Thứ Tư, 11 tháng 2, 2015

CHƯ YANG SIN SỐ XUÂN ẤT MÙI - tác giả TIẾN THẢO

Nhà thơ TIẾN THẢO
(hội viên Hội VHNT Dak Lak)


LÒNG TỪ

Truyện lịch sử


Vương quốc Chiêm Thành giáp với nước Đại Việt, thường cho quân sang  quấy nhiễu khiến nhân dân vùng biên địa thiếu sự yên ổn đế làm ăn, sinh sống nên vô cùng oán giận.
Để giữ yên bờ cõi, vua Lý Thánh Tông cùng quan Thái úy Lý Thường Kiệt phải thân chinh đem quân dẹp giặc, vì thế giặc mạnh, lại chiến đấu trên đất người nên trận đầu bị thất bại, nhà vua phải cho quân rút về. Sau đó, khi ra quân lần thứ hai thì mới giành được thắng lợi, bắt vua chiêm là Chế Cũ. Vua Chiêm xin dâng 3 châu là Đại Lý, Ma Linh và Bố Chính để được tha tội chết và cũng từ đó nước Đại Việt mở rộng về phía nam cả mấy trăm dặm.
Trong lúc rảnh rỗi việc quân,nhân gặp buổi trăng thanh gió mát, nhà vua cùng các hậu phi, quần thần hầu cận xa giá đến điện Hàm Quang để nghỉ ngơi và nhân lúc không khí cởi mở giữa vua tôi, có thể bàn luận việc dân, việc nước, trước mắt là bàn định việc tăng cường quản lý vùng đất mới do vua Chiêm vừa cống nạp.
Điện Hàm Quang được Tiên đế dựng lên từ thời mới dời đô ra Thăng Long,  cùng với một số cung điện, đền đài, chùa chiền khác. Điện nằm cạnh bờ sông một gò đất cao thoáng đãng. Từ cổng trước lên phải qua cả trăm bậc cấp mới đến sân điện. Đây cũng là một trong những công trình sơn son thếp vàng đồ sộ, lộng lẫy với những chạm trỗ mỹ thuật làm say đắm lòng người. Dưới ánh nắng mai, những mái ngói bạc trắng lấp lánh, phản chiếu cả một khoảng trời rộng, chẳng khác gì những lâu đài thần kỳ trong chuyện cổ tích.
Vua Lý Thánh Tông nhiều lần bày tỏ với quần thần về sự mãn nguyện của mình trước việc thành Thăng Long được các Tiên đế cho xây dựng tương đối hoàn chỉnh. Kể từ khi dời đô đến lúc nhà vua lên ngôi chỉ hơn bốn mươi năm mà không biết bao nhiêu nhà cửa được xây dựng lên, nguy nga, tráng lệ. Trong Cung thành tức là khu trung tâm của Hoàng Thành thì có điện Càn Nguyên là nơi các quan văn võ vào chầu, điện Tập Hiền để họp các quan văn  theo định kỳ hoặc đột xuất; điện Giảng Võ là nơi hội họp, bàn luận việc quân với các quan võ. Sau điện Càn Nguyên còn có hai điện nữa là Long Hoa và Long Thụy là nơi bày yến tiệc chiêu đãi Hoàng thân quốc thích, các quan văn võ trong những dịp đầu xuân hay khánh tiết. Ngoài ra còn có các cung dành cho các cung tần, mỹ nữ… rồi chùa chiền, đỉnh tháp, cổng ngõ, cầu cống phục vụ cho việc đi lại trong Hoàng Thành, các kho tàng, bến bãi phục vụ việc chuyển lương, quân dụng, vật dụng….
Vua Lý Thánh Tông đang đứng trên sân của điện Hàm Quang, gió sông Hồng thổi lên lồng lộng. Hương thơm của cỏ cây, hoa lá lan tỏa tạo một cảm giác thoải mái, nhẹ nhàng trong lúc nhà vua đang dõi mắt về phía Cung thành thì đàn sâm cầm từ phía hồ Tây bay lên rồi lượn vòng về phía sông Tô Lịch, vẽ lên nền trời bức tranh của sự bình yên, no ấm.
Trong lúc nhà vua đang miên man với nhiều ý nghĩ về tiền đồ đất nước thì từ phía dưới quan Thái úy từ từ bước lên, cúi chào. Nhà vua đưa tay ra đỡ và hai người tiến vào phía trong, nơi có bộ ghế tràng kỷ đặt dưới nhà võ cửa trông ra phía sông Hồng.
Từ lâu, vua tôi đã một lòng, một dạ trong việc quân quốc. Sau khi chinh phạt Chiêm thành thắng lợi trở về, lòng tôn quí ấy càng thêm tỏ rõ. Khay trà vừa được thị nữ bưng lên đặt xuống bàn, nhà vua liền tự tay mình rót một chén mời quan Thái úy. Chén trà sen bốc khói lan tỏa như mùa hạ vẫn còn quanh đây thắm tình đạo vị. Trong bầu không khí cởi mở, nhà vua bắt đầu câu chuyện.
- Chế Cũ thường cho quân sang quấy nhiễu nước ta, thật là đáng giận, nhưng khi bắt được Chế Cũ rồi, hắn đem dâng đất để chuộc mạng, ta lại thả về, việc ấy có gì di hại về sau?
- Bẩm Hoàng thượng, việc Hoàng thượng phải thân chinh vào đất giặc để trừ nạn nước, mang lại sự bình yên lâu dài cho Đại Việt, thật là một bậc quân vương dũng lược, từ trước đến nay ít thấy trong lịch sử. Việc tha mạng cho Chế Cũ là hợp đạo lý. Tướng giữa trận tiền chẳng mấy ai chém người ngã ngựa. Chiến tranh là việc chẳng đặng đừng. Đầu rơi, máu chảy của quân sĩ cả hai phía đều là nỗi đau khó chữa lành của nhân dân hai nước. Nếu lúc bấy giờ ta tức khắc giết Chế Cũ để thỏa mãn sự oán giận thì Chế Cũ đâu còn cơ hội để dâng đất ba châu cho ta, đất nước đâu được mở rộng cả mấy trăm dặm về phía nam. Và dân Chiêm vì thương xót vua của mình mà giữ lòng thù hận với Đại Việt, từ đó chiến tranh giữa hai nước dễ bùng phát trở lại, oán hờn lại chồng chất oán hờn, chẳng ích lợi gì về lâu dài cho sự bình yên của đất nước.
- Ta nghe Khanh nói, lòng lại sáng ra. Nhìn lại trong quá khứ chưa xa, kể từ thời Ngô Vương, thời Đinh Tiên Hoàng và gần dây thời các Tiên đế của ta đều lấy lòng từ mà đối nhân xử thế, xem việc đao binh, núi xương sông máu là phải tránh đừng để vạ lây đến trăm họ.
