Thứ Sáu, 27 tháng 3, 2015

CHƯ YANG SIN SỐ 271 - tác giả TRẦN ĐÌNH NHÂN

Nhà thơ TRẦN ĐÌNH NHÂN




Nước mắt ngày gặp lại
(Kính tặng chương trình “Như chưa hề có cuộc chia ly”)



“Như chưa hề có cuộc chia ly”
Vườn yêu thương gieo mầm nhân ái…
Niềm vui vô bờ ngày gặp lại
Chẳng nói nên câu, nước mắt lăn dài

Bao cảnh đời lưu lạc, chia xa
Đau đáu niềm mong, mỗi người một nỗi
Chạy ngược, chạy xuôi kiếm tìm lặn lội
Hình bóng người thân mờ mịt phương trời


“Như chưa hề có cuộc chia ly”
Ngôi nhà chung, xây từ lòng nhân ái…
Những mảnh đời tưởng không bao giờ gặp lại
Đoàn tụ hôm nay như có phép màu

Bao năm rồi mòn ngóng tin nhau
Gặp lại người thân nghìn trùng phiêu dạt
Giọt nước mắt rơi hòa trong khúc hát
“Vết cắt liền da”, gắn kết những mảnh đời.



Thứ Tư, 25 tháng 3, 2015

CHƯ YANG SIN số 271 - tác giả NGUYỄN DUY XUÂN

Nhà thơ NGUYỄN DUY XUÂN



BUÔN MA THUỘT THÀNH PHỐ TÔI YÊU
Bút ký


Tháng Ba, Tây Nguyên vào mùa rẫy mới.
Tháng Ba cũng là mùa lễ hội của miền đất đỏ cao nguyên huyền thoại.
Tháng Ba năm nay thật đặc biệt: Kỉ niệm 40 năm Chiến thắng Buôn Ma Thuột, trận mở đầu cho Đại thắng mùa Xuân năm 1975 lịch sử.
Ôi! Buôn Ma Thuột! Miền đất gắn bó với cuộc đời tôi hơn 30 năm nay. Ngày đón nhận tin Chiến thắng bốn mươi năm về trước, tôi đang là cậu học sinh cuối cấp. Cái tên Buôn Ma Thuột, Đắk Lắk dù đã biết qua sách vở nhưng với tôi cũng như bao người dân miền Bắc ngày ấy thật xa vời. Lúc bấy giờ tôi không nghĩ số phận lại gắn bó cuộc đời tôi với mảnh đất huyền thoại này chỉ bốn năm sau ngày Chiến thắng. Tháng 12 năm 2014, tôi đã làm cái kỉ niệm 35 năm ở Buôn Ma Thuột với tất cả cảm hứng thi ca của mình:
Ngày tôi lên đường đi nhận công tác
Mẹ tiễn tôi nghẹn ngào trong nước mắt
Thương con vất vả nơi phương trời
Vùng đất ấy quá đỗi xa xôi
Những biệt danh mới nghe đã rợn người
Rừng xanh heo hút “buồn muôn thuở”
Phố xá lơ thơ “bụi mù trời”!
Nhưng rồi:
Đất bazan dính chặt đời tôi
Cho tôi hạnh phúc của cuộc đời,
Đất cao nguyên lồng lộng khí trời
Cho tôi khát vọng làm người tự do
Để hôm nay:
Ban Mê - Ngày ấy - Bây giờ
Rưng rưng, tôi hát bài ca cuộc đời.
Kỉ niệm 40 năm Chiến thắng Buôn Ma Thuột, tôi muốn làm một cái gì khác không phải vì cảm hứng thi ca đã cạn. Tôi muốn có một cái nhìn cụ thể hơn, sinh động hơn, có thể chưa đầy đủ nhưng cũng không sáo mòn theo cách điểm lại lịch sử, kể lể thành tích. Tôi muốn cho mọi người - những ai ở xa, những ai chưa đến Buôn Ma Thuột cảm nhận được sự đổi thay từng ngày từng giờ của thành phố quê hương.
Thế rồi, một buổi sáng như bao buổi sáng khác, tôi rong ruổi trên khắp các nẻo đường thành phố. Ở đâu tôi cũng bắt gặp một không khí nhộn nhịp, một không gian rực rỡ sắc màu chuẩn bị cho ngày Đại lễ. Buôn Ma Thuột đang thay áo mới.
Chiếc Wave hai chỗ, tôi vẫn gọi con xe hai bánh của mình như thế, lướt bon bon trên đường Lê Duẩn - con đường xanh của thành phố. Khu Biệt Điện nổi tiếng của vị Hoàng đế cuối cùng triều Nguyễn vẫn giữ được nét cổ kính, lặng lẽ dưới tán xanh mát rượi của những cây cổ thụ, tạo nên một điểm nhấn độc đáo của phố núi.
Đường Nguyễn Tất Thành như một dải lụa, vắt ngang giữa trung tâm thành phố sầm uất. Tôi tưởng tượng nó như dải phù hiệu choàng trên vai người đẹp đêm chung kết cuộc thi hoa hậu nào đó mà vương miện chính là Ngã Sáu.
Ngã Sáu Ban Mê! Cái địa danh đã gợi biết bao cảm hứng cho thơ nhạc, gợi khát khao gặp gỡ của bao du khách. Ngã Sáu in dấu lịch sử, văn hoá của thành phố từ buổi sơ khai, qua trường kì đấu tranh cách mạng cho đến những năm tháng lao động sản xuất xây dựng nên bộ mặt thành phố tươi đẹp hôm nay.
Ngã Sáu là chứng tích của lịch sử. Ngã Sáu là biểu tượng của Tây Nguyên bất khuất, Tây Nguyên chiến thắng.
Người Ý có câu ngạn ngữ: mọi con đường đều dẫn đến thành Rôm. Còn tôi, tôi thấy ở Buôn Ma Thuột, mọi con đường đều đổ về Ngã Sáu. Nơi ấy là điểm hẹn của du khách muôn phương, là cánh cửa đưa ta vào miền đất Tây Nguyên huyền bí…
Đang rong ruổi trên đường Nguyễn Lương Bằng xuyên giữa rừng tếch đang thay lá – một con đường đẹp nối thành phố với sân bay quốc tế trong nay mai - tôi bỗng nảy sinh ý định lên cao để được ngắm nhìn Buôn Ma Thuột cho thỏa thích, để thử cái cảm giác đứng trên không gian vòi vọi của mình. Tôi bèn quay xe trở lại trung tâm thành phố, đến tòa “tháp đôi” chung cư của tập đoàn Hoàng Anh - Gia Lai trên đường Nguyễn Công Trứ. Thang máy đưa tôi vượt 18 tầng lầu trong chốc lát. Khi lên đến sân thượng của tòa nhà, gió lồng lộng như muốn xô tôi ngã.
Chưa bao giờ tôi được ngắm thành phố thân yêu ở độ cao như vậy. Cũng chưa bao giờ tôi thấy Buôn Ma Thuột lớn đến thế. Lâu nay ở dưới mặt đất, chưa vượt quá tầm cao vài mét, cứ nghĩ thành phố mình chật hẹp. Nào ngờ lên cao mới biết Buôn Ma Thuột rộng lớn. Thành phố như một người trẻ tràn đầy sức sống, đang cựa mình, đứng dậy vươn xa.
Đây, trung tâm thành phố sầm uất và Ngã Sáu là trái tim mà tôi như cảm nhận được nhịp đập sôi nổi của nó.
Kia vùng đông bắc đang phát triển rầm rộ.
Vùng tây nam bình lặng, chập chùng đồi núi.
Tất cả hợp thành một bức tranh toàn cảnh về một đô thị đang trên đà phát triển, xứng đáng là trung tâm của miền đất đỏ Tây Nguyên.
***
Nói đến Buôn Ma Thuột không thể không nhắc đến hệ thống các trường đại học, cao đẳng, dạy nghề đóng quân trên địa bàn thành phố.
Trường Đại học Tây Nguyên là một trường đại học vùng đa ngành. Trường đang được đầu tư lớn để tương xứng với vai trò của nó trong tương lai.
Trường Cao đẳng Sư phạm Đắc Lắc, nơi tôi đã gắn bó cả sự nghiệp, cả cuộc đời. Được thành lập một năm sau ngày Buôn Ma Thuột giải phóng, Cao đẳng Sư phạm là cái nôi đầu tiên đào tạo đội ngũ giáo viên tiểu học và trung học cơ sở cho gần như cả vùng cuối thập kỉ 70 và đầu thập kỉ 80 của thế kỉ trước.
Trường Cao đẳng nghề Thanh niên dân tộc Tây Nguyên và Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật Đắk Lắk, nơi chắp cánh ước mơ cho con em đồng bào các dân tộc Tây Nguyên. Rồi nữa, nhiều nữa những trường cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp khác đang góp phần đào tạo nguồn nhân lực cho địa phương, đáp ứng nhu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước.
Đến Buôn Ma Thuột, du khách không thể không đến thăm một địa danh độc đáo, đó là buôn Akô Dhông mà người ta quen gọi buôn Cô Thông nổi tiếng, thuộc phường Tân Lợi, cách trung tâm thành phố khoảng 2 km. Trong cơn lốc đô thị hoá mà ở đây vẫn giữ được nguyên vẹn những ngôi nhà dài truyền thống cũng như những nét văn hoá đặc sắc của người Êđê bản địa. Buôn Cô Thông trở thành điểm đến không thể thiếu trong hành trình của du khách trong và ngoài nước mỗi khi đặt chân lên Ban Mê.
Thành phố đang trên đà phát triển còn ngổn ngang những công trường dựng xây nhưng đã ngời lên những nét vẽ, những sắc màu của một bức tranh đô thị hiện đại.
Trên cái nền của bức tranh đa diện, đa sắc ấy, tôi thấy hiện lên tươi sáng gương mặt trẻ trung tràn đầy sức xuân của những chàng trai, cô gái tuổi mười chín đôi mươi. Những người trẻ ấy sinh ra và lớn lên khi đất nước đổi mới, được thừa hưởng thành quả của cách mạng, giàu tri thức, nghị lực và niềm tin.
Họ sẽ là chủ nhân mới đưa thành phố quê hương bay cao bay xa trong tương lai rạng ngời của miền đất cao nguyên huyền thoại.

Ôi! Buôn Ma Thuột, thành phố tôi yêu!

Thứ Hai, 23 tháng 3, 2015

GIỚI THIỆU TẬP SÁCH "HƯƠNG LÚA" - nhiều tác giả






TRÁI TIM CỦA NHỮNG CÁNH ĐỒNG Bút ký của Hồng Chiến - CHƯ YANG SIN SỐ: 271 tháng 3 năm 2015



Xe dừng lại, ông Nguyễn Huy Bá - Phó giám đốc Công ty cà phê 719 mở cửa xe bước xuống nói với anh em trong đoàn:
- Mời các bác xuống thăm “Trái tim của những cánh đồng”!
Vừa ngạc nhiên, vừa tò mò mấy anh em xuống xe thấy một hồ nước rộng mênh mông kéo dài về hướng tây, nhòa dần vào màu xanh bạt ngàn của cà phê. Trên hồ có 5 chiếc thuyền, mỗi chiếc có hai người đang chèo như dạo chơi. Ba hướng mặt hồ là những vườn cà phê xanh tốt bao bọc. Phía hạ lưu nơi đoàn đứng, con đập dài khoảng 700 mét, bề mặt cũng là đường giao thông rộng 6 mét nối hai sườn đồi với nhau, cao hơn những thửa ruộng lúa dưới chân đập khoảng 30 mét. Chỉ xuống mặt hồ nước, ông Nguyễn Huy Bá giọng hồ hởi nói:
- Vàng bạc cũng là đây, sản lượng cây trồng cũng bắt nguồn từ đây tất cả đấy các bác ạ. Ông cha ta từ xưa đã dạy “nhất nước, nhì phân, tam cần tứ giống”; ở Tây Nguyên đất đai màu mỡ, khí hậu chia hai mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô; mùa mưa thì chỉ cần làm cỏ một lần thôi, cây trồng ngắn ngày đã có thu hoạch, nhưng mùa khô thì gay lắm… có được những hồ nước như thế này sẽ quyết định được tất cả công việc nuôi trồng ở đây, vì thế chúng tôi vẫn nói vui: Đập nước chính là “Trái tim của những cánh đồng”.
Nhìn khuôn mặt phúc hậu của ông Phó giám đốc Công ty kiêm Phó bí thư Đảng ủy khi nói về các hồ nước như rạng rỡ hẳn lên và hình như có xen chút tự hào, về vùng đất và con người nơi đây. Lớp cán bộ, chiến sĩ, như ông Bá đã góp phần khai khẩn vùng đất hoang vu trở thành cánh đồng phì nhiêu, mang lại ấm no hạnh phúc cho nhiều gia đình, góp phần làm giàu cho Tổ quốc, tự hào là đúng lắm. Năm tháng qua đi, từ người chiến sỹ qua thực tế công tác và học tập, được Đảng và đồng đội tín nhiệm cử giữ các chức vụ lãnh đạo lèo lái con thuyền Công ty trong thời kỳ đổi mới và hội nhập vượt qua thử thách thác ghềnh của kinh tế thị trường đưa Công ty ngày một phát triển, mừng là phải lắm. Để có những hồ nước góp phần làm thay đổi cả một vùng đất, những người hôm nay không quên những người đi trước đã ăn đói, mặc rét, sốt rét… vẫn cắn răng luồn rừng đi tìm nguồn nước.
Ngày ấy… Chuẩn bị cho giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà, ngày 01 tháng 4 năm 1975, tại Tỉnh đội Hà Tĩnh, Trung đoàn 761 được thành lập với lực lượng chủ yếu là thanh niên các huyện: Kỳ Anh, Đức Thọ, Cẩm Xuyên, Can Lộc, Hương Sơn, Hương Khê, Nghi Xuân và thị xã Hà Tĩnh với tổng lực lượng hơn 1100 cán bộ chiến sỹ biên chế thành 8 Đại đội trực thuộc Trung đoàn do ông Dương Văn Dục - Chính ủy, ông Lê Đăng Minh - Trung Đoàn Trưởng, ông Nguyễn Văn Miên - Phó chính ủy kiêm Trung đoàn phó. Theo yêu cầu của tiền tuyến lúc ấy, Trung đoàn tiến quân theo đường mòn Hồ Chí Minh qua Khe Sanh, vào Gia Lai. Tháng 8 năm 1975 Trung đoàn nhận lệnh vào đóng quân tại khu vực phía nam huyện Krông Pắc, đổi tên thành Trung đoàn 719, trực thuộc Sư đoàn 333, Quân khu V; thực hiện hai nhiệm vụ lớn: Bảo vệ vững chắc chính quyền non trẻ và xây dựng kinh tế. Khi ấy, khu vực Trung đoàn đóng là rừng già nguyên sinh xen các sình lầy lau sậy mọc um tùm, muỗi bay như ong, vắt bò nhiều như trấu, mỗi khi có hơi người thì dựng ngược vòi lên như một rừng chông… Nhưng tất cả khó khăn ấy không ngăn được đội khảo sát băng rừng lội suối vẽ sơ đồ xây dựng một nông trường sản xuất nông nghiệp hiện đại. Khâu khó nhất có tính đột phá: tìm nguồn nước để xây dựng các hồ chứa phục vụ tưới tiêu.
Thời ấy rừng còn nhiều thú lắm, ngoài heo, nai đi thành đàn còn có cả hổ, báo, chó sói… thường xuyên lẩn quất quanh các doanh trại bộ đội. Thế nhưng các chiến sỹ làm nhiệm vụ khảo sát vẫn phải lặn lội vào rừng đo đạc tính toán, thiết kế các con đập, kênh dẫn nước… sao cho hiệu quả nhất. Có lần vào một buổi chiều tổ khảo sát đi đến ven sình bỗng một mùi hôi thối nồng nặc ùa đến, một chiến sỹ đi phía sau kêu lên: “Thủ trưởng ơi ở đây có con gì chết thối lắm”! Nói chưa xong đã thấy cái bụi rậm trước mặt vọng lên một tiếng ào, bóng con hổ lớn như con bò đực màu vàng vằn đen lao qua đường mòn lẫn vào rừng. Sau cuộc gặp bất ngờ hôm ấy có người về phát ốm phải nghỉ làm mất mấy ngày. Dù nguy hiểm là vậy, đội khảo sát vẫn hoàn thành nhiệm vụ đặt ra đúng kế hoạch. Từ đây các hồ nước được hình thành và tiến hành thi công, khi hoàn thành đủ nước tưới tiêu cho 1680 ha lúa nước, 358 ha cà phê, phục vụ các mục tiêu dân sinh khác của Công ty.
- Các hồ nước của chúng tôi không những điều tiết nước tưới tiêu trên diện tích canh tác của Công ty, mà còn là vựa cá nước ngọt rất lớn góp phần cải thiện đời sống cho công nhân và nhân dân trong vùng nữa đấy. - Ông Trần Trọng Văn, Chủ tịch Công đoàn Công ty góp lời.
Vai trò của Công đoàn cơ sở là chăm lo chế độ và đời sống của anh em cán bộ công nhân viên, có lẽ vì thế ông Chủ tịch Công đoàn Công ty đi cùng đoàn văn nghệ sỹ lưu ý với anh em về sản lượng cá thu hoạch được trên 5 hồ chứa nước trên địa bàn. Ông cho biết thêm: những hồ nước này được giao khoán cho các hộ vừa nuôi thủy sản vừa làm nhiệm vụ bảo vệ hồ. Nhiệm vụ gắn liền với quyền lợi nên buộc họ phải tự giác hoàn thành nhiệm vụ của mình. Cá ở các hồ lớn nhanh lắm, khi thu hoạch cá trắm, cá mè nặng 5 - 6 kg, cá chuối cỡ 4 kg một con là thường. Từ các hồ nước không chỉ nuôi cá mà còn chăn nuôi thêm vịt, tăng thêm thu nhập cho các hộ gia đình trong vùng.
Các hồ nước nơi đây vào mùa mưa góp phần giảm bớt lũ lụt, mùa khô khi vườn cà phê vào mùa tưới, cần những giọt nước mát để cây đâm bông kết trái thì chính các hồ nước này biến thành cơn mưa rào trùm lên cây cà phê đánh thức hoa xòe những cánh bé nhỏ trắng muốt khoe sắc dưới ánh nắng chói chang của mùa khô, khêu gợi các chàng ong mật làm nên vũ điệu tháng ba Tây Nguyên kỳ thú và chính vũ điệu ấy góp phần làm nên một vụ mùa bội thu. Dòng nước mát theo con mương đến các cánh đồng lúa theo ý của con người như trong mơ ước từ bao đời nay của người nông dân nghèo xứ Nghệ, làm nên những cánh đồng lúa năng suất cao, chất lượng tốt. Ở đâu có nước, ở đó có sự sống, sự đúc kết ấy hoàn toàn đúng; nhưng ở đây, trên vùng đất phía đông của Cao nguyên Đắk Lắk, nơi Công ty cà phê 719 đóng, con người còn điều khiển được dòng nước đến từng thửa ruộng theo ý muốn đã tạo nên sự khác biệt lớn trong sản xuất cũng như nuôi trồng thủy sản cả vùng. Sự khác biệt ấy góp phần quan trọng nâng cao sản lượng và chất lượng sản phẩm.
Hồ nước, trái tim của một vùng đất cung cấp nước cho cánh đồng giống như trái tim cung cấp máu nuôi cơ thể; trái tim có khỏe, cơ thể mới khỏe mạnh; còn cánh đồng có bội thu hay không phụ thuộc rất nhiều vào nguồn nước của hồ lưu giữ và điều tiết. Một sự liên hệ rất hay và độc đáo của những anh Bộ đội Cụ Hồ khi xưa, nay bỏ súng để cầm bút tính toán làm kinh tế, khoa học thật độc đáo!
Một vùng đất chuyển mình đang đổi thay hàng ngày. Sự đổi thay tốt đẹp ấy là kết quả của bao nhiêu lớp người đi trước mặc quân phục xanh, bắt thiên nhiên tuân theo ý muốn con người, làm nên điều kỳ diệu ở Tây Nguyên để lại cho lớp người đi sau những tài sản quý giá. Thành quả đó tiếp tục được phát huy có hiệu quả bởi những người gánh vác trọng trách công việc chung hôm nay; họ không những được trang bị kiến thức khoa học tiên tiến mà còn có tâm huyết với công việc.
Những ngày cuối cùng của mùa thu Tây Nguyên lại là mùa tươi đẹp trong năm, các cành cà phê trĩu quả đang chuyển từ màu xanh qua màu hồng và công nhân lại tất bật bắt tay vào thu hoạch. Những quả cà phê đỏ mọng chất đầy xe sẽ nối đuôi nhau tập kết về các sân nhà, trước khi chế biến để chu du đến nhiều nước trên thế giới quảng bá thương hiệu Công ty cà phê 719. Thành quả hôm nay có một phần đóng góp hết sức quan trọng của những hạt nước mát được lấy lên từ “trái tim của những cánh đồng”, nơi hội tụ của lớp người đi trước để lại cho hôm nay và mai sau.

Chủ Nhật, 22 tháng 3, 2015

CHƯ YANG SIN SỐ 271 - tác giả TRẦN ÁNH NGUYỆT

Tác giả TRẦN ÁNH NGUYỆT



NGƯỜI UY TÍN CỦA BUÔN
                                   
                                               
Đến buôn Năng, xã Ea Hồ, huyện Krông Năng hỏi ai cũng biết nhà thương binh Y Ngô Mlô. Người thương binh ấy không chỉ là một Trưởng Ban Mặt trận gương mẫu mà còn là một tấm gương vượt khó vươn lên làm giàu. Mọi người vẫn gọi ông bằng cái tên trìu mến “Người uy tín của buôn”.
Ông sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Tây Nguyên hùng vĩ. Năm 1968 ông tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước, chiến đấu ở các mặt trận trên địa bàn Đắk Lắk. Trong quân ngũ, ông luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, được đồng chí, đồng đội đánh giá cao. Năm 1984, sau khi tham gia quân ngũ 15 năm, ông xuất ngũ với quân hàm đại úy và mang theo vết thương nặng với tỷ lệ thương tật 61%.
Sau khi xuất ngũ trở về địa phương, bắt đầu cuộc sống mới. Đối mặt với những khó khăn sau chiến tranh người khỏe mạnh đã vất vả huống chi ông là một thương binh. Ông thầm nghĩ “Trước đây, đất nước ta phải đối mặt với ba thứ giặc, giặc ngoại xâm thì ông góp phần cùng đồng đội đánh đuổi chỉ còn lại giặc đói và giặc dốt muốn thắng nó phải kiên tâm bền chí”. Những năm đó, bà con trong buôn đang rất nghèo, sản xuất nông nghiệp còn theo kiểu “phát - đốt - chọc - tỉa”, mùa màng chủ yếu trông đợi vào thiên nhiên, trình độ dân trí thấp nên dễ bị bọn xấu lôi kéo và kích động… Trong đầu ông lúc nào cũng đặt ra câu hỏi: Làm sao để góp phần hoàn thành tâm nguyện của Bác Hồ kính yêu, đó là “… nhân dân ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Chính điều đó đã thôi thúc ông tìm tòi, sáng tạo trong lao động trên chính mảnh đất của quê hương mình để không còn cái đói, cái nghèo đeo bám và vươn lên làm giàu; qua đó góp phần giúp đỡ đồng bào từng bước nâng cao nhận thức, xóa bỏ hủ tục biết cách làm ăn, xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Những đêm trở trời vết thương trên thân thể đau nhức cộng với gánh nặng gia đình gồm cha mẹ già và các con thơ làm ông không khỏi băn khoăn. Nhưng với bản lĩnh của một người từng trải và với trách nhiệm của một người đảng viên, ông từng bước tìm cho mình hướng phát triển kinh tế, tìm cách chuyển hướng sản xuất định canh, bỏ các tập quán canh tác cũ. Ông động viên các thành viên trong gia đình tận dụng quỹ đất hoang hóa đưa vào sản xuất, trồng hoa màu và cà phê xen lẫn cây ăn trái. Trồng hoa màu để lấy vốn phát triển cây cà phê theo kiểu “lấy ngắn nuôi dài”. Ông mạnh dạn vay vốn xóa đói giảm nghèo để mua sắm các máy móc phục vụ sản xuất như máy cày, máy phay, máy bơm…
Với bản chất siêng năng cần cù, chịu khó học hỏi, áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, đến nay, gia đình ông đã có 3 ha cà phê trồng xen các cây ăn quả như sầu riêng, hồ tiêu, 05 sào lúa nước, 02 hồ nuôi cá mang lại thu nhập mỗi năm cho gia đình ông hàng trăm triệu đồng. Khi đã có điều kiện kinh tế, với tinh thần tương trợ giúp nhau cùng tiến bộ ông thường xuyên giúp đỡ những hộ nghèo trong buôn như cung cấp cây giống, con giống, nước tưới, cho vay vốn không lấy lãi… Đặc biệt, ông tận tình đến từng gia đình trong buôn để chia sẻ những kinh nghiệm trong lao động sản xuất. Nhờ sự giúp đỡ của ông, cuộc sống của các hộ nghèo đã có nhiều chuyển biến rõ rệt.
Không chỉ làm kinh tế giỏi. Ông còn tích cực tham gia công tác ở địa phương, hăng hái hoạt động công tác mặt trận ở cơ sở. Trong xã có hơn ba ngàn người theo đạo, ông là người có công lớn trong việc vận động họ sống "tốt đời, đẹp đạo", không nghe và không làm theo kẻ xấu. Đối với những thanh - thiếu niên chậm tiến, người lầm lỡ, ông luôn gần gũi lắng nghe những tâm tư của họ để có cách thuyết phục và định hướng phù hợp. Để cảm hóa những người lầm lỗi chống phá chế độ, ông không tiếc thời gian và công sức theo kiểu “Mưa dầm thấm lâu”. Kết quả, ông đã cảm hóa được nhiều đối tượng chống đối, thái độ ngoan cố, trở thành người tốt; nhiều thanh niên lêu lổng trước đây, bây giờ đã chí thú làm ăn ổn định cuộc sống, góp phần đảm bảo an ninh trật tự tại địa phương.
Trong các cuộc gặp gỡ với bà con trong buôn, ông tuyên truyền đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, qua đó, giúp người dân nêu cao cảnh giác cách mạng, không bị mắc mưu kẻ xấu, lo làm ăn, không vi phạm pháp luật. Với những việc làm cụ thể trên, ông được bà con tin yêu và được bình bầu “Người có uy tín”, Già làng của buôn từ nhiều năm nay.
Ông tâm sự: Đã là “Cây sung đầu bến nước, cây đa đầu buôn” thì phải gánh vác trách nhiệm với dân với Đảng, phải làm chiếc cầu nối vững chắc giữa ý Đảng - lòng dân, luôn kiên tâm, bền chí trong sự nghiệp bảo vệ an ninh trật tự. Người dân ở đây ví ông là “cây đại thụ tỏa bóng mát bình yên”, “Dòng suối đầu nguồn mát lành” cho mọi người; góp phần vào công cuộc phát triển kinh tế-xã hội của địa phương.

Với những thành tích trên, nhiều năm liền ông được tặng danh hiệu Cựu chiến binh gương mẫu, thương binh sản xuất giỏi của huyện Krông Năng và được khen thưởng trong công tác bảo vệ an ninh trật tự tại địa phương. Tháng 12 năm 2014, ông được Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh mời dự Hội nghị gặp mặt các già làng, trưởng thôn, buôn tiêu biểu của tỉnh để trao đổi những kinh nghiệm trong công tác xóa đói, giảm nghèo. Ông là một tấm gương bình dị mà tỏa sáng trong lòng mọi người.

Chủ Nhật, 1 tháng 3, 2015

GIỚI THIỆU CHƯ YANG SIN SỐ XUÂN ẤT MÙI - tác giả AN PHƯƠNG

Nhà văn - Nhà báo H'XIU HMOK - bút danh AN PHƯƠNG
(hội viên Hội VHNT Dak Lak)


BẾN NƯỚC - NÉT ĐẸP TRUYỀN THỐNG
CỦA NGƯỜI ÊĐÊ CÓ NGUY CƠ BỊ MAI MỘT

Bến nước từ xưa đã gắn bó với đời sống của người Êđê, là nơi họ đến tắm giặt hay lấy nước về để ăn uống. Với sự gắn bó mật thiết ấy, hàng năm, người Êđê tổ chức lễ “cúng bến nước” để bày tỏ sự biết ơn đối với thần linh, cầu mưa thuận gió hoà, cuộc sống ấm no cho buôn làng. Ngày nay, ở nhiều nơi, bến nước vẫn được người dân và chính quyền địa phương gìn giữ. Tuy nhiên, dưới tác động của đô thị hoá, nhiều bến nước đã không còn tồn tại, kéo theo đó là sự mất dần của nghi lễ cúng bến nước ở nhiều buôn đồng bào dân tộc Êđê.

