Thứ Ba, 16 tháng 10, 2018

BUÔN LÀNG THÂN THIẾT RỪNG CÂY tản văn của NGUYỄN HOÀNG THU - CHƯYANGSIN SỐ: 313 - THÁNG 9 NĂM 2018




Không gian sinh tồn đầy rừng cây sắc lá xanh tươi bên mặt nước hồ đầy lồng lộng của cộng đồng làng dân tộc M'Nông đã biến dạng thay màu. Những căn nhà sàn gỗ mái tranh vách nứa đơn sơ mà trang nhã êm đềm bên bến nước nên thơ, nay đã thay bằng mái tôn tường gạch xi-măng, thiếu vắng cành cây pơ lang đầu làng nở rộ màu hoa đỏ mùa xuân. Bến nước ven bờ hồ rộng tỏa bóng cây kơ nia bên những chiếc thuyền độc mộc thanh mảnh bềnh bồng trong gió, tháng ngày qua rừng bên hồ tàn lụi, những chiếc thuyền  ngày ngày đưa người đi giăng lưới thả câu trở về làng không còn thấy màu cây xanh tươi tắn ven bờ... Đó đây ven bờ hồ vơi cạn nước, thương sao những chiếc thuyền độc mộc nứt nẻ thủng đáy nằm ngả nghiêng từ năm nào... Không gian sinh tồn của người M'Nông sống ven hồ kề cạnh cây ngàn bóng cả, mấy mươi năm qua rừng bị tàn phá nhanh chóng từng tháng ngày, đến nay người dân tộc bản địa M'Nông ở buôn Jun, buôn Lê và buôn M'Liêng sống ven hồ Lắk không tìm thấy được cây sao có thân gỗ quí, chắc mà nhẹ, để làm thuyền độc mộc mới, thay thế cho những chiếc thuyền cũ đã hư hỏng từ lâu.
Buổi chiều, Hải và Nguyên đi thăm vùng rừng rộng bên chân núi lớn Vườn quốc gia Chư Yang Sin và rừng thuần chủng tre nứa của Khu bảo tồn thiên nhiên Nam Kar gần chân đèo Đăk Nuê; đó đây màu sắc rừng tàn rừng cạn kiệt phơi bày ngổn ngang cành lá ngả đổ bởi bàn tay tàn phá của những kẻ tham lam. Những kẻ ấy đâu biết người dân bản địa sống gần gũi thiết thân, quí trọng không gian sinh tồn với rừng cây chim thú; cả đời sống văn hóa tinh thần cũng nương tựa vào thiên nhiên xanh hữu tâm hữu tình bên bến nước buôn làng. Trước mắt Hải và Nguyên, trong buổi chiều vàng nắng, lòng buồn lại buồn thêm khi dừng chân trước một vạt rừng tre nứa bên sông Krông Ana cháy đen trần trụi sau mùa mưa...
Trở về khu du lịch văn hoa sinh thái gần buôn làng người M'Nông bên bờ hồ Lắk, trong đêm xuân sáng bừng ngọn lửa củi với âm nhạc cồng chiêng ngân vang giữa không gian thông thoáng đất trời cao nguyên, Hải và Nguyên cùng vây quanh chung vui với khách du lịch từ các nơi đến. Những nghệ nhân cồng chiêng gõ nhịp hòa cùng giai điệu bài "mừng khách đến" với niềm vui hân hoan đón chào; tiếp theo là bài "mừng lúa mới" tỏ lộ niềm vui mùa màng thu hái được với tình cảm biết ơn đất trời. Bản nhạc nào cũng nói lên tình ý chân thật của người với người và người với thiên nhiên... Người thưởng thức có thể cảm nhận được ít nhiều tình ý khi hòa lòng mình vào tiếng cồng chiêng với tình cảm yêu người yêu thiên nhiên, nhưng đâu thể bù đắp tâm tư tình cảm của những nghệ nhân già người M'Nông đã thiếu mất niềm rung cảm của một thời đã qua, trong thanh âm lảnh lót ngân vang không còn sự cộng hưởng từ rừng cây bến nước có tiếng gió trên ngọn cây bóng núi, không có suối thác reo và người người trong cộng đồng không còn mang hơi thở của cảnh quan xanh gần gũi thiết thân, thiên nhiên với con người không còn chung nhịp điệu tâm hồn khi tiếng cồng chiêng ngân vang... Âm nhạc cồng chiêng của người M'Nông, Êđê, Ja Rai,  Barnar, Xê Đăng..., dù là dân tộc nào ở miền núi vùng cao Tây Nguyên khi cất tiếng hòa nhịp điệu ngân nga, chỉ thực sự mang hồn cồng chiêng khi được vang lên giữa cảnh quan làng -rừng, làng một bên rừng một bên, tâm tình người nghệ nhân hòa chung nhịp hồn thiêng bóng cả cây ngàn, âm vang da thiết gợi mở đến vô cùng. Tiếng cồng chiêng sẽ lạc hồn lạc điệu chơi vơi khi vang lên gắng gượng trên sân khấu chói lóa ánh đèn hoặc biểu diễn phơi bày gắng gượng trên đường phố rộn ràng xe và người, chẳng khác nào như mua như bán khi diễn ra cho khách du lịch tìm đến cuộc vui thoáng qua thôi. Dưới màn đêm giữa ánh ngày, tiếng cồng chiêng thanh thoát lồng lộng chín núi mười sông còn ngân động êm đềm trong lòng người khi bàn tay tâm hồn nghệ nhân hòa quyện vào không gian văn hóa sinh động sắc màu của buôn làng. Tiếng cồng chiêng thiêng liêng thống thiết thắm đậm tình núi sông đi theo suốt đời người, từ thuở ấu thơ chào đời trên bàn tay mẹ ấm áp dịu dàng cho đến ngày nhắm mắt xuôi tay thanh thản trong mộ tối vẫn nghe nhịp điệu buồn tiếc thương da diết từ tiếng cồng chiêng cộng hưởng tình núi sông qua từng tháng năm mưa nắng ơn sâu nghĩa nặng với đất trời bến nước rừng cây buôn làng...
