Thứ Ba, 18 tháng 5, 2021

NGƯỜI LÀM PHÚC truyện ngắn của HỒNG CHIẾN - BÁO VĂN NGHỆ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH SỐ 642 RA NGÀY 15 THÁNG 5 NĂM 2021

 



Ngày xửa, ngày xưa, lâu lắm rồi, khi ấy buôn Phôn Prang chỉ phải trồng hạt lúa, củ khoai làm lương thực còn thức ăn hàng ngày không bao giờ phải lo; nhà nào thích ăn cá ra suối bắt về, muốn ăn bao nhiêu cũng có vì cá nhiều gần bằng nước suối. Nhà nào muốn ăn thịt vào rừng bắt heo, nai, mang, nhím, cheo… mang về như ta bắt ở trong chuồng vậy. Người trong buôn không gia đình nào có ý nghĩ giành phần hơn cho mình mà xem mọi thứ là của chung, ai dùng bao nhiêu thì vào rừng lấy về vừa đủ dùng. Đàn ông ngoài việc lên rẫy, săn bắt thú về ăn còn thời gian rỗi đánh chiêng, đánh đàn và uống rượu. Phụ nữ chăm sóc con cái, lên rẫy trồng tỉa, thu hoạch và làm nội trợ, thời gian rỗi dệt vải, thêu thùa… Ngày ấy tiếng cười luôn đầy ắp các dãy nhà dài.

          Nhà bà H’Bla được dựng đầu buôn. Kể cũng lạ, mọi người ở tuổi bốn mươi lăm như bà đều có con cháu đầy nhà, riêng bà thì không. Bà ở một mình, không bắt chồng vì không thích chứ không phải không có đủ lễ vật để trả nhà trai thách cưới; gia đình nhà bà giàu có vào loại nhất nhì trong vùng. Từ nhỏ bà chỉ thích chơi đùa với chim muông, ong, bướm…, lớn lên một tý có thêm sở thích đi dạo trên các đỉnh núi ngắm trời mây non nước và tìm các loại lá cây chữa bệnh cho người làm phúc như bà ngoại đã về với Yang. Năm H’Bla đủ hai mươi mùa rẫy, người trong vùng rủ nhau chung sức dựng cho bà một ngôi nhà sàn dài mười lăm sãi tay ở đầu buôn.

*

*    *

          Như mọi ngày, buổi sáng hôm ấy trời trong xanh, gió thổi thì thào bên tai như nâng bước chân để H’Bla bước nhanh lên đỉnh núi Chư Yang Sin(1) hùng vĩ. H’Bla phải đi sớm để tìm cây nấm vàng mọc trên vách đá gần thác nước về chữa bệnh cho người bị mọc mụt trong cổ họng; bệnh này chỉ có duy nhất loại thảo dược ấy mới trị được, không tìm được thì ba lần trăng tròn tính từ ngày bệnh phát cộng thêm chín ngày nữa, bệnh nhân sẽ đi theo Yang.

-        H…u… u!

H’Bla leo gần lên đến đỉnh núi, bỗng nghe tiếng kêu như khóc của bầy khỉ vọng lại. Tò mò, H’Bla leo lên gần chút nữa thấy bầy khỉ hàng trăm con; con đứng, con ngồi lố nhố gần một hòn đá có cỏ tranh mọc vây quanh. Thấy H’Bla đi đến, lũ khỉ giật mình, thét lên bỏ chạy tán loạn, lẫn luôn vào các cây cao như có phép tàng hình, bỏ lại trên hòn đá một con khỉ lớn. Con khỉ chắc phải nặng gần ba chục ký, dài gần một mét; nằm úp mặt xuống đá, lông nâu sẫm, phía mông có một mẩu đuôi ngắn tí tẹo như ngón tay, lưa thưa vài cái lông như đuôi heo. Thấy lạ, H’Bla bỏ gùi xuống, lại gần lật ngửa con khỉ lên… thoáng giật mình lùi lại. Con khỉ miệng cắn chặt cổ con rắn hổ mang to bằng bắp chân người lớn, máu tươi còn chảy thành vũng trên hòn đá. Con rắn cũng không vừa, tuy chết nhưng mồm vẫn gặm ngang một cánh tay con khỉ. Phía dưới hòn đá, nơi đám cỏ gianh bị quần nát còn một con khỉ nhỏ hơn, chắc chỉ khoảng năm sáu ký, mắt trợn ngược, mồm trào máu đen. Rút dao bên hông, H’Bla cạy miệng con khỉ nằm trên hòn đá, lôi con rắn ra, vạch mắt khỉ xem, thấy còn chút hy vọng nên nhảy vội khỏi hòn đá chạy vào mấy bụi cây gần đấy hái một nắm lá bỏ vào mồm nhai nát, nhả lá ra tay bóp lấy nước cho rơi vào mồm con khỉ. Dùng dao nhè nhẹ cạy mồm con rắn, lôi tay khỉ ra, lấy lá nhai vắt nước lúc nãy đắp vào vết rắn cắn. Con rắn dài hơn hai sải tay, mình vằn đen, vằn vàng đã chết  từ lúc nào rồi. Nhìn vết thương con khỉ, H’Bla hình dung ra cuộc chiến của hai con thú chắc là quyết liệt và nhanh chóng kết thúc.

Con khỉ đầu đàn có thói quen buổi sáng thường ngày họp bầy, ngồi trên hòn đá bằng cao nhất trên đỉnh núi trước khi quyết định đưa đàn đi về phía nào kiếm ăn. Con rắn hổ mang sống gần đấy đã lâu năm để ý, tính kế ám hại bầy khỉ nên từ đêm đã đến núp trong đám cỏ gianh, bên cạnh hòn đá mà con khỉ đầu đàn thường ngồi. Con rắn tin vào sức mạnh và nọc độc của mình có thể tiêu diệt con mồi nhanh gọn, kiếm bữa ăn sáng. Một con khỉ nhỏ vô tình nhảy đến hòn đá trước, đúng tầm, con rắn lao lên tóm gọn. Trong lúc bầy khỉ hoảng loạn bỏ chạy, con khỉ đầu đàn đã lao đến cắn vào cổ con rắn. Con rắn cũng kịp bỏ con khỉ nhỏ, quay lại cắn trúng tay con khỉ lớn. Con rắn bị chết ngay, còn con khỉ đầu đàn bị ngấm nọc độc của rắn cũng xỉu luôn.

Khoảng năm phút sau khi thay miếng lá thuốc thứ hai, con khỉ từ từ mở mắt, nó đảo mắt nhìn trời, nhìn xung quanh rồi nhìn vào mắt H’Bla thoáng tỏ ra hoảng hốt. H’Bla mỉm cười vỗ nhẹ lên đầu nó như muốn bảo: nằm im. Con khỉ có khuôn mặt hình quả mận, da mặt đỏ như được sơn son, phía dưới cằm có chùm râu bạc dài đến nửa gang tay; miệng khá lớn có hai chiếc nanh to như ngón tay út thò hẳn ra ngoài trông rất ghê.

H’Bla lấy quả bầu đựng nước trong gùi rót cho nó một ngụm. Con khỉ nằm ngửa, uống nước không quen nên bị sặc, mình co dúm lại. Đỡ nó ngồi dậy, H’Bla bật cười, khẽ vỗ lên đầu nó bảo:

- Xin lỗi mày nhé, khỉ không uống thế này được thì thôi vậy. Mày hết đau rồi đấy, tao phải đi đây.

H’Bla đứng dậy, khoác gùi lên vai, định quay mình bước đi. Con khỉ thấy vậy hoảng hốt giơ bàn tay còn lành nắm lấy gấu yen(2) kéo lại, đôi mắt nhìn như cầu khẩn.

-        Gì nữa đây, giờ mày chạy theo bầy được rồi, để tao còn đi hái thuốc chứ!

H’Bla nói và khẽ vỗ vỗ lên đầu con khỉ. Đôi mắt màu vàng, nhìn như van lơn, cầu khẩn. Bỗng nó kêu lên một tiếng như nấc: Kh…o…c! Không biết vì sao cả lũ khỉ trên các ngọn cây, bên các hòn đá nhất loạt chạy cả lại vây quanh H’Bla. Thôi thì lớn bé, to nhỏ, đủ cả; có con trước ngực mang con nhỏ còn đang bú, có con cõng con nhỏ sau lưng; chúng ngồi thành nhiều vòng xung quanh, tất cả đều nhìn lên như H’Bla như cầu xin. Nhìn lũ khỉ ngồi, H’Bla kêu lên:

-        Ơ chúng mày làm gì thế này? Đứng hết lên, vào rừng kiếm ăn đi chứ, ngồi đây mà chết đói à? Đứng lên nào!

