Thứ Sáu, 23 tháng 8, 2019

THÚ CHƠI LAN RỪNG phóng sự của ĐẶNG BÁ TIẾN - TẠP CHÍ CHƯ YANG SIN SỐ: 324 THÁNG 8 NĂM 2019


                                                                                    


Không biết ở thời nào và trong hoàn cảnh nào mà người đời có câu nói “Vua chơi lan, quan chơi trà”. Tôi đã nghe nhiều vị cao niên chơi lan ở Đắk Lắk giải thích câu nói trên, nhưng không có cách giải thích nào để tôi thỏa mãn. Người giải thích rằng: Chỉ có bậc vua chúa mới đủ điều kiện chơi lan, vì lan là loài có “hồn vía”, sang trọng, đắt tiền, kẻ bình dân không đủ “duyên”, không đủ điều kiện để chơi. Hạng các quan chỉ “đủ sức” “chơi trà”, tức hoa trà mà thôi. Lại có người giải thích: Câu nói đó chỉ phản ánh thú chơi, sở thích của vua, quan ở một thời nào đó... Là người yêu lan, tôi muốn hiểu thấu đáo câu nói trên, nên đã cố công truy tìm nguồn gốc, nào nhờ “thầy” google, nào tìm trong các tài liệu cổ, kim nói về nghề trồng lan, chơi lan, nhưng cũng chỉ thấy những cách giải thích tương tự như trên, hoặc là những cách giải thích tầm phào, chẳng có cơ sở, luận cứ cụ thể nào.
Nhưng nếu đem câu nói trên vận vào thời nay, vận vào mảnh đất Đắk Lắk - nơi tôi đang sống thì chẳng đúng chút nào. Thời nay quan, dân, già, trẻ, đàn ông, đàn bà, bất cứ ai cũng có thể chơi lan, mê lan. (Xin mở ngoặc là lan rừng mới đáng chơi, đáng mê, vì nó vừa có sắc đẹp vừa có hương thơm, mắt được nhìn, mũi được ngửi, phổi được hít không khí chứa đầy hương, nên cả cơ thể được đắm mình vào hoa. Lan ngoại có sắc đẹp, nhưng ít có giống thơm, chủ yếu để chưng cho vui mắt và phục vụ những chị em thích seo-phì mà thôi - Đấy là cách nói vui của “dân” chơi lan rừng). Vì những lẽ đó mà ở Đắk Lắk có cả một phong trào chơi lan rừng có thể nói là “rầm rộ”, từ con số trăm người chơi ở dăm bảy năm trước, nay đã lên con số ngàn và đang phát triển nhiều nhiều nữa... Người chơi đông, nhu cầu mua bán giống lan, các vật tư, trang thiết bị phục vụ cho trồng, chăm sóc lan cũng phát sinh, thế là hình thành chợ lan Phan Đình Giót ở thành phố Buôn Ma Thuột với hàng trăm người mua bán mỗi ngày; hình thành các cửa hàng mua bán lan, mua bán chậu đất, chậu gỗ, giá thể, các loại phân bón, thuốc phòng trừ sâu bệnh cho lan ở đường Phan Đình Giót, đường Phan Chu Trinh và một số đường phố khác; hình thành nên những vườn lan, vựa lan tiền tỷ. Cách đây vài năm, người viết bài này cũng bị cuốn theo phong trào đó, rồi mê tự lúc nào không hay.
Mê lan
Tôi đến với lan cũng giống như nhiều người khác bắt đầu từ việc nhận thấy chơi lan là thú chơi tao nhã, nhẹ nhàng, không phải đổ mồ hôi nhiều, nhưng lại có tác dụng rèn luyện sức khỏe, thông qua việc đi lại để chăm sóc lan, rất hợp với những người cao tuổi. Với người cao tuổi, nếu hàng ngày cứ rủ nhau xúm xít bên bàn cờ, ngồi bó gối, đầu óc phải tập trung cao độ vào việc tính toán nước đi của mình của đối phương; rồi thì đốt thuốc lá, thuốc lào mù mịt; cứ chiều chiều lại rủ nhau làm vài lon, vài xị cho cái gọi là “quên sự đời”... sẽ là tai hại vô cùng. Chơi lan, làm một giàn nho nhỏ, khoảng dăm chục dò, mùa khô hàng ngày mang bình phun nước tưới vài lần, mỗi lần khoảng 30 phút đến một tiếng, đi lại quan sát kỹ từng dò lan xem có sâu bệnh gì không, xem cây lan  mới trồng đã ló mầm, nhú rễ chưa; rồi gia nhập hội lan, đi thăm thú giàn lan của người này người kia, rồi cùng trao đổi kinh nghiệm bón phân gì, bón như thế nào, dùng giá thể gì thì lan mau rễ, mau hoa... sẽ là rất tốt cho sức khỏe. Anh bạn tôi, một họa sĩ cao niên, có tâm hồn lãng mạn thì bảo: Anh đến với lan còn vì những tên lan quá đẹp, khiến anh tò mò, không hiểu giống lan đó như thế nào? hoa nó ra sao? mà tên đẹp thế, nào là Giáng Hương, Thủy Tiên, Tam Bảo Sắc, Cẩm Báo, Bạch Ngọc, Kim Điệp, Thiên Nga, Ý Thảo... Rồi thì mùi hương thanh tao, quyến rũ của lan Nghinh Xuân, Quế Tím, Hoàng Nhạn... gợi thật nhiều cảm xúc, mộng mơ. Còn gì thú hơn trong đêm trăng sáng, năm, bảy bạn bè yêu thơ cùng ngồi dưới giàn lan tỏa hương ngan ngát (nhất là hương Hoàng Nhạn) nhấm nháp “danh tửu”, đọc thơ cho nhau nghe, rồi bình phẩm, tán dương, vỗ đùi, cười rôm rả; hương lan như góp phần để tâm hồn mỗi người dễ rung cảm, thăng hoa hơn, cảm nhận về thơ cũng tinh tế, sâu sắc hơn... Rồi thì cách dùng từ, chơi chữ để mô tả đặc điểm cây lan của “dân lan” cũng lạ và gợi lắm. Ví như người ta khen “Giống Giả Hạc này hoa tốc váy” , nghĩa là giống Giả Hạc ấy có các cánh hoa nở xòe ưỡn cong ra phía sau. Nói “cây Nghinh Xuân đã mặc quần đùi”, nghĩa là cây Nghinh Xuân ấy đã bị rụng lá mất nửa thân cây. Nói “cây Hoàng Nhạn ở truồng”, tức là cây Hoàng Nhạn đã bị rụng gần hết lá, chỉ còn vài cặp lá trên ngọn. Những cây như thế do không đủ dinh dưỡng, chăm sóc kém, nên bị rụng lá, tính thẩm mỹ thấp, giá trị không cao.
