Thứ Ba, 10 tháng 7, 2018

QUÊN - truyện ngắn của NGUYỄN VĂN THIỆN - CHƯ YANG SIN SỐ 310 tháng 6 năm 2018



  

Ai đi ngoài nội cỏ, bỏ quên mắt nhìn trong hang sâu! Ai ào ào nỗi nhớ, bỏ quên tai buồn trong đêm sâu! Có những lúc bất chợt vô hồn nào đó, tôi bỏ quên mắt mình ở một nơi nào đó. Dù bạn có muốn tin hay không thì cũng mặc, tôi vẫn thầm thì kể lại câu chuyện bất tận của mình, rối rắm tin yêu và bạt ngàn nghi hoặc. Phải, tôi đã từng quên mắt quên môi, quên tai và quên chân, thậm chí quên tim quên óc ở một nơi nào đó...
Vào một ngày mùa thu rất đẹp, đẹp một cách ảm đạm, tôi bỏ quên đôi mắt mình trên cỏ, như một cậu học trò mải chơi bỏ quên cặp kính cận ngay trên ghế đá sân trường. Tôi về nhà mà không có mắt, không có mắt nhưng vẫn ăn vẫn ngủ bình thường. Ai mà chẳng thế, trong ngôi nhà quen thuộc đến nhàm chán, cần gì phải có mắt, bạn vẫn biết thức ăn để ở đâu và giường đặt ở đâu rồi. Ăn xong thì làm một số việc, làm xong thì ngủ, ngủ dậy đi đâu đó như là đi làm hoặc đi chơi, về lại ăn, lại ngủ.
Chỉ có đôi mắt nằm lại trên thảm cỏ, chúng nhìn xung quanh như lần đầu mở mắt. Thì ra những chiếc lá không chỉ là những phiến mỏng nhiều màu sắc, chúng còn biết đong đưa mời gọi, biết chuyện trò và âu yếm nhau nữa...
Không bị sai khiến bởi bộ não cứng nhắc đầy khiếm khuyết vì nhồi nhét quá nhiều thứ không cần thiết, mắt hình như sáng hơn, và nhìn thấy nhiều thứ đáng nhìn, đáng yêu hơn!
Rồi một ngày nào đó, tôi lơ đãng bỏ quên tai mình ngoài đầu suối Kroa. Tôi về nhà mà không có tai, không có tai mà vẫn sống dĩ nhiên, vẫn ăn và ngủ bình thường. Những công việc lặp đi lặp lại hàng tháng hàng năm, những âm thanh lặp đi lặp lại hàng tháng hàng năm, cần gì phải nghe mới hiểu?
Chỉ có đôi tai nằm lại đầu nguồn con nước, nghe lũ cá long tong hát bài gì đó chộn rộn tươi vui, nghe bọn cua thổi kèn đám ma vui vẻ tiễn đưa bạn mình về dưới bùn đen hoá kiếp...
Không bị sai khiến bởi bộ não già nua và lẩm cẩm, tai hình như thính hơn, nghe được nhiều chuyện vui hơn.
Không tin, bạn hãy thử xem?
Quên mắt quên tai, nghe có vẻ hoang đường nhưng cũng chưa thấm vào đâu nếu bạn để quên trái tim mình ở một nơi hoang vắng xa lạ nào đó! Quên tim thì làm sao mà sống, bạn sẽ hỏi thế, phải không? Thì xung quanh bạn đấy, có lũ lượt người, đường hoàng, chững chạc, lịch lãm, múp míp vân vân, họ vẫn sống bình thường, mà có tim đâu? Nếu có tim sao họ giết đồng loại, mổ bụng, chặt khúc nhét vào bao tải, vào nhà cầu, hoặc vứt xuống sông hoặc đốt xác phi tang mà không day dứt hay ăn năn đau đớn?
Vậy nên, có một bữa vô tình, tôi về nhà với lồng ngực trống không, còn trái tim thì bỏ quên trên đỉnh núi Chư Mang vời vợi.
Không có tim thì có sao không? Không sao hết, vẫn ăn vẫn ngủ vẫn đi tới đi lui như thường ngày vẫn vậy. Chỉ có trái tim, trên núi cao, thổn thức một mình với nhịp đập cô đơn khắc khoải mong chờ...
Không còn bị đóng khung vào một vị trí cố định, tim mình có vẻ đập dịu nhẹ hơn, thầm thì đếm những mùa lá bay, những mùa trứng rụng...
Rồi một ngày mây trời lãng đãng thiên di, tôi bỏ quên nốt óc mình trên tán cây bằng lăng cổ thụ ngoài bãi vắng...
Bây giờ thì sự việc đã vượt ra khỏi giới hạn chật chội của trí tưởng tượng phải không? Không có óc, làm sao mà sống? Thế mà tôi vẫn sống, nhờ vào sự mặc định của số phận! Hoàn toàn không cần phải tư duy, bạn vẫn biết xã hội đang vận hành theo một quy luật biện chứng khách quan, từ bóng tối ra ánh sáng, từ thung lũng đau thương ra cánh đồng vui, đúng không?
Vì vậy, đừng nghĩ là hoang tưởng, không có óc, vẫn sống, vẫn đi tới, vẫn sánh vai với mọi người mà không hề có cảm giác thua kém, xấu hổ...
Rồi trong một lần say, tôi trở về nhà, bỏ quên đôi chân ở đâu đó trên đường. Buồn cười, không có chân vẫn về đến nhà, bằng cách nào đó chỉ người say, thật say mới hiểu! Mà không có chân thì vẫn thế, nào có hề gì. Chúng ta đang sống, nghĩa là đang tiến dần đến cái chết. Bạn hãy hình dung những con sóng ngoài biển khơi, sóng sau đẩy sóng trước, muốn đứng im cũng không được đâu. Không cần phải có đôi chân, hãy cứ ngồi im một chỗ đi, làn sóng người sẽ đẩy tôi đi, đẩy bạn đi, để còn lấy chỗ cho người kế tiếp.
Chỉ thương đôi chân, không còn được định hướng bởi những những suy nghĩ mang tính áp đặt, bây giờ thập thững, lang thang như bước cô hồn tháng Bảy, gặp ai cũng ngơ ngác trông theo…
Giờ thì, như một thói quen khó bỏ của người nghiện, tôi thường bỏ quên tôi ở một nơi hoang vắng nào đó mà không còn bận tâm hay sợ hãi. Có ai phát hiện ra sự khiếm khuyết chết người ở tôi không? Không ai cả! Tất cả mọi người đều đã nằm trọn trong một guồng máy cố định cực kỳ tinh xảo, không ai còn thời gian để ngắm nhìn người bên cạnh. Chỉ có những hình ảnh âm thanh con đường và nếp nghĩ nếp sống là vẫn quen thuộc như xưa. Người ta định nghĩa, đó là cuộc sống. Còn tôi, tôi nghĩ ngược lại, đó là cái chết!
Vậy nên, để chết một cách đường hoàng, để khi nằm vào quan tài được nguyên vẹn đầy đủ tay chân mắt tai và tim óc của mình, tôi phải đi tìm những thứ từ lâu mình đã bỏ quên đâu đó.
Ngày mai tôi đi thật đấy, ai đi cùng tôi không?