***
Hơn hai mươi năm qua, tiếng cồng chiêng ngày nào trong đêm xuân trăng sáng hòa cùng ánh lửa hồng trước căn nhà rông làng dân tộc Xê Đăng bên dòng sông Sê San kề cạnh rừng biên giới Vườn quốc gia Chư Mom Ray huyện Sa Thầy tỉnh Kon Tum vẫn còn vang vọng trong lòng Hải... Một lần đến với làng rừng bên sông để bao lần Hải nhớ đến bây giờ... Từ ánh mắt trẻ thơ đến đôi mắt người già trong trẻo như nhau. Trên khuôn mặt đen đúa nhăn nheo, đôi mắt già làng vẫn sáng trong lành lặn trước rừng cây bến nước buôn làng, không vướng mang ân hận điều gì. Một cộng đồng làng cùng yêu thương nương tựa, nhường bước cho nhau, lòng vui san sẻ cho nhau từ bầu nước suối trong và miếng ngon của rừng. Những khuôn mặt người làng Xê Đăng ấy hồn hậu dịu dàng, thanh thản cười cùng đưa mắt nhìn cởi mở và bước chân vui khi chào đón khách vào nhà. Hơn hai mươi năm qua, Hải còn nhớ bàn tay già làng gầy guộc mà mắt nhìn thấm đậm tình người khi trao tay anh cần rượu bên bếp lửa đêm rừng. Ghè rượu tỏa hương lúa mới vùng cao và thơm men lá cây rừng trên căn nhà rông truyền thống mái tranh vách nứa tọa lạc khang trang bề thế giữa cộng đồng làng bên dòng sông Sê San. Rượu không cạn tình không vơi, anh và già làng vui mắt nhìn nhau, chuyền tay cần rượu thơm thảo đến lúc trăng tàn sau dãy núi phía tây. Buổi sáng, mặt trời phía đông vừa lên cao tỏa nước lấp lánh trên mặt nước sông ngược dòng qua biên giới, là lúc Hải rời làng người Xê Đăng, xa dần từng cánh rừng nguyên sinh xanh màu bên dãy núi lớn Chư Môm Ray cao sừng sững giữa lưng trời giáp ranh với hai nước Lào và Cămpuchia...
Đã quá nửa đêm, trong phòng nghỉ của khu du lịch hồ Lắk, Hải vẫn còn nằm thao thức. Nguyên đã ngủ ngon giấc từ lúc nào trên chiếc giường bên cạnh. Hải nghĩ về rừng cây bến nước đó đây với những buôn làng người dân tộc thiểu số... anh đã đến qua từng tháng năm sống vui buồn ở các tỉnh Tây Nguyên. Một thời rừng bạt ngàn, rừng tầng thấp rừng tầng cao với sông sâu suối đầy chảy qua đôi bờ cây xanh... có những buôn làng người bản địa sống thanh thản giữa thiên nhiên hào phóng, không tính toán lo toan, luôn có món ăn đủ đầy từ rừng cây sông nước ban cho. Ở đó, làng với rừng là một; người sống vui với người với rừng, hồn người hồn rừng là một, thành cung bậc tình nghĩa không thể chia lìa. Rừng cây sông nước là cái kho chung của cộng đồng làng, dù là người Xê Đăng, Ja Rai, Bahnar, Êđê, M'Nông... đều chung lòng gìn giữ kho báu trời cho, từ dòng nước đầu nguồn cho đến cành cây bìa rừng; tất cả đâu chỉ là giá trị đời sống vật chất mà chất chứa cả sắc màu hơi thở văn hóa tâm linh. Con người sống hạnh phúc biết ơn nắng, biết ơn mưa, biết ơn bến nước, biết ơn rừng và tạ lỗi với rừng khi chặt ngã cây già bóng cả để lấy gỗ làm nhà ở, nhà mồ... Con người sống hạnh phúc biết ơn rừng cho thịt con thú, dù ai săn bắt được cũng chia đều cho cả làng, không quên phần dành cho người già ốm đau và đứa bé còn nằm trong bụng mẹ... Con người sống hạnh phúc vì nhau, cùng biết ơn làng, tự hào về làng, không di dời  làng trừ khi có dịch bệnh lan rộng hoặc bến nước đổi dòng từ thượng nguồn... Buôn làng người Tây Nguyên định canh định cư từ bao đời bên bến nước rừng cây giữa không gian sinh tồn, có nương rẫy luân canh luân khoảnh quanh năm một vụ lúa ăn nước mưa trời. Lễ cúng lúa mới với tiếng cồng chiêng ngân vang luôn là nghi thức thiêng liêng với tình cảm biết ơn trời mưa trời nắng, biết ơn rừng đã nhường phần cho người mở đất gieo trồng quả ngọt lúa thơm. Con người sống hạnh phúc biết ơn nương rẫy, mỗi nhà chỉ dừng lại năm ba khoảnh đất luân canh đủ sống; qua nhiều vụ thu hái, đất bạc màu, chuyển sang khoảnh khác dọn dẹp cây bụi để gieo trồng vụ mới, rồi trở lại khoảnh đất ban đầu đã hồi phục chất màu; trước sau không phá thêm rừng, chỉ dọn sạch bụi cây cỏ dại, chọc lỗ thả hạt lúa nương chờ đợi nước mưa trời cho mùa thu hoạch mới...



Thứ Ba, 9 tháng 10, 2018

LỄ CÚNG NHẮC VÒNG ĐỒNG CỦA NGƯỜI ÊĐÊ bài viết của H’XÍU HMOK - CHƯYANGSIN SỐ: 313 - THÁNG 9 NĂM 2018








Người Êđê rất coi trọng chữ tín và lời hứa, đặc biệt là lời hứa với các thần và tổ tiên. Do vậy, một khi đã hứa nhưng chưa thể thực hiện, người Êđê sẽ làm lễ cúng để nhắc nhớ lời đã hứa và hẹn lại vào một ngày tháng cụ thể khác. Nghi lễ này được gọi là lễ cúng nhắc vòng đồng hay lễ dời hẹn. Hôm nay, gia đình ông Y Thim Byă ở thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk đã mời anh em họ hàng ở các buôn về tụ họp để làm lễ cúng nhắc vòng đồng, dời hẹn làm lễ cúng sức khỏe vào tháng ba năm tới…
Khi tiếng chiêng tiếng trống vang lên rộn rã, ấy là khi con heo cúng đã được làm thịt, các ché rượu cần đã được nén lá và đổ đầy nước, mọi thứ đã sẵn sàng cho lễ cúng. Tiếng chiêng là lời mời gọi, thôi thúc khách quý ở các buôn gần buôn xa cùng tập trung tại ngôi nhà dài của ông Y Thim Byă, ở buôn Ea Bông, xã Cư Êbur, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk để chung vui với gia chủ trong lễ cúng nhắc vòng đồng. Ông Y Thim Byă cho biết, năm nay được ông bà tổ tiên và các thần phù hộ nên gia đình ông có nhiều sức khỏe và may mắn. Trong năm, ông đã sắm thêm được chiếc ghế kpan, bộ chiêng cổ, ché tuk, ché tang. Theo như lời hứa thì gia đình sẽ làm lễ cúng tạ ơn với một con trâu đực và bảy ché rượu cần (trước đó, gia đình ông đã làm lễ cúng với một con bò đực và 5 ché rượu cần). Nhưng do chưa lựa chọn được thời điểm thích hợp nên gia đình làm lễ cúng nhắc, dời hẹn đến tháng 3 năm sau. Lễ vật dâng hôm nay là một con heo đực và ba ché rượu cần.
