Thứ Ba, 6 tháng 11, 2018

NHIỆM VỤ “ĐẶC BIỆT” bút ký dự thi của TRẦN ĐÌNH HẰNG - CHƯ YANG SIN SỐ: 234. THÁNG 10 NĂM 2018


Tác phẩm tham dự Cuộc vận động viết bút ký chủ đề
“Công an Đắk Lắk bản lĩnh, nhân văn, vì nhân dân phục vụ”




Tác giả Trần Đình Hằng 


Nhận nhiệm vụ trực tiếp từ Trưởng Ty (nay là Giám đốc Sở) Vũ Nhật Hồng: “Đôn đốc, triệu tập một số vị Linh mục (LM) đã từng làm Tuyên úy cho Quân lực Việt nam Cộng hòa (QLVNCH) đi học tập”. Nói đến chức phẩm LM, trong đầu ông Giảng nghĩ tới: LM là một chức phẩm của Giáo hội Công giáo, có quyền thực hiện các lễ nghi tôn giáo trực tiếp cho giáo dân – cộng đoàn tín hữu, được bề trên giao phó. Tất cả các LM đều là những người có học vấn: Học vị cử nhân Thánh kinh; tốt nghiệp đại học Thần học hoặc Giáo luật trong một Học viện Cao đẳng được Tông tòa công nhận. Các vị ấy không là LM quản xứ, thì cũng là LM quản nhiệm là Cha xứ và tất cả đều có thanh danh. Và được tất cả các giáo dân thành kính lễ phép gọi bằng tên chung: Cha.
Kinh nghiệm cũng cho ông thấy (dù ở cương vị, hoàn cảnh nào) khi làm việc với các vị này thì hoàn toàn không được phép trịch thượng; không áp đặt, không giáo điều, tránh chiêu thức mánh khóe, xảo diệu... mà phải diễn giải có lý có tình và phải lấy câu “Thật thà bằng ba khôn khéo” làm nền.
Người chiến sỹ công an luôn phải kính trọng, lễ phép với dân một thì với các vị chức phẩm mức lễ độ phải là mười.
Ông và các đồng sự sẽ tiếp xúc với các cha. Việc mời một cha xứ đến một địa điểm để gặp thì không có gì trở ngại. Nhưng biện dẫn ra chứng lý và đưa họ vào nơi học tập thì sẽ chịu tiếng là lường gạt, cưỡng bức, thậm chí là bắt bớ... Như vậy sao tránh khỏi chuyện “rút dây động rừng” và không chỉ là động rừng thôi đâu mà động cả đại ngàn luôn. Chuyện bé xé ra to liền. Sẽ có vô vàn tin đồn bịa đặt.
Nếu để xảy ra tình trạng ấy thì e rằng không tránh khỏi chuyện “động trời” là phản ứng phẫn nộ của cả ngàn, cả vạn, cả triệu, thậm chí cả tỷ tín đồ công giáo không chỉ ở một tỉnh, một quốc gia. Có phân minh với giải trình đến cỡ nào cũng không thể minh oan.
Không! Quyết không thể để xảy ra một kẽ hở nào cho dù là nhỏ nhất để tất cả những phần tử đối lập có cơ hội!
Cho dù sau khi thị xã Buôn Ma Thuột được giải phóng (10.3.1975), chính quyền Cách mạng kêu gọi mọi người đã từng có những hoạt động phục vụ chính quyền, quân đội của chế độ VNCH ra trình diện để được hưởng lượng khoan hồng. Lời kêu gọi ấy được đông đảo các tầng lớp: Trí, nông, công, binh... hưởng ứng. Nhưng đã mấy tháng trôi qua mà một số vị đã từng làm Tuyên úy cho QLVNCH vẫn không ra trình diện.
Không trình diện là đồng nghĩa không hợp tác, cũng hàm chứa cả ý thức xem thường, thách đố.
Làm thế nào để mọi công dân bình đẳng trước pháp luật? Vận động, thuyết phục một viên chức đã khó thì đối với các bậc chân tu còn khó gấp bội phần. Phải vận động thế nào đây để các vị LM tự đến trình diện? Cả một vấn đề nan giải.
Những lúc gặp bí tắc trong công việc, ông Giảng thường ôn lại 6 điều Bác Hồ dạy. Lần này liên tưởng tới lời Bác dạy, ông nhớ tới một khóa học có bài giảng: Phân tích “Thư Bác Hồ gửi chúc mừng Giám mục (GM) Lê Hữu Từ tháng 8.1945” và sự kiện: “Ngày 25.2.1946, Bác đích thân đến Phát Diệm mời vị GM này làm Cố vấn tối cao cho Chính phủ mới”.
Giám mục, Giám mục!
Ông Giảng thở phào nhẹ nhõm, vỗ tay lên trán và trịnh trọng thốt lên: “Ơn Chúa lòng lành!” Ấy cũng là khi còn làm Trưởng công an huyện Kim Sơn (Ninh Bình), những lần tiếp chuyện với các GM và LM, ông đều thành kính nhắc đến khẩu ngữ này cùng nhiều lời cầu nguyện khác đã nhập tâm. Ông thấy lòng nhẹ bẫng như trút được gánh nặng đã làm ông mất ăn, mất ngủ mấy tuần liền. Ngước nhìn lên tấm ảnh Bác treo trên tường. Ông thấy rõ vị Cha già đang trìu mến nhìn mình như nhắc nhở điều gì đó và ông vụt nhớ đến lời dặn của Người với cụ Huỳnh “Dĩ bất biến ứng vạn biến” từ mấy chục năm trước.
Chắp tay sau lưng, đi tới đi lui mấy vòng trong phòng, ông Giảng lẩm nhẩm căn dặn chính mình: “Tôn giáo sống trong lòng dân tộc! Tôn giáo có vai trò, vị trí lớn, có nhiều đóng góp lớn trong lĩnh vực văn hóa...”
