Thứ Tư, 7 tháng 2, 2018

XUÂN VỀ, NHỚ THƠ VÀ THƯ CHÚC TẾT NĂM TUẤT CỦA BÁC HỒ - tác giả NGUYỄN VĂN THANH - CHƯ YANG SIN SỐ XUÂN MẬU TUẤT - THÁNG 1&2 NĂM 2018





Giữa những ngày Xuân khắp nơi rộn ràng, háo hức “cảo thơm lần giở trước đèn”, chợt hiện lên và chừng như cũng nghe văng vẳng thư và lời thơ chúc Tết của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi cho chiến sĩ và đồng bào cả nước.
Tết Bính Tuất năm (1946)- Cái Tết độc lập đầu tiên của cả nước và của từng nhà sau 80 năm nô lệ. Vào đêm giao thừa, Bác đến thăm một số gia đình lao động nghèo và một số nhân sĩ trí thức ở Hà Nội.
Sáng  mồng 1 Tết Nguyên đán Bính Tuất (1946), Bác viết: “Hôm nay là ngày mồng một Tết năm Bính Tuất. Ngày đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa”…Và Bác viết mấy dòng chúc đồng bào cả nước, chúc các chiến sĩ ngoài mặt trận, chúc các gia quyến và các chiến sĩ ở hậu phương năm mới, vui vẻ, mạnh khỏe và thắng lợi. Trong bài có mấy câu thơ kiêm khẩu hiệu như:
“Trong năm Bính Tuất mới
Muôn việc đều tấn tới
Kiến quốc mau thành công
Kháng chiến mau thắng lợi
Việt Nam độc lập muôn năm”
(Thư chúc mừng năm mới-Báo Cứu Quốc, số 155, ngày 05/02/1946)
Với niềm vui hân hoan cái Tết độc lập đầu tiên, Bác Hồ đã viết thư chúc Tết nhiều đối tượng công nông binh, như: Thơ chúc Tết đồng bào in trên Báo Cứu Quốc, Mừng báo Quốc Gia, thơ chúc Tết Phụ nữ in trên báo Tiếng gọi Phụ nữ.
Trong bài “Mừng báo Quốc gia”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa hồn cốt của dân tộc và thiên nhiên vào vần thơ chúc Tết:
“Tết này mới thật tết dân ta
Mấy chữ chào mừng báo Quốc Gia
Độc lập đầy vơi ba cốc rượu
Tự do vàng đỏ một rừng hoa.
Muôn nhà chào đón xuân dân chủ
Cả nước vui chung nước cộng hòa.
Ta chúc nhau rồi ta nhớ chúc,
Những người chiến sĩ ở phương xa”.
(Mừng báo Quốc Gia-Hồ Chí Minh-Báo Nhân dân 9459, ngày 7/5/1980)
Để giữ mãi cái Tết “thật tết dân ta”, Bác Hồ đã khuyên mọi người phải sống theo “Đời sống mới” để trở nên những người công dân mới, xứng đáng với nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Vì “Đời sống mới” như Người chỉ rõ trong thư gửi phụ nữ Việt Nam, ngày 2/2/1946 (tức ngày mồng một Tết Bính Tuất): Năm mới Bính Tuất/Phụ nữ đồng bào/Phải gắng làm sao/Gây “Đời sống mới”/Việc thành là bởi/Chúng ta siêng mần/Vậy nên chữ cần/Ta thực hành trước/Lại phải kiệm ước/Bỏ thói xa hoa/Tiền của dư ra/Đem làm việc nghĩa/Thấy của bất nghĩa/Ta chớ tham thàn/Thế tức là liêm/Đã liêm thì khiết/Giữ mình làm việc/Quảng đại công bình/Vì nước quên mình;Thế tức là chính/Cần, kiệm, liêm, chính/Giữ được vẹn mười/Tức là những người/Sống ‘đời sống mới”.(Thư gửi phụ nữ Việt Nam, nhân dịp Xuân Bính Tuất-Báo Tiếng gọi Phụ nữ, số Xuân Bính Tuất, năm 1946).
Ngày 23/9/1945, được quân Anh yểm trợ, Pháp nổ súng tấn công Sài Gòn và một số nơi ở Nam bộ, chính thức xâm lược Việt Nam lần thứ hai.  Chủ tịch Hồ Chí Minh một lần nữa với sự mẫn cảm chính trị đã truyền đến đồng bào và chiến sĩ cả nước niềm hy vọng, niềm tin thắng lợi trong những vần thơ chúc Tết năm 1946:
 Bao giờ kháng chiến thành công
Chúng ta cùng uống một chung rượu đào
Tết này ta tạm xa nhau
Chắc rằng ta sẽ Tết sau sum vầy”.
(Thư chúc mừng năm mới - Báo Cứu Quốc, số 155, ngày 05/02/1946)
“Chung rượu đào” mà Chủ tịch Hồ Chí Minh chuẩn bị ngay từ ngày khởi đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, mở đầu cho một hành trình suốt ba mươi năm, là nhất quán với quyết tâm “sum vầy”. Và sự thật đúng như những tiên đoán thiên tài của Bác, với cuộc Tổng tiến công chiến lược mùa Xuân 1975, đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, quân và dân ta đã kết thúc thắng lợi cuộc trường kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Bắc - Nam “sum vầy” một nhà, đất nước trọn niềm vui. Chiến tranh đã qua đi, cả nước chung tay xây dựng chủ nghĩa xã hội,  hơn 70 năm qua, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế và trong khu vực chưa bao giờ cao như thế, được các nước trên thế giới và trong khu vực đánh giá cao.
Đón xuân Mậu Tuất (2018), đọc lại từng câu, từng chữ những lời thơ, bức thư chúc Tết độc lập đầu tiên của Bác, ta thêm thấy lý tưởng của Bác, tình cảm của Bác vẫn còn mãi với non sông, đất nước. Bác đã, đang và mãi mãi đồng hành cùng dân tộc.
Với mỗi người dân Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn là biểu tượng ngời sáng về đạo đức cách mạng, tấm gương hy sinh, hiến dâng trọn đời cho sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc; hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân.
Người không chỉ đấu tranh, mưu cầu cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân mà còn để lại cho các thế hệ mai sau một di sản tinh thần vô cùng quý báu, đó là tư tưởng Hồ Chí Minh, đạo đức Hồ Chí Minh, phong cách Hồ Chí Minh và thời đại Hồ Chí Minh.

