Thứ Hai, 27 tháng 7, 2020

GÓP DÒNG NHỰA SỐNG CỦA MỘT VÙNG ĐẤT tác giả KHÔI NGUYÊN - CHƯ YANG SIN SỐ 335 THÁNG 7 NĂM 2020



 

Ngày nay, nói đến Đắk Lắk, nhiều người biết đến đây là một địa bàn chiến lược về chính trị, an ninh, quốc phòng; một vùng đất giàu tiềm năng về kinh tế, văn hoá; xứ sở của cà phê, cao su, hồ tiêu… đồng thời là quê hương của những trường ca đạt tầm sử thi của nhân loại, và là vùng đất có không gian văn hoá cồng chiêng độc đáo được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu phi vật thể của nhân loại cần được bảo tồn và phát huy… Đắk Lắk được mọi người biết đến là nhờ những con người sống và làm việc ở nơi đây, họ đã cống hiến sức lực và tài năng của mình để núi Đắk Lắk có tiên, sông Đắk Lắk có rồng.

Trước 1975, Đắk Lắk còn là nơi rừng thiêng nước độc, ngay cả Buôn Ma Thuột – trung tâm văn hóa chính trị của tỉnh – cũng được gọi là xứ “buồn muôn thuở”, “thủ đô tắc kè”... Nếu có văn học, nghệ thuật thì cũng chỉ là thơ ca tuyên truyền của các chiến sĩ trong Nhà đày Buôn Ma Thuột thời chống Pháp hoặc thơ ca của một vài cán bộ “đi B” (nhưng không có điều kiện công bố tác phẩm) trong thời chống Mỹ; trong chiến khu cũng có Đoàn văn công, cũng có Đồi Điện Ảnh nhưng chỉ để phục vụ chứ không phải là nơi sáng tác... đó là những gì của văn học, nghệ thuật cách mạng ở Đắk Lắk trước 1975. Còn “phía bên kia”, không thấy nhắc đến một tác giả, tác phẩm nào ngoài “Trường ca Đam San” của Sa-ba-chi-e (Công sứ Pháp) và một vài công trình nghiên cứu của Cô-đô-mi-nác (cũng là người Pháp - đặc biệt là phát hiện ra bộ đàn đá). Sau chiến thắng Buôn Ma Thuột (10.3.1975), tỉnh Đắk Lắk (gồm cả tính Đắk Nông bây giờ) chỉ xấp xỉ 350.000 người.

Ngay sau giải phóng Buôn Ma Thuột 1975, lực lượng sáng tác ở Đắk Lắk cũng còn rất mỏng. Số văn nghệ sĩ thuộc diện “những người đi từ rừng ra” điểm chưa hết ngón tay, lực lượng chi viện tăng cường thì chủ yếu nằm ở hai phương diện: xây dựng - quản lý (về mặt hành chính và kinh tế) và an ninh quốc phòng. Bên cạnh đó, Đắk Lắk còn là một tỉnh nghèo so với mặt bằng cả nước, địa bàn rộng lớn, vẫn bị coi là miền hoang sơ, cơ sở hạ tầng thấp kém, việc thông thương giữa các vùng trong tỉnh cũng như với các tỉnh khác còn khó khăn, nhu cầu thưởng thưc văn học nghệ thuật hiện đại không là vấn đề thiết yếu. Bởi vậy việc giữ được nhân tài đã khó, việc thu hút nhân tài đến với Đắk Lắk và ở lại Đắk Lắk càng nan giải. Văn học, nghệ thuật cũng bị ảnh hưởng bởi những điều kiện này. Lực lượng văn nghệ sĩ vốn đã ít ỏi, lại phải lo bươn trải với cuộc sống để kiếm thêm thu nhập bằng cách này hay cách khác nên khó có thời gian thâm nhập vào đời sống thực tế để phục vụ hoạt động sáng tạo, không có điều kiện để tiếp nhận những thông tin mới và giao lưu để học tập kinh nghiệm sáng tác, không thể dồn hết tâm huyết cho hoạt động văn học nghệ thuật… vì thế, thiếu tính “chuyên nghiệp”, coi việc sáng tạo nghệ thuật này như một sự đóng góp, hoặc sự thoả mãn giải toả tinh thần, hay sự khẳng định mình…

Tới những năm 80 của thế kỷ XX, những cán bộ tăng cường vẫn có câu vè: “Hà chuồn, Nam lủi, Thái Bình bay/ Hà Tây anh dũng chốn ban ngày/ Thanh Hóa mất mùa xin ở lại/ Nghệ Tĩnh thấy vậy cũng giơ tay.” Bởi vậy phải mất 8 năm với 2 đợt “chiêu binh mãi mã” vận động mới thành lập được Hội Văn học Nghệ thuật. Đại hội lần thứ I (5.9.1990) với 45 hội viên (kể cả gần 10 hội viên danh dự) thuộc các lĩnh vực: Văn học, âm nhạc, nhiếp ảnh, mỹ thuật, biểu diễn, kiến trúc. Số lượng sách xuất bản trong 15 năm sau ngày thống nhất đất nước của tác giả ở Đắk Lắk chỉ đếm trên đầu ngón tay (chủ yếu là in chung do Ty Văn hóa – Thông tin chủ biên). Nếu nói đến sức lan tỏa thì chỉ có “Thú rừng Tây Nguyên” và “Thất thủ cao nguyên” của Thiên Lương (thể loại văn); giọng ca của Y Moan và ngón đàn Quang Dũng (thuộc phần biểu diễn); “Nghe câu quan họ trên cao nguyên” – Vũ Thiết phổ nhạc thơ của Hữu Chỉnh...

