Thứ Tư, 14 tháng 11, 2018

ĐỒNG THOẠI TRONG TÁC PHẨM “DÃ THÚ” CỦA ĐỖ TRỌNG PHỤNG lời bình của KHÔI NGUYÊN - CHƯ YANG SIN SỐ: 234 - THÁNG 10 NĂM 2018


 Nhà văn Lê Khôi Nguyên

Theo nguyên nghĩa, xuất phát từ Trung Hoa, thì “đồng thoại” là truyện viết cho trẻ em, nhưng khi du nhập vào Việt Nam, thì nghĩa của đồng thoại đã được thu hẹp về biên độ, chỉ con được hiểu là một phương pháp sáng tác theo trí tưởng tượng mà ở đó con người cũng như những vật vô tri thoát được ra khỏi những vốn dĩ của nó. Với tác phẩm “Dã Thú” của Đỗ Trọng Phụng (NXB Kim Đồng – tháng 6/2018), đồng thoại là cơ hội cho sự tung hoành về trí trưởng tượng của tác giả.
Mở đầu truyện, câu hỏi: “Thích đi xem voi đẻ hông?” của nhân vật ama Tâm đã gây sự tò mò cho bạn đọc, không chỉ đối với trẻ em mà ngay cả người lớn đã gắn bó ăn đời ở kiếp với đất Tây Nguyên này. Voi nhà thì không phải rồi, chỉ có voi rừng mới có chuyện sinh nở. Chính vì thế Cọng Khèo (nhân vật chính, ngôi thứ nhất trong chuyện) mới có sự mông lung trong mọi cách cảm và cách nghĩ khi được chứng kiến những sự việc diễn ra trước mắt.
Bắt đầu là với ama Tâm, một người bạn rất thân, thân đến nỗi khi gần nhau thì có thể cãi nhau không biết dứt, nhưng khi xa nhau là lại lồng lộn đi tìm, cứ vài ngày không thấy mặt là lại lọ mọ hơn chục cây số để được gặp nhau. Với Cọng Khèo thì ama Tâm lúc thì là giàng thiện, nhưng cũng có lúc là giàng ác. Thiện và ác ẩn chứa trong một con người. Ama Tâm là người rất am hiểu về rừng nhưng cũng bảo thủ đến cực đoan về luật tục. Để chuẩn bị cho việc xem voi đẻ phải “cai hai tuần” việc ngủ với vợ, không được uống rượu; trước khi vào rừng một tuần thì “không bước vô cửa buồng vợ, không nói tục, không nói dối, không được làm những việc xấu xa...”; phải chuẩn bị sẵn chiếc áo trùm lưng voi nửa tháng để lấy hơi voi để mặc thay mùi người; vào rừng không được hét dù có bị cọp beo vồ...
Sau ama Tâm là bầy voi. Loài thú hoang dã nhưng có tổ chức, có cá biệt, có thế giới ngôn ngữ giao tiếp với đồng loại và với cả con người. Mỗi cá thể voi một đặc điểm, một tính nết. Voi Đầu khôn ngoan, đầy kinh nghiệm; voi Sếp khí khái; voi Đầu trọc đầy chất giang hồ; voi Ché ngà với tính lãng tử, voi chồng tận tụy, voi bà đỡ có trách nhiệm, voi phụ sản nhõng nhẽo... mỗi con mỗi vẻ như ở thế giới loài người, biết yêu thương hờn giận, ân nghĩa. Chính vì vậy, thái độ của bầy voi đối với hai người có lúc đầy cảnh giác nhưng cũng có lúc đầy thân thiết. Voi cũng có rẫy mía và chuối của bầy đàn nhưng không bao giờ tự tiện bước vô vì đó là chế độ “phụ cấp ưu tiên, ưu đãi” ngoài thức ăn hàng ngày kiếm được của voi mang bầu, voi sắp sinh, rồi mới đến voi con, cuối cùng là dành cho voi già. Của voi rồi nên voi không ăn trộm, không phá phách, không tự tiện bước vô... nên cứ vài ngày là ama Tâm lại đến “thu hoạch” giúp cho voi đưa về phân phối trong bầy đàn. Con người (ama Tâm) với voi không chỉ giao tiếp bằng hành động, cử chỉ mà còn bằng cả ngôn ngữ. Voi không nói được tiếng người nhưng hiểu được ý của người; người hiểu được ý voi và nói được ngôn ngữ của voi. Điều đó khiến người đọc cũng giống như nhân vật Cọng Khèo, cứ ngơ ngơ ngác ngác, tò mò, vừa sợ hãi vừa thú vị...
Trong khoảng trống giao tiếp giữa hai người với bầy voi là sự xuất hiện của vợ chồng nhà báo, báo Hoa (báo vợ) và báo Vàng (báo chồng). Báo hoa đã từng cắn chết 5 người trong một gia đình để lót ổ, nay nó đang có chửa, đang canh giữ miếng mồi dự trữ, dã thú đã ác lại càng ác hơn. Tuy nhiên báo Vàng, đã từng được con người cứu vớt nên ân nghĩa với con người, nhẫn nại thuyết phục vợ để báo Hoa trở nên hiền từ.
Trận chiến giữa bầy voi và bầy cọp là một hoạt cảnh đầy chất nhân hóa. Có bày binh bố trận, có chiến thuật, có mưu mô thủ đoạn... Tác giả mặc sức tung hoành trí tưởng tượng về hai thế lực “ta và địch”. “Địch” có động thái tấn công, “ta” có động thái phòng thủ; “địch” tấn công, “ta” phòng ngự và cầm cự; “ta” có lúc tưởng như đã chắc thắng nhưng lại hở sườn để cho “địch” có cơ hội lật lại thế trận. Tới cao trào của sự nguy cấp thì “ta” (bầy voi) có thêm tiếp viện đến ứng cứu (con người và vợ chồng nhà báo)... Kết thúc trận chiến vẫn là “ta” thắng “địch” thua. Nhưng chiến thắng nào của cuộc huyết chiến cũng phải đánh đổi bằng xương máu, tính mạng. Bi hùng là thế.
“Dã thú” là chuyện đồng thoại, viết cho trẻ em. Giá như tác giả đừng lạm dụng ngôn ngữ giao tiếp với voi (theo tưởng tượng), đừng đưa vào đó (hoặc giảm đi) những chi tiết và những triết lý nhân sinh dành cho người lớn thì tác phẩm của Đỗ Trọng Phụng sẽ không kém những tác phẩm đã đi vào lòng người như Thú rừng Tây Nguyên của Thiên Lương, Văn Ngan tướng công của Vũ Tú Nam, Ông Than đá của Viết Linh, Chú Đất nung của Nguyễn Kiên, Chú gà Trống Choai của Hải Hồ, Cô Bê hai mươi của Văn Biển, Chó Bi – đời lưu lạc của Ma Văn Kháng, Hạt nắng bé con của Phan Trung Hiếu, hoặc thơ viết cho thiếu nhi của Phạm Hổ (điển hình là tập Chú bò tìm bạn)... Tuy nhiên, tôi vẫn khẳng định rằng: Dã thú của Đỗ Trọng Phụng đã gửi được thông điệp “hãy yêu thiên nhiên, sống cùng thiên nhiên và vì thiên nhiên” đến với bạn đọc.