Cầm bàn tay lành của con khỉ bị thương kéo nó đứng lên, dắt nó bước theo đến bên gốc cây đa trước mặt, đặt hai tay khỉ vào gốc cây ra hiệu cho nó leo lên. Cả bầy khỉ lốc nhốc bò theo sau, rồi lại ngồi xuống như những bức tượng khỉ; H’Bla phì cười rồi vỗ nhẹ vào lưng con khỉ bị thương, động viên:

-        Mày đi được rồi, tay bị thương chỉ đau thôi, không chảy máu nữa đâu, đi đi, nhớ đừng đánh nhau với bọn rắn nữa nhé.

Từ đôi mắt tròn xanh xanh của con khỉ bị thương, hai dòng lệ trào ra, lăn xuống gò mà, rơi xuống đám lông ngực màu xám bạc. Nó ôm cây đa mà mắt vẫn không rời H’Bla. H’Bla phải đập nhẹ vao lưng nó giục:

-        Đi đi, ngoan nào!

-        Kh…o…c!

Con khỉ bị thương kêu lên một tiếng nghẹn ngào rồi từ từ ôm lấy thân cây, leo lên. Cả lũ khỉ đang ngồi dưới đất, nghe tiếng kêu liền lốc nhốc cong đuôi nhảy tót lên cây, miệng kêu la ầm ĩ. Khi leo lên cây rồi chúng quay đầu nhìn xuống, con gãi bụng, con gãi nách, con tung mình đánh đu như biểu diễn xiếc… Riêng con khỉ bị thương ngồi trầm ngâm nhìn theo ân nhân của mình đến khi khuất hẳn về phía bên kia sườn núi.   

*

*    *

Sau gần một ngày lang thang trong rừng, hết trèo đèo, lội suối, leo lên các tảng đá chênh vênh trên vách núi… khi trở về H’Bla cũng hái được một cây nấm tán màu vàng cam, thân màu trắng to bằng miệng ly uống rượu bỏ vào gùi. Có cây nấm làm vị chính, thêm chín loại thảo dược nữa, chắc chắn bệnh nhân được cứu sống. Loại nấm này trước đây chỉ nghe bà ngoại kể lại chứ ngoại cũng chưa thấy bao giờ, may mắn H’Bla lại là người trong dòng họa lần đầu tiên hái được. 

Sáng hôm sau, khi ông mặt trời vừa leo lên khỏi ngọn núi Mẹ Bồng Con ngắm thảo nguyên; H’Bla ra lấy gùi để ở đầu sàn chuẩn bị lên rừng như mọi ngày thì sững lại, không tin ở mắt mình nữa; chiếc gùi tối hôm qua để không nơi đầu sàn giờ đây đầy ắp loại nấm quý hiếm mà hôm qua bà đi cả ngày chỉ hái được một cây. Thoáng cau mày rồi H’Bla bật cười vì đã đoán ra ai đã giúp mình, quay mặt nhìn lên cánh rừng trước mặt thấy bầy khỉ đang rối rít rung cây như một lời chào. Riêng con khỉ bị thương to nhất bầy, ngồi suy tư trên cành cây gần nhà nhất vẫn chăm chú nhìn H’Bla như bị thôi miên.

Cũng từ ngày ấy, mỗi lần bà H’Bla muốn hái loại lá thuốc gì thì chỉ cần đặt lên gùi chiếc lá cần hái để lên gùi đầu hồi nhà, ngày hôm sau sẽ có cả gùi đầy. Có đủ lá thuốc bà H’Bla chữa khỏi bệnh cho nhiều người trong vùng làm phúc, không bao giờ lấy công của ai dù chỉ là một đồng bạc, vì thế mọi người kính trọng xem bà như Yang.

Ngày bà tròn một trăm lẻ một mùa rẫy, cả khu rừng bỗng trở nên hỗn loạn, tiếng gầm rú của muông thú, tiếng kêu gào của lũ khỉ và trên mái nhà dài của bà H’Bla có đôi chim công trắng bay về đậu trên hai đầu hồi nhà kêu lên những tiếng ai oán. Người trong buôn thấy lạ, rủ nhau kéo đến nhà bà H’Bla thì thấy bà đã nằm như ngủ trên giường, hồn đã theo Yang(3). Người trong buôn và dòng họa làm lễ chôn cất cho bà đúng nghi thức trang trọng nhất. Hàng ngàn người trong vùng đã đến tiễn đưa bà về bến nước ông bà(4).

Sau ba ngày, ba đêm làm ma chay, cúng tế, chôn cất bà xong chiều hôm trước, sáng hôm sau người nhà ra thăm mộ bà đã hoảng hốt chạy về buôn thông báo điều lạ… Cả buôn kéo ra, nhiều người buôn xa kéo đến nhìn ngôi mộ bà H’Bla đều không cầm được nước mắt khi thấy dưới chân ngôi mộ: con khỉ đực to lớn đã chết từ lúc nảo lúc nào mà vẫn giữ nguyên tư thế ngồi ôm mặt nhìn về phía ngôi mộ; đôi chim công trắng đậu trên hai đầu nhà mồ đã chết, nhưng cánh vẫn xòe ra như muốn che chở cho ngôi mộ của bà H’Bla.

Người già bảo: lúc sống, bà H’Bla chuyên làm điều thiện, dùng thuốc cứu người và muông thú nên mới có phúc như thế. Để tỏ lòng tôn trọng với hai con vật đã chết vì tình cảm chân thành, người trong buôn chôn cất chúng bên cạnh ngôi mộ của bà H’Bla và chọn ba người thợ khéo tay nhất vùng tạc tượng chúng dựng trước ngôi mộ của bà. Có lẽ vì thế mà một số dân tộc ít người ở Tây Nguyên có tục lệ tạc tượng hình con khỉ ôm mặt, đôi chim công đứng canh trên các ngôi mộ người mới mất truyền đến ngày nay chăng!

 

 

Chú thích tiếng Êđê:

 

1.    Chư Yang Sin: Núi thần cọp;

2.    Yen: váy;

3.    Yang: thần linh;

4.    Bến nước ông bà: nơi ở của người chết;


Thứ Tư, 31 tháng 3, 2021

CHUYỆN LẠ BÊN SUỐI truyện ngắn của HỒNG CHIẾN - TẠP CHÍ VĂN NGHỆ PHÚ YÊN số 243 tháng 4 năm 2021

 



Nhân lúc trong buôn có nhà tổ chức lễ bỏ mả(1), người lớn lo đánh chiêng và uống rượu đúng ba ngày ba đêm, lũ trẻ tự do rong chơi không ai để ý tới. Hai bạn học cùng lớp 8A, người dân tộc Êđê rủ Vân đi “khám phá” rừng Yang(2) – khu rừng mà người trong vùng không dám bước chân tới. Hai bạn rủ Vân vì Vân là học sinh người Kinh duy nhất trong lớp, học giỏi, không kiêu ngạo, hòa đồng với bạn bè. Vân nhận lời đi theo bạn vì ở nhà một mình, mẹ đi phép ra Bắc thăm ông bà, bố lên thành phố tập huấn một tuần nên không ai quản; thế là cả ba lấy thuyền ngược sông vào khám phá rừng Yang.

Sau gần một ngày lạc trong rừng, chưa tìm được đường ra sông; Y Nhớ không may bị trăn quấn, cắn vào chân, suýt chết; giờ đau không thể đi được nữa, trời về chiều nên cả ba quyết định ngủ lại qua đêm trên một khúc suối cạn toàn cát trắng.

Phía dưới chỗ chọn ngủ lại cách khoàng năm chục mét, vách đá dựng đứng tạo thành thác đá cao tới bốn mét, chính giữa suối có một vũng nước không lớn lắm, nhưng mùa khô ở trong rừng có nước là may rồi.

H’Uyên – cô lớp trưởng có khuôn mặt trái xoan, đôi mắt thông minh, lúc nào cũng ra vẻ chỉ huy, xách gùi, vác xà gạc(3) đi xuống vũng nước rửa cá. Lúc chiều gặp vũng nước, cả ba bắt được hơn nửa xoong cá lóc đá, loại cá giống cá chuối nhưng con lớn nhất chỉ to hơn ngón tay cái, nhảy như ngóe. Vân đỡ Y Nhớ nằm xuống cát rồi đi theo giúp H’Uyên chuẩn bị bữa ăn tối. Thấy Vân cầm đinh ba đi xuống, H’Uyên vui vẻ bảo:

-Vân lấy xoong múc cho mình ít nước rửa cá.

-Xong ngay.

Vân cầm xoong đi lại vũng nước, cúi xuống định múc, H’Uyên vội kêu lên:

-Không lấy nước ở đó, múc trong hố kia kìa.

Theo tay H’Uyên chỉ, Vân bước lại bên chiếc hố mới được đào cách vũng nước khoảng hai bước chân, ngạc nhiên hỏi:

-H’Uyên mới đào hố này à?

-Ừ, nước ngoài vũng kia các loài thú lội xuống uống, rồi tắm nên bẩn lắm. Đào hố ra xa một chút chờ nước ngấm qua đất cát, lọc bớt chất bẩn đi, dùng đỡ lo bị đau bụng.

-Thông minh nhỉ.

-Thấy người lớn làm khi đi rừng, mình bắt chước thôi. Vân mang đinh ba xuống đây làm gì?

-Xem vũng nước có cá không, bắt thêm mấy con nướng ăn cho đã.

-Có biết bắt không đấy?

H’Uyên tay rửa mấy con cá lóc đá bắt khi đi đường, miệng hỏi; Vân không nói gì cầm đinh ba đi xăm quanh vũng nước, bất ngờ reo lên:

-Tóm được một con rồi!

-Con gì đấy?

-Từ từ sẽ biết.

Vân kéo lê cây đinh ba lên trên mặt cát. Một con cá trê đen thui chắc phải nặng đến cả ký bị mũi đinh cắm trúng đầu, đang cố gắng giãy giụa nhưng không thoát ra được. Đưa cá cho H’Uyên, Vân tự hào nói:

-Thấy tay nghề điêu luyện chưa, bắt thêm con nữa nhé.

-Tại con cá này xui mới bị Vân đâm trúng thôi.

H’Uyên mỉm cười trả lời như thách thức, Vân cự lại:

-A, xem thường nhau quá; hãy đợi đấy!

Nói xong, cầm cây đinh ba xăm tiếp; mới chọc đến lần thứ ba đã reo lên:

-Lại một con cá “xui” nữa nè H’Uyên!

Kéo con cá lên bờ, Vân cười tỏ vẻ đắc thắng. H’Uyên cũng vui vẻ chấp nhận:

-Biết Vân bắt cá giỏi rồi. Giờ bê dùm cá lóc đá lên bếp trước nhé.

-Tuân lệnh!

Những con cá lóc đá nhỏ như ngón tay, được rửa sạch, xếp vào thân cây le chẻ đôi, buộc lại. Vân hai tay cầm hai nắm que tre lớn mang đến bên đống lửa, đặt lên mấy cái lá cây dầu to hơn hai bàn tay xòe, H’Uyên mang trong rừng về lúc chiều rồi định quay xuống lấy cây đinh ba. Y Nhớ bảo:

-Hôm nay Vân làm thêm cả việc của mình nữa nhé.

-Yên tâm đi, Vân hôm nay khác Vân hôm qua rồi, không phải lo đâu.

Nói xong Vân vừa chạy, vừa nhảy qua mấy hòn đá xuống bên vũng nước, giúp H’Uyên mang tiếp cá lên nướng. H’Uyên làm thịt cá xong, rửa tay, chùi xoong định múc nước mang lên đun để uống. Vân bước lại nói:

-Để Vân bê xoong cho.

Miệng nói, tay giật chiếc xoong trên tay H’Uyên, không ngờ cái giật hơi mạnh làm đít xoong đập luôn vào cán cây đinh ba cắm bên cạnh nghe đến b… o… ong một cái. Tiếng kêu không lớn lắm, nhưng dưới lòng suối nên ngân lên như tiếng chiêng, vọng vào rừng.

-H…ù… m!

Tiếng gầm của con hổ bất ngờ vang lên, xé tan cảnh chiều tà, sát ngay cạnh hố nước. Vân giật mình cũng thét lên: “H… u… ầy!” rồi buông xoong ra, với tay giật luôn cây đinh ba giơ lên chuẩn bị nghênh chiến. H’Uyên thấy vậy buột miệng khen:

-Con hổ này chắc yếu bóng vía, gầm to vậy nhưng khi nhìn thấy Vân cầm cây đinh ba hùng dũng thế kia đã bỏ chạy mất rồi.

-Thật hả, cả ngày lạc trong khu rừng này, gặp hổ nhiều lần quá nên không còn thấy sợ nữa!

-Thú trong rừng loài nào cũng sợ người cả. Con trăn to như thế, quấn được Y Nhớ rồi mà vẫn phải bỏ chạy vì một ngọn lửa bé tý tẹo đốt vào bụng nó đấy thôi. 

H’Uyên đeo gùi, bê xoong nước đi trước; Vân cầm cây đinh ba và xà gạc đi sau, leo qua mấy hòn đá dựng đứng chắn lối, lên bếp lửa. Y Nhớ nghe tiếng hổ gầm cũng vội vàng ngồi bật dậy vớ cây lao dựng đứng lên, nhìn xuôi xuống lòng suối, khuôn mặt thoáng lo âu. Thấy hai bạn lên, mừng quá, hỏi:

-Lại gặp hổ à?

-Có thấy hổ đâu, chỉ nghe nó gầm sát bên cạnh thôi.

Vân trả lời. H’Uyên lấy ba hòn đá để bên đống than, đặt xoong lên xong xuôi mới nói:

-Chắc con hổ đi ra tìm nước uống bị Vân để xoong đụng vào cán đinh ba làm nó giật mình, gào lên rồi bỏ chạy luôn.

-Con hổ này chắc khát quá sao đi ra sớm vậy nhỉ?

Vân thắc mắc nói với hai bạn, Y Nhớ cười:

-Cũng có thể nó đói đang trên đường ra hố nước rình mồi, nghe tiếng xoong nên sợ hãi kêu lên rồi bỏ chạy cũng nên. Vân có sợ không?

-Vân tiến bộ nhiều lắm, không những không sợ mà còn định dùng đinh ba đánh nhau với hổ nữa đó.

H’Uyên trả lời, đôi mắt không giấu được nét vui làm Y Nhớ cũng vui lây, buột miệng khen:

-Vậy là Vân thành người Tây Nguyên thật rồi.

Vân cười trừ, đôi má của cậu bé mười ba tuổi ửng hồng. Màn đêm từ từ buông xuống, cảnh vật mờ dần rồi chìm vào bóng tối. Vân giúp H’Uyên nướng hai con cá trê xuyên cây qua miệng, đặt trên than hồng; mỡ cá nhỏ xuống thỉnh thoảng kêu lên thành tiếng “xèo”, mùi thơm ngào ngạt bay lên làm cái bụng đói réo ào ào. H’Uyên nhanh tay lật qua, lật lại hai hàng cá lóc đá gác lên hai hòn đá; da cá từ màu đen chuyển dần thành màu vàng, trông thật ngon mắt.

Xếp một dãy cá lóc đá nướng chín lên lá cây, H’Uyên nói:

-Y Nhớ có lại gần đống lửa được không?

-Để mình thử.

Y Nhớ chống cây lao xuống cát làm điểm tựa rồi đứng dậy, từ từ bước lại bên đống lửa, trả lời:

-H’Uyên tài thật, nhờ nắm lá rừng đắp lúc nảy giờ đỡ đau nhiều rồi.

Chỉ cho bạn ngồi xuống hòn đá cạnh đống lửa, H’Uyên lấy một con cá lóc đá vừa nướng chín đưa cho Y Nhớ, bảo:

-Y Nhớ ăn đi.

-Ừ, ngon quá.

Vân một tay trở cá trê trên bếp, một tay cầm con cá lóc đá đưa lên miệng cắn ngang. H’Uyên nhìn thấy, trêu:

-Ối, Vân tham ăn quá, xương con cá này cứng lắm; cắn dọc thân, ăn thịt thôi, còn xương phải bỏ đi.

-Ơ, Vân tưởng ăn cả xương luôn.

Nghe Vân nói, hai bạn bật cười.

*

**

 

Cá trê nướng chín được đặt trên chiếc lá dầu to, bên cạnh để lõi của cây móc được cắt dài như ngón tay, chẻ nhỏ. Lấy một chiếc lá lốt lớn, đặt một lát cây móc vào giữa lá, thêm một miếng thịt cá trê trắng, cuộn lại chấm muối giã với quả é rừng, đặt vào tay Y Nhớ, H’Uyên bảo:

-Ăn thử xem có ngon không nào!

-Nhìn đã thấy ngon rồi, để Vân thử một miếng.

Miệng nói, tay với lấy một tầu lá lốt định bốc lát cây móc đặt vào, không ngờ bị H’Uyên nhanh tay giữ lại.

-Từ từ, chưa đến lượt. Khi nãy ăn cá lóc đá cắn ngang cả xương chắc no rồi thì cần gì ăn cá trê nữa.

-Ô, Y Nhớ được ăn mà bắt Vân nhịn a, không công bằng rồi.

-Ăn cũng phải biết cách mới ngon, Vân đã ăn món cây móc lần nào chưa?

-Lần đầu tiên trong đời được nghe nói thì làm gì có mà ăn.

-Vậy phải xếp hàng chờ đợị.

Vừa nói, H’Uyên vừa lấy một chiếc lá lốt lớn, bỏ hai miếng cây móc vào rồi thêm một miếng cá trê to, cuốn tròn lại đặt vào tay Vân, bảo:

-Chấm ít muối thôi không cay nhé. Quả é rừng này to hơn bình thường, chắc cũng cay hơn nhiều lắm đấy.

-Yên tâm đi, mình ăn cay tốt mà.

Nói là làm, Vân chấm mạnh miếng cá vào chén muối rồi bỏ vào miệng nhai ngấu ngiến, miệng không ngớt khen:

-Ng… on, ng… on, ng… on!

Y Nhớ nhìn Vân ăn, bỗng bật cười thành tiếng; H’Uyên cũng không nhịn được cười khi thấy nước mắt Vân trào ra.

-Yang ạ, đã bảo chấm ít thôi mà.

-Ngon, ngon lắm, nhưng mà hơi… cay cay một tý.

-Vân cầm lấy, ăn ngay cho đỡ nóng miệng.

H’Uyên đưa cả một đoạn lõi cây móc cho Vân, Vân vội nhai ngấu nghiến; vừa nhai vừa khen:

-Cây này ngọt quá, đi trời nắng chỉ cần một miếng thôi khỏi cần nước.

-Vân vẫn chưa quên được cơn khát ban ngày à?

Y Nhớ hỏi, Vân vừa nhai vừa trả lời:

-Quên thế nào được, gần trọn ngày không có một hạt nước vào miệng; chỉ nghĩ đến thôi đã thấy sợ rồi!

-Ăn đi nào, Y Nhớ phải ăn nhiều cho hết đau chân. Cây này còn có chất giải độc tốt lắm đấy.

-Ơ, H’Uyên không ăn à?

-Thấy hai người ăn mình no rồi.

-Không, H’Uyên phải ăn đi mai lấy sức còn bơi thuyền về nhà. Giờ đến lượt mình trổ tài phục vụ hai bạn. Đưa lá cho mình.

Nói là làm, Vân bắt chước H’Uyên gói từng miếng thịt và cá kẹp thêm miếng cây móc vào lá lốt rồi cuộn lại đưa cho hai bạn. Bỏ vào miệng cắn một miếng cá Vân đưa, H’Uyên không giấu được niềm vui, nói:

-Không ngờ Vân cũng khéo tay thật đấy.

-Có tiến bộ!

Y Nhớ cũng buột miệng khen bạn. Vân đỏ mặt khi được hai bạn khen, khiêm tốn nói:

-Cô giáo chẳng từng dạy: “đi đoạn đàng, học một sàng khôn”; nay đi với hai người khôn những cả ngày thì mình cũng phải học hỏi được ít nhiều chứ.

Cả ba cười òa, tiếng cười trong trẻo vọng vào màn đêm xuyên dưới tán rừng tạo nên tiếng reo vui.

*

**

Cá lóc đá nhiều như vậy, lại thêm hai con cá trê to là thế, cuối cùng cũng được “thanh toán” xong. H’Uyên vơ hết lá cây, xương cá, đồ ăn thừa bỏ vào đống lửa đốt, khói bay lên mù mịt. Vân ngạc nhiên hỏi:

-Sao lại ném hết vào bếp đốt đi thế?

-Để lại cho lũ kiến kéo đến ăn à!

Y Nhớ trả lời, H’Uyên giải thích thêm:

-Mấy thứ xương xẩu này tanh nên lũ côn trùng nghe mùi sẽ kéo đến, gây phiền phức cho chúng ta khi ngủ. Đốt đi, bọn chúng sẽ không đến nữa.

-Đây cũng là kinh nghiệm đi rừng à?

-Ừ, tất cả đều là của người đi trước dạy người đi sau thôi mà. Y Nhớ ở đây, Vân đi với H’Uyên rửa chén và lấy thêm nước về đun, đổ vào bầu mai đi đường còn uống.

Nghe H’Uyên nói, Vân ngạc nhiên hỏi lại;

-Đi giờ á, bụng no quá rồi mà trời lại tối om thế này, leo lên đá lỡ té vỡ đầu mất.

-H’Uyên chuẩn bị bó đuốc kia kìa, châm lửa lên là thấy đường đi thôi mà.

-Ơ, H’Uyên tài thế, chuẩn bị từ lúc nào mà mình không biết.

-Đi thôi!

Vân cầm bó đuốc sáng rực đi trước, H’Uyên cầm xoong và chiếc chén đi sau. Đến gần vũng nước, Vân reo lên:

-Ôi, đẹp quá H’Uyên ơi!

-Gì thế?

-Cua núi, chúng mới đẹp làm sao, giống một rừng hoa quá, lại xem này.

Dưới ánh sáng lung linh của ngọn đuốc, bầy cua núi sặc sỡ với hai màu đỏ tươi như ớt chín và màu vàng cam đang bò lổn nhổn xung quanh vũng nước. Chẳng biết ban ngày chúng ở đâu mà đêm ra nhiều thế, cứ như đi dạ hội ấy. H’Uyên đặt chén xuống cát, khẽ rón rén đi lại mép nước bắt một con cua màu đỏ to như con cua đồng lớn vật ngửa ra xem, bật cười nói:

-Con đỏ là cua đực, chắc con màu vàng là cua cái.

-H’Uyên bắt con màu vàng xem nào, chưa hẳn vậy đâu.

Một con cua màu vàng được H’Uyên cầm lên, hai chiếc còng to như hai cái càng của con bọ cạp lớn nhá nhá định cắn. Xem xong, H’Uyên cười đắc thắng:

-Thế nào, chịu thua chưa?

-H’Uyên giỏi thật.

-Vân nhìn kìa.

H’Uyên nói như reo, chỉ tay xuống mặt nước. Vân nhìn theo tay bạn và giật mình khi nhận ra cá, có rất nhiều cá trê, con nào cũng to như hai con bị bắt lúc chiều, chúng xếp thành từng hàng, bơi sát nhau, nối đuôi nhau, nhìn như chúng… nhiều hơn cả nước. Vân như đỏ mặt nghĩ đến chuyện lúc chiều nói khi bắt cá; may mà H’Uyên không nhắc lại.

Tiếng chim ăn đêm và bản tình ca của lũ côn trùng bên bờ suối bất ngờ cất lên, hòa vào nhau như cùng hòa tấu nghe thật vui tai.

 

 Mùa mưa năm 2020

Chú thích tiếng Êđê:

 

1.    Lễ bỏ mả: Lễ cúng để vĩnh biệt người quá cố, không nhắc tới nữa;

2.    Yang: thần linh;

3.    Xà gạc: một loại dao dùng phát rẫy và đi rừng của người Êđê; 


Thứ Tư, 24 tháng 2, 2021

CHUYỆN GHI Ở EA YIÊNG bút ký của HỒNG CHIẾN - TẠP CHÍ VĂN HÓA CÁC DÂN TỘC 11+12 .2020

 


Đòan văn nghệ sỹ về Công an huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk đi thực tế sáng tác được Đại úy Đoàn Ngọc Duẫn - Đội Trưởng Đội An ninh cho biết: Tà đạo Hà Mòn xâm nhập và bùng phát ở xã Ea Yiêng năm 2012, lôi kéo một số đối tượng là đàn ông, người dân tộc Xê Đăng theo đạo thiên chúa, cải đạo, bỏ nhà vào rừng tu luyện. Tình cảnh con mất cha, vợ mất chồng, đêm về vắng tiếng đàn ông trong các ngôi nhà làm buôn làng quạnh hưu.

Hà Mòn là tên một xã thuộc huyện Đak Hà, tỉnh Kon Tum, từ năm 1999 Hà Mòn còn được biết đến nhiều hơn với một "hiện tượng tôn giáo mới" ra đời ở đây mà người ta gọi là “tà đạo Hà Mòn”. "Tà đạo Hà Mòn" ra đời do bà Y Gyin, sinh năm 1942 dân tộc Ba na Rơngao là tín đồ Công giáo nhưng làm nghề thầy cúng, phao tin: vào 12 giờ khuya ngày 20 tháng 12 năm 1999 mình nhìn thấy “Đức mẹ Maria hiện hình” trên nóc nhà. Lợi dụng tình hình đó một số người dân tộc thiểu số theo Công giáo ở Hà Mòn thêu dệt, phao tin cho rằng bà Y Gyin được Đức mẹ nhập vào để sáng lập ra một tôn giáo mới và tuyên truyền nội dung như: Ai theo Đức mẹ thì mọi nợ nần về vật chất và tinh thần đều được xóa, kể cả nợ ngân hàng; ốm đau không chữa cũng khỏi bệnh; người đã theo đạo thì không được bỏ, nếu bỏ đạo gia đình sẽ ly tán...

Bọn phản động Fulro lợi dụng tà đạo Hà Mòn, thâm nhập vào các buôn của người đồng bào bản địa Tây Nguyên, kích động, lôi kéo người dân gia nhập, gây nên tình trạng bất ổn cho xã hội. Trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, bọn chúng đã đến một số buôn người dân tộc Xê Đăng, thuộc xã Ea Yiêng, huyện Krông Pắc vận động người dân cải đạo làm xáo trộn cuộc sống thanh bình của người dân nơi đây.

Để trả lại cuộc sống thanh bình cho người dân nơi đây, Đảng, chính quyền, đoàn thể các cấp cùng lực lượng công an làm nòng cốt, không quản gian nan, vất vả, băng suối, trèo đèo đi vận động nhân dân sống chui lủi trong rừng trở về với cuộc sống bình thường. Sau nhiều ngày tuyên truyền, vận động, giải thích... chúng ta mới đưa được những người theo tà đạo lẩn trốn trong rừng trở về đoàn tụ với gia đình và vạch mặt những tên cầm đầu trước nhân dân.

Chuyện qua đã lâu, nhưng qua câu chuyện, tôi tò mò muốn biết những người theo “tà đạo Hà Mòn” vào rừng ngày ấy nay về tái hòa hợp cộng đồng có cuộc sống ra sao và cả những người vào rừng tìm người lẫn trốn đã làm thế nào để đưa họ về. Đề xuất và được Trung tá Nguyễn Thị Biên Hòa - Đội trưởng đội Tham mưu tổng hợp, Công an huyện Krông Pắc thu xếp đưa đoàn đến buôn Kon Wong, xã Ea Yiêng tìm hiểu thực tế.

Trời bất chợt đổ mưa ầm ầm, cây cối ngã nghiêng. Đường Quốc lộ 26 chạy qua trung tâm thị trấn Phước An nước chảy như suối vì thế cuộc hẹn đi lúc 14 giờ phải chậm lại gần một tiếng. Gần 15 giờ xe mới đến đón, đưa đi. Đại úy Nguyễn Đức Tú cán bộ Đội An ninh thông báo: “Đường xấu lắm, xã Ea Yiêng cách trung tâm huyện khoảng 25 km, các cô chú chuẩn bị tinh thần”.

Vừa đi hết địa phận thị trấn Phước An chúng tôi đã cảm nhận được con đường “xấu” cỡ nào. Trên mặt đường nhựa trước đây, bây giờ toàn những vũng nước lớn to như cái chiếu đôi, lái xe hình như đang biểu diễn... xiếc; hết qua phải lại qua trái tránh không lao xuống hố... Hai bên đường nhà cửa nối đuôi nhau chạy lùi lại phía sau. Nhà văn Bích Thiêm góp chuyện: “Đường hôm nay còn khó đi hơn đường hôm qua vào xã Vụ Bổn.” “Đúng đấy cô, đường này xe chở gạch, chở cát chạy nhiều nên nó mới vậy” - đồng chí lái xe trả lời.

Bất ngờ hai bên đường xuất hiện những cánh đồng lúa trải dài, rồi những lò gạch hình như xếp hàng hai bên đường, kéo dài đến hơn km, tôi nói: “Đất làm được gạch thế này chắc ngoài cây lúa ra, không trồng cây gì tốt cả”. “Đất trên đồi tốt lắm chú, có vùng còn trồng được cà phê, tiêu nữa đấy”; Đại úy Tú trả lời tôi rồi nói thêm: ở vùng này, chỗ nào trồng được cà phê, tiêu… thì dân có thể vươn lên làm giàu và hiện nay trên nền đất ấy người ta còn trồng xen sầu riêng, bơ... thu thêm tiền tỷ mỗi ha một năm.

Sau gần một tiếng đánh vật với con đường, chúng tôi cũng đến được trụ sở xã Ea Yiêng. Tiếp đoàn có ông chủ tịch Ủy ban nhân dân xã và một người đàn ông đậm người, khuôn mặt chất phác, đúng mẫu người nông dân đồng bằng sông Hồng. Chủ tịch xã giới thiệu: “Anh Trần Văn Long, Trưởng Công an xã, vừa mới được Hội đồng nhân dân xã bầu giữ chức Chủ tịch Hội đồng nhân dân xã”. Qua tâm sự anh Trần Văn Long cho biết: từ năm 2006 làm công an viên, được tổ chức tín nhiệm cử giữ chức Phó công an xã, rồi Trưởng Công an xã đến nay; anh tâm sự:

Từ cuối năm 2006, một số giáo dân người Xê Đăng sinh sống trên địa bàn xã, tụ tập nghe giảng “tà đạo Hà Mòn”, Công an xã đã báo cáo lên Công an huyện. Người dân thật thà, chất phác nên cả tin vào lời giảng “đạo” ngon ngọt của bọn xấu: theo tà đạo Hà Mòn thì “mọi nợ nần về vật chất và tinh thần đều được xóa, kể cả nợ ngân hàng; ốm đau không chữa cũng khỏi bệnh, chết được lên thiên đàng”. Thế là hàng trăm đàn ông bỏ nhà vào rừng tu luyện, làm xáo trộn cuộc sống thường ngày của người dân. Sự thâm độc của tà đạo Hà Mòn: chỉ vận động đàn ông - lực lượng chính lao động sản xuất vào sống trong rừng, cam chịu “hành xác” như Chúa Giê Su chịu cực hình đóng đinh vào cây thánh giá.

Trước tình hình ấy, Đảng, chính quyền, đoàn thể tổ chức thành từng đoàn xuống các hộ gia đình vận động họ vào rừng kêu gọi chồng, con trở về. Công an xã phối hợp với Phòng An ninh dân tộc, Công an tỉnh; Công an huyện vào rừng vận động. Trong những ngày tháng đó quả thật khó khăn vất vã không thể kể hết. Đại úy Nguyễn Đức Tú kể: Ta tổ chức thành từng đội có Công an, già làng, buôn trưởng vào rừng để vận động họ về. Nhưng núi cao, họ tổ chức canh gác, ta mới đi đến chân núi, ở trên triềng núi nhìn thấy đã chỉ điểm để chúng chạy đi hết, không sao tiếp cận được nên sau này ta phải tổ chức đi đêm; những chuyến đi ấy...

Gần ba giờ sáng, ngữa mặt nhìn lên mới thấy núi Cư Păm cao vút, có ba đỉnh kéo dài in mờ mờ lên bầu trời. Đội công tác do anh Trần Văn Long dẫn đường cùng với các đồng đội của mình lặng lẽ lên đường, điểm đến là bóng của một cây Kơ Nia nổi bật trên triền núi. Người đi sau cố gắng căng mắt nhìn người đi trước cho khỏi lạc. Rừng già, những cây cổ thụ chằng chịt giây leo làm người đi đêm như lạc vào rừng ma, thỉnh thoảng có người đâm đầu vào gốc cây, lại có người “vồ ếch” vì vướng dây; họ cứ mò mẫm như vậy tiến dần lên điểm đã định trên sườn núi. Đêm tạnh ráo còn đỡ, gặp hôm mưa, nước luồn qua cổ áo; nước chui qua tay áo, nước dội vào ống chân; giày, tất ướt sũng; người trước trượt, người sau ngã có khi chồng chéo lên nhau. Nhưng mọi người trong đoàn vẫn cố chịu đựng để đi vì biết trước mặt họ, những người dân lương thiện bị dụ dỗ vào sống trong rừng, chịu rét mướt, đói, khát… đang cần được nghe lời nói phải để thức tỉnh lương tâm trở về với gia đình.

Mỗi chuyến đi như thế thường phải một đêm một ngày nếu không gặp đối tượng thì quay về nghỉ một ngày để đêm mai đi tiếp. Cũng may, rừng nơi đây không có rắn độc nên suốt mấy tháng trời quân ta đi gần như in dấu giày khắp mọi nơi mà không ai bị rắn cắn. Nhưng trong rừng không có rắn lại có vô số muỗi độc, rất nhiều cán bộ chiến sỹ của ta bị sốt rét, đau ốm. Bản thân anh Trần Văn Long cũng bị sốt rét quật ngã; anh em phải cõng về, dứt cơn sốt lại xung phong đi tiếp vì... quen địa hình. Cứ như thế, ngày nối ngày, đêm nối đêm, các anh đợi đến khoảng năm giờ sáng hay mười sáu giờ chiều, những người theo tà đạo Hà Mòn tụ tập năm hoặc sáu người lại đọc kinh. Lần theo tiếng đọc kinh ấy, ta bí mật bao vây rồi giữ họ lại để khuyên nhủ, giải thích, động viên... bằng chính tình cảm chân thành, những người Công an đã giúp họ tỉnh ngộ, theo về đoàn tụ với gia đình. Trong những chuyến đi đêm như thế, có lần đang đi bất chợt nghe tiếng người rên bên một gốc chuối rừng. Khi mọi người lặng lẽ đến nơi, bật đèn lên đều không thể tin ở mắt mình: người đàn ông chỉ có một mảnh ni lông quấn quanh chân, toàn thân ướt sũng, nằm trên nền đất đang vật vã vì lên cơn sốt; mọi người phải thay nhau cõng về trạm y tế, cấp cứu kịp thời, thoát chết.

Anh Trần Văn Long dẫn tôi đến thăm nhà anh Lợi, người dân tộc Xê Đăng, buôn Kon Wong. Ngôi nhà cấp bốn lợp tôn, thưng ván được bao quanh bằng rào sắt, cổng sắt như bờ rào của một ngôi biệt thự trên phố. Anh Lợi khoảng hơn bốn mươi tuổi, trông dáng nhanh nhẹn, khỏe mạnh. Nay đã có năm người con, đứa lớn mới học lớp mười, đứa bé hơn một tuổi. Anh Lợi cho biết: “Mình nghe người ta rủ rê vào rừng tu luyện để chết được lên thiên đàng sung sướng. Vào rừng cực lắm, nhưng đã theo rồi nên không dám về vì sợ Công an bắt. Sau này gặp Công an và cán bộ, nghe giải thích mình mới an tâm trở về. Nhờ Công an mà mình mới có ngày hôm nay đấy. Hết đói rồi, nhưng còn nghèo. Thu nhập mỗi năm được chừng hai tấn lúa, một tấn cà phê”. Tôi hỏi: “Sau khi về có bị Công an gây khó dễ không? Nhà nước có hỗ trợ gì không?” Anh Lợi trả lời: “Mình trốn vào rừng sáu tháng, sau được cán bộ đưa về, thỉnh thoảng các anh ấy đến thăm, động viên. Ngân hàng cho vay mười lăm triệu đồng để mua bò, giờ đã có bò con rồi đấy”. Nói đến đây, anh Lợi nở một nụ cười mãn nguyện. Nhà văn Bích Thiêm hỏi thêm: “Máy cày anh mua lâu chưa?” “Mình mới mua năm ngoái đó!”

Nhìn căn nhà chưa khang trang, nhưng đầy đủ tiện nghi: ti vi, xe máy, máy cày... và khuôn mặt rạng rỡ của gia chủ, tôi thấy mừng cho anh Lợi nói riêng và người dân nơi đây nói chung; họ bị kẻ xấu lừa phỉnh theo tà đạo Hà Mòn, bỏ nhà cửa, vợ con trốn vào rừng “tu luyện” ăn đói mặc rách, chịu bao nhiêu khổ cực; khi tỉnh ngộ, quay về chí thú làm ăn, vợ chồng sum họp lại có thêm con, kinh tế tạm ổn. Giờ đây, họ biết ơn Đảng, biết ơn chính quyền và đặc biệt những người Công an đã cho họ trở lại làm người nên một lòng tin vào chế độ thực hiện tốt các quy định của nhà nước và địa phương.

Tạm biệt anh Lợi, chúng tôi đến thăm buôn Trưởng Phùng. Ông vừa đi làm về, khuôn mặt hồ hởi, trên môi nở nụ cười rất tươi, mời chúng tôi vào nhà, bật điện, bật quạt, pha trà mời khách. Khi biết chúng tôi đến tìm hiểu về những người theo tà đạo trốn vào rừng ngày trước, buôn Trưởng nói: “Cái thời lũ đàn ông theo tà đạo Hà Mòn trốn vào rừng, mình cũng phải bỏ cả việc nhà, theo cán bộ, Công an vào rừng vận động chúng về. Gặp được bọn chúng, mình bảo: “Có nhà không ở lại vào rừng nhịn đói; ruộng rẫy không ai làm, vợ con lấy gì ăn. Tối chúng mày ngủ trong rừng có nhớ vợ ở nhà nằm một mình không?” Mình bảo chúng: “về nhà đi, Công an không bắt đâu. Công an thương chúng mày mới lặn lội ngày đêm vào rừng gọi chúng mày về đấy, về cho con vợ mày nó mừng, có người ôm nhau ngủ cho đỡ lạnh”. Tôi nói thế, chúng nó nghe ra, rủ nhau về gần hết rồi. Đến nay, cả buôn chỉ còn bốn đứa nữa mất tích, không biết sống chết ở đâu, không liên lạc được”.

Tạm biệt buôn Trưởng Phùng, chúng tôi quay về phố huyện Phước An. Đường trong buôn đã bê tông hóa, ngôi nhà rông cao vút đứng giữa buôn đã nhuốm màu thời gian. Mấy người già ngồi bên cửa sổ nhà rông nhìn xe chúng tôi chạy qua, ánh mắt không giấu được niềm vui; dưới sân lũ trẻ địu theo em trên lưng đang nô đùa, thấy xe chúng tôi chạy qua giơ tay vẫy vẫy.

Một mùa xuân tươi đẹp nữa lại đến, buôn Kon Wong thanh bình, đầm ấm dù vẫn còn hộ nghèo nhưng khác xa một thời lạnh giá vì vắng bóng đàn ông theo tà đạo Hà Mòn lẫn trốn trong rừng. Cuộc sống được như hôm nay là nhờ có công đóng góp không nhỏ của các đồng chí Công an, như các anh Đại úy Đoàn Ngọc Duẫn, Đại úy Nguyễn Đức Tú, hay Trưởng Công an xã Trần Văn Long và bao nhiêu đồng đội khác nữa, không sợ gian khổ, nguy hiểm đi vào rừng sâu núi thẳm giữa đêm hôm khuya khoắt, mưa gió để đưa dân về sum họp với gia đình; đập tan âm mưu phá hoại của bọn phản động Fulro; điều đó khẳng định bản lĩnh, nhân văn, vì nhân dân phục vụ của người Công an nhân dân nơi đây.


Thứ Hai, 8 tháng 2, 2021

TÙ TRƯỞNG Y BLUM truyện ngắn của HỒNG CHIẾN - TẠP CHÍ NÂM NUNG SỐ XUÂN TÂN SỬU 2021

 


Dưới chân núi Cha có một khu rừng cọ, nhìn xa trông giống như những cây nấm khổng lồ. Cọ ở đây cao đến hơn chục sải tay người lớn, các cây cách đều nhau chừng hai sải tay như được người trồng. Lau lách, dây leo mọc xanh rì, chen nhau bám vào gốc cọ cao ngang đầu người. Mùa quả chín, lũ chim gầm gì(1) to như con gà mái mẹ, rủ nhau bay từng đàn hàng ngàn con về ăn quả; vừa ăn, chúng vừa tíu tít trò chuyện ồn ào như họp chợ. Không biết quả cọ chín ngon lành thế nào mà lũ khỉ lông vàng lớn như em bé ba tuổi, đuôi ngắn tý tẹo cũng kéo nhau cả bầy đến tranh phần với lũ chim. Chúng ôm cây leo lên thoăn thoắt rồi cứ thế nhảy từ cây này qua cây kia như làm xiếc để chọn quả chín.

          Bọn trẻ buôn Ea Kram cũng thích lùa trâu bò vào rừng cọ thả cho ăn, rồi xúm lại bày trò chơi, chờ đến chiều thổi tù và gọi về. Hôm nay cũng vậy, Y Blun cỡi kbao ana ju(2) dẫn đầu đám bạn lùa đàn trâu bò vào rừng cọ. A xâu(3) - quà của bà ngoại tặng Y Blun ngày tròn mười hai mùa rẫy(4), lông màu vàng như củ nghệ, lớn hơn bắp đùi một tý, lon ton chạy trước dẫn đường. Đến bìa rừng, lũ trâu bò tản ra, tìm vào các gốc cọ kiếm ăn. Bọn trẻ quây tròn lại chia làm bốn nhóm thi nhau dựng nhà dài. 

          Những tàu lá cọ khô, rụng xuống dài bằng sải tay, cuống lá đầy gai nhọn được lũ trẻ nhặt về. Con trai bẻ gai, xếp các cuống lá lại làm cột, kèo… bọn con gái kiếm thêm dây và cây nhỏ về lát sàn. Cuộc thi vào lúc hào hứng, khi các ngôi nhà dài xinh xinh thành hình thì…

          -Gâu, gâu, gâu…

          Tiếng a xâu bất ngờ vang lên trong rừng, lũ trẻ không ai bảo ai, bỏ luôn cuộc thi làm nhà, nhằm hướng tiếng chó sủa lao tới; kinh nghiệm đi rừng cho chúng biết chắc chắn có con thú nào đó bị a xâu phát hiện. Y Blun nhanh chân chạy trước, theo lối mòn trâu đi chỉ một đoạn đã thấy a xâu đang chúi mũi vào một cửa hang mới đào, mồm sủa, chân bới đất văng tung túe.

Ôm a xâu vào lòng, Y Blun reo lên:

          -Hang nhím, chúng mày đi xung quanh tìm xem có cửa hang nào nữa không?

          Lũ bạn tản ra xung quanh đống mối to như gian nhà, cao ngang đầu người. Bỗng Y Biêng reo lên:

          -Đây có một cửa.

          -Đây cũng có nữa nè.

          Y Hiên bằng tuổi với Y Blun, mặt dài, mắt hiếng cũng vui vẻ reo lên ở phía đối diện.

          Y Blun hai tay ôm a xâu không giám bỏ ra, miệng kêu to:

          -Xem phía bên trái có hang nào nữa không. Chúng mày bẻ lá nhét vào cửa hang cho nó không chạy ra ngoài được nhé.

          Lũ trẻ hăng hái làm việc, đống mối tuy lớn nhưng chỉ có cây con và dây nhỏ bao bọc nên chẳng mấy chốc bị vặt trụi, để lộ ra cửa hang đầu người chui lọt. Chờ che kín hai miệng hang, Y Blun mới buông a xâu ra. Như được lệnh, a xâu chui luôn vào trong hang, sủa ầm ĩ. Bọn trẻ vỗ tay hò reo, có đứa khoái chí còn đập tay xuống đất gần miệng hang kêu: bộp, bộp. Hình như biết có người cổ vũ, a xâu sủa hăng hơn rồi bỗng nhiên đổi giọng, từ: gâu, gâu, gâu… sang: g… àu,  g… àu,  g… àu. Y Biêng reo lên:

          -A xâu cắn nhau với nhím rồi; đó, đó, tiếng ấy là tiếng nhai đấy, trưa nay có thịt nhím ăn rồi.

          Mới hơn mười ba mùa rẫy một chút, nhưng Y Biêng cao hơn đám bạn nửa cái đầu, mắt xếch, tay dài như tay vượn, khi cười khoe bộ răng vàng khè; khoái chí nhảy tưng tưng. Cả đám trẻ vui vẻ hò hét to hơn.

          Bỗng a xâu đổi giọng, kêu: ẳng, ẳng ẳng… Y Hiên nói:

          -Ô, con nhím cắn a xâu bị thương rồi.

          -Nhím làm sao có thể cắn a xâu được, răng nó chỉ để ăn rễ cây thôi.

          Y Biêng không đồng ý, phản đối. H’Blak khuôn mặt tròn, tóc xanh đen, cong tự nhiên như sóng lượn mặt hồ chiều mùa khô, xỏa xuống ngang vai, nói:

          -Con nhím không cắn được a xâu, nhưng lông nó đâm vào thì đau lắm.

          -Làm sao cứu a xâu đây?

          Y Hiên lo lắng nói. Y Blun thoáng cau mày, đôi mắt ánh lên tia sáng, vầng trán cao hơi dô có thêm nếp nhăn như suy nghĩ hung lắm; trả lời:

          -Nếu a xâu bị đau nó sẽ chui ra thôi, không mắc trong hang đâu. Chắc con nhím này lớn, mới ở núi cao về có kinh nghiệm đánh nhau đấy.

          Y Blun vừa dứt lời, a xâu từ trong hang đi lùi ra; cái đuôi ra trước, đến mông, vai, cuối cùng là đầu rồi miệng. H’Blak kêu lên:

          -Ôi nó bị nhím đánh rồi, nhiều lông cắm vào mồm, vào vai quá.

          Y Blun ôm a xâu, từ từ rút từng chiếc lông nhím ra làm máu chảy ướt cả lông. Tuy bị đau, nhưng a xâu vẫn gầm gừ định lao vào hang nhím lần nữa. H’Blak không biết đi đâu hái được nắm lá, bỏ vào miệng nhai rồi nhả ra bàn tay đưa cho Y Blun, bảo:

          -Xát vào các chỗ lông nhím đâm vào, nó sẽ đỡ đau, hết chảy máu.

          Y Blun làm theo rồi nói:

          -Phải báo thù cho a xâu thôi.

          -Đúng rồi, ta chất củi ở cửa hang, châm lửa đốt; chắc chắn hắn sẽ bị nóng, bị khói mà chết ngạt.

          -Y Biêng chỉ được cái dài người, nhưng đầu lại nhỏ, tính như thế sao được. Hang ở sâu dưới đất, nóng sao xuống được dưới đó.

          -H’Blak nói có ý đúng đấy, hay ta đào từ cả ba cửa hang xuống bắt sống nó luôn.

          Nghe Y Hiên nói, cả đám trẻ cãi nhau om xòm, đứa đồng ý, đứa phản đối; không đứa nào chịu đứa nào. Y Blun bảo:

          -Thôi không cãi nhau nữa. Đống mối to như thế này ta lấy gì đào, đào mấy ngày mới đến chỗ con nhím? Tao có cách này: Y Hiên và Y San ra cửa hang đối diện, Y Biêng và Y Miết qua cửa hang bên trái, móc hết lá ra mở đường cho nhím chạy. Mỗi đứa chuẩn bị sẵn một khúc cây, đứng cách miệng hang một bước chân. Khi nào nhím chạy ra thì Y Hiên và Y Biêng đánh trước, Y San và Y Miết đánh sau. Nhớ là nhằm đầu nó mà đánh, nhưng chúng mày đừng đánh vào nhau nhé. Còn H’Blak và lũ con gái bẻ cây dài hơn sải tay, đầu cành để chùm lá rồi luồn xuống hang; thay nhau đẩy vào, kéo ra làm con nhím sợ sẽ bỏ chạy ra ngoài.

          Lũ trẻ vỗ tay hoan hô, tán đồng kế hoạch bắt nhím rồi tản ra đi làm. Khi tất cả đã chuẩn bị xong, Y Blun ra lệnh:

          - H’Blak làm đi. Bọn con gái lại đây vỗ tay, đập đất cho nó sợ. Còn mấy đứa bên kia im lặng, chú ý nhìn cửa hang đấy.

          Trò chơi của lũ trẻ bắt đầu:

          -A… hầy, a… hầy, a… hầy!

          Cùng với tiếng reo là tay, chân đập vào cửa hang, nơi H’Blak ngồi bệt xuống đất ra sức thọc cây vào hang khua khoắng. Bỗng nhiên Y Biêng hét lên:

          -Đánh!

          Bịch, bịch; hai tiếng động vang lên, tiếng Y Miết quát:

          -Sao mày đánh vào cây của tao?

          -Cái trước tao đánh trúng lưng nhím, cái thứ hai vung lên định đánh bồi thì đụng cây của mày cản tao chứ.

          -Nó có chết không?

          H’Blak ngừng tay hỏi với sang. Y Miết trả lời:

          -Nó chạy mất tiêu rồi.

          -Nó, nó, nó chạy chạy ra kìa, đánh đi, đánh đi.