Quan Thái úy vừa lắng nghe ý giãi bày vừa cung kính nâng bình trà rót thêm vào chén của Hoàng thượng. Gió từ sông Hồng, từ các ao hồ thổi lên mát rượi cả một khoảng hành lang dài, mang lại sự dễ chịu cho mọi người.
Hoàng thượng nhẹ nhàng nâng chén hớp thêm một ngụm trà rồi thong thả nói tiếp:
- Từ khi kinh đô được dời từ Hoa Lư về đây, đất nước đã dần ổn định và có sự phát triển về mọi mặt nhất là các nghề nông, lâm, thủy sản. Các làng thủ công mỹ nghệ như dệt vải, chạm gỗ, đúc đồng… cũng đã được khuyến khích, càng ngày sản phẩm càng nhiều, đáp ứng được một phần nhu cầu của đời sống trong nước. Nhưng bên cạnh sự hân hoan đó, Trẫm còn nhiều mối lo trong lúc trị quốc, bình thiên hạ.
Quan thái úy như chia sẻ nỗi lòng của nhà vua, liền hỏi:
- Bẩm Hoàng thượng, đó là những nỗi lo gì?
Hoàng thượng như muốn nói hết gan ruột của mình:
- Ở phía bắc Tống triều cậy mình nước lớn cứ lăm le xâm lược nước ta, đòi hết chuyện này đến chuyện nọ, dành đất, lấn biển, đến một lúc nào đó chiến tranh giữa hai nước chắc phải xảy ra.
- Bẩm Hoàng thượng, đó là một thực tế nhưng không phải đáng lo lắm. Từ trước đến giờ ta phải đối mặt với ngoại bang biết bao lần, nhưng rồi đất nước vẫn cứ vững bền. Nếu phải lo thì chỉ có một điều là sợ lòng người trong nước không yên, vua tôi không một lòng một dạ vì nghiệp lớn. Ở chốn triều đình thì quan lại tham ô, sống xa hoa phung phí. Chốn làng quê thì đời sống mất hết phong hóa, dân không lo làm ăn, chỉ thích cờ bạc rượu chè, hút xách, đâm thuê, chém mướn, cướp của giết người, làm đảo lộn cả cuộc sống tốt đẹp đã được tổ tiên xây dựng thành nề nếp bao đời nay.
- Khanh nói, ta nghe rất ưa lòng. Ta cũng thấy đất nước đang hồi thịnh trị mà sao trong khám đầy cả tội nhân. Vốn ta thương dân như con. Ta đã thường nói với quần thần: “Lòng Trẫm yêu dân cũng như yêu con Trẫm vậy, hiềm vì trăm họ ngu dại, làm càn phải tội, Trẫm lấy làm thương lắm. Từ rày về sau, tội gì cũng phải giảm nhẹ bớt đi”
 Quan Thái úy nghe nhà vua nói rất cảm động, cũng góp lời vào:
- Lòng thương người là tình cảm tự nhiên giữa người với người. Lòng thương dân, ngoài tình cảm còn là trách nhiệm của bậc quân vương. Mà hiểu được nỗi khổ của dân để khoan sức dân là kế sâu rễ, bền gốc. Đã là bậc minh quân, ai cũng ghi lòng, tạc dạ điều ấy.
Và khanh còn nhớ thời mới lên ngôi, giữa mùa đông lạnh giá, Hoàng thượng đã nói với quân thần rằng: “Trẫm ở trong cung ăn mặc như thế này còn rét, nghĩ những tù phạm bị giam trong ngục, phải chịu trói buộc, cơm không có mà ăn, áo không có mà mặc, vả lại có người xét hỏi chưa xong, gian ngay chưa rõ, nhỡ rét quá mà chết thì thật là thương lắm!”.
Sau đó Hoàng Thượng cho mở kho cấp phát chăn chiếu, áo quần, thực phẩm đủ một ngày hai bữa ăn. Nói đi đôi với làm một cách tức khắc, chắc chỉ có một mình Hoàng thượng.
Từ khi đất nước được tự chủ, đạo Phật càng ngày càng được quí trọng. Trong triều đình ra ngoài dân chúng sống chan hòa, trong giáo lý Từ, Bi, Hỉ, Xả. Chính trên đất Thăng Long này không biết bao nhiêu chùa chiền, tháp Phật được xây dựng lên làm nơi  tu học cho sư sãi và dân chúng, mở đầu cho nền văn hóa, văn học Phật giáo của dân tộc. Dòng thơ thiền phát triển rực rỡ cũng bắt đầu từ đây…
Một buổi chiều, tiết trời đang độ lập xuân, sau khi họp bàn với các quan văn xong, nhà vua rời điện Tập Hiền, thong thả đi vòng quanh qua những khoảng sân có nhiều cây cao bóng cả và cỏ cây hoa lá đầy hương sắc của chốn kinh thành. Nghe tiếng chuông chiều vọng từ chùa Sùng khánh sang, nhà vua cảm thấy thanh thản, nhẹ nhàng như có một trận mưa Pháp vừa rơi xuống thấm đẫm vạn vật. Trước phong cảnh thiền vị nhà vua khẽ ngâm bài thơ “Thị Đệ Tử” của Thiền Sư Vạn Hạnh, người có công xây dựng lên triều Lý, về sau lại được phong làm Quốc sư, và thường góp ý vào việc triều chính:
“Thân như điện ảnh hữu hoàn vô
Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô
Nhậm vận thịnh suy vô bổ úy
Thịnh suy như lộ thảo đầu phô”
 Nhà vua ngâm đi ngâm lại mấy lần, tỏ lòng rất tâm đắc và dường như từ  lâu dòng thơ thiền đã thấm vào máu thịt của nhà vua. Mà đúng vậy, “Đời người như chớp nhoáng, sáng rồi vụt tắt. Tựa như cây cỏ mùa xuân tươi tốt, mùa thu héo tàn, mặc cho vận đời có thịnh hay suy cũng đừng sợ hãi, sự thịnh suy mong manh như hạt sương đầu ngọn cỏ, có đó rồi tan đó.
Hoàng thượng thầm nghĩ, con người sinh ra thường sợ hãi đủ điều, sợ thiếu ăn, thiếu mặc, mưa nắng lũ lụt, chiến tranh, dịch bệnh, sợ bị bách hại, bị tù ngục, lo sợ trước nỗi thịnh suy. Nhưng chân lý chỉ rằng tất cả đều là lẽ thường tình, là lẽ tuần hoàn của trời đất, cái cần ở lòng người, ở lòng ta, nhất là đấng quân vương, là lòng từ ái. Có lòng từ sẽ thu phục và đoàn kết được muôn dân, mở ra thái bình, thịnh trị cho đất nước.