Thứ Ba, 13 tháng 11, 2018

VĂN CHIÊU HỒN, TÁC PHẨM NGÂM KHÚC GIÁ TRỊ CỦA NGUYỄN DU lời bình của PHẠM TUẤN VŨ - CHƯ YANG SIN SỐ: 234 - THÁNG 10 NĂM 2018




Lâu nay, nhắc đến thể loại ngâm khúc, người ta nghĩ đến ngay hai đỉnh cao: Chinh phụ ngâm bản dịch hiện hành của Phan Huy Ích (quan niệm truyền thống cho là của Đoàn Thị Điểm) và Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều mà ít khi đề cập đến Văn tế thập loại chúng sinh (còn gọi là Văn chiêu hồn) của Nguyễn Du. Tương tự, khi nhắc đến đại thi hào Nguyễn Du, người ta nghĩ ngay đến hai đỉnh cao trong sự nghiệp sáng tác của ông là truyện Nôm và thơ chữ Hán mà dường như quên mất ông còn là một tác giả ngâm khúc. Chúng tôi cho rằng, Văn chiêu hồn là một tác phẩm ngâm khúc giá trị và Nguyễn Du với tác phẩm này là một tác giả ngâm khúc xuất sắc, có đóng góp nhất định vào sự phát triển rực rỡ của thể loại ngâm khúc trong văn học trung đại Việt Nam.
Văn chiêu hồn là cách gọi tắt phổ biến của người đời sau đối với Văn tế thập loại chúng sinh, một trong những đỉnh cao ở mảng sáng tác bằng chữ Nôm của Nguyễn Du, bên cạnh Đoạn trường tân thanh hay còn được gọi là Truyện Kiều.
Về thời điểm ra đời của tác phẩm, hiện nay vẫn chưa được xác định cụ thể. Theo sự phỏng đoán của Giáo sư Hoàng Xuân Hãn, có thể tác phẩm này ra đời cùng thời với Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm khúc, trong thời gian ông làm Cai bạ tại Quảng Bình (1902-1812), tức là trước cả Truyện Kiều. Tác phẩm là “một bài văn khấn tế, hình thức mang tính chất tôn giáo trong văn học Việt Nam, đề cập đến những hồn ma một cách thương cảm nhất”. Điều này giải thích cho hiện tượng tác phẩm thấm đẫm tinh thần Phật giáo này được lưu hành rộng rãi trong các nhà chùa, thậm chí còn có quan niệm xem đây là bản kinh Phật của người Việt.
Mang tên văn tế nhưng Văn tế thập loại chúng sinh của Nguyễn Du không thuộc thể loại văn học chức năng này. Dấu hiệu dễ nhận biết nhất là tác phẩm này viết bằng thơ, tức văn vần, khác với lối văn biền ngẫu đặc trưng của văn tế và nhiều thể loại văn học chức năng khác (như hịch, cáo, chiếu, biểu,…).
Xét một cách nghiêm ngặt, có thể xem Văn chiêu hồn là tác phẩm văn tế phá cách (vi phạm tính quy phạm của thể loại ở việc không sử dụng lối văn biền ngẫu, không tuân theo bố cục 4 phần lung khởi, thích thực, ai vãn và kết…). Nhưng xét về bản chất, Văn chiêu hồn là một tác phẩm ngâm khúc. Bởi tác phẩm này thỏa mãn các tiêu chí của thể loại này: Là tác phẩm trữ tình dài hơi (184 câu thơ), phản ánh những bi kịch khổ đau trong cuộc đời với cảm hứng bi thương về những hồn ma cô đơn vất vưởng, viết bằng thể thơ song thất lục bát và bằng tiếng Việt (chữ Nôm), ra đời trong giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII-nửa đầu thế kỷ XIX, giai đoạn phát triển rực rỡ của thể loại.
Rõ ràng, thỏa mãn tất cả các tiêu chí của thể loại ngâm khúc, Văn chiêu hồn đích thực là một tác phẩm ngâm khúc dù được bọc trong hình thức văn tế (nhan đề và nội dung phản ánh). Tuy nhiên, điều này hầu như ít được đề cập trong các chuyên luận, từ điển. Nguyễn Lộc trong Văn học Việt Nam (nửa cuối thế kỷ XVIII-hết thế kỷ XIX) cho rằng “Văn chiêu hồn của Nguyễn Du là một tác phẩm thuộc loại Văn tế” và nêu ra điểm khác biệt cơ bản của tác phẩm này với thể loại văn tế truyền thống ở chỗ “không phải là bài văn tế một người hay một loại người, mà là bài văn tế chung cho nhiều người, nhiều loại người”. Đặng Thị Hảo trong Từ điển văn học (bộ mới) cũng khẳng định đây là “một bài văn khấn tế” với điểm đặc biệt là viết theo thể song thất lục bát. Trong Hợp tuyển ngâm khúc Việt Nam (Nxb Văn học, 2005), một công trình đồ sộ 742 trang, tuyển 53 tác phẩm, trích đoạn (cả chữ Nôm lẫn chữ Hán, thuộc các thể tài ngâm, khúc, ca, hành, thán, vãn…) của 27 tác giả (Nguyễn Du được tuyển 08 tác phẩm thơ chữ Hán) nhưng nhóm biên soạn Trần Lê Sáng, Phạm Kỳ Nam lại không tuyển Văn chiêu hồn. Có lẽ nhan đề “văn tế”, nội dung “khấn tế” và nhân vật trung tâm là những “cô hồn” đã khiến nhiều người quên mất Văn tế thập loại chúng sinh là một tác phẩm khúc ngâm.
Về giá trị của Văn chiêu hồn, từ khi tác phẩm được phiên âm và công bố đến nay, đã có hàng trăm ý kiến đánh giá cao của nhiều nhà nghiên cứu uy tín như Hoàng Xuân Hãn, Lê Thước, Trương Chính, Phạm Thế Ngũ, Thanh Lãng, Xuân Diệu, Đặng Thị Hảo, Nguyễn Lộc, Nguyễn Ngọc Quang... Đây thực sự là một trong ba đỉnh cao của thi hào Nguyễn Du, đồng thời cũng là một trong những tác phẩm xuất sắc của văn học Việt Nam ở thời trung đại. Xét ở bình diện thể loại, đây có thể xem là một tác phẩm ngâm khúc giá trị, có đóng góp nhất định đối với tiến trình vận động và phát triển của thể loại này.
Với Văn tế thập loại chúng sinh, Nguyễn Du không chỉ ghi tên mình vào bản đồ tác giả ngâm khúc mà còn có những đóng góp nhất định đối với sự phát triển rực rỡ của thể loại này trong văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII-nửa đầu thế kỷ XIX.