Đón Tết Nguyên Đán năm nay, chúng ta không quyên lời nhắc nhở của Bác Hồ Xuân Mậu Tuất (1958): “Trong dịp Tết Nguyên đán sắp tới, cần khuyến khích đồng bào tổ chức ngày Tết vui vẻ, lành mạnh và tiết kiệm, tránh xa xỉ, lãng phí” . Thực hiện Tết Nguyên đán văn minh, lành mạnh như lời Bác dặn, nhất định sẽ giảm bớt tai nạn, bớt bệnh tật, không còn những lễ hội biến tướng gây phản cảm, mất an toàn ở khu dân cư so với mọi năm.

Thứ Hai, 5 tháng 2, 2018

CHIỀU CUỐI NĂM truyện ngắn của HỒNG CHIẾN - Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh Số: 486-25/1/2018



Trang với tay lấy con dao bên vách bếp bước ra cửa dặn hai con đang chơi ở sân:
          -Hai anh em ở nhà nhé!
          -Dạ!
          Đứa con trai bảy tuổi trả lời, cô em lên năm vội ném mấy viên sỏi cầm trong tay chạy lại túm áo Trang nũng nịu:
          -Ba cho con đi theo với.
          -Ở nhà với anh, ba má đi câu chứ đi chơi đâu mà đòi theo.
          Nghe giọng nói nghiêm khắc của má, cô bé vội buông áo ba, rơm rớm nước mắt. Trang cúi xuống hôn nhẹ lên mái tóc con gái:
          -Gái ngoan ở nhà với anh, ba má đi câu cá sẽ về nhanh thôi. Tối nay cho con một con cá to nhất tự nướng, được chưa.
          -Ba đi nhanh về nhé!
          -Ừ!   
          Trang đi trước, người vợ nhỏ nhắn đi sau, con ky vàng lon ton chạy vượt lên  trước. Hai vợ chồng vòng ra sau nhà, băng qua cánh rừng già độ một ki lô mét là đến bên hồ thủy điện mới ngăn nước.
          Hai vợ chồng giáo viên, vợ công tác ở Ban Giáo dục, phụ trách chuyên môn mãi hết ngày hai tám tết mới được nghỉ. Trang hiệu trưởng một trường có tới ba cấp học, hơn 100 giáo viên chưa kể cán bộ công nhân viên. Tuổi đời chưa đến ba mươi, lại từ nơi khác chuyển về chưa tròn năm nên phải cố gương mẫu, làm xong buổi sáng, chiều ba mươi tết mới nghỉ. Cũng may, trường đông cán bộ công nhân viên, nhưng hình như mọi rất người nhiệt tình công tác để Ban giám hiệu hoàn thành tốt công việc của mình. Trang biết, trong số họ nhiều người buổi sáng phải nhịn đói đi làm, trưa về chỉ được vài lưng chén lương thực độn cơm, ngày hai buổi lên lớp. Cả nước khan hiếm lương thực, giáo viên mỗi tháng mười ba ký lương thực, nhưng chỉ có ba mươi phần trăm gạo, còn lại là bắp, khoai và có tháng độn bằng đậu xanh. Khó khăn chung là vậy, nhưng tết đến các thầy cô giáo có nhà riêng ở địa bàn Sư Ba đóng được biếu thêm ký thịt heo, ký đường… như vậy đã  khấm khá so với các vùng khác trong huyện.
          Theo yêu cầu của đất nước, năm 1976, cán bộ chiến sỹ Sư Ba chuyển qua làm kinh tế, nhận nhiệm vụ phá rừng trồng lương thực và cây công nghiệp. Thực hiện nhiệm vụ được giao, hàng ngàn cánh rừng già được đốn hạ để lấy đất canh tác. Hồ thủy điện được những anh bộ đội Sư Ba chặn dòng suối đầu nguồn tạo nên một hồ nước lớn vừa dùng chạy máy thủy điện ban đêm, vừa cấp nước tưới tiêu cho cả vùng đất mới khai phá.
          Hồ nước thủy điện hình thành chưa lâu, không biết cá ở đâu về mà nhiều như nuôi. Ngày chủ nhật, chỉ cần câu vài tiếng, mang về nướng, kho… ăn cả tuần không hết. Cá ở hồ, con lớn nhất to hơn hai ngón tay một chút, nhưng thịt thơm và rất ngọt. Hai vợ chồng Trang hàng ngày, sáng chở con đi học rồi lọc cọc đạp xe lên thị trấn huyện cách nhà hợn mười ki lô mét đi làm, chiều tối mới về. Chỉ ngày chủ nhật được nghỉ lại phải lo làm vườn, chợ búa, kiếm thức ăn. Cũng may, rừng già Tây Nguyên mùa nào thức ấy, chịu khó vào tìm một chút là có đồ cải thiện bữa ăn.
*
