Thứ Sáu, 11 tháng 2, 2022

ĐẶC SẢN RỪNG truyện ngắn của HỒNG CHIẾN - BÁO HẢI PHÒNG ĐIỆN TỬ RA NGÀY 25.01.2022


 

Sau sáng tháng mùa mưa, cây cối xanh mượt mà. Khi mùa khô đến, chúng bừng lên như khoe với đất trời sức sống mãnh liệt của mình để đón đợi thử thách sáu tháng tràn đấy nắng gió. H’Uyên rủ hai bạn thân cùng học lớp chín với mình vào vào rừng chơi vì đang nghỉ Tết chưa phải đi học. Bất chợt tiếng một chú gà rừng vang lên gần lối đi, H’Uyên đi sau cùng lên tiếng:

-Gà gáy báo trời sắp tối rồi đấy.

-Tại cây nhiều cành lá quá nên ta không thấy mặt trời, chắc còn sớm mà.

Vân trả lời, Y Nhớ không nói gì vẫn lầm lũi bước rồi bất chợt dừng lại, kêu lên:

-Ơ, ta lạc đường rồi!

-Lạc thế nào được, ta vẫn đi đúng con đường mòn buổi sáng vào đấy thôi.

Vân ngạc nhiên cãi lại, H’Uyên bước lên hỏi:

-Sao vậy?

-Con rắn!

-Lại gặp rắn nữa à, đuổi cho nó chạy rồi đi tiếp.

Vân góp ý, Y Nhớ trả lời:

-Không, chỗ gặp con rắn lúc chiều đây này.

Vân và H’Uyên vội bước lên, nhìn phía trước mặt thấy đúng là bụi cây có dây khoai mài, chỗ con rắn lúc chiều chui vào.

-Sắp tối rồi, đêm nay ta ngủ lại đây thôi.

Nghe H’Uyên nói vậy, Y Nhớ gật đầu đồng ý ngay và chỉ tay về phía gốc cây hương to đùng, có hai cái rễ lớn nổi lên hai bên tạo ra một khoảng đất trống, ngay bên lối mòn bảo:

-Lại đó ta làm chỗ ngủ qua đêm được đấy.

H’Uyên gật đầu đồng ý, rồi phân công luôn:

-Mình chặt củi về đốt để sưởi ấm và bẻ lá cây làm nệm để ngủ qua đêm. Y Nhớ tìm cách đào khoai mài ăn bữa tối. Vân đi rừng xa chắc mệt rồi, ngồi nghỉ cho lại sức.

Để gùi dựa vào gốc cây, H’Uyên nhanh nhẹn đi bẻ lá. Vân ngồi lên rễ cây, duỗi thẳng hai chân, đầu thầm nghĩ: người bạn gái Êđê mới mười bốn tuổi, có khuôn mặt trái xoan, tóc quăn tự nhiên dài quá lưng, trông như làn nước suối chảy mùa khô; người cao, hơi gầy nhưng được trời cho nước da nâu đen, làm tôn thêm vẻ đẹp sắc sảo của người con gái Tây Nguyên. Còn Y Nhớ, bạn trai cùng tuổi, tay chân rắn chắc như thanh niên, lao động thì khỏi nói; có lẽ vì thế cô chủ nhiệm mới giao cho làm lớp phó phụ trách lao động. Thích nhất tính cách các bạn: luôn thẳng thắn, thực lòng với bạn bè, nghĩ sao nói vậy; cả ba thân với nhau hơn các bạn khác trong lớp là vì thế.

Y Nhớ chạy vào rừng một lúc quay lại vác trên vai một cây tre to bằng cổ chân, dài hơn hai mét; dùng xà gạc chẻ một đầu làm bốn phần bằng nhau, dài ba mươi phân, tỷ mẫn vót nhọn từng mảnh rồi đi lại chỗ có dây khoai mài, phát quang xung quanh độ hơn một mét, bắt tay vào đào. Vân thấy hay hay cũng bước lại xem Y Nhớ làm.

Y Nhớ thọc mạnh đầu cây tre đã chẻ xuống đất bên cạnh dây khoai mài, rồi rút lên lắc lắc cho đất rơi ra, tạo thành chiếc hố, sâu dần. Thấy thế, Vân ngạc nhiên hỏi:

-Chỉ một cây tre mà đào được cái hố sâu luôn à?

-Ừ, thọc mạnh đầu cây tre đã chẻ xuống, đất dắt vào trong ống tre, bốn miếng tre như bốn ngón tay móc và giữ đất để ta mang lên khỏi hố.

Y Nhớ giải thích, Vân buột miệng khen:

-Thông minh, nhưng tại sao không đào một vòng tròn xung quanh gốc dây khoai mài mà lại chỉ đào bên cạnh thôi?

-Củ khoai mài khác các loại củ khác, vì nó dài và mảnh. Nếu đào vòng tròn để củ khoai ở giữa vừa khó lấy đất lên lại dễ làm củ bị gãy, không lấy hết củ được.

Nghe bạn giải thích, Vân ngạc nhiên, tròn mắt nhìn. Y Nhớ người ướt đẫm mồ hôi, tay vẫn liên tục vung lên, hạ xuống tạo thành chiếc hố sâu hơn nửa cây tre dùng để đào; phía dưới tối om, không thấy gì nữa. H’Uyên đốt một bó đuốc mang đến, bảo:

-Được chưa, lấy củ lên thôi.

-Được rồi đây!

Y Nhớ trả lời rồi chẻ cây tre vừa đào đất làm đôi, lấy một nửa đặt úp bên cạnh dây mài từ trên thành hố, ấn mạnh xuống; đất rơi hết, để lộ ra củ khoai mài giống một cây cọc màu vàng được dựng bên thành hố. Vân reo to:

-Ô, đẹp quá!

-Lấy lên khỏi hố Vân sẽ mê luôn nữa đó.

Y Nhớ nói xong, cầm mảnh tre để sát phía bên củ khoai ấn xuống cho củ ngã nghiêng vào thành hố rồi nảy nhẹ; tiếng củ mài gãy nghe “tách”, từ dưới hố vọng lên nghe như nốt nhạc. H’Uyên nhẹ nhàng cầm dây, kéo củ khoai mài lên khỏi hố. Củ mài to bằng cổ chân, dài gần sải tay, vỏ màu vàng nhạt, có nhiều rễ con bám xung quanh; lạ là từ chỗ mọc dây đến tận phía bị gãy đều to bằng nhau. Y Nhớ tiếc rẻ nói:

-Còn nhiều nữa, nhưng tối không đào được nên ta lấy bằng này thôi.

-Thật kỳ lạ!

Vân reo lên thích thú, hình như không đủ ngôn từ để tả củ khoai mài; rồi cúi xuống cùng H’Uyên bê khoai lại bên đống lửa, miệng nói thía lia; hai bạn chỉ cười.  

Trong rừng, trời tối nhanh quá; chỉ một chốc, cách độ chục sải tay đã không nhìn rõ mặt nhau. Y Nhớ chạy đi kéo thêm mấy cành cây khô nữa mang về chất đống bên cạnh, thấy vậy Vân kêu lên:

-Lấy làm gì mà nhiều thế?

-Phải đốt cả đêm cơ mà, không thừa đâu.

Y Nhớ trả lời rồi lại đi tiếp, H’Uyên bảo:

-Vân lại đây giúp mình nào.

-Làm gì đấy, trời tối rồi còn đi đâu nữa à?

Vân ngạc nhiên kêu lên, H’Uyên mĩm cười trả lời:

-Vân khỏe chưa, ngồi đây nướng khoai cùng mình.

-Vân thấy củ khoai mài là khỏe lên rồi.

-Vậy à, thế thì tốt quá; rừng Tây Nguyên là vậy đấy, thứ gì cũng có nếu chúng ta biết tìm.

-So với quê mình thì vẫn còn có loại cây rừng nơi đây không có.

H’Uyên ngạc nhiên, hỏi lại:

-Vân nói xem nào!

-Cây táo.

-Táo rừng nhiều lắm, nhưng chúng mọc ở đồi cỏ gianh cơ.

-Ăn có ngon không?

-Quả chín chỉ to bặng nửa hạt bắp đói nước, ai thèm ăn.

Y Nhớ vừa kéo được cành cây lớn về đến nơi, góp chuyện; Vân nói:

-Bố mình kể: ngày nhỏ đi chăn trâu thích nhất là mùa táo chín. Những cây táo mọc bên đường làng hay bờ mương, quả màu xanh thẩm, to bằng ngón tay út; khi chín chuyển qua màu vàng tươi, to bằng ngón tay cái. Hái quả chín bỏ vào miệng, nhai nhè nhẹ cho vỡ lớp vỏ ngoài, vị chua chua, ngọt ngọt thấm vào lưỡi; mùi thơm đặc biệt của táo bay lên mũi làm con người cứ lâng lâng.

-Thành phố Hải Phòng mà cũng có chỗ chăn trâu bò như ở Tây Nguyên này ư?

Y Nhớ ngạc nhiên hỏi lại, Vân nói:

-Thủy Nguyên là vùng ngoại ô, cũng có các cánh đồng trồng lúa nước, khoai môn, khoai lang… nữa đấy.

-Cây táo như Vân nói ở quê, Tây Nguyên không có; nhất định sau này mình sẽ đến để ăn một quả cho biết.

H’Uyên nuốt nước miếng, góp lời. Y Nhớ băn khoăn nói:

-Chắc loại táo như thế đắt tiền lắm.

-Táo tự mọc, ai thấy quả chín thì hái ăn, không phải mua đâu.

Nghe Vân trả lời, Y Nhớ tròn mắt, nói:

-Giống như ta gặp trong rừng luôn à?

-Đúng vậy!

Nghe Vân trả lời, H’Uyên ngước nhìn Vân, ánh mắt là lạ, bảo:

-Quê bạn tuyệt vời quá.

-Hải Phòng mà bạn!

Vân trả lời, hình như cái mặt tròn có vênh lên một chút làm hai bạn ngồi bên cạnh bật cười. H’Uyên cắt ba khúc khoai mài, mỗi khúc dài hơn một gang tay, định đặt lên bên đống than đỏ rực. Vân ngạc nhiên nói:

-Rửa sạch đất cát rồi hãy nướng chứ.

Y Nhớ bật cười trả lời:

-Có nước đâu mà rửa?

Vân đáp:

-Không có nước thì lấy lá cây lau cho sạch đất và rể con rồi hãy nướng cho vệ sinh.

-Chốc nữa lửa nóng, đất cát khô rụng hết, còn hạt nào dính vỏ ta bóc bỏ đi luôn, có ăn phải đâu mà sợ.

H’Uyên nói như giải thích, Vân trả lời:

-Mỗi người một khúc lau sạch đất cát rồi nướng, nhìn nó ngon hơn. 

H’Uyên nhìn Vân, nói:

-Đồng ý, mỗi người một khúc chùi cho nhanh.