Những thành công cũng như đóng góp của Nguyễn Du qua Văn chiêu hồn đối với văn học trung đại nước ta là điều không cần phải bàn cãi, đã được nhiều người thừa nhận. Trong bài viết này, chỉ xin trình bày sơ lược hai đóng góp quan trọng của ông qua Văn chiêu hồn đối với sự phát triển của ngâm khúc, một thể loại đạt nhiều thành tựu trong văn học Việt Nam thời trung đại.
Trước hết, đóng góp lớn nhất của Nguyễn Du là sự mở rộng đối tượng và phạm vi phản ánh cho thể loại ngâm khúc. Như đã trình bày, vấn đề trung tâm đặt ra đối với ngâm khúc là những bi kịch cá nhân trước hiện thực phũ phàng. Đó là những bi kịch gắn với từng con người cụ thể. Những chinh phụ, cung nữ, Lê Ngọc Hân, Đinh Nhật Thận,… hiện lên trong tác phẩm ngâm khúc là những con người cá nhân. Và nỗi đau của họ là nỗi đau riêng. Đó là nỗi đau trong hoàn cảnh bi đát của một con người cụ thể, đại diện cho một loại người cụ thể.
Với Văn chiêu hồn của Nguyễn Du, đối tượng và phạm vi phản ánh của ngâm khúc được mở rộng tối đa để vươn lên tầm phổ quát cho toàn nhân loại. Không còn những con người, loại người cụ thể, chúng sinh trong Văn chiêu hồn gần như là hình ảnh của tất cả con người trên cuộc đời này. Họ là “kẻ tính đường kiêu hãnh”, “kẻ màn loan trướng phụng”, “kẻ mũ cao áo rộng”, “kẻ bài binh bố trận”, “kẻ tính đường trí phú”, “kẻ rắp cầu chữ quý”, “kẻ vào sông ra bể”, “kẻ đi về buôn bán”, “kẻ mắc vào khóa lính”, “kẻ nhỡ nhàng một kiếp”, “kẻ nằm cầu chiếu đất”, “kẻ mắc oan tù rạc”, “những đứa tiểu nhi tấm bé”… Cùng với việc dùng từ phiếm chỉ “kẻ”, “người”, “đứa”, Nguyễn Du còn gọi một cách ước lệ đó là “thập loại chúng sinh” (bởi trong tác phẩm có hơn 10 loại người) với ý nghĩa để khái quát cho các loại người trên nhân thế. Họ dù “ai quý ai hèn… ai hiền ai ngu” cũng đều có những bi kịch, nỗi đau của mình. Đó là những nỗi đau “khôn đem mình làm đứa thất phu”, “phận đã đành trâm gãy bình rơi”, “bơ vơ góc biển chân trời/ nắm xương vô chủ biết vùi nơi nao”, “đem thân vùi rấp vào lòng kình nghê”, “lỗi giờ sinh lìa mẹ lìa cha”, “mắc sơn tinh thủy quái”, “sa nanh sói ngà voi”… Dưới cái nhìn của nhà Phật, cuộc đời là bể khổ, và con người ta thật tội nghiệp, đáng thương bởi “sống đã chịu một đời phiền não”, “sống đã chịu nhiều bề thảm thiết”… Rõ ràng, vượt lên trên những bi kịch cá nhân, bi kịch trong Văn chiêu hồn là bi kịch của cuộc đời, bi kịch kiếp người. Đây là điều mà các tác phẩm ngâm khúc khác chưa đạt được.
Một đóng góp quan trọng nữa của Nguyễn Du đối với sự phát triển của ngâm khúc, một thể loại nội sinh phản ánh những chiều sâu trong đời sống tình cảm người Việt, là tiếp tục hoàn thiện thi pháp thể loại, đưa ngâm khúc trở về gần gũi với đời sống ngôn ngữ và tâm thức thẩm mĩ của người Việt. Nếu Cung oán ngâm khúc mang vẻ đẹp trang trọng, uyên bác, mẫu mực với những thi liệu, điển cố, từ Hán Việt được huy động sử dụng tần số rất cao thì Văn chiêu hồn có khuynh hướng quay về sử dụng tiếng nói thường nhật với việc gia tăng khẩu ngữ, chất liệu dân gian, hạn chế từ Hán Việt, điển cố. Mặt khác, Văn chiêu hồn còn góp phần làm cho thể song thất lục bát của ngâm khúc trở nên linh hoạt hơn. Chẳng hạn, về cách ngắt nhịp, riêng ở trường hơp cặp câu thất cũng thấy rõ điều này. Câu thất trong tác phẩm có khi ngắt theo nhịp 3/4 truyền thống (Đường bạch dương/ bóng chiều man mác - Ngọn đường lê/ lác đác sương sa), khi là 2/5 với số lượng lớn (Cũng có/ kẻ tính đường kiêu hãnh), 1/6 (Sống/ đã chịu một đời phiền não - Thác/ lại về hớp cháo lá đa). Hay như cuối tác phẩm, có trường hợp câu lục bị biến thể thành 9 chữ: Nam mô Phật, nam mô pháp, nam mô tăng/ Độ cho nhất thiết siêu thăng thượng đài. Chính nhờ điều này mà nhịp thơ, tiết tấu thơ hết sức linh hoạt, phù hợp với việc thể hiện những cung bậc tình cảm cũng như chuyển tải nội dung trữ tình. Về điều này, Đặng Thị Hảo nhận định xác đáng: “Ngoài một vài phương ngữ và điển tích nhà Phật ít quen thuộc không đáng kể, nói chung bài văn dễ hiểu, dễ cảm thụ bởi giọng văn cuộn chảy theo những biến tấu bất ngờ của nhịp câu song thất. Văn tế thập loại chúng sinh còn được đánh giá là tác phẩm song thất lục bát  duy nhất sử dụng dày đặc và rất độc đáo thủ pháp tiểu đối. Thành công của tác phẩm đã làm giàu thêm cho thể song thất lục bát - một thể loại mới mẻ của văn chương dân tộc thế kỷ XVIII-XIX, - rất có ưu thế khi chuyển tải những nội dung trữ tình”.
Đúng như nhận định của nhiều nhà nghiên cứu, Văn chiêu hồn là một phương diện khác của thiên tài Nguyễn Du, bên cạnh Truyện Kiều và 250 bài thơ chữ Hán. Tác phẩm này đạt được nhiều thành tựu, nhất là trong việc thể hiện chủ nghĩa nhân đạo của Nguyễn Du. Hơn nữa, với tác phẩm ngâm khúc giá trị này, Nguyễn Du còn là một tác giả ngâm khúc và có những đóng góp nhất định đối với sự vận động, phát triển của thể loại ngâm khúc trong văn học trung đại Việt Nam ở nửa cuối thể kỷ XVIII-nửa đầu thế kỷ XIX.















