Thứ Hai, 2 tháng 12, 2019

EM ĐỪNG GIẬN TUI bút ký dự thi H’LINH NIÊ - CHƯ YANG SIN SỐ: 327 THÁNG 11 NĂM 2019


Tác phẩm tham dự Cuộc vận động viết bút ký chủ đề
“Công an Đắk Lắk bản lĩnh, nhân văn, vì nhân dân phục vụ”


 



Thời gian là phương thuốc diệu kỳ chữa lành mọi vết thương, xoa dịu nỗi đau của tâm hồn. Nhưng thời gian cũng khắc nghiệt biết mấy khi xóa đi những dấu vết, kỷ niệm, thậm chí là những ký ức mà con người muốn lưu giữ. Chuyện của đại tá Y Ni Ksor rơi vào sự khắc nghiệt của thời gian là thế.
Tháng 4. Dàn hợp xướng nhiều giọng của lũ ve hát sớm, bất chấp cái nắng nóng của mặt trời như sà xuống thấp hơn, rỉ rả khắp đất trời cao nguyên, gọi những cành phượng đầu tiên lập lòe lửa đỏ trong vòm lá xanh ngăn ngắt. Chiều Ban Mê nắng như đổ lửa. Đang những ngày giao mùa, cái nóng ngột ngạt bốc lên hừng hừng từ mặt đường nhựa, khiến cho bọn ve cũng mỏi, phải nhường nhau hát, lúc lũ ở cây này cất giọng, lúc bọn trên cây kia lên tiếng, cứ như là sự đối đáp nhau của dàn ching knah.
Tìm căn nhà nhỏ ở trong buôn Kô Siêr của vợ chồng cố đại tá Y Ni Ksor không khó lắm. Bởi chỉ trừ buôn Ako Dhông còn giữ được nhiều nhà sàn cổ, còn giống như hai buôn gốc khác của thành phố Buôn Ma Thuột là Păn Lăm và Alê A, buôn nào nay cũng đều đã là nội đô thành phố, có đường nhựa, nhà có đánh số hẳn hoi. Buôn ở phố, tấc đất tấc vàng, nhà sin sít nhau có rất ít cây xanh nên càng nóng nực. Lô đất gần 100m2 này do thành phố cấp, ngôi nhà đã được bốn đứa con – đều theo bước chân cha công tác trong ngành công an - xúm nhau góp tiền sửa lại mấy năm sau ngày anh mất, sân trồng cỏ theo lô xanh rờn, có cây che bóng mát. Bướm vàng bướm trắng la đà lượn lên vờn xuống trên những cụm hoa nhỏ lúp xúp. Mấy đứa con đi làm cả, bà nội ở nhà trông cháu.
 Đưa tôi lên thắp nhang bàn thờ chồng ở trên căn gác nhỏ, Amí Nghĩa, người vợ góa của Anh hùng lực lượng vũ trang Y Ni Ksor mở toang cánh cửa sổ cho ánh nắng ùa vào, để tôi chụp lại bức chân dung của ông. Gương mặt Y Ni trông hiền hậu, hơi có vẻ đăm chiêu, ánh mắt bao dung nhìn xuống. Một làn gió mát bỗng đâu tràn vào khung cửa nhỏ, cứ như theo những nén nhang thơm và lời khấn, hương hồn người anh hùng đang trở về bên chúng tôi. Nhắc đến chuyện của chồng, mấy chục năm rồi, người phụ nữ tóc bạc màu mây vẫn còn rơm rớm nước mắt:
- Ổng đi tối ngày. Không dám hỏi chồng đi đâu, lúc nào về, vì lờ mờ biết việc của ổng phải hoàn toàn bí mật. Ngày sanh thằng con đầu lòng, một mình đi viện, tui khóc thầm hoài. Đến sau này sanh tiếp ba đứa cũng vẫn một mình, quen rồi, khỏi khóc luôn. Hay hồi con H’Vi gãy tay phải nhờ đồng đội của ổng đưa đi bó bột. Mấy đứa con lúc nào cũng thấy thiếu cha. Đó, ổng đi miết nên bây giờ cả nhà chỉ có mỗi một tấm hình chụp chung kia thôi. Vậy chứ đi thì chớ, khi về ổng lo lắng chăm sóc chu đáo lắm. Tay co rút mà xách nước, giặt đồ, nấu cơm, việc gì cũng giành làm. Hồi còn ổng, mình đâu phải lo lắng điều gì, ổng không ở nhà thì lại dặn lính hàng ngày giúp đỡ. Tới lúc ổng bệnh, năm mẹ con phải tự chăm sóc lẫn nhau, lúc đó mới biết thế nào là khó khăn. Trước lúc mất ổng dặn: “Dù phải bán hết cả nhà cũng phải lo cho các con ăn học đàng hoàng em nhé”. Nên mình phải ráng làm được theo ý nguyện của ổng, cho các con theo nghề cha luôn .
- Ảnh bị thương lúc nào chị?
- Từ năm 1963 kia. Hồi đó chưa lấy nhau đâu. Nghe mấy ảnh ở cứ kể khi làm ở Ban An ninh B3 Tây Nguyên, trên đường dẫn độ phạm nhân Kpă Sơn, bị địch phục kích. Anh Ni mang cacbin đi trước quay lại lao vào nhau vật lộn với Kpă Sơn, đồng đội bắn giải tỏa nhưng trúng cánh tay ảnh. Tù chạy mất. Vì ở trong rừng, thiếu thuốc men, không được chữa trị kịp thời nên tay ảnh mất một ngón và bàn tay bị co rút lại. Vậy mà bắn súng vẫn giỏi lắm đó. Ảnh nói em đừng lo, súng để phòng thân thôi, ít khi phải dùng tới lắm.