H’Uyên làm xong trước, cời than đỏ ra một góc, dựng khoai mài bên cạnh; thỉnh thoảng xoay nhẹ để khoai chín đều. Một lúc sau khoai chín, mùi thơm tỏ ra ngào ngạt; Vân thấy nước miếng trào lên đầy miệng, nuốt ực một cái. Hình như H’Uyên nghe được nên mĩm cười, đứng dậy bẻ mấy chiếc lá cây ngay trên lối mòn, mang lại làm mâm đặt khoai mài vừa nướng chín lên trên, cất tiếng:

-Mời dùng bữa các chàng dũng sỹ ơi.

- Vân ngồi đây.

Y Nhớ bê khúc củi để bên cạnh H’Uyên, bảo bạn; Vân ngồi xuống, nói:

-Thơm quá!

-Tại bụng đang đói mà người nướng khéo tay nên món ăn hấp dẫn lên gấp đôi, gấp ba đấy.

H’Uyên trả lời, đôi má ửng hồng, rồi lấy dao cắt một khúc khoai mài làm ba phần, đưa cho Vân và Y Nhớ mỗi người một phần, nói:

-Ăn xem có ngon không!

Vân bóc lớp vỏ mỏng bên ngoài củ khoai mài, phía sau lớp vỏ mỏng như tờ giấy, để lộ ra phần thân củ trắng tinh, thơm nức. Vân đưa khoai lên mũi ngửi, hít hà, mắt ánh lên niềm vui. Y Nhớ thấy vậy bật kêu lên:

-Khoai mài để ăn cho no bụng chứ ngửi có hết đói được đâu!

Vân cười, trả lời bạn:

-Một món ăn mình ưa thích thì thưởng thức từ từ: đầu tiên ăn bằng mắt, tiếp theo ăn bằng mũi, sau đó mới ăn bằng miệng.

-Có một miếng khoai mài mà bày đặt ăn nhiều cách như thế biết đến bao giờ mới no bụng, nhìn đây này...

Y Nhớ sốt ruột ngắt lời Vân để bày tỏ ý kiến của mình rồi đưa cả củ khoai lên miệng, gậm một miếng lớn. H’Uyên bật cười, nói:

-Ă như Y Nhớ là ăn cho no bụng, ăn cho xong bữa như nghĩa vụ phải ăn; còn Vân ăn theo cách thưởng thức. Lần đầu tiên được ăn món mới phải từ từ quan sát để cảm nhận, đánh giá hình thức; sau đó mới tới mùi, để khẳng định hương nó thế nào; cuối cùng là vị, xem ngon ngọt thế nào. H’Uyên nói vậy đúng không?

-Chịu Lớp trưởng luôn!

Vân nói xong bẻ một miếng nhỏ bỏ vào miệng, nhai chầm chậm. H’Uyên ngồi nhìn Vân ăn, mắt hình như tròn lại. Đầu chợt nghĩ: anh bạn dân Hải Phòng, mặt tròn, trán cao, da trắng như củ khoai mì mới bóc vỏ, học giỏi nhưng vào rừng thì… như đứa bé lên năm; nhưng suy nghĩ và hành động thì lúc nào cũng chuẩn, thấy… “ghét” quá!

Y Nhớ nhìn hai bạn, bật cười, nói:

-Đi cả ngày lạc trong rừng, bụng đói meo mà một người ngồi nhai như bà lão tám mươi, còn một người ngồi nhìn người kia như đã ăn no; hay thật.

H’Uyên hai má ửng hồng không biết vì ánh lửa hay câu nói của bạn, bật cười, trả lời:

-Nhìn Vân ăn khoai thấy lạ lạ thế nào ấy.

-H’Uyên ăn đi chứ nhìn người khác ăn không no được đâu.

Vân nói với bạn mà trong đầu thoáng nghĩ: Mọi hôm vào giờ này cả nhà quây quần bên mâm cơm; bố, mẹ có nhiều chuyện nói với nhau, để hỏi và trêu chọc Vân. Thỉnh thoảng mẹ lại gắp thức ăn bỏ vào chén cho hai ba con, nhắc: “ăn xem có ngon không nào!” Nhiều khi hai người không hẹn lại gắp thức ăn bỏ vào chén cho Vân cùng lúc rồi bật lên tiếng cười vui vẻ. Ăn xong, Vân rửa chén, còn bố mẹ uống nước, xem thời sự buổi tối trên tivi… Sáng nay xin vào rừng chơi, ngày mai mới về nên không sợ bố mẹ đi tìm. Vân nghĩ đến đây bất giác bật cười rồi nói với hai bạn:

-Khoai mài ngon thiệt, đúng là đặc sản của rừng.


Nguồn: 

http://www.baohaiphong.com.vn/baohp/vn/home/InfoDetail.jsp?ID=62277&cat=103

Thứ Bảy, 8 tháng 1, 2022

HỔ RỪNG truyện ngắn của HỒNG CHIẾN - TẠP CHÍ VĂN NGHỆ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH SỐ 7 ngày 6 tháng 1 năm 2022

 


Đại úy Như đứng lặng bên cạnh sa bàn, trán nhăn lại, đôi mắt thâm quầng, trông có vẻ già hơn cái tuổi bốn lăm. Một người còn trẻ, mặc quân phục màu xanh lá cây, bước vào nhà, giật hai chân vào nhau, lên tiếng:

          -Báo cáo thủ trưởng, Trung úy Trần Hải Nam – C Trưởng C2 có mặt.

          -Đồng chí báo cáo đi.

          -Rõ!

          Trung Úy Trần Hải Nam, cầm cây thước chỉ vào sa bàn, báo cáo:

          -Báo cáo thủ trưởng, khu vực trại chăn nuôi B3 nằm ở đây, gần với chân dãy núi Cha nhất. Đây là con đường mòn lên núi, đêm hôm qua cũng có dấu vết nó từ trên núi đi xuống theo con đường này. Từ chân núi đến trại dài gần ba ki lô mét, hai bên đường là đồi cỏ gianh, thỉnh thoảng mới có cây lồng bàng mọc.

          -Đồng chí có kế hoạch gì chưa?

          -Đề nghị thủ trưởng cho anh em được tổ chức mai phục, tiêu diệt.

          -Không được!

          -Vì sao ạ?

          -Đất nước chúng ta vừa trải qua ba cuộc chiến tranh ác liệt, hết đánh Pháp, đuổi Mĩ lại phải gồng mình chống bọn lấn chiếm biên giới; nền kinh tế kiệt quệ lại bị các thế lực phản động quốc tế bao vây, cấm vận… vì thế chúng ta mới được giao nhiệm vụ đóng quân trên khu vực này. Ngoài việc truy quét, trấn áp bọn phản động, công việc chính của chúng ta là làm kinh tế; nhưng không thể đánh đổi tất cả mà phải kết hợp giữa chăn nuôi với bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường sinh thái nơi đây.

          D Trưởng dừng lại, không nói tiếp nữa, mắt nhìn sa bàn, trán hình như tăng thêm những nếp nhăn. Ông biết Tây Nguyên có những cánh rừng già nguyên sinh nuôi dưỡng nhiều loại động vật quý hiếm sinh sống, là tài sản vô giá được thiên nhiên ban tặng. Bên cạnh rừng già, nhiều vùng đồi cỏ gianh nối tiếp nhau trãi dài, mùa mưa một màu xanh non trông mát mắt; nhưng đến mùa khô, chúng chuyển dần qua màu vàng rồi thành màu trắng bạc; chỉ cần một tàn lửa nhỏ sẽ gây nên biển lửa, cháy cả tuần không tắt.

Đơn vị được giao: tận dụng đồi cỏ gianh để chăn nuôi bò, lấy thịt cung cấp cho Sư đoàn. Công việc có vẻ nhẹ nhàng nhưng rồi, bất ngờ có những khó khăn, trở ngại đang đòi hỏi phải có kế hoạch khắc phục để phát triển lâu dài. Một trong những khó khăn ấy là chó sói, rồi… chúa sơn lâm “hỏi thăm” liên tục. Hơn một tháng C2 đã mất ba con bò. Làm cách nào để không mất bò mà không phải bắn hổ, chó sói? Đại Úy Như nói:

-Phải tìm cách bảo vệ đàn bò, nhưng không được bắn thú dữ?

-Báo cáo thủ trưởng, con hổ này quen ăn thịt bò nhà rồi, phải bắn thôi ạ.

Trung úy Trần Hải Nam trả lời một cách dứt khoát. Hải Nam xót xa với khối tài sản lớn bị hổ cướp mất, nên trong đầu chỉ nung nấu ý nghĩ phải tiêu diệt để bảo vệ đàn bò, tài sản của đơn vị mà anh là người chịu trách nhiệm cao nhất. Nếu được đồng ý, tối cử một đồng chí nằm phục trên mái chuồng bò; khi nào thấy bò thức dậy, tìm cách phá chuồng thoát ra ngoài thì bật đèn đội đầu soi xuống sân tìm mục tiêu, bóp cò… một viên CKC là mọi việc kết thúc. Lạ là D Trưởng cương quyết không cho nổ súng, bắt tìm cách sống chung với thú dữ. Khó thật.

***

Mười tám tuổi rời ghế nhà trường phổ thông, lên đường vào Nam chiến đấu. Rừng Trường Sơn mùa mưa nhiều con suối hiền hòa bỗng nhiên phút chốc thành sông dữ, nước trên núi cao ập về, cuốn trôi mọi thứ. Chiều hôm ấy như một định mệnh, đơn vị đội mưa vượt sông, không may Như tuột tay bị nước cuốn trôi. Khi tỉnh lại thấy một bên mặt âm ấm. Cố cựa quậy nhưng tay chân và cả người không còn chịu nghe đầu điều khiển. Qua ánh trăng suông, Như lờ mờ nhận ra một bầy sói to lớn, con nằm, con ngồi xung quanh. Một con thọc mũi vào mặt, ngửi xem con mồi của chúng đã chết chưa thì phải. Nước sông theo gió, thỉnh thoảng lại leo qua chân tràn lên đầu. Thế là mọi sự kết thúc tại đây, nơi bờ sông hoang vắng này; bao ước mơ, hoài bảo của tuổi trẻ còn giang dở, vậy mà… Cố lật mình, nằm ngửa lên nhưng không được, hình như mình đã chết – Nhu tự nhủ. Bầy sói vẫn kiên nhẫn nằm đợi.

-H… ùm!

Một tiếng gầm khủng khiếp vang lên, lũ sói hoảng hốt kêu lên: oẳng, oẳng, oẳng… bỏ chạy. Con hổ bước chầm chậm đến bên, cúi xuống ngọm vào cổ Như lôi đi; mùi hôi thối nồng nặc xộc vào mũi. Thế là mình không bị lũ chó sói ăn thịt mà chính chúa sơn lâm dùng làm bữa tối; thôi thế cũng đỡ tuổi thân một kiếp người – Như thầm nghĩ.