Chủ Nhật, 11 tháng 11, 2018

KHÚC KHẢI HOÀN CA NIỀM VUI CHIẾN THẮNG lời bình của LÊ THÀNH VĂN - CHƯ YANG SIN SỐ: 234 - THÁNG 10 NĂM 2018


Sổ tay thơ:


CẢM XÚC THÁNG MƯỜI



Không thể nói trời không trong hơn
Và mắt em xanh khác ngày thường
Khi đoàn quân kéo về mùa thu ấy
Nhịp trống rung ba mươi sáu phố phường
Mẹ đứng hàng đầu rưng rưng nước mắt
Xốn xang mẹ thường gọi các con
Anh chiến sĩ mến thương nhìn mẹ
Nghe niềm vui ấm cả tâm hồn
Đêm, cái đêm rút quân qua gầm cầu
Anh, anh đã hẹn ngày mai trở lại
Sóng sông Hồng vỗ bờ hát mãi
Đỏ niềm tin là khúc khải hoàn ca
Một sớm thu trong đất thắm sao vàng
Năm cửa ô xòe năm cánh rộng
Đoàn quân về nhấp nhô như sóng
Những ngôi nhà dường muốn cao thêm
Tháng Mười ấy là khúc ca say
Khúc ca mở những chiến công đầy
Ôi Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội
Nghìn năm vẫn một trái tim này.
                                                               TẠ HỮU YÊN

LỜI BÌNH:


Nhà thơ Tạ Hữu Yên đã có rất nhiều bài thơ hay viết về những sự kiện lớn của đất nước, nhưng với tôi Cảm xúc tháng mười vẫn là bài thơ mang nhiều rung động chân thành nhất xuất phát từ sự kiện bộ đội ta tiến về giải phóng Thủ đô vào tháng 10 năm 1954. Nhịp điệu thơ không quá dồn gấp, hình ảnh thơ không quá bộn bề, song người đọc vẫn bắt gặp nơi đây "một trái tim hồng" Hà Nội đang ngân hoan ca trong ngày khải hoàn chiến thắng.
Mở đầu bài thơ là một cảm nhận, một cảm nhận rất đỗi cá nhân của chính tác giả: "Không thể nói trời không trong hơn/ Và mắt em xanh khác ngày thường". Hai câu thơ bảy chữ, phảng phất hơi hướng thơ thất ngôn cổ điển, nhưng lòng ta lại nghe tràn trề ý nhạc, một nét nhạc rất lạ, rất mới. Quả là thơ Tạ Hữu Yên thấm đẫm tính nhạc từ mỗi ngôn từ. Nhưng bầu trời "trong hơn" ấy, "mắt em xanh khác ngày thường" ấy bắt nguồn từ nguyên nhân nào vậy?  Như để giãi bày niềm cảm xúc cháy bỏng đó, nhà thơ đã phác họa qua cái không khí rộn ràng của hình ảnh "Trùng trùng quân đi như sóng/ lớp lớp đàn quân tiến về" (Văn Cao) trên những nẻo đường Thủ đô giữa một mùa thu lộng gió:
Khi đoàn quân tiến về mùa thu ấy
Nhịp trống rung ba mươi sáu phố phường
Hóa ra ngoại cảnh và lòng người đã hòa làm một. Giây phút sung sướng tột cùng của nhân dân Thủ đô cũng như của cả dân tộc đã thấu tận trời xanh sau chín năm trường kháng chiến gian khổ. Khổ thơ đầu vừa nói cái không khí chung, vừa bắt đầu đi vào tâm cảm của lòng người đang mở hội. Đến khổ thơ thứ hai, hình ảnh người mẹ "rưng rưng nước mắt" và người lính "nghe niềm vui ấm cả tâm hồn" đã thực sự lan tỏa những tình cảm thiêng liêng trước niềm vui chiến thắng. Mẹ rưng rưng vì quá xúc động, mẹ khóc vì sung sướng được nhìn thấy các con trở về. Các anh bộ đội trẻ thì không sao giấu được niềm vui đang tràn ngập tâm hồn mình khi được tiến vào năm cửa ô thành phố với muôn triệu bàn tay của nhân dân vẫy chào bằng những bông hoa tươi thắm:
Một sớm thu trong đất thắm sao vàng
Năm cửa ô xòe năm cánh rộng
Đoàn quân về nhấp nhô như sóng
Những ngôi nhà dường muốn cao thêm
Giữa không gian "trong đất thắm sao vàng" ấy, tác giả có một phát hiện cực kỳ tinh tế và nhạy cảm qua hình ảnh "những ngôi nhà dường muốn cao thêm". Câu thơ hay đến lạ. Hay trong sự khám phá bất ngờ, song bất ngờ mà rất hiện thực. Có lẽ từ những cánh tay giơ cao muôn ngàn bông hoa tươi thắm chúc mừng từ các ngôi nhà trên phố như càng muốn nâng cao thêm, cao mãi. Người càng dâng cao nên nhà theo đó cũng dường muốn cao thêm. Nỗi niềm và cảm xúc chân thành của tác giả đến đây được bộc lộ một cách hài hòa với ngoại cảnh thông qua một hình ảnh thơ đầy thi vị, bất ngờ.
Cảm hứng chủ đạo của bài thơ là biểu hiện niềm vui thắng lợi sau "chín năm làm một Điện Biên". Nhưng thắng lợi hiện tại đã không làm cho cảm xúc tác giả nguôi quên những gì trong quá khứ. Một Thăng Long - Hà Nội xưa với dáng Rồng bay lên để Lý Thái Tổ quyết định dời đô từ Hoa Lư về đây mà dựng nghiệp cho muôn đời con cháu mai sau. Một Đông Đô - Hà Nội tự hào thời Lê Lợi đánh giặc Minh cứu nước. Chao ôi! Hạnh phúc hôm nay cũng khởi nguồn từ quá khứ, một quá khứ hào hùng của một dân tộc anh hùng:
Tháng Mười ấy là khúc ca say
Khúc ca mở những chiến công đầy
Ôi Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội
Nghìn năm vẫn một trái tim này.
Cảm xúc tháng mười của nhà thơ Tạ Hữu Yên viết về một sự kiện trọng đại của đất nước, dù được gói trong hình thức một bài thơ hai mươi câu thất ngôn. Ngoài tính nhạc gần như đặc hữu ta thường thấy trong thơ tác giả, thi phẩm cũng đã mang đến cho tâm hồn người đọc những cảm xúc thiêng liêng, những tình cảm đầy tự hào về thủ đô ngàn năm văn hiến của dân tộc ta. Bài thơ khép lại mà dư ba còn vọng mãi, ngỡ như "nhịp trống rung ba mươi sáu phố phường" tháng mười năm ấy còn ngân mãi đến muôn đời sau.
                                                                                    LÊ THÀNH VĂN