Thứ Hai, 9 tháng 7, 2018

VẺ ĐẸP NGƯỜI MẸ TÀ ÔI QUA BÀI THƠ

“KHÚC HÁT RU NHỮNG EM BÉ LỚN TRÊN LƯNG MẸ” - lời bình của   LÊ THÀNH VĂN  - CHƯ YANG SIN SỐ 310 tháng 6 năm 2018




(SGK Ngữ văn lớp 9)


Thế hệ các nhà thơ trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mỹ thực sự đã làm nên một dòng chảy văn học độc đáo với nhiều tên tuổi lớn. Một Thu Bồn vạm vỡ với sức viết thật hoành tráng, một Thanh Thảo cũng dấn thân quyết liệt không kém để vươn lên trở thành "ông vua của thể loại trường ca", một Nguyễn Trọng Tạo lãng mạn và tài hoa qua nhiều bài thơ đằm thắm chất men say của người lính trẻ. Nguyễn Đức Mậu, Hữu Thỉnh, Anh Ngọc, Hoàng Nhuận Cầm... mỗi người một vẻ đã viết tiếp một chương mới trong lịch sử thơ ca nước nhà. Nguyễn Khoa Điềm là một trong những bông hoa rực rỡ sắc hương trong vườn thơ giai đoạn chống Mỹ,  đã để lại nhiều bài thơ gây ấn tượng thật sâu sắc trong lòng bạn đọc. Ngoài trường ca Mặt đường khát vọng mà chương Đất nước được học nằm lòng qua nhiều thế hệ bạn đọc, Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ là một trong những bài thơ xuất sắc, phản ánh hình tượng người mẹ Tà - ôi ở miền núi của tỉnh Thừa Thiên Huế, nghèo khổ nhưng giàu tình thương con, tình yêu buôn làng, đất nước trong những năm đánh Mỹ.
Bài thơ có ba khúc, hai khúc đầu ca ngợi hình ảnh bà mẹ Tà - ôi trong lao động sản xuất. Bà mẹ nghèo ấy vừa địu con vừa lao động giã gạo, tỉa bắp để nuôi bộ đội. Đi kèm với vẻ đẹp lao động bình dị, chân chất là tình thương con vô hạn, tình cảm gắn bó với buôn làng và niềm ước mơ của mẹ thật bình dị, sáng trong:
- Con mơ cho mẹ hạt gạo trắng ngần,
Mai sau con lớn vung chày lún sân...
- Con mơ cho mẹ hạt bắp lên đều
Mai sau con lớn phát mười Ka - lưi!
Trong hai khúc đầu của bài thơ, có những câu thơ tác giả khắc hoạ vẻ đẹp người mẹ khiến người đọc không thể nào kìm nén xúc động. Cảnh người mẹ giã gạo nuôi bộ đội, em cu Tai cứ thế mà ngủ trên lưng mẹ, thành ra "nhịp chày nghiêng giấc ngủ em nghiêng". Rồi nữa, gian khổ, vất vả là vậy, nhưng tâm hồn người mẹ vẫn sáng trong lấp lánh một tình thương con vô hạn qua lời hát nhịp nhàng, sâu lắng bằng chính nhịp tim đưa nôi khi địu con của mình:
"Mồ hôi mẹ rơi má em nóng hổi,
Vai mẹ gầy nhấp nhô làm gối,
Lưng đưa nôi và tim hát thành lời:..."
Không gian lao động của bà mẹ Tà - ôi cũng được nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm mở rộng có chủ ý, từ ở sân nhà trong tư thế giã gạo đến khung cảnh núi cao lúc mẹ lên núi tỉa bắp. Núi Ka - lưi hùng vĩ, có "mặt trời của bắp thì nằm trên đồi", nhưng bóng dáng người mẹ nghèo khổ ấy lại thật nhỏ bé, chỉ có tấm lưng làm nhịp nôi đưa ru em cu Tai vào giấc ngủ êm đềm với mơ ước âm thầm "mai sau con lớn phát mười Ka - lưi". Nghệ thuật ẩn dụ qua hình ảnh mặt trời, phép tương phản trong sự đối sánh giữa lưng núi và lưng mẹ đã thật sự gợi ấn tượng rất mạnh mẽ trong lòng người đọc từ khi bài thơ ra đời cho đến nay: "Mặt trời của bắp thì nằm trên đồi/ Mặt trời của mẹ em nằm trên lưng"
Đến khúc thứ ba của bài thơ, tác giả Nguyễn Khoa Điềm đã nâng hình tượng người mẹ lên một tầm vóc mới. Người mẹ Tà - ôi trải qua lao động giã gạo nuôi bộ đội, đến tỉa bắp trên núi Ka - lưi, giờ đây đã là bà mẹ trực tiếp đi làm cách mạng. Có đặt bài thơ trong hoàn cảnh ra đời khi cả nước đứng trước cuộc kháng chiến chống Mỹ ác liệt nhưng sắp đi đến thắng lợi ta mới hiểu rằng sự chuyển biến ấy qua hình tượng người mẹ Tà - ôi là điều không thể khác.
Do tính chất công việc của mẹ ở khúc thứ ba đã khác nên không gian cũng được mở rộng, hùng tráng và lẫm liệt hơn nhiều. Không chỉ là sân nhà nơi giã gạo, núi Ka - lưi nơi tỉa bắp, mẹ bây giờ phải di chuyển qua rất nhiều không gian núi rừng rộng lớn, nguy hiểm hơn:
Mẹ đang chuyển lán, mẹ đi đạp rừng,
Thằng Mỹ đuổi ta phải rời con suối,
Anh trai cầm súng, chị gái cầm chông,
Mẹ địu em đi để giành trận cuối.
"Mẹ đang chuyển lán, mẹ đi đạp rừng" để giành trận chiến thắng cuối cùng trước quân giặc. Mẹ vất vả, gian lao và hoạt động trong không gian nguy hiểm là vậy, nhưng trên lưng mẹ vẫn là em cu Tai ngoan ngoãn, hiền lành trong giấc ngủ say để mẹ hoàn thành nhiệm vụ. Đọc những câu thơ ở khúc ba này, chúng ta ngỡ mình đang bước vào không gian huyền thoại, nơi đó có sự đối lập giữa thiên nhiên dữ dội, hùng vĩ và vẻ đẹp của tình yêu, khát vọng mà con người hướng đến thật tươi sáng, êm đềm. Mẹ vẫn hát ngân nga trong tim mình bằng niềm mơ ước, nhưng đến đây niềm mơ ước ấy không còn bình dị nữa mà mang tâm trạng và nỗi niềm của người mẹ yêu quý Bác Hồ, yêu thương đất nước thiêng liêng. Tất cả tình cảm ấy được mẹ gửi vào em cu Tai đang ngủ trên lưng: "Từ trên lưng mẹ em đến chiến trường/ Từ trong đói khổ em vào Trường Sơn"
Về nghệ thuật xây dựng hình tượng, nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm viết bài thơ Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ bằng sự thấu hiểu nhân dân miền núi tỉnh Thừa Thiên Huế thật sâu sắc. Phải nói rằng, trong những tháng ngày chiến đấu và chung sống cùng với bà con dân tộc Tà - ôi lam lũ, tháo vát và giàu tình yêu cách mạng, nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm mới có được những câu thơ viết ra từ gan ruột, từ tình thương yêu và cả sự khâm phục. Bà mẹ Tà - ôi nhỏ bé nhưng tấm lòng nhân hậu, tình thương con và nghĩa cử hi sinh lớn lao không gì có thể so sánh được. Có hiểu và thấu cảm sâu sắc tự đáy lòng mình tác giả mới thăng hoa và tạo nên bài thơ tuyệt tác này. Tâm hồn và trái tim nhà thơ như tan hoà trong lời ca say đắm qua những khúc dân ca dân gian của người Tà - ôi mới có thể chắp cánh viết những câu thơ vừa giàu giá trị hiện thực, song cũng rất bay bổng lãng mạn. Qua lao động và chiến đấu cùng với bà con nơi đây, Nguyễn Khoa Điềm đã thực sự khắc hoạ rất thành công hình tượng người mẹ đẹp như trong huyền thoại. Một người mẹ giỏi giang trong lao động, giàu tình thương con hết mực, yêu tha thiết buôn làng nghèo khổ của mình, nhất là thẳm sâu một tấm lòng yêu nước, khát khao thống nhất non sông giữa lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân ta đang diễn ra vô cùng ác liệt.
Sức khái quát qua hình tượng nhân vật trữ tình bà mẹ Tà - ôi của bài thơ cũng thật đặc sắc. Từ hình tượng người mẹ Tà - ôi cụ thể, Nguyễn Khoa Điềm đã giúp người đọc cảm nhận được vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ Việt Nam trong những năm đánh Mỹ. Đó là những người mẹ gian khổ trong lao động, nhưng tấm lòng thương con, ước mơ và khát vọng về một ngày mai tươi sáng vẫn không bao giờ tắt. Cao quý hơn, từ người mẹ nghèo nơi xứ sở miền Tây của một tỉnh miền Trung đất nước, nhà thơ đã thắp sáng lên trong trái tim mỗi người về những người mẹ ân tình, yêu lao động, lạc quan trong cuộc đời và sẵn sàng hiến dâng tất cả cho đất nước được hoà bình, thống nhất.
Bài thơ đẹp như một khúc dân ca sâu thẳm giữa lòng người, là điệu tâm tình của tác giả hoà trong tấm lòng người mẹ thương con thiết tha gắn với tình yêu đất nước vô hạn. Bà mẹ Tà - ôi trong bài thơ Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ ra đời đã năm mươi năm, song tượng đài bất tử ấy vẫn toả sáng lung linh như vì sao trên bầu trời mỗi khi ta mở trang thơ của Nguyễn Khoa Điềm ra đọc và bắt gặp một khúc hát ru chan chứa tình đời.

Thứ Bảy, 7 tháng 7, 2018

MỘT ĐỜI "LÀM NGỌN ĐÈN CHONG" - lời bình của   LÊ THÀNH VĂN

 - CHƯ YANG SIN SỐ 310 tháng 6 năm 2018

Sổ tay Thơ:


NHÀ BÁO

Chẳng phải vay ai mà cũng nợ
Số này số khác thúc chân nhau
Lo trang, lo chữ hơn lo vợ
Nhìn đó trông đây tự chuốc sầu

Nghề oách, nhiều khi nghe cũng oách
Tiếng tăm vang cả bốn phương trời
Xe kia, xe nọ thường đưa rước
Quan nhỏ, quan to ấy bạn chơi...

Xuống huyện xắn quần bàn cơ cấu
Lên rừng vung bút giữ môi sinh
Bán buôn quốc tế, trừ tham nhũng
Khoa học, văn chương tỏ điệu sành

Chơi quan những tưởng mình quan trọng
Bàn nghề, ngộ nhận đã lên chuyên
Xót nỗi muộn mằn nay mới tỉnh
Quan chẳng quan mà chuyên chẳng chuyên

Ngày xưa cây súng, lòng thanh thản
Cây bút bây giờ mới nặng thay!
Tài mọn thôi đành viên đá lát
Làm ngọn đèn chong khát ánh ngày.
                                                             NGUYỄN SĨ ĐẠI

LỜI BÌNH:


Nguyễn Sĩ Đại là một nhà thơ khá quen thuộc với bạn đọc, đồng thời cũng là một nhà báo tên tuổi. Có lẽ sự am tường và thấu hiểu nghề nghiệp báo chí mà mình đang công tác nên bài thơ Nhà báo ra đời đã được nhiều đồng nghiệp và độc giả thích thú. Không chỉ mang tính thời sự nóng bỏng mà còn lắng sâu nỗi niềm tâm sự của một người từng "xuống huyện, lên rừng" để góp tiếng nói cho cuộc đời thêm tươi đẹp, "làm ngọn đèn chong khát ánh ngày" trên mỗi trang báo hôm nay.
Trước hết, sự thành công của thi phẩm nằm ở chính cái giọng điệu tưng tửng, nhưng chân thành và tha thiết. Thể thơ bảy chữ kết hợp với nghệ thuật sử dụng phép đối khá đậm đặc đã thể hiện được nỗi lòng đầy trăn trở, day dứt khi tác giả cảm nhận cuộc sống hiện tại, đồng thời biết thấu cảm quá khứ để nâng mình lên, sống thật đúng nghĩa một nhà báo biết yêu nghề, yêu đời và đặc biệt là thấy được trách nhiệm quan trọng mà xã hội đã giao cho mỗi nhà báo trên hành trình góp một tiếng nói trước đời sống con người, nhất là giữa thời buổi kinh tế thị trường đầy trắc ẩn.
Bài thơ Nhà báo mở đầu khá thú vị nhờ cái tự nhiên của một người biết trần tình nghề nghiệp pha chút hóm hỉnh rất có duyên:
Chẳng phải vay ai mà cũng nợ
Số này số khác thúc chân nhau
Lo trang, lo chữ hơn lo vợ
Nhìn đó trông đây tự chuốc sầu
Đọc bốn câu thơ trên, chúng ta dễ dàng nhận ra đây là lời của một nhà báo thuộc phái mày râu. Phái mày râu làm báo dù sao cũng ít vất vả hơn nữ giới, nhưng ở đây sự lo toan tất bật đến cuống cuồng khiến cho anh ta như mắc phải nợ nần, vì "số này số khác thúc chân nhau". Bao nhiêu lo toan cứ đuổi theo ngày tháng đã buộc người làm báo "lo chữ hơn lo vợ". Việc nhà, việc vợ con mà trách nhiệm người đàn ông phải biết quan tâm, chăm sóc bây giờ trở thành thứ yếu để dồn hết cho công việc làm báo mỗi ngày.
Lo toan, vất vả là vậy, nhưng nghề báo cũng có cái "oách" của nó. Tiếng tăm vang dội khiến thiên hạ phải trầm trồ thán phục, ngưỡng mộ về chữ nghĩa, tài năng. Nhà báo trong quá trình tác nghiệp cũng được đưa rước bằng xe kia, xe nọ, hơn nữa lại được quen biết với quan nhỏ, quan to trên khắp mọi miền đất nước. Vẫn cái giọng tưng tửng từ đầu, Nguyễn Sĩ Đại đưa nghề nghiệp nhà báo lên tận mây xanh để rồi thấm thía trong sự vất vả, lo toan, ngược xuôi khắp chốn, bởi phải góp một tiếng nói chính thống điều chỉnh hành vi xã hội, làm cho đời sống ngày một tốt đẹp hơn:
Xuống huyện xắn quần bàn cơ cấu
Lên rừng vung bút giữ môi sinh
Bán buôn quốc tế, trừ tham nhũng
Khoa học, văn chương tỏ điệu sành
Phải là người trong nghề, thấu cảm được biết bao nỗi vất vả khó nhọc của người làm báo, nhà thơ Nguyễn Sĩ Đại mới có được những câu thơ đầy xúc động đến thế. Phép đối khá chỉnh chu nhằm diễn tả các hành động thực tế của nhà báo khi "xuống huyện", "lên rừng" nghe thật cảm động. Có "xắn quần" bước xuống ruộng mới có được cái nhìn thiết thực về đời sống nông nghiệp, về tình cảnh người nông dân. Có "lên rừng" mới hiểu thấu vai trò và ý nghĩa của rừng để "vung bút" giữ môi sinh". Có thể nói, đây là khổ thơ giàu chất hiện thực nhưng cũng biểu cảm nhất, giọng thơ hóm hỉnh mà tâm tình lại thẳm sâu, cao đẹp. Nhà báo có trách nhiệm phải là người đi sát thực tiễn, biết đau lòng trước bất công, tham nhũng, cất tiếng nói chính nghĩa từ cây bút của mình nhằm đem lại hoa thơm và trái ngọt cho đời.
Khép lại bài thơ Nhà báo, Nguyễn Sĩ Đại có cái giật mình muộn mằn đầy tỉnh ngộ, nhưng đó là sự ngộ của một con người đầy trăn trở qua cái tôi nhân vật trữ tình tác giả: "Quan chẳng quan mà chuyên chẳng chuyên". Cuối bài thơ, tác giả mở lòng ra bát ngát, nguyện làm một "viên đá lát", "làm ngọn đèn chong khát ánh ngày", khai mở niềm tin và hi vọng cho một tương lai tốt đẹp, một khát vọng đầy tính nhân:
Ngày xưa cây súng, lòng thanh thản
Cây bút bây giờ mới nặng thay!
Tài mọn thôi đành viên đá lát
Làm ngọn đen chong khát ánh ngày.
Hóm hỉnh mà lắng sâu, tưng tửng mà đầy thấm thía, Nhà báo cất lên tiếng nói của một tâm hồn giàu lòng yêu thương và khao khát để vun đắp cho cuộc đời này mỗi ngày thêm tươi đẹp. Nỗi lòng của nhà thơ Nguyễn Sĩ Đại âu đó cũng là tấc lòng của hết thảy những nhà báo chân chính, giàu tài năng và lòng hướng thiện, luôn khát khao chân lý ở đời.
                                                                                     

Thứ Năm, 5 tháng 7, 2018

CHỈ SỢ KHÔNG CÓ GÌ ĐỂ TIẾC NHỚ - Truyện ngắn của NGUYÊN HƯƠNG - CHƯ YANG SIN SỐ 310 tháng 6 năm 2018




Chỗ ở mới, người đầu tiên tôi chú ý là bà Hằng bán cà phê ngay cổng chung cư. Quán của bà, nói đúng hơn là cái xe hàng của bà nép sát trụ cổng, cố sao chiếm ít diện tích nhất để không phiền người và xe cộ ra vô.
Cái xe hàng nhỏ, vừa đủ chỗ cho phần khung kính chưng bày hũ đựng cà phê và chồng ly nhựa, còn phần nhôm bao quanh bên dưới là chỗ để cái bếp và ấm nước cùng với đủ thứ lỉnh kỉnh để pha chế ra một ly cà phê. Cái xe này là chứng minh hùng hồn cho câu “khéo co thì ấm” bởi vì ngoài cái bếp và ấm nước lúc nào cũng bốc khói thì còn có thùng đá và cái xô đựng nước. Khó mà hình dung hai thứ nóng thật nóng và lạnh thật lạnh này lại cùng chung chỗ.
Cà phê bà Hằng không có khách ngồi vì không có chỗ để bàn ghế. Khách chạy xe máy trờ tới thắng kít lại “Cho một ly đi” có người nói thêm “Có đá”. Bà Hằng nhấc phin cà phê giơ lên cho khách thấy là vừa mới pha xong, và bà múc muỗng đường khuấy khuấy, rồi đổ vô cái ly nhựa, xúc thêm đá, rồi cho cái ly vô túi nilon xách ra xe cho khách đem đi.
Ông bảo vệ nói khách nghiện cà phê là nghiện tay người pha. Mấy lần bà Hằng về quê, tưởng mất khách luôn, vậy mà vài bữa rồi cũng thấy họ cũng quay trở lại. Ông bảo vệ vừa kể vừa cười tủm tỉm, “Mà bà Hằng già khú rồi chớ có phải...”
Sau này, nhiều lần trò chuyện với ông bảo vệ, tôi mới biết câu tủm tỉm trên đây còn có thêm khúc đuôi “... như hồi đó đâu.”
Hồi đó bà Hằng là cô thu ngân xinh đẹp của quán cà phê nổi tiếng thành phố. Ngoài cà phê, buổi sáng quán còn bán thêm xôi. Xế trưa, khách tới quán chỉ định uống ly cà phê đá, em Hằng thỏ thẻ mời ăn xôi. Trời đất, xế trưa thì đích thị là xôi ế (khô khốc) nhưng khách làm sao mà từ chối được miệng cười mời chào như đoá hoa.
“Rồi làm sao mà...” Tôi bỏ lửng câu hỏi và chỉ tay vào cái xe hàng cũ kỹ. Ông bảo vệ tắc lưỡi, “Nhiều người tử tế ngỏ lời mà không chịu, lại đi thương cái thằng ma cà bông chỉ được cái dẻo mỏ. Cũng may là có được đứa con trai đàng hoàng dễ thương như mẹ chứ không như thằng cha nó”.
*
Một người nữa, cũng tình cờ mà nằm trong sự chú ý của tôi là vì tối hôm đó tôi đi công tác về khuya. Quy định chung cư đóng cổng lúc hai mươi ba giờ mà máy bay hạ cánh cũng giờ đó, mất mười phút đợi lấy hành lý và hai mươi phút tắc xi, khi tôi về tới nơi thì tất cả đã im ắng.
Chung cư cũ có tám tầng, thang máy bị hư từ lâu, ông bảo vệ kể là đã có nhiều cuộc họp bàn tính góp tiền sửa chữa thang máy nhưng các hộ ở tầng một hai ba không chịu, còn nếu chỉ có các hộ từ tầng bốn đến tầng tám thì không đủ sức, vậy nên cái sự không có thang máy riết thành quen. Những người ở tầng cao còn nói đùa là nhờ leo cầu thang hàng ngày mà họ khỏi tốn thời gian ra công viên tập thể dục.
Sợ cái valy trong tay mình va đụng gây tiếng động làm mất giấc ngủ của ai đó nên tôi cầm chặt tay và bước thật nhẹ. Căn hộ tôi thuê ở tầng sáu. Thường ngày lên xuống đã quen chân nhưng hôm đó có thêm cái valy khá nặng nên tôi phải ngừng lại mấy lần. Và tôi giật mình vì sau khi cúi người để nhấc valy lên khỏi bậc tam cấp, vừa ngẩng lên, tôi đụng một khuôn mặt bà già.
Bà ngồi ở chiếu nghỉ. Ngước nhìn tôi qua cặp kính vừa sụp xuống sống mũi, bà kéo cái ghế nép sát vô tường tỏ vẻ tự biết mình làm choán đường đi, rồi bà đưa ngón trỏ đẩy cặp kính về chỗ cũ và cúi xuống, tiếp tục đâm kim.
Tôi nín thở đi lên một mạch, rồi tôi quay lại nhìn để... tin chắc đúng là có một bà già ngồi thêu giữa khuya! Hôm sau, vì tò mò, nửa đêm, tôi đi xuống với lý do có chuyện cần gặp ông bảo vệ. Và tôi cũng gặp bà một mình ngồi thêu giữa vắng lặng.
Ông bảo vệ hào hứng, “Hồi đó là tay thợ số 1 của công ty thêu lừng danh chuyên thêu chân dung người nổi tiếng. Đoạt giải Bàn Tay Vàng. Tin nổi không?”.
Tôi không muốn tin chút nào. Tôi nhớ ra mình đã được ngắm những bức tranh thêu tinh xảo tuyệt vời đó trên báo và trên ti vi... Thật khó hình dung cô thợ thêu tài năng duyên dáng trả lời phỏng vấn ngày nào với bà già đeo cặp kính xập xệ trên sống mũi giữa khuya ngồi thêu tranh chữ thập, loại tranh mà người không biết nghề cũng đương nhiên xỏ chỉ màu theo bảng hướng dẫn rồi đâm kim qua lại lúc rảnh rỗi cho đỡ buồn tay.
Mà sao bà lại ra hành lang vào giờ đó? Tôi thắc mắc, chắc là nhớ nghề mà bật đèn sáng thì sợ phiền con cháu?
Ông bảo vệ lẩm bẩm: “Già rồi sinh lẩn thẩn vậy mà”.
*
Không có thang máy lại là hay, hàng ngày đi lên đi xuống hàng trăm bậc tam cấp tôi gặp nhiều người mà qua lời kể của ông bảo vệ, tôi thấy một thế giới khác mở ra cùng với phần đời đã qua của họ. Bà Nga hay nấu cháo đem tới Nhà Tình Thương từng là giọng ca mùi nhất của gánh cải lương. Bà My đi từng bước nhúc nhắc từng là thành viên tích cực của những hội thi thể dục thể thao...
Còn bác thì sao? Tôi bật hỏi
Ông bảo vệ bặm miệng một hồi rồi bật cười kha kha, ờ, hồi đó bác cũng mộng lắm nghen, thi vô đại học công an bị rớt, học cái trung cấp cơ khí xong đi làm xí nghiệp ban ngày còn ban đêm thì rủ rê bạn bè lập nhóm săn bắt cướp. Cứ chiều chiều đi làm về, tắm rửa ăn uống xong là tụ họp anh em lại đi rong trên đường từ tối tới sớm mai. Khơi khơi vậy thôi mà tụi bác cũng có được mấy tấm giấy khen công an phường tặng, ông kéo ống tay áo lên cho tôi nhìn thấy vết sẹo trên bắp tay và kéo cổ áo cho tôi nhìn thấy vết khác sau gáy rồi cười khúc khích, ngày đám cưới bác, trưởng công an phường tới dự đọc diễn văn sang sảng giải thích lý do mấy cái sẹo này là vì làm việc nghĩa, cũng tại ông bà già vợ của bác nửa tin nửa ngờ, sợ là bác tụ bạ chơi bời sinh chuyện đánh nhau.
Vì bác như vậy nên bây giờ bảo vệ chung cư này mới được yên ổn, tôi nói.
Ông lắc đầu, không, không phải bác, chung cư này nề nếp là nhờ bà Thanh, ờ, bà già khòm lưng sống một mình trên tầng bảy đó. Hồi đó, mấy đời ban quản trị nhập nhèm nên chẳng ai nể ai, quy định soạn ra để ngó chơi thôi. Tới thời bà Thanh xung phong vô ban quản trị thì ôi thôi thôi, mọi thứ bới ra tung toé. Họp hành căng thẳng ghê gớm, tưởng không nhìn mặt nhau được nữa. Vậy mà hoá ra hay, như là cái mụt nhọt bị nặn mủ, hôi hám nhức nhối phải bung ra được thì mới lành lặn.
“Người tốt như bà Thanh mà sao phải sống một mình?”, tôi định nói vậy nhưng may mà kịp nín miệng lại. Một mình hay nhiều hơn một mình là chuyện khác. Bà đã sống cuộc đời không uổng phí. Tôi nhìn theo bà chậm chạp vịn từng bước lên cầu thang và hình dung bà già khòm lưng nhỏ bé này mạnh mẽ vững vàng giữa cuộc họp đầy sóng gió như thế nào.
Ờ, nghe khó tin là bà già khọm đó mà làm nên chuyện hả? Khi nào rảnh cứ xuống đây chơi bác kể chuyện mấy người khác cho mà nghe, ông bào vệ cười tủm tỉm, ai cũng có một thời hoa lửa.
Bác có tiếc một thời của mình không? Tôi buột miệng.
Ông bảo vệ mỉm cười hoài niệm, già rồi ngồi nhớ lại một thời của mình mà tiếc nuối là hạnh phúc lắm đó. Đời người, chỉ sợ không có gì để mà tiếc nhớ.
Tôi nghe mà thốt giật mình. Ừ, chỉ sợ không có gì để mà tiếc nhớ.