Có lẽ vì những điều tốt lành, vui vẻ kể trên mà rất nhiều bà xã ủng hộ chồng chơi lan, dù biết chi phí cho chơi lan, từ làm giàn treo, mua giống, để có dăm chục dò lan cũng mất tới hàng mấy chục triệu đồng. Bên cạnh đa số người chơi lan với mục đích “chơi” thực sự, thì hiện nay cũng có không ít người vừa chơi, vừa để kinh doanh, có người hoàn toàn vì mục đích kinh doanh. Vì thế mới có những vườn lan tiền tỷ, họ trồng chủ yếu giống lan Giả Hạc (tức Phi Điệp) và một số giống đắt tiền khác; họ sưu tầm hàng “var” (tức các giống lan đột biến), mỗi mầm giống từ vài triệu tới vài ba chục triệu đồng; và khi nở có mặt hoa đẹp, đạt các tiêu chuẩn mà cộng đồng chơi lan thừa nhận về màu sắc, về cánh vai, cánh đài, lưỡi, mắt, mũi, đường phân thùy.. của hoa thì họ có thể kiếm tiền tỷ chỉ từ một dò lan. (Trong phạm vi bài viết này chúng tôi xin chưa đề cập đến những người chơi lan vì mục đích kinh doanh).
Hẳn vì xuất phát từ những điều có ý nghĩa, thú vui tao nhã, tinh tế như đã kể trên, nên nhiều người chơi lan đến mức say lan, mê lan như thể “kết duyên” cùng nó, lúc nào cũng nghĩ về nó, trong giấc mơ cũng thấy nó hiện hình. Chính tôi và nhiều người người bạn chơi lan đã từng mơ thấy cây lan giống của mình mới mua chỉ vài ngày đã mọc rễ xanh biếc, trổ hoa rực rỡ, hương thơm ngây ngất cả một vùng... Cũng vì mê lan nên sáng sáng tôi không còn đến quán cà phê quen thuộc ở đường Trần Phú, gần nơi làm việc mà đi xa thêm mấy cây số, ngồi quán cà phê vỉa hè cạnh chợ lan Phan Đình Giót với mấy anh bạn chơi lan, chỉ để được nói chuyện với nhau về lan, khoe cây lan tôi cùng mua, cùng trồng với ông/ với bạn đã bật vòi hoa tím biếc... và ngắm những sạp lan rừng bày trên vỉa hè, nhìn cảnh người ta mua bán, xúm xít giành hàng mỗi khi có người từ các huyện xa như Krông Bông, Lắc, Buôn Đôn, Ea Súp... mang lan về chợ. Cũng vì mê lan, anh bạn của tôi làm nghề hạ cây, xẻ gỗ, công việc chẳng thể nói là nhàn hạ, thu nhập chẳng dư dả là bao, nhưng sáng nào cũng chạy đến chợ lan ngồi cà phê với chúng tôi khoảng một tiếng, rồi thì móc hầu bao hôm ít cũng năm, bảy chục ngàn, có hôm tới năm, bảy trăm ngàn để mua lan, dù trước đó đã nhiều lần anh tuyên bố “Đầy giàn rồi, từ nay không mua nữa”. Cũng vì mê lan một anh bạn khác lương hưu bảy triệu đồng, anh cưa đôi, đưa vợ ba triệu rưỡi, ba triệu rưỡi để mua lan. Vợ anh cằn nhằn. Anh bảo: Tôi chỉ mua tháng này nữa thôi, tháng sau tôi đưa đủ cho bà. Vậy mà rồi mấy lần tháng sau, tháng sau nữa, anh vẫn cưa đôi lương để mua lan. Một hôm tôi đến nhà chơi, vợ anh mắng lây cả tôi: -Các ông thời trẻ thì mê gái, bây giờ già rồi lại đổ đốn mê lan... Mắng vậy, nhưng tôi thấy mắt vợ bạn tôi vui, chẳng buồn tí tẹo nào.
Chơi lan phải “trả học phí” cao nếu không chịu làm “học trò”!
Nhiều người chơi lan ban đầu cứ tưởng là trồng lan, chăm lan cũng đơn giản, vì nghĩ: Ở rừng nó vắt vẻo trên cành cao, phân nước gì đâu mà vẫn sống, về tay mình phân tro đủ loại không thiếu thứ gì, nước nôi thoải mái, một ngày tưới mấy lần chả được, vài ba tháng sau sẽ xanh tốt vù vù... và cứ thế ra chợ mua cây này, giống kia về trồng. Nhưng rồi ba, bốn tháng sau thì phải tìm đến những người chơi lan có kinh nghiệm than thở, rằng lan của tôi chẳng hiểu vì sao nó thối lá, nhũn thân... chết sạch? Đây là khoản “học phí” đầu tiên không nhỏ của khá nhiều người chơi lan quá tự tin đến mức chủ quan, không chịu làm “học trò”, vì “tao đã làm lãnh đạo cả đời rồi”, “tao từng này tuổi, bạc đầu rồi”, “tao vốn là con nhà nông dân đã quen cấy cày trồng trọt”... nên chẳng cần phải làm học trò ai (!). Họ đâu hiểu hoặc cố tình không hiểu một điều: Lĩnh vực nào cần kinh nghiệm, kiến thức riêng của lĩnh vực đó, dù kiến thức, kinh nghiệm đó rất đơn giản, đơn giản nhưng không biết thì cũng cần phải học hỏi, phải làm “học trò” , dù “ông thầy” có thể là lão bảo vệ, từng giúp họ lau giày, rửa xe khi họ còn làm sếp, nhưng có kinh nghiệm chơi lan hơn họ. Nhiều vị quan chức nghỉ hưu bắt đầu chơi lan đâu biết: Cây lan đưa từ rừng về bị thay đổi môi trường, điều kiện sống, phải có thời gian để nó làm quen với môi trường mới, người chơi lan gọi là “thuần”. Có thứ lan mua về có thể trồng ngay vào chậu, nhưng