Thứ Ba, 6 tháng 11, 2018

CON SÓI DẠI truyện ngắn của HỒNG CHIẾN - BÁO VĂN NGHỆ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MNH số: 522 ra ngày 01 tháng 11 năm 2018



            Bầu trời xanh màu bạc, lấm tấm những vì sao bé nhỏ như được một bàn tay vụng về nào đó rắc lên một cách cẩu thả. Xa xa dãy núi Krông Zin vẽ một đường đen sẫm che lấp hẳn chân trời phía đông bằng những nét nhấp nhô kì lạ. Gió Tây Nguyên cuối mùa khô gào thét ầm ĩ, xô ngọn cây ào ào trước khi ùa đến kéo theo dòng đất đỏ bụi mù phủ lên mọi vật. Tiếng cú mèo gõ những tiếng phách lạc lõng hòa cùng giọng “Tắc kè, tắc...k...è” vọng vào đêm như kéo bầu trời trĩu xuống. Khu nhà công vụ giành cho giáo viên cũng chìm vào bóng đêm lặng lẽ, duy nhất căn phòng cuối cùng cánh cửa vẫn mở toang hắt ra một quần sáng trong xanh phủ lên một bóng người lặng lẽ trước chồng giây trắng. Người ngồi đó lặng im như hóa đá. Biết bao câu hỏi đặt ra trong đầu chưa có câu trả lời: Kẻ nào rắc thuốc độc vào trường làm hàng trăm giáo viên, học sinh nhiễm độc? Kẻ nào tung tin đồn nhảm trước cái chết của gia đình thôn trưởng? Kẻ nào xúi học sinh bỏ học? Những đồng nghiệp trúng độc gục ngay trên bục giảng do đâu? Ta có lỗi với đồng đội, bạn bè và các em học sinh bé nhỏ nữa; các em vô tư hồn nhiên như thế mà chúng nỡ ra tay sát hại các em, ta không ngăn được. Phải bắt chúng đền tội! Nhất định phải...
- Thưa thầy!
Tiếng nói tuy rất khẽ nhưng cũng làm người ngồi thoáng giật mình quay phắt lại. Trước cửa bóng cô gái độ mười lăm tuổi có khuôn mặt hình trái xoan, tóc xõa ngang vai xuất hiện như từ trên trời rơi xuống.
- H’Loan, vào đây em. Tại sao em đến khuya thế?
- Em tặng thầy.
Cô gái đặt chiếc nanh heo rừng to như ngón tay cái, trắng ngà, cong vút, đầu răng đã vẹt đi nhọ lại như một lưỡi dao.
- Cái này của a jun (*) tặng em, làm sao lại đưa cho thầy được?
- Em sắp phải xa thầy rồi, sợ không còn bao giờ gặp lại được nữa. Chúng em ai cũng quí các thầy cô, muốn học nữa lắm!
- Em bỏ học ư?
- Thầy ơi! Cô gái rưng rưng: Bọn người xấu bắt cả nhà em đi ngày trong đêm nay. Chúng nói sẽ đưa đến một nơi không phải làm cũng có ăn; có nhiều tiền nữa. Ama (**) em đã nhận nhiều tiền của người ta cho nên buộc cả nhà phải đi, ở lại sẽ là con ma lai. Thôi em phải về kẻo ama biết thì chết.
- H’Loan
- Dạ, thầy bảo gì em!
Hai tay người thầy giáo nắm chặt như sắp đấm vào ai, mặt đanh lại có vẻ như khó xử khi quyết định vấn đề gì khó khăn lắm.
- Thôi đành vậy! Em phải hết sức bình tĩnh và nghe lời ama, amí (***); luôn luôn đi cạnh họ, không được rời xa. Em làm được không?
- Dạ!
- Em cầm lấy cái này.
Mở ngăn kéo hộc bàn, lấy hộp vuông nhỏ bé như bao diêm đặt vào tay cô gái.
- Thầy tặng em, em cất kĩ trong người, không được cho ai biết. Thầy sẽ luôn bên cạnh em cho dù có khó kăn đến mấy.
- Dạ!
Tiếng dạ nghèn nghẹn thoảgn trong gió và màn đêm nuốt chửng bóng hình người con gái.

*
*      *
Nhà amí H’Loan dài như một tiếng hú, mái lợp ngói, sàn nhà và vách làm bằng gỗ sao lên nước bóng lộn tập trung đầy người. Tiếng người thanh niên trong cùng nói vọng ra.
- Các nhà đến cả chưa; xem có còn ai ngủ quên không? Mỗi người chỉ được mang một cái gùi đựng ít quần áo và cơm ăn đường, qua bên kia biên giới người Mĩ sẽ cho máybay tới đón.
- Tối thế này mấy đứa nhỏ làm sao đi được? Tiếng ai đó vọng lên.
- Người lớn gùi con nít, đứa lớn gùi đứa bé, vứt bớt đồ lại, qua bên kia biên giới sẽ dùng toàn đồ mới của “Liên hiệp quốc” viện trợ tha hồ sướng.
- Thế ra mọi người bỏ cái rẫy đi ăn xin à?
- Đứa nào nói bậy đấy, muốn chết hả. Nay ngài Y Ksơk đã được Mĩ cho làm tổng thống rồi, chỉ mai mốt đất nước Đê-Ka được giải phóng, lúc ấy có một cuộc sống khác tốt đẹp lắm. Ai hôm nay không đi sẽ là con ma - lai. Bây giờ đi phải hết sức im lặng, người nọ sát người kia để khỏi lạc đường. Theo tao!
Gần ba chục con người lầm lũi, thập thửng dấn thân vào màn đêm đi theo bóng đen mờ mờ phía trước. Hắn có vẻ thạo đường, cầm chiếc đèn pin nhỏ xíu chiếu xuống mặt đất, bước thoăn thoắt. Chẳng ai ngờ, hắn - thằng Y Joan, lười lao động, thích đi chơi và ham “nhặt” của người khác đi đổi rượu lại trở thành người quan trọng thế này. Con người ta có cái số thật! Từ một kẻ chuyên chờ người trong buôn đi làm rồi quay lại trộm gà, bắt chó, chôm chỉa đồ, ai cũng ghét, xem như con ma-lai của buôn; vậy mà đánh đùng một cái gặp được người lạ cho hắn nhiều tiền và bày cho hắn về buôn dụ người trốn qua biên giới để để... nhận tiền. Người buôn hắn thật là lũ ngốc, khi bảo đi không ai nghe còn chửi hắn; hắn cười rút trong người ra cục tiền to tướng, khoe với mọi người; đồng đô la Mĩ, đồng mác Đức, Nhân dân tệ... tất cả mới tinh; còn tiền Việt Nam nhiều như lá rừng, ai muốn đi, hắn sẽ cho tiền sắm dày, dép, lớn bé có tất, người nào cũng có phần cả. Hắn đủ tiền mua rượu để cả buôn cùng uống, uống thật say. Nhưng trước khi đi phải thịt gà, giết hết gia cầm, gia súc. Nhà nào chưa kịp thịt cũng bị đánh thuốc cho chết hết. Cái kế hoạch của người bên kia biên giới giỏi thật. Cả buôn giờ đây phải kính trọng hắn, xem hắn như anh hùng, chỉ có thằng thôn trưởng ngu nên cả nhà đau bụng lăn ra chết - Giàng phạt mà. Ai chống lại hắn thì xem gương trưởng buôn đấy!
- A - Mí!
Tiếng kêu thất thanh của một em bé nào đó vang lên vọng vào rừng lan ra thành tiếng M...í kéo dài. Cắt luồng suy nghĩ của hắn, làm cả đoàn người đang cắm cúi đi phải dừng lại.
- Đức nào kêu đấy!
- Con H’Lam bị ngã, vỡ mặt rồi.
Ánh đèn pin quét lên khuôn mặt đầy máu của H’Lam con bé không biết vì đau hay quá sợ đã xỉu đi, chân trái gãy lìa, xương ống chân như muốn xé da chui ra.
- Mang nó về viện thôi, để thế này chết mất.
Mỗi người một lời, nhưng đều cùng ý phải đưa H’Lam vào viện. Nhưng muốn vào viện phải quay lại buôn đón xe đi.
- Hầy! Yàng gọi nó về với Yàng thì ta nên để nó đi đừng bắt nó quay lại làm gì. Hãy thả nó xuống suối vậy. Vợ chồng chúng mày sang bên kia muốn sinh thêm bao nhiêu mà chẳng được. Đưa nó cho tao.
Nói là làm Y Joan bước đến bên H’Lam định dằng con bé ra khỏi tay amí nó để quẳng xuống vực.
- Không! Mày không được làm thế.
Ama H’lam gầm lên, xỉa xà gạc ngang mặt Y Joan, mắt vằn lên những tia máu đỏ. H’Loan cũng lao tới ôm lấy H’Lam.
- Chúng mày muốn làm loạn à? Nếu không theo tao sang bên kia biên giới sống cuộc sống sung sướng như đất nước của Yàng ban cho thì giờ đây đi đâu! Chúng mày có quay về buôn cũ được nữa không? Trâu, bò, heo, gà thịt hết; xoong, nồi, chiêng, ché... cũng đập nát hết cả rồi, lấy gì mà sống. Đó là chưa kể đến chính quyền họ biết chúng mày bỏ đi, nay muốn quay lại sẽ bỏ tù hết. Chúng mày muốn vào tù hay muốn sung sướng?
Cả đám người lặng đi trước thực tế phũ phàng, không có con đường để quay lại. Cả ama, amí H’Lam nước mắt lưng tròng không biết phải làm gì. H’Loan nói qua nước mắt:
- Tại ama cả, nhà mình đang sống yên vui, đông đủ đi nghe người ta xúi bỏ cửa, bỏ nhà, bỏ nương rẫy đi xin ăn. Sướng không thấy đâu đã thấy khổ đấy rồi. Đêm tối như thế này sẽ còn có nhiều người như H’Lam nữa, chẳng lẽ để chết cả ư? Thôi xin ama, amí cho tôi mang H’Lam về.
- Không được!
Tiếng nói khẽ nhưng lạnh băng làm mọi người giật mình vì không ngờ có giọng nói của người lạ xen vào. Y Joan mừng như bắt được vàng khi chiếu đèn pin vào mặt người lạ bỗng nhiên xuất hiện, kêu lên mừng rỡ.
- Yàng ơi! Y Sú.
Y Joan mừng là phải, kẻ lạ mặt đúng là Y Sú, người cho hắn nhiều tiền về xúi dân buôn bỏ chạy, và cũng là người cho nó thuốc độc để giết trâu, bò, lợn gà và thả vào bầu nước nhà buôn trưởng, hại chết cả nhà người ta.
- Thưa đồng bào! Tôi là Y Sú  Ksơn, người được “Tổng thống” Y Ksơk và “Liên hợp quốc” cử về đón đồng bào tới cuộc sống sung sướng trên đất Mĩ. Chỉ cần ta vượt qua biên giới, máy bay của “Liên hợp quốc” sẽ chở tất cả qua nước Mĩ định cư, mỗi tháng sẽ được phát 1.000 đô la Mĩ cho một người - tương đương với hai chục con bò lớn; sướng vậy đó. Thôi, mọi người phải cố chịu khổ một chút, ráng mang con bé đi hết đêm nay, qua bên kia người Mĩ chỉ giơ tay xoa một cái là liền xương ngay thôi.