**
          Khu rừng già sau nhà Trang ở chưa bị ủi, còn nhiều cây cổ thụ lắm, chắc rộng đến vài trăm héc ta. Phía đông cánh rừng, cơ quan Sư Ba và khu dân cư, trường học đóng. Phía bắc khu rừng, đường Quốc lộ 27 và khu dân cư chen nhau ở, tạo thành vành đai án ngữ, các loài thú không thể đi qua. Hai phía tây và nam cánh rừng, nước hồ thủy điện dâng cao, nhấn chìm một khu vực rộng lớn xuống mặt hồ tạo thành bức tường nước. Có lẽ vì thế, một số loài thú chạy từ lòng hồ lên trú ngụ trên cánh rừng biệt lập này giống như một cái chuồng trại tự nhiên. Ban đêm, heo rừng còn ra vườn nhà Trang đào trộm khoai lang, cắn nhau kêu chí chóe. Khoảnh vườn nhà Trang được Sư Ba ủi đất cấp theo tiêu chuẩn như một hộ công nhân; rộng đúng một ngàn mét vuông dùng làm nhà, trồng rau, cây lương thực… cải thiện thêm đời sống.
          Hai vợ chồng Trang vượt qua cánh rừng đến bên hồ nước thủy điện rộng mênh mông. Đứng bên này, nhìn con người phía bên kia hồ chỉ như một chấm đen nho nhỏ. Trang đến bên bụ le, dùng dao chặt hai cành le to bằng ngón tay cái, dài hơn sải tay; móc hộp đựng cước, phao, lưỡi câu ra buộc vào đầu cần, rồi chọn chỗ ngồi câu. Phát mấy cành le xung quanh cho quang, Trang leo lên đống mối sát mặt nước buông câu, vợ lại ngồi bên cạnh cùng buông cần, thi xem ai câu được nhiều hơn.
Hình như lũ cá dưới nước tập trung từ khi nào rồi, đang chờ sẵn; Trang vừa ném lưỡi câu xuống nước, chúng đã lôi vút đi. Giật, gỡ cá ném vào xô nhựa để bên cứ như một cái máy hoạt động hết công suất. Thỉnh thoảng giật mạnh quá, có con cá tuột luôn, không mắc vào lưỡi câu, bay tuốt lên bờ; con ky ngồi trên bờ há mõm chờ sẵn, tóm gọn con cá mang lại cho chủ. Hai vợ chồng đua nhau giật, tiếng cười nhiều lúc chợt ré lên khi hai cần câu giật lên cùng lúc và dây cước quấn vào nhau, hai con cá cắn câu đụng nhau, không thể phân biệt con nào to hơn con nào để xem ai giỏi hơn ai.
          Thấy xô cá gần đầy, Trang cuốn cước, bỏ vào hộp bảo:
-Mấy ngày tết ăn thế này đủ rồi.
-Tết sợ nhậu nhiều thì thiếu, câu thêm ít nữa.
-Bạn bè thích món cá này nướng quấn rau thơm, đặc sản vùng mà. Hết ra câu tiếp.
-Sợ có người quá vui ba bữa ngày tết đi còn không nổi, nói gì đến đi câu.
-Làm gì có ai tệ thế.
Tiếng cười rộn rã lan tỏa khắp mặt hồ. Tiếng chim công ăn gần đâu đó chợt gõ vào không gian: Tố… hộ, tố… hộ. Đàn chim bồ chao được dịp thể hiện tài năng cũng tranh nhau hót làm bầu trời xanh như cao hơn lên.
*
**
 Trang chặt cây le to gần bằng cổ tay dài hơn một sải, luồn cây le qua quai xô cá. Vợ Trang hỏi:
-Em đi trước hay anh đi trước?
-Giờ về lên dốc em đi trước cho đỡ nặng.
-A, anh chê tôi lùn hả?
-Đâu dám!
Hai người cùng cười. Vợ đi trước, mái tóc đen, dài quá lưng, óng ánh dưới ánh nắng chiều. Chồng đi sau, tay cầm giao, tay giữ quai xô cho không trượt về phía vợ. Họ leo dốc, trở về nhà theo lối mòn quen thuộc. Hai bên đường đi cây cao chót vót; tiếng gà rừng gáy, chim hót cứ như đang dự một buổi hòa tấu ở nhà hát lớn vậy.
Bỗng tiếng con ky sủa ầm lên phía trước, ngước mắt nhìn lên cây đa ven đường, gốc to độ hai người ôm chưa hết, cao vút. Trên cây, một bầy vọoc chắc phải gần trăm con đang nhảy loạn xì ngầu. Con đu cây lao vun vút, con nhún nhẩy nơi đầu cành, có con ngồi thu lu, cúi đầu nhìn xuống như lạ lắm. Bầy Vọoc hình dáng lạ lẫm: mặt, râu, bụng, đùi và đuôi màu trắng; còn lưng màu bạch kim; con nào cũng to lớn chắc phải trên hai chục ký, hai cái tay dài quá đầu gối. Người vợ nhắc cây le từ trên vai xuống tay quay lại nói:
-Lạ nhỉ, ta đi qua đây bao nhiêu lần sao hôm nay mới thấy con này?
-Chắc chúng mới ở nơi khác đến đây định ngủ đêm đợi mai ăn tết đấy mà.
-Em nói thật sao còn trêu?
-Anh nói không đúng sao, chúng ở nơi khác đến đấy. Bộ đội ủi rừng lấy đất, bầy này không biết đường lên núi cao nên chạy lạc về đây. Thôi để gọi ky về đừng làm phiền chúng nữa.
Trang lấy tay làm loa cất tiếng: H… ú! Tiếng hú vừa vang lên, bầy vọoc như như có phép thần, biến mất luôn sau tán lá, không còn một con nào nữa. Con ky vẫn không chịu đi, cứ ôm gốc đa, ngửa cổ lên ngọn cây sủa mãi. Nhìn lên tán cây, Trang hỏi vợ:
-Em biết bầy vọoc chạy đi đâu không?
-Em đang định hỏi anh xem chúng biến đi đâu tài thế?
-Em nhìn những túm lá đen đen trên ngọn cây đa kia kìa. Bên dưới túm lá ấy có thấy cái gì không?
-Hình như có sợi dây trắng.
-Đúng rồi, lũ vọoc nhảy lên ngọn cây, kéo lá ngồi lên trên và yên chí con người ở dưới không thấy chúng nữa; thế nhưng bọn chúng quên dấu cái đuôi dài màu trắng đang để thõng xuống đấy.
-Hay nhỉ!
Con ky, hình như cũng biết lũ vọoc trốn trên ngọn cây nên không chịu về cứ ôm cây sủa mãi. Trang phải vào tận nơi, vỗ mấy cái nhè nhẹ vào đầu ky, khen:
-Mày giỏi lắm, tao biết rồi. Về thôi!
Như hiểu được tiếng người, con ky ngoan ngoãn quay ra theo đường mòn chạy trước, trở về nhà. Cô vợ nói:
-Không ngờ con ky nhà mình cũng biết đi săn.
-Nó cũng năm tuổi rồi đó, hồi sinh con gái bác Hồng giám đốc Bệnh viện huyện tặng còn bảo: cho thêm con nữa cho đủ đôi nuôi luôn thể, vì con gái mình tuổi tuất mà.
- Nhanh nhỉ!
-Ừ!
Trang trả lời vợ, chợt nhớ đến những ngày còn ở thị trấn huyện, tết đến mấy anh em ở Phòng Lương thực, Phòng Bưu điện huyện rủ nhau chung heo, bao giờ cũng mời gia đình mình qua dự bữa cơm cuối năm và chia thịt cho mang về, dù khi ấy mình cũng chỉ là anh giáo viên quèn, được học sư phạm cấp tốc mười lăm ngày ra đi dạy. Thấm thoắt gần năm rồi, xa mọi người đi nhận công tác nơi khác, mang cả gia đình lên huyện mới thành lập. Ở nơi công tác mới, đa số con em bộ đội, cuộc sống khó khăn hơn nhưng chữ tình hình như nơi nào cũng có. Những người bộ đội nơi đây bước ra từ trong khói lửa chiến tranh, qua cầm cây cuốc làm kinh tế; về quê mạng vợ con vào xây dựng quê mới. Tuy cuộc sống còn bộn bề khó khăn, nhưng tấm lòng đôn hậu và đặc biệt quý mến các thầy cô đến dạy chữ cho con em mình thì không giảm.
*
**
-Gâu, gâu, gâu!
Tiếng con ky lại vang lên bên cạnh đường đi, vợ Trang không dừng lại, vừa đi vừa nói:
-Thôi kệ nó, sủa chán rồi theo về sau. Trời sắp tối rồi, hai anh em nó chắc đang trông lắm đấy.
-Dừng lại để anh vào xem nó thấy cái gì mà sủa dữ thế.
Từ từ đặt xô cá xuống đất, Trang bước vội lại chỗ chó sủa. Con ky thúc cả mõm vào một cái lỗ trong đống mối không lớn lắm, hình như còn gặm cái gì đó nghe sột sột. Trang ngồi xuống bên cạnh, vỗ vỗ lưng con ky để lôi nó ra, nhìn vào trong hang rồi mừng rỡ kêu lên:
-Em vào đây, nhanh lên.
-Có chuyện gì thế?
-Vào rồi biết!
Tuy bị Trang giữ, nhưng con ky vẫn không chịu ngừng, cất tiếng sủa dữ dội như muốn giằng ra, lao vào đống mối. Thấy vợ vào, Trang nói:
-Em ôm con ky giúp anh.
-Sao lại phải làm vậy?
Tuy miệng nói thế, người vợ vẫn ngồi xuống, hai tay ôm lấy con ky. Trang dùng dao đục rộng ổ mối rồi  thò tay vào bê lên một cục đen đen. Cô vợ thấy vậy, buông con ky đứng bật dậy, reo lên:
-Ô, con tê tê to quá, đưa em xem nào.
- Con ky giỏi quá.
-Phải đến năm ký anh ạ, bằng lương cả năm của vợ chồng mình rồi đấy.
-Ta về thôi em không các con đợi!
Cô vợ tay ôm con tê tê, tay vịn vào xô cá mồm thía lia với dự định khi “trúng số”. Sau tết, phải đổi luôn cái xe đạp cọc cạch, mua cái mới đi cho đỡ khổ. Trang đi trước, hơi ngạc nhiên nói với vợ:
-Sao hôm nay rừng im lặng thế nhỉ, chim không hót mà gà cũng không gáy như mọi hôm?
-À chắc muộn nên chúng đi ngủ rồi.
-Trời còn sớm mà em.
-Hay chúng thấy ta bắt được con tê tê cũng vui quá quên hót cũng nên.
Sau tán lá cây trên đầu, mấy ngôi sao sớm đã xuất hiện trên bầu trời xanh thẳm. Mặt đất hơi sẫm lại. Con ky thong thả chạy trước, cách hai người hơn chục mét, thỉnh thoảng lại nghếch mũi lên không trung ngửi gió.
*
**
-H… ừm!