Bến nước buôn Tùng Thăng (xã Ea Ral, huyện Ea Hleo) có 2 nhánh bến nằm đối diện nhau, nước trong vắt, chảy quanh năm bất kể mùa khô hay mùa mưa. Dù mỗi nhà đều có giếng nước nhưng hàng ngày, các bà các chị vẫn thường xuyên ra bến nước lấy nước dùng cho việc ăn uống, còn nước giếng chỉ dùng để tắm giặt và rửa chén bát. Đều đặn hàng ngày, bà H’Huăt Adrơng (thường gọi amí H’Loch) lại ra bến lấy nước, đối với bà, đấy là một thói quen thường nhật.
Bến nước gắn bó với đời sống người dân trong buôn nên hàng năm cả buôn lại họp nhau cùng chuẩn bị tổ chức lễ “cúng bến nước” để cảm tạ các thần, cũng là một nghi thức cúng cầu sức khoẻ và cầu bình an, yên ấm cho cả buôn. Tùy vào điều kiện kinh tế của buôn trong năm đó mà sẽ mổ bò hay heo để làm lễ cúng. Thường thì mỗi nhà góp khoảng 10 nghìn, nếu mà cúng heo thì mỗi nhà góp 20 nghìn, nói chung là mọi người cùng đóng góp rồi mua các thứ về chuẩn bị và cùng nhau tổ chức lễ cúng thôi”. Ông Y Gu Kpă (thường gọi aê Wương), buôn trưởng buôn Tùng Thăng cho biết.
Còn ở xã Ea Tul (huyện Cư Mgar), dù không còn tổ chức lễ cúng bến nước hàng năm, nhưng người dân vẫn gắn bó với bến nước buôn Sah B. Ở đầu nguồn bến nước này có nhiều cây cổ thụ toả bóng xanh rì, nước luôn mát lạnh và trong vắt. Chính quyền và nhân dân địa phương đã đóng góp tiền và ngày công trải bê tông con đường xuống bến nước, xe máy cày cũng có thể chạy xuống đậu ngay gần đầu bến. Người dân cho biết, mặc dù ở xã Ea Tul có nhiều bến nước nhưng mọi người vẫn đến bến này lấy nước thường xuyên. Bến nước này có từ thời cha ông xưa được người dân duy trì và bảo vệ cẩn thận. Ống nứa cắm vào mạch nước để làm máng dẫn. Theo thời gian, máng nước bị cũ hay hư mục, người ta lại chặt ống mới thay vào. Cứ như thế, mạch nước cứ tuôn tràn đầy máng, đem đến những giọt nước mát lành cho mọi người sử dụng. Bà H’Gueh Ayun (thường gọi amí Nghip) kể: “Thời cha ông mình ngày xưa thì có làm lễ cúng bến nước, nhưng thế hệ mình bây giờ thì không làm nữa. Nhưng người ta vẫn đến đây lấy nước, cả người ở buôn Knia, buôn Phơng, buôn Tría cũng đến đây lấy nước, người ta đi cả xe máy cày đến để chở nước về sử dụng, rồi người ta còn tắm giặt ở đây nữa, bến nước ở đây nhiều người dùng lắm”.
Bến nước buôn Ky (phường Thành Nhất, thành phố Buôn Ma Thuột) được khánh thành và đưa vào sử dụng đúng dịp kỷ niệm ngày giải phóng Buôn Ma Thuột 10.3.2013. Nhân dịp này, chính quyền địa phương và Phòng Văn hoá Thông tin thành phố Buôn Ma Thuột cùng phối hợp tổ chức lễ “cúng bến nước” theo truyền thống. Đây là một tin vui đối với người dân trong buôn, nhiều thanh niên rất phấn khởi vì lần đầu tiên được chứng kiến một lễ hội truyền thống của dân tộc. Tuy nhiên, theo nhiều người dân chứng kiến lễ cúng nhận xét: Lễ cúng bến nước được tổ chức ở đây không đúng theo nghi thức truyền thống mà có nhiều sự đổi mới và pha trộn chưa thật hợp lý, kể cả trong cách tiến hành lễ và trong cách chọn địa điểm làm lễ.
Nhưng buôn Ky vẫn còn may mắn hơn nhiều buôn làng khác ở tỉnh Đắk Lắk bởi ở đây vẫn còn giữ được bến nước và tổ chức được lễ cúng bến nước như hiện tại. Trong khi đó, nhiều buôn đồng bào Êđê khác, chẳng hạn như 3 buôn ở xã Hoà Xuân (thành phố Buôn Ma Thuột) thì hoàn toàn không còn bến nước, do đó “lễ cúng bến nước” - cũng không còn . Ông Y Khiêm Êban, Chủ tịch Hội đồng già làng xã Hòa Xuân, thành phố Buôn Ma Thuột, cho biết: “Bến cũ dọc theo suối Ea Tam ô nhiễm quá nhiều rồi. Hơn chục năm nay bà con không dùng nữa. Hầu hết bà con bây giờ đang dùng nước máy. Cách đây mấy năm chúng tôi cũng đã có ý xin cấp trên hỗ trợ xây dựng lại bến nước để bà con có nơi sinh hoạt mang tính truyền thống của mình”.
Ở một số buôn làng trong tỉnh Đắk Lắk, ngành chức năng và chính quyền địa phương đã tiến hành đầu tư khôi phục bến nước và tổ chức lễ cúng bến nước cho bà con, nhưng con số này còn khá khiêm tốn. Nguyên nhân một phần là do tác động của đô thị hoá, một số nơi người dân đã bỏ hẳn thói quen sử dụng nước ở bến nước trong các sinh hoạt hàng ngày, thay vào đó họ dùng nước giếng, nước máy vừa tiện lại vừa đảm bảo vệ sinh. Mặt khác, do môi trường thiên nhiên bị tác động, các bến nước không còn giữ được mạch nước ngầm hay rừng đầu nguồn, diện tích đất bao quanh bến nước cũng bị người dân lấn chiếm nên hầu như bến nước đã bị phá bỏ hay bị chuyển sang sử dụng với mục đích khác.

Bến nước không chỉ gắn bó với sinh hoạt của người Êđê mà nghi lễ cúng bến nước cũng là một nét văn hoá đẹp truyền thống của dân tộc Êđê. Dù hiện nay, nhiều nơi người dân đã có nguồn nước khác dùng trong sinh hoạt hàng ngày, nhưng dưới góc độ văn hoá, việc duy trì bến nước và lễ cúng bến nước là cần thiết để góp phần bảo tồn văn hoá và bản sắc dân tộc.