974 ông được tổ chức điều về Khu ủy khu V học khóa đào tạo lớp bí thư xã. Cuối năm 1974 học xong ông được giữ lại trường. Đầu năm 1975 do yêu cầu công tác, ông được tăng cường lên Buôn Ma Thuột. Trên đường đi, chưa đến Buôn Ma Thuột lại nhận được lệnh tiếp quản Phú Bổn.
Thời ấy, vùng đất Ea H’Leo vừa giải phóng xong, dân còn thưa, chủ yếu là đồng bào tại chỗ bị Mĩ, Ngụy bắt nhốt trong các ấp chiến lược. Khi được giải phóng, người dân bung ra trở về buôn cũ. Ngay thị trấn Ea Đrăng lúc bấy giờ cũng chỉ có ít nhà ven quốc lộ 14, còn lại là rừng, rừng bạt ngàn. Rừng vây quanh cả khu nhà làm việc mới dựng tạm. Một đêm vào khoảng gần hai giờ sáng, trời tối đen như mực, ông ôm súng canh gác, đề phòng Furol tập kích bất ngờ. Cơ quan lúc bấy giờ, nằm sát rừng già. Đang căng mắt quan sát xung quanh, bỗng nhiên ông phát hiện đám lá cây rừng gần phía nhà bếp không gió mà rung lên nhè nhẹ bất thường. Vạt cây rung rung tiến lại gần cửa nhà bếp, ông báo động anh em trong cơ quan bật dậy ôm súng lăn xuống hào chuẩn bị chiến đấu. Nhưng thời gian chầm chậm trôi qua, mọi sự trở lại im lặng. Một lúc sau không thấy động tĩnh gì, mọi người kéo đến hỏi: “Cái gì thế”? “Tôi thấy vạt cây bên cửa bếp rung bất thường, tưởng có Fuorl tập kích nên báo động”. Mấy người cầm đèn pin đi lại vạt rừng, vạch lá cây ra xem, giật mình khi thấy... một con heo rừng trên tạ bị chó sói ăn mất mắt nằm đấy.
Rừng nhiều, thú cũng nhiều lắm, nhưng đường sá đi lại khó khăn. Lúc ấy ta tập trung thanh niên vận động tham gia các hoạt động xã hội, lao động làm đường giao thông, vệ sinh thôn buôn... Nhờ thu hút được nhiều thanh niên tham gia các hoạt đông xã hội, giữ gìn an ninh trật tự; giác ngộ họ không tham gia các hoạt động do Furol tổ chức, tiến tới bóc gỡ mạng lưới hoạt động của tổ chức phản động này trên địa bàn.
Sau một thời gian công tác, tổ chức đánh giá cao năng lực hoạt động của ông nên tháng 8 năm 1975 điều về Tỉnh đoàn công tác. Đầu năm 1977 tổ chức cử đi học tại Trường Đoàn thanh niên Trung ương khóa 3 ở Hà Nội. Tháng 12 năm 1979 kết thúc khóa, ông trở về Tỉnh đoàn Đắk Lắk. Vì yêu cầu của tổ chức, ông Nguyễn Hữu Lượng lại phải xách ba lô về lại huyện Ea H’Leo nhận công tác. Hình như có cái duyên với vùng đất Ea H’Leo nên khi ông Nguyễn Hữu Lượng trở lại được chỉ định tham gia vào Ban chấp hành Huyện ủy khóa I, nhiệm kỳ 1980 - 1982, làm Bí thư Huyện đoàn. Qua khóa II, nhiệm kỳ 1982 - 1986 tiếp tục trúng cử Ban chấp hành Huyện ủy đảm đương các chức vụ: Bí thư Huyện đoàn, Chánh Văn phòng Huyện ủy, Trưởng Ban Tuyên giáo rồi Trưởng ban Tổ chức Huyện ủy. Tại Đại hội Đảng bộ huyện khóa III, nhiệm kỳ 1985 - 1989, ông trúng cử vào Ban Thường vụ, giữ chức Phó bí thư, Bí thư Huyện ủy rồi bàn giao để đi học.