Cả đám người chết lặng khi thấy Y Sú xuất hiện. Hắn là tên Phun rô khét tiếng tàn bạo gây biết bao tội ác với người dân vô tội. Song cái số nó lớn hay nói cho đúng hơn hắn có sự tinh khôn của sói nên thoát chết sau mấy lần bị công an, du kích bắt hụt. Sợ quá hắn chạy qua nước ngoài lánh thân thờ chủ mới. Nay có người nuôi rồi thuê hắn về lại Tây Nguyên đe dọa, mua chuộc, dụ dỗ người dân tộc tại chỗ chạy qua biên giới. Cứ mỗi người qua biên giới đưa về trại “tị nạn” hắn sẽ được thưởng 50 đô la. Số người càng đông, càng tốt; không kể to nhỏ, lớn bé gì ráo, cứ đếm đầu mà lấy tiền. Hắn cũng biết ngôi nhà trong mơ mà đoàn người nhẹ dạ nghe theo hắn là những dãy chuồng bò cũ quây thép gai để nhốt người; hay những chiếc lều vải bạt căng tạm dưới cái nóng như đổ lửa của ông mặt trời được bao bọc dây thép bùng nhùng “nội bất xuất”, không ai được ra ngoài. Hàng ngày mỗi người ăn phát một can nước để ăn, uống, tắm giặt (vì nước phải chở từ xa đến). Chính hắn, hắn cũng không biết người ta thuê hắn dụ dỗ nhân dân vượt biên giới nhốt vào trại làm gì! Nhiều người muốn về nhưng đâu có được, họ đã thành con cá tự  chui vào giỏ, chạy đâu cho thoát.
- Này đồng bào, cuộc sống ấm no mà không phải động tay, động chân đã ở phía trước; tất cả đứng dậy đi tiếp, đau cũng phải đi.
H’Lam được đặt vào cáng làm bằng cây và dây rừng khiêng đi. Y Sú tự khen mình: giỏi, giỏi thật! Đêm tối thế này, cái cáng chỉ cần sơ ý một tí thôi là con bé sẽ văng xuống vực, đỡ phiền. Còn không thì ama, amí nó tự lo lấy. Đoàn người vẫn phải đi về phía đã định, ai dám trái lời, bắn bỏ.
Bầu trời sáng dần. Những ngôi sao li ti nối đuôi nhau đi ngủ, chỉ còn lác đác vài ngôi sao mệt mỏi ngơ ngác đứng nhìn. Từng cụm mây trắng thỉnh thoảng chạy ngang qua bầu trời, sà xuống cánh rừng, đọng lại trên các kẽ lá tí tách nhỏ giọt xuống mặt đất. H’Loan bước sau amí, lòng đau thắt nghĩ thương em gái còn nằm mê man, chưa tỉnh. Tất cả tại lũ người xấu gây ra thảm cảnh cho gia đình. Chúng lừa người ta phá nhà cửa, ruộng vườn chạy trốn Tổ quốc để làm gì? Chúng còn rải thuốc độc vào trường làm trẻ em không được đi học. Có lẽ chúng sợ người ta có cái chữ sẽ hiểu được lẽ phải, biết đúng, biết sai. Và thầy cô giáo hàng ngày dạy nó nữa không biết có hiểu tấm lòng của nó không? Nó muốn được học nhiều, thật nhiều để được làm cô giáo dạy con em đồng bào biết cái chữ, biết gieo trồng cho nhiều hạt, biết nhiều điều để cuộc sống ấm no hạnh phúc hơn.
- Amí!
H’Lam tỉnh dậy, khóc òa; ama, amí vội dừng cáng. H’Loàn quì xuống bên cạnh hỏi.
- H’Lam đau lắm không, ráng chịu nhé.
- Em đau lắm!
- Bịt mồm hắn lại. Y Sú quát khẽ; chúng mày muốn bộ đội biên phòng bắn chết cả hay sao. Nếu để nó kêu nữa tao cắt cổ.
Tội nghiệp H’Lam, cô bé bụ bẫm mới mười hai tuổi đầu xinh đẹp là thế, giờ đây như tàu lá héo. Ama nghèn nghẹ thì thầm:
- Cố chịu đau tí nữa đi con; đừng kêu người ta giết đấy.
- Chúng mày đi tiếp đi, không được đứng lại.
Y Joan hối mọi đi tiếp. Chiếc cáng được nâng lên.
- Oái, Yàng ơi, đau quá!
Tiếng kêu của H’Lam vọng vào núi không lớn lắm, song cũng đủ để cả đoàn người dừng lại. Y Sú chạy đến ghé khẩu AR 16 đen ngòm vào đầu H’Lam.
- Cho nó về với Yàng thôi.
- Mày không dám bắn em tao đâu.
H’Loan đây lòng súng qua bên, nói tiếp: Nó đau kêu nhỏ mày còn sợ có người nghe, mày bắn nó cả núi rừng cùng nghe thấy; bộ đội, công an sẽ đến ngay.
- Con này nói đúng, không bắn được; có cái này dùng được. Soạt con dao găm trắng toát được lôi ra khỏi vỏ.
-  Mày không được giết nó!
Ama H’Loan gầm lên giật phắt xà gạc đứng thế thủ; amí H’Loan ôm ghì lấy con, cố giơ thân mình che chở cho con. Đoàn người quay tròn quanh gia đình H’Loan. Chứng kiến cảnh Y Sú, Y Joan và đồng bọn đối xử với H’Lam, mọi người như chợt tỉnh ra, song có lẽ đã quá muộn. Thấy dân không phục, con cáo già Y Sú cười cười, tra dao vào vỏ.
- Tao đùa đấy. Chúng mày đi tiếp đi, gần qua biên giới rồi; chỗ này nguy hiểm lắm. Còn con bé nhét khăn vào miệng nó, cột tay nó lại khiêng qua bên kia là có thuốc chữa khỏi ngay à.
- Nghỉ chút đã, đi cả đêm mệt lắm rồi.
- Lũ chúng mày cố một chút, chút xíu nữa qua biên giới tha hồ mà nghỉ. Còn ở chỗ này bộ đội biên phòng đi tuần là chết hết đấy.
- Cái chân hết đi nổi rồi!
Không ai bảo ai, người ngồi, người lằm la liệt ra mặt đất. Tiếng con trẻ khóc ré lên.
- Chúng mày còn để bọn nhỏ khóc tao ném xuống vực hết bây giờ. Đứng hết dậy, đứng dậy.