- Hai người quen rồi lấy nhau thế nào?
Amí Nghĩa đưa mắt nhìn xa ra ngoài sân nắng chói chang, im lặng một lát. Gương mặt từng xuân sắc một thời, nét như bức tượng gỗ tạc bỗng hơi tối lại, nhưng rồi tươi lên ngay. Có hình ảnh nào lấp lóa trong ánh nắng chiều, hay dường như đã lâu lắm không có ai cùng nhắc những  kỷ niệm về người chồng quá cố, khiến bà có chút ấm lòng.
Năm 1968, vì có chồng đi cách mạng, ở plei bị chính quyền ngụy ép quá, mẹ dẫn mấy anh chị em theo cha vô rừng. Ngày đó, cha của H’Giới cùng làm việc với Y Ni ở căn cứ H6 (nay là huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai). Ổng thích Y Ni vì thấy anh nhỏ người nhưng rất nhanh nhẹn, giao việc gì cũng làm xong một cách chóng vánh. Ông mời Y Ni về nhà, kêu vợ kiếm rau, còn mình gài bẫy thỏ rừng, làm mấy món ăn truyền thống của người Jrai để giới thiệu cho con gái, lúc ấy mới 15 tuổi. H’Giới dong dỏng cao, tóc dài, da ngăm ngăm mượt mà, xinh như con nai mới lớn nhởn nhơ ăn cỏ non. Thật tình lúc đó Giới đã thương và có hứa hẹn kết vợ chồng với một thày giáo cũng người Jrai ở cùng buôn, dạy học tại huyện. Nghề giáo được buôn làng coi trọng lắm. Y Ni lại lớn hơn tới 12 tuổi, nên cô tỏ ý không ưng. Nhưng cha mẹ không đồng ý. Cha thì bảo: “Tìm được người tốt như nó khó lắm đó”. Mẹ còn dọa sẽ từ con nếu không chịu lấy anh. Phía bên gia đình ảnh cũng nói nếu không ưng thì để kiếm vợ người Kinh cho. Thậm chí có lần người bạn thân cùng công tác là ông Y Luyện (sau này làm bí thư tỉnh ủy Đắk Lắk) hẹn với Y Ni: “Mày gả em gái cho tao, tao gả em gái tao cho mày”, nhưng anh vẫn không chịu. Năm 1976 hai người cưới nhau theo đúng phong tục dân tộc, với đầy đủ heo, bò, đãi cả làng ăn uống, chinh trống tùng teng, múa suang tưng bừng suốt hai ngày. Rượu cần chảy rong róc như suối, bao nhiêu lượt nồi đồng đựng đầy nước đổ ché cũng không ai đếm nữa. H’Giới mặc váy áo thổ cẩm, đầu đội một vành hoa rừng do các bạn gái kết cho, xinh như cô dâu trong câu chuyện klei khan cổ xưa. Y Ni mặc bộ quân phục xanh mới, ngực đeo đầy huân, huy chương. Rất oai. Cả buôn ai cũng nói Giới thiệt may mắn, lấy được người chồng vừa giỏi vừa đẹp trai.  Sau khi cưới, H’Giới theo chồng về Buôn Ma Thuột.
- Chị biết không? Chồng tui hát K’ưt hay lắm nhé. Điệu k’ưứt tưởng dễ chứ cũng khó vì nghĩ gì hát nấy theo vần ngay lúc đó. Ổng đi buôn Thu, buôn Bông, Ea Khít… đến đâu cũng uống rượu ghè, hát trước. Hát luôn về chuyện buôn, chuyện người ở đó, nên được bà con thương lắm. Nhiều người nhận kết nghĩa làm em, làm con luôn à. Có tin gì họ cũng nói cho. Có bữa từ huyện đạp xe lên tận nhà này báo đêm đó Fulro về, để đội công tác mật phục. Thậm chí anh lái xe nói: mấy Fulro về hàng kể có đêm đã rình ngoài bìa rừng rồi, biết trên xe có ama Nghĩa nên thôi không bắn nữa đó. Có bữa tính ngủ lại trong buôn, ở Cư Né, mà bà con thấy trong rừng có đèn pin đánh tín hiệu Fulro về, báo ảnh chuyển chỗ khác ngủ luôn.
- Nghe nói ảnh uống rượu dữ lắm hả?
- Tui cũng từng hỏi ảnh như vậy đó. Nhưng ảnh nói ở với bà con phải uống rượu ghè, hút thuốc rê mới nói chuyện được. Ngồi với đám thanh niên thì phải uống rượu đế. Lấy ảnh hàng chục năm, tui mới thấy có vài lần mặc quân phục thôi. Còn lúc nào cũng ăn bận lùm xùm như người ở trong buôn đi rẫy vậy đó. Đi đâu không biết, không nói, vài ba tuần mới ghé về nhà một lần. La cà trong dân miết nên bên kia cũng tin ảnh là đại tá của Fulro cài vô. Bên mình cũng nghi ảnh đại tá Fulrô thiệt.  Biết ông Đại tá Y S.  không? Phó chỉ huy quân sự tỉnh hồi ấy, đã từng xin lệnh của Quân khu 5 bắt ảnh vì tội làm tay trong cho Fulro mà. Bởi anh Ni  nói gì bà con với Fulro cũng nghe rần rần. Các đội công tác bị mấy lần tập kích, một đêm phải chuyển chỗ ngủ tới 2,3 lần, ảnh ăn ngủ tại chỗ luôn luôn mà chẳng bị sao. May mà tỉnh không cho bắt. Lúc đó vợ chồng tui phải mang hồ sơ tới nhà chú Ama Kim, cũng cán bộ địch vận cũ, nhờ làm rõ việc của anh, mấy ổng mới yên. Hồi đó tui lo lắm, giận dỗi có nói nặng mấy câu. Về tới nhà, ảnh ôm chặt tui, nói:
- Em đừng giận tui. Chuyện chính trị, em không hiểu thì đừng nói gì. Tui không uống rượu lè nhè, cũng không theo Fulro. Nhiệm vụ của tui là phải thế. Tui sẽ cố giữ mình nguyên vẹn cho em và các con.