Tiếng con hổ gào lên ngay trước mặt, con ky kêu lên một tiếng thảng thốt: “oẳng”, rồi ngã lăn quay ngay trên lối đi. Con hổ to như một con bò lớn từ lùm cây bên lối mòn lao vút ra, há mồm, thè lưỡi đỏ lòm; nhằm con ky lao tới. Trang theo phản xạ, cũng gào lên: “H.. uầy”, ném luôn con dao đang cầm trong tay về phía con hổ. Con hổ giật mình, vội tạt ngang qua bên đường tránh con dao rồi lủi luôn vào rừng. Con ky lồm cồm bò dậy đứng không vững, lại ngã xuống. Trang quay nhìn phía sau thì… cô vợ đã ngồi bệt xuống đất từ bao giờ, người run như lên cơn sốt. Quay lại đỡ vợ đứng lên, Trang động viên:
-Đi rừng gặp thú dữ là chuyện thường thôi mà. Có loại thú nào không sợ người.
-N …ó n… ó đ… i ch… ưa?
-Nghe tiếng anh nó chạy mất dép rồi.
Phía trước mặt, mấy người hàng xóm tay cầm súng, tay cầm đèn pin, hớt hải chạy đến, mồm hú ầm ĩ. Ông đồng hương chạy trước, thở hỗn hển hỏi:
-Có sao không?
-Dạ, không anh.
-Nghe tiếng hổ gầm sát nhà sợ có người gặp nạn nên chạy vào. May quá, không sao là tốt rồi. Chiều ba mươi tết rồi sao về muộn thế?
-Dạ, vợ chồng em đi câu cá ạ. Ô, con tê tê đâu em?
-Bắt được tê tê à?
-Dạ, nhưng chắc khi nãy nghe hổ gầm nên cô ấy bỏ tay ra, nó chạy mất rồi.
-Thôi nhặt cá rồi về kẻo các cháu ở nhà đợi. Không biết con hổ ở đâu mà lại mò về tận đây thế này không biết.
-Nó có to không?
Mấy người xúm vào nhặt hộ cá, bỏ vào xô, miệng hỏi thía lia. Trang nói:
-Nó to như con bò lớn ấy, núp ở chỗ bụi kia, bất ngờ lao ra vồ con ky, em cũng giật mình nên hét lên một tiếng rồi liệng luôn con dao vào nó. Không biết vì sợ em hay sợ con dao mà nó lũi luôn vào rừng.
-Chắc nó nhìn thấy đầu cây tre trên vai chú mày, tưởng nòng súng cô vợ đứng phía sau chuẩn bị bắn nên sợ quá bỏ chạy đấy mà.
Mọi người cười ầm lên, Trang cũng cười theo nhưng, sống lưng cảm thấy lành lạnh. Trời sập tối, chỉ còn hơn trăm mét là về đến vườn nhà, vậy mà vẫn gặp thú dữ. Vợ Trang lầm lũi đi sau, không nói câu nào.
*
**
Bên bếp lửa hồng, than củi gỗ cây kơ nia đỏ rực, Trang gác vỉ sắt lên trên than, xếp cá để nướng. Cô con gái ngồi bên phụng phịu:
-Ba không cho con nướng với à?
-Con thích con nào thì lấy đi.
-Eo ơi, con tắm rồi không cầm cá lại phải đi rửa tay, lạnh lắm.
-Con thích con nào, ba lấy cho?
-Con này ạ.
-Sao con chọn con nhỏ thế?
-Tại con nhỏ nhất nhà mà.
Không biết khi chiều câu thế nào mà con cá chỉ to bằng ngón tay, nhỏ xíu vậy cũng dính câu. Lấy que tre xiên qua miệng cá, định đặt lên vỉ nướng, con gái giật tay:
-Để con tự làm chứ.
-Ồ, ba xin lỗi, đây con cầm lấy.
-Sao vậy? Lớn bằng chừng này rồi mà không cẩn thận!
-Con xin lối má.
Tiếng vợ quát, con trai xin lỗi, hình như méo miệng thì phải. Một lúc sau con trai khệ nệ bưng thêm một rổ cá vào. Trang hỏi:
-Con làm gì mà để má quát vậy?
-Con đổ nước văng vào chân má ạ. Ba ơi tết này nhà mình không có bánh chưng à?
-Có chứ, ba gửi bên bác Tư rồi. Còn có hẳn hai cái bánh nhỏ cho hai anh em nữa đấy.
-Con cảm ơn ba!
Cậu con trai nhìn ba, khuôn mặt hình như tươi hơn hẳn lúc nãy, cô em đứng bật dậy choàng tay ôm cổ ba:
-Ba tuyệt nhất nha!
-Ôi, con để cả cá vào má ba kìa.
-Hi hi, con xin lỗi ạ. Cá chín chưa ba?
-Con gái giỏi quá, nướng cá chín rồi. Con ăn đi.
-Dạ!
Vừa thổi phù phù, con gái vừa cắn đuôi con cá nhai nhè nhẹ như mấy ông già nhắm mồi khi uống rượu, làm anh trai phì cười;
-Ba xem con gái ăn cả đuôi cá kìa.
-Em nướng, em phải ăn hết chứ. Ngon lắm.
-Hai anh em thích con nào cứ ăn thoải mái nhé.
Nghe ba bảo, hai anh em cùng cười. Xa xa tiếng pháo nhà ai đó vừa đốt nổ đì đoàng. Đêm ba mươi tết đầm ấm cuối cùng của tổ uyên ương nhỏ bé cách đây đã tròn ba mươi năm. Do biến đổi của cuộc sống, sau tết ấy mọi thứ chỉ còn nằm trong kỷ niệm. Thời gian, thời gian cứ lẳng lặng trôi, những cánh rừng huyền bí Tây Nguyên giờ đây chỉ còn trong ký ức giống như chiều ba mươi tết năm ấy - 1987.