Mặt trời lên cao, nhưng sương mù vẫn sà xuống cánh rừng, thấm vào da thịt, hòa quện với mồ hôi chảy thành dòng xuống mặt đất. Người nào, người nấy răng và vào nhau lộc cộc, cố bước, mặt mũi bơ phờ. Già làng run rẩy gằm mặt xuống đất nặng nề lê bước, chắc giờ này mới hiểu sự đồng ý nhận tiền của Y Joan bắt người trong buôn đến miền đất hứa là sai lầm; sự hối hận muộn màng! Chỉ có Y Sú và ba đứa theo nó tay nắm chặt súng Mĩ là mừng rỡ. Chúng lại sắp có một khoản tiền lớn nữa. Những cô gái mười ba tuổi trở lên có nhan sắc một chút được hưởng lời đơn, lời kép mà. Ngay cả lũ đàn bà có chồng con rồi khi đã vào đến trại “tị nạn” thỏa sức chọn mang đi “hỏi cung” để “dùng”. Đứa nào không chịu sẽ bị đoàn có thể đánh chết như đánh chết con gà, con vịt vậy thôi; ai bắt tội! Xung quanh các trại “tị nạn” hàng ngày những nấm đất mới đua nhau mọc lên; trong đó ngoài người già, con trẻ, còn có những người đàn bà không chịu nhục, chấp nhận cái chết. Bọn dân đúng là lũ ngu mới xử sự như vậy chứ cứ  Y Sú đây sẽ làm tất cả để sống cơ mà, mất mát gì đâu.
- Tất cả dừng lại! Chúng ta sắp đến nơi rồi. Y Sú bất ngờ kêu lên rồi nói tiếp: Khó khăn cuối cùng là đi qua mỏm đá kia, khi đi phải thật cẩn thật, từng người qua một. Ama Đúc đi trước, sau đến Y Vế, tiếp nữa ama H’Loan còn Y Joan và tao đi cuối cùng giúp amí H’Loan.
Ama Đúc khoác khẩu AR16 qua vai vịn vào vách đá cẩn thận leo qua từng bậc và khuất hẳn phía bên kia. Đoàn người nối nhau bò qua vách đá; Y Sú đã đi gần đến đích. Nó tính toán cả rồi và tất cả diễn ra đúng theo kế hoạch đã định. Nhìn H’Loan, hắn lè lưỡi liếm mép tự nhủ  cố kìm nén dục vọng đang trào lên. Chỉ chờ Y Joan giúp ama, amí H’Loan đưa H’Lam qua bên kia vách núi là nó sẽ...
Nhưng bây giờ không thể cáng H’Lam được nữa vì vách đá dốc quá, chỉ một người bám đá mới leo được; nếu sẩy chân sẽ tan xác dưới vực sâu ba chục mét kia. Y Joan buộc amí H’Loan đi trước còn ama H’Loan lấy dây cột con vào lưng. Con bé chắc quá đau, mặt đầm đìa máu, chân gãy lủng lẵng và có lẽ nó xiễu rồi nên không khóc nữa. Ama H’Loan nặng nề di chuyển từng bước, phía sau là Y Joan. H’Loan định đi tiếp liền bị một bàn tay giữ lại.
- Từ từ không ngã chết cả bây giờ. Mày phải để Y Joan đi qua rồi mới được lên.
Nhưng ama H’Loan vừa khuất sau vách đá hắn đã quẳng súng qua bên, nhảy bổ đến, ôm ghì lấy H’Loan đè ngửa ra. Bàn tay thô bạo thọc vào ngực xé toạc áo miệng gầm gừ.
- Mày kêu lên ở đây ai nghe! Nếu khong chiều tao, tao sẽ giết cả nhà mày.
Mặc cho H’Loan cào cấu, giãy giụa hắn nhăn nhở cười, một tay giữ người, một tay giật bỏ những mảnh vải cản trở cơn thú tính của hắn. Hắn giống con mèo khi vồ được chuột, không bao giờ vội vàng nhai ngấu nghiến; mà phải hành hạ, giỡn cợt theo cách riêng kể cả phải dùng nắm đấm buộc con mồi phải tuân theo dục vọng của hắn. Bỗng nhiên, giống như đứa trẻ thò tay vào bếp nắm ngọn lửa, khi tay hắn chạm vào chiếc hộp người thầy giáo tặng đeo bên mình H’Loan; hắn hoảng hốt đứng bật dậy, mặt tái mét, giọng run run:
-  Mày... mày lấy ở đâu? Mày là...? Y Sú vung tay ném chiếc hộp bay xuống vực và lao lại nơi để súng. Nhưng trước mặt hắn là những bóng áo xanh và nòng súng AK chĩa thẳng về phía hắn. Hắn cuống cuồng lao luôn xuống vực sâu.
*
*       *
Buôn Ra Krưng hôm nay vui lắm; mọi người tập trung tại nhà ama H’Loan để xét tội Y Joan, kẻ tiếp tay cho kẻ xấu, hại buôn làng. Trước mặt dân buôn hắn phải khai nhận mọi hành vi tội lỗi của mình và cả những kẻ thuê hắn. Hình ảnh của một Y Joan vênh vênh cái mặt vác một ôm tiền hôm này nay không còn nữa; thay vào đó là khuôn mặt đầy nước mắt của sự ăn năn, hối hận cầu xin được tha thứ để làm lại cuộc đời. Cuộc họp kết thúc, amí H’Loan mời mọi người ở lại mở ché rượu cần của người em gái đến mừng. Vít cần rượu ama H’Loan nói:
- Thưa cán bộ! Thưa bà con trong buôn! Tại cái đầu mình tối quá nghe lời kẻ xấu tí nữa hại chết con H’Lam; để con H’Loan bị làm nhục; làm khổ người trong buôn. May có cán bộ đến cứu kịp thời chứ không thì còn mặt mũi nào để nhìn mọi người nữa. Cho phép tôi mời ama Win và mọi người li rượu nhạt, bỏ qua cho lỗi lầm vừa qua và cũng là lòng cảm ơn Đảng, chính quyền đã giúp đỡ gia đình tôi được sống bình thường như trước đây.
Ông ama Win - Trưởng Công an huyện đứng dậy đỡ cần rượu từ  tay ama H’Loan.
- Thưa bà con. Đảng và nhà nước Việt Nam chúng ta bao giờ cũng mở rộng bàn tay đón những người con lầm lỡ trở về. Song sẽ nghiêm trị những tên côn đồ, lợi dụng dân chủ chống phá chế độ, phá hoại cuộc sống yên bình của nhân dân. Chiến thằng của chúng ta hôm nay trước hết thuộc về nhân dân, vì họ đã phát hiện và tố giác với cơ quan chức năng những hành vi phạm tội của chúng và một người nữa góp công sức rất lớn; đó là cháu H’Loan. H’Loan đâu?
- Hai cháu đi học chưa về. Xin mọi người bắt đầu.
“Rượu vào lời ra”, quả đúng vậy; ama H’Loan khoa chân múa tay khen công an mình giỏi thật; họ đứng bên mỏm đá từ lúc nào ấy, cứ tên nào đeo súng bước sang được “đón tiếp lịch sự”, không kịp kêu báo động cho đồng bọn đi sau. Cả lũ bốn tên lần lượt tra tay vào còng số tám như trong mơ, không tốn một viên đạn. Đồng bào được bảo vệ an toàn”.
Mọi người vui mừng chúc nhau rôm rã. Ngoài sân nắng chiếu vàng lên các nóc nhà làm nổi bật những làn khói trắng mỏng manh bay lên từ  các nóc nhà tan dần vào trời xanh. Xa xa tiếng trống trường giòn giã vang lên báo hiệu một buổi học kết thúc làm òa ra tiếng nói cười ríu rít của trẻ nhỏ như bầy chim c’rao vào hội.

Chú thích Tiếng Êđê:
(*)Ajun – bà.
(**) A ma – ba.
(***) A mi – mẹ.