Giá còn trẻ như 25 năm trước, năm 1950, “anh lính mới tò te” Trần Cao Giảng đã vui sướng nhảy tót lên vai người đồng sự, khi nghe tiếng nổ long trời, đánh sập CLB sỹ quan Pháp tại Kim Sơn. Với chiến công này, ông  Giảng được tặng thưởng danh hiệu Anh hùng LLVTND thời kỳ chống Pháp. Ừ giá như còn trẻ thì ông đã nhảy lên mà hét: “Chúng ta đã có được quý nhân phù trợ rồi!”
Chiếc xe hơi sang trọng bậc nhất thị xã đỗ xịch trước cổng Ty Công an. Người lái xe miễn cưỡng làm các thủ tục tại bốt gác.
Xe lượn vòng rồi dừng lại trên thềm tiền sảnh. Viên sỹ quan trực ban lễ phép giơ tay chào và nhanh nhẹn mở cửa xe.
Một giáo sỹ khoan thai bước xuống. Ngài mặc chiếc áo màu đen liền mảnh, ôm sát thân, dài từ cổ đến mắt cá chân, có một dãy nút chính giữa từ cổ áo xuống tận phía dưới lai áo, có đường viền và dãy nút màu tím sậm cùng chiếc đai Fascia quấn quanh thắt lưng (phẩm phục dành cho GM). Đó là áo Cassock (còn gọi là áo Soutane). Ngài mang cặp kính trắng gọng vàng sang trọng. Ngài đường bệ bước trên từng bậc cầu thang.
Khỏi tốn nửa lời, chính phong thái ấy với nét mặt không một biểu cảm, cùng phẩm phục cũng đã đủ làm cho những người đang làm việc tại đây biết rằng “Người được mời đã đến đúng ngày giờ, địa điểm” và phải hiểu “Ngài là ai” để cư xử cho đúng phép tắc!
Sau ba tiếng gõ cửa, nhận phản hồi “mời vào”, người sỹ quan trực ban thận trọng đẩy cánh cửa, giọng nghiêm trang “Báo cáo thủ trưởng, GM Nguyễn Hữu Mai đã tới ạ!” “Ơn Chúa lòng lành! Đồng chí mời khách vào bàn uống nước giúp tôi!”
Sau những lời chào đón rất mực lễ tiết, ông Giảng niềm nở hỏi thăm sức khỏe của GM và xin ngài cho nhận xét về đời sống mọi mặt của nhân dân thị xã nói chung, của đồng bào công giáo nói riêng sau ngày đất nước thống nhất, Nam Bắc một nhà. Ông nhấn mạnh cụm từ “Nam Bắc một nhà”.
Vị GM ngó lơ chiếc bình thủy Rạng Đông cùng bộ ấm tách Hải Dương. Nhưng mùi thơm của hương trà Tân Cương đã làm cho gương mặt của ngài có chút bần thần. Hẳn là cái hương vị độc nhất vô nhị ấy đã gợi cho ngài nhớ lại những ngày trước năm 1954 trên quê cha đất tổ. Những biểu cảm ấy, ông Giảng thấy hết.
- Thưa GM! Nếu đức GM tiên khởi Lê Hữu Từ của chúng ta chưa về Nước Chúa từ năm 1967 thì chính quyền Cách mạng sẽ nhận được sự ủng hộ quý báu của Giáo hội Công giáo rất nhiều! - Giọng nói đầy tôn kính của ông Giảng đã đưa mục đích của buổi giao tiếp trở lại thực tại, ông tiếp - Chính GM Lê Hữu Từ đã dẫn đầu đoàn giáo dân công giáo đến Quảng trường Puginier (nay là quảng trường Ba Đình) dự lễ mit-tinh, nghe Bác Hồ đọc bản Tuyên ngôn Độc lập.
GM Nguyễn Hữu Mai lãnh đạm đáp: “Chuyện ấy cả Giáo hội Công Giáo đều biết và đã thuộc về lịch sử!”
Giọng ông Giảng mềm mỏng: “Ngày 2.9.1945 ấy đối với đồng bào Công giáo cũng là ngày “Lễ hội những người tử vì đạo Việt Nam” (tưởng niệm những người đã chết vì đức tin của mình).Việc lựa chọn ngày 2.9 của Cụ Hồ còn là nhằm gắn kết Chính phủ VNDCCH với phía Giáo hội Thiên chúa giáo nữa! GM đồng ý với nhận xét này chứ ạ!”
Gương mặt vị GM khi rạng rỡ, lúc đăm chiêu qua từng câu chuyện nhân tình, thế thái của người ngồi đối diện, tưởng như ngài đang nói chuyện với người thân ở ngoài Bắc trước khi di cư nên mới biết rành rõi về mình đến vậy, nhưng ngài lấy sự im lặng thay cho phản ứng.