          Y Hiên kêu líu cả giọng, lao lại định đánh thì đôi nhím đã chạy khuất sau gốc cọ. A xâu giật mạnh, thoát khỏi tay chủ, lao theo lũ nhím, miệng sủa lên inh ỏi: gâu, gâu, gâu…

          -Sao Y Hiên, Y San không đánh?

          Nghe H’Blak hỏi, cả hai cúi gằm mặt xuống, khuôn mặt nhìn thật tội. Y Blun bật cười, rồi bảo:

          -Hai đứa chúng mày thấy Y Biêng đánh nhím nên chạy qua đánh hôi bỏ cửa hang bên này cho con nhím còn lại trong hang chạy ra, thoát vào rừng phải không?

          -Đúng thế, mà nó chạy hai con luôn, con nào cũng to bự cả.

          -Tao dặn trước, hai đứa một cửa, đứa đánh trước, đứa đánh sau thế mà còn tranh phần, đánh cả vào nhau thì… giờ tính sao?

Y San cúi đầu nhìn xuống chân, trả lời như đang ngậm quả me trong miệng:

-Tao thấy hai đứa chúng nó đánh không được, nhím chạy đi nên chạy lại đánh giúp. Đâu biết trong hang còn tới hai con to như thế.

-Tại Y Biêng đánh vào cây của tao, chứ không tao đánh trúng đầu nhím rồi.

 Nghe Y San phụng phịu trả lời, cả bọn được dịp cười ngã nghiêng. Y Blun cười xong rồi nói:

-Hôm nay đánh cảnh cáo, vì nó giám bắn lông làm a xâu chảy máu; còn chúng ta không có dao hay mác mà sức lại yếu làm sao bắt được nó. Đúng vậy không.

          Cả bọn bật cười vui vẻ. Mấy đứa con trai tranh nhau tả lại con nhím mà mình vừa thấy: đầu nhỏ, mõm nhọn như mõm chuột; lông xù lên, dựng đứng như chông, nửa đen nửa trắng trông đẹp lắm. Nghe chúng tả cứ như lần đầu thấy nhím không bằng.

          A xâu đuổi theo nhím, lúc đầu nghe tiếng sủa còn rõ, sau nhỏ dần, nhỏ dần rồi im. Chắc con nhím đã chạy xa nên nó không đuổi nữa, đang trên đường quay lại – Y Blun nghĩ vậy. Cả bọn kéo nhau ra bìa rừng chuẩn bị ăn trưa. Lũ con gái đứa nào cũng có cái gùi nho nhỏ trên lưng. Trong gùi đựng đồ ăn được amí(5) chuẩn bị từ sáng và quả bầu khô đựng nước uống. Lũ con trai quen đi tay không, sáng ra đã gửi đồ ăn cho bạn gái gùi hộ.

          Trãi lá cọ xuống đất làm bàn, lấy đồ ăn trong gùi bày lên lá, H’Blak nói:

          -Hôm nay ta ăn mừng đám đàn ông giỏi, đuổi được nhím chạy khỏi hang vào rừng.

          Mấy đứa con trai nhìn nhau, hình như mặt có đỏ lên một chút.

          -Ă… ng, ẳ… ng, ẳ… ng…

          Bất ngờ tiếng con vàng đau đớn kêu lên, vọng ra từ trong rừng cọ nghe thảm thiết vô cùng. Lũ trâu bò hoảng hốt kéo nhau chạy về buôn như bị cọp đuổi, đuôi thẳng đứng giống ngọn lau khô. Y Blum kêu lên:

          -Có con gì bắt a xâu rồi, bọn con gái ở lại đây, lũ con trai theo tao.

          Nói dứt lời, Y Blum nhắm tiếng chó đang kêu lao đi, bốn đứa bạn trai huỳnh huỵch chạy theo. Lá lau, lách quất vào mặt rát bỏng; giây leo thỉnh thoảng vướng vào chân làm lũ trẻ có đứa ngã uỵch xuống đất rồi lại vội vã chồm lên, chạy về phía tiếng chó kêu như bị cắt tiết.

Chạy lại gần chỗ a xâu kêu, Y Blun không thể tin những gì mình đang thấy: Con trăn to như bắp đùi người lớn quấn kín mít a xâu vào giữa, chỉ còn thò một cái mõm ra ngoài. Kbao ana ju lao đến dùng sừng hất cả con trăn và a xâu lên cao. Con trăn rơi xuống đất, há miệng đỏ lòm, to hơn hai bàn tay xòe, cắn một cái lên sống mũi trâu. Trâu lắc mạnh đầu cho trăn văng ra, rồi lùi lại phía sau một chút; mắt đỏ rực như muốn bật ra ngoài. Đứng  nhìn một tý, nó lại lao vào, húc mạnh, hất cả trăn và a xâu lên cao.

          -Lại nắm đuôi trăn kéo mạnh ra cứu a xâu.

          Y Blun thét lên, chạy lại nắm đuôi con trăn giật mạnh. Cả năm đứa trẻ xúm lại cùng nắm đuôi trăn kéo, nhưng không ăn nhằm gì. Khi trăn uốn mình, quật đuôi làm cả bọn ngã lăn quay ra đất. Con trăn ngửng cổ cao hơn mặt đất cả mét, rít lên the thé, nghe chói tai; chiếc lưỡi dài thò ra, thụt vào như muốn nuốt cả người. Mấy đứa trẻ vừa lồm cồm bò dậy; kbao ana ju lại lao đến dùng sừng hất bổng con trăn lên cao rồi lùi lại phía sau. Con trăn rơi xuống đất, nhưng vẫn quấn chặt a xâu không chịu thả, cái miệng đỏ lòm, đầy răng nhọn há to, đưa qua, đưa lại như đe dọa đối thủ.

          Y Blun kêu lên:

          -Tao có cách trị nó rồi.

          Nói dứt lời, vơ luôn một tàu cọ mới rụng xuống, lao một cái thật mạng vào mồm con trăn đang há ra. Con trăn đớp ngay đầu tầu cọ đầy gai nhọn ngậm lại. Y Blun chạy đến nắm lá cọ giật mạnh. Chắc trăn bị đau, phải há mồm nhả tàu lá cọ ra làm Y Blun ngã ngồi xuống đất, mấy đứa bạn lao đến nắm tay kéo ra xa con trăn. Mồm trăn tóe máu, nó vội hạ đầu sát đất, từ từ bỏ a xâu ra, trường đi. Kbao ana ju tức giận lao đến, dùng đầu húc vào mình con trăn, đẩy đi một đoạn xa. Con trăn không quay đầu cắn trả như mọi lần mà cố trườn lại bên gốc cây cọ, leo lên.  

           Thật không thể tin nổi, con trăn không có tay, không có chân, thế mà leo lên cây cọ thẳng đứng, trơn trượt như có phép màu. Chỉ một lát sau nó đã nằm gọn trên ngọn cây cọ; đứng dưới đất nhìn lên thấy giống như được ai đó quấn vào ngọn cây một chiếc khăn choàng lớn dát vàng, óng ánh dưới ánh nắng mặt trời.

          A xâu rên ư ử rồi từ từ đứng dậy, dụi đầu vào chân Y Blun. Kbao ana ju cũng ngững đầu nhìn lên ngọn cây cọ, trên sống mũi vẫn còn dính hơn chục chiếc răng trăn cắn vào. Y Blun bước lại bên kbao ana ju, với tay vít sừng nó xuống, vỗ vỗ lên đầu rồi nhẹ nhàng gỡ từng chiếc răng trăn trắng hếu ra khỏi da, miệng thủ thỉ:

          -Mày giỏi lắm, can đảm lắm!

          Mấy đứa bạn đứng bên cạnh cũng nức nở khen kbao ana ju can đảm. Y Biêng nói:

          -Y Blun lùn, nhưng có cái đầu thông minh lại can đảm; từ nay bọn ta cho hắn làm Tù trưởng(6) nhé, đồng ý không.

          Mấy đứa cùng giơ hai tay lên trời, gào to: Đồng ý!

 

Hòa Khánh, tháng 12 năm 2020

  Chú thích tiếng Êđê:

1.    Chim gầm gì:

2.    Kbao ana ju: trâu cái tên ju;

3.    A xâu: con chó;

4.    Mười hai mùa rẫy:cách tính tuổi của người Ê đê, một mùa rẫy là một tuổi.

5.    Amí:má;

6.    Tù trưởng: là người đứng đầu hay thủ lĩnh của một bộ lạc;