CHƯ YANG SIN SỐ XUÂN ẤT MÙI - tác giả NGUYỄN MAN KIM






Một ngày




Sáng ra
vuột khỏi đám đông
cùng sông mây lửng lơ
trôi ngược thời gian
chơi trò đeo bùa chữ nghĩa
nghe âm vang chợ đời vọng níu
nghiêng lòng
tôi theo tia nắng phai
quay về…
chiều tà
sau tiếng chạm ly
bọt bia trào ra lời thật thà
tình ý loãng tan
hơi ấm bỏ quên nơi quán cóc vỉa hè
con đường trước mặt dài ra và bước chân ngắn lại
ngậm ngùi tôi…
đêm sâu
căn phòng thiếu lửa
nhạc dế hòa chung nhịp thở
chờn vờn giấc ngủ khuya
bừng tỉnh
tôi thoát khỏi sự sợ hãi bất thường
tiễn sao đổi ngôi
lặng lẽ trăng…



Thứ Ba, 10 tháng 2, 2015

CHƯ YANG SIN SỐ XUÂN ẤT MÙI - tác giả LÊ VĨNH TÀI

Nhà thơ LÊ VĨNH TÀI
(Hội viên sáng lập Hội VHNT Dak Lak)




Bài thơ




bài thơ vừa mới in
nhưng trang giấy đã ngả vàng
chỉ có ý tưởng nở hoa trắng toát
và câu chuyện nhảy múa như lá trên cây

trang giấy lật đến đâu bài thơ bao la đến đấy
như đám mây cuộn tròn
ngày tôi nhét túi bài thơ mang về
nghe sấm chớp trong cơn mưa bụi

cơn mưa làm ướt nỗi buồn
thỉnh thoảng, nếu may mắn
tôi mở ra sẽ gặp giấc mơ
của hàng trăm trang giấy
trắng và đen hay đã ngả vàng
nó cuộn tròn theo những bước nhảy
của gió
của lưng chừng nhân gian

phía sau trang giấy
tôi vẫn thấy
hai mắt của bài thơ
cùng với nhiều câu chuyện
đang trôi ra
lênh láng…


CHƯ YANG SIN SỐ XUÂN ẤT MÙI - tác giả HỮU HỢP




ĐÔI ĐIỀU VỀ VĂN HỌC NGHỆ THUẬT ĐẮK LẮK
VỚI SỨ MỆNH GÓP PHẦN XÂY DỰNG NỀN
VĂN HÓA VIỆT NAM TIÊN TIẾN,
ĐẬM ĐÀ BẢN SẮC DÂN TỘC
                                                                                  