Biết tâm trạng phân vân của khách, ông Giảng tươi cười: “Dạ! Tôi xin nói đỡ điều khó nói của ngài: Hiện thời đời sống sinh hoạt của toàn xã hội đang gặp rất nhiều khó khăn, thiếu thốn trăm bề, nhưng đó chỉ là tạm thời, là nhất thời. Đổi lại, chúng ta đã được hưởng quyền lợi rất lớn: Quyền làm người dân của nước tự do độc lập. Quyền ấy lớn lắm, vinh quang lắm. Vinh hạnh tới mức chính cựu hoàng Bảo Đại đã thừa nhận: “Thà làm dân một nước độc lập còn hơn làm vua một nước nô lệ!” Nhà Vua nói điều ấy sau khi đã gạt nước mắt trước hơn hai triệu “con dân” nước Việt chết đói năm 1945 khi đang là hoàng đế trị vì vương quốc này và trước khi cùng GM Lê Hữu Từ làm Cố vấn Tối cao cho Chính phủ VNDCCH. Nước bị nô dịch thì tôn giáo cũng đâu có được coi trọng! Bằng cớ là đại hội Hội đồng GM Đông Dương lần thứ nhất không họp tại Đông Dương mà họp ở nước khác, trong khi đó Toàn quyền Đông Dương lại đặt trụ sở tại Hà Nội. Ông dừng lại, kính cẩn đặt tách trà lên tay vị GM rồi tiếp: Còn tương lai, thưa GM, nhất định nước nhà sẽ là thành viên của khối ASEAN cũng như Liên hiệp quốc và trên mọi phương diện nước ta sẽ ngang hàng với các cường quốc năm châu”.
Kết thúc buổi làm việc thứ nhất, hai người chia tay với hai tâm trạng: Một thanh thản, một nặng nề.
Buổi làm việc thứ hai nghe có chiều thuận tình hơn và đích đến đã dần hiện rõ. Đến giữa buổi, vị GM đột ngột lên tiếng: “Cảm ơn ông đã kêu tôi tới để thụ giáo những lời rao giảng!”
Ông Giảng thảng thốt: “Chết, chết! Nếu đúng như thế thì tôi thành thật xin lỗi, nhưng tôi nhớ là: Chính tay tôi viết giấy “trân trọng kính mời” chứ nào dám vô lễ “kêu” đâu, và cũng chỉ thưa với ngài về những điều mà chúng ta đều biết!” Vị GM thẳng thắn: “Vậy thì kế tiếp là chuyện gì khác nữa, thưa ông?” Ông Giảng nhìn sâu vào đôi mắt vị Giám mục, giọng bình thản: “Nói là khác và không khác cũng chỉ là một thôi ạ! Thưa GM! Chúng tôi mời ngài đến đây với mục đích là giãi bày cơ hội để ngài có dịp thể hiện tinh thần ủng hộ chính quyền Cách mạng, đồng thời cũng là dịp để ngài thể hiện vai trò của bậc chủ chăn”.
Vị GM thẳng thắn hỏi lại: “Ông nói cụ thể được chứ?”
Vậy là chuyện một số vị LM đã từng làm Tuyên úy cho QLVNCH được ông Giảng “đặt lên bàn nghị sự”. Việc các tín đồ công giáo có nghĩa vụ thực hiện Luật pháp của nước sở tại như Giáo luật Hội giáo Công giáo đã quy định cũng được hai bên sôi nổi đàm đạo.
Cuối cùng, ông Giảng cười ý nhị: “Chúng tôi khẩn thiết thỉnh cầu GM động viên các vị LM mà chúng ta đã biết, đến trình diện. Các vị ấy sẽ được chuyển đến nơi học tập trung. Tin chắc trong khi học tập, chúng ta sẽ nhận được nhiều ý kiến góp ý xây dựng quý báu trên mọi lĩnh vực xã hội, kinh tế, văn hóa... của các vị ấy! Với đức tin nhân từ, bác ái cùng tấm lòng kính Chúa yêu nước của ngài, chúng tôi tin là sự việc sẽ được diễn ra trong ấm ngoài êm”. Ông Giảng dừng lại, chắp tay thành kính: “Cầu Chúa ban phước lành!”
Vị GM trầm ngâm giây lát rồi nói: “Việc này tôi không thể tự quyết, nên không trả lời ngay được. Mong các ông thư thả đôi ba bữa.”
Ông Giảng vững tin chờ và nhận được thông tin của GM Nguyễn Hữu Mai: “Trong số các vị LM đó có một vị đang lửng rửng sốt!” Ông Giảng viết thư đáp lễ: “…Chúng tôi hân hạnh được đón nhận tất cả vì đã sắp xếp đội ngũ Y, bác sỹ giỏi với trang thiết bị tốt nhất hiện có, sẵn sàng khám bệnh chu đáo cho từng vị LM ngay khi được gặp”.
Ba ngày sau, một số vị LM kể trên đã được GM Nguyễn Hữu Mai bố trí xe đưa đến. Qua khám sàng lọc, các bác sỹ đã phát hiện LM Nguyễn Tích Đức bị mắc chứng phù. Vị LM này được chuyển ngay đến bệnh viện tỉnh để các thầy thuốc kịp thời chăm sóc. Một số vị LM khác bị nhức đầu sổ mũi cũng được cấp phát thuốc men đầy đủ.
“Anh ạ! Khi triển khai nhiệm vụ, tôi tin tưởng ở chính sách tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng của Đảng và Nhà nước, đồng thời cũng hy vọng rất nhiều ở tấm lòng kính Chúa yêu nước của các vị chức phẩm, nhưng không ngờ kết quả lại lại vượt cả sự mong đợi. Thành tích này của Công an Đắk Lắk đã được Bộ Công an đánh giá rất cao”. Cụ Trần Cao Giảng ở 97 Trần Bình Trọng, Buôn Ma Thuột vui vẻ chốt lại chuỗi tâm sự và tôi đã ghi lại như trên.