Nhưng rồi đất lành chim đậu, lực lượng sáng tác Đắk Lắk từ 1990 trở lại đây là nơi “trăm miền quê góp nên một miền quê”, đội ngũ văn nghệ sĩ Đắk Lắk đa số là từ nơi khác đến, chọn Đắk Lắk là quê hương mới. Với 49/54 dân tộc Việt Nam từ nhiều vùng miền về đây sinh cơ lập nghiệp, Đắk Lắk trở thành miền đất đa sắc tộc, đa văn hoá… Đặc thù của văn học, nghệ thuật Đắk Lắk là việc thiếu sự kế thừa của bản địa, đa số là kế thừa từ quê hương bản quán… nhưng rồi các văn nghệ sĩ dần gắn bó, thẩm thấu để bám sát cuộc sống và phục vụ cuộc sống nơi đây. Bởi thế, chỉ cần độc vị tác phẩm là nhiều người biết đến tác giả là của Đắk Lắk, dù là văn, thơ hay nhạc, họa, nhiếp ảnh hoặc biểu diễn... Với 200 hội viên (trong xấp xỉ 2 triệu dân của tỉnh) nhưng đã có trên 100 lượt người là hội viên của các Hội VHNT trung ương.

Sự trăn trở của văn học, nghệ thuật Đắk Lắk hiện nay là mảng lý luận phê bình, biên kịch còn là “vùng lõm”. Bởi sáng tạo VHNT vẫn là năng lực cảm hứng của mỗi cá nhân. Lý luận phê bình kén người đọc; biên kịch không có “đất” sử dụng nên lý luận phê bình chỉ ở hạng nghiệp dư, còn biên kịch thì càng vắng bóng. Rồi nữa, công nghệ 4.0 theo đà lên đến X.0, mỗi mỗi cá nhân đều là một “tòa soạn”, một “nhà xuất bản”, một triển lãm, một clip biểu diễn... để công bố tác phẩm khiến người thưởng thức văn học, nghệ thuật khó lần ra đâu là VHNT đích thực. Kinh tế thị trường khiến việc coi sáng tạo VHNT không còn hứng thú như trước đây nên rất ít người đam mê, ở lớp trẻ càng ít hơn, đối tượng là người dân tộc thiểu số lại càng hiếm. 

Cũng may, văn nghệ sĩ Đắk Lắk ngày nay đã biết kế thừa tinh hoa truyền thống, tận dụng công nghệ thông tin, tận dụng nguồn đa dạng và phong phú về văn hóa, văn nghệ của nhiều dân tộc, nhiều vùng miền đang sống trên mảnh đất hào hùng lịch sử có chiều sâu địa tầng văn hóa của các dân tộc tại chỗ để phát huy khả năng sáng tạo, xác định vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ của mình trong công cuộc kiến thiết nước nhà. Bởi thế, văn học nghệ thuật Đắk Lắk không ngừng nghỉ hoàn thiện mình để đóng góp cho văn học nghệ thuật nước nhà bằng diện mạo của riêng mình trong dòng chảy chung, giống như dòng Srê Pốk dẫu phải chảy về hướng tây nhưng vẫn nhập vào Mê Kông để có Cửu Long góp nước cho biển lớn. 

Từ một xứ sở rừng thiêng nước độc đến mức có câu vè được truyền khẩu “Hà chuồn, Nam lủi, Thái Bình bay...” đã trở thành vùng đất lành chim đậu trong khi Đắk Lắk vẫn còn đang là một trong những tỉnh thu chưa đủ bù chi, là địa chỉ tìm đến của nhiều du khách theo lời mời “lên cao nguyên đi anh” để được “nghe câu quan họ trên cao nguyên”, được thưởng thức “đêm xoang” trong âm thanh “mưa cao nguyên”, được chứng kiến “vỡ òa mưa ấm”, được cảm nhận “Ban Mê trong tôi”, được ngậm ngùi với “rừng cổ tích”  mà lần theo “đôi chân trần” để “về bên kia núi” lãng du trong mênh mang “đại ngàn”... *   

Văn học nghệ thuật Đắk Lắk từ sau 1975 đến nay là một bộ phận của văn hóa Đắk Lắk nói riêng và nền văn hoá Việt Nam nói chung. Văn học nghệ thuật Đắk Lắk cũng là một dòng chảy đang cố hòa mình vào sông lớn để nhập vào biển cả văn học nghệ thuật nhân loại. Mỗi người cầm bút sáng tạo ở Đắk Lắk giống như một mạch nước góp phần cho dòng chảy thêm lớn mạnh. Mạch nước nào cũng nặng tình nghĩa với đất, nặng nợ với đất cho nên văn nghệ sĩ Đắk Lắk cũng không ngừng nâng cao tay nghề và tâm huyết để đóng góp được nhiều hơn nữa vào văn học nghệ thuật nghệ thuật tỉnh nhà cũng như văn học nghệ thuật cả nước hay của nhân loại, làm cho những người ở xa Đắk Lắk hoặc chưa một lần đặt chân đến vùng đất này nhưng vẫn thấu hiểu được màu đất đỏ bazan là sự tươi ròng của máu với thắm của hoa từ gần hai triệu trái tim đang gắn bó với đất đai và truyền thống của mình, cùng đắm chìm với hương vị cà phê, biết được sự ẩn chứa trong màu xanh bạt ngàn của cao su là những dòng nhựa trắng, thấy rõ được trong hoang sơ của đại ngàn là xu thế phát triển về mọi mặt của đời sống, cảm thông được với những khó khăn gian khổ của con người Đắk Lắk đang gồng mình để vươn lên trong khốc liệt của mưa nắng Tây Nguyên để xây dựng cuộc sống mỗi ngày thêm đẹp.

 

 


Chủ Nhật, 26 tháng 7, 2020

HỌC TẬP ĐỨC TÍNH CẦN KIỆM CỦA BÁC HỒ tác giả NGUYỄN PHƯƠNG HÀ - CHƯ YANG SIN SỐ 335 THÁNG 7 NĂM 2020


 

Chủ tịch Hồ Chí Minh - Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hóa thế giới - là lãnh tụ kính yêu của nhân dân Việt Nam. Là một vĩ nhân nhưng nét nổi bật trong cuộc sống của Bác là đức tính cần kiệm và nếp sống giản dị. Từ khi tìm đường cứu nước đến thời kỳ tiền khởi nghĩa và khi làm Chủ tịch nước, trong hoàn cảnh nào Bác cũng giữ nếp sống giản dị, đức tính cần kiệm nhưng vẫn tạo được lòng kính trọng của nhân dân và bạn bè quốc tế. Để học tập, làm theo đức tính cần kiệm của Bác, chúng ta cần tìm hiểu: điều gì khiến Bác có đức tính cần kiệm ấy? Biểu hiện cụ thể ra sao? Ý nghĩa xã hội của đức tính cần kiệm ấy như thế nào?

1. Cội nguồn sâu xa.

Đức tính cần kiệm của Bác Hồ có nguồn gốc sâu xa từ nếp sống giản dị và đức tính cần kiệm của nhân dân ta hình thành trong chiều dài lịch sử. Nhân dân ta sống trong ách đô hộ của phong kiến trung Hoa một ngàn năm và trải qua mười thế kỷ xây dựng quốc gia phong kiến độc lập, thường xuyên phải tiến hành chiến tranh giữ nước, gần một trăm năm sống dước ách Thực dân phong kiến, rồi hai cuộc chiến tranh giải phóng kéo dài ba mươi năm. Kinh tế khó khăn với một nền sản xuất nông nghiệp lạc hậu, tự cung tự cấp, thường xuyên phải gánh chịu thiên tai, hết hạn hán đến bão lũ, lụt lội. Sự khắc nghiệt của điều kiện sống ấy đã hun đúc cho dân ta những phẩm chất tốt đẹp, trong đó có đức tính cần kiệm, dễ thích ứng với mọi hoàn cảnh, đương đầu với mọi khó khăn, thử thách.

Đức tính cần kiệm của Bác còn có nguồn gốc từ hoàn cảnh gia đình và bản thân. Xứ Nghệ vốn là một vùng quê nghèo và đầy khó khăn, nổi tiếng với món cà, nhút mặn mòi, nổi tiếng cần cù, tiết kiệm, là đất hiếu học và có truyền thống khoa bảng. Thân sinh của Bác là cụ phó bảng Nguyễn Sinh Sắc cũng xuất thân nghèo khó, mồ côi cha mẹ từ nhỏ, sống với người anh cùng cha khác mẹ, phải đi chăn trâu kiếm sống. Cụ rất hiếu học nhưng chỉ được học lõm, nghe lén, chủ yếu học trên lưng trâu rồi được gia đình ông đồ Hoàng Đường nâng đỡ để trở thành một nho sĩ. Thân mẫu của Bác - bà Hoàng Thị Loan - là một người phụ nữ đảm đang, tháo vát, chăm lo gia đình, thương chồng, con và cũng sống trong cảnh nghèo khó. Sau này, khi cụ Nguyễn Sinh Sắc đã đỗ đạt, làm quan, cuộc sống của gia đình Bác vẫn luôn khó khăn, thiếu thốn. Cụ đã viết lên xà nhà mấy chữ: “Vật dĩ quan gia, vi ngô phong dạng” (Đừng lấy phong cách nhà quan làm phong cách nhà mình) để răn dạy các con (1). Thời gian ở Huế, khi ông cả Khiêm theo cụ thân sinh đi công cán (năm 1900), Bác Hồ lúc đó là cậu bé Nguyễn Sinh Cung ở với thân mẫu trong cảnh túng quẫn, mẹ Bác sinh một con trai đặt tên là Nguyễn Sinh Xin khi không có cơm ăn, không có sữa cho con bú, phải đi xin sữa, xin cháo hàng xóm để nuôi con. Cũng vì nghèo khó, phải lao động quá sức nên bà mắc bệnh hậu sản và qua đời khi mới ba mươi ba tuổi: “Bác của chúng ta những năm tuổi thơ ở Huế thật vô cùng cơ cực. Cha, anh đi vắng, ông bà ở xa, mẹ mất, một mình ở tuổi lên mười, thiếu cơm, rách áo lại phải nuôi em bé mới sinh. Hàng ngày, Bác phải đi xin sữa, xin cháo nuôi em và xin cơm cho chính mình. Cả tháng dường như bếp nhà không đỏ lửa…” (2). Cuộc sống khó khăn, thiếu thốn, cơ cực đến nghiệt ngã từ nhỏ cho đến quá trình bôn ba tìm đường cứu nước đầy khó khăn, vất vả đã vun đắp cho Bác nếp sống giản dị và đức tính cần kiệm trong suốt cuộc đời.

Đức tính cần kiệm của Bác còn xuất phát từ phẩm chất tinh thần, từ lòng nhân ái bao la của Bác. Bác yêu thương dân mình, biết người dân mình còn nghèo khổ, thiếu thốn, đói khát nên Bác không muốn sống cuộc sống khác với cuộc sống nghèo khó, bình dị, cần kiệm của người dân trong cách mạng và kháng chiến. Đây là một nét đẹp trong tâm hồn Bác.

2. Biểu hiện phong phú.

Trưa ngày 5 tháng 6 năm 1911, trên con tàu Amiral Latouche Tréville, Bác đã rời bến Nhà Rồng, ra đi tìm đường cứu nước với một hành trình đầy gian lao, vất vả và nguy hiểm. Ra đi với hai bàn tay trắng, Người đã sống cuộc đời của một người phu thực sự, đã làm nhiều việc, nhiều nghề từ phụ bếp, dọn bàn, quét tuyết, rửa ảnh, vẽ sơn mài, làm báo, viết văn để kiếm sống và học tập, để hoạt động cách mạng, vươn lên, trở thành một nhà cách mạng vĩ đại. Những tháng ngày bôn ba hải ngoại, Bác đã lao động cật lực và sống rất giản dị, tiết kiệm để có tiền mua sách báo và phục vụ các hoạt động tuyên truyền: “Với số tiền kiếm được, ông Nguyễn sống rất nghèo khổ để có thể thuê in những bản yêu cầu ấy thành truyền đơn đem phát trong mít tinh”(3). Bằng sự cần cù lao động, Bác đã đi qua nhiều nước, nhiều châu lục, học hỏi được bao điều mới lạ. Người đã nêu một tấm gương sáng chói về nỗ lực tự học, trừ chữ Hán được học ở thầy đồ và cụ thân sinh, tiếng Pháp được học ở Trường quốc học Huế, hơn chục thứ tiếng khác Người đều tự học trong quá trình hoạt động cách mạng do nhu cầu giao tiếp, nghiên cứu tài liệu và vận động cách mạng.

Tháng 2 năm 1941, Bác trở về Pắc Pó, trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Thực dân Pháp rồi trở về Hà Nội cho đến cuối đời, Bác vẫn luôn nêu tấm gương cần kiệm, nếp sống giản dị và gần gũi.

Chúng ta còn nhớ mãi hình ảnh một lãnh tụ cách mạng trên đường đi công tác cùng đoàn cán bộ, xuống sông tắm, tự giặt quần áo rồi móc lên chiếc gậy, vác trên vai tiếp tục cuộc hành trình. Đó là hình ảnh vô cùng xúc động của Bác Hồ kính yêu trong kháng chiến chống Pháp và cũng chỉ có Bác của chúng ta mới bình dị đến như vậy! Ngay cả một thời khắc thiêng liêng và trang trọng khi thay mặt Chính phủ lâm thời đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Người cũng ăn mặc hết sức giản dị, gần gũi, thân mật như một người cha: “Từ xa tôi thấy Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chủ tịch đội mũ vải đã ngả màu vàng vì mưa gió, đi một đôi dép cao su, mặc một bộ quần áo ka - ki” (4).

Trong cách mạng và kháng chiến, Bác sinh hoạt, ăn uống rất bình dị. Người thường mặc áo quần nâu như đồng bào Việt Bắc, vai đeo túi vải, thường xuyên phải đi bộ, trèo đèo lội suối. Bao nhiêu vải đẹp, lụa là các đoàn thể, cá nhân kính biếu, Bác đều làm quà tặng hết. Áo Bác rách, có khi vá đi vá lại, Bác mới cho thay, chiếc áo gối của Bác cũ rách, miếng vá nọ chồng lên miếng vá kia, cán bộ đề nghị thay áo gối mới cho Bác dùng nhưng Người không đồng ý(5). Bác thường ăn uống đạm bạc,“rất thích ăn các món ăn dân dã. Bác thích món vó bò, cà dầm tương, mắm, canh cua với rau chuối thái ghém, cá bống kho lá gừng”(6 ). Bác ăn chung với mọi người trong cơ quan, có gì ăn nấy, “Bác không bao giờ chê ai nấu ăn dở, mặn, nhạt. Thường là Bác khen món này ngon, món kia ngon, mà đã ngon thì chia đều cùng ăn” (7). Một người phục vụ Bác kể lại: “Năm 1948, tôi thưa với Bác: “Bác có tuổi, ăn chậm hơn chúng cháu. Bác nên ăn riêng mà chúng cháu ăn riêng cũng được tự do hơn”. Bác đồng ý nhưng chỉ cho bày thức ăn riêng còn cơm vẫn là nồi chung. Bác không chịu ngồi ăn riêng lấy cớ ăn chung cho vui”(8). Có lần đi công tác về, Bác mệt, cán bộ đề nghị nấu cháo cho Bác, Bác đang nằm nghỉ, nghe nói vậy, liền chồm dậy bảo: “Cô nấu cháo cho Bác bằng cơm nguội ấy, vừa chóng chín, vừa tiết kiệm được gạo, khỏi bỏ phí cơm thừa”(9). Trong bữa cơm, Bác dặn cán bộ: “Không được để rơi vãi. Làm rơi vãi là có tội”(10).

Là một lãnh tụ cách mạng bận trăm công nghìn việc, lo cho nước cho dân, thời gian rảnh rỗi, Bác vẫn rất chăm làm vườn. Thời kháng chiến, cơ quan di chuyển luôn, chuyển đến chỗ nào, Bác cũng bảo anh em trong cơ quan làm vườn và tự Bác cũng cuốc đất, trồng rau, trồng bí. Vườn rau của Bác lúc nào cũng xanh tốt. Có khi cơ quan chuẩn bị di chuyển sang chỗ khác nhưng Bác vẫn gieo giống, trồng rau mới, Bác bảo với cán bộ: “Ta không ăn, đồng bào ăn, lo gì”(11). Trừ việc nấu ăn, mọi công việc Bác tự làm lấy, từ đánh máy, giặt rũ, đào hầm trú ẩn, Bác bảo: “Đấy là quyền lao động của Bác”( 12).

Khi làm Chủ tịch nước, sống ở Hà Nội, Bác vẫn ở một cái nhà sàn, có vườn cây, ao cá, làm bạn với cỏ cây, hoa lá, hài hòa với thiên nhiên. Người vẫn luôn ăn mặc giản dị, vẫn đôi dép cao su, thăm hỏi nông dân, Người lội ra tận cánh đồng lúa cùng bà con, đạp guồng quay nước vào ruộng. Đi thăm hữu nghị các nước, hay tiếp khách quốc tế, Bác vẫn giữ phong cách giản dị mà trang nhã, vẫn mặc bộ quần áo ka - ki bạc màu. Người đặc biệt tiết kiệm thời gian, làm việc không ngơi nghỉ, có lúc cần thư giãn sau giờ làm việc vất vả, Người làm vườn, trồng cây, cho cá ăn, tập thể dục, đọc sách, ngâm thơ. Cả cuộc đời chiến đấu quên mình, dâng hiến cho nước cho dân, vậy mà lúc ra đi, Người “chỉ tiếc là tiếc rằng, không phục vụ được lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa” (Di chúc). Chỉ một vài dẫn chứng cũng thấy Bác Hồ kính yêu của chúng ta có một đời sống rất mực bình dị và cần kiệm. Đây là phong cách, là lối sống của Bác đã được vun đắp qua thời gian, qua quá trình hoạt động cách mạng chứ không phải là những biểu hiện nhất thời, nó thể hiện một quan niệm nhân sinh đúng đắn, sâu sắc và rất tích cực.

3. Ý nghĩa sâu sắc.

Đức tính cần kiệm với nếp sống giản dị là một truyền thống lâu đời của nhân dân ta đã được kết tinh rất sinh động trong cuộc đời của Bác, góp phần làm nên bản sắc Danh nhân văn hóa Hồ Chí Minh. Đó cũng là một nét đẹp, một tấm gương sáng mà nhiều thế hệ cán bộ cách mạng nhân dân ta đã noi theo. Đức tính cần kiệm giúp Người có đủ nghị lực, vượt qua bao khó khăn gian khổ, thiếu thốn trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, giữ cho tâm hồn được thanh thản, thư thái, ung dung, tự tại trước những biến động của đời sống.

Ngày nay, đất nước đang bước vào thời kỳ phát triển nền kinh tế thị trường trong thời đại khoa học, công nghệ, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ta đã được cải thiện, xóa đói, giảm nghèo. Tuy nhiên, trong đời sống xã hội vẫn xảy ra nhiều hiện tượng tiêu cực, nhiều tệ nạn, đặc biệt là tình trạng tham nhũng, lãng phí còn khá phổ biến. Một số cán bộ, công chức còn sa vào các tệ nạn cờ bạc, rượu chè, sa đọa trong các dục vọng tầm thường, đặc biệt là lãng phí thời gian vào những tiệc tùng và những trò tiêu khiển khác. Khi những ham muốn vật chất vượt quá khả năng đáp ứng thì nó làm cho tâm hồn con người cằn cỗi, tha hóa. Vì vậy, con người cần tạo ra sự hài hòa giữa đời sống vật chất và tinh thần, giữa cống hiến và hưởng thụ, biết kềm chế những dục vọng cá nhân và nhiệt tình lao động sáng tạo để xây dựng cuộc sống, xây dựng đất nước. Như vậy, học tập và làm theo đức tính cần kiệm và nếp sống giản dị của Bác Hồ có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển và hoàn thiện nhân cách, nhất là đối với thế hệ trẻ. Học tập đức tính cần kiệm của Bác từ những việc nhỏ nhất gắn với nhiệm vụ và công việc của mỗi người, cần cù, chịu khó, tích cực để hoàn thành trách nhiệm được giao, có tinh thần vượt khó, cầu tiến, sinh hoạt giản dị, tiết kiệm phù hợp với hoàn cảnh cụ thể

Thế hệ trẻ ngày nay được thừa hưởng những giá trị vật chất và tinh thần to lớn mà thế hệ cha anh đã để lại. Điều kiện vật chất và những xu hướng phát triển hiện nay, nhất là xu hướng đòi hỏi thỏa mãn nhu cầu về vật chất dễ làm cho con người tha hóa. Vì vậy, thanh niên chúng ta cần học tập đức tính cần kiệm, nếp sống giản dị của Bác Hồ, không nên đua đòi quá đáng về vật chất, không bỏ phí thời gian và tuổi trẻ vào những trò chơi vô bổ hoặc sa vào những tệ nạn xã hội, phải ra sức phấn đấu, học tập, lao động sáng tạo để xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc và góp phần xây dựng đất nước, đưa nước ta ngày càng phát triển phồn vinh như mong ước thiết tha của Người.

 

 

           

Chú thích:

(1, 2). Trình Quang Phú - Từ Làng sen đến Bến Nhà Rồng, Nxb Thanh niên, 2010.  (3, 4).Trần Dân Tiên - Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch, Nxb Văn học, H, 2001.

(5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12).  Ngô Quân Lập sưu tầm - Kể chuyện Bác Hồ ở Tuyên Quang, Nxb Chính trị quốc gia, H, 2015.


Thứ Hai, 20 tháng 7, 2020

CON GÀ GÔ TỘI NGHIỆP truyện ngắn của HỒNG CHIẾN - TẠP CHÍ SUỐI REO số 184 tháng 6 năm 2020



Mùa khô, mặt đất như bốc cháy vì những tia nắng gay gắt thiêu đốt từ sáng sớm đến chiều tà. Cây cối im lìm cuối mặt, giơ tấm lưng xanh sẫm cố gắng che lấy thân cây. Bầu trời trong xanh vời vợi không một gợn mây, cái nóng hầm hập tràn vào nhà như có ai đó đặt chảo lửa bên cạnh. Bổng nhiên tiếng chim vang lên: “Cục… bắt… sét… đa… đa!”.

          Tiếng hót của chim vang lên giữa trưa nắng, âm vang lan tỏa bao trùm cả ngôi nhà rồi tản ra, lan dần qua những hũm cây, theo các sườn đồi, nhỏ dần chỉ còn lại tiếng “gia” tha thiết vọng lại.

Hiền giật mình, tỉnh hẳn cơn buồn ngủ tụt xuống giường chạy lại gọi mẹ.

-         Mẹ ơi, chim biết hót rồi!

Mẹ Hiền gấp tập bài đang chấm giở quay lại bảo:

-                     Mẹ nghe rồi nhưng mới có mười ba giờ, con đi ngủ tiếp đi, ba mươi phút nữa hãy dậy.

-         Mẹ cho con ra chơi với chim đi. Đấy, nó lại hót nữa đấy.

Mẹ gật đầu. Hiền chạy ngay ra đầu hồi nhà đứng ngắm con chim đang cố gắng dướn cao cổ, đầu hơi cúi xuống cất lên tiếng hát êm ái. Thế là thiếu ba ngày nữa mới đầy năm tháng mà nó đã biết hót rồi.

Nhớ hôm ấy ba về cả nhà đang vui vẻ quây quần quanh mâm cơm, bổng vang lên mấy tiếng: “quạ, quạ, quạ” xé tan không khí buổi trưa thanh bình. Cả nhà bỏ mâm cơm ăn dở chạy ra sân tưởng quạ bắt gà con.

Thấy người chạy ra, con quạ vừa lao xuống đống rơm dưới gốc cây mít hoảng hốt lao vút lên, miệng không ngớt kêu gào như tiếc rẻ trước khi bay về dãy núi phía xa.

Ba đi lại phía đống rơm và kêu lên:

-         Có con gà bị thương! À, con đa đa con.

Hiền vội vã chạy lại, thấy ba đang khẽ khàng đặt con chim nhỏ bé như chú gà con, lông nâu nhạt mịn như tơ, trên lưng có vệt lông vàng kéo dài từ đỉnh đầu xuống đuôi loang vết máu tươi. Con chim run lẫy bẩy, đầu nghẹo vè một bên. Mẹ chạy vội vào nhà lấy lọ ôxi già và bông cho ba rửa vết thương, chắc là do móng chân của lão quạ độc ác găm vào bên hông làm toạc cả một đoạn da dài.

Ba khéo léo rắc thuốc lên vết thương rồi đặt nhẹ nó vào cuộn bông trắng tinh đã được dàn ra giống như một chiếc ổ xinh xắn. Buổi chiều, ba kiếm cây, ván, lưới sắt đóng một cái chuồng, đặt chim vào và dặn Hiền:

-         Con nhớ hàng ngày kiếm mối cho nó ăn.

Thế là từ đó ngày ngày ngoài giờ đi học, Hiền tranh thủ bắt những con mối trắng ngần, béo, tròn nung núc thả cho chim ăn. Thỉnh thoảng mẹ cho thêm nắm vừng, nắm tấm bỏ vào chuồng. Cu cậu hay ăn đáo để.

Từ một chú chim bé nhỏ, chỉ lớn hơn ngón chân cái Hiền một chút, thấm thoát hai tháng sau đã to bằng vốc tay. Bô lông tơ màu nâu hôm nào, nay đổi qua màu bồ hóng, điểm thêm những nốt trắng, đen, vàng, trông chim như một chú gà hoa mơ, thật thích mắt. Con chim là niềm tự hào của Hiền, bọn bạn đến chơi đứa nào cũng đứng ngẫn ra nhìn không biết chán. Nhất là khi nó ăn, chiếc mỏ vàng nhỏ bé cẩn thận mà chính xác gắp từng con mối, hạt mè một cách nhanh chóng như người ta tập đếm, mấy chiếc lông cổ rung rung theo nhịp mổ. Bọn bạn thích thú quan sát và la chí chóe khi đoán trúng hạt mè hay con mối chim mổ ăn. Những lúc học xong bài, bọn bạn đứa mang đến nhúm hạt mè, đứa mang đến ít bông cỏ may cho chim. Tất cả chỉ mong nó lớn xem đẹp như thế nào. Không ngờ hôm nay nó lại hót, tiếng hót êm ái mà thanh cao, nghe xao xuyến lạ lùng. Nếu biết tin này lũ bạn hẵn phải ngạc nhiên lắm, và cả ba nữa khi về sẽ ngạc nhiên cho mà xem. Cái tin quan trọng này phải báo cho ba biết mới được.

     Hiền chạy vào nhà nói với mẹ:

-      Mẹ ơi, con viết thư báo cho ba biết con chim đã biết hót rồi nhé!

-      Con quên rồi sao, ba sắp về phép rồi đấy!

-      Da!

Hiền vui quá nên quên, ba đi đã gần năm tháng và hôm qua viết thư về báo sắp được nghỉ phép. Không biết cái Đồn Biên phòng nơi ba ở có con chim này không nhỉ, nếu không có, tặng luôn nó để ba mang lên đó cho vui. Biết đâu chim hót giúp ba đỡ nhớ hai mẹ con Hiền. Đúng rồi, nhất định phải tặng ba mới được. Tiếng chim lại cất lên cao vút giữa không gian như xua bớt đi cái nắng gay gắt đang đổ lửa thiêu chín cả mặt đất ba-zan đỏ au ngi ngút bốc khói.

*

**

Bỗng nhiên tiếng phanh xe kèm theo một làn bụi mỏng như khói cuộn vào sân. Hiền ngẩng mặt lên đã thấy bác Tư đá chân chống chiếc xe Dream II màu mận chín còn mới ngay sát thềm, vội vã bước lại gần chuồng chim nghiêng nghiêng, ngó ngó.

Cả thị trấn này không ai lạ gì bác Tư, người nổi tiếng về chơi chim cảnh và chọi chim. Mùa nào loài ấy, từ con chim chào mào nhỏ bé đến cu gáy, cu xanh, bách thanh, vàng anh… bác đều có cách để nhử bắt. Người ta nói nhờ tiền chim chọi mà bác mua đất, xây biệt thự ngay ngã tư thị trấn huyện. Tài chọi chim của bác Tư ở chỗ chỉ cần nghe tiếng chim kêu thôi cũng biết nó bao nhiêu tuổi, tính khí thế nào, hoặc chỉ nhìn nơi đàn chim ăn qua là có thể đoán biết có bao nhiêu con, sẽ bắt được bao nhiêu con trong đàn đó v.v…

Đó là bí mật nghề nghiệp truyền đời của dòng họ nhà bác, chưa có ai ở thị trấn này học được.

-         Con chào bác!

Hiền lễ phép khoanh tay chào bác Tư, làm bác giật mình quay lại.

-         Chào cháu, cháu học lớp mấy?

-         Dạ thưa, cháu học lớp năm ạ!

-         Con cô giáo có khác, mới bằng này đã học lớp năm rồi. Má có nhà không?

-         Thưa bác có ạ!

Bác Tư nhìn lại con chim một lần nữa rồi vội vã bước vào nhà. Sau khi nhận ly nước mẹ Hiền mời, bác Tư hỏi luôn:

-         Tôi muốn chị để lại cho tôi con gà gô kia.

-         Con chim đó của cháu Hiền.

-         Chị bảo với cháu, cho tôi đổi chiếc xe đạp Mini Nhật lấy con gà gô. Nếu cháu đồng ý tôi chở cháu lên phố ưng màu gì tôi cũng chiều.

-         Việc này để tôi hỏi cháu đã.

Hiền có linh cảm không hay khi bác Tư đến nhà và quả đúng như dự đoán, bác Tư lại thích ngay con chim quý nhà Hiền. Có cái xe đạp đi học cũng thích thật, nó ngoài cả mơ ước của Hiền. Nhưng còn ý ba, lỡ ba buồn thì sao? Mà Hiền còn tính tặng ba nữa, nghĩ vây Hiền nói thẳng:

-         Đây là vật kỷ niệm của ba, dù bác có trả bao nhiêu cháu cũng không thể bán.

Biết có thuyết phục mẹ con Hiền cũng không được, bác Tư mới nói:

-                     Nói thật với chị và cháu, con gà gô này ngoài Bắc người ta thường gọi là con “đa đa” hay “con bắt tép kho cà” cũng là một mà thôi, loài này hiếm lắm. Mỗi cặp bao giờ cũng có lãnh thổ riêng, không con nào khác được bước tới lãnh địa của chúng. Nếu lỡ tới sẽ xãy ra một trận quyết chiến nãy lửa cho đến lúc kẻ xâm nhập “biên giới” bỏ chạy mới thôi. Vì đặc tính này của gà gô mà chúng dễ bị dụ vào bẫy. Đặc biệt con gà gô của nhà mình thuộc vào hàng quý hiếm của gà choại. Trên cổ có tới ba hàng cườm đen xen kẻ, tỏ rõ nó dai sức và tiếng gáy sẽ vang xa hơn. Nuôi gà chọi loài này phải chọn được con có giọng thanh, khi gáy tiếng vọng xa làm con gà gô khác dù ở xa cũng nghe được. Tiếng thanh còn biểu hiện sự yếu đuối để đánh lừa các con gà khác lao vào chọi. Đôi mắt của con gà này màu nâu có vành đen, chứng tỏ sự gan lỳ. Dưới mi mắt có hai nốt đỏ như hai hạt mè, dấu hiệu của gà hay – có thể nói nó là gà chúa rất quý hiếm. Tôi ngồi ở nhà nghe nó gáy mà phát ham nên mới đi theo tiếng gáy đến đây. Chiều nay chị cho cháu đi với tôi, bên nhà có chiếc lồng cũ còn tốt lắm, đi chọi thử một lần sẽ biết. Thôi tôi về, bốn rưỡi chiều tôi quay lại.

Từ nhỏ đến giờ chỉ nghe bác Tư chọi chim chứ có ai được bác rủ đi bao giờ, và chắc cũng không ai biết bác chọi ra sao. Hôm nay bác đến rủ Hiền là một điều lạ. Hiền nghe cũng xuôi tai và thấp thỏm đợi chờ.

 

*  *

*

Mặt trời nghiêng ngiêng rắc những tia nắng vàng nhạt lên mọi vật. Thỉnh thoảng từng cơn gió mát rượi ào ào lướt qua lật ngược các tàu lá khua rối rít, trông thật ngộ nghĩnh. Bác Tư đưa Hiền ra cánh đồng cỏ gianh khô cong nằm rạp xuống sát mặt đất như có ai đó dùng xe lu cán lên. Bác để xe bên lề đường dẫn Hiền đến bên gốc cây lồng bàng mọc cạnh một đống mối to như con trâu nằm. Bác rẽ cỏ gianh đặt chiếc lồng rồi phủ thêm mấy cọng cỏ khô lên trên. Cửa lồng hướng về phía bắc. Xong đâu đó, hai bác cháu đi bộ khoảng năm chục mét ngồi núp sau một lùm cây đợi. Vừa mới bẻ lá ngồi xong, con chim đa đa hay nói theo cách bác Tư là con gà gô của Hiền đã cất tiếng gáy. Tiếng gáy có gì đó như buồn rầu, não nề, khắc khoải lan tỏa trên đồng cỏ. Đặc biệt tiếng cuối cùng của câu: “Cục bắt sét đa… đ… a” cứ nhỏ dần, nhỏ dần, tạo thành tiếng nấc nghẹ ngào, đau đớn. Hiền thì thào hỏi bác Tư.

-         Tại sao những tiếng cuối cùng nghe như nghẹn ngào nấc cụt vậy bác?

-         Nó quý là ở chỗ ấy đấy. Nhìn kìa!

Theo phía bác Tư chỉ, Hiền thấy bóng một con gà gô vừa bứt mình lên khỏi ngọn cỏ giang đôi cánh ngắn vẫy lia lịa đâm bổ vào đống mối đặt bẫy.

“Cách”, tiếng sập bẫy khô khốc vang lên. Bác Tư kéo tay Hiền vui vẻ bảo: Xong rồi!

Hiền hớn hở chạy lại đống mối thấy một con gà gô mắc bẫy đang lồng lộn dưới tấm lưới ni lông nhỏ bé. Nó cố vùng vẫy nhưng không sao thoát ra được.