 Trong Dự thảo Phương hướng hoạt động nhiệm kì VI (2015- 2020) của Ban Chấp hành Hội VHNT Đắk Lắk có viết:“Góp phần xây dựng nền văn học nghệ thuật Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao và đa dạng về chân, thiện, mĩ của các tầng lớp nhân dân, phục vụ có hiệu quả sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, vì mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.”
 Phương hướng hoạt động của Hội Văn học - Nghệ thuật Đắk Lắk nhiệm kì 2015 - 2020 đã đặt ra những nhiệm vụ cụ thể cho đội ngũ văn nghệ sĩ Đắk Lắk trong hoạt động sáng tạo văn học nghệ thuật nhằm thực hiện nhiệm vụ chính trị cao cả được Đảng và nhân dân giao phó.
I/ Nhận diện một vùng không gian văn hóa
Đắk Lắk nói riêng, Tây Nguyên nói chung là vùng đất bazan gắn liền với đại ngàn Trường Sơn hùng vĩ, nơi hội tụ và sinh sống của 47 tộc người anh em trong cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam. Theo đó, Đắk Lắk cũng như Tây Nguyên là một vùng không gian văn hóa vừa mang đậm bản sắc văn hóa các tộc người  bản địa như văn hóa Cồng chiêng, văn hóa Sử thi, văn hóa Nhà dài (hoặc nhà rông)… cùng các lễ hội độc đáo, vừa là nơi hội tụ và giao thoa các sắc màu văn hóa của các tộc người từ Bắc vào nhập cư như các dân tộc: Mường, Thái, Tày, Nùng, Cao Lan, H’Mông, Dao… Các dân tộc từ phía Nam kéo lên như: Chăm, Khơ Me…
Bên cạnh đó, Đắk Lắk còn là nơi giao thoa các giá trị, các sắc màu văn hóa đa dạng độc đáo của không gian văn hóa vùng - miền: không gian văn hóa lúa nước vùng đồng bằng Bắc bộ với các làn điệu chèo, hát chầu văn… Đó là không gian văn hóa Kinh Bắc với các làn điệu quan họ trữ tình mượt mà da diết lòng người (do cư dân hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang đóng góp). Đó còn là không gian văn hóa của xứ Nghệ với các làn điệu ví dặm mộc mạc mà sâu sắc, là không gian văn hóa xứ Quảng với các làn điệu bài chòi, hò Quảng Nam…
Đan xen các giá trị văn hóa truyền thống đậm đà bản sắc dân tộc của các vùng miền là sự xuất hiện và phát triển các sản phẩm, các giá trị văn hóa hiện đại tiên tiến mà nhiều người đã gọi tên là văn hóa cà phê, văn hóa internet, văn hóa điện thoại…
Sự phong phú đa dạng cùng quá trình hội nhập, giao thoa các giá trị văn hóa ở Đắk Lắk không chỉ góp phần làm nên vẻ đẹp phong phú, đa sắc màu của không gian văn hóa của vùng đất này mà còn gây ra những hệ luỵ, sự phức tạp, lai tạp hoặc loại trừ nhau trong sự tồn tại và phát triển. Điều đó đặt ra cho những người quản lí văn hóa nghệ thuật và cả văn nghệ sĩ phải có trách nhiệm vừa cụ thể, thiết thực, vừa bền bỉ lâu dài trong sáng tạo văn học nghệ thuật, góp phần xây dựng nền văn hóa Đắk Lắk nói riêng Việt Nam nói chung tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Đây là bài toán rất khó khăn và vô cùng nan giải. 
II/ Vai trò của văn học nghệ thuật Đắk Lắk trong việc góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc:
  *Tư  tưởng chỉ đạo:
1/ Trong bài thơ “Cảm tưởng đọc Thiên gia thi” trong tập Ngục trung nhật kí, Hồ Chí Minh đã viết: “Nay ở trong thơ nên có thép/ Nhà thơ cũng phải biết xung phong”.
Ý nghĩa của hai câu thơ quá rõ ràng và đã được kiểm chứng: Thơ ca nói riêng, văn học nghệ thuật nói chung phải mang chất “thép”, nghĩa là phải có tính chiến đấu sắc bén, là vũ khí lợi hại. Theo đó nhà thơ (nói rộng ra là văn nghệ sĩ) phải có tinh thần xung phong như các chiến sĩ ngoài mặt trận. Trong Thư gửi các hoạ sỹ nhân triển lãm hội họa năm 1951, Người lại khẳng định: “Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận, anh chị em là những chiến sĩ trên mặt trận ấy”. Qua hai văn bản trên, Hồ Chí Minh không chỉ đưa ra vai trò đặc biệt quan trọng của văn học nghệ thuật, mà còn khẳng định sứ mệnh cao quý của đội ngũ văn nghệ sĩ trong sự nghiệp cách mạng nói chung và công cuộc xây dựng nền văn học nghệ thuật Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc nói riêng: văn nghệ sĩ là những chiến sĩ “đi đầu” “xung phong” trong quá trình  hội nhập quốc tế sâu  rộng của nước ta hiện nay.
2/ Trong những năm gần đây, Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương Đảng cũng đã có những nghị quyết chuyên đề để lãnh đạo và định hướng phát triển cho văn học nghệ thuật: Nghị quyết Trung ương V (khoá VIII) đã quán triệt và chỉ đạo thực hiện 5 quan điểm của Đảng ta trong việc thực hiện nhiệm vụ “Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”; Nghị quyết 23 của Bộ Chính trị về “Tiếp tục xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật trong thời kì mới” cũng đã chỉ ra những nhiệm vụ cụ thể cho sự nghiệp xây dựng và phát triển nền văn học nghệ thuật nước ta trong tình hình hiện nay. Đặc biệt mới đây, BCH TW Đảng  đã ban hành Nghị quyết 33-NQ/TW về “Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”. Có thể nói các nghị quyết trên của Đảng về văn học nghệ thuật là “kim chỉ nam” cho văn nghệ sĩ trong hoạt động sáng tạo góp phần vào công cuộc CNH-HĐN đất nước và hội nhập quốc tế hiện nay.