Chủ Nhật, 4 tháng 11, 2018

NHỮNG NHỊP CẦU HOÀN LƯƠNG bút ký TRẦN VIẾT NGHĨA - CHƯ YANG SIN SỐ : 234. THÁNG 10 NĂM 2018


Tác phẩm tham dự Cuộc vận động viết bút ký chủ đề
“Công an Đắk Lắk bản lĩnh, nhân văn, vì nhân dân phục vụ”



Từ chuyện của người 2 lần cứu phạm nhân thoát chết…
Một buổi sáng đầu tháng 4 năm 2015, Trung úy Võ Thị Hiếu, cán bộ quản giáo thuộc Phân trại quản lý phạm nhân, Trại tạm giam Công an tỉnh Đắk Lắk đang cùng đồng đội kiểm tra các buồng giam theo kế hoạch thì có lệnh của Giám thị về việc tiếp nhận phạm nhân mới. Người được “nhập kho” lần này là một phạm nhân nữ tên là Nguyễn Thị Thu Thủy. Thủy là một cô gái còn khá trẻ. Khác với đa số những phạm nhân nữ trước đây, khi nhập trại, cô nào cũng “nhũn như con chi chi”, Thủy chẳng những không tỏ ra sợ sệt, mà thái độ còn lầm lỳ, tỏ vẻ bất cần đời. Hiếu và đồng đội phải rất khó khăn khi hướng dẫn Thủy làm các thủ tục cần thiết theo quy định, và khi cánh cửa buồng giam vừa khép lại, tiếng la hét, đập phá của Thủy ở bên trong bắt đầu náo động dãy buồng giam. Tìm hiểu nhanh hồ sơ, được biết Thủy mới 19 tuổi, phạm tội cưỡng đoạt tài sản. Lại là những mô típ cũ, quen thuộc, những cô gái mới lớn, học đòi ăn chơi lêu lổng, bỏ nhà “đi bụi”, hết tiền, phạm tội, vào tù. Trong một lần đưa “bạn trai” vào nhà nghỉ, Thủy đã dọa nạt lấy hết tài sản của khách bán lấy tiền tiêu xài. Sự việc bị phát giác, Thủy bị xử 4 năm tù giam. Những ngày đầu vào trại của Thủy là những ngày vất vả của các quản giáo. Thủy tỏ vẻ chán nản, tuyệt vọng, bất hợp tác, luôn tìm cách quậy phá, yêu sách đủ điều, Thủy dọa nếu không làm theo ý, cô ta sẽ tự tử. Với kinh nghiệm của mình, Hiếu biết không sớm thì muộn, cô ta sẽ thực hiện ý đồ. Chính vì vậy, ngoài nhiệm vụ hàng ngày như các phạm nhân khác, Hiếu luôn dành sự quan tâm đặc biệt đối với Thủy. Từng ánh mắt, hành động, cử chỉ nhỏ nhất của cô, đều được Hiếu ghi nhận. Sau này, khi kể lại câu chuyện, Hiếu cũng không hiểu vì sao buổi trưa hôm đó mình lại có cảm giác bồn chồn, bất ổn không yên. Hiếu nhớ lại, cuối buổi sáng nay hình như Thủy có những biểu hiện rất lạ. Khi gặp quản giáo, cô ta không còn la hét như mọi khi, thay vào đó là cái nhìn bất động. Sau bao lần dọa tự tử, có thể là trưa nay không? Suy nghĩ mãi về cái nhìn của Thủy, Hiếu quyết định bỏ thời gian nghỉ trưa để đến đơn vị sớm hơn so với quy định. Và khi cả dãy phòng giam đang yên ắng giấc trưa, cửa phòng giam của Thủy bật mở thì một cảnh tượng hãi hùng đập vào mắt Hiếu, Thủy đang treo lủng lẳng trên cửa sổ với chiếc dây cột màn, chân tay khua khoắng, cổ họng tắc nghẹn. Hiếu chỉ kịp cắt dây, thân hình mềm oặt của Thủy đổ xuống vai Hiếu. Nước mắt của hai người phụ nữ cứ thế tuôn trào. Hiếu cảm nhận rõ vòng tay của Thủy quàng qua mình siết chặt. Sau này, khi Thủy đã trở thành một phạm nhân tích cực, khi đã trở thành “người bạn” với đúng nghĩa của nó, Hiếu mới biết rằng, Thủy đã có ý định tự tử rất lâu rồi nhưng chưa có cơ hội; ý định quyên sinh cũng chỉ là suy nghĩ bồng bột của Thủy trong lúc tuyệt vọng. Và sau khi được Hiếu cứu sống, thì những giọt nước mắt rất thật của người nữ quản giáo chính là động lực giúp Thủy tỉnh ngộ, thay đổi, giúp cô nhận ra sự nông nổi của mình và giá trị của sự sống. Chuyện gì sẽ xảy ra khi một cán bộ quản giáo vẫn hoàn thành đúng nhiệm vụ của mình, vẫn giao ca và đến đơn vị đúng giờ theo quy định? Chuyện gì sẽ xảy ra khi ta vẫn để những áy náy, “lợn cợn” trong lòng và tiếc một giấc ngủ trưa?