có thứ sau khi mua về phải ngâm trong nước pha thuốc kích thích ra rễ vài, ba chục phút, sau đó vớt ra treo vào chỗ râm hàng chục ngày, ngọn chúc xuống đất, gốc ngửa lên trời, bao giờ thấy nhú rễ non mới cho vào chậu, hoặc gắn lên giá thể. Không làm vậy, với cây Nghinh Xuân chẳng hạn, trồng trong mùa mưa trên 70% số cây sẽ bị thối đọt; mà cây giống Nghinh Xuân rừng bây giờ đâu rẻ, loại đẹp mỗi kg cũng xấp xỉ triệu đồng. Rồi kỹ thuật trồng, nhiều vị không biết lấp giá thể (than, vỏ thông, rêu rừng, xơ dừa...) kín cả rễ, lấp càng sâu cây chết càng nhanh. Rồi tưới nước, càng siêng năng, cây càng mau nhũn thân, nhũn lá... Ấy là chưa nói đến kỹ thuật bón phân cho lan, loại nào nên dùng hữu cơ, loại nào thì dùng vô cơ, mùa cây sinh trưởng thì dùng phân gì, chuẩn bị vào mùa hoa thì đổi sang phân nào, mùa nào thì “cắt nước” (không tưới nữa) để tạo ức chế cho cây bật mầm hoa... Rồi khi cây bị bệnh, hiện tượng, triệu chứng bệnh ra sao, dùng thuốc gì để diệt khuẩn, diệt nấm... Nhiều vị chủ quan, không chịu học hỏi, không biết chăm sóc, mua bao nhiêu về trồng chết bấy nhiêu, hàng chục triệu đồng đi toi, bị bà xã mắng te tát: -Ông thấy người ta làm “đĩ” cũng xách váy chạy theo, nhưng làm “đĩ” đâu có dễ... cứ tưởng chơi lan mà bở lắm à(!). Nhiều vị từ đó mới chịu đi học hỏi. Tôi nhớ có một vị từng là phó giám đốc của một sở, giờ nghỉ hưu cũng tập chơi lan, một một hôm đến nhà tôi, thấy hộp “đồ nghề” chơi lan của tôi có đủ dao, kéo, bơm tiêm, khoan, rồi thì keo liền da, các loại thuốc, chế phẩm để bón lá, như Vitamin B-1, Hùng Nguyễn, NPK 30-10-10, NPK 20-20-20, Physan, Super thrive, Ô xy già 3%, thuốc xịt kiến và côn trùng ... mới thốt lên: - Hóa ra chơi lan cũng cần nhiều hiểu biết và cũng phức tạp thật (?!)
Chơi lan rừng có góp phần phá rừng?
Trước phong trào chơi lan rừng rầm rộ, một số người không thích chơi lan lên tiếng phản đối , rằng: Chơi lan rừng là góp phần phá rừng, làm tổn hại cảnh quan của rừng, mất nguồn gen các loài lan quý, cần phải ngăn chặn...
Nhưng người chơi lan lại có cách lý giải khác: Chơi lan rừng là một sinh hoạt lành mạnh, một sinh hoạt có văn hóa, thể hiện tình yêu với thiên nhiên, với cái đẹp. Những người “có gen lan” thực sự yêu lan, mê lan, cũng là những người có tâm hồn tinh tế, giàu lòng yêu thương, trầm tĩnh, nhẹ nhàng trong ứng xử, chăm chỉ, cần cù trong cuộc sống. Nóng nảy, hồ đồ trong ứng xử, qua quýt trong làm việc, thiếu niềm tin, thiếu ý chí sẽ không thể chơi lan thành công; nhưng những người có tính cách như thế đến với lan, biết kết bạn với những người “có gen lan” chơi với nhau một thời gian thì tính cách có thể được thay đổi. Bà xã của một người bạn chơi lan nhận xét về chồng, rằng: “Từ ngày ông ấy chơi lan thì ít ngồi lân la hết bàn cờ này sang bàn cờ khác, ông ở nhà nhiều hơn, cứ lúi húi với mấy dò lan; trước đây hễ thấy cháu con làm việc gì phật ý ông thường to tiếng chửi mắng, nhưng bây giờ giảm hẳn”. Khách quan mà nói, chơi lan đúng là có làm ảnh hưởng đến cảnh quan tự nhiên của rừng, do nhiều dò phong lan đẹp trong rừng bị khai thác đưa về buôn làng, phố xá. Nhưng giảm vẻ đẹp của cảnh quan rừng thì cuộc sống nơi làng quê, phố xá lại có thêm vẻ đẹp của những dò phong lan muôn sắc, muôn hương; đấy cũng là một sự bù trừ tương ứng, hợp lý, tất cả nhằm phục vụ con người... Nguồn gen các loài lan quý, nào có mất đi đâu, vẫn được người ta chăm trồng gìn giữ, thậm chí còn được nhân, cấy nhiều hơn.
Việc cần ngăn chặn của các cơ quan chức năng như kiểm lâm, quản lý bảo vệ rừng, đấy là ngăn chặn những người khai thác lan theo hình thức “thui chó để giết rận”, tức là người ta không trèo cây để gỡ lan bám trên cành, mà chặt cả cây gỗ lớn cho đổ xuống chỉ để lấy một vài dò lan. Đó là sự phá hoại tài nguyên rừng cần được bắt giữ, xử lý. Đây cũng là điều đòi hỏi các ngành có chức năng quản lý, bảo vệ rừng phải sâu sát hơn với rừng, phải có biện pháp “bảo vệ từ gốc”. Việc lâu nay có một số kiểm lâm thỉnh thoảng ra chợ bắt giữ lan rừng, xua đuổi người bán lan là biện pháp bảo vệ “trên ngọn” và tính pháp lý không cao, bởi có nhiều người mua giống lan về trồng đã mấy năm, nay họ đưa ra bán, sao có thể bắt họ được (?!)
Những cách lý giải nói trên của người chơi lan không phải là không có lý. Bởi vậy, dù bị một bộ phận trong cộng đồng phản ứng, nhưng phong trào chơi lan ở Đắk Lắk vẫn “đang lên”, vẫn “liên tục phát triển”, thu hút người chơi càng ngày càng đông, trong đó có nhiều vị từng là cán bộ đầu ngành của tỉnh.