      *Những suy nghĩ ban đầu:
1. Trước hết văn nghệ sĩ phải luôn mang khát vọng sáng tạo mãnh liệt. Vì không sáng tạo thì chẳng có gì cả. Tố Hữu - một trong những lá cờ đầu của nền thơ ca cách mạng - đã từng viết “Đã là con chim/ Thì con chim phải hót/ Đã là chiếc lá/ Thì chiếc lá phải xanh”. Nhưng con chim muốn hót hay, chiếc lá muốn xanh thì phải có môi trường sống trong lành, an toàn. Người nghệ sĩ cũng vậy, muốn sáng tạo, phải luôn học tập và trau dồi bản thân để “mắt sáng, lòng trong, tâm đẹp”. Không có những điều đó, khó lòng cho ra đời những đứa con tinh thần đẹp đẽ và khoẻ khoắn. Người nghệ sĩ tựa như con tằm nhả tơ vàng: “Con tằm đến chết vẫn còn vương tơ”. Nhà văn Nam Cao trong truyện ngắn Đời thừa cũng khẳng định: “…Văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những cái gì chưa có.”
2. Văn nghệ sĩ qua các tác phẩm của mình phải khơi gợi, tái hiện một cách chân thực, cụ thể, sinh động các sắc màu không gian văn hóa của các vùng, miền trên quê hương Đắk Lắk: từ bản sắc văn hóa, các sản phẩm văn hóa đến các giá trị văn hóa truyền thống. Làm sao để qua tác phẩm, người nghệ sĩ tạo được ấn tượng, giúp người thưởng thức nghe được hơi thở cuộc sống, cảm nhận được sự giao thoa văn hóa đặc sắc ở mảnh đất bazan đầy nắng và gió này. Bài thơ Nghe câu quan họ trên cao nguyên của nhà thơ Hữu Chỉnh, các bài hát của nhạc sĩ Nguyễn Cường là những minh chứng hùng hồn.
3. Hội và các Chi hội phải có kế hoạch tổ chức đi thực tế để văn nghệ sĩ có cơ hội nắm bắt, bám sát các nhiệm vụ chính trị của địa phương, như: chương trình xây dựng nông thôn mới, tình hình an ninh chính trị, thành tựu của công cuộc đổi mới của Đắk Lắk, của đất nước… để văn nghệ sĩ cập nhật thực tế, có vốn sống phong phú. Từ đó, trong sáng tác của văn nghệ sĩ không chỉ khám phá được những nét văn hóa truyền thống đặc sắc, những thuần phong mĩ tục cần được phát huy và cần loại bỏ những tập tục lạc hậu, cổ hủ không phù hợp với xu thế phát triển cuộc sống hiện nay mà còn cho ra đời những tác phẩm mang đậm hơi thở “nhựa sống cần lao”. Thực tế chứng minh rằng sau những chuyến đi thực tế sáng tác, các văn nghệ sĩ đã cho ra đời những “đứa con tinh thần” với nhiều hương vị và sắc màu văn hóa của Đắk Lắk nói riêng và đất nước nói chung, “hòa nhập mà không hòa tan”, vẫn lắng đọng và phô diễn sắc màu văn hóa Tây Nguyên.
4. Vùng đất Đắk Lắk nói riêng và Tây Nguyên nói chung còn lưu giữ nhiều giá trị văn hóa bản địa, nhiều sản phẩm và không gian văn hóa độc đáo, đặc sắc. Để có những sáng tác mang đậm sắc màu văn hóa bản địa Tây Nguyên, thiết nghĩ mỗi chúng ta phải tự học hỏi, tìm tòi, nghiên cứu để nhận diện thật chính xác và tinh tế “hồn cốt” văn hóa truyền thống dân tộc bản địa, để khi sáng tác về vùng đất, con người Tây Nguyên không mơ hồ nhạt nhẽo, luôn mang bản sắc riêng. Có thể nói đây là nguồn đề tài, nguồn “tài nguyên” cảm hứng vô tận của quê hương Đắk Lắk nói riêng và Tây Nguyên nói chung mà hiếm có vùng đất nào lại thừa hưởng một nguồn tài nguyên văn hóa như ở Đắk Lắk.
5. Điều băn khoăn là chúng ta đã tổ chức thành công nhiều lễ hội văn hóa lễ hội Cà phê Đắk Lắk mà văn học nghệ thuật chưa có tác phẩm nào xứng tầm với giá trị sản phẩm “độc tôn” này ở Đắk Lắk nói riêng Tây Nguyên nói chung. Vả chăng chúng ta thiếu một “tầm nhìn chiến lược”, thiếu những Dự án sáng tác về đề tài văn hóa Cà phê Đắk Lắk. Bài hát Ly cà phê Ban Mê của Nguyễn Cường có lẽ là một gợi ý chăng?
6. Đắk Lắk có nhiều địa danh nổi tiếng góp phần làm nên thương hiệu sản phẩm du lịch văn hóa và du lịch sinh thái của tỉnh nhà như: Buôn Đôn, hồ Lắk, thác Dray H’Linh, thác Dray Sap… Nên chăng phải gắn kết với văn hóa du lịch của tỉnh nhà với sáng tạo văn học nghệ thuật? Văn học nghệ thuật vừa khám phá phản ánh những vẻ đẹp trên quê hương Đắk Lắk vừa quảng bá thương hiệu, các sản phẩm văn hóa du lịch cho địa phương. Các tác phẩm âm nhạc đi vào lòng người như: Chú voi con ở Bản Đôn, Mênh mang M’Đrăk, Còn thương nhau thì về Buôn Ma Thuột, Chiều Hồ Lăk… là những gợi ý cho những người làm quản lí và cả văn nghệ sĩ chúng ta.