 Cũng là những “lợn cợn” ấy, mà cũng có thể là linh cảm của người phụ nữ, đã giúp Hiếu tiếp tục dành lại sự sống, dành lại cuộc đời cho một phạm nhân khác trong lúc tuyệt vọng nhất. Lần này là một phụ nữ tên Huê với cái án ma túy 20 năm. Người phụ nữ mang trong mình hoàn cảnh rất đặc biệt. Cả hai vợ chồng đều “dính” án ma túy, như hầu hết những tội phạm ma túy khác, xác định đã vào tù là vào con đường chết, nên người chồng đã không vượt qua được nỗi sợ hãi phải đối mặt với một cái án tử hình, anh ta đã treo cổ tự tử trước khi được đưa ra xét xử. Còn lại bà Huê với một gia đình tan nát, sự bỏ rơi của xã hội, sự tuyệt vọng đến cùng cực, cảnh tượng bị giam hãm trong bốn bức tường lạnh ngắt kéo dài 20 năm đằng đẵng đã làm bà suy sụp. Chỉ có cái chết mới đem lại sự giải thoát đang hàng ngày, hàng giờ đè nặng lên trái tim! Còn quản giáo Hiếu, với nghiệp vụ của mình, không khó để nhận ra vấn đề của phạm nhân mình đang quản lý. Chính vì vậy, ngoài việc hàng ngày thực hiện nghiêm túc những quy định của Trại đối với buồng giam và từng phạm nhân, Hiếu luôn canh cánh một nỗi lo trong lòng, có chỗ nào mình còn sơ hở, có điều kiện nào để bà Hằng còn có thể còn lợi dụng được để trốn trại, để vi phạm, để quyên sinh? Và vào một buổi tối trằn trọc ở nhà, Hiếu đã bật dậy, thôi chết, trong buồng giam của người phụ nữ mang án ma túy còn một bể nước vệ sinh, đủ sâu để cho một con người trầm mình nhẹ nhàng mà không bị phát hiện. Hiếu tức tốc lên chạy lên đơn vị, cô báo cáo đề nghị Giám thị cho hút hết nước tại bể nước vệ sinh trong buồng giam của bà Hằng trước sự ngạc nhiên của tất cả mọi người. Sau này, chỉ đến khi có lệnh chuyển trại, gặp nữ phạm nhân của mình đề chia tay, Hiếu mới giật mình biết rằng bà Hằng đã ấp ủ âm mưu tự tử trong bồn nước vệ sinh từ lâu, nhưng chưa có cơ hội. Bà Hằng cũng khóc với cô rằng bà sẽ không bao giờ quên ơn cô khi thi hành xong án phạt tù.        
…Đến “người bạn” của những tử tù
        Trong suốt 13 năm làm cán bộ quản giáo, Đại úy Lưu Văn Dũng – cán bộ Đội quản giáo can phạm, Trại trạm giam Công an tỉnh Đắk Lắk không thể nhớ hết có bao nhiêu phạm nhân mang án tử hình đã “qua tay” mình. Chàng trai quê Nghệ An ngồi trước mặt tôi, với nước da rắn rỏi, khuôn mặt cương nghị, nói năng có phần bộc trực, nhưng ai biết phía sâu bên trong, anh là một con người sống rất nội tâm và tình cảm.
        - Khó khăn nhất của em khi quản lý tử tù là gì? Tôi hỏi.
        - (Cười). Thế này nhé! Anh thử đặt mình trong hoàn cảnh của một tử tù thì sẽ thấy ngay những khó khăn vất vả của tụi em!
Tử tù - những người vi phạm pháp luật, bị tòa án kết án tử hình và đang bị giam giữ trong trại giam chờ ngày thi hành án. Một định nghĩa rất đơn giản và dễ hiểu qua cách giải thích của Dũng, nhưng qua những việc làm hàng ngày của anh và đồng đội, tôi nhận ra công việc của các anh phức tạp và gian nan đến mức nào. Tử tù thường là những tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, là đối tượng phức tạp, có nhiều tiền án, tiền sự, nhiều đối tượng đã nhiễm HIV. Với bản tính hung hãn, mưu mô, xảo quyệt và với tâm lý của những người không còn gì để mất, tử tù có thể làm mọi thứ! Có những quy định hết sức đặc biệt để quản lý tử tù trước khi thi hành án. Chẳng hạn, mọi sinh hoạt của người bị kết án tử hình đều được thực hiện trong buồng giam. Trường hợp người bị kết án tử hình có biểu hiện tự sát, chống phá, trốn khỏi nơi giam hoặc có hành vi nguy hiểm khác thì có thể bị cùm một chân 24/24 giờ; mỗi tuần chỉ được đổi chân cùm một lần; mỗi ngày được mở cùm 1 lần không quá mười lăm phút để làm vệ sinh cá nhân; và khi mở cùm, nhất thiết phải có chiến sĩ vũ trang bảo vệ… Thời gian chờ ngày thi hành án là khoảng thời gian khủng khiếp nhất của tử tù. Anh ta biết rằng mình sẽ chết, nhưng cái chết đến lúc nào thì ngay cả đối với cán bộ quản giáo cũng là bí mật. Nằm trong 4 bước tường lạnh giá, chờ đợi từng ngày, từng giờ, không còn khái niệm về không gian và thời gian, anh chỉ biết rằng một ngày trôi qua là một ngày anh còn được sống. Rất có thể đêm nay, nửa đêm, hoặc gần sáng, anh đang chìm trong giấc ngủ, những tiếng gót giày rầm rập vội vã, tiếng lách cách lạnh lùng của cánh cửa buồng giam, của còng số 8 vang lên làm anh hốt hoảng, và đó chính là ngày cuối cùng được sống của anh. Có những tử tù chỉ sau vài tháng xét xử là bản án sẽ được thi hành, nhưng có người kéo dài đến 2 năm! Thử tưởng tượng 2 năm ròng rã sống trong cảm giác chờ đợi, lo sợ không biết khi nào sẽ đến lượt mình, 2 năm ròng không một đêm nào được yên giấc ngủ, 2 năm ròng của sự hành hạ về thể xác, tâm hồn đến cùng cực. Sự hành xác của tử tù là lớn đến mức nào. Bởi thế, có những tử tù sau khi viết đơn xin giảm án không thành, họ đã viết đơn xin được chết sớm, vì không chịu đựng nổi!