Thứ Năm, 22 tháng 8, 2019

HOA SAO truyện ngắn của HỒNG CHIẾN - TẠP CHÍ CHƯ YANG SIN SỐ: 324 THÁNG 8 NĂM 2019

 




Chuồn chuồn Kim tỉnh giấc nhìn ra xung quanh, trời đã sáng rõ. Nó rời chiếc lá hoa mẫu đơn đã ngủ qua đêm, vẫy nhẹ đôi cánh bay vút đi; mắt quan sát mọi vật xung quanh. Trên mặt đất, cánh hoa phượng rơi xuống như được rải thảm đó. Xa hơn một chút mấy bông hoa hồng nở đỏ rực rỡ. Trên các cánh hoa hồng còn đọng những hạt sương long lanh nhìn như những những viên kiêm cương lóng lánh dưới ánh mặt trời. Dưới gốc cây sao cổ thụ có một lỗ nhỏ, lũ kiến đi lại đông đúc như trẩy hội, con chạy ngược, con chạy xuôi ra vẻ tất bật lắm. Ô, chuồn chuồn Kim ngạc nhiên thầm kêu lên khi thấy phía xa xa một con bướm vàng nằm bất động đang được lũ kiến bu lại, khiêng đi.
- Chị chuồn chuồn Ớt ơi, nhìn kìa!
- Có chuyện gì đấy em?
Chuồn chuồn Ớt, mình khoác chiếc áo đỏ rực rỡ như quả ớt chín, bay cách mặt đất đến hơn sải tay người lớn đang dừng lại quan sát xung quanh; nghe chuồn chuồn Kim bay phía dưới, hỏi vọng lên nên cúi xuống trả lời.
- Cô bướm Vàng không biết vì sao chết mà họ hàng nhà kiến đen làm đám ma to thế.
- Ừ nhỉ.
Dưới mặt đất, hàng ngàn con kiến chỉ to hơn chiếc râu của cô bướm Vàng một chút, đang cố khiêng xác bướm nhích từng tí một về phía hang dưới gốc cây Sao. Chuồn Kim – thân chỉ to như chiếc tăm, đầu to gần bằng hạt đậu xanh, trố mắt nhìn, ngạc nhiên nói thêm:
- Họ hàng nhà bướm với lũ ong kia suốt ngày rong chơi, nô đùa với đám hoa, có bao giờ làm được gì có ích cho đời đâu mà lũ kiến làm đám ma to thế?
- Đúng vậy, chị em mình còn có chút hữu ích đi bắt lũ ruồi, muỗi, không cho chúng làm hại con người; còn lũ bướm thì vô tích sự lắm.
Nghe chuồn chuồn Ớt nói vậy, cây Sao đứng cao ngang ngôi trường học bảy tầng khẽ rung rung từng chùm hoa màu vàng nhạt trên cành góp lời:
- Hai cháu nói phải lắm; ong, bướm đúng là lũ vô tích sự, chỉ biết rong chơi. Ấy là các cháu không biết đó thôi, khi nhỏ bướm là lũ sâu xấu xí lắm, mình đầy lông lá, nhìn như gai nhọn, chuyên ăn hại lá cây. Chúng ăn no rồi ngủ, ngủ dậy lại ăn; ăn sạch cả lá cây của người ta để lớn lên, tự lột xác thành bướm bay đi trêu ghẹo hoa.
Vừa lúc đó một làn gió nhẹ vờn qua, có tiếng nói trong vắt, vọng đến:
- Các cháu nói vậy là không công bằng rồi?
- Ai nói đó?
Cả hai chị em chuồn chuồn cùng ngạc nhiên kêu lên, mắt dáo dác nhìn quanh.
- Ta là Gió đây!
- Ô, bà Gió! Tại sao bà bảo chúng cháu không công bằng?
Hai chị em chuồn chuồn đồng thanh trả lời, bà Gió vui vẻ hỏi lại:
- Các cháu không biết thật ư? Không có ong và bướm thì cây cối làm sao đơm hoa, kết trái được.
- Không phải vậy đâu bà Gió ơi!
Chuồn chuồn Ớt vội kêu lên, và chỉ vào cây Sao đứng bên cạnh. 
Cây Sao khẽ đung đưa cành lá, trên đầu các cành có từng chùm hoa màu vàng nhạt, chen chúc nhau bám vào; bông hoa nào cũng tròn như hòn bi, phía dưới  có hai cánh dài như ngón tay út. Bà Gió mỉm cười trả lời:
- Không tin các cháu hỏi cô Phượng bên cạnh, hay đám hoa Hồng phía dưới kia xem có đúng không.
- Nhưng cây Sao đây cũng có cánh hoa xinh đẹp thế này mà có ong bướm nào đến giúp đâu?
Nghe chuồn chuồn Kim nói thế, bà Gió bật cười thành tiếng.
- Ha ha ha…
- Sao bà lại cười?
Chuồn chuồn Ớt ngạc nhiên hỏi lại, nhưng bà Gió đã bay đi xa. Cây Phượng từ nãy đến giờ không tham gia câu chuyện, khi nghe bà Gió cười, bỏ đi mới nhẹ nhàng giải thích;
- Các cháu nhầm rồi, hoa cây Sao hình ngôi sao màu trắng, khi kết trái thành quả hình tròn. Thứ các cháu thấy đó là quả, không phải hoa cây sao đâu.
- Ô, quả mà lại có cánh như cánh hoa, màu vàng xanh thế này ư?
Chuồn chuồn Kim ngạc nhiên hỏi lại, Cây Phượng nói tiếp:
- Quả Sao có hai chiếc tai dài phía dưới, khi quả chín sẽ khô lại, hai chiếc tai ấy thành đôi cánh; lúc đó bà Gió tới sẽ mang chúng đi. Nhờ có hai cánh đó, các quả sao bay được theo gió rồi rơi xuống mặt đất, nảy mầm tạo ra cây con trên vùng đất mới.
- À thì ra thế. Hay quá, hay quá!
Hai chị em chuồn chuồn vui vẻ reo lên, rồi vội vàng bay đi, loan báo một tin quan trọng: Quả Sao chín, khi khô có cánh để bay!
Dưới gốc cây Sao, lũ kiến đen bé tẹo đã đưa được xác bướm Vàng vào sâu trong lòng đất. Không biết chúng làm cách gì mà cả cánh bướm to vậy lại lọt được vào chiếc hang bé nhỏ ấy? Bà Gió trở lại trò chuyện với hàng cây phát ra tiếng vi vu không ngớt vang vọng trong không gian như khúc hát buồn chào tạm biệt cô bướm Vàng lần cuối.

Thứ Sáu, 9 tháng 8, 2019

TRẦN VĂN HỘI – HỒN THƠ LẶNG LẼ bài viết của PHẠM PHÚ PHONG - CHƯ YANG SIN SỐ: 323 tháng 7 năm 2019