Thứ Hai, 9 tháng 2, 2015

CHƯ YANG SIN SỐ XUÂN ẤT MÙI - tác giả ĐẶNG BÁ TIẾN

Nhà thơ, Nghệ sỹ Nhiếp ảnh Đặng Bá Tiến
(Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam)



Nét xuân Tây Nguyên



Đã chia tay với cơn mưa muộn
gió không nhà mặc sức ruổi rong
sóng dã quỳ dâng vàng khắp  lối
nắng mật phong tình những cánh ong

buôn gọi buôn náo nức vào mùa
cúng thần cây đa, tạ thần bến nước
chiêng dìu chiêng lên chín tầng mây biếc
mời Giàng về vui hội nhân gian

lúa, cà phê đã êm giấc trên sàn
ngô đã nằm đầy gian ba, gian bảy
thì ay-ray* cứ thỏa lòng luyến láy
thì tay ấp tay người mà mê đắm nhịp xoang**

hương đất trời từ ché túc, ché tang***
bỏ bùa gái trai nhìn nhau như dính
áo thổ cẩm đuôi công dài xúng xính
bên gốc kơ-nia em kéo vạt để anh nằm

vui hết mặt trời vui hết mặt trăng
vui cạn nhịp xoang vui khàn giọng hát
vui quá… và anh về bước lạc
bởi đuôi mắt ai dắt lối hồn mình!

Buôn Ma Thuột, Xuân 2015



(*): Một làn điều dân ca Êđê
(**): Một điệu nhảy trong các lễ hội của đồng bào Tây Nguyên

(***): Những loại ché quý ủ rượu cần của người Êđê.

CHƯ YANG SIN SỐ XUÂN ẤT MÙI - tác giả NGUYỄN DUY XUÂN

Nhà thơ NGUYỄN DUY XUÂN
(Hội viên Hội VHNT Dak Lak)