Thứ Ba, 3 tháng 7, 2018

MÙA BƯỚM SÂU MUỒNG - Tản văn của LÊ XUYÊN - CHƯ YANG SIN SỐ 310 tháng 6 năm 2018




Tháng tư Tây Nguyên, khi đất trời thắp lên cái nắng gắt gỏng trên từng cành cây kẽ lá, khi cái gió và cơn mưa đầu mùa bất chợt gọi về cũng là lúc mùa bướm sâu muồng xuất hiện.
Đi giữa Tây Nguyên mùa nắng, vậy mà không mấy ai quan tâm đến nắng. Người ta say đắm chiêm ngưỡng vẻ đẹp đến nao lòng của một loài côn trùng mang tên bướm sâu muồng. Đâu phải chỉ Tây Nguyên mới có bướm vàng, thế nhưng cánh bướm được giao hoà, đẫm mình trong nắng, trong gió thì dường như chỉ vùng đất đỏ bazan mới có. Chính bởi thế lòng người xa gần mới say, mới dặt dìu tìm về nơi đây.
Lòng tôi chộn rộn, nao nao khi thấy từng đàn bướm bay rồi đậu vàng cả một góc sân nhà, vàng trên những vũng nước nhỏ, vàng ở nơi đất ẩm ướt, ở hai bên bờ hồ… Dọc những cung đường xanh ngát vào buôn, dọc những con đường nối huyện, nối tỉnh… bướm vàng dập dờn bay đậu khiến bước chân du khách ngược xuôi đều phải nán lại, trầm trồ, thưởng ngoạn. Khi ấy, đất trời Tây Nguyên cơ hồ như một tấm thảm vàng diệu vợi.
Người dân phố Núi vẫn thường gọi loài bướm ấy với cái tên sâu muồng, một loài bướm rất nhỏ có màu vàng nhạt. Chúng thường đẻ trứng, làm sâu, tạo kén trên những cây muồng vốn được trồng rất nhiều ở nơi đây. Những ngày nắng hạn, sâu muồng lặng lẽ ẩn mình dưới những tán lá xanh, đợi đến thời khắc phù hợp, kén sâu sẽ cựa mình. Để rồi giữa bầu trời cao nguyên lộng gió, sắc vàng rợp trời của hàng triệu cánh bướm tung bay làm ai nấy cũng phải vỡ oà ngạc nhiên.
Bướm sâu muồng là hiện tượng chỉ có ở Tây Nguyên. Loài bướm ấy không hề gây nguy hại cho con người cũng như các loài thực vật khác. Mỗi năm một lần, mùa bướm sâu muồng xuất hiện khiến cho tất cả mọi người đều phải hồi hộp chờ đợi, phải ngỡ ngàng ngạc nhiên vì vẻ đẹp của chúng.
Năm nào tôi cũng trở về thăm quê đúng vào dịp mùa bướm sâu muồng nở, vậy mà cảm giác tò mò và háo hức vẫn cứ như lần đầu biết đến mùa bướm sâu muồng vậy. Tôi chọn khoảng thời gian thích hợp vào giữa trưa để ngắm chúng. Nếu nhìn vào một cánh bướm sâu muồng đi lạc, hẳn sẽ không đọng lại trong ta cảm xúc gì, thế nhưng nếu tập trung vào cả một đàn bướm với triệu con cùng hoà nhịp, ta sẽ thấy sức hút đặc biệt của loài côn trùng mảnh mai, nhỏ bé mà vô cùng đáng yêu ấy. 
Mùa bướm sâu muồng về đẹp lắm. Bướm vàng đậu kín trên bông dã quỳ hiếm hoi còn sót lại. Bướm dập dìu trên triền hoa dại bên đường, và đặc kín trên những vũng nước nhỏ đọng trên nền đất đỏ. Dọc đường đi, những cánh bướm lao mình trong không trung, rủ nhau sà xuống rồi lại bay lên như như một triền vải lụa mỏng mềm, thanh thoát, êm dịu, phấp phới. Chúng va mình vào xe, vào cả người đi đường làm biết bao tâm hồn trở nên thảng thốt. Chúng khiến những bước chân đang lên nương, lên rẫy bớt nhọc nhằn, vội vã. Chúng dệt nên khung trời kỉ niệm cho biết bao tâm hồn trẻ thơ...
Người ta ví tháng tư ở Tây Nguyên là tháng của con ong đi lấy mật chẳng khác nào người con gái chịu khó của núi rừng cao nguyên dẻo dai, khoẻ khoắn. Đất trời có thứ ngôn ngữ của nắng mưa; cỏ cây, vạn vật có thứ ngôn ngữ âm thanh, sắc màu. Chính cái nắng cái mưa đã làm nên một phần cuộc đời của con người nơi xứ sở đại ngàn và mùa bướm sâu muồng đã làm nên vẻ riêng cho con người và vùng đất phố núi nơi đây.
Tần ngần đứng giữa sắc trời vàng óng của mùa bướm sâu muồng tháng tư, bỗng thấy lòng chùng chình chẳng muốn bước. Đơn giản chỉ vì muốn thu vào mình cảnh tượng đẹp mê hồn của một miền đất hội tụ rất nhiều những ưu ái của đất trời ban tặng. Đơn giản vì thấy thế giới bỗng nhiên thu nhỏ ở cái dịu dàng, nhẹ nhàng, êm ả đến không ngờ qua những cánh bướm nhỏ xinh tựa những vạt hoa bên đường rung rinh trong gió. Và đơn giản chỉ vì thấy cuộc đời  thật đẹp bởi những điều dung dị, nhỏ bé như thế.
Bất kì ai sinh ra và lớn lên ở Tây Nguyên đều quá đỗi quen thuộc với mùa bướm sâu muồng. Vậy mà đi giữa bầu trời xanh vợi, bềnh bồng mây trắng, bềnh bồng những cánh bướm mỏng tang, lòng người vẫn không khỏi rung động,  xuyến xao. Lòng nhủ lòng thật nhẹ nhàng trong từng bước chân, hơi thở để có thể níu giữ, tận hưởng trọn vẹn khoảnh khắc diệu kì này.