Trong vòng đời của người Êđê có nhiều lễ cúng, những lễ cúng này liên quan mật thiết đến chiếc vòng đồng. Sau mỗi lễ cúng, chiếc vòng đồng làm linh vật để cũng sẽ được đánh dấu bằng những vết khắc trên thân vòng (tùy theo mỗi lễ mà có số khắc trên vòng khác nhau). Đối với lễ cúng nhắc vòng đồng thì không thực hiện khắc vòng khi làm lễ, thầy cúng chỉ khấn nhắc hẹn và xin dời hẹn cho gia chủ vào một thời điểm khác thích hợp để tổ chức theo lời hứa trước đó.
Lễ vật cúng được bày ra với đầy đủ các bộ phận của con heo gồm: đầu, đuôi, bong bóng, huyết, nội tạng heo. Nghi lễ hôm nay do aê Lê – thầy cúng ở buôn Ea Bông thực hiện. Ông cầm chiếc vòng đồng đeo lên cổ tay của gia chủ và đọc lời khấn. Nội dung lời khấn là lời mời tổ tiên, ông bà về chứng kiến lễ, nhắc lại lời đã hẹn và dời hẹn. Bày tỏ lòng biết ơn của gia chủ đối với tổ tiên và các thần, mong tổ tiên và các thần tiếp tục phù hộ cho gia chủ được khỏe mạnh, gặp nhiều may mắn. Lời khấn có đoạn: “Bây giờ tôi kêu gọi tất cả mọi người mời các thần linh tổ tiên về chứng giám. Đây là cần rượu đặt nằm trên, chiếc vòng đồng đặt nằm dưới, là chiếc vòng đồng được đúc mà ra, được làm nên mà có, không phải chiếc vòng lạc vòng nhơ. Mong các thần chứng giám, bảo vệ cho gia chủ được bình an, như chiếc vòng đồng cứng không bao giờ bị méo mó. Đây tay gia chủ đã đeo vòng và vít cần rượu, thành kính dâng lên”.
Kết thúc lời khấn, vợ chồng gia chủ cùng với thầy cúng nếm thử các lễ vật để cầu mong mọi điều may mắn. Các thành viên tham dự lần lượt nâng cần rượu, phụ nữ trước, nam giới sau, người già trước, người trẻ sau. Trong không khí rộn ràng lời chúc tụng, chia vui của cả chủ và khách, tiếng chiêng tiếng trống vang liên tục tạo nên không khí tưng bừng náo nhiệt. Ấy là khi phần hội chính thức bắt đầu.
Dự lễ cúng tại nhà ông Y Thim hôm nay, ngoài họ hàng hai bên gia đình và bà con trong buôn còn có khách mời từ các buôn khác, huyện khác đến. Ông Y Hơ Êban, nghệ nhân buôn Knia 4, xã Ea Bar, huyện Buôn Đôn vinh dự được mời cùng với đội nghệ nhân của buôn Knia đánh chiêng trong lễ cúng. Ông Y Hơ chia sẻ, đã lâu lắm rồi người Êđê ở các buôn mới có dịp gặp nhau, hỏi thăm nhau và cùng nhau tấu chiêng rộn rã như thế này. Ngày xưa, khi các lễ các hội còn nhiều, mỗi năm người ta làm không biết bao nhiêu lễ cúng vòng đời người. Từ lễ nếm giọt sương, lễ thổi tai dành cho trẻ nhỏ, đến lễ trưởng thành, lễ cưới, lễ cúng sức khỏe, lễ tạ ơn… nhưng ngày nay, cùng với sự phát triển và hòa nhập, người Êđê đã bỏ đi gần hết các nghi lễ như vậy, có gia đình thì không có điều kiện để làm, nhưng có gia đình thì không còn quan tâm tổ chức các lễ như vậy nữa. Hôm nay, ông Y Hơ được gia chủ mời dự lễ, vừa được ôn lại phong tục tập quán trước đây, lại được tụ họp với nhiều anh em, bạn bè cũ, ông cảm thấy rất vui, mừng cho gia đình Y Thim vẫn còn gìn giữ nếp phong tục của dân tộc mình.
Trong gia đình ông Y Thim, không chỉ người lớn tuổi mà các thành viên trẻ cũng rất quan tâm đến các nghi lễ được tổ chức tại nhà mình. Y Nal Êban, con trai ông Y Thim chia sẻ, từ nhỏ anh đã được chứng kiến rất nhiều những nghi lễ, lễ cúng do ông bà, cha mẹ mình tổ chức. Nếu như trước kia chỉ là sự tò mò, hiếu kỳ thì nay anh quyết tâm tìm hiểu những nghi lễ này bằng sự đam mê và suy nghĩ gìn giữ giá trị văn hóa của người làm nghề. Y Nal cho biết, anh đã ghi hình lại tất cả các nghi lễ được tổ chức tại gia đình, vừa để chia sẻ với bạn bè, du khách và lan tỏa trên các trang mạng xã hội, vừa để làm tư liệu để bản thân anh tự học hỏi và tích lũy, để dành sau này anh có thể tự mình tổ chức và tiến hành theo đúng các nghi thức mà người xưa để lại.
Giữa không gian rộn ràng tiếng chiêng, bên bếp lửa bập bùng được giữ cháy từ khi lễ bắt đầu cho đến khi hội kết thúc. Cả chủ và khách cùng vít cần rượu chung vui, hỏi thăm nhau. Đối với người Êđê, các lễ cúng không chỉ là dịp tạ ơn ông bà tổ tiên và các thần mà còn là dịp để các anh em họ hàng ở các buôn tụ họp, gặp gỡ nhau, tạo nên sự đoàn kết, gắn bó, kết nối mối quan hệ cộng đồng.





Thứ Bảy, 6 tháng 10, 2018

CƯ PƠNG – NHỮNG TIỀM NĂNG ĐANG BỊ LÃNG QUÊN bút ký của HỒNG CHIẾN - TẠP CHÍ VĂN HÓA CÁC DÂN TỘC SỐ: 229+230 THÁNG 10 NĂM 2018

                                                                                    




Bút ký của Hồng Chiến

Gần 9 giờ sáng đoàn văn nghệ sỹ mới tới được Ủy ban nhân dân xã Cư Pơng, huyện Krông Buk, tỉnh Đắk Lắk. Khuôn viên Ủy ban xã khá đẹp, nhiều cây trồng xung quanh đã cao quá mái nhà, đặc biệt nhất có cây sanh trồng bên phải sân chắc đã lâu năm, tỏa bóng mát che một diện tích lớn trên sân; dưới bóng cây dựng nhiều xe máy tránh nắng. Hội trường phía đông sân có cuộc họp quan trọng, rất đông người ngồi đang chăm chú theo dõi diễn giả phát biểu đứng trên bục. Phía bên trái một dãy nhà cấp bốn có nhiều phòng, người vào ra khá đông. Đang ngắm nhìn cơ ngơi của Đảng ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân xã Anh hùng Cư Pơng thì có hai người từ trong ngôi nhà đối diện bước ra, bắt tay mời vào phòng Bí thư Đảng ủy xã uống nước.