Mùa đông năm 2017

Chủ Nhật, 4 tháng 2, 2018

NHỚ LỜI DI HUẤN CỦA NGƯỜI - tác giả KHÔI NGUYÊN - CHƯ YANG SIN SỐ XUÂN MẬU TUẤT - THÁNG 1&2 NĂM 2018









Năm 2017 là một năm đầy khó khăn thử thách, ngoài những khó khăn thường niên do hoàn cảnh và điều kiện khách quan mà Hội Văn học Nghệ thuật Đắk Lắk không đủ tầm tự giải thoát còn có những khó khăn cụ thể trong năm 2017 ập đến với Hội.
Ví dụ như ngân sách của Tạp chí Chư Yang sin cũng phải tiết kiệm 10% theo chủ trương của tỉnh. Vậy thì tiết kiệm bằng cách nào? Chẳng lẽ phải giảm số trang in, chịu sự thụt lùi trong việc công bố, quảng bá tác phẩm VHNT? Chẳng lẽ phải giảm tiền chi trả nhuận bút vốn đã thấp so với các báo chí khác của địa phương cũng như của các tạp chí văn nghệ tỉnh bạn? Chẳng lẽ phải đình bản 1 kỳ vốn đã có truyền thống ra hàng tháng cả mấy chục năm nay mà Bộ Văn hóa (nay là Bộ Thông tin – Truyền thông) đã ghi trong Giấy phép xuất bản?...
Rồi nữa, Trại sáng tác thơ văn Hạ Xanh cho thanh thiếu niên, ban đầu từ 4 cơ quan đồng phối hợp tổ chức, sau khi Ủy ban chăm sóc – bảo vệ bà mẹ và trẻ em hoàn thành sứ mệnh lịch sử thì còn có 3 cơ quan (Sở Giáo dục – Đào tạo, Tỉnh đoàn, Hội VHNT), bỗng nhiên đến năm 2017 chỉ còn một mình Hội VHNT đứng ra gánh vác.  Với nguồn kinh phí được cấp là 45 triệu đồng, làm sao đủ để tổ chức cho 19 tài năng trẻ ăn nghỉ, gặp gỡ để học tập kinh nghiệm, đi thực tế sáng tác, in sách cho các em...? Chẳng lẽ phải vứt bỏ niềm tự hào khi giao lưu với các tỉnh bạn rằng: Chỉ có Đắk Lắk, việc ươm mầm “tài năng văn học-nghệ thuật” rất được lãnh đạo tỉnh quan tâm nên từ 1990 đến nay việc tổ chức Trại bồi dưỡng sáng tác Thơ – Văn cho các em đã thành thông lệ? 
Cũng chỉ với 54 triệu đồng, làm thế nào để tổ chức được một cuộc “Thi và triển lãm ảnh nghệ thuật” của tỉnh có sự bảo trợ của Hội Nghệ sĩ Nhiếp ảnh Việt Nam? Đã lâu lắm rồi, lâu như cổ tích, Hội Văn học Nghệ thuật Đắk Lắk mới “xin” được nguồn kinh phí này.  
Nguồn Quỹ hỗ trợ sáng tạo VHNT của Chính phủ cho Hội năm 2017, phải dài cổ hóng chờ cho tới ngày 12.12.2017 mới được chính thức sử dụng. Làm thế nào vẫn giữ được phong trào ổn định trong việc tổ chức các trại sáng tác, các chuyến đi thực tế, các liên hoan khu vực, các cuộc hội thảo chuyên đề nhằm khơi gợi, phát huy khả năng sáng tạo của văn nghệ sĩ trong suốt thời gian đó?...
Chỉ trong thời điểm diễn ra Liên hoan Văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên 2017 và Lễ hội Cà phê lần thứ 6, Hội VHNT Đắk Lắk đã tổ chức đón tiếp gần 300 văn nghệ sĩ của cả nước; rồi nữa, được mệnh danh là “Thủ phủ Tây Nguyên”, mỗi năm đón hàng chục đoàn văn nghệ sĩ tỉnh bạn đến theo chương trình đi thực tế sáng tác hoặc tổ chức Trại sáng tác tại Đắk Lắk, làm thế nào tạo được ấn tượng tốt đẹp về đất và người nơi thừa nắng gió này? Đây cũng là một vấn đề nan giải.
Vậy mà Hội VHNT Đắk Lắk đã vượt qua với những hoạt động mà rất nhiều hội viên tỉnh bạn mong muốn được làm hội viên của Đắk Lắk; nhiều tác phẩm trong năm được công bố, hàng trăm tác phẩm đoạt giải của tỉnh, của khu vực, của toàn quốc hoặc quốc tế.
Được như vậy, trước hết là sự đoàn kết để sáng tạo của toàn thể hội viên, sự linh hoạt của Ban lãnh đạo, sự tâm huyết với văn học nghệ thuật của Ban Chấp hành các chi hội và rất nhiều hội viên. Thêm nữa là, rất nhiều cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân đã nhiệt tình cổ vũ, động viên và hỗ trợ, tạo điều kiện thiết thực cho những hoạt động văn học, nghệ thuật của Hội.
Bước sang năm 2018, Hội VHNT Đắk Lắk sẽ còn gặp nhiều khó khăn thách thức hơn nữa. Đặc biệt, nguồn ngân sách của địa phương cấp cho Hội năm 2017 chỉ hơn 1,6 tỷ (chưa kể phải tiết kiệm 10%) trong đó riêng nguồn kinh phí tự chủ (cho công tác của cơ quan Hội) đã gần 900 triệu. số còn lại khoảng nơn 700 triệu dành cho việc in ấn phát hành Tạp chí Chư Yang Sin, tổ chức trại sáng tác Hương Rừng cho thanh thiếu niên, tổ chức thi và triển lãm mỹ thuật toàn tỉnh, tổ chức xét và trao giải thưởng VHNT hàng năm...
Trước thềm năm 2018 và xuân Mậu Tuất, nhớ di huấn của Người khi nói về Quân đội: “Trung với nước, hiếu với dân/ nhiệm vụ nào cũng vượt qua/ kẻ thù nào cũng đánh thắng”, khi nói về ngành Công an: “Vì nước quên thân, vì dân phục vụ”, khi nói về cán bộ: “Biết đem lợi ích riêng, lợi ích của cá nhân phục tùng cho lợi ích chung”...; riêng đối với văn nghệ sĩ, Người từng nói: “Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em văn nghệ sĩ cũng là người chiến sĩ trên mặt trận ấy”...
Mỗi văn nghệ sĩ là một người chiến sĩ, mang trong mình sự tổng hòa cốt cách của người chiến sĩ quân đội, người chiến sĩ công an, người cán bộ mẫu mực để  tiếp tục vượt khó, chủ động sáng tạo, tâm huyết với hoạt động văn học nghệ thuật; đặc biệt là tiếp tục thực hiện cuộc vận động, quảng bá tác phẩm theo chủ đề “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”; dùng tài năng và tâm huyết của mình để phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, góp phần xây dựng nền văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước.
Văn hóa vừa là phương tiện vừa là mục đích để phát triển kinh tế-xã hội. Một dân tộc tiêu biến hoặc một quốc gia diệt vong khi và chỉ khi không còn nền văn hóa của riêng mình. Trong nền văn hóa ấy thì văn học nghệ thuật là tinh túy, là cốt lõi, là xương tủy. Bất cứ thời đại nào dù rằng đã tiêu biến và diệt vong, thế hệ sau khai quật lên đều lấy tiêu chí văn hóa thông qua các di chỉ thuộc phạm trù văn học – nghệ thuật để xác định sự phồn thịnh hay suy thoái.
Văn nghệ sĩ Đắk Lắk đã và đang học tập và làm theo Người một cách thiết thực: Vượt mọi khó khăn để đi đến đích là góp phần “Xây dựng nên văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” và “Xây dựng nền văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”.


Thứ Năm, 25 tháng 1, 2018

CON VÀNG truyện ngắn của Hồng Chiến - báo Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh số: 483 ngày 4 tháng 1 năm 2017



Năm H’Lê Na được ba mùa rẫy, cũng vào mùa chuẩn bị gieo hạt, đôi vợ chồng trẻ say mê công việc chạy đua với ông mặt trời chuẩn bị đất đón mưa. H’Lê Na được ami ama(1) mang lên chòi canh rẫy có a sâu(2) làm bạn. Ami lo làm rẫy không có thời gian chơi đùa, chỉ có a sâo quấn quýt với H’Lê Na. A sâo ngoan lắm, khi thì làm ngựa cho H’Lê Na cưỡi, khi lại chịu khó nhặt đồ chơi xếp lại dùm khi H’Lê Na làm rơi. Bên đống đồ chơi ama làm bằng cây, rễ, quả rừng… H’Lê Na như lạc vào thế giới của Yang(3), say mê tìm hiểu, khám phá… mệt rồi thì nằm lăn ra trên tấm gỗ dưới sàn chòi canh rẫy ngủ ngon lành. Nằm bên cạnh H’Lê Na, a sâo có bộ lông vàng rực một màu cỏ gianh chín, gác mõm lên hai chân trước lim dim, đôi tai lâu lâu lại vẫy nhẹ.
Trời xế chiều, H’Lê Na thức giấc, dụi mắt ngồi dậy nhìn xung quanh. Xa xa ami ama đang bận rộn với công việc, hình như hai người thỉnh thoảng còn nhìn nhau cười nữa. Tối hôm qua trời đổ cơn mưa, họ hàng nhà bướm không biết từ đâu bay ra nhiều quá, toàn một loại bướm vàng rực rỡ. Bướm không chịu bay thẳng, chúng chao lên, lượn xuống như múa nhìn thích quá; H’Lê Na đứng bật dậy đuổi theo để bắt, a sâo lặng lẽ chạy theo phía sau.
Lũ bướm bay chập chờn trước mặt không lấy gì làm nhanh lắm, nhiều con lao cả vào mặt, thúc vào đầu, xẹt qua tai… vậy mà H’Lê Na không bắt được con nào. Mải vui đuổi theo bầy bướm lên đến bìa rẫy giáp rừng già lúc nào không biết, a sâo vẫn lặng lẽ đi phía sau bỗng dừng lại ngếch đầu lên trời hít hà, hai tai dựng đứng lên. Hình như cảm thấy có điều gì đó không bình thường, a sâo lao lên phía trước rồi đột ngột dừng lại chặn đường làm H’Lê Na đang mãi nhìn đàn bướm vấp phải, ngã chúi xuống đất. Bực mình, H’Lê Na lồm cồm bò dậy nắm lấy đuôi a sâo kéo ngược trở lại để phạt vì lỗi làm a mai(4) té. Khác mọi lần bị túm đuôi lôi, a sâo khẽ nhe răng ra gầm gừ rồi cụp đuôi xuống kéo cô chủ đi; lần này a sâo không giận lại còn hướng đầu vào rừng cất lên những tiếng sủa dữ dội như sắp lao vào kẻ thù làm H’Lê Na thấy thích thú, càng cố gắng nắm đuôi thật chặt.
Nghe tiếng a sâo kêu có vẻ bất thường, ami ama đang làm rẫy đứng lên nhìn rồi hoảng hốt thét lớn: huầy, huầy, huầy… vác cuốc lao lại chỗ H’Lê Na đang đứng. Mải mê với trò đùa, kéo đuôi a sâo, khi nghe tiếng ami ama hò hét, H’Lê Na nhìn lên đã thấy một con vật đen thui, cổ có chòm lông trắng cong như hình chiếc nón lộn ngược, đi bằng hai chân sau, hai chân trước lúc lắc, ve vẩy như múa. Con vật mõm như mõm heo, tai giống tai chuột cao bằng sải tay người lớn, lừ lừ tiến lại phía H’Lê Na. H’Lê Na tò mò nhìn con thú lạ, buông tay khỏi đuôi a sâo định bước lại làm quen. A sâo không bị giữ đuôi nữa liền xông đến trước mặt con vật lạ đầu ngẩng cao, đuôi cụp xuống sát đất gầm lên những tiếng dữ dội, hai hàm răng nhe ra như muốn ăn tươi nuốt sống đối thủ. Con thú lạ hình như không sợ, vẫn lừ lừ tiến lại gần. A sâo vọt nhảy lên như một mũi tên nhằm cổ con thú lạ lao đến. Chỉ một cái vẩy tay tạt nhẹ của con thú lạ, a sâo bị đánh văng qua bên cạnh kêu lên một tiếng thảng thốt: “oẳng”. A sâo lại đứng bật dậy lao vào phía sau mông nơi có chiếc đuôi cụt lủn, dài hơn ngón tay cắn một cái giật thật mạnh làm con thú lạ phải quay mình, chồm hai chân trước xuống đất định vồ, nhưng a sâo đã lùi lại, nhe răng gầm lên. Con thú lạ giơ tay trước tạt qua đầu, a sâo lùi lại thật nhanh, mồm vẫn gầm lên: gâu, gâu, gâu... liên hồi.
Con thú lạ có lẽ không muốn chơi với a sâo nữa, nó đứng lên bằng hai chân sau, hai chân trước khua khua như chào, tiến lại phía H’Lê Na. A sâo từ phía sau chạy nhanh rồi nhảy một cái thật cao, gậm một miếng vào sau gáy con thú lạ làm nó giật mình ngã xuống đi bằng bốn chân. Nó kêu lên “g…ừ”, rồi quàng một chân ra sau tát một cái thật mạnh làm a sâo văng sang bụi cây bên cạnh, ngã lăn quay. Con thú lạ chắc giận quá, nổi nóng, nhảy chồm chồm bốn chân đuổi theo dùng chân trước tát thêm một cái nữa thật mạnh trúng đít làm a xâu bị văng qua một bên. Con thú lạ mập quá, cái mông to hơn cái rổ bự, rung rung theo từng bước chạy, nhìn có vẻ nặng nề vậy mà nhanh hơn cả a sâo, nó lại chồm lên… H’Lê Na thấy vậy tưởng chúng đùa nhau, vỗ tay cười thích thú. May quá, ama vừa chạy đến, ném cái cuốc vào con vật lạ rồi ôm chầm lấy H’Lê Na nhấc lên, miệng thét:
- Huầy, huầy, huầy!
Ami cũng vừa đến kịp, cầm cuốc khua khua như muốn đánh làm con thú lạ vội vàng bỏ chạy bằng bốn chân, lao ngay vào rừng già, biến mất. A sâo hình như vẫn bực mình đứng quay mặt vào rừng sủa ông ổng. Ami đỡ H’Lê Na từ lưng ama qua lưng mình, hỏi:
- Sợ không?
- Không ạ, con gì đẹp thế?
- Gấu đấy, nó có thể cắn người đau lắm.
- Nó hiền khô à, khi đi hai tay trước còn làm thế này này…
H’Lê Na dùng hai tay vẫy vẫy làm ama bật cười nói:
- Con gái mình được Yang phù hộ đến gấu ngựa cũng muốn làm bạn nữa à.
- Lạ quá, tại sao gấu lại ra rẫy lúc ban ngày thế này nhỉ?
Ami băn khoăn hỏi ama, H’Lê Na cướp lời:
- Nó ra chơi với con mà.
Ama, ami bật cười thành tiếng, tuy trên trán mồ hôi chảy thành dòng vì vừa chứng kiến con gái thoát hiểm trong gang tấc. H’Lê Na vẫn vô tư, bi bô diễn lại cảnh con gấu đi, con gấu “đùa” với a xâu; miệng cười như hoa. Ama nghiêm nét mặt nói với H’Lê Na:
- Con gấu xấu lắm, không tốt đâu, nó có thể cắn con đấy. Lần sau thấy nó con phải tránh đi, không được lại gần nghe chưa!
- Dạ!
H’Lê Na trả lời rồi úp mặt sau lưng ami tránh cái nhìn nghiêm khắc của ama. Khi về đến bên chòi canh rẫy, H’Lê Na vít cổ ami nói nhỏ:
- Con gấu nhìn dễ thương lắm ạ!
Ama nghe thấy giơ nắm tay dứ dứ, bảo:
- Người lớn nói phải nghe chứ!
- Dạ!
- Hôm nay không có a sâo dũng cảm bảo vệ con thì không biết điều gì sẽ xảy ra nữa rồi.
- Vậy ạ, ơ a sâo nhà mình đâu rồi?
Cả nhà mãi chuyện quên mất a sâo, khi nghe H’Lê Na hỏi mới giật mình nhìn quanh. Từ bìa rẫy, a sâo bước những bước nặng nhọc về phía chòi rẫy, nơi cả nhà H’Lê Na đang đứng đợi. Ama kêu lên:
- Hình như a sâo bị thương rồi.
- A sâo, a sâo…
H’Lê Na cuống quýt tuột khỏi vai ami chạy lại đón a xâu. A sâo cố bước thêm mấy bước lại gần rồi nằm xuống đất đặt mõm lên tay H’Lê Na, đôi mắt xanh trong veo nhìn như muốn nói điều gì đó mà không thể. H’Lê Na bật kêu lên:
- Máu, a sâo chảy nhiều máu lắm ama ơi!
Ama chạy lại ôm a sâo lên, nó khẽ rùng mình một cái, mắt dại đi; H’Lê Na cầm tai nó lắc lắc:
- Dậy đi, đừng ngủ nữa, dậy đi a sâo!
Ama đặt a sâo xuống đất, mặt đanh lại không nói gì, mắt buồn thăm thẳm. A sâo là quà tặng của già làng buôn Kít, phía thượng nguồn suối Yang Mao cho H’Lê Na, mừng ngày chào đời đúng theo truyền thuyết. Mọi người tin rằng người con gái nào sinh ra gữa trưa ngày rằm, có sét đánh vào đầu núi sẽ thay Yang mang đến vận may cho mọi người. Vậy mà… Có lẽ Yang đã định, a sâo phải dùng mạng sống của mình để cứu H’Lê Na.
- Nó chết rồi, không dậy được nữa đâu con.
Ami ngồi xuống bên cạnh nói, giọng nghèn nghẹn. H’Lê Na bật khóc, kéo đầu a sâo ôm vào lòng:
Con gấu xấu xí làm chết a sâo của con rồi amí ơi, con bắt đền đấy!
Amí gỡ tay, ôm H’Lê Na để ama mang a sâo đi chôn, giọng buồn buồn:
- Đành phải chấp nhận thôi con gái, nó chết để con được sống đấy!
H’Lê Na ôm amí khóc nức nở. Gió nổi lên ầm ầm, thổi cát bụi bay mù mịt. Từng đám mây đen từ bên kia núi sầm sập lao tới cùng với những ánh chớp xanh lè chia cắt bầu trời và sấm. Những tiếng sấm đùng đùng như giận dữ làm lay động cả khu rừng rồi mưa, trời mưa xối xả như muốn chia sẻ nỗi buồn với gia đình H’Lê Na.



Chú tích:
1.         Ami ama: mẹ, ba - tiếng Ê đê;
2.         A sâo: chó - tiếng Ê đê;
3.         Yang: trời - tiếng Ê đê;
4.         A mai: chị - tiếng Ê đê;

5.         Chư Yang Sin: Núi thần cọp - tiếng Ê đê.