TỔ QUỐC TRONG TIM NGƯỜI LÍNH BIỂN



Khi tôi viết những dòng này, biển Đông vẫn gầm gào cuộn sóng. Không chỉ sóng đại dương tự ngàn đời vẫn vỗ mà còn có sóng từ dã tâm đen tối của ngoại bang đang rình rập xâm chiếm biển đảo quê hương. Và những người lính biển chưa bao giờ có được một phút giây bình yên để ngắm cánh hải âu chao mình trên ngọn sóng. Và vì thế chưa bao giờ thơ ca viết về người lính biển lại nở rộ như hiện nay, nhất là sau những hành động ngang ngược của Trung Quốc đem tàu chiến, giàn khoan xâm phạm vùng biển thuộc chủ quyền Việt Nam hồi đầu tháng 5.2014. Ta bắt gặp ở đây những gương mặt quen thuộc của thi ca Việt Nam đương đại như: Trần Đăng Khoa, Nguyễn Khoa Điềm, Nguyễn Việt Chiến, Đặng Bá Tiến, …; những gương mặt còn mới mẻ đối với người yêu thơ như Bùi Văn Bồng, Huệ Nguyên, Đỗ Thị Hoa Lý, Hồng Diệu… và cả những người trong cuộc đó là các chiến sĩ đang ngày đêm đối mặt với hiểm nguy nơi đầu sóng ngọn gió để bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc. Sự đa dạng đó làm nên bức tranh nhiều sắc màu cho mảng thơ ca viết về người lính biển.
Thế hệ những người lính biển hôm nay vẫn tiếp nối truyền thống hào hùng của cha anh thời đánh Pháp, đánh Mỹ: Khi Tổ quốc lâm nguy, tuổi trẻ sẵn sàng xả thân vì sự trường tồn của đất nước: Họ đã lấy ngực mình làm lá chắn/ Để một lần Tổ quốc được sinh ra (Tổ quốc ở Trường Sa - Nguyễn Việt Chiến). Những người lính hi sinh trong trận Gạc Ma năm xưa đã trở thành một biểu tượng đẹp cho tinh thần bất khuất, ý chí kiên cường của dân tộc trong cuộc chiến đấu  bảo vệ  biển đảo quê hương: Những chàng trai mười tám đôi mươi/ ngực căng gió ôm chặt cờ đỏ/ chân cắm đá như cọc gỗ Bạch Đằng/ chở che cho biển đảo quê hương/ trước bom đạn quân thù xối xả/ máu các anh thắm đỏ màu cờ… (Các anh sống mãi trong lòng nhân dân - Nguyễn Duy Xuân). Các anh đã tạc vào thế kỉ “Dáng đứng Việt Nam” hiên ngang, bất khuất trong suốt chiều dài lịch sử hào hùng của đất nước: Chưa bao giờ khuất phục lũ xâm lăng/ Ngàn năm trước và bây giờ vẫn thế/ Lòng dân ta vẫn vẹn nguyên hào khí/ Của Đống Đa, Như Nguyệt, Bạch Đằng… (Biển những ngày này - Đặng Bá Tiến).
Trường Sa - Biển Đông - nơi đầu sóng ngọn gió. Ở đó người chiến sĩ ngày đêm phải đối mặt với bao gian khó hiểm nguy. Tuy không có cảnh trèo đèo vượt suối “Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống” hay “mưa dầm cơm vắt”… nhưng người lính nơi đảo xa lại có những thử thách mà đất liền không có. Sẽ là khập khiễng khi so sánh gian khổ mà thế hệ cha anh đã chịu đựng với gian khổ mà người lính biển phải trải qua hôm nay. Thời chiến tranh giải phóng dân tộc, đất nước vừa thoát khỏi đêm trường nô lệ, khó khăn thiếu thốn vật chất là lẽ đương nhiên. Người lính thời đó đã vượt qua với tinh thần nghị lực vô song. Có thể nói, ở thời kì ấy, cái gian khổ, thiếu thốn không dành cho riêng ai. Bởi thế, cả dân tộc mới chung một ý chí: “Không có gì quí hơn độc lập tự do!” (Hồ Chí Minh); “…toàn đất nước có một tâm hồn có chung khuôn mặt” (Con mắt Bạch Đằng, con mắt Đống Đa, Chế Lan Viên), để rồi làm nên lịch sử mang tầm vóc thời đại: Điện Biên Phủ và Đại thắng mùa Xuân.
Người lính hôm nay sống, chiến đấu trong một hoàn cảnh khác xa so với thời của cha anh. Cái gian khổ, thiếu thốn không còn ghê gớm như xưa, nhưng nó vẫn là thử thách đối với nghị lực con người; bởi đặt trong bối cảnh chung của xã hội, người lính biển phải chịu nhiều thiệt thòi. Trong lúc bạn bè cùng trang lứa yên tâm học tập nơi giảng đường đại học hay bằng lòng với công việc làm ăn ổn định, lo vun đắp tổ ấm gia đình… thì những người lính vẫn ngày đêm đối mặt với gian lao, nguy hiểm canh giữ biển trời Tổ quốc.
Gian khổ mà người lính biển phải trải qua là môi trường sống khắc nghiệt giữa trùng dương:  “Những luống rau xanh khó tươi vì thiếu nước/ Đất ít, khô cằn, nắng xối, muối mặn hơi/ Giông gió liên miên cuốn dễ sức người/ Rau không tốt bữa cơm người khó nuốt.” (Thương lắm Trường Sa ơi, Hồng Diệu); và “Nơi đây gió lộng bốn bề/ hất tung chậu cảnh vừa kê trước thềm/ lạnh lùng là gió nửa đêm/ nóng ran ngọn gió ngang triền đảo trưa…” (Gió cát Trường Sa, Bùi Văn Bồng).
Trong hoàn cảnh đó, người lính biển khát khao cháy bỏng cơn mưa: Chúng tôi ngồi trên đảo Sinh Tồn/ Bóng đen sẫm như gốc cây khô cháy/ Mắt đăm đăm nhìn về nơi ấy/ Nơi cơn mưa thăm thẳm xa khơi... (Đợi mưa trên đảo Sinh Tồn, Trần Đăng Khoa). Nhưng có lẽ đấy chưa phải là thử thách lớn đối với người lính biển. Gian khổ thiếu thốn vật chất và sự khắc nghiệt của thời tiết, các anh có thể vượt qua, nhưng thiếu thốn tinh thần, tình cảm thì quả là liều thuốc thử “đặc biệt”, nhất là trong hoàn cảnh hiện tại như chúng tôi đã nói ở trên. Bài thơ Câu trả lời cho tình yêu người lính biển trong tôi của tác giả trẻ Hồng Diệu đã nói hộ người lính biển tâm trạng đó: Có vợ rồi cũng chịu cảnh chia đôi/ Thèm hơi ấm nào đâu có nổi/Vợ sinh con cũng đành chờ đợi/ Đến phép về mới thấy nổi mặt con..." (Câu trả lời cho tình yêu người lính biển trong tôi, Hồng Diệu).