Ảnh đi miết. Có bữa  đem về cả ký thịt khô bò. Hỏi ở đâu, ảnh nói: Đổi 100 viên đạn cho Fulrô mới có mang về cho em với các con ăn đó.
- Ủa, sao lại đổi đạn cho địch vậy anh?
- Cho họ săn thú lấy đồ ăn chứ. Sống trong rừng hồi này thiếu thốn lắm. Họ không dùng đạn mình bắn mình đâu. Đặc tình tui cũng còn cấp đạn cho nữa mà.
- Hèn gì người ta đồn anh là đại tá Fulro. Nhưng ảnh là vậy đó. Dân ai cũng thương. Bà con lúc nào cũng nói: “Nuôi gà chưa kịp lớn, ủ rượu chưa kịp ngấm để  mời, Ama Nghĩa đã đi nơi khác rồi.”
Sau khi hoàn thành việc chống Fulro, Y Ni Ksor mất năm 1998, tại Buôn Ma Thuột, vì bệnh ung thu vòm họng, sau hai năm chữa trị không khỏi. Có lẽ đó là hậu quả của những năm tháng chống giặc giữa núi rừng Tây Nguyên với bao nhiêu tấn chất độc hóa học máy bay Mỹ rải xuống làm trọc lóc những ngọn núi, cánh rừng xanh, nhiễm bẩn từng dòng suối, mấy chục năm hòa bình rồi, núi vẫn như cái đầu không tóc. Hay những đêm ngày cùng đồng đội uống nước suối, nhai trệu trạo miếng lương khô, gói mì tôm, bí mật phục kích, đón lõng Fulro. Anh đã âm thầm làm nhiệm vụ và cũng lặng lẽ ra đi như thế.
Vĩ thanh:
Lực lượng Fulro đã bị xóa sổ từ năm 1992, nghĩa là núi rừng Đắk Lắk hoàn toàn im tiếng súng cũng đã 26 năm, đủ thời gian để giải mã những hồ sơ bí mật. Y Ni mất đến 2018, vừa tròn 20 năm. Trong cuốn sách “Lịch sử công an Đắk Lắk giai đoạn 1975-1996”, ngoài các sự kiện và con số, cũng không có sự đề cập trực tiếp nào đến tên và những trận chiến cụ thể do Y Ni chỉ huy (đó là thành tích tập thể mà).  Trong hồ sơ lý lịch chỉ có vài trang với những gạch đầu dòng ngắn gọn về quá trình công tác. Chỉ đủ  để cho biết ông đã từng được đào tạo rất bài bản từ trung cấp an ninh, tập huấn tận Liên Xô (cũ) lẫn qua các lớp bồi dưỡng công tác tình báo, lý luận chính trị…
Trân trọng cám ơn những đồng đội cũ của ông, từng sát cánh trong những lần trực tiếp tiêu diệt hay tiếp xúc với địch. Họ kể lại nhiều câu chuyện, không có một tài liệu nào ghi chép, nhưng toát lên trên hết là tình cảm gắn bó dài lâu tới tận hôm nay của các anh, với cả những người từng một thời lầm lẫn. Tất cả đủ để hình dung được về Y Ni Ksor, một lãnh đạo an ninh chính trị vững vàng nghiệp vụ, đầy sáng tạo trong cách đánh án, với tấm lòng vô cùng nhân ái không chỉ với gia đình, đồng đội mà với cả những người đồng tộc lầm đường. Đồng đội nhận xét anh: “Là người kiên quyết, không bao giờ chịu bỏ ngang và rất táo bạo. Một con người giản dị, nói ít, làm nhiều, dám nghĩ, dám quyết, dám chịu trách nhiệm, tất cả vì sự bình yên của buôn làng. Mãi mãi sau này cũng khó có được một người như thế”. 
Trời Ban Mê cao lồng lộng biếc. Nắng óng vàng trìu mến phủ lên những mảnh vườn xanh trải dài tít tắp. Con sông Srêpôk thao thiết chảy về hướng mặt trời lặn, ôm ấp trong làn nước xanh đậm màu lá rừng bao câu chuyện huyền thoại về con người và vùng cao nguyên đất đỏ. Hãy hít sâu vào lồng ngực làn gió ngát thơm hương hoa cà phê nở muộn, để thấy đất trời cao nguyên tự do, thanh bình, dường như đẹp thêm lên rất nhiều.
Bài viết này chỉ là một nén tâm nhang tưởng nhớ tới ông, người Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân Y Ni – Y Klăp Ksor, vì nhiệm vụ vinh quang, đã có một đoạn đời hàng chục năm tưởng như lặng lẽ.