Phòng làm việc của đồng chí Bí thư Đảng ủy xã không rộng lắm, kê hai chiếc bàn hình chữ T, đồng chí Trần Văn Tiến - Phó bí thư Đảng ủy xã thông báo: “Đồng chí Bí thư đang dự Đại hội nên chưa tiếp đoàn được, chốc nữa giải lao sẽ về trao đổi sau; bây giờ các anh cần gì cứ nói, chúng tôi sẽ thu xếp. Thú thật nghe tin các anh ở tỉnh về chúng tôi mừng lắm. Tuy là xã Anh hùng, là căn cứ cách mạng trong chiến tranh nhưng riêng việc đầu tư phát triển du lịch của xã còn hạn chế, chưa xứng tầm. Xã chúng tôi có nhiều thác đẹp như: Dray Drak, thác Dray Huê, thác bảy tầng Juh... còn ít người biết đến vì chưa được khai thác”.
Nghe nói đến thác, anh em trong đoàn ai cũng mừng, nhà thơ Lê Đình Liệu hỏi: “Các thác có gần trung tâm xã không”? “Gần thôi, không có thác nào xa quá chục km đâu”. Nhà văn Bích Thiêm băn khoăn hỏi: “Xung quanh thác có còn rừng không?” Đồng chí Phó bí thư chưa kịp trả lời đã thấy một người chắc ngoài năm mươi tuổi bước vào phòng lên tiếng: “Chào các đồng chí nhà báo, nhà văn, nghệ sỹ”. Giọng xởi lởi, trên môi nở nụ cười rất tươi, đi bắt tay từng người một rồi nói như thanh minh: “Mình bận họp nên giờ mới gặp đoàn, thông cảm nhé.” Đồng chí Phó bí thư Đảng ủy xã giới thiệu: “Đây là đồng chí Y Kha Mlô - Bí thư đảng ủy xã”.
-Ta ngồi xuống nói chuyện cho thỏai mái nào, các anh vào với chúng tôi được lâu không? Ở mấy ngày để chúng tôi bố trí. Thời gian có một buổi thôi à, ngắn quá. Báo cáo về kinh tế xã hội thì có báo cáo tổng kết kỷ niệm 40 năm thành lập xã, chúng tôi vừa tổ chức xong sẽ đưa cho các anh chị tham khảo. Tôi muốn các anh chị viết thế nào, quay phim thế nào để mọi người thấy được chúng tôi có thác đẹp, mời doanh nghiệp đầu tư và kéo nhiều người đến thưởng thức. Vì vậy phải đến tận nơi nhìn thì mới viết, mới chụp, mới ra chuyện. Tôi bận họp không đi được, tiếc quá nhưng đành chịu. Giao đồng chí Phó Bí thư và đồng chí Phó chủ tịch Ủy ban xã phụ trách văn hóa dẫn đoàn đi. Trưa các anh chị quay lại ta trao đổi thêm”.
Qua thái độ, cách làm việc của đồng chí Y Kha Mlô làm chúng tôi thấy bất ngờ. Bất ngờ vì người cán bộ bản địa trưởng thành từ phong trào nơi quê hương mình mà có cách ứng xử tinh tế, phong cách làm việc khoa học, tạo nên sự gần gủi với người tiếp xúc. Ra xe, nhà văn Nguyễn Liên nhận xét: “Đồng chí bí thư xã có cách làm việc hay thật. Nếu xã nào cũng có lãnh đạo như thế này thì mừng lắm”. “Anh ấy trước đây làm du kích rồi phấn đấu, rèn luyện dần dần trưởng thành lên. Thác Dray Drak nằm trên đất rẫy của gia đình anh ấy đấy”. “Xung quanh thác còn rừng không?” Nhà văn Bích Thiêm nhắc lại câu hỏi, đồng chí Phó bí thư trả lời: “Xung quanh thác là rẫy của gia đình đồng chí bí thư và anh em trong gia đình nên còn giữ lại được một ít. Bảo vệ rừng nơi đây hiện nay chỉ động viên nhân dân tự giác, không chặt phá thôi”. 
Đường đến thác thật khó đi, xe phải đi men theo đường lô mới mở, hết rẽ phải, rồi rẽ trái, lại rẽ phải mãi mới tới một rừng điều khá tốt, trên cây quả chín treo đầy. Xe dừng, anh em đi bộ men theo bìa rẫy gần một km nữa mới tới suối. Đường đi nhiều chỗ dốc gần như dựng đứng, chỉ có một con đường mòn nhỏ đủ để người đi đặt chân xuống các hòn đá, tay bám chắc các gốc cây mới không bị té. Thương nhất nghệ sỹ Linh Nguyên tay ôm máy quay, tay xách chân máy, lần từng bước nhờ người đi trước đỡ dùm. Loay hoay mãi, cuối cùng đoàn cũng xuống được con suối trên đỉnh thác. Để xuống chân thác lại phải vượt qua một đoạn dốc thẳng đứng; bám vào dây, rể cây để đu người. Mấy anh chị nhà văn và nghệ sỹ lớn tuổi không dám xuống vì... nhìn con đường đi đã chóng mặt rồi, nói gì đu người xuống.
Theo người dẫn đường, chỉ có tôi, nhà nhiếp ảnh Văn Lộc, nghệ sỹ Linh Nguyên và các nhà văn: Trần Chi, H’Phi La liều mình vượt qua đoạn đường khoảng năm chục mét để xuống lòng suối. Xuống đến lưng chừng dốc, mọi người chợt đồng thanh kêu lên ngạc nhiên trước vẻ đẹp hoang sơ của thác. Giữa tháng ba, trời Tây Nguyên mới có vài cơn mưa đầu mùa chưa thấm đất, vậy mà dòng thác có ba ngọn đổ từ độ cao trên chục mét, dội thẳng xuống, hơi nước  bung lên ướt đẫm lá cây một vùng. Những khối đá dưới chân thác hình lục giác, đen bóng như được một bàn tay nghệ nhân tài ba tạo ra, sắp xếp lại.
Thôi thì người có máy quay, máy ảnh thi nhau bấm; còn không có máy thì dùng ngay điện thoại để quay, chụp; miệng không ngớt trầm trồ thán phục. Đi thêm hơn chục mét nữa mới tới lòng suối nơi chân thác, ngước mắt nhìn lên đỉnh thác thấy trời xanh trong veo. Anh cán bộ văn hóa xã đi cùng, tuổi mới ngoài hai mươi, người dân tộc tại chỗ có nước da nâu đen, mái tóc quăn tự nhiên rất đẹp, nói: “Trước đây hai bên thác có hai cây đa to đến mấy người ôm luôn, cành lá xanh tốt, tạo bóng mát che cho thác như hai cái ô lớn, trông đẹp lắm. Cơn bão số mười hai năm ngoái làm đổ mất. Tiếc quá”!
Tôi chợt nghĩ, nếu có hai cây đa hai bên thác tạo cảnh, chắc chắn không những đẹp mà còn góp phần làm cho thác có vẻ huyền bí hơn lên, chắc chắn sẽ thu hút sự tò mò của nhiều người. Hai bên bờ suối còn giữ lại được một ít cây cổ thụ, tán cây quá nhỏ so với dòng thác có chiều rộng đến hai chục mét. Giá như hai bên bờ suối còn nhiều cây to hơn, rừng ven suối còn rộng hơn một chút chắc chắn sẽ làm người đến đây bị say đắm. Nhưng bây giờ...
Ở Đắk Lắk, tên sông, suối, hay dòng thác bao giờ cũng gắn với một truyền thuyết bi thương của tình yêu đôi lứa, hay sự trái ngang của số phận con người như thác: Dray H’Linh, thác Dray Nu, thác Trinh Nữ, thác Krông Kma… hay sông Krông Na, Krông Nô, Krông Bông, Ea H’Leo... Vậy mà thác Dray Drak chỉ là một cái tên ngẫu nhiên, mộc mạc vậy thôi, không rõ nghĩa. Đây cũng là một thách thức không những với người làm du lịch mà cả với những văn nghệ sỹ đi tìm và khám phá vẻ đẹp của dòng thác. Thác đẹp phải có một sự tích hấp dẫn để người ta đến khám phá, tìm hiểu, chiêm ngưỡng... Tôi chợt nhớ đến thác Thủy Tiên trên dòng sông Krông Năng, thuộc địa phận huyện Krông Năng. Cách đây hơn ba mươi năm thác không có tên, khi những người thanh niên từ thành phố Huế vào xây dựng kinh tế mới, nhà thơ Trần Chi - khi ấy mới 23 tuổi làm Chủ tịch xã Phú Xuân đầu tiên, khi làm quy hoạch mới đặt cho thác cái tên Thủy Tiên - nơi có các nàng tiên trên trời vì mê cảnh đẹp nơi trần thế nên xuống tắm. Từ đó thác có tên và truyền thuyết dòng thác ra đời, lưu đến hôm nay, được nhiều người ưa thích đến khám phá, tham quan.
Xuống chân thác, Nghệ sỹ nhiếp ảnh Nguyễn Văn Lộc nhờ nhà văn H’Phi La làm người mẫu để chụp thác. Nghệ sỹ Linh Nguyên, nhà thơ Trần Chi và tôi cũng chĩa máy bấm ké. Bụi nước bay lên mù mịt, ánh mặt trời dọi xuống tạo nên cầu vồng ngũ sắc lung linh như ôm lấy người mẫu. Nhìn cô thiếu nữ E đê trong trang phục quần áo dân tộc mình ngồi bên dòng thác, ta có cảm giác như lạc vào thế giới của Yang trong cổ tích, như thực như mơ. Phía bên phải dòng thác có chùm rể cây si xỏa xuống. Thỉnh thoảng có cơn gió thổi qua, từng chùm rể như làn tóc cô thiếu nữ vờn qua dòng thác, níu kéo làn nước làm tôn thêm vẻ huyền bí của thác. Đứng ngắm thác mãi không biết chán, nhưng đến lúc chúng tôi cũng phải về, hẹn một dịp khác lại đến.
Ngày hôm sau tôi trở lại xã Cư Pơng Anh hùng để khám phá tiếp các dòng thác còn lại của xã như: thác Dray Huê, thác bảy tầng Juh. Những thác này nhỏ hơn, độ cao của thác từ vài ba mét, đến năm mét là cùng. Điều đặc biệt rừng hai bên các thác đã bị tàn phá, biến thành rẫy cà phê, hồ tiêu... muốn vào thác phải đi qua nhà dân.
Trên đường quay về huyện, nhà văn Mai Khoa Thâu buồn buồn nói với tôi:
-Các thác của xã Cư Pơng đều có vẻ đẹp độc đáo của riêng mình. Mỗi thác đều có tiềm năng du lịch nhất định, nhưng tiếc quá anh ạ.
-Tiếc điều gì vậy - tôi hỏi lại.
- Rừng, những khu rừng, những cây cổ thụ bên thác chúng ta không giữ được, làm cho thác mất đi vẻ đẹp huyền bí; giống như nàng công chúa ngủ trong rừng bị cạo mất lông mày rồi.
-Hay, một sự liên tưởng độc đáo!
Tôi kêu lên và bồi hồi trước thực tế các dòng thác nơi đây, hình như chúng ta còn quá chậm trong khâu khảo sát quy hoạch để phát triển các khu vực có tiềm năng du lịch. Giá như các dòng thác ở xã Cư Pơng được quy hoạch sớm hơn, các mảnh rừng già nguyên sinh quanh thác không bị chặt phá và ta còn đất để mở một con đường đủ lớn lưu thông đi đến các dòng thác thì quả thật đây sẽ là khu “công nghiệp không khói” đầy tiềm năng không chỉ của xã Cư Pơng, của huyện Krông Búk mà còn của cả tỉnh Đắk Lắk.
Nếu đi từ thành phố Buôn Ma Thuột qua trung tâm xã Pon Prang rẽ trái chừng 30 km chúng ta đã đến những dòng thác của xã Cư Pơng, cùng nằm trên con suối đầu nguồn của dòng sông Ea H’Leo bắt nguồn từ phía đông đổ về phía tây. Những dòng thác đẹp đúng như nhận xét của nhà văn Mai Khoa Thâu “giống như cô công chúa ngủ trong rừng” đang bị lãnh quên. Rồi đây ai sẽ là “hoàng tử”, đủ dũng cảm, tài năng bước vào vùng đất đầy khó khăn ấy để đánh thức nàng công chúa dậy. Muốn vậy, ngay từ bây giờ chính quyền địa phương phải có chính sách ưu đãi, khuyến khích và sự ủng hộ của đồng bào nơi đây kêu gọi và mời các “hoàng tử” tài trí, có tầm nhìn chiến lược, chấp nhận gian khó vào cuộc, đồng hành cùng với nhân dân xã Anh hùng Cư Pơng đánh thức tiềm năng du lịch nơi đây. Đó cũng là nghĩa cử cao đẹp của thế hệ sau đối với vùng đất và con người đã dũng cảm chiến đấu và hy sinh góp phần vào công cuộc thống nhất nước nhà trước đây và xây dựng cuộc sống thanh bình, âm no hôm nay. Chúng ta chờ và hy vọng!









Thứ Tư, 3 tháng 10, 2018

MÓN QUÀ truyện ngắn của MẪU ĐƠN - CHƯYANGSIN SỐ: 313 - THÁNG 9 NĂM 2018

Ngõ trúc.


1.
Con đường có thể ngắn hoặc dài hơn. Khi bước dưới những vòm trời, anh làm sao biết được những phút giây sẽ trôi tuột như thế nào. Anh về nhà. Bắt đầu đối diện với một khoảng không bao nhiêu đó mét vuông và anh cần phải gọi tên. Anh chỉ nhớ khoảng không ấy tồn tại trên con đường có địa chỉ là đây, anh có một chìa khóa trong túi và một chìa giấu dưới viên gạch hờ trước cổng. Tay anh chạm vào một vật thể không lạ và anh đưa chìa khóa vào nó, một tiếng động vang lên, đối với anh tiếng động cũng khó khăn, nếu phải gọi tên. Mở nó ra, anh bước vào một vùng không khí mới. Không gian ấy khiến anh chán nản nhưng không ngừng tươi vui. Anh không gọi tên chúng đúng như chúng có, anh sẽ nghĩ ra những cái tên thay thế. Mỗi hôm về anh lại nghĩ ra một cái tên. Niềm vui sẽ tăng lên nếu anh có thể đổi hẳn chúng mới như cái tên ấy.
Cho đến một hôm khác, mở mắt ra, anh được nhận một thứ. Người này anh không quen và cũng không cần gọi tên, trên công việc anh ta được gọi là người đưa bưu phẩm. Hình như những điều liên quan đến công việc không thể khiến anh quên, nó cao hơn mục đích sống. Anh ta đưa cho anh một cái gì rung rinh, một cái gì man mát và kì lạ. Người đối diện nói anh luôn nhận một cái gì đấy mỗi mùa, không có địa chỉ. Anh nhìn lại những cành rung rinh, cười chào. Anh không thể quên bởi anh không bị mất trí nhớ, anh chỉ nhầm lẫn các sự vật, và quên một số lượng nhất định. Vậy những thứ khác của những mùa khác đang ở đâu.
Anh mang vào bên trong. Đặt chúng trên một vật khác, để vật khác đó trên một vật khác nữa. Rồi anh lấy chìa khóa đi làm. Từ tám giờ sáng đến năm giờ chiều. Kết thúc giờ làm, anh về nhà. Cái không khí ấy loãng, mềm ra, anh tách chúng trên đường. Nhiều người thấy anh khua tay để như bước vào một cái gì đấy. Rồi từ mốc đó, vô hình, anh trở thành một con người khác, im lặng và trầm tĩnh bước đi.
2.
Bên kia cánh cửa là một âm thanh lạ, một âm thanh mới mẻ và gây khó chịu với một người đàn bà đã quá tuổi. Điều gì ngoài kia, chỉ là một cánh cửa, bà có thể thò đầu ra, cũng có thể mở tung ra nhưng từ từ đã cần phải xem xét kĩ lưỡng bởi bà chưa biết phải nói gì với những sự mới mẻ ấy. Bà vào nằm ngủ và phát hiện ra âm thanh ấy không hề đơn giản như bà nghĩ. Phải mở cửa để nhìn ngắm, để nhận biết và nói một vài lời. Những gương mặt tươi trẻ, những giai điệu nhảy nhót và một lối sống nhập nhằng cơm bụi, áo quần treo trước nhà trên cao, chiếu nằm dưới đất và những thứ được gọi tương tự như bàn, ghế, quạt ở vị trí nhất định và không nhất định trong lần nhìn sau. Bà không thể nói với chúng về thời điểm thích hợp con người ta phải im lặng. Và bà già rồi, vì bà cần nghỉ ngơi nên việc chúng mang những âm thanh lạ ấy vào cuộc sống mấy mươi năm của bà thật kì dị. Đó là loại nhạc không được bà nghe, đó là những kiểu câu bà cũng chưa bao giờ sử dụng, đó là những mối quan hệ nam nữ không rõ ràng mà bà cũng chẳng bao giờ dám nghĩ tới. Tiếng xe tới lui ào ào khiến bà nghĩ tới những gì ồn ã đã trải qua.
Bà nghĩ về sự di chuyển dù không nhiều. Bà là cư dân của một thành phố bên bờ biển. Bà có cơ hội rời xa nó qua nhiều lần lựa chọn nhưng bà vẫn không đi. Nó chỉ đơn giản là một thành phố với bờ biển, chỉ đơn giản là một tiếng nói rất gần và thu hẹp ở nơi này, là cách suy nghĩ. Với bà nó từng là một tiếng nói lạ, một âm thanh lạ nhưng khi bước chân đến nơi đây bà cảm thấy mình không thể nào rời bỏ được. Mỗi ngày bà nói, bà hát bằng thứ ngôn ngữ đó và nghe bằng tiếng nói đó. Cho đến khi bà có con, tiếng nói ấy lại bắt đầu bập bẹ rồi ghép lại thành những thanh âm rõ nghĩa. Nó gần gũi và chỉn chu, bởi nó là tiếng nói và đó là con bà. Trong những ngày tháng tiếp theo, mấy đứa con mang những tiếng nói ấy rời xa, bà không thể nào ngăn chúng lại. Chỉ còn những thanh âm còn lại vang ra từ suy nghĩ.
Rất nhiều lần chúng mời bà đến nơi chúng làm việc để sống nhưng bà từ chối. Rồi bà ở trong căn nhà mấy đứa con đã suy nghĩ rất nhiều để thiết kế, chỉnh sửa dù bà nói rằng chỉ cần trong căn nhà này, ở vị trí này, bà có thể hài lòng với mọi thứ thay đổi. Và cũng bởi căn nhà quá rộng, thừa mứa. Một mình bà sống trong căn nhà đó đến tám giờ tối mỗi ngày. Vào giờ đó, bà sẽ bắt đầu tham gia vào những câu chuyện của tất cả những ai có mặt xung quanh bà, qua một bức tường. Chưa kể đối diện là một ngôi nhà không có gì là mới mẻ được cho thuê thì căn nhà của bà trải dài, với độ dài của bên phải, bên trái là ba bốn cái nhà. Bà phải tắt radio để bắt đầu đến với những câu chuyện của họ, nhiều, nhiều lắm không kể hết, nhưng cái chính là bà nghe tiếng nói ấy vang lên, nhiều sắc thái, hay ho vô cùng, bà nghe đến hơn nửa đêm.
Bà già. Nhưng bà không quên điều gì và những thứ thuộc về căn nhà này, mọi thứ đều có thể được giải thích rõ ràng. Căn nhà chỉ được lấp đầy khi con bà về, thường là vào dịp Tết. Bà vui biết bao dù bà không hiểu thế giới có gì thay đổi, nó khác xa gì với thành phố của bà, nó nhộn nhịp thế nào, tiền bạc chi tiêu nơi các con ở cao hơn đây gấp mấy lần, bao nhiêu.
3.
Thật bất ngờ, một hôm, khi nhớ ra vật rung rinh đó là một bông hoa, anh phát âm được nó, anh còn nhớ nó xuất hiện ở đâu, từ mùa nào, chỉ có điều không biết rõ là ai gửi. Nhưng quả thật, suy nghĩ về mùa nào với sự xuất hiện của bông hoa làm anh thấy mình thật quan trọng. Anh không hiểu lý do xuất hiện của bông hoa trong cuộc đời, nhưng tới thời điểm này, có thể là vì anh. Hoàn toàn bình thường, trong trạng thái nghỉ ngơi, anh nằm ngắm nó. Đôi khi anh thấy mọi thứ thật tuyệt diệu, trong một buổi sáng anh thức dậy và không phải đi làm. Những ngày nghỉ với anh không xa lạ, anh nhìn từ giường tới rèm, tấm rèm mẹ anh sắm sửa từ khi có ngôi nhà, và những ô vuông, những ánh sáng lúc anh mở mắt. Có phải chúng tồn tại để gặp anh trong buổi sáng hôm nay. Thường ngày nếu anh còn sống với mẹ, anh sẽ thấy cả chiếc lồng bàn và đồ ăn dọn sẵn ở bên trong. Anh nhớ nó đến kì lạ. Nếu kí cứ ức bám vào chúng thì anh phải làm sao để giữ chúng bên mình mãi mãi. Mọi thứ từ từ lấp lánh trong không gian, kể cả những hạt bụi. Anh nghe loài hoa nói với mình thật nhiều, một lời nhắn gửi từ mùa màng, từ ruộng đồng xa xăm, từ thời gian bước từng bước và đã đến đây ngay trong căn phòng ủ mùi kỉ niệm này. Chính hương thơm gợi nên một kỉ niệm ngọt ngào về một kí ức khác. Nó xòe cánh ngay trong nhà anh, vượt qua một chặng đường dài hay ngắn anh không rõ nhưng nó đang nhìn anh cũng như anh đang nhìn nó. Nó nói với anh bằng mùi hương, nó nói bằng sự lặng im, không nhầm lẫn. Còn anh có nhầm lẫn gì không, anh biết đâu là đường đi làm, anh biết đâu là nhà và giờ giấc, nhưng đã có thời gian anh không gọi tên được những gì đang diễn ra quanh mình. Anh có một gia đình không ở trong thành phố này, anh có một người yêu không bên kia dây điện thoại, tất cả đã được tạo lập, nhưng sao anh lại quên bẵng nó đi. Còn chìa khóa để đóng, mở những gì cũ, mới, anh có hai cái dùng lần. Anh rung lắc, nó kêu lên.
4.
Đôi mắt thò lò nhấp nháy rồi hạ xuống, trong một cái ô nhỏ xíu. Nó dưới cả lòng đường, nó dưới cả một bầu trời và nó không biết bây giờ là năm nào, thời tiết đang diễn ra ra sao. Nó chỉ hình dung qua những gì người ta bỏ đi và trôi tuột xuống. Nhưng trong những ô vuông nhỏ nó thấy quá nhiều màu sắc. Nhưng đa phần những màu ấy là màu tối. Ít ỏi một vài màu tươi, nhưng cũng dần ngả màu trôi tuột xuống chỗ nó bởi người ta đã bỏ đi rồi. Những loại hoa quả, những vỏ, những cành héo rũ. Nó chỉ nhận biết mùa qua những gì đang diễn ra, tỉ dụ như cái gì người ta bỏ đi nhiều, cái gì dần dần ít đi này, ngày này loại này, ngày kia loại kia và khi chấm dứt những loại mục nát đó nó biết rằng mọi người đang chuyển qua những chuỗi ngày khác. Tất nhiên người ta không vứt đi những gì còn sử dụng được, họ tận dụng vô vàn, nhỏ nhất thì có bà nhôm nhựa mua rồi. Nó chỉ biết nhìn thôi bởi nó sẽ có cả ban ngày để nhìn cơ mà. Còn ban đêm nó phải chui ra khỏi cái lỗ để sống cuộc đời của nó. Nó đi trên những con đường mà ban ngày nó ngóc mắt nhìn, nó nhảy nhót trên những niềm vui bất chợt. Và đêm nó cũng nhận ra rằng cái nó nhìn ban ngày và ban đêm cũng không khác gì nhau mấy. Chỉ có một khoảng không rộng hơn để nó di chuyển và nhòm ngó lắng nghe mà thôi. Nhưng vào cái giờ này chằng còn gì đủ vui vẻ và nhộn nhịp để nó nhìn thấy. Nó không đủ tinh mắt để thấy niềm vui của họ. Nó chỉ hợp với nỗi buồn và những gì còn lại mọi người thải ra mà thôi.