Trong những ngày hè nóng bỏng tháng 5.2014, trước việc Trung Quốc ngang nhiên đem giàn khoan Hải Dương 981 xâm phạm vùng biển chủ quyền của Việt Nam, bài thơ “Tiếng biển” của một người lính xuất hiện trên Facebook đã tạo được sự đồng cảm của hàng triệu trái tim đối với những người lính nơi biển xa: Hậu phương đất liền yên tâm nhé vợ ơi/ Cuối tuần về quê cho anh nhắn đôi lời/ Thưa với cha và thắp hương khấn mẹ/ Anh vẫn vững vàng nơi biển đảo xa xôi... (Tiếng biển, Fb Lính Biển Việt Nam).
Trong tình cảm của người lính dành cho hậu phương, tình yêu đôi lứa có cung bậc nồng nàn cháy bỏng của tuổi hai mươi. Trần Đăng Khoa đã rất thành công về chủ đề này qua bài “Thơ tình người lính biển” nổi tiếng từ những năm tám mươi của thế kỉ trước: Vòm trời kia có thể sẽ không em/ Không hiểu nữa. Chỉ có anh với cỏ/ Cho dù thế thì anh vẫn nhớ/ Biển một bên và em một bên... (Thơ tình người lính biển, Trần Đăng Khoa). Bài thơ có giai điệu ngọt ngào, sâu lắng đã khơi gợi cảm xúc để nhạc sĩ Hoàng Hiệp viết nên ca khúc cùng tên lay động tâm hồn bao thế hệ thanh niên.
Những người lính: “Tuổi đôi mươi lồng lộng biển trời/ Mắt trong vắt chưa một lần hò hẹn/ Đêm mơ còn nũng nịu gọi “Mẹ ơi!” (Thao thức Trường Sa, Nguyễn Thế Kỷ) đã vượt lên tất cả, chấp nhận gian khổ, hi sinh tuổi thanh xuân vì biển đảo quê hương.
“Chuyện gia đình tạm gác lại phía sau” khi “Tổ quốc gọi tên mình”, người lính  sẵn sàng lên đường làm nhiệm vụ thiêng liêng: Tổ quốc gọi rồi... cha phải đi thôi/ Con trai à, việc nhà nhờ con nhé/ Vì cha biết... con rất mạnh mẽ/ Sẽ là bờ vai cho mẹ dựa thay cha… (Nếu một mai cha không về nữa, Facebook “Tâm sự người lính biển”).
Nói đến chiến tranh là nói đến mất mát hi sinh. Trong bối cảnh hiện nay, chủ quyền biển đảo của Tổ quốc đang bị ngoại bang nhòm ngó lấn chiếm, bất cứ lúc nào người lính biển cũng phải đối mặt với hiểm nguy. Người lính biển hiểu rõ điều đó, cho nên dẫu có lo lắng cho mẹ già, con thơ hay thương nhớ một bóng hồng, các anh vẫn kiên định tinh thần, cái tinh thần của cha anh một thuở: “Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh” (Tây Tiến, Quang Dũng): Nghẹn ngào chào mẹ ra đi/ Mẹ nuôi con lớn chưa gì báo ân/ Nhưng mẹ ơi… Tổ quốc cần/ Đời trai bao lớp hiến dâng thân mình (Tiếng gọi của biển, Facebook “Lính Biển Việt Nam”).
Biển gọi! Những chàng trai mười chín đôi mươi chẳng thể nào yên: Con chẳng thể ngồi yên ngày rách những thân tàu/ bạn con giành giật tương lai cho các em mình trên đầu mũi đạn/ máu vẫn chảy mặn đường cong chữ S/ con có thể ngồi yên?
(Biển gọi, Huệ Nguyên). Bởi thưa Mẹ, chúng con cũng như cả dân tộc này đã quyết: không thể để lưỡi bò liếm biển/ vạn vòi rồng không hiếp nổi con cháu Lạc Long Quân (Biển đảo ta ơi, Nguyễn Đức Khẩn).
Đằng sau các anh là cả hậu phương bao la “Mẹ Tổ quốc vẫn luôn ở bên ta” (Tổ quốc ở Trường Sa, Nguyễn Việt Chiến).Trong tim mỗi người con đất Việt, Trường Sa không xa, Trường Sa gần lắm! Trường Sa mãi mãi trong lòng Đất Nước, trong tâm hồn người lính biển, trong tình yêu lứa đôi: Không xa đâu Trường Sa ơi/ Không xa đâu Trường Sa ơi! Vẫn gần bên em vì Trường Sa luôn bên anh/ Vẫn gần bên anh vì Trường Sa luôn bên em (Gần lắm Trường Sa, Huỳnh Phước Long).
Ai đó bảo, thơ viết về biển đảo chưa nhuyễn, chưa có chiều sâu. Điều đó có thể đúng nhưng tôi nghĩ cái cốt lõi ở đây là nó đã nói lên được tiếng nói của cộng đồng ở một thời điểm mà đất nước đang đối mặt với nhiều thử thách. Thơ ca không thể cứ sống mãi trong ánh hào quang của quá khứ hay co mình lại trong cái tôi chật hẹp suốt ngày ngâm ngợi vịnh ca mà phải dám đối mặt với cuộc sống để nói lên tiếng nói lương tri con người.
Đọc những vần thơ ấy, chúng ta linh cảm được cái thiêng liêng từ sự hi sinh của người lính để “Thêm một lần Tổ quốc được sinh ra” (Tổ quốc ở Trường Sa, Nguyễn Việt Chiến).



Chủ Nhật, 8 tháng 2, 2015

CHƯ YANG SIN SỐ XUÂN ẤT MÙI - tác giả ĐINH HỮU TRƯỜNG

Nhà văn ĐINH HỮU TRƯỜNG
(Nguyên Chủ tịch Hội VHNT Dak Lak khóa IV)


Tri âm
(Tặng P.D và U.N.D)


Nửa đời người vui bạn vui bầy
Bốn mươi năm - bạn nhiều như lá
Bạn võ, bạn văn, bạn quen, bạn lạ
Ta ngộ rằng: Nấy bạn nấy tri âm…

Uống rượu suông, ngồi như người âm
Đáy ly trắng, tiếng “khà” suông cũng trắng
Trời trên đầu, đất ở dưới chân
Cơ hàn ư? - Có bạn ta ở giữa!

Ta vẫn ngộ: Bạn ta nhiều như lá
Và ta như chiếc lá giữa bạn ta
Bỗng một chiều tỉnh giấc, ngộ ra:
Bạn đâu hết…
Chỉ còn ta và vợ!