Trong bài thơ mở đầu cho tập thơ đầu tiên Cái lùng tung (2007) của Trần Văn Hội, anh có viết rằng: “có những điều anh chưa nói với em / đó là sự lặng im trong thơ anh” (Đó là sự lặng im), không chỉ là dự cảm, là sự ướm thử mà là định mệnh, là thi mệnh thể hiện quan niệm nghệ thuật của tác giả, trở thành tuyên ngôn cho cuộc sống và sáng tạo nghệ thuật, xuyên suốt cuộc đời và thơ ca Trần Văn Hội.
Trần Văn Hội làm thơ, viết báo từ thời phong trào sinh viên tranh đấu, khi anh đang là Phó bí thư Ban cán sự Đảng Viện đại học Huế, hoạt động bí mật dưới sự lãnh đạo của Thành ủy, trong “nhóm Trương Văn Hoàng, Trần Văn Hội, Bửu Nam, Nguyễn Công Thắng… đã hình thành tập san văn nghệ Đất mới, cổ vũ xu hướng văn hóa văn nghệ dân tộc, hướng đến hòa bình, hòa giải và hòa hợp dân tộc.” (Nhiều tác giả, Lịch sử phong trào đô thị Huế 1954-1975, Nxb Trẻ, tr.425). Là một thanh niên yêu nước, anh cũng đã gặp nhiều hoạn nạn trong cuộc đời, nhưng đã âm thầm chịu đựng và lặng lẽ vượt qua mọi gian lao thử thách để ngước nhìn cuộc đời thông qua sáng tạo thơ ca. Hoàng Phủ Ngọc Tường đã có lần nói đại ý rằng, con người phải có quyền được buồn, nhà thơ là người luôn sống trong ngôi nhà nỗi buồn của mình. Đời người, ai chẳng có nỗi buồn riêng. Thi nhân càng buồn hơn. Không buồn thì làm gì có thơ hay. Tôi không tin những người lúc nào gương mặt cũng hớn hở vui như tết mà lại làm được thơ, lại càng không thể có thơ hay. Những nỗi buồn, những khổ đau, những tự vấn, những phán xét, những thẩm định là những cái bắt buộc con người nhất thiết phải lớn lên và trung thực hơn, tự bóc dần cái giả dối, phải tự lọc dần cái ươn hèn, biết vượt qua cái cay đắng lắm lúc như một thứ định mệnh ập xuống đầu, tất cả những cái ấy cả khi thắng và khi thua, cả lúc được và lúc mất, nhìn một phương diện nào đó, trở nên quý giá xiết bao! Chính vì thế, những trải nghiệm về nỗi đau, những bầm dập rủi may lên rừng xuống biển, có cả những đổ vỡ về niềm tin trong cuộc sống, không làm mất đi những cảm xúc ấm áp của tia nắng cuối ngày, mà ngược lại càng dồn nén, lắng lại, kết tủa thành những sinh thể nghệ thuật mà nội dung mang đậm đặc tâm trạng thế sự, có sức lay động tận đáy tâm hồn người đọc: Bây giờ ở Huế mùa thu / cũng đành lá rụng sương mù chưa em / Nhặt giùm anh sợi tơ mềm / chút hương hồ cạn ngó sen cuối mùa /Trăm năm như thể trò đùa / với em thơ dại đeo bùa trăng non / Nhớ thăm cỏ rối dốc mòn / gió từ thưở ấy gió còn mênh mông / Một mình đừng bước qua sông / lỡ khi bóng ngã giữa dòng ai hay / Em về gió lạnh bàn tay / dấu trong vạt áo ủ ngày nắng lên (Bây giờ ở Huế)
Ở tập thơ thứ hai này – tập Giấc mơ trôi dạt, Trần Văn Hội vẫn tiếp tục mạch cảm xúc về tâm trạng thế sự - đời tư ấy, nhưng cảm quan nghệ thuật sáng rõ hơn, thi pháp biểu hiện được quan tâm chăm sóc hơn, nhất là cách bung thả về cảm xúc, cách lựa chọn về ngôn từ, lối nói điềm đạm, lắng đọng, tất cả như được chắt lọc qua cả một cuộc đời từng trải, không ít sóng gió gian nan. Quê ở làng Chuồn, Phú Vang, nhưng anh trưởng thành ở Huế, nơi có dòng sông thơ mộng chảy qua, và ai đi xa cũng cứ muốn quay về. Chàng trai xứ sở của thi ca như anh cũng không là ngoại lệ. Anh phải sống tha hương nên luôn sống trong hoài niệm, lúc nào cũng mong muốn quay về, dường như từ trong vô thức / tiềm thức những hình tượng sống động đã trở thành nỗi ám ảnh, thành niềm hữu thức, dẫu chỉ là vô tình chứ không phải là cố ý, anh vẫn thường hay nhắc đến dòng sông (18 lần), đến những giấc mơ (15 lần), đến mong muốn được trở về, trở lại (15 lần), … hoặc hay nói đến hồn quê, mùi quê, chốn cũ, người cũ, và không dưới 10 lần anh hình dung ra bóng dáng mẹ già, người đã từng rặn đẻ tôi trên một dòng sông / từ đó / mặt nước xô dạt tôi lên rừng / xuống biển / lặn lội kiếm tìm những giấc mơ / mẹ dặn” (Từ một dòng sông). Đối với người mẹ, con mình bao giờ cũng bé bỏng, cho dù người con đã trưởng thành, đã đi qua bao núi bao đồi, uống nước bao dòng sông, tắm mình bao biển lạ. Không biết sóng biển nào, sông nào đã vỗ vào ký ức, hay chính chân sóng ở quê nhà qua bao mùa mưa nắng bãi bồi đã làm đầy thêm ký ức, để một người đàn ông đã bước vào tuổi 70 như anh, vẫn trào dâng cảm xúc khi nhớ lại những kỷ niệm xưa như vẫn còn mới tinh khôi: vào thời mạ tôi lấy chồng / có con / mạ chong ngọn đèn dầu / thức đêm / tỉ mẩn se từng sợi chỉ / xanh /đỏ / cột đồng tiền xu / đeo vào cổ tôi trừ tà ma / và cầu mong con mình khôn lớn / thành người (...) /  mạ nhìn tôi lớn lên / ngày ham chơi / đêm ngủ mớ / mạ tỉnh giấc lần tìm lá bùa / đồng tiền xu vuột mất / mạ bần thần soi đèn từng ngõ ngách / qua vùng đất chơi bi đánh đáo / mi ở chỗ mô hỡi đồng xu sứt mẻ / qua bãi đá banh bến tắm sông bụi cây trốn tìm / mi ở chỗ mô hỡi đồng tiền xu xấu xí (…) / những lúc trái gió / trở trời / mạ tôi sợ vu vơ khấn thầm trời đất / thay đồng tiền xu làm phép / mạ vạch vào trán tôi dấu chữ thập / bôi đen muội khói đèn / như một lời nhắc nhủ / đứa con của mạ / đừng bao giờ đi lạc giữa cuộc đời (Đồng tiền xu của mạ). Tôi biết, cho dẫu từ lúc trưởng thành cho đến bây giờ đã bước về phía bên kia con dốc cuộc đời anh phải sống xa quê, nhưng nhờ tình yêu thương bao la trong phép màu nhiệm của người mẹ, anh không bao giờ đi lạc, anh ủ hơi ấm ấy đến bây giờ để truyền vào tao nôi cho cháu nội của mình: Ông nhớ bốn tao nôi / Tiếng đêm đưa thao thiết / Câu hát ru bồi hồi / Một đời thương da diết / Rồi Bin sẽ lớn lên / Ngày xưa thành nỗi nhớ / Không bao giờ nguôi quên / Như ông, còn ngủ mớ (Bin ơi).