Nhấp thêm ngụm nước, đôi mắt hiền từ của ông hình như thoáng một chút buồn khi nói với tôi như nói với chính bản thân mình: “Hình như cái số của tôi không được học đến nơi đến chốn, toàn bị dang dở nửa chừng... Đang chăm chú học tập thì đánh đùng một cái  bị Ban tổ chức Tỉnh ủy gọi lên yêu cầu... thôi học về nhận nhiệm vụ mới. Buồn vì một lần nữa buộc phải thôi học giữa chừng thì ít, mà buồn nhiều hơn chính là tình hình cán bộ nơi trở về công tác. Nhận nhiệm vụ mới mà lòng thấy quặn đau khi quay lại Ea H’Leo để bắt tay “dọn dẹp” những tồn tại do chính đồng chí, đồng đội mình gây nên. Cả Quyền bí thư, Phó bí thư Huyện ủy - Chủ tịch UBND huyện… cùng bị kỷ luật một lần, tôi thấy đau lắm.
Trên cương vị Bí thư Huyện ủy, nhiều đêm thức trắng lo giải quyết công việc, sắp xếp lại bộ máy quản lý của huyện. Giống như khối u trong cơ thể con người, biết là đau nhưng cũng phải cắt. Nhưng cắt như thế nào để nó không di căn, không ảnh hưởng đến bộ phận khác của cơ thể. Và xa hơn những người đang tại chức phải nhìn thấy người đi trước bị kỷ luật mà tránh…
Nhưng cái số con người hình như xui điều này lại được điều kia, ông trời cũng rất công bằng, không để ai bị thiệt cả đôi đường. Trong khó khăn khi ấy bên ông luôn có  người vợ hiền thảo, chăm sóc tận tình, chu đáo; quan tâm từng bữa ăn, giấc ngủ để ông yên tâm dành hết tâm trí cho công việc.
“Vợ chồng là cái duyên, cái số do trời định”, câu nói này đúng với ông. Khi còn làm Bí thư Huyện đoàn, ông gặp cô gái xứ Thanh mới học xong cấp ba thi trượt đại học vào thăm chú và xin vào làm văn thư cho Huyện ủy Ea H’Leo để chờ ôn thi đại học năm sau. Hai người quen nhau rồi yêu nhau. Biết người yêu mê ngành y nên ông động viên, tạo điều kiện để cô hoàn thành ước nguyện. Năm sau người yêu thi đậu vào Trường cao đẳng Y Đà Nẵng, ông ở nhà ngoài giờ đi làm còn tranh thủ làm rẫy nuôi heo, nuôi gà gom tiền giúp người yêu học tập. Sau khi tốt nghiệp, cô trở lại xứ rừng kết hôn với chàng “Sơn Tinh” chung tình, có cuộc sống hạnh phúc cho tới nay. Mối tình đẹp của họ tôi cũng được nghe anh em cán bộ huyện kể lại.
Trở lại với công việc khi ấy, nhiều đêm ngoài các cuộc họp tận khuya, ông còn mời các đồng chí mắc khuyết điểm về nhà trao đổi riêng; phân tích cái sai, cái chưa đúng giúp họ nhận ra khuyết điểm, trung thực với Đảng, với tổ chức để làm lại cuộc đời. Khó lắm, cực lắm khi phải ngồi mổ xẻ khuyết điểm của đồng chí, đồng đội, những người từng là thủ trưởng của mình hết ngày này qua đêm khác. Sai phạm đó là bản chất hay hiện tượng nhất thời, còn có thể sửa sai được hay không? Cùng với Ban Thường vụ, cân nhắc từng việc có lý, có tình, mở ra con đường cho đồng chí của mình khắc phục, sửa chữa; nhưng phải đặt kỷ luật Đảng lên trên hết và người vi phạm phải thật sự trung thực. Họ có trung thực thì mới có cơ hội để đứng dậy làm lại cuộc đời và quả nhiên một số đồng chí bị kỷ luật thời gian ấy, sau này sửa chữa, tiến bộ vẫn được đề bạt.
Bước vào thời kỳ đổi mới, bung ra làm kinh tế, vật chất cám dỗ, nhiều cán bộ ta không tỉnh táo bị sa ngã; đó là điều hết sức đau lòng, bài học không bao giờ cũ đối với công tác cán bộ. Làm lãnh đạo không chỉ biết kỷ luật người vi phạm mà còn phải xem xét nhiều khía cạnh dẫn người ta đến phạm lỗi, từ đó xem có còn cảm hóa được hay không. Cái gì cũng phải có lý, có tình để người bị xử lý tâm phục, khẩu phục mới đủ sức răn đe người khác.
Làm Bí thư Huyện ủy vào thời điểm khó khăn nhất của huyện về công tác tổ chức, nhưng ông Nguyễn Hữu Lượng vẫn không quên các công việc khác để mang lại sự ổn định cho đời sống nhân dân. Đất Ea H’Leo đa số màu mỡ, thuận tiện phát triển nông nghiệp và cây công nghiệp. Nơi đây ngoài lúa, bắp, đậu còn có các cây cho giá trị kinh tế cao như: cà phê, tiêu, cao su... phát triển rất tốt. Cái thiếu ở đây là nước và điện, phải có nước mới phát triển trồng trọt được và có điện mới nâng cao mức sống cho nhân dân trong vùng. Truyền thống con nhà nông, trưởng thành trong khói lửa chiến tranh, ông biết giá trị của những hạt nước đối với cuộc sống con người nói chung và vùng đất Ea H’Leo nói riêng. Nhiều tháng trời ông đưa các cán bộ lội khắp các cánh rừng trên địa bàn huyện để lập quy hoạch, tìm nơi đắp đập tạo nên hồ chứa nước. Hơn 13 năm trên cương vị Quyền bí thư rồi Bí thư Huyện ủy huyện Ea H’Leo (từ tháng 10/1987 đến tháng 1/2000), ông đã chỉ đạo đào đắp hơn ba chục con đập lớn nhỏ tạo nên một hệ thống hồ chứa nước rải khắp địa bàn huyện như: hồ Ea Heo, hồ Ea Ral, hồ Ea Ráng, hồ Cư Mốt... đến nay vẫn phát huy hiệu quả tốt.
Chúng tôi có lần xuống hồ Ea Đrăng, uống cà phê trên khu nhà làm nổi bên mặt hồ, mấy anh em văn nghệ sỹ thay nhau bấm máy, xuýt xoa khen hồ đẹp trước ánh sáng lung linh của các bóng điện nhiều màu sắc như từ hồ hắt lên. Một người đàn ông trung niên ngồi uống cà phê ở bàn đối diện góp chuyên: “Nhờ điện ông Lượng đấy - người ta gọi thế vì thời ông ấy làm Bí thư Huyện ủy vất vã lắm mới đưa được điện lưới Quốc gia về huyện; trong khi tỉnh chưa có kế hoạch. Giám vượt rào, Huyện ủy cho chủ trương để Ủy ban nhân dân huyện huy động vốn của dân, xin tỉnh đưa vào kế hoạch… thời ấy làm được như vậy, giỏi thật!”.  
Nghe người già nhận xét về ông Bí thư Huyện ủy hơn hai chục năm về trước làm tôi thấy bất bất ngờ và ngạc nhiên khi hiểu ra nhiều điều. Làm lãnh đạo giỏi không chỉ có cái “tâm” mà còn phải có “tầm”; cái “tầm” nhìn xa, trông rộng được đúc rút từ thực tiễn cuộc sống để phục vụ cuộc sống. Nhân dân thường phán xét rất công bằng “công”, “tội” mà những người cán bộ chủ chốt ở các địa phương đã làm qua các nhiệm kỳ để lại. Người dân không có quyền trao bằng khen, giải thưởng cho lãnh đạo; nhưng họ nhắc lại với bạn bè, con cháu qua từng sự kiện, công trình, thâm chí cả từng câu nói... cán bộ khóa trước để lại; điều ấy đã thành tượng đài trong lòng người dân, đó mới chính là niềm vinh hạnh cho cán bộ.
Ông Nguyễn Hữu Lượng bảo: “Có thực mới vực được đạo”, người xưa dạy vậy mình thấy đúng lắm và ông cùng các đồng chí của mình lập quy hoạch các vùng kinh tế cho huyện một cách khoa học, hợp lòng dân. Kết quả, kinh tế huyện trong những năm cuối thế kỷ XX có những bước tiến vượt bậc, thu nhập trung bình của huyện Ea H’Leo dẫn đầu toàn tỉnh, vượt qua cả thành phố Buôn Ma Thuột. Và ngày nay, mảnh đất hoang vu ngày xưa đã trở thành một vùng quê trù phú, công nông nghiệp cùng phát triển. Đời sống nhân dân được nâng cao dần theo năm tháng; thành tích ấy có công đóng góp không nhỏ của người Đảng viên gương mẫu – Nguyễn Hữu Lượng.
Thời gian qua đi, người bí thư năm xưa của Huyện ủy Ea H’Leo sau hơn 10 năm về tỉnh đảm nhận vị trí công tác cao hơn; khi được Đảng cho về nghỉ hưu, ông Nguyễn Hữu Lượng chọn vùng đất có cái duyên, cái tình ngày xưa để vui thú điền viên. Tấm gương của  người đảng viên, cán bộ mẫu mực, tham gia cách mạng từ năm mới hơn chục tuổi, trưởng thành qua khói lửa chiến tranh; giữ những chức vụ chủ chốt của huyện, của tỉnh trong thời kỳ đổi mới hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Nét đẹp của người đảng viên Nguyễn Hữu Lượng - dù ở cương vị nào cũng luôn luôn được đồng chí, đồng đội quý mến, nhân dân tin yêu vì lối sống giản dị, chân tình. Và ngay cả khi đã về nghỉ hưu, người dân địa phương nơi ông từng công tác vẫn nhắc tới ông với những lời yêu mến, kính trọng. Điều đó là phần thưởng lớn nhất, niềm vinh dự cao nhất, không phải ai cũng có được như ông, người đảng viên trung kiên Nguyễn Hữu Lượng.
Mùa mưa năm 2018

Thứ Tư, 23 tháng 1, 2019

EA BLANG CẤT CÁNH bút ký của TRẦN THỊ ÁNH NGUYỆT - CHƯ YANG SIN SỐ: 317+318 THÁNG 1&2 NĂM 2019


Nhà văn Trần Thị Ánh Nguyệt          


Buổi sáng Ea Blang thu rất khẽ, mây trắng bồng bềnh trôi, nắng lấp lánh như dát vàng trên những vườn cây xanh mướt. Từng cơn gió dịu dàng thổi êm và mượt như tiếng thì thầm của đất trời trong những lúc giao hòa. Thanh âm từ các hướng vọng về, không ồn ào nhưng cũng đủ thấy sự sôi động của xã Ea Blang thuộc Thị xã Buôn Hồ đang phát triển.
Ea Blang đang mang trên mình một màu xanh ngập tràn sức sống như một nàng sơn nữ vào độ xuân thì. Cảm xúc lắng xuống, dịu ngọt tan chảy vào tim khi đi trên những con đường hai bên vườn cây trái xanh mướt đẹp xốn xang lòng. Một cảm giác bâng khuâng, ngất ngây khó tả bởi màu xanh, màu của hy vọng và màu của niềm tin cứ thế nối tiếp từ thôn này qua buôn kia. Từ những vườn bắp dập dờn lá biếc, đến những vườn cà phê xanh ngút ngàn. Trong nương rẫy, bà con cần mẫn làm việc với sự phấn khởi, áo đẫm mồ hôi nhưng miệng luôn tươi cười như dã quỳ bung sắc nắng. Thấp thoáng trong màu xanh kéo dài tưởng chừng vô tận ấy là những ngôi nhà dài và những mái nhà đỏ tươi của người dân xã Ea Blang. Cảnh vật rực rỡ, nhà cửa, đường sá, ruộng vườn đều mỡ màng biểu hiện xã Ea Blang đang vươn vai bước chắc chắn bằng đôi chân của chính mình. Xã Ea Blang đang trong sức trẻ với nhịp sống yên bình, nhân dân dạt dào niềm vui và tự hào bởi bộ mặt nông thôn được khởi sắc toàn diện.
Đó là sự thay đổi lớn lao bởi xã Ea Blang ngày trước là một địa phương nghèo nên chưa thể cất cánh. Quả thật những ngày đầu khi mới đến Ea Blang, nhìn núi rừng âm u, những đồi cỏ tranh khô cháy đến nao lòng, không ít người đi làm kinh tế mới phải cố để nén tiếng thở dài, bởi bao vất vả, thử thách đang chờ họ phía trước. Sự vất vả theo từng bước chân của người dân khi đi trên con đường đất đỏ mùa khô khi phải đón bao cơn gió đi ngang về dọc xoáy tung mù mịt bụi đỏ, mùa mưa thì lầy lội, trơn trượt. Đêm đêm những ngọn đèn dầu leo lét trong những căn nhà tranh. Cuộc sống của bà con khó khăn, luôn khép mình trong lối sống luẩn quẩn. Sáng lên rừng lên rẫy từ lúc mặt trời đang mê mải ngủ vùi trong bụng núi, chiều tất tả trở về trong ánh hoàng hôn nhập nhoạng. Dù sống trên vùng đất bazan màu mỡ, nhưng khi ấy bà con cũng chỉ biết trồng cây lúa, cây ngô, cây sắn nên oằn mình suốt cả ngày vẫn không thoát cảnh đói nghèo. Sống trong sự vất vả và lam lũ, tự đáy lòng những người dân nơi đây luôn mang trong mình một khát vọng mãnh liệt, đó là khát vọng đổi đời, khát vọng ấy như nước suối tuôn chảy mãi không ngừng. Khát vọng ấy đã khiến những người đứng đầu Thị ủy, chính quyền của Thị xã Buôn Hồ trăn trở, thao thức tìm ra một hướng đi để nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân. Với điều kiện thuận lợi là diện tích rộng, đất đai màu mỡ, chính quyền địa phương hướng người dân chú trọng trồng cây công nghiệp lâu năm như: Cà phê, sầu riêng, hồ tiêu. .. Đồng thời tổ chức cho người dân được tham gia các lớp tập huấn về ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, chăn nuôi. Đời sống của người dân từng bước được cải thiện và nâng cao khi người dân chuyển đổi đất hoa màu sang trồng cà phê với 2.244ha. Năm 2012, chủ trương đúng đắn hợp lòng dân, Đảng bộ và chính quyền Thị xã Buôn Hồ triển khai chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới tại xã Ea Blang. Chương trình đã trở thành một phong trào lan tỏa đến từng người dân, họ nhận thức được tầm quan trọng của việc xây dựng nông thôn mới chính là xây dựng cuộc sống mới cho mỗi gia đình và cho xã hội. Trong quá trình tổ chức thực hiện chương trình, Đảng ủy xã luôn xác định, nâng cao thu nhập, giảm tỷ lệ hộ nghèo cho người dân là một trong những nhiệm vụ hàng đầu, là mục tiêu xuyên suốt, quyết định sự thành công trong việc hoàn thành 19/19 tiêu chí  nông thôn mới. Đảng ủy và chính quyền xã tập trung chỉ đạo chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo mô hình xen canh các loại cây công nghiệp, cây ăn quả với nhau vừa tiết kiệm diện tích, vừa đa chủng loại cây trồng, chú trọng phát triển chăn nuôi. Tạo điều kiện để người dân tiếp cận với cơ chế chính sách khuyến khích phát triển sản xuất của Trung ương và địa phương, đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất. Người dân đi tham quan các khu vườn xen canh do Hội nông dân Thị xã Buôn Hồ tổ chức, thấy hiệu quả kinh tế cao, bà con trong xã chuyển đổi diện tích trồng thuần 240 ha sang mô hình đa cây. Năm 2014,  Phòng Kinh tế của Thị xã Buôn Hồ cấp 17 con bò sinh sản cho những hộ nghèo phát triển kinh tế, từ đó đến nay đã sinh sản thêm hơn 50 con, giúp cho các hộ từng bước thoát nghèo. Hàng năm, người dân được hỗ trợ giống cà phê, giống bắp cao sản và giống lúa mới để tăng năng suất cây trồng. Đảng bộ, chính quyền và nhân dân xã cùng cất vang bài ca “Kết đoàn” để chung sức đồng lòng, góp công, góp sức xây dựng nông thôn mới. Người dân tự nguyện đóng góp thời gian, công sức và số tiền 9,5 tỷ đồng cùng với vốn nhà nước 23,7 tỷ đồng  để bê tông được gần 16 km đường liên thôn, cứng hóa được hơn 15 km đường phục vụ sản suất, xây dựng được 2 nhà hội trường thôn và hoàn thiện khuôn viên làm nơi sinh hoạt văn hóa thể thao cho nhân dân. Trong 5 năm thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới, ý của Đảng, lòng của dân luôn quyện chặt bền đẹp tạo nên sức mạnh niềm tin để Ea Blang về đích đúng kế hoạch, năm 2017 xã hoàn thành 19/19 tiêu chí, được UBND tỉnh ra quyết định công nhận xã đạt Chuẩn Nông thôn mới.
Chương trình xây dựng nông thôn mới như  “chất xúc tác” để Ea Blang cất cánh bay lên. Diện mạo của xã vừa đẹp lại vừa sang từ những ngôi trường khang trang, trạm y tế, bưu điện đỏ, xanh màu tôn mới đến những căn nhà dài, nhà xây kiên cố của bà con. An ninh – quốc phòng được đảm bảo. Điểm vui chơi giải trí và thể thao được xây dựng lồng ghép ở nhà văn hóa của xã, đã trở thành điểm hẹn cho các thanh thiếu niên tập luyện thể thao. Tối đến khuôn viên Nhà văn hóa xã tỏa sáng lung linh bởi ánh sáng của những bóng đèn cao áp, người dân trong vùng đến giao lưu văn hóa. Những con đường bê tông uốn lượn, ôm lấy 7 thôn buôn, đường sá được mở rộng đồng nghĩa với việc xe cơ giới đi đến tận đồng ruộng, người dân không còn phải gánh gồng đi trên những con đường gập ghềnh. Xã Ea Blang thưa thớt buồn tẻ ngày nào đã nhường chỗ cho một xã trù phú. Đời sống vật chất của bà con được nâng cao, hộ giàu ngày càng tăng. Đến nay, thu nhập bình quân của người dân trong xã đạt trên 42 triệu đồng/người/năm, hộ nghèo giảm xuống còn 2,4%.
Nắng thu thơm lừng, xanh mướt trên cánh đồng lúa đang thì con gái của bà con buôn Tring. Ma Thoan và bà con trong buôn, tay liềm tay cuốc hăng say làm cỏ, be bờ, áo đẫm mồ hôi nhưng nụ cười trên môi vẫn nở, niềm vui ngời ngời trong mắt khi nhìn cánh đồng lúa rải thảm một màu xanh tươi đầy sức sống, hứa hẹn một mùa bội thu. Thỉnh thoảng những chàng trai, cô gái cất lên những làn điệu dân ca:
- Buôn Tring, kran emô kbao
  Hao hao mnie hra kieng kơ ju ea
- Tih buôn ih là ơ ju điêt
 Tring là ơ ayong a….
(- Buôn Tring, tiếng bò rộn vang
   Cười vang bến nước đàn em xinh tươi
 - Buôn của em ở đâu?