Bác Tư ngắm con gà gô mới bị sập bẫy bảo:

-                     Con này vũ phu, chỉ có thịt thôi không chọi được. Hôm nay thử thế là đủ, chiều mai ta đi nữa. Giờ về thôi.

          Bác Tư đưa Hiền về tận nhà và nhất định không nhận con gà gô mới bắt được. Bác bảo cho Hiền làm thịt. Con gà gô mắc bẫy có lẽ nặng hơn một ký, ngực nở tròn lẳn, toàn thân khoác chiếc ao màu nâu nhạt điểm xuyến những chấm trắng, đen đều khắp mình. Chiếc mỏ be bé trông giống như mỏ gà, màu vàng. Đôi mắt tròn xoe, đen nhánh viền một hàng lông mi dài, màu đen bao quanh tròng mắt. Duy có cái đuôi cụt ngủn như bị ai dùng kéo hớt bớt. Hiền ngắm con gà gô với vẻ sung sướng. Ngày mai mấy đưa bạn tha hồ mà tròn mắt thán phục con gà chọi của mình. Hiền tự nhủ: Thôi để đó hôm nào ba về chiêu đãi một bữa.

          Chiều hôm sau ba đột ngột trở về. Hiền mừng quýnh chạy ra đỡ chiếc ba lô và khoe ngay.

-         Ba ơi con gà gô nhà mình biết gáy rồi đó, nó gáy hay lắm.

-                     Vậy à! Thế là nó đã trưởng thành, tự kiếm sống được rồi, nên thả nó về với rừng con ạ.

-         Sao lại vậy được? Bác Tư trả chục triệu mà mẹ không bán đấy.

-                     Không bán là đúng. Con gà gô này thuộc loài thú quý hiếm, cần được bảo vệ đấy.

-         Nhưng dùng nó để làm mồi bẫy tốt lắm. Chiều qua con bẫy được một con đấy.

-         Thật à!

Hiền liến thoắng kể cho ba nghe chuyện bẫy gà chiều hôm qua và thành công dễ như thế nào.

-         Thế con có nhớ chỗ đặt bẫy hôm qua không?

-         Nhớ chứ ạ, nhưng để làm gì hở ba.

-         Con mang cả hai con gà gô đi theo ba.

Ba vội vã đứng dậy lấy xe đạp chở Hiền ra chỗ bẫy gà hôm qua. Lưng áo ba ướt đẫm mồ hôi trong lúc gió chiều lồng lộng thổi. Đến bên đống mối đặt bẫy, ba bảo Hiền.

-         Con thả con gà bắt được hôm qua ra.

Nhìn mặt có vẻ không vui của ba, Hiền mở cửa lồng. Con gà gô lập tức lao vù ra vẫy cánh rối rít bay lên rồi lao vun vút đến đám cỏ gianh cạnh cây chà và xanh ngắt có những chiếc lá nhọn hoắt như lông nhím. Ba nhanh nhẹn bước như chạy lại nơi con gà gô vừa đáp xuống, vạch bụi cây tìm gì đó. Hiền lon ton chạy theo và vô cùng sửng sốt khi ba vạch mấy tàu lá chà và phía trên để lộ ra chiếc ổ đơn sơ được lót bằng những cọng rác khô. Trên ổ một con gà gô xõa cánh rũ rượi nằm che cho mấy quả trứng màu trắng xanh phía dưới. Một đàn kiến đông đúc, lổm ngổm bò qua thành tổ vây lấy chú gà tội nghiệp.

Đứng bên cạnh ổ là chú gà gô mới được thả, lông cổ xù ra dựng đứng, hai cánh xòe ra hai bên như như sẵn sáng đánh nhau.

-         Sao lại thế hả ba?

-                     Con không biết sao! Con gà gô con bắt với con này là một đôi. Khi con mái ấp trứng, con trống bảo vệ xung quanh để chống kẻ thù, bảo vệ tổ. Hôm qua con mang con gà gô nhà mình ra đây, con gà trống xông ra đuổi kẻ thù xâm phạm lãnh thổ của nó và bị bắt, nên con mái còn lại một mình buồn mà chết. Con thấy chưa, nếu dùng chim chọi hay gà chọi để nhử bắt được một con sẽ làm hàng chục con khác chết theo. Như vậy chẳng bao lâu  những loài chim quý sẽ bị tuyệt chủng. Như vậy là lỗi con ạ!

-         Con hiểu rồi ba!

Hiền trả lời rồi lầm lũi bước lại bên chiếc lồng nhôt con gà gô của mình mở cửa, nâng nó ra. Có lẽ đây là lần đầu tiên trong đời, con gà gô được ngắm nhìn không gian mênh mông chứ không phải trong song sắt nan lồng. Nó ngần ngừ nhìn trời đất bao la như có vẻ ngạc nhiên lắm. Hiền lấy tay vuốt ve lên lưng nó. Mắt gà gô chớp chớp như bịn rịn, không muốn chia tay. Hiền nói nhỏ:

-         Tao trả mày về với rừng. Hãy bay đi nhé.

Hiền tung nó lên cao. Như chỉ chờ có vậy, con gà gô vỗ cánh rối rít bay vút về phía chân trời và nhỏ dần, nhỏ dần, cho đến khi hòa lẫn vào trời xanh.

-         Con làm vậy là đúng lắm.

Mặt trời khuất dần một nửa nơi đỉnh núi Chư Pa. Xa xa những tia nắng màu hồng cuối cùng nhạt dần, ba đèo Hiền trở về, từng cơn gió đẩy giúp phía sau làm chiếc xe đạp ba chở Hiền hình như nhanh hơn. Bất chợt từ phía sau lưng, tiếng con gà gô gáy vang lên, vọng đến: Cục, bắt sét đ… a đ…a. như một lời chào tạm biệt.