Để quản lý những “người đặc biệt” ấy, đòi hỏi ngoài việc chấp hành nghiêm các quy định của pháp luật về giam giữ, người cán bộ quản giáo còn phải có chuyên môn nghiệp vụ tốt, một tư thế, tác phong chuẩn mực và một sự chịu đựng phi thường. Đại úy Dũng cũng không nhớ hết những lời chửi bới, rủa sả nặng nề của tử tù đối với mình mỗi lần vào thay cùm cho họ, anh cũng đã từng nhiều lần bị đối tượng nhổ vào mặt, bôi chất bẩn lên người và làm đủ những chiêu trò mà một tử tù có thể nghĩ ra. Anh đã chịu đựng! Đối với Dũng, cũng như các phạm nhân khác, tử tù là những người vi phạm pháp luật, ở góc độ nào đó họ đại diện cho cái ác, cái xấu. Tuy nhiên, họ đã bị trừng trị bằng một bản án thích đáng cho hành vi phạm tội của mình. Chính vì vây, khi vào đây, họ cũng chỉ là một con người bình thường, do đó, cũng phải đối xử với họ như những con người. Chính suy nghĩ ấy đã giúp anh luôn có sự gần gũi, đồng cảm, sẻ chia với các tử tù. Can phạm nhân không có chế độ ăn buổi sáng, việc bỏ tiền túi mua mì tôm, mua xôi cho tử tù là việc làm nằm trong kế hoạch chi tiêu hàng tháng của Dũng; các từ tù hầu hết đều bị gia đình, người thân bỏ rơi, “người bạn” gần gũi nhất của tử tù, không ai khác cũng chính là cán bộ quản giáo. Chính những suy nghĩ, việc làm của Dũng đã biến anh trở thành cán bộ quản giáo tử tù khó có thể thay thế tại Trại tạm giam Công an tỉnh hiện nay. Cũng chính vì vậy, đã mấy lần Ban giám thị quan tâm, chuyển Dũng đến bộ phận khác nhẹ nhàng hơn, gọi là để thay đổi không khí. Nhưng chỉ được một thời gian, Dũng lại được điều vào quản giáo tử tù!
Hiện nay, Trại tạm giam Công an tỉnh đang tạm giam 4 tử tù, Dũng và một đồng đội của anh, mỗi người quản lý 2 tử tù. Và cũng như những tử tù đã “qua tay” họ, không một ai biết được ngày cuối cùng của mình lúc nào sẽ đến. Hàng ngày, những “hỉ, nộ, ái, ố” của tử tù vẫn xảy ra thách thức sự chịu đựng của cán bộ quản giáo. Tuy nhiên, đối với cá nhân Dũng, hơn 13 năm trong nghề, anh chưa để xảy ra một trường hợp nào can phạm nhân vi phạm quy chế. Các tử tù được đảm bảo an toàn tuyệt đối đến ngày thi hành án. Đó là một nỗ lực rất lớn đối với người cán bộ quản giáo trong một công việc hết sức đặt biệt. Tử tù cuối cùng rồi cũng phải thi hành án, cuộc sống của họ rồi cũng phải chấm dứt, anh chỉ giúp con đường đi đến cái chết của họ được nhẹ nhàng hơn, thanh thản hơn. Thiết nghĩ, đó cũng là một việc làm nhân văn của Dũng và đồng đội, những cán bộ quản giáo tử tù. 
Và những nhịp cầu hoàn lương
Đại úy Lưu Văn Dũng và Trung úy Võ Thị Hiếu là hai trong rất nhiều gương mặt mà tôi có dịp được gặp gỡ, tiếp xúc, trò chuyện tại Trại tam giam Công an tỉnh Đắk Lắk. Còn rất nhiều những gương mặt, việc làm của cán bộ, chiến sỹ ở đây mà tôi không có điều kiện tìm hiểu hết. Từ Đại tá, Giám thị Võ Huy Hòa – người có công rất lớn trong việc vận động các nguồn kinh phí xây dựng Trại tạm giam Công an tỉnh trở thành một “hoa viên”, cải thiện từng bữa ăn cho can phạm nhân, đến Đại úy quản giáo Phan Văn Nam hàng ngày đều đặn mua báo cho phạm nhân đọc. Tất cả những việc làm của họ, có những việc làm cao cả, có những việc làm rất đỗi đời thường, nhưng đều hướng đến một mục đích chung, đó là giúp cho can phạm nhân có một môi trường cải tạo thật tốt, sớm được trở về cuộc sống đời thường.
Chưa có một thống kê nào để biết rằng, những can phạm nhân được chấp hành án phạt tù tại Trại tạm giam Công an tỉnh, sau khi về cộng đồng, bao nhiêu trong số họ tìm được con đường hoàn lương, bao nhiêu trong số họ tiếp tục tái phạm. Chỉ biết rằng, với Trung úy Võ Thị Hiếu, ngoài hai lần cứu phạm nhân thoát chết, chị còn là người “mẹ hiền” của những đứa con, là chỗ dựa tinh thần, vật chất cho những hoàn cảnh nữ can phạm nhân phải sinh nở và nuôi con ngay trong phòng giam. Còn với Đại úy Phan Văn Nam, việc bỏ tiền túi ra hàng ngày mua một vài tờ báo mới đem vào cho phạm nhân chuyền tay nhau đọc đã trở thành một thói quen của anh vào mỗi buổi sáng. Những cán bộ quản giáo đến nơi làm việc với thùng mì tôm, gói xôi sáng ăn thêm cho phạm nhân là hình ảnh bình thường, dễ dàng bắt gặp ở nơi đây. Chính những việc làm cụ thể, xuất phát từ tình cảm con người với con người, hoàn toàn tự nguyện của quản giáo chứ không phải những quy định cứng nhắc của pháp luật, nội quy, quy chế Trại giam đã tác động tích cực đến tình cảm, suy nghĩ của từng can phạm nhân, giúp họ yên tâm chấp hành án, tin tưởng vào sự nghiêm minh của pháp luật và tự tin hơn trong hành trình tái hòa nhập cộng đồng. Hôm trò chuyện với tôi, Trung úy Võ Thị Hiếu không giấu được niềm vui, cô cho biết, tháng trước gia đình cô được đón tiếp những vị khách đặc biệt, đó là 2 mẹ con một phạm nhân cũ đã chấp hành xong bản án đến thăm, được bồng trên tay đứa bé mà mình đã trực tiếp chăm sóc, nuôi nấng từ khi mới lọt lòng trong Trại ngày nào, nay đã bi bô, chập chững, biết được những nỗ lực cố gắng, tiến bộ từng ngày của người nữ phạm nhân cũ trên con đường hoàn lương tại địa phương, Hiếu đã không cầm được nước mắt. Những giọt nước mắt đồng cảm, sung sướng và hạnh phúc, cô khóc vì những nỗ lực cố gắng, chịu đựng, sẻ chia… của mình đã được đơm hoa, kết quả.
“Giúp được một người phạm tội hoàn lương, trở thành người tốt, cũng là một cách giảm bớt cho xã hội một tội phạm, giảm bớt được gánh nặng cho bao nhiêu người, cũng là góp phần đem lại bình yên và hạnh phúc cho Nhân dân. Đó cũng chính trách nhiệm của mỗi cán bộ, chiến sĩ Công an chúng em, anh ạ”.
Khi trích lời tâm sự rất thật của Hiếu để kết lại bài viết này, tôi chợt nghĩ, có phải Hiếu đang nói thay lời cho đồng đội, cho tập thể cán bộ, chiến sĩ Trại tạm giam Công an tỉnh, những người đang ngày đêm lặng lẽ góp thêm cho đời những điều tốt đẹp. Họ chính là những sự thể hiện cụ thể nhất về “bản lĩnh, nhân văn, vì Nhân dân phục vụ” của lực lượng Công an nhân dân!


Ghi chú: Để đảm bảo quyền riêng tư, tên can phạm nhân trong bài viết này đã được thay đổi.



Thứ Năm, 1 tháng 11, 2018

NGƯỜI NGỦ NGỒI truyện ngắn của TRẦN BĂNG KHUÊ - CHƯ YANG SIN SỐ : 234. THÁNG 10 NĂM 2018

            

1.
Vách tường in bóng người.
Đêm làm nền cho ánh sáng đè nghiến những cái bóng lên nhau. Lẫn lộn. Người in bóng lên vách tường. Vách tường mờ đục ảo những ảo giác khập khiễng dáng hình của một chiếc lưng cong, một cái đầu gập xuống gối. Im lặng. Vo ve. Tiếng muỗi. Thêm vài thanh âm từ những chiếc giường bệnh bật khe khẽ rên xiết trong đêm tối. Bóng của đêm, của những người ngủ ngồi chập choạng mờ ảo rồi nhập vào nhau thành một.
Ông không rên xiết. Ông không la lối gào thét. Ông cũng chẳng hề ngọ nguậy đổi tư thế của mình mỗi lần cơn đau chạy dọc trằn ngang hoặc lấn chồng lên đỉnh đầu ông rồi cấu xé những sợi dây thần kinh đã hóa thép từ thời khói lửa chiến chinh. Ông lặng yên ngẫm nghĩ về một cơn đau, chịu đựng cơn đau ấy trong đêm giữa những bức tường quét vôi lành lặn.
Bất giác, ông nhớ tiếng bom, ông nhớ mùi thuốc súng, ông nhớ ánh lửa lóe lên từ những nòng pháo sáng lấp lánh một thời trai trẻ đầy lý tưởng và chí khí hùng anh. Ông chỉ nhớ bấy nhiêu thứ vào những đêm bình yên như thế này, khi vách tường in bóng ông. Bóng ông dán chặt vào vách tường trong tư thế ngủ ngồi đã gần một tháng ở bệnh viện quân y này.
Những đêm không chợp mắt, ông đốt khói, phẩy phẩy tàn đóm đùa chơi với cái bóng của mình. (Như khi còn trẻ, khỏe). Giờ ông chỉ mới năm mươi chín, gần một đời người ngắn ngủi mốc thếch sáu mươi. Tóc người ta thì bạc nửa đầu. Tóc ông vẫn xanh đen mượt mà (như thời trẻ, khỏe). Ông nhìn tàn đóm đỏ như lửa ma trơi. Khói lất phất như sương buổi sớm. Sương của đất trời. Sương của đời người. Sương lén nấp trong những ngôi mộ cỏ. Ông nghiện khói. Khói trong lửa. Khói trong nòng súng. Khói từ đạn pháo. Khói lấp lánh niềm tin ngày không còn chiến tranh. Khói ấp ủ tình yêu và mơ ước bếp núc hòa bình. Khói ru mơ những giấc mộng trẻ trai của một người đàn ông với lồng ngực đầy khát khao trở về làng quê hiền lành sau con đê, sau cánh đồng lúa chín.
2.
Người đàn bà đốt rơm ngoài đồng, đốt lửa tro trấu trong bếp mỗi ngày trời sáng và tối ngồi tựa lưng vào góc bàn cũ kỹ ngày xưa chồng bà vẫn ngồi phả khói qua điếu cày, mắt nhìn đăm đăm vào khoảng tối bên ngoài cánh cửa. Ba gian nhà trống, buồn. Những ngày giáp tết khi còn ông, bà nhớ, bà đã háo hức như thế nào khi chuẩn bị dây lạt, lá, đậu xanh, thịt ba chỉ để gói bánh, rồi ông tranh phần ngồi canh nồi bánh ban đêm.