Thế giới hình tượng nghệ thuật thơ Trần Văn Hội khá phong phú. Ngoài những bài thơ viết cho những người thân trong gia đình như Đồng tiền xu của mạ, Nếu có em ở Đà Lạt, Tìm lại giêng hai, Gửi cháu nội, Bin ơi, hoặc viết cho chính mình, giải tỏa những nỗi niềm đa mang đầy ắp, mà nếu không được giãi bày, nó nặng đầy chật cứng trong tâm hồn, nhưng khi tiếng thơ bật ra nó trở nên rộng rinh, sâu thăm thẳm trong những âm thanh, màu sắc rõ nét chứ không nhạt nhòa nhưng không thể xác định gọi tên. Hình tượng cái tôi trữ tình hiện lên có tính chất đồng tâm, trong các bài thơ như Tôi tìm tôi, Một tôi và…, Những giấc mơ trôi dạt, Từ một dòng sông, Ra giêng, Suy nghĩ trước cơn giông, Ngồi ở bến sông, Mỗi ngày, Tìm lại giêng hai, Lắng nghe… Thi nhân ngước nhìn hình tượng núi sông kỳ vĩ, hình tượng những người thân như trong gia đình và bạn bè, nhất là với người bạn đời của mình trong thái độ mang chút hàm ơn: Chẳng níu lại được những câu hỏi / ẩn dụ ngày / và đêm / nhiều khi không kịp thở / tôi mím môi rượt đuổi / chính mình / vỡ vụn từng dòng ngụ ngôn / về một cuộc sống khác / và em / bước qua ngày thanh tẩy / dịu dàng / tinh khiết / đã cứu chuộc tôi / và những giấc mơ / trôi dạt (Những giấc mơ trôi dạt). Thi nhân là người “khảo thí”, luôn mang trong tâm hồn mình một ngân hàng câu hỏi trĩu nặng, khó tìm câu trả lời cho đạt độ chuẩn xác. Cái chân lý mà anh ta muốn kiếm tìm bao giờ cũng là ảo vọng xa xôi, cho dẫu có đến trăm nghìn lần đã từng gõ cửa cuộc đời dâng bao điều vấn tâm cháy bỏng. Cái bất lực trước cuộc đời, trước hư vô của trời đất, lại làm nên cái hư ảo của thi ca lấp lánh giữa nhân gian. “Nhân chi sơ tính bổn thiện”. Cái “thiện” đó không phải là thiện – ác, không hàm ý là phạm trù đạo đức, mà là một tập hợp rỗng, trống trơn không có chi trong đó hết. Con người khi sinh ra tâm hồn rộng rinh như nhà thơ khi đã dốc hết cõi lòng. Nghĩa là khi anh ta nhìn cái không gian mênh mông trước mặt, nơi mà cảm xúc vừa ào ạt tràn qua, như một sa mạc không người. Bản ngã của nhà thơ cũng giống như sự bắt đầu một đời người. Nhưng tức tốc ngay sau đó lại nạp đầy năng lượng, trĩu nặng nỗi niềm đau đớn rất nhanh. Đó là sự ươm mầm cho tâm thức sáng tạo, cho sự ngân nga của nhịp điệu ngôn từ. Và, dường như trên sa mạc hun hút xa kia đã lờ mờ xuất hiện những dấu chân. Bởi chính nhà thơ đã tri nhận được cái cán đích cuối cùng không vẫn hoàn không, nhưng vẫn cứ kiếm tìm. Có chăng, cái khác của Trần Văn Hội là anh tự gõ vào chính tâm hồn mình: Tôi tìm tôi / Bạc tóc vẫn lớ ngớ không hiểu nổi đời mình / Bòn mót từng giấc mơ / Vỗ cánh (Tôi tìm tôi).
Trần Văn Hội hầu như bất chấp mùa nào, thời tiết ra sao, bao giờ cũng kính cận, mũ bê-rê với nụ cười hiền, tuy có chút phong trần, nhưng trông phong thái có vẻ giống một triết gia hoặc là một linh mục, hơn là nhà thơ, nhà báo. Ai nói gì cũng cười. Chuyện hay cũng cười. Chuyện dỡ cũng nhếch môi. Chuyện gì cũng có thể cười mà không chấp, không tranh luận. Tất nhiên, chuyện buồn thì im lặng. Cái im lặng cố hữu của đời anh. Nụ cười không kiêu bạc mà cao sang. Cười và ít nói. Đúng như bản chất của thi nhân. Tôi gặp anh hàng nghìn lần, “lai rai” với anh hàng vạn cuộc, nhưng chưa bao giờ nghe anh đọc thơ, hay nghe anh kể chuyện đã từng đi đây đi đó. Hóa ra, đọc thơ anh, tôi mới biết anh cũng thuộc nòi xê dịch. Ngoài những bài thơ viết cho nơi chôn nhau cắt rốn ở quê nhà (Từ một dòng sông, Ra giêng, Quê nội, Và nếu Huế…, Ngồi ở Blach and white, Tìm lại giêng hai), thơ anh còn in dấu nhiều miền quê của đất nước; gần thì có Ơi H’năng tôi gọi vời theo con nước, Paranưng, Lượm đá trên dòng sông H’năng; xa hơn thì có Đôi mắt Lý Sơn, Nếu Đà Lạt có em, Khi qua Ninh Chữ, Phải vậy không Phan Thiết, Gặp gỡ Vũng Tàu, Ghi chép trên đảo Bình Ba, Thăm mộ cụ Nguyễn Du, Viết ở hồ Đại Lải, Ghi chép ở Hạ Long, Lên Yên Tử,…
Anh thể hiện nguyên lý “văn là người” rất rõ. Người anh ra sao thì thơ anh cũng vậy. Từ tâm hồn đến giọng điệu đều trầm buồn, lặng lẽ và khá kiệm lời. Thơ anh không phải bài nào cũng hay, bài nào cũng tròn tứ, cũng lưu lại ấn tượng lâu bền, nhưng ẩn bên dưới vẻ sần sùi, thô mộc có chút hiền lành, lặng lẽ là những thảm cỏ xanh thăm thẳm, trong đó, nó óng ánh những vệt sáng lung linh và tỏa ra sự ấm áp của ngôn từ. Nhiều bài thơ ngắn, rớt dòng một cách tự do, thong dong, mỗi dòng có khi chỉ một hai chữ, nhưng lại mang âm điệu lục bát khá chuẩn mực (Cái tình chi, Về nghe gió thổi, Quê nội, Ngồi ở bến sông, Không đề, Xàng xê ứ hự, Một tôi và…, Sắc không, Thế là, Tung còn, Tình tang, Lục bát, Và em, Gửi cháu nội, Lục bát (2), Thăm mộ cụ Nguyễn Du). Nhiều bài thơ, nhất là thể thơ năm chữ giàu nhạc điệu ngân nga, gần với ngôn ngữ chính văn của âm nhạc là hình tượng âm thanh (Phép thử đầu năm, Giải oan cốc, Bin ơi…), nên thơ anh đã được nhiều bạn bè phổ nhạc.
Như đã nói, Trần Văn Hội đã làm thơ từ thời tham gia phong trào sinh viên tranh đấu trước 1975. Nhưng mãi cho đến hơn 30 năm sau, anh mới có tập thơ đầu tay Cái lùng tung (2007) ra đời. Đến nay, lại hơn 10 sau nữa, anh mới cho ra đời tập thơ thứ hai Những ước mơ trôi dạt. Thơ là nghệ thuật tinh túy như rượu được chưng cất từ ngũ cốc. Ý thức đầy đủ về điều ấy nên anh viết rất chậm và cẩn trọng. Trong thế giới nghệ thuật ngôn từ, hơn ai hết, nhà thơ là người đầu tiên có trách nhiệm với từng con chữ, nếu muốn nó sinh sôi thành hình tượng.