Chủ Nhật, 1 tháng 12, 2019

LỜI RU BÊN SUỐI truyện ngắn của NGUYỄN ANH ĐÀO - CHƯ YANG SIN SỐ: 327 THÁNG 11 NĂM 2019



Tư hát ru hay lắm, giọng Tư ngọt như đường, như mía. Trời mưa gió hay nắng chang chang, trời mùa đông hay mùa hạ, trời lạnh hay nóng, giọng hát của Tư không thay đổi, Tư vẫn nhẫn nại hát, Tư sợ con gái thức giấc, Tư muốn con gái ngủ ngon, giấc ngủ mà bao lâu rồi, Tư chưa có được.
“Ầu ơ … lúa chín bên sông
Con đi lâu lắm mà không thấy về…”.
Tư hát đi hát lại, gió thổi xào xạc lá khô, mấy con sóc vô tình làm gãy mấy cành khô bé xíu, phát ra tiếng động vui tai của rừng. Tư đưa ngón tay che ngang miệng mình “suỵt, yên cho chị ngủ, nghe hông?”. Con gái mười sáu tuổi của Tư, ừ, nó mười sáu tuổi rồi, nhưng không có tiếng ru của mẹ là nó ngủ không được đâu. Tư thương nó, chiều chuộng nó, chắc nó sinh hư vậy đó.
Trời mưa, Tây Nguyên đã không mưa thì thôi, đã mưa thì phải mưa đến bạc cả đầu, đến khi con suối đầy ắp, sông chảy ầm ầm thì mưa mới nghỉ, ông trời thương vùng đất đỏ này lắm, nên dân tứ xứ về đây lập nghiệp từ cái thời vận động đi “kinh tế mới”, rồi trở thành quê hương. Tư căng tấm bạt rộng ra một chút để võng mà con gái Tư đang nằm không bị ướt. Tư vừa căng bạt vừa hát, tiếng hát của Tư lẫn trong mưa, lẫn trong tiếng suối chảy róc rách, ướt đẫm, lạnh lẽo và buồn.
Tư bấm đốt ngón tay, nhẩm tính một lát rồi à lên, ủa nhà mình người đông lắm mà, sao giờ đi đâu hết rồi cà, đâu hết rồi? Tư có chồng, có con trai, có con gái, Tư nhớ Tư có nuôi hai con chó nữa, con vện và con mực, chúng đâu hết rồi? Tư bỗng sợ hãi, chúng đâu, tất cả gia đình của Tư đâu, họ bị gì rồi, sao trời mưa mãi thế này mà không ai về nhà? Chồng ơi, con ơi, Mực ơi, Vện ơi!!! Thôi, chắc họ bận làm việc, phận đàn bà, làm vợ làm mẹ, ở nhà ru con là đủ rồi, phải không? “Ầu ơi, con ơi con ngủ cho ngoan…”.
Những đêm mưa tạnh, bên ngoài tụi nhỏ đội đèn pin trên đầu đi soi ếch. Thấy tiếng chúng nói chuyện cười đùa, thấy những cái đèn pin soi sáng cả một đoạn suối, chúng lật những tảng đá rồi cười. Tư tức giận, nhảy xổ ra:
- Đi chỗ khác, yên cho con gái tao ngủ!!!
Tụi nhỏ đâm đầu chạy, đứa này hớt hải hỏi đứa kia: “Bà Tư khùng hay ma vậy tụi bây?”.
Tư chống nạnh:
- Khùng cái đầu cha tụi bây chớ khùng! Con nít mất dạy!
Tư chửi với theo vài câu nữa, khi con suối lặng yên, chỉ còn tiếng nước chảy róc rách thì Tư quay lại nơi chiếc võng của con gái, tiếp tục hát ru. 
“Nhà” của Tư là cái lõm trong gốc cây cổ thụ ven suối, Tư không biết cái cây đó có từ bao giờ, chỉ nhớ từ ngày Tư về làm dâu xứ này, con suối nhỏ bên rẫy của Tư, đã có cái cây này. Bây giờ nó to lắm, gốc nó cả chục người vòng tay ôm mới hết, ở giữa có cái hốc, đủ chỗ tới mấy người ở đó trú mưa tránh nắng. Nói là nói mấy người thôi, chớ từ ngày Tư “dọn nhà” ra đây ở hẳn, thì nơi này thuộc chủ quyền của Tư rồi. Tư có nhà chớ, nhưng con gái Tư nó ngủ luôn ngoài này rồi, Tư phải ở đây mà ru nó ngủ, không có Tư, nó biết làm sao? Ấu ơ …
Mà sao Tư phải dọn nhà, sao Tư phải chọn cái hốc cây này hả? Nói rồi mà, vì con gái của Tư, nó ở ngoài này nè! Sao con gái Tư không ở nhà? Hỏi hoài à, nó ngủ ngoài này chớ sao? Nó ngủ quên dưới lòng suối kia kìa, đó, dưới đó. Tư nhớ mà, bữa đó ba nó say, ừ, ngày nào ba nó chả say, ổng say là ổng cầm cây rượt cả mẹ lẫn con chạy tứ tán, đứa nào không kịp chạy thì chỉ có ăn đòn mà chết. Nhưng cái bữa đó, ổng say mà ổng không có đánh ai hết, cả nhà yên bình, thấy yên nên ai cũng đi làm việc của người đó, Tư với hai thằng con trai ra rẫy cuốc cỏ. Chiều về, Tư nhớ bữa đó sinh nhật mười sáu tuổi của nó, nó nói với Tư chỉ có một câu duy nhất, nói trong nước mắt “Con nhục lắm mẹ! đau lắm!”. Rồi nó đi luôn khi chưa kịp ăn xong bữa cơm chiều. Tư thất thần đi kiếm nó, chân Tư va vào đá, giẫm phải gai tóe máu, Tư kêu nó khản giọng mà không được. Tư đi coi thầy, “thầy” nói ngay gốc cây này nè, nó ngủ ở đó. Tư chạy về, chạy ra bờ suối, một nhánh cây bị gãy rơi một đầu xuống suối, Tư cố kéo nhánh cây lên, thì Tư nhìn thấy con gái mình, nó ngủ say, nổi lên mặt nước. Tư kéo nó vô, một mình Tư thôi, Tư không cho ai chạm đến nó, Tư mắc võng ngay gốc cây này, Tư rủ nó ngủ…