Mới đó, đã gần hết năm hết tháng. Chiếc trường kỉ thiếu bóng dáng ông, không có màu khói, phủ bụi, dưới góc bàn thiếu cái xô đựng bã chè quen thuộc. Bà ngước mắt lên di ảnh của ông, nén tiếng thở dài rồi nhìn ra phía cổng nhà. Nhiều bận bà mong ngóng bóng dáng nào đó quen thuộc. Nhưng, chẳng có gì ngoài những ngọn lúa xanh rì lất phất trong gió. Ông không còn phải ngủ ngồi như ngày ở viện K nữa. Ông nằm thẳng, sâu dưới ba tấc đất, xương thịt hình hài giờ hẳn cũng đã tan thành cát bụi. Bà nghĩ ngợi đến trắng cả tóc. Người đàn bà mới hơn năm mươi tuổi. Tóc đã bạc nửa đầu. Ngày ông đi, tóc ông vẫn đen nhánh như thời trai trẻ.
Chẳng mấy chốc mà đời người lặng lẽ vụt qua hệt gió thoảng, mây bay.
Trưa mùa thu. Mắt bà lim dim mỏi mệt.
Bà chẳng biết từ bao giờ bà có thói quen ngủ ngồi giữa trưa, sau khi liếc nhìn di ảnh ông, vài thứ vật dụng những ngày ông còn sống vẫn dùng, vài bức ảnh gia đình đã cũ. Bà nhìn vào xô đựng bã chè, chỉ thiếu mỗi ống điếu. Ông bị K phổi. K phổi thì đi nhanh lắm. Bà thở dài đánh thượt. Chẳng biết, sẽ có bao nhiêu người ngủ ngồi như ông ở cái làng này.
Tiếng trẻ con ồn ã phía ngoài sân phơi. Thằng cháu nhỏ từ đâu chạy tót sà vào lòng bà nũng nịu: “bà ơi, bà lại ngủ ngồi nữa à?”. 
Bà mở mắt, vòng tay ôm thằng cháu nhỏ, vừa mắng yêu: “cha bố mày”. Bà nhớ ông. Khi ông đi, thằng nhỏ vẫn còn nằm trong bụng mẹ. Bà nhớ, những ngày ông ở viện K. Cơn đau của người bị K giai đoạn cuối hành hạ cơ thể gầy guộc của ông, hành hạ giấc ngủ bình yên của người lính trở về từ những chiến trường năm xưa. “Chẳng có cuộc chiến nào thực sự dừng lại”, bà nghĩ thế. Đời người vốn dĩ chỉ là một cuộc chiến không ngừng nghỉ. Người ta sống và chết với chúng hàng ngày hàng giờ.
3.
Mùa xuân thứ ba anh xa nhà.
Anh ngước mắt nhìn qua cửa sổ. Một thân cây gầy guộc khô quắt vừa mới qua mùa đông đã bắt đầu nhú mầm non của lá, đơm nụ đợi những cánh hoa tươi mơn mởn bung nở. Ở xứ lạnh. Thu, Xuân cũng như Đông. Bước chân ra đường chưa bao giờ rời khỏi chiếc áo ấm. Anh nhận thấy có thứ cảm giác nào đó khá quen thuộc. Như hơi hướm của cái lạnh mùa xuân xứ Bắc ở quê nhà. Anh chợt nhớ, tối qua, anh mở lại đoạn ghi âm giọng nói của người đàn ông ngủ ngồi ở viện K ngày nào. Hình dáng đó ám ảnh, khiến anh xót xa đến tận bây giờ. Anh mở đi mở lại đoạn ghi âm chỉ có một câu ngắn ngủi, “thịt gà được chưa vớt ra đi”. Mỗi đợt về thăm nhà, người đàn ông ngủ ngồi của anh luôn xoắn xuýt đón thằng con trai lớn như thế. Mẹ thì tất tả rau cám lợn gà, cũng không quên làm thêm vài món anh thích.
Anh mỉm cười, khi nghe lại đoạn ghi âm lần nữa. Vợ anh thủng thẳng nói, “giá anh ghi âm nhiều hơn nhỉ”. Giọng nói của người đàn ông ngủ ngồi vẫn ấm áp, gần gũi như thế.
Hôm nay, anh gật gà giữa bộn bề chữ nghĩa trong office. Phòng làm việc riêng của những nghiên cứu sinh quốc tế. Anh rời nhà cũng đã ba năm. Tóc người đàn bà ở nhà hẳn cũng đã thêm vài phần bạc trắng. Có bận anh gọi điện về, nghe thằng cháu bi bô đủ chuyện trên trời dưới đất, lại còn tranh thủ khoe với anh, vài lần nó bắt gặp bà ngủ gật. Anh chạnh lòng nhớ người đàn ông ngủ ngồi những ngày ở viện K. Hóa ra không chỉ mỗi mình anh nhớ. Sau vài câu chuyện hỏi han, bà lại thông tin cho anh về cái chết của những người làng trên xóm dưới. Quê anh chỉ có chừng đó chuyện, cưới hỏi, ma chay, sống và chết. Những cái chết đều đặn đến. Mộ phần đều đặn mọc lên. Khói hương đều đặn nghi nghút. Già, trẻ, lớn, bé, đời người ai cũng phải chết. Anh biết vậy, nhưng lòng vẫn buồn hun hút. Có những cái chết theo quy luật sinh lão bệnh tử thì khá bình thường. Còn những cái chết bất đắc dĩ bởi căn bệnh K vô phương cứu chữa ở quê nhà, khiến anh nghĩ ngợi mông lung nhiều hơn.
Anh rời khỏi office. Bước chân xuống phố. Đường phố không có sự đông đúc nhộn nhịp đến nghẹt thở. Không khí rất trong lành. Cây cối tươi xanh mơn mởn. Nơi này đã mùa xuân. Một chút se lạnh len lỏi vào cổ áo. Bên vỉa hè bất giác hiện lên hình ảnh của một người đàn ông vô gia cư đang ngủ gà ngủ gật dưới ánh đèn đường. Anh chợt nghĩ, “hóa ra, những người ngủ ngồi có mặt ở khắp mọi nơi”.