Con hổ lôi Như lên trên một tảng đá lớn rồi ngồi nhìn; hình như nó cũng biết con người nằm như cái xác kia chưa chết nên ngồi đợi cho chết hẳn mới ăn, hay còn điều gì khác nữa, chắc chỉ có nó biết. Lúc này, đầu óc Như tỉnh táo vô cùng, sẵn sàng cam chịu, tay chân rụng đâu mất cả. Bầy chó sói hình như không bỏ cuộc, chúng vây quanh hòn đá bắt đầu cất tiếng sủa; lúc đầu rời rạc từng tiếng, sau thành một giàn đồng ca lớn, có lúc nghe như đến rất gần hòn đá. Con hổ hình như đợi lũ chó sói lại gần mới gầm lên một tiếng lớn; lũ sói giật mình chạy ra xa, im tiếng một lúc rồi lại tiếp tục sủa, tiến lại…

***

Như thiếp đi không biết bao lâu, bỗng cảm nhận được hình như có hơi ấm chạm vào miệng rồi trôi xuống cổ. Tại sao thế nhỉ, chẳng lẽ hổ ăn thịt mà mình lại có cảm giác dễ chịu thế này ư? Hay mình đã qua một kiếp khác rồi? Đây là đâu? Bỗng tiếng ai đó reo lên:

-Cậu ấy tỉnh lại rồi.

-Thằng cha này thoát chết một cách kỳ lạ, chắc sẽ thọ lắm đây!

Sau này Như được nghe kể lại: anh em trong binh trạm tổ chức đi xuôi dòng sông tìm kiếm xác, vì ai cũng nghĩ rơi xuống sông mùa lũ thì không thể sống được. Tìm mãi vẫn không thấy, đêm xuống nghe chó sói sủa, hổ gầm như tranh nhau thức ăn; mọi người đoán ngay ra nguyên nhân và vội vã tìm đến. Con hổ gặp người nên bỏ đi. Anh em chạy lại thấy thi thể nguyên vẹn, sờ thấy ấm và hình như còn thở nên sơ cứu rồi đưa về trạm xá cấp cứu. Trong nhóm đi tìm, người thì bảo do hổ và chó sói tranh nhau nên chúng chưa kịp ăn thịt. Có người bảo, cậu là người cao số nên hổ và chó sói đến bảo vệ, gọi người đến cứu… Mỗi người một ý kiến, nhưng sống được là quý rồi.

Sau khi xuất viện, đơn vị cũ đã đi xa nên Như được chuyển qua đơn vị mới làm hậu cần – chuyên trồng khoai mì để tích trữ lương thực. Như cùng anh em trong tổ, cuốc cỏ gianh trồng khoai mì. Rừng bị rãi thuốc độc, cây cối chết hết, nhưng cỏ gianh lại mọc rất tốt. Mùa mưa, cuốc cỏ tranh trồng khoai mì, cây phát triển nhanh, củ to. Khổ nhất của anh em trong tổ lúc bấy giờ là canh giữ không cho heo rừng phá. Heo trên dãy Trường Sơn nhiều lắm, có bầy hàng trăm con; con trung bình cũng nặng cả tạ. Nhưng có điều lạ, từ khi Như tham gia trồng và giữ rẫy thì heo rừng không tới phá như trước nên năng suất tăng rõ rệt.

Thời gian trôi qua, được cấp trên tín nhiệm, Như trở thành chỉ huy đơn vị hậu cần xuất sắc, trực thuộc Quân khu. Năm 1976, Bộ Quốc phòng thành lập Sư Ba làm kinh tế, Đại úy Như được điều về làm D Trưởng, trực thuộc Sư đoàn bộ, chuyên chăn nuôi bò.

Trong khu vực được giao quản lý, Đại úy Như cùng bộ phận tham mưu lội rừng, khảo sát, lập kế hoạch ngăn các đoạn suối làm đập chứa nước cho bò uống kết hợp thả cá, trồng rau cải thiện. Đơn vị nào có điều kiện thuận tiện, ngăn suối trên núi cao, bắc ống dẫn nước về tận doanh trại phục vụ sinh hoạt như nước máy thành phố. Nhờ thế đời sống vật chất anh em trong đơn vị được cải thiện, anh em an tâm công tác. Không ngờ nay lại bị thú dữ đến quấy phá.

***

Chiều, Đại Úy Như xuống C2 khảo sát địa hình, thống nhất kế hoạch bắt hổ. Nhiệm vụ đặt ra là phải bắt sống để thuần phục bằng được con hổ. Sáng hôm sau, dưới sự chỉ huy trực tiếp của D Trưởng, dàn bẫy treo được bố trí ngay cửa rừng già, trên đường con hổ thường đi qua.

Đêm đến, khoảng hơn hai mốt giờ, bất ngờ nghe tiếng hổ gầm thét giữ dội nơi đặt bẫy. Tiếng gào thét kéo dài đến tận sáng hôm sau, khi mặt trời lên hổ mới ngừng. Theo kế hoạch đã định, một tổ lên thăm thấy hổ dính bẫy, đốt hai đống lửa lớn hai đầu đường để đề phòng có người đi lạc vào chổ hổ. Mùa khô, hổ dính bẫy bị bỏ đói ba ngày, gầy xọp.

Chiều ngày thứ tư, Đại úy Như xách xô nước tới gần, đặt trước mặt hổ. Mọi người đi theo, tròn mắt khi thấy con hổ nằm im, mở to mắt nhìn ân nhân rồi bò lại uống nước. Mọi ngày, chỉ nhìn thấy người đến gần, con hổ đã nhảy dựng lên, mắt đỏ lừ, nhe răng ra chồm chồm ba cái chân chưa dính bẫy, định tấn công người; còn hôm nay lại hiền như con chó con. Chờ hổ uống nước xong, Đại úy Như ném cho nó một con cá chuối lớn rồi về. Chiều hôm sau Đại úy lại lên cho hổ uống nước và cho nó hai con cá chuối to nữa để ăn. Cứ như vậy, đến ngày thứ chín, con hổ đang đứng, thấy ông đi đến nó vội nằm xuống như con cún, đầu gác lên hai chân trước. Đại úy Như bước đến bên cạnh sờ vào đầu nó, nói to: Mày vào rừng mà kiếm ăn, không được xuống bắt heo, bò của người nuôi nữa nghe chưa?

Hình như con hổ hiểu tiếng người, hai bên mắt nước ứa ra, nhìn không chớp. Ông, tháo sợi dây cáp thắt nơi chân sau hổ ra, vỗ vỗ vào lưng nó, miệng nói: đi đi! Con hổ từ từ đứng lên, nhìn xung quanh một lúc rồi mới chậm rãi theo đường mòn leo lên núi.

Đêm hôm đó, Đại úy Như ngủ lại với anh em đơn vị C2. Gần sáng thấy bầy chó đơn vị chui hết vào nhà, miệng rên ư ử; một lát sau nghe tiếng động rất lớn như có người té ngay cửa phòng, Đại úy cầm đè pin, mở cửa bước ra và… không tin ở mắt mình: con hổ được thả lúc chiều ngồi chồm hổm nhìn ông, trước mặt nó một con heo rừng chắc phải nặng cả tạ. Nhìn ông một lúc, hổ từ từ đứng lên, đi theo con đường mòn lên núi.

Cũng từ đấy, lũ chó sói trước đây hay rình bắt bê cũng đi biệt tích, không bén mãng đến nữa. Hơn chục trại chăn bò của đơn vị xung quanh chân núi Cha cũng không bao giờ bị hổ đến quấy rầy. Thỉnh thoảng, vào những buổi chiều tà, trở trời, người ta vẫn nghe tiếng hổ gầm trên núi cao vọng xuống.

 

Hòa Khánh, tháng 11 năm 2021

Nguồn: http://tuanbaovannghetphcm.vn/ho-rung-tap-chi-07/

Thứ Sáu, 7 tháng 1, 2022

NGÔI NHÀ THIÊNG CỦA HỘI VIÊN bài của HỒNG CHIẾN nhân kỷ niệm 30 năm thành lập Hội VHNT các DTTS Việt Nam

 


Nhân kỷ niệm 30 năm ngày thành lập Hội Văn học Nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam (18/11/1991-18/11/2021), ngồi ngẫm lại, tôi thấy mình là người hạnh phúc và may mắn khi được làm hội viên của Hội cách đây vừa tròn mười năm. Ngày 7/9/2011, tôi được mời dự Hội nghị Chi hội Trưởng năm 2011 tổ chức tại thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An. Tại đây, lần đầu tiên tôi được gặp nhạc sỹ Nông Quốc Bình – Chủ tịch Hội, nhà văn Cao Duy Sơn – Phó chủ tịch Hội cùng các anh chị trong cơ quan hội và rất nhiều anh chị em văn nghệ sỹ cả nước, những người tôi từng nghe tên, đọc tác phẩm mà chưa một lần gặp mặt. Và vui mừng hơn, tại hội nghị này tôi được Nhạc sỹ Nông Quốc Bình – Chủ tịch Hội trao quyết định kết nạp, chính thức là hội viên Hội Văn học các Dân tộc thiểu số Việt Nam (Hội VHNT các DTTS Việt Nam).

          Từ khi còn đang dạy học ở một huyện vùng xa của tỉnh Đắk Lắk, tôi đã nghe nói về Hội VHNT các DTTS Việt Nam, được đọc một số sáng tác của các bác, các anh, các chị đi trước với sự đam mê và ngưỡng mộ. Năm 2006 chuyển về công tác tại Hội Văn Nghệ Đắk Lắk, được Nhà văn, Nhạc sỹ Linh Nga Niê Kdam – Phó Chủ tịch Hội VHNT các DTTS Việt Nam, Chủ tịch Hội Văn Nghệ Đắk Lắk hướng dẫn khám phá, truyền cho đam mê về vùng văn hóa Tây Nguyên; thế là tôi “nghiện” luôn và tập trung toàn bộ sáng tác của mình về vùng đất xinh đẹp này như một cái “duyên” trời định. Tính đến hết năm 2010 tôi đã có ba tập truyện ngắn và một truyện dài được các nhà xuất bản Kim Đồng, nhà xuất bản Văn hóa các dân tộc và Hội Văn Nghệ Đắk Lắk xuất bản viết riêng về người Êđê, trên vùng đất Tây Nguyên; đó là toàn bộ hành trang xin gia nhập Hội.

Kết thúc hội nghị tai thành phố Vinh, hôm sau xe của Hội đưa về thành phố Hà Nội, tôi được đặt chân đến trụ sở của Hội. Thật xúc động, khi từ núi rừng vùng Tây Nguyên xa xôi, vượt qua hơn một ngàn km để đến được thủ đô Hà Nội, lần đầu tiên tới trụ sở của Hội, ngôi nhà chung của văn nghệ sỹ các dân dân tộc thiểu số Việt Nam do nhà thơ Nông Quốc Chấn sáng lập và lãnh đạo.

Ngồi tại văn phòng Hội, tôi xúc động và hết sức khâm phục nhà thơ Nông Quốc Chấn và các vị tiền bối đã có ý tưởng xây dựng đề án để Đảng và Chính phủ quyết định thành lập hội riêng cho anh chị em văn nghệ sỹ là người dân tộc thiểu số và những người dân tộc Kinh tham gia sáng tác về đề tài dân tộc thiểu số và miền núi được gia nhập; tập hợp đội ngũ về dưới một mái nhà chung: Hội VHNT các DTTS Việt Nam. Trụ sở của Hội thực sự là ngôi nhà đầm ấm của hội viên. Sau này mỗi khi có dịp về thủ đô, ghé thăm cơ quan Hội, để đàm đạo về văn học nghệ thuật thật không có hạnh nào hơn.