Tư nghe văng vẳng tiếng nó khóc, nó khóc mãi thôi, nhưng chỉ cần Tư hát ru thì nó nín, vậy nên Tư dành hết cuộc đời còn lại của mình, chỉ để ru con gái ngủ ngoan. Ngủ đi tuổi mười sáu, lúa ngậm đòng thơm sữa bên sông, ầu ơ…
Tư không có khùng, thiệt, đâu có ai khùng mà biết ru con, người ta khùng hay điên người ta còn bóp cổ con mình đó chớ, Tư thương con mà, thương lắm, thương đứt ruột, trời ơi. Tư thương nó, vì sinh ra nó là con gái, sau này con gái trở thành đàn bà, nó phải làm vợ, phải làm mẹ. Mà làm vợ làm mẹ là làm sao? Là mỗi ngày làm việc quần quật, chiều về vơ vội bộ quần áo với cái mền, hai tay dắt hai đứa con tất tả chạy trốn khỏi ngôi nhà có một người đang lên cơn say rượu. Làm mẹ là che chở cho con, đưa lưng ra chịu hết đòn roi xuống đầu con, là người lau nước mắt trên mặt con, là trấn an nỗi sợ hãi trong mắt con… làm gì nữa nhỉ? Làm gì Tư không nhớ hết, Tư chỉ biết Tư không muốn đẻ con gái, nó khổ lắm, vì vậy mà Tư thương con gái của Tư, Tư biết, tại Tư đẻ nó ra chớ đâu phải bản thân nó muốn làm con của Tư đâu.
Lâu rồi, Tư không gặp con trai mình, cả con Vện, con Mực. Tư biểu con gái ngủ ngoan một chút đi, Tư đi tìm anh hai cho con. Tư về ngôi nhà cũ, ngôi nhà mà Tư nhớ ngày xưa, họ hàng đứng hai bên để đón Tư trong bộ áo dài đẹp nhất cuộc đời mà Tư có. Tư nhìn thấy chồng Tư, ông ấy nằm trên phản gỗ với hai chân băng bột lên tới háng. Tư đứng nhìn mãi một hồi lâu, như nhìn thấy một điều thật lạ lùng. Bởi cả cuộc đời đã qua của Tư, chính Tư mới là người bị thương, mới là người nằm viện chứ không phải người đàn ông này, đối với Tư, đây là người có sức khỏe phi thường mà Tư không bao giờ đủ sức chống trả. Cửa xịch mở, con trai Tư bước vô:
- Mẹ về rồi à?
- Sao… sao cha con..?
- Cha cái gì? Con kêu bạn tới đập ổng đó! Lần này chỉ gãy chân thôi, lần sau đập hẳn vào đầu!
- Mày làm con mà, mày…
- Ổng có làm cha tui đâu, ổng là thú dữ! Mẹ không biết ổng hiếp con Ti, nó phải tự tử không? 
Tư ngẩn người ra một lúc, con Ti nào tự tử, mà tự tử là gì? Làm gì có, con Ti nó ngủ ngoài võng, mẹ ru nó suốt lâu nay mà! Thôi, giờ này chắc nó thức, nó khóc rồi, mẹ về ru nó. Ủa, con Vện con Mực đâu?
- Chết rồi, người còn sống không nổi, chó làm sao sống?
Tư mệt, Tư không hiểu được những gì thằng con mình nói, nó là một người đàn ông, phải, mai này nó là đàn ông, nó làm chồng, làm cha. Nó có như người đàn ông đang bó trắng cả hai chân nằm kia không? Tư đâu có biết, ông trời sắp xếp sao thì Tư nghe vậy thôi. Vì vậy mà Tư nghĩ, Tư không cần dành nhiều tình thương cho con trai, nó vốn mạnh mẽ, một thứ mạnh mẽ mà không có bất cứ ai dám phản kháng, như cha của nó.
Tư về gốc cây cổ thụ của mình, với những câu hát ru quen thuộc, với chiếc võng đong đưa ngày nắng cũng như ngày mưa. Khúc suối đó chỉ còn mỗi Tư, người ta nói chỗ đó có ma, không ai dám đi ngang nữa, thỉnh thoảng có tụi nhỏ ở vùng khác đi dọc suối qua soi ếch, nhưng nghe tiếng hát của Tư chúng cũng thụt giò mà chạy. Tư nghĩ nhiều lắm, ừ, sống thì phải suy nghĩ chớ, nếu mai này con gái Tư có chồng, Tư có quyền chọn chồng cho nó không, chớ Tư nghĩ, nếu ai đánh con gái của Tư, dù đó là chồng của nó, Tư chắc cũng đánh lại, Tư không để yên đâu, thiệt mà! Lúc đó người ta có nói Tư bằng bà Tư khùng cũng được. Nghĩ rồi Tư vò đầu bứt tai, đau đầu thiệt đó, ông trời ổng ác ghê, sao sinh ra đàn ông khỏe mạnh hơn đàn bà làm gì chớ!