  Buôn  Tring đó anh à…)
Tiếng cười như sóng nước cuộn trào của dòng Krông Buk vang cả cánh đồng. Niềm vui đong đầy trong mắt buôn trưởng Ma Thoan khi bà con đã thoát khỏi cái vòng luẩn quẩn của nghèo đói, lạc hậu. Trước kia, phương pháp canh tác của bà con trong buôn chủ yếu là tự phát và đơn sơ: phát, đốt, tỉa, vì thế năng suất lao động thấp. Nhưng giờ thì đã khác, nhờ sự quan tâm của Đảng, Nhà nước bà con trong buôn được hướng dẫn, hỗ trợ kỹ thuật của cán bộ Phòng Nông nghiệp Thị xã Buôn Hồ, từ khâu ươm giống đến phun thuốc phòng trừ sâu bệnh, năng suất cây công nghiệp và các loại cây hoa màu ngày một tăng, cuộc sống của người dân ngày càng no ấm. Những ngôi nhà cũ bốn mùa thông thốc gió ngày nào giờ được thay bằng những ngôi nhà kiên cố mái tôn xanh, đỏ rạng ngời. Đường điện tỏa về các thôn buôn thắp sáng lung linh, thôn buôn nào cũng có nhà văn hóa được xây dựng khang trang để người dân gặp nhau chia sẻ những chuyện vui, chuyện buồn và những kinh nghiệm phát triển kinh tế. Ma Thoan ngước lên nhìn những cánh diều bay cao giữa nắng thu rực rỡ, ký ức những tháng ngày cũ dội về. Tuổi thơ của ông và những đứa trẻ trong buôn luôn nhuộm màu lam lũ, chân đất, đầu trần, da đen trũi vì cháy nắng, tóc khen khét mùi mưa gió. Tuổi thơ của con trẻ bây giờ đã hoàn toàn khác trước, chúng được đến trường đúng độ tuổi, được học tập dưới những ngôi trường khang trang như Mẫu giáo Hoa Cúc và Trường TH và THCS Đinh Núp. Trẻ em dưới 6 tuổi được cấp bảo hiểm y tế… Ma Thoan cùng bà con biết ơn Đảng và Nhà nước nhiều lắm, nhờ sự quan tâm, hỗ trợ của Đảng và Nhà nước với nhiều chương trình, chính sách giúp dân phát triển kinh tế để người dân có cuộc sống sung túc, tiện nghi, văn minh hiện đại.
Trời thu xanh ngắt hòa lẫn vào màu xanh mượt mà của những khu vườn xen canh của người dân thôn Quyết Thắng xã Ea Blang. Gió miệt mài thổi những giai điệu bình yên, từng cơn gió nhè nhẹ, rì rào trong từng kẽ lá. Những khu vườn như đang tung tẩy với gió để tỏa vào không gian mùi hương thanh diệu của mình. Thấp thoáng trong màu xanh miên man ấy là bóng những người dân đang hăng say lao động trong niềm vui và hạnh phúc. Ông Bùi Văn Đạo (thôn Quyết Thắng) phấn khởi nhìn những cây sầu riêng lúc lỉu quả, những cành cà phê nung núc trái, những quả bơ booth căng mọng gió núi mây ngàn. Khu vườn xen canh của ông, diện tích 1,5 ha, mỗi năm cho thu nhập 700 triệu đồng. Với mô hình đa cây trên một diện tích đã nâng cao thu nhập cho người dân, nhiều gia đình trở thành tỷ phú.
Đi giữa rực rỡ nắng vàng tươi, lòng dạt dào niềm vui phấn chấn bởi bộ mặt nông thôn của xã Ea Blang được khởi sắc toàn diện. Đó là kết quả của những năm tháng, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân xã Ea Blang luôn chủ động, sáng tạo, khắc phục mọi khó khăn, vươn lên phát triển kinh tế - xã hội. Hy vọng rằng, với sự lãnh đạo sâu sát của Thị ủy, UBND Thị xã Buôn Hồ, sự vào cuộc đồng bộ, đầy quyết tâm của hệ thống chính trị ở cơ sở và sự đòan kết cao của nhân dân, các xã còn lại sẽ hoàn thành mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới theo kế hoạch, góp phần làm cho Thị xã Buôn Hồ ngày càng giàu đẹp văn minh.