Nhưng hôm nay thật khác, nó không thể đi lại giữa đường được, bởi quá đông. Nó đã cảm nhận thấy cái gì bất thường từ mấy ngày trước khi ở dưới mặt đất, mọi thứ rác lại đầy lên, nó thấy liên tục đến nổi mắt nhảy nhảy cả lên nhưng nó cũng rất vui. Rằng xung quanh những giai điệu đời thường lọt thỏm giữa chợ ồn ào vào mỗi buổi sáng hay xế chiều, giờ đây mọi thứ cứ rộn ràng lên, rộn lên rất nhiều cứ như rằng có ai đó sẽ xuất hiện, điều gì đó đã bắt đầu khiến họ phải làm mọi thứ thật nhanh, thật gấp rút. Nó rất ghét tiếng ồn bởi nó không chịu nổi nhiều thứ rối tung cùng hiện lên một lúc nhưng bởi cái ô nhỏ xíu dưới mặt đất của nó cứ phải di chuyển sau vài tháng nên nó phải đi, cuối cùng nó được định vị trong một khu chợ to, di chuyển mấy tháng cũng không thoát khỏi cái chợ. Thế nên từ bất mãn, nó chuyển sang hòa nhập. Những người bán hàng, những mặt hàng, những người mua hàng, những loại xe, điện thoại… nó nghĩ tất cả những gì con người cần chắc có lẽ đều có mặt ở chợ hết rồi. Và một mình như nó chỉ có thể sống bằng trí tưởng tượng nếu không muốn tẻ nhạt, nhưng trí tưởng tượng cũng có hạn nếu không thay đổi chỗ ở, nó thấy mình may mắn vì có khả năng nghe, nó nghĩ mình cũng nói được, dù không biết nói với ai. Có nhiều cái nó thích nhưng cũng vô vàn cái không thích. Dù gì, nó đã mặc định cho cuộc đời mình là vui với những gì còn lại. Những gì còn lại rất chung chung nhưng nếu quy rộng ra thì nó cũng chỉ có chừng đấy để nghĩ. Ồn ào và không ồn ào. Nhưng nó nhớ có lần nó mơ, nó đi lạc đến một nơi khác, núi non xanh rờn và mây bay cao vút, không hiểu sao nó cứ lầm lũi tìm đường bỏ nơi ấy. Nó lại nghiện cái gì ồn ào, nó thích những món đồ xuất hiện tràn lan rồi được bán rồi thay bằng những thứ khác nhanh chóng. Nó còn thích cả sự vòng vèo, càng đi vòng vèo càng tốt, như vậy nó sẽ đến tận cùng các hàng quán, sạp đồ, như vậy nó sẽ hiểu thế nào là mê cung trong chợ, cả khi đêm đã xuống. Còn rừng núi, đơn điệu, chỉ là xanh và trắng. Nhưng nếu được chọn, nó muốn sẽ được thay đổi chỗ đến núi một thời gian, nhưng mà ít thôi, để nó thấy nhớ nhiều hơn cái ồn ào này. Tiếng ồn ã lại vang lên và nó giật mình hạnh phúc, chao ôi, nó vẫn còn trong cái chợ đầy đủ tính chất cuộc sống này. Tim nó đập mạnh liên hồi.
Hôm nay nó phải xuất hiện trên phố đêm này như một người bình thường, vì mọi người, rất đông đã làm như thế. Nó không thể nhảy nhót quá tưng bừng khi mọi người vui vừa phải. Nhưng là rất vui đấy. Nó ngó nghiêng quá chừng rồi cũng phát hiện ra, đây có lẽ là lễ hội của loài người. Còn những thứ nó vẫn thường thấy phần bỏ đi ấy nay hiện lên đầy đủ, chao ôi, sao kì vậy, người ta mang tất cả những thứ đó vào ban đêm để bán ư, cũng gần như không thiếu một cái gì. Hay nó lại ngủ mơ như hôm trước nhỉ, có bao giờ nó thấy người ta tha thiết nó như thế không, cả dãy, cả hàng chậu chậu, bao nhiêu người bán sỉ, bán lẻ, bao nhiêu người ra giá mua bán. Thế giới xuất hiện một không gian mới hay sao. Và tất cả những gì ban ngày nó thường thấy, về phần con người, lại hoàn toàn là một nhận thức mới. Họ làm sao ấy nhỉ. Hình ảnh của họ thường ngày với cằn nhằn, mồ hôi, từng tờ tiền đếm đếm rút rút, đưa đưa giật giật sao bây giờ lại xuất hiện với vẻ mặt hớn hở thế kia, hình như ai cũng muốn mang tiền ra tiêu, nhưng lại rất chan hòa, êm ấm, hạnh phúc. Cả trẻ con lẫn người lớn. Người già không xuất hiện trong bức tranh này, người già ở đây ấy nhỉ, nó thấy họ trong những ô cửa loài người, sáng trưng ánh đèn và trong không khí tất bật, họ an yên đến lạ. Phải vậy không, tự nó cũng thấy hình như nó không phải về ô vuông dưới lòng đất vào giờ quy định nữa, bởi mọi người cũng có làm giống ngày thường đâu. Chẳng có quy định nào hết. Nó cười ma mãnh. Nhảy tưng lên một cái.
5.
Một tiếng nổ lớn, anh nghĩ mình lại phát hiện ra cái gì đó. Và hàng loạt âm thanh diễn ra. Anh vứt chìa khóa chạy ra đường. Anh vội vội vàng vàng, vấp phải con chuột. Con chuột quái quỷ này ở đâu ra. Nó không thấy có cái gì đang rất vui hay sao. Bởi đứng lại cằn nhằn con chuột mà anh gặp bà. Trong hoàn cảnh ấy, bà già nói thật với anh, từ cả năm nay rồi bà chẳng nói, bà đi lạc. Sự thật bà đi lạc là do bà nghe có quá nhiều tiếng động lạ, rồi bà mở cửa và bước ra, chỉ một chút thôi mà bà đã đến nơi này rồi gặp anh. Bà hỏi anh nhiều bởi lâu lâu mới gặp mặt trực tiếp còn tâm tình thế nào bà vẫn cập nhật bởi bà lắng nghe anh thường xuyên qua một bức tường. Và bà gọi tên anh, Niên, rồi bà hỏi, mua hoa về chưng chưa, khi nào về quê thăm ba má, dẫn bạn gái qua nhà bà chơi nghe, mấy anh chị mới về hôm bữa, vui lắm, mà không thấy con đâu, mắc công chuyện đến Tết mới xong luôn na.
Thì ra là giao thừa. Anh đã nghỉ thật nhiều ngày để đón nó. Giao thừa, kì lạ chưa. Anh có đáp lời bà. Bà cười cười rồi không nghe anh nói gì hết, bởi pháo hoa lại vang lên, to lắm, rực rỡ lắm và người ta thì qua lại đông đúc, ồn ã lắm. Anh cũng dừng lại để ngắm, pháo hoa trên bầu trời đó, thời gian cũng trên bầu trời đó và xung quanh đây bao tiếng nói vây quanh. Anh nhớ hết tất cả mọi thứ, và anh nhìn bà, chúc mừng bà năm mới bà nghen, để con đưa bà về. Mấy đứa con không thấy bà đâu trong lúc pháo hoa rợp trời vội đi tìm, thấy bà đứng cách nhà không mấy bước chân, lại nói nói gì đó… đã tìm ra bà ngay. Anh còn lại ít thời gian để mang một chậu bông về chưng. Ngó xung quanh, anh vội kêu xích lô chở về. Anh vào thẳng cửa, vì đã kịp khóa đâu. Một trong những chậu cuối năm. Bưng vô nhà, mọi thứ dường như trở nên thật sáng sủa. Nhìn xung quanh nhà, gọi tên từng đồ vật. Anh nghĩ, mai là mồng một rồi, anh chẳng chuẩn bị chi hết, nhưng không, đằng nào anh cũng sẽ nhận quà.