Hỏi cắc cớ vậy sao ông trời biết mà trả lời, vốn dĩ xưa nay đàn ông khỏe mạnh hơn đàn bà, để gánh vác việc lớn, việc nặng nhọc, ổng đâu có sinh ra đàn ông để uống rượu đánh đập hà hiếp đàn bà đâu, đó là tại con người chớ bộ. Ừ, vậy cũng phải, thôi, Tư đau đầu rồi, Tư cần ngủ, mẹ ngủ xíu nha con gái, ầu ơ….
Trời lại mưa, nghe nói ảnh hưởng cơn bão số mười hai rồi, là cơn bão gần như cuối cùng trong năm, Tây Nguyên lại mưa suốt cả tuần không dứt. Tư có nhiều gạo, nhiều lúa, nhiều trái cây hái ven suối, Tư cũng bắt cá để dành. Ừ, bao mùa mưa qua rồi, Tư hiểu mà, Tư đâu có khùng. Tư còn phải nuôi con gái của Tư, nó mười sáu tuổi rồi, hồi xưa Tư bằng nó, Tư cũng sắp lấy chồng rồi còn gì! Bỗng nhiên nghĩ tới chuyện con gái sắp lấy chồng Tư sợ, không được, không ai được lại gần nó hết, không ai được làm nó đau, không được! Tư hoảng loạn trong mưa, Tư hét lên, Tư vùng chạy về nhà.
Người đàn ông mà Tư gọi là chồng vẫn nằm bất động trên tấm phản gỗ, mắt thiêm thiếp ngủ, nếu Tư làm cho người này chết, thì sẽ không còn ai dám làm chồng con gái của Tư, đúng không? Tư cần giải thoát cho con gái mình, phải giải thoát cho nó, Tư không muốn con bé phải sống cuộc đời như Tư. Tư cầm sợi dây, đứng trước mặt người đàn ông ấy, gằn từng tiếng:
- Ông nghỉ ngơi được rồi, sống nhiêu đó thôi!
Người đàn ông ấy thều thào, không nói nên câu:
- Bà… cho tôi nước… tôi khát… tôi đói…
Sợi dây trên tay Tư từ từ rơi xuống đất, Tư tất tả chạy xuống bếp, nồi cơm mấy ngày lên mốc meo, bếp lạnh tanh. Thằng con trai nó bỏ đi đâu mấy ngày rồi, bỏ ông già nằm đó không cơm không nước. Bỗng nhiên Tư quên mất mình cần phải làm gì, Tư quay về là một người vợ, một người đàn bà tất tả phục vụ khi chồng con đói khát, Tư trở lại là Tư của ngày chấp nhận số trời, và, Tư đi nấu cơm.
Tư đưa nước cho chồng, nhưng ông chỉ nuốt được từng giọt, khó khăn. Tư vội vã lấy cơm, lấy canh, Tư đút ông ăn. Tư lắc đầu, người đàn ông có sức mạnh phi thường mà suốt cuộc đời làm vợ Tư không dám chống trả đâu rồi nhỉ? Người mạnh nhất cũng có lúc yếu vầy hay sao? Thật lạ, lạ lắm!
Ông trợn mắt lên, thở dốc, miếng cơm còn dở trong miệng phun bắn ra, đầu ông nghiêng qua một bên, và tắt thở. Ông chết, không phải Tư làm ông chết, Tư lấy sợi dây treo lại chỗ cũ, Tư chỉ cho ông ăn, Tư muốn cứu sống ông, thật lòng, ngay giây phút đó Tư không muốn ông chết, ông là chồng của Tư mà!
Tư lại về gốc cây cổ thụ ven suối với niềm vui tột cùng, con gái à, ông ấy chết rồi, con sẽ chẳng phải làm chồng như mẹ, đời này chẳng còn đàn ông như ông ấy nữa đâu. Con ngủ đi, ngủ ngon đi con! Bữa đó, người ta nghe Tư hát vang cả một góc rừng.


Thứ Tư, 20 tháng 11, 2019

EA H'LEO VÙNG ĐẤT HUYỀN DIỆU CỦA ĐẠI NGÀN bút ký của HỒNG CHIẾN - TẠP CHÍ VĂN HÓA CÁC DÂN TỘC SỐ 301+302 NĂM 2019










































Đúng hẹn, buổi sáng ngày làm việc thứ hai Trại sáng tác văn học nghệ thuật huyện Ea H’Leo tháng 6 năm 2018, chúng tôi đến quán uống cà phê theo lời mời của ông Lê Thăng Long - Chủ tịch Ủy ban nhân dân (UBND) huyện Ea H’Leo.  Qua câu chuyện, ông hỏi việc khai mạc Trại và ngày đầu làm việc của đoàn kết quả ra sao, khó khăn, thuận lợi thế nào, có yêu cầu gì với địa phương nữa không… anh em trong đoàn vui vẻ tâm sự như những người bạn lâu ngày gặp lại. Tôi trao đổi thêm một số công vệc cần thiết, nghe xong ông Lê Thăng Long nói:
-Hôm qua tôi bận công tác đột xuất không dự khai mạc Trại với các anh được, tiếc quá. Để thuận tiện cho đoàn làm việc trong những ngày ở đây, tôi mời anh và toàn thể anh chị em văn nghệ sỹ trong đoàn, 14 giờ chiều nay về Văn phòng UBND huyện hội ý. Bên huyện sẽ mời đồng chí Bí thư Huyện ủy và cán bộ đầu ngành của Huyện ủy, Ủy ban nhân dân huyện cùng thống nhất xem đoàn cần gì, các bộ phận của huyện sẽ bố trí, sắp xếp.