Thứ Ba, 6 tháng 8, 2019

ĐẶC SẮC NGHỆ THUẬT CỦA BÀI THƠ VIỆT BẮC của NGUYỄN PHƯƠNG HÀ - CHƯ YANG SIN SỐ: 323 tháng 7 năm 2019


                    

                       
 


Bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu (đoạn trích trong sách Ngữ văn 12, tập I) được sáng tác vào tháng 10 năm 1954, trong khoảng thời gian sau ngày kháng chiến chống Pháp thắng lợi đến khi Trung ương Đảng, Chính phủ rời chiến khu Việt Bắc trở về Hà Nội. Việt Bắc là một khúc trữ tình chính trị đặc sắc, thể hiện rõ nét đặc điểm phong cách nghệ thuật thơ Tố Hữu: “sự kết hợp hài hòa hai yếu tố cách mạng và dân tộc trong sáng tạo nghệ thuật, sáng tạo  thi ca”*. Ở bài thơ này, Tố Hữu đã có những sáng tạo nghệ thuật độc đáo để thể hiện hình ảnh Việt Bắc - quê hương cách mạng, thể hiện những tình cảm cách mạng lớn lao và những vấn đề lớn của dân tộc và thời đại như lòng yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng, những ân tình thủy chung của người cách mạng đối với Việt Bắc, đối với Đảng và lãnh tụ.
1. Thể thơ lục bát.
Lục bát là một thể thơ truyền thống lâu đời của dân tộc sinh ra từ ca dao dân ca nơi ruộng đồng, gò bãi với cánh cò và người nông dân hồn hậu. Lục bát đi vào văn học viết với Truyện Kiều của Nguyễn Du, lục bát của Tản Đà, Nguyễn Bính và Tố Hữu. Chính lục bát đã góp phần tạo ra diện mạo một hồn thơ đậm đà bản sắc dân tộc của Tố Hữu dù ông viết lục bát không nhiều lắm. Lục bát là thể thơ thường dùng để thể hiện những tình cảm, những hình ảnh bình dị, thân thương. Lục bát đương nhiên không phải là sáng tạo của Tố Hữu, sáng tạo ở đây là tác giả thể hiện thành công  những tình cảm cách mạng lớn lao, những vấn đề lớn của hiện thực thời đại bằng một “giọng” lục bát giản dị, mộc mạc chứ không phải bằng “giọng” sử thi thất ngôn hoặc thơ tự do như nhiều bài khác. Sử dụng nhuần nhuyễn thể thơ lục bát truyền thống để thể hiện cảm hứng trữ tình chính trị là một đóng góp và thành công của tác giả.
2. “Mình -  Ta”- một kết cấu độc đáo.
Chúng ta đều biết, trong ca dao, dân ca tâm tình có lối đối đáp xưng hô “mình - ta” rất phổ biến, đó là lối xưng hô giữa hai cá thể yêu đương, tâm tình với nhau: “Mình về có nhớ ta chăng/ Ta về ta nhớ hàm răng mình cười”. Mượn lối xưng hô cá nhân nói chuyện lứa đôi ấy, tạo nên kết cấu đối đáp để thể hiện những tình cảm lớn lao của dân tộc và thời đại một cách cụ thể, sinh động, bình dị và sâu lắng là một sáng tạo độc đáo của Tố Hữu. Ở đây, nhà thơ đã cá thể hóa tất cả những người cách mạng từng sống và chiến đấu ở Việt Bắc thành một nhân vật và Việt Bắc - thiên nhiên núi rừng, con người được nghệ thuật hóa thành một nhân vật để tạo nên lối xưng hô “Mình - Ta”.  “Ta” là đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất và “Mình” là đại từ nhân xưng ngôi thứ hai, hai nhân vật đối đáp tâm tình nhưng là tâm tình cách mạng.
Mở đầu là một lời đối đáp (8 dòng lục bát tạo thành hai khổ thơ) gợi lên không khí, khung cảnh của một buổi chia ly, có “mình”, có “ta” với những lớp sóng cảm xúc thể hiện qua các từ láy: “tha thiết”, “bâng khuâng”, “bồn chồn” và hình ảnh “Áo chàm đưa buổi phân li” rất cụ thể và sinh động.
Tiếp đến là lời nhắn gửi của Việt Bắc - người ở lại, gồm 12 dòng lục bát tạo thành 6 câu hỏi xoáy sâu vào lòng người. Việt Bắc hỏi người cán bộ về xuôi có nhớ không những kỉ niệm gắn bó với thiên nhiên, con người Việt Bắc trong cách mạng và kháng chiến với những đại danh lịch sử: Tân Trào, Hồng Thái, mái đình, cây đa.
Trung tâm của đoạn trích là lời đáp của người cán bộ về xuôi gồm 70 dòng lục bát. Người cán bộ khẳng định tình cảm gắn bó với Việt Bắc như lời thề thủy chung: “Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh”, đồng thời gợi lên hình ảnh Việt Bắc, những hình ảnh trong đời sống, sinh hoạt trong cách mạng và kháng chiến.