Các anh chị hội viên hoặc không phải hội viên, công tác tại cơ quan Hội luôn luôn niềm nở chào đón hội viên từ mọi miền Tổ quốc có dịp ghé thăm. Chính tình cảm nồng ấm đó thắt chặt thêm tình cảm giữa hội viên với cơ quan Hội, tiếp thêm sức mạnh để anh chị em say mê sáng tạo. Truyền thống tốt đẹp ấy tôi biết đã được xây dựng, giữ gìn và phát triển suốt 30 năm qua và chúng ta hy vọng tiếp tục được phát huy trong những năm tiếp theo, để anh chị em hội viên tiếp tục gắn bó chặt chẽ với Hội, có thêm động lực để sáng tạo văn học nghệ thuật.

 Được gia nhập Hội, thời gian chưa nhiều so với lịch sử của Hội, nhưng trong mười năm qua tôi đã có may mắn được tham gia các chuyến đi thực tế sáng tác, trại sáng tác, hội nghị, hội thảo… Thông qua các hoạt động ấy tôi được giao lưu với các anh chị hội viên khác để học hỏi, nâng cao tay nghề, thêm động lực sáng tác. Trong thời gian qua Hội ta đã làm rất tốt việc này, có lẽ vì thế năm nào cũng có những tác phẩm hay được giới thiệu với công chúng và tặng thưởng. Đây là thành tích hết sức đáng tự hào của Hội ta trong 30 năm vừa qua. Nhằm phát huy kết quả đã đạt được, tôi xin phép được nêu ý kiến cá nhân về công tác tổ chức hoạt động Hội trong thời gian tới như sau:

Từ cuối năm trước lãnh đạo Hội xây dựng kế hoạch sẽ tổ chức các hoạt động của năm sau để anh chị em hội viên cả nước biết và giao chỉ tiêu về các chi hội địa phương cử người tham gia. Chi hội địa phương phải thông báo cho các anh chị em hội viên trong chi hội của mình biết, sắp xếp được thời gian, tình nguyện đăng ký tham gia, nhưng phải đảm bảo tiêu chí, điều kiện cụ thể:

1.Dự trại sáng tác tổ chức tại các Nhà sáng tác do Bộ Văn hóa, thể thao và Du lịch quản lý: hội viên phải có đề cương, bản thảo đến Trại để hoàn thành. Tránh tình trạng có hội viên đến trại, hết 15 ngày nộp cho Nhà sáng tác một truyện ngắn hoặc vài bài thơ. Với chính sách ưu ái văn nghệ sỹ của Đảng và Nhà nước, tạo điều kiện để văn nghệ sỹ về Nhà sáng tác làm việc, dứt khỏi công việc hàng ngày tập trung cao độ hoàn thiện công trình, tác phẩm vì thế Văn phòng phải tham mư cho lãnh đạo Hội chọn lựa hội viên có như cầu cấp thiết hoàn thiện đề cương chi tiết hoặc sửa chữa, hoàn thiện tác phẩm để công bố mới mời về dự.  

2.Tổ chức đi thực tế sáng tác tại các địa phương: Đây là hoạt động thực tế tại các điểm trên địa phương đã định. Công việc chính là “đi”, thu thập tư liệu để làm “vốn” cho các tác phẩm sẽ sáng tác sau này (trừ hội viên Nhiếp ảnh); các chi hội địa phương cần lưu ý đến sức khỏe hội viên khi cử đi tham gia. Nếu hội viên sức khỏe không đảm bảo sẽ gây khó khăn và ảnh hưởng đến các hoạt động khác của cả đoàn.

3. Hội thảo: để nâng cao chất lượng hội thảo, hội nghị chuyên đề, theo tôi Thường trực Hội phải thông báo kế hoạch tổ chức sớm để anh chị em hội viên biết, viết bài tham gia. Văn phòng tham mưu cho lãnh đạo Hội chọn những tham luận hay, có chất lượng của các hội viên, đại diện cho các vùng, miền để mời tham dự. Có như vậy các cuộc hội thảo, hội nghị chuyên đề mới có sức lan tỏa, gặt hái được thành công như dự định.

4.Giải thưởng: Hàng năm Hội đồng nghệ thuật của Hội ta rất công tâm, sáng suốt, lựa chọn được những tác phẩm, công trình có chất lượng cao để trao giả thưởng, được anh em hội viên hết sức hoan nghênh - Có lẽ đây là nét đặc biệt so với các hội chuyên ngành khác khi trao giải thưởng hàng năm. Tuy nhiên để phát huy hết tác dụng của các tác phẩm, công trình đoạt giải, Thường trực Hội nên bố trí kinh phí cho in và lưu giữ các công trình, tác phẩm đã đoạt giải hàng năm của Hội.

5.Công tác hội viên: Trong nhiệm kỳ vừa qua nói riêng và cả quá trình 30 năm thành lập Hội, công tác hội viên của Hội ta làm khá tốt, ai được gia nhập hội cũng cảm thấy vinh dự và tự hào, cố gắng hết sức mình xây dựng khối đoàn kết trong hội. Có lẽ vì thế Hội không ngừng lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng. Đặc biệt trong nhiệm kỳ vừa qua, thường trực Hội đã thực hiện “Đề án bảo tồn, phát huy giá trị tác phẩm văn học, nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam”, giúp hội viên được công bố các tác phẩm của mình. Đây có thể nói là một thành công rất lớn của các anh chị lãnh đạo Hội khóa 2015 – 2020, đáp ứng được mong mỏi của anh chị em hội viên. Trong thời gian tới, công tác hội viên của Hội ta cần lưu ý thêm một vấn đề nhạy cảm nữa, đó là: “Bảo vệ quyền lợi hợp pháp của hội viên”. Làm công tác văn nghệ, rất dễ xảy ra tai nạn nghề nghiệp khi tác phẩm bị suy diễn, áp đặt theo góc nhìn không thân thiện. Khi ấy, rất cần đến vai trò của Hội lên tiếng bảo về quyền lợi chính đáng của hội viên. Vấn đề này trong thời gian qua theo tôi biết Hội ta chưa có trường hợp nào; nhưng thời gian tới có thể nảy sinh, lúc ấy anh em hội viên rất cần tiếng nói của Hội.

Nhân kỷ niệm 30 năm ngày thành lập Hội VHNT các Dân tộc thiểu số Việt Nam (18/11/1991-18/11/2021), tôi xin có đôi dòng tâm sự, kỷ niệm về Hội của chúng ta và mạo muội góp ý về công tác hội, đó là tiếng nói từ đáy lòng của người hội viên vùng Tây Nguyên gửi về Hội, có gì chưa sâu sát, mong được các anh chị hội viên lượng thứ.

 Buôn Ma Thuột, ngày 26 tháng 8 năm 2021


Thứ Hai, 3 tháng 1, 2022

SỰ TÍCH SÔNG QUAN TÀI truyện ngắn của HỒNG CHIẾN - VĂN CHƯƠNG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ngày 02 tháng một năm 2022

 


Nguồn: https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/su-tich-song-quan-tai-truyen-ngan-cua-hong-chien

Buôn Krail có hơn trăm nóc nhà dài hội tụ bên bờ một con sông chảy ngược. Con sông này bắt nguồn từ phía mặt trời mọc, vươn cánh tay dài gân guốc vào tận các khe sâu, núi cao của dãy Chư Yang Sin chắt lọc những hạt nước tinh khiết nhất góp lại, tạo thành dòng rồi đổ về hướng tây, đuổi theo ông mắt trời xem đi ngủ nơi nào. Những người dân buôn Krail hiền lành, chất phác, quanh năm chí thú lo làm ăn và vui chơi, ca hát. Hai bên bờ sông, mùa mưa nước dâng cao, tạo nên một vùng nước rộng mênh mông; nhưng khi mùa khô đến, nước rút đi để lại một cánh đồng rộng lớn, màu mỡ, thuận lợi gieo trồng cây lương thực. Người dân chỉ cần gom cỏ rác tấp đống lại đốt, xong chọc que tra hạt; mấy tháng sau cây bắp cao hơn đầu người, mỗi cây cho từ năm đến bảy bắp, bắp nào cũng to như bắp tay người lớn, hạt đều chằn chặn; còn gieo lúa, mỗi hạt lúa cho bốn năm bông, một bông mang theo cả vốc tay hạt. Nông sản thu về, các bếp làm một cái kho trên vùng đất cao ngoài rẫy để trữ, khi nào ăn ra lấy về chứ không mang về nhà. Dưới sàn: heo, gà, trâu, bò… nhà nào cũng có nhiều để dùng phòng khi mùa mưa không vào rừng bắt thú được. Trong rừng thú nhiều lắm, nhà nào muốn ăn loại gì rủ vài người vào bắt mang về như ta nhốt sẵn trong chuồng vậy rồi chia đều cho tất cả các bếp trong buôn cùng ăn.

Nàng H’Linh con gái của Mtao buôn Krail không những đẹp người, đẹp nết mà còn rất khéo tay trong việc thêu thùa, dệt vải. Nàng thường cùng các nữ tỳ vào rừng già chọn những loại cây có sợi đẹp nhất đem về dệt vải, thêu thùa. Nàng dệt hoa trên áo, lũ bướm nô nức kéo đến xem che kín cả nhà; nàng dệt bụi trúc, chim chóc lao vào định đậu đập đầu vào tấm thêu… M’tao buôn Klail là một đàn người ông trung niên không những khỏe mạnh mà còn mưu lược, thống lĩnh cả vùng phía đông bắc dãy Chư Yang Sin kéo dài đến tận thảo nguyên M’drak được nhiều người yêu quý, kính trọng. Hai vợ chồng M’tao chỉ sinh được một mình H’Linh nên yêu thương nàng hết mực. M’tao buôn Klail có người bạn thân làm M’tao buôn Yok Đôn phía tây dãy Chư Yang Sin, thuộc vùng thảo nguyên Ea Suop, trong nhà lúc nào cũng có hơn trăm con voi, vài ngàn con ngựa, năm ngàn quân lính. M’tao buôn Yok Đôn cũng sinh được một người con trai khôi ngô tuấn tú, săn bắt voi, ném lao, bắn nỏ… từ xưa đến nay chưa có ai sánh bằng và điều đặc biệt là sinh cùng ngày, cùng tháng, cùng năm với H’Linh. Hai Mtao thấy các con đều hơn người nên quyết định khi đủ mười bảy mùa rẫy sẽ làm lễ thành hôn cho đôi trẻ. Hàng tháng, nếu Mtao buôn Yok Đôn không dẫn con trai xuống thăm, H’Linh được ama đưa qua bên ấy chơi; đôi trai tài, gái sắc yêu quý nhau lắm, họ chỉ mong đủ tuổi để được làm vợ chồng.

*

* *

Hôm ấy, buổi sáng trời trong xanh không một gơn mây, nàng H’Linh cùng các tùy nữ vào rừng tìm cây lấy sợi về dệt vải; trưa đến nàng cùng người hầu và quân lính dừng lại bên thác Yang Hanh nghỉ. Mấy người tỳ nữ lấy hoa rừng kết thành vòng đặt lên đầu trang điểm cho H’Linh. Trời đang trong xanh, bỗng một tia chớp lóe lên rồi một tiếng nổ inh tai. Gió ở trên các sườn đồi ào ào chạy đến kéo theo lũ mây đen vần vũ che khuất cả bầu trời. Quân lính mời nàng lên ngựa để về. Nàng H’Linh cười bảo:

-Đang mùa khô, tự nhiên có sấm chớp thế này chắc chỉ mưa ít hạt rồi tạnh thôi, không lo đâu; tắm mưa một lúc cũng hay đấy.

Mọi người vâng lời cùng ngồi đợi mưa. Mưa rơi, lúc đầu chỉ vài hạt sau nặng dần, những hạt mưa thi nhau rơi xuống thành dòng. Quân lính và các tùy nữ dùng tay tạt nước vào nhau; tiếng cười, tiếng nói làm lay động cả cánh rừng. Mọi người tắm mưa, nô đùa, còn H’Linh ngồi trên tảng đá nhìn và vỗ tay cổ vũ cho cánh tùy nữ. Mọi người mải vui không hay biết có một đoàn người lạ vừa đến, đang lặng lẽ chứng kiến cảnh vui đùa của quân lính H’Linh. Trời đột ngột tạnh mưa như lúc ập đến. Gió lại ào ào nổi lên. Trên trời những đám mây đen vẫn lầm lì không chịu bay đi. Mọi người đang vui đùa bỗng im bặt khi phát hiện ra đoàn người lạ đứng trong rừng già. Quân lính lao lại cầm giáo mác, cung tên; bọn tùy nữ như bầy ong thợ vội vã chạy lại đứng vòng tròn xung quanh H’Linh. Từ trong rừng, một chàng thanh niên thân hình vạm vỡ, tuổi chừng mười tám mùa trăng, cỡi con voi đực trắng có cặp ngà chéo nhau, đi đến bên khoảng đất trống gần nơi quân lính của H’Linh đang đứng thủ thế chuẩn bị giao chiến thì dừng lại, voi quỳ xuống cho chàng trai bước xuống đất. Người con trai lạ cất tiếng:

- Chào các bạn, mình ở buôn xa đến chơi xin có lời chào tất cả.

- Đất, nước và rừng già là của chung mọi người mà.

H’Linh bước ra trả lời. Chàng trai lạ sững người khi nhìn thấy khuôn mặt xinh đẹp, trên đầu còn đội một vòng hoa trắng tinh khiết, hương thơm ngào ngạt tỏa ra làm rụt luôn cái lưỡi không còn biết nói nữa; đôi mắt mở to hết cở như gặp Yang(1) xuất hiện. Thấy người lạ như bức tượng mới đẽo, H’Linh mỉm cười hỏi thêm:

-Người lạ ở đâu đến và định đi đâu mà qua vùng đất này?

-Tôi… tôi từ bên kia núi… qua bên này núi, đi… đi…!

- Người ở tận Lang Bi Ang qua?

- Đúng thế!

- Định đi đâu mà lại qua đây?

- Đây là đâu?

- Đây là đất của Mtao buôn Klail.

- Tôi… tôi cũng định đến thăm Mtao buôn Klail.

- Đến thăm Mtao có việc gì không?

- Chuyển lời thăm và lời mời Mtao buôn Klail qua thăm Tù trưởng La Ngư Thượng (2).

- Tôi là H’Linh, con gái Mtao buôn Klail, mời chàng về nhà.

H’Linh lên ngựa đi trước cùng quân hầu của mình, còn chàng trai lạ có năm chục con voi, ba trăm con ngựa tía cao lớn nối gót theo sau. Về gần đến buôn, tiếng tù và ngân lên báo hiệu có người lạ đến thăm. Mtao buôn Klail ra đầu cầu thang đứng đợi, thấy đoàn quân của chàng trai lạ tiến vào buôn gươm giáo sáng lòe, đội ngũ như một đoàn quân thiện chiến lấy làm bằng lòng lắm. Chàng trai đến chân cầu thang xuống voi, cúi đầu làm lễ chào, Mtao mời vào nhà nói chuyện. Chàng trai lạ cho quân lính mang lễ vật lên nhà gồm: một gùi trà, hai gùi quả hồng sấy, ba gùi thịt sơn dương khô cùng chín súc vải dệt của người K’ho…

-Chàng trai ở đâu đến mà tặng ta nhiều lễ vật thế?

-Tôi là K’Lang bạp(3) của Tù trưởng La Ngư Thượng thuộc xứ cao nguyên Lâm Viên, nghe tiếng Mtao buôn Klail là người tài giỏi lại rộng bụng nghĩa hiệp nên vâng lời mebèp(4) qua thăm và xin kết nối tình giao hảo.

-        K’Lang đi mấy ngày mới tới được đây?

-        Vừa đủ một bàn tay năm lần mặt trời đi ngủ.

-        Bên ấy có núi cao như bên này không?

-        Cũng giống như bên này, nhưng bên ấy nhiều cây có lá nhỏ hơn.

Mtao buôn Klail ưng bụng lắm mở tiệc thết đãi; mổ năm con bò, mười con heo lớn lại chôn cột đầu buôn buộc rượu mời khách. K’Lang ở lại thăm năm ngày, ngày nào cũng được Mtao bày tiệc thết đãi ân tình, quân lính đôi bên ngả nghiêng bên ché rượu, vui lắm; tiếng chiêng bay vút qua các đỉnh núi vang tận trời xanh đủ năm ngày năm đêm. Thấy nàng H’Linh xinh đẹp, khéo tay, đối xử với mọi người rất vui vẻ càng làm cho lòng K’Lang thêm thầm yêu trộm nhớ muốn lấy làm vợ. Qua ngày thứ sáu, K’Lang ngỏ lời mời Mtao qua thăm Tù trưởng La Ngư Thượng. Mtao nhận lời, mang theo đoàn tùy tùng mười con voi, một trăm con ngựa, cùng con gái H’Linh lên đường. Sau năm ngày trèo đèo, lội suối M’tao buôn Klail đến La Ngư Thượng và được Tù trưởng La Ngư Thượng mở tiệc lớn chiêu đãi. Trong những ngày lưu lại, đích thân Tù trưởng La Ngư Thượng đưa Mtao đi thăm các vùng đất thuộc mình cai quản. Được chứng kiến cảnh vật, đất đai phì nhiêu, cây cỏ xanh tốt và đặc biệt có những hồ nước lớn trong vùng làm M’tao buôn Klail ưng lắm. Riêng H’Linh được K’Lang dẫn đi thăm những vườn hoa có rất nhiều hoa lạ, màu sắc rực rỡ, hương thơm khi nào cũng vây đầy xung quanh. Thăm nơi dệt vải, H’Linh thấy rất nhiều mẫu mới lạ và các sợi dùng để dệt cũng mảnh hơn, óng mượt hơn so với bên nhà nên thích lắm cố hỏi cặn kẽ để học về nhà làm theo. Thấy H’Linh thông minh, ham hiểu biết như vậy, lòng K’Lang càng đắm say không muốn rời xa nàng.

Thời gian thấm thoắt, thoáng một cái đã mười ngày trôi qua, M’tao buôn Klail ngỏ lời xin về. Tù trưởng La Ngư Thượng cố giữ lại thêm mấy ngày, mở tiệc linh đình chia tay. Khi rượu ché túc gần vơi, ché ba gần cạn, Tù trưởng La Ngư Thượng mới ngỏ lời:

-Con gái của Mtao chắc cũng đến tuổi bắt chồng, con trai tôi cũng đã đủ tuổi lấy vợ, chúng ta có thể kết làm thông gia được chăng?

-Ô, chúng ta chỉ có thể kết bạn thôi, còn thông gia thì không được vì H’Linh đã có lời đính ước rồi.

Nghe Mtao trả lời, gương mặt Tù trưởng hơi tối lại, ông ta thở dài rồi nói:

-Chúng nó không có duyên thì đành vậy.

Họ chia tay nhau trong tiếng chiêng tiễn khách và hẹn gặp lại tại buôn Klail.

Thấy Mtao buôn Klail đưa nàng H’Linh về nhà, lòng K’Lang như có lửa đốt, không ăn không ngủ được, muốn xin Tù trưởng cho quân lính qua cướp dâu. Lúc đầu Tù trưởng không ưng, nhưng sau thấy K’Lang không ăn, không ngủ, nằm bẹp một góc nhà nên thương con, buộc phải đồng ý.

*

*   *

   Buổi sáng, ông mặt trời mới thức dậy, người dân buôn Klail chưa kịp nổi lửa nấu ăn đã nghe có tiếng trống trận vang lên dồn dập rồi một đoàn quân từ trong rừng xông ra. Con bạch tượng chéo ngà đi đầu, trên cổ có chàng thanh niên khoác áo giáp bạc, cầm kiếm thép sáng lòe; phía sau có năm trăm con voi chiến, năm ngàn con ngựa và đội lính bộ đông như lá rừng bày trận trước buôn. Mtao buôn Klail vội vã tập hợp một trăm hai mươi con voi, năm trăm con ngựa và toàn bộ trai tráng hơn ngàn người mang cung tên, giáo mác ra đối trận.

Một hồi trống dài vừa dứt, người mặc áo giáp bạc thúc con voi trắng tiến ra phía trước, Mtao buôn Klail cũng thúc voi tiến lên hỏi:

- Tại sao lại đưa quân đến đây?

- Thưa Mtao, hôm nay tôi đến để xin được đón nàng H’Linh về làm vợ.

- H’Linh đã có đính ước, không thể gả cho ngươi được, hãy mang quân về đi.

- Tôi nhất định phải bắt H’Linh về làm vợ!

- Nếu không được thì sao?

- Chiến tranh.

Nàng H’Linh cả đêm thao thức không ngủ được, sáng ra dậy sớm dệt vải nhưng sợi bị đứt, nối được sợi, khung lại gãy làm đôi, lòng như có than hồng. Đang bồn chồn chưa biết nguyên nhân làm sao, bổng nghe trống trận vang lên, nàng giật mình biết điềm chẳng lành nên vội xuống sàn đóng yên vào con ngựa bạch yêu quý rồi theo sau voi Mtao ra trận. Khi nghe K’Lang nói vậy, H’Linh thúc ngựa xông ra:

-Ta đã đính hôn từ nhỏ, xem như đã có chồng sao người còn làm điều càn bậy như thế?

-H’Linh, ta yêu nàng, bất chấp tất cả để bắt nàng làm vợ. Nếu Mtao không bằng lòng, nàng không ưng ý, hôm nay đất này sẽ thành sông máu. Tùy nàng chọn.

H’Linh nước mắt lưng tròng, trong lòng đau xót lắm, thúc ngựa lại bên Mtao:

-Mtao ơi, con yêu Mtao và amí(5) nhiều lắm, nhưng không thể để vì con mà chiến tranh xảy ra, nhiều người vô tội phải chết, biết bao người phụ nữ mất chồng, trẻ con mất cha... Xin Mtao cho con được tự xử.

H’Linh nói xong quay ngựa tiến lên phía trước nói:

-Chỉ vì một người con gái mà chàng đẩy nhiều người vào chỗ chết như vậy là quá tàn nhẫn, chỉ vì cái riêng mà gây họa cho nhiều người, vậy là không tốt. Thôi thì thuận theo ý Yang vậy, nếu chàng đuổi theo bắt được ta trước khi ta đến được buôn của người ta sắp bắt làm chồng, ta sẽ đồng ý làm vợ người. Còn không thì hãy mang quân về, không được gây chuyện binh đao.

          Nghe H’Linh nói vậy, K’Lang mừng lắm nhận lời ngay vì nghĩ: với con bạch tượng nhanh nhẹn này thì chỉ chớp mắt có thể bắt được nàng mang về làm vợ. Ba hồi trống nổi lên vừa dứt, trong tiếng hò reo của quân sỹ hai bên, H’Linh thúc ngựa lao vào cánh rừng ven sông lớn chạy ngược về phía tây. Con ngựa thuận ý chủ, chạy theo con đường nhỏ có nhiều cây to làm con voi kềnh càng luôn phải tránh né cây mới đi được. Ngựa của H’Linh chạy từ sáng qua trưa, sang chiều đến một thác nước thì kiệt sức gục đầu chết; sau này người dân địa phương đặt tên là thác Trinh Nữ. H’Linh không còn ngựa đành tiếp tục chạy bộ; nàng chạy mãi, chạy mãi chân tóe máu, váy rách toạc… đến khi mặt trời xuống núi đi ngủ mới tới một con thác lớn đang gầm thét dữ dội, phía trên có nhiều đá lớn chắn mất đường đi. H’ Linh ngửa mặt nhìn lên trời than:

-Yang ơi, con biết làm sao đây, nếu để K’lang bắt được thì chắc chắn M’tao buôn Yok Đôn sẽ kéo quân đến rửa hận, chiến tranh bao giờ kết thúc, bao nhiều người sẽ chết oan uổng vì con. Con tự nguyện xin được chết để ngăn cuộc chiến tranh vô nghĩa này. Cầu xin Yang cho con được toại nguyện.

Nói dứt lời, H’Linh leo lên hòn đá cao, gieo mình xuống dòng thác. Vừa lúc đó K’Lang thúc voi chạy đến thấy thế hét lên một tiếng hãi hùng. Dòng thác gầm lên, bồng xác nàng đặt lên hòn đá phía dưới chân thác, phun bọt trắng phau vây quanh. K’Lang đứng lặng nhìn xác người mình yêu, trong lòng vô cùng hối hận. Mtao cũng thúc voi chạy đến nhìn thấy xác con vội xuống bế mang về. Dòng thác nơi H’Linh chết được người dân địa phương đặt tên là thác H’Linh.

M’Tao buôn Klail đưa được xác H’Linh về đến buôn; amí H’Linh chạy ra nhìn thấy con đã chết liền thét lên một tiếng ngã vật ra đầu đập vào cầu thang, hồn đi theo Yang luôn. Mtao đau xót, căm giận cánh rừng bên phải dòng sông không tránh đường để con gái đi nên mới phải chết thảm để rồi vợ cũng chết theo; vì thế Mtao không thèm chặt gỗ bên này mà sai quân lính qua bên kia sông xin rừng cho chặt hai cây gỗ quý về làm quan tài cho vợ, cho con. Nhưng lạ thay, hễ quan tài làm xong đưa qua sông thì chìm; lần thứ nhất, lần thứ hai, lần thứ ba… đến lần thứ bảy vẫn chìm. Mtao ngạc nhiên lắm, mới lập đàn cầu xin Yang sông cho mình đưa quan tài về chôn cất cho vợ con. Đêm đến Yang sông hiện về bảo: “Nếu nhà ngươi đồng ý từ nay cho mọi người gọi tên sông là Krông Bông, ta sẽ cho qua”; Mtao bằng lòng. Mờ sáng hôm sau hai cây gỗ lớn không biết ai chặt từ rừng bên trái sông trôi qua bên phải sông; Mtao cho voi kéo về làm quan tài chôn cất cho vợ và con gái. Tang lễ xong, Mtao làm lễ tạ ơn Yang sông và ra lệnh cho mọi người gọi tên sông là Krông Bông vì thế cho đến tận ngày nay người dân nơi đây vẫn gọi dòng sông ấy là Krông Bông – sông Quan Tài.

 


Thứ Bảy, 11 tháng 12, 2021

QUÊ NỘI truyện ngắn của HỒNG CHIẾN - TẠP CHÍ NHÀ BÁO&CUỘC SỐNG ĐẮK LẮK số tháng 11 năm 2021

 


Trời Ban Mê Thuột mùa mưa thật lạ; đang nắng chói chang, bỗng gió ào ào nổi lên, mây đen kéo tới rồi mưa, mưa ào ạt; một lúc sau hết mưa lại nắng. Ngọc Sa không thích mùa mưa vì ẩm ướt và đi ra vườn đất dính bết vào giày, dép không gỡ ra được. Lẽ ra trong những ngày này, Ngọc Sa đang ở thành phố chuẩn bị nhập học vào lớp một; không ngờ dịch COVID bùng phát, ama amí phải ở lại chống dịch nên gửi em về quê ở với nội.

Ông bà nội là nhà giáo nghỉ hưu, thấy cháu về mừng lắm, mua hẳn một đôi ủng mới be bé để Ngọc Sa đi ra vườn. Đất Tây Nguyên màu đỏ, mưa xuống là mến người lắm; ra vườn, đất yêu bám chặt đến không nhấc chân lên được. Bù lại, mùa mưa cũng là mùa của nhiều loại quả cây ngon vào vụ thu hoạch.

Sáng thức đậy nghe mùi sầu riêng chín ùa vào nhà, Ngọc Sa kêu ầm lên:

-Nội ơi, sầu riêng chín rồi!

Bà Nội bảo:

-Cháu gái dậy đánh răng rửa mặt rồi đi thu sầu riêng.

-Đi hái chứ sao lại thu ạ?

Ngọc Sa ngạc nhiên hỏi, bà nội trả lời:

-Sầu riêng chín về đêm, quả chín tự rụng xuống gốc; sáng ra ta đi lượm mang vào, nên gọi là thu, không phải hái.

A, thì ra thế; Ngọc Sa thích thú với khám phá mới, vội tung tăng chạy đi về sinh cá nhân rồi xỏ ủng chuẩn bị ra vườn. Ông nội đẩy xe rùa – xe có hình giống con rùa nhưng chỉ có một bánh thôi, Ngọc Sa lon ton bước theo sau. Mùi thơm của sầu riêng quyến rũ quá chừng, Ngọc Sa hít hà; nội cười, bảo:

-Con nhìn dưới gốc kia kìa!

-Ui nhiều quá, sáu quả bự luôn.

Ngọc Sa reo lên, chạy lên trước hai tay giang ra định bê quả lớn nhất to hơn cả đầu. Nội thấy thế, nói:

-Cháu cầm vào cuống không bê ngang quả, gai đâm vào tay đấy.

-Dạ!

Lại thêm bài học khi đi nhặt sầu riêng, Ngọc Sa thầm nghĩ. Đẩy xe chất đầy quả vào sân, nội chọn quả to nhất mang vào nhà. Lật ngược quả sầu riêng lên, nội nói:

-Cháu nhìn đây, dưới đít quả có những đường nứt, dùng mũi dao nhọn chọc vào vết nứt đó, nảy nhẹ ra là được.

Ô, cách bổ quả đầy gai nhọn này dễ quá, nội thao tác nhanh như phim hoạt hình; tách đôi quả ra, để lộ phần múi phía trong màu vàng tươi. Bà nội dùng thìa xúc hẳn một múi đặt vào dĩa đưa cho Ngọc Sa, bảo:

-Cháu ăn đi!

Cố lắm mới ăn hết một múi, bụng no rồi mà mắt vẫn thèm. Nghỉ một lúc lại theo bà ra vườn hái na. Quả na hình trái tim treo lũng lẵng trên cành. Nội bảo:

-Cháu nhìn nhé, quả nào mắt quả chuyển qua màu vàng nhạt, đường viền quanh mắt na có màu hồng; chắc chắn quả đó sắp chín.

-Quả na cũng có mắt ạ?

Ngọc Sa ngạc nhiên reo lên. Bà bảo:

- Quanh quả na như được bọc trong một tấm lưới; phần nhô ra bên ngoài gọi là mắt na.

-Dạ!

Nội dùng kéo cắt từng quả một, mỗi quả có một cành nho nhỏ ở đầu cuống còn ba hoặc bốn lá xanh, trông đẹp lắm. Nhưng thích nhất là những quả mới chạm tay vào nó đã rời cành, để lại lõi quả trên cây; những quả như vậy Ngọc Sa phải “giải quyết” ngay: bóc lớp vỏ - mắt na bỏ đi, để lộ ra phần trắng bên trong và gậm một miếng: ngon tuyệt!

Nhà có mười hai cây na, bà hái được hai rổ đầy luôn. Ông nội mang xe rùa ra đẩy quả vào để hai bà cháu đi thăm mít. Cây mít cao hơn đầu nội nhiều nhiều, cây nào cũng sai quả, mùi thơm tỏa ra ngào ngạt. Ngọc Sa kêu lên:

-Thơm quá nội ơi, nhưng nhiều thế này biết quả nào chín mà hái ạ?

-Ở dưới thấp ta dùng tay vỗ, còn ở trên cao dùng cây đập vào từng quả; khi nào nghe quả kêu bịch, bịch… thì quả đó đã chín.

-Hay quá!

Bà mang sào gõ, còn ông mang thang ra hái những quả đã chín chất lên xe, Ngọc Sa đi bên cạnh phụ ông đẩy xe vào nhà. Trong nhà hương trái cây chín thơm lừng.

Trưa đang ăn cơm, amí điện về hỏi thăm; Ngọc Sa mừng lắm, khoe luôn:

-Ui chu cha ở nhà nội nhiều trái cây chín lắm nhé, amí xem này: na, mít, sầu riêng nữa.

Nói chuyện một lúc, amí tắt máy; Ngọc Sa mặt buồn thiu. Bà nội ngạc nhiên, hỏi:

-Sao cháu buồn vậy?

-Amí cháu!

-Amí cháu làm sao?

-Cháu chỉ nghe tiếng thôi mà không thấy mặt, thấy mắt đâu cả, hình như là amí không thương cháu.

-Amí đang trong khu cách ly chống dịch nên phải mặc quần áo, đội mũ bảo hộ và đeo khẩu trang không thể bỏ ra được.

-Đeo cả ngày luôn ạ?

-Đúng.

-Thế thì khó chịu lắm luôn.

-Đúng rồi!

Ngọc Sa ôm lấy bà nội, giọng nghèn nghẹn:

-Thế mà cháu không biết còn trách amí; thương ama amí quá nội ơi!

  

Mùa mưa năm 2021


Thứ Hai, 6 tháng 12, 2021

QUÀ CỦA YANG truyện ngắn của HỒNG CHIẾN - TẠP CHÍ NÂM NUNG SỐ 181 THÁNG 12 NĂM 2021

 


Một tia sáng lóe lên rạch ngang bầu trời đầy sao đêm ba mươi, liền ngay sau đó là tiếng nổ rền vang ập xuống các nóc nhà dài buôn Trưng. Trẻ con giật mình khóc thét, người lớn choàng dậy chất thêm củi vào bếp, ngó ra đầu sàn không giấu được nỗi ngơ ngác, sợ hãi. Già làng(1) đã sống hơn tám chục mùa rẫy(2) chưa bao giờ nghe tiếng sét khủng khiếp đến thế cũng lật đật ngồi dậy; cơn ho ở đâu kéo đến làm ông nấc lên. H’Lim, con gái út từ gian trong bước vội ra khoác cho ama(3) tấm chăn qua vai rồi dìu lại bên bếp lửa gian giữa nhà, chất thêm củi, hơi ấm lan tỏa ra xung quanh. Già trẻ, lớn bé trong ngôi nhà dài thức dậy ra vây quanh bếp lửa, nhìn nhau như muốn hỏi: vì sao Yang(4) lại tức giận đến thế?

 Đêm dài cũng qua đi, ông mặt trời lười biếng từ từ nhô lên trên đỉnh núi phía đông, ban phát những tia nắng vàng lên khắp cánh đồng cỏ mênh mông của thảo nguyên trước buôn. Có tia sáng xuyên qua những đám mây trắng đang vương vấn quấn quanh triền núi cao sau buôn xuống bờ suối, tạo nên nhiều màu sắc lung linh như ánh cầu vồng. Đám trẻ ùa ra đầu cầu thang, tranh nhau nhìn lên núi rồi khua chân múa tay, cố diễn tả vẻ đẹp mà chúng cảm nhận được.

          Y Khuôn mặt vuông chữ điền, trên mình có độc chiếc khố, để lộ thân hình vạm vỡ, nước da như màu chiêng mới đúc, tóc xoăn tít; hốt hoảng chạy từ bến nước về buôn, miệng la ầm lên:

          -Yang đến rồi, Yang đến bến nước buôn ta rồi Già làng ơi!

          Y Khuôn chạy đến bên nhà Già làng, tay vịn vào chân cầu thang, miệng, mũi tranh nhau thở. Già làng bước ra đầu sàn, hỏi:

          -Mày sống hơn hai mươi mùa rẫy rồi đấy, sao còn nói nhảm thế; làm sao có thể thấy Yang được?

          - Già làng ra bến nước mà xem. Không phải Yang thì là gì…!

          Già làng lại ho, cơn ho kéo dài làm tấm thân còng còng có bao nhiêu xương sườn đều phơi ra dưới lớp da, ai cũng có thể đếm được. H’Lim bước lại bên đỡ ông rồi dìu xuống cầu thang. Cả buôn Trưng như ong vỡ tổ, họ rùng rùng kéo nhau chạy về phía bến nước. Già làng đến gần, đám người dạt qua hai bên nhường lối. Trên đầu họ đám mây khổng lồ của ong và bướm tạo thành, vần vũ bay lượn trên bến nước, che kín luôn cả ánh sáng mặt trời và… thật kỳ lạ, một mùi hương thơm ngào ngạt tỏa ra, bao trùm cả không gian làm ngây ngấy mọi người. Hình như hương thơm tỏa ra từ trong gốc cây to hơn một vòng tay người ôm mới bị sét đánh nứt đôi khi đêm. Ông thầy cúng nhanh chân đến trước, quỳ xuống, cúi đầu vái lạy gốc cây, miệng lẩm bẩm những câu vô nghĩa, chẳng ai biết lão nói gì; rồi quay lại nói:

          -Buôn ta được Yang tặng quà rồi?

          -Mày nói vậy nghĩa là sao?

          - Già làng nhìn đây!

          Lão thầy cúng nói dứt lời bước tới cây bị sét đánh chẻ làm đôi, bê từ giữa gốc cây lên một cục như hòn đá, to bằng bắp đùi người lớn, dài hơn ba gang tay, màu trắng xám nâu, xung quanh như có lớp đường trắng mịn bám vào; đưa đến trước mặt Già làng. Già làng, nhắm mắt, ôm ngực, cúi đầu ho rũ rượi, ho như thắt cả ruột gan lại để văng ra ngoài. Bỗng nhiên ông ngừng ho, tinh thần khoan khóai trở lại; mở mắt thấy lão thầy cúng bê “cục đá” đến trước mặt, mùi thơm kỳ lạ tỏa ra và hình như chính mùi hương này làm ông hết ho. Hai tay đón “hòn đá Yang”, già làng quỳ xuống, ngửa mặt lên trời tạ ơn Yang đã ban cho buôn bảo vật. Màu sắc trông giống đá, nhưng nhẹ hơn lại được tìm thấy trong bụng của gốc cây đại thụ bên bến nước; đúng là kỳ diệu, đúng là quà của Yang cho.

*

**

Sau lễ cúng tạ ơn, “hòn đá Yang” được đưa về nhà Già làng để trong phòng khách; ai có bệnh tật, đau ốm… chỉ cần đến gần, khấn câu cầu xin Yang giúp đỡ, bệnh tự khỏi. Già làng ở nhà hướng dẫn người có bệnh đến khấn vái, chữa bệnh, không lấy của ai bất cứ thứ gì vì nghĩ đó là quà Yang ban cho chung mọi người.

          Từ ngày có “hòn đá Yang”, người già khỏe lại; lũ người trẻ không còn bị bệnh tật, nên ai cũng vui mừng. Có sức khỏe, mọi người ham làm việc nên: lúa, bắp, đậu… lúc nào cũng đầy kho; ché túc, ché ba… xếp hàng bên vách lúc nào cũng được bịt kín miệng, sẵn sàng chờ đón lễ hội. Trong các buôn ban ngày đầy ắp tiếng cười của lũ trẻ; ban đêm quanh bếp lửa người lớn im như hạt thóc thay nhau vít cần rượu nghe kể khan(5). Cuộc sống cứ vậy trôi đi, cho đến một hôm…

          Một đoàn người lạ đến thăm buôn Trưng. Họ là người ở buôn xa, ngồi trên lưng ba con voi được lão thầy cúng đưa đến. Lão thầy cúng buôn xa khoảng năm chục mùa rẫy; mặt dài, hai mắt sùm sụp như chưa bao giờ nhìn thẳng vào ai, râu ria lâu ngày không cắt tạo cho khuôn mặt trông như mặt vượn; người thấp bé, nước da như đít xoong lâu ngày không rửa. Đi cùng đoàn còn có người ngoại quốc, da trắng bờn bợt giống con cá suối chết lâu ngày, mặt tròn, mắt một mí, trên môi có cái tẩu không bao giờ tắt khói.

Cả đoàn khách lạ lên nhà già làng, mang theo nhiều lễ vật quý như: rượu trong chai trong như nước suối, chỉ nhấp một tý thôi đã thấy như có ngọn lửa trong mồm. Muối trắng, hạt to như hạt bắp đỏ trồng mùa mưa, đưa một hạt lên lưỡi có vị mặn, vị chát và cả cảm giác ngọt thấm vào tận trong bụng. Đặc biệt, họ còn có cây gậy hét lên tiếng như Yang, cây cách xa cả trăm bước chân, to bằng bắp đùi người lớn cũng bị xuyên thủng. Già làng vui lắm, sai mổ trâu, mổ bò đãi khách quý đúng ba ngày ba đêm. Dàn chiêng của buôn lại được dịp nổi lên bản chúc phúc, mừng sức khỏe cho khách đã vượt núi cao, suối sâu đến thăm buôn.

          Sáng ngày thứ tư, đoàn khách từ biệt trở về. Lão ngoại quốc nói với già làng:

          -Ngộ có con gái út đến tuổi bắt chồng mà bị bệnh lạ nằm liệt một chỗ. Trong giấc mơ được thần linh bảo: phải nhìn thấy “hòn đá Yang” mới khỏi bệnh. Nay lặn lội đường xa đến đây muốn xin Già làng cho mượn hòn đá quý về chữa bệnh cho con, rồi mang trả lại.

          -Điều đó không được, hòn đá của Yang không thể rời buôn, mang đi sẽ bị Yang trừng phạt cả buôn.

          Nghe Già làng trả lời, người lạ nói tiếp:

          -Ngộ vì con gái nên phải tới đây, nếu Già làng đồng ý ngộ sẽ để lại đây một con voi làm tin; hôm sau lên trả lại đá sẽ hậu tạ buôn ta ba bồ muối lớn được ba con voi chở đến.

          -Không phải Già làng không tin mà phong tục nó thế, không làm trái được.

          Y Khuôn giờ đã là chồng của H’Lim, con gái út Già làng trả lời.

          -Con gái ngộ bị bệnh cũng không thể ra khỏi nhà, ra khỏi nhà thì thành atâo(6) nên mới phải lặn lội đến đây. Chẳng lẽ thấy người sắp chết mà già làng không cứu.

          Nghe lão nói như khóc làm người già trong buôn tranh cãi nhau đến to tiếng; người bảo nên cho mượn để cứu người; người lại bảo không được làm trái ý Yang. Cái buôn Trưng đang yên lành bỗng nhiên nổi sóng, đám thanh niên cũng chia làm hai phe tranh luận sôi nổi, giận hờn đến suýt nữa thì xông vào đánh nhau.

H’Lim thấy mọi người không vui mới đến bên Già làng nói:

-Yang cho ta hòn đá này để cứu người, nay nghe tin người sắp chết mà không cứu thì không đúng ý Yang. Nhưng đưa đá ra khỏi buôn cho người lạ mượn cũng trái ý Yang. Con nghĩ thế này: buôn ta nên làm lễ cầu xin Yang cho mang đá đi cứu người. Nếu Yang đồng ý thì chọn mấy người con trai khỏe mạnh đưa “đá Yang” đi rồi đưa về, không cần giữ voi của người lạ làm gì.

Già làng nghe lời con gái út, cho mổ trâu làm lễ cúng bến nước, xin ý Yang. Trong lúc mọi người tíu tít chuẩn bị làm lễ, lão ngoại quốc đi đến gần, nắm tay thầy cúng, đặt vào đó một chiếc vòng bạc lớn rồi ghé tai nói nhỏ:

-Ngộ mời thầy cúng đi cùng hòn đá thần đến chữa bệnh cho con gái. Xong việc, con voi ta cỡi kia và số muối hạt chất đầy lưng voi chở về đây là của ông.

Nghe nói thế, mắt lão thầy cúng sống gần sáu mươi mùa rẫy bừng sáng lên như có ánh lửa; lão gật đầu rối rít, trả lời:

-Biết rồi, biết rồi.

Mồm trả lời, trong đầu lão hiện lên cảnh một mình chễm chệ ngồi trên cổ voi đi qua các buôn dự lễ; mọi người sẽ tròn mắt nhìn mà thèm. Có voi, đi vào rừng kéo những cây gỗ đẹp nhất về dựng ngôi nhà to nhất, to hơn cả nhà Già làng. Rồi mùa khô đến, sẽ tổ chức cho đám thanh niên đi theo săn voi, bắt thêm nhiều voi nữa để rồi… lão cười với ý nghĩ: mình sẽ là Già làng của buôn, của cả vùng thảo nguyên rộng lớn và xinh đẹp này.

*

**

Trong lễ cúng, lão thầy cúng nhảy múa loạn xạ một hồi, rồi phán:

-Yang đồng ý cho mang hòn đá thần ra khỏi buôn đi cứu người và phải xuất phát ngay hôm nay.

Già làng nghe nói vậy, họp buôn lại hỏi đám thanh niên ai xung phong đi cùng “hòn đá Yang”.

-Y Khuôn xin nhận trọng trách gùi “hòn đá Yang” đi, xong việc sẽ mang đá trở về.

Lũ con trai nhiều người xung phong, nhưng Y Khuôn chỉ chọn năm người thanh niên khỏe mạnh chưa có vợ để đi cùng mình. H’Lim bỏ vào gùi cho chồng hai cái khố mới bên cạnh “hòn đá Yang” và một quả bầu khô đựng nước, dặn:

-Đi đường xa phải cẩn thận, nước trong bầu chỉ uống khi bị đau bụng thôi nhé. Đi nhanh về không anac mong!

          -Người lạ tốt lắm, lại có những ba con voi đi cùng chở đồ ăn không phải lo gì đâu, vắng ít hôm sẽ về ngay thôi mà.

          Vợ chồng nhìn nhau, đứa con gái đầu vừa tròn tuổi nắm chặt tai ama như không muốn thả ra.

          Y Khuôn từ biệt vợ con, đeo gùi, vác xà gạc(7) lên vai bước xuống cầu thang nhập vào đoàn người. Ba con voi chở người lạ, hai lão thầy cúng và mấy người Êđê buôn xa đủng đỉnh đi trước mở đường.

          Chiều, khi đi đến chân một ngọn núi cao, có dòng suối nước trong như lọc chảy qua, đoàn người dừng lại, dựng lều, nổi lửa chuẩn bị bữa chiều. Ba con voi được thả vào rừng tự kiếm ăn.

          Bên bếp lửa, người lạ tỏ ra là người hiếu khách, mời mọi người ăn uống thoải mái. Ngoài món thịt nai khô và thịt heo rừng hong khói Già làng buôn Trưng cho, đem nướng; còn có nhiều chai rượu trắng xếp quanh đống lửa.

-Hôm nay Ngộ mời mọi ngưới, cứ tự nhiên uống cho thỏa thích nhé. Rượu này được nấu ở nước mẹ từ phương bắc rất xa, phải đưa lên tàu thủy chạy trên biển nhiều lần trăng mọc mới tới được cảng. Cảng là nơi tàu thủy dừng để vận chuyển hàng hóa lên, xuống tàu. Rồi từ bến cảng đó phải đi nhiều ngày nữa mới tới được đây. Có viên đá này chắc chắn con ngộ được cứu sống rồi, cảm ơn tất cả. Uống, uống nào!

Rượu ngon, mồi ngon; họ cụng, chúc nhau, mừng nhau rồi… say lúc nào không biết. Màn đêm qua đi, bầy vượn vui mừng hò hét vang rừng chào đón ngày mới. Y Khuôn thức dậy, bụng đau như có người cào cấu trong đó; nhớ lời vợ dặn, ngồi dậy lấy quả bầu khô mang theo, mở nút lá chuối nhấp một ngụm. Cơn đau dịu dần, nhìn qua bên cạnh thấy năm người bạn đi cùng và lão thầy cúng, ai cũng ngủ say, mồm trào ra nước bọt đen sì, tỏa mùi hôi khó chịu. Thôi chết, bọn này trúng độc rồi, Y Khuôn nghĩ vậy, nên mang nước trong bầu đổ vào miệng cho bọn chúng tỉnh lại. Một lúc sau cả bọn ngồi dậy nhìn nhau, nhìn ra xung quanh thì lũ người đi cùng đã biến mất như tan vào các gốc cây. Y Khuôn gầm lên:

          -Ta bị lừa rồi. Chúng cướp mất “hòn đá Yang” của buôn ta rồi. Ta phải đuổi theo lấy lại.

          -Chúng có cây gậy của Yang giết người xa hơn trăm bước chân thì làm sao lấy lại được?

          Lão thầy cúng hỏi, Y Khuôn trả lời:

          -Bọn chúng đi bằng voi, đi đến đâu thành đường đến đó. Ta theo dấu đuổi theo sau, chờ đến đêm bọn chúng ngủ say thì lấy lại đá của Yang mang về.

          -Tao phải tìm nó trả thù.

          Lão thầy cúng của buôn gầm lên, Y Khuôn nói:

          -Ông già, sức yếu, quay về buôn trước chứ đi theo thì làm được gì. Lũ chúng tôi chân còn khỏe, bước nhanh mới đuổi kịp chúng.

          -Tại tao tham vòng bạc, ưng con voi như lời nó hứa mới bị lừa dối thế này. Xấu hổ quá, có lỗi với mọi người trong buôn thì còn mặt mũi nào mà về gặp họ nữa.

          Lão thầy cúng nói xong, quỳ xuống lạy đất trời; khóc nức nở rồi quay đầu, lững thững bước đi, thỉnh thoảng vấp vào dây rừng ngã dúi dụi. Sáu chàng trai mặc khố, lưng đeo gùi, trên vai có cây xà gạc, lần theo dấu chân voi chạy như bị ma đuổi. Đói bứt tạm lá rừng bỏ vào miệng nhai, khát vốc nước suối uống; trong lòng họ như có ngọn lửa đốt. Họ hận vì bị lừa dối, họ tức vì niềm tin bị đánh cắp; trong lòng họ giờ đây chỉ còn ngọn lửa hận thù.

*

          Gần đến chiều tối, chạy đến bờ một con sông rất lớn. Dòng nước chảy cuồn cuộn như Yang đang giận dữ. Mọi người nhìn sông thất vọng vì dấu vết lũ voi đã lội xuống sông đi qua bờ bên kia. Sông rộng, nước chảy xiết, cả sáu chàng trai đều không biết bơi, nhìn sông họ chảy nước mắt.

          Y Khuôn bảo:

          -Ta đi xuôi một đoạn xem có cách gì qua sông được không.

          Cả đoàn lại xé rừng, xuôi sông; đi được một đoạn, bỗng phía trước mặt, có một ngọn cây lớn chắc là bị nước cuốn từ thượng nguồn về mắc vào hòn đá không đi được, từ ngọn cây vào đến bờ xa đến chục sải tay. Ngồi trên cành cây nhô cao hơn mặt nước một chút chính là người quản tượng(8) của con voi chở người lạ. Thấy mấy người buôn Trưng đến, hắn kêu lên:

          -Cứu tôi với, cứu tôi với.

          Y Khuôn hỏi:

          -Tên Ngộ đâu?

          -Bị nước sông ăn rồi?

          -Còn lũ người đi cùng đâu rồi?

          -Bị nước sông nuốt hết vào bụng rồi.

          Đám người buôn Trưng bàn nhau, người thì bảo: Để nó tự chọn chết khô trên cành cây hay chui vào bụng sông; người lại nói: hắn cũng là người nên cứu; người khác không chịu: giúp người khác làm điều ác nên Yang trừng phạt, chết là phải… Cuối cùng Y Khuôn quyết định:

          -Hắn không phải chủ mưu mà chỉ a dua, đi theo thôi, không nên để chết mà không cứu vì hắn cũng là người; vợ con, bạn bè, người thân đang đợi hắn trở về.

          Nói xong phân công, người chặt nứa buộc lại làm bè, người chặt dây nối lại với nhau để kéo bè. Bè được làm xong, đưa lên phía trên một đoạn thả xuống, mong nước đẩy bè vướng vào cành cây đổ dưới sông, để cứu tên quản tượng. Nhưng nước lớn, chảy xiết, ba lần thả bè đều bị nước cuốn qua chỗ khác không đến được ngọn cây gãy mắc ngoài sông.

Thấy vậy, Y Khuôn nói:

-Để tao ngồi trên bè nứa, dùng cây, chèo cho nó vướng vào ngọn cây gãy mới cứu được người.

-Làm thế nguy hiểm lắm.

Đám thanh niên phản đối, nhưng Y Khuôn đã quyết.

-Tao không bơi ra thì không cứu được hắn đâu. Mọi người phải nắm chắc dây, ráng sức kéo mới có cơ hội sống đấy.

Cả bọn lại kéo bè nứa lên trên một đoạn, Y Khuôn cầm một khúc cây làm bơi chèo, leo lên bè chèo mạnh, băng ra sông. Sóng gầm lên, đẩy bè lao băng băng. Y Khuôn khéo léo đưa bè chạm vào ngọn cây, dùng hai tay bám chặt vào cành cây giữ bè lại để đón tên quản tượng xuống, đưa vào bờ an toàn. Bước lên bờ, tên quản tượng quỳ xuống vái lạy những người đã liều mạng, cứu kẻ bất tín, tiếp tay ăn cướp bảo vật của buôn. Lạy xong hăn nói:

          -Người lạ sống ngoài phố, mọi người vẫn gọi là lão Vương, nhà cách đây tới ba ngày đường voi đi. Nghe tin buôn Trưng có đá thần chữa được bệnh nên thuê người buôn tao đưa vào xem. Khi thấy “hòn đá Yang” của buôn chính là dao(9), lão bảo: “Loại này quý lắm vớ, một ký có giá hơn bảy ký vàng bốn số chín đấy”. Vì tham, lão Vương bày kế để ăn cướp hòn đá và giết mấy người đi theo. Không ngờ về đến đây, khi ra đến giữa sông bị Yang trừng phạt; sóng lớn nổi lên, sông nuốt tất cả voi, người và “hòn đá Yang” vào bụng; chỉ mình tao may mắn và biết bơi, trôi xuống đến đây vớ được ngọn cây mới dạt vào chỗ này, thoát chết.

          Nghe vậy mọi người thở dài, Y Khuôn nói với quản tượng:

          -Làm người đừng nên làm điều ác và cũng không được giúp kẻ khác làm điều ác vì cái kết bao giờ cũng không tốt. Lũ chúng mày đến buôn tao lừa dối mọi người cướp “đá Yang” nên bị Yang trừng phạt, phải làm mồi cho cá, ngủ trong bụng sông là phải lắm. Buôn tao chắc rồi sẽ bị trừng phạt vì không biết phân biệt người xấu, người tốt nên Yang lấy lại quà. Âu đó cũng là bài học cho mọi người.

          Nghe Y Khuôn nói vậy, cả bọn đưa mắt nhìn nhau, rắng nghiến chặt, mắt nhìn dòng sông như muốn nổ tung. Bỗng trong rừng vọng đến tiếng hổ gầm nghe rất gần:

-H… ù… m!

         

 

 

Chú Thích tiếng Êđê:

1.    Già làng: người có uy tín nhất trong buôn;

2.    Ama: ba;

3.    Yang: thần linh;

4.    Sống hơn hai mươi mùa rẫy: hơn hai mươi tuổi, mỗi mùa rẫy là một năm;

5.    Khan: truyện cổ sử thi truyền miệng của người Êđê.

6.    Atau: chỉ người đã chết;

7.    Xà gạc: con dao dùng phát rẫy, đi rừng;

8.    Quản tượng: người trông nom và điều khiển voi;

9.     Dao: kỳ nam;