Lời đề nghị của ông Chủ tịch Huyện với đoàn làm tôi bị bất ngờ; bất ngờ ở chỗ, ông không những rất quan tâm đến đoàn mà còn am hiểu công việc của các văn nghệ sỹ khi đi thực tế sáng tác. Chỉ mới lần đầu tiếp xúc nhưng tôi có ấn tượng về phong cách làm việc của ông khi xử lý công việc một cách quyết đoán. Để chuẩn bị mở trại, Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh và Huyện ủy đã có công văn thống nhất chủ trương, lãnh đạo Hội về làm việc, thống nhất kế hoạch với Huyện ủy và Ủy ban nhân dân huyện. Trong buổi làm việc đầu tiên có Bí thư, Phó bí thư Huyện ủy; Phó Chủ tịch phụ trách Văn xã và một số cán bộ đầu ngành liên quan, còn Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện bận họp trên tỉnh không về kịp, kế hoạch mở trại nhận được sự đồng thuận cao.
 Buổi chiều đúng hẹn, đoàn chúng tôi tới hội trường UBND huyện đã thấy đồng chí Nguyễn Đình Viên – Tỉnh ủy viên, Bí thư Huyện ủy cùng hai Phó bí thư Huyện ủy; Chủ tịch UBND huyện Lê Thăng Long cùng ba ông Phó chủ tịch UBND huyện và cán bộ chủ chốt các phòng ban của Huyện ủy, UBND huyện đã tập trung đợi đoàn. Ông Lê Thăng Long chủ trì cuộc họp, nghe báo cáo một số nét chính về thành tựu kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng của huyện Ea H’Leo trong ba năm gần đây. Sau báo cáo, ông xin ý kiến đề xuất của đoàn với Huyện; ý kiến của các thành viên ở huyện dự họp. Kết thúc hội nghị, ông nhấn mạnh: Huyện sẽ tạo điều kiện thuận lợi nhất có thể để đoàn làm việc, anh em cần đi cơ sở lấy xe của Văn phòng UBND huyện, thiếu xe nữa điều xe của Văn phòng Huyện ủy…
Huyện Ea H’Leo là cửa ngõ phía bắc của tỉnh Đắk Lắk, phía bắc giáp tỉnh Gia Lai, phía nam giáp huyện Cư M’Gar và huyện Krông Buk, phía đông giáp thị xã Ayun Pa và huyện Phú Thiện thuộc tỉnh Gia Lai, phía tây giáp huyện Ea Sup. Huyện được thành lập theo quyết định số 110/CP ngày 8/4/1980 trên cơ sở tách các xã phía Bắc thuộc huyện Krông Buk. Huyện lấy tên là Ea H'Leo – tên con sông lớn nhất chảy qua địa bàn huyện. Diện tích tự nhiên của huyện có 133.409 ha, dân số trên 137.000 người, có 26 dân tộc anh em cùng sinh sống, trong đó dân tộc thiểu số chiếm khoảng 41%.Toàn huyện có 11 xã, 01 thị trấn với 197 thôn, buôn, tổ dân phố, trong đó có 53 buôn của đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ. Ea H’leo có thế mạnh về tài nguyên đất, rừng, khoáng sản… Thị trấn Ea Drăng – cách thành phố Buôn Ma Thuột 82 km về phía bắc, tính theo đường Hồ Chí Minh qua Gia Lai. Một vài con số thống kê về điều kiện tự nhiên và xã hội cho ta thấy đây là một vùng đất có nhiều tiềm năng để phát triển kinh tế, xã hội.
Ông Phạm Văn Khôi – Huyện ủy viên, Trưởng Phòng Văn hóa Thông tin huyện giới thiệu thêm với chúng tôi một số địa danh nổi tiếng của huyện như: đèo Cư Đruê, Khu bảo tồn sinh vật cảnh thông nước, thác Bảy Tầng, thác Mỏ Đen, Khu xây dựng nhà máy điện gió, Khu di tích nơi công bố quyết định thành lập Quân đoàn Tây Nguyên, Sở chỉ huy chiến dịch Tây Nguyên mùa xuân năm 1975 của Đại tướng Văn Tiến Dũng… Chỉ mới nghe thôi mà lòng đã thấy háo hức lạ thường.
Vùng đất tận cùng phía bắc của tỉnh Đắk Lắk, nhiều núi cao, vực sâu, đi lại khó khăn nên ta đã chọn nơi đây làm điểm quyết chiến chiến lược tiêu diệt kẻ thù xâm lược như trận đánh trên đèo Cư Đruê ngày 17/7/1954, tiêu diệt binh đoàn cơ động 42 của Thực dân Pháp đang trên đường từ Plây Ku về tiếp ứng cho Buôn Ma Thuột; góp phần quan trọng buộc thực dân Pháp phải rút khỏi Tây Nguyên. Trong chiến dịch Tây Nguyên lịch sử, chiến thắng quận lỵ Thuần Mẫn - Cẩm Ga ngày 8/3/1975 là nhát dao chí mạng cắt đường 14 và đường 7 nối Đắk Lắk với đồng bằng ven biển miền Trung, góp phần quan trọng vào chiến dịch giải phóng Buôn Ma Thuột… Những chiến thắng vang dội ấy đã nói lên phần nào khí phách hào hùng của quân và dân vùng đất Ea H’Leo. Hòa bình lập lại Đảng và Nhà nước ta phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân cho Huyện Ea H’Leo.