Kết cấu đối đáp với lối xưng hô “mình - ta” đã giúp tác giả thể hiện hình ảnh và ý nghĩa lịch sử của Việt Bắc - cái nôi của cách mạng Việt Nam. Qua lời đối đáp ân tình, ta thấy hiện lên hình ảnh Việt Bắc với những chi tiết rất cụ thể, những hình ảnh vô cùng sinh động, kỉ niệm gợi nhớ kỉ niệm cứ tràn mãi ra không dứt với âm điệu dồn dập của những đoạn thơ lục bát. Đồng thời, tác giả cũng thể hiện những tình cảm cách mạng của nhân dân ta. Đó là lòng yêu nước, tinh thần dũng cảm, kiên gan bền chí trong cuộc đấu tranh giành độc lập, đó là tình cảm ân nghĩa thủy chung của những người cách mạng đối với Việt Bắc - quê hương cách mạng, là niềm tin chiến thắng, tình cảm biết ơn Đảng và lãnh tụ. Người đọc hình dung như có hai người đang cùng song ca một khúc trữ tình cách mạng nồng nàn và sôi nổi. Đọc kỹ bài thơ, ta thấy hai đại từ “mình”, “ta” có sự chuyển hóa đa dạng và đa nghĩa, chẳng hạn như khi tác giả viết: “Mình đi mình có nhớ mình” hoặc “Mình đi mình lại nhớ mình”. Chữ “mình” thứ ba trong hai câu này cũng chính là “ta” rồi. Tác giả còn dùng từ “ai” phiếm chỉ: “Ai về ai có nhớ không?”, thì “ai” ở đây cũng chính là “ mình” với “ta”. Như vậy, “mình” với “ta” tuy hai nhưng chỉ là một, cấu trúc hỏi đáp, đối thoại mà thực chất là độc thoại, đó là sự phân thân của cái “tôi” trữ tình nhà thơ để nói cho hết, cho kỹ, cho sâu những kỉ niệm với Việt Bắc, những ân tình cách mạng. Phần sau của bài thơ (không trích ở sách giáo khoa Ngữ văn 12), tác giả đã phá vỡ cấu trúc hỏi đáp để tạo thành một khúc đồng ca, ca ngợi cách mạng, ca ngợi Đảng và Bác Hồ.
3. Ngôn ngữ thơ giản dị, trong sáng, giàu hình ảnh và nhạc điệu.
Cùng với thể thơ lục bát, ngôn ngữ trong bài thơ mang đậm màu sắc ca dao, vừa giản dị, trong sáng, gần gũi, rất giàu chất liệu đời sống. Tác giả chủ yếu sử dụng từ thuần Việt (trong đoạn trích ở Sách giáo khoa với 90 dòng lục bát chỉ có trên 10 từ Hán Việt) mà đặc điểm của từ thuần Việt là bình dị, nôm na, dễ hiểu. Tác giả cũng không dùng nhiều các biện pháp tu từ nghệ thuật phức tạp mà chỉ gợi tả và liệt kê đơn giản theo mạch liên tưởng, hoài niệm. Hàng loạt những hình ảnh thiên nhiên, núi rừng, con người Việt Bắc, những kỉ niệm cách mạng và kháng chiến, những địa danh lịch sử được gợi ra, nối tiếp nhau qua những lời hỏi đáp cũng như những khúc đồng ca: “mưa nguồn”, “suối lũ”, “lau xám”, “măng mai”, “trám bùi”, “miếng cơm chấm muối”, “mối thù nặng vai” “Tân Trào, Hồng Thái, mái đình cây đa”, “người mẹ nắng cháy lưng”, “lớp học i tờ”, “những giờ liên hoan”, “ngày tháng cơ quan”, “tiếng mõ rừng chiều”, “trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương”, “ngòi Thia sông Đáy, suối Lê vơi đầy”. Nhờ gắn bó sâu sắc với thiên nhiên và con người Việt Bắc nên tác giả đã miêu tả bức tranh thiên nhiên và con người theo mùa hoa trái rất cụ thể:        
“Ngày xuân mơ nở trắng rừng
Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang.
Ve kêu rừng phách đổ vàng
Nhớ cô em gái hái măng một mình
Rừng thu trăng rọi hòa bình
Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung….”
Tác giả còn vận dụng phép song hành: bên cạnh một câu lục nhớ “hoa” là một câu bát nhớ “người”. Sự kết hợp đan xen ấy đã làm cho hình ảnh thiên nhiên và con người hòa quyện với nhau, hiện lên vô cùng sinh động. Sáng tạo hình ảnh hết sức phong phú là một thành công của Tố Hữu ở bài thơ này.
Người ta nói thơ Tố Hữu kết tinh linh hồn dân tộc ở nhịp điệu thì bài thơ Việt Bắc là một sự thể hiện đậm nét nhất. Nhịp điệu của câu thơ lục bát hài hòa, trầm bổng làm cho kỷ niệm trở nên ngân nga, réo rắt, thấm vào tâm tư. Nhịp điệu đó được tạo ra nhờ điệp khúc “mình đi”, “mình về” đặt ở đầu các câu lục và các vế tiểu đối ở các câu bát: “Miếng cơm chấm muối / mối thù nặng vai”, “Hắt hiu lau xám / đậm đà lòng son”, “Nhớ khi kháng Nhật / thuở còn Việt Minh”... Những vế đối đã tạo nên nhịp điệu cân đối, hài hòa, làm cho câu thơ lục bát mang thêm vẻ đẹp cổ điển. Tác giả còn sử dụng rất nhiều từ láy vừa gợi hình ảnh vừa tạo sự trùng điệp về âm thanh: “tha thiết”, “bâng khuâng”, “bồn chồn”, “hắt hiu”, “đậm đà”, “thăm thẳm”, “đêm đêm”, “rầm rập”, “điệp điệp”, “trùng trùng”… Hiện tượng điệp từ, điệp ngữ, điệp cú pháp cũng được sử dụng rộng rãi cũng góp phần tạo nhịp điệu phong phú, như việc lặp lại các từ “nhớ” ở đầu các câu bát, lặp lại các cấu trúc câu hỏi - đáp, phép lặp và liệt kê các địa danh lịch sử: Tân Trào, Hồng Thái, mái đình, cây đa, sông Lô, phố Ràng, Cao - Lạng, Nhị Hà, Hòa Bình, Tây Bắc, Điện Biên, Đồng Tháp, An Khê, đèo De, núi Hồng...
Tóm lại, Việt Bắc là một bài thơ có nghệ thuật đặc sắc, đậm đà tính dân tộc: thể thơ lục bát với âm điệu phong phú, kết cấu đầy sáng tạo, ngôn ngữ thơ giản dị, trong sáng, giàu hình ảnh và nhịp điệu. Bài thơ đã thể hiện được hình ảnh và ý nghĩa lịch sử của Việt Bắc - quê hương cách mạng, làm nổi bật những tình cảm cách mạng cao đẹp của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đầy gian khổ hy sinh mà oanh liệt, hào hùng.