Trong chiến tranh giữ nước, vùng đất linh thiêng của đại ngàn Tây Nguyên có những chiến công hiển hách là vậy; hòa bình lập lại, đảng bộ và nhân dân huyện Ea H’Leo tiếp tục phát huy trên mặt trận mới: xóa đói, giảm nghèo, từng bước xây dựng cuộc sống bình yên, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân nơi đây. Từ một vùng đất được xếp vào loại nghèo nhất tỉnh Đắk Lắk sau khi thành lập huyện; đất rộng, người thưa, trình độ dân trí thấp, trên 50% dân số ở độ tuổi đi học không biết chữ, kinh tế nhỏ lẻ… Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ và chính quyền nhân dân các cấp, vùng đất Ea H’Leo từng bước phát triển, gặt hái được những thành quả hết sức rực rỡ và trở thành một trong những huyện dẫn đầu toàn tỉnh với tốc độ tăng trưởng hàng năm liên tục đạt trên 10%, thu nhập bình quân đầu người hiện nay đạt 34,360 triệu đồng/năm
Dưới sự lãnh đạo của Đảng và chính quyền nơi đây, người dân được định hướng trồng cây gì, nuôi con gì và kết quả những cánh rừng cà phê, tiêu, cao su… bạt ngàn xanh tốt, năng suất ổn định. Trang trại nuôi heo, gà được định hình phát triển; đàn trâu bò của các hộ gia đình ở buôn không ngừng phát triển làm thay đổi cuộc sống của người dân nơi đây. Nhiều hộ gia đình đã trở thành tỷ phú, thu nhập hàng năm trên cả tỷ đồng. Ea H’Leo một thời công nghiệp chế biến lâm sản phát triển, nổi tiếng trên cả nước và hôm nay đang phát động trồng rừng, phủ xanh lại những quả đồi đã được khai thác.
Đạt được kết quả như thế là cả một quảng đường dài phấn đấu của cả tập thể lãnh đạo các cấp biết đoàn kết nội bộ, hoạch định được chiến lược phát triển từng giai đoạn 5 năm, 10 năm, tầm nhìn 20 năm… và từng bước thực hiện.
Chúng ta đến huyện Ea H’Leo hôm nay không chỉ thấy những con đường nối các thôn buôn đa số được nâng cấp, đổ bê tông, trải thảm nhựa; trường học các cấp đạt chuẩn Quốc gia. Bên đường đi, những ngôi nhà mái ngói, mái tôn xây kiên cố thấp thoáng sau những vườn tiêu, vườn cà phê, lô cao su xanh tốt… mới hiểu và cảm nhận được vùng đất bình yên đang trở mình thành vùng đất đáng sống.
Trên đỉnh đồi Gió và vùng phụ cận thuộc xã Dliê Yang rộng hơn 50 ha, nơi đang xây dựng khu điện gió có vốn đầu tư 1.500 tỷ đồng, khởi công năm 2014, nhiều thiết bị đã được lắp đặt xong. Những cây cột điện khổng lồ vươn thẳng lên bầu trời, mang tua bin và cánh quạt nặng trên 15 tấn đón gió, chuyển thành dòng điện phục vụ con người. Thật khâm phục những người kỹ sư đã tìm được vùng đất đắc địa; khảo sát, thiết kế xây dựng những cây cột khổng lồ vây quanh quả đồi Gió, hứng gió sản sinh ra dòng điện phục vụ con người. Hy vọng thời gian không xa, khu điện gió thân thiện với môi trường sẽ hòa lưới điện quốc gia và vùng đất này sẽ mở cửa đón các đoàn du khách đến thăm quan, chiêm ngưỡng. Một tiềm năng du lịch rất lớn nếu chúng ta biết tổ chức khai thác tốt, đang rộng mở nơi đây.
Nếu khu vực xây dựng công trình nhà máy điện gió, đường đi lại tương đối thuận tiện, dẫn ta đến quang cảnh hùng vĩ do con người tạo nên trên một vùng đất đẹp có thể phóng tầm mắt nhìn gần như gần hết địa bàn huyện vào một ngày nắng đẹp thì Khu bảo tồn sinh vật cảnh thông nước lại đưa ta về với đầm lầy và những gốc cây cổ xưa. Đoàn chúng tôi phải dừng xe cách Khu bảo tồn gần một ki lô mét vì đường đất, dốc, lại quá hẹp, xe không xuống được. Anh em văn nghệ sỹ lội trên con đường đất đỏ trơn trượt, lần từng bước xuống đầm lầy, nơi những cây thông nước có từ thời tiền sử còn tồn tại duy nhất trên thế giới. Gọi là thông nước, vì giống loài thông bình thường, nhưng những cây thông này lại mọc dưới đầm lầy. Để vào trong rừng xem cây, người ta phải làm đường lát bằng ván nổi trên mặt sình. Mỗi tấm ván dài hơn một mét, rộng hai mươi phân kê lên trên các thùng phi rỗng, tạo thành cầu phao đi sâu vào khu đầm lầy đến tận từng gốc cây. Trong đầm có những cây thông nước cao đến hai chục mét, gốc cây lớn nhất phải bốn người ôm mới hết. Bên mỗi gốc cây lớn lại có thêm một chiếc lán lợp tạm bằng tôn, thưng ván xung quanh, sàn lát ván rộng chừng 4 mét vuông để cán bộ thay nhau ngày đêm ngủ bảo vệ cây. Trong đầm lầy, muỗi, độ ẩm cao, không biết các anh làm công tác bảo vệ khu bảo tồn này làm sao để đảm bảo sức khỏe khi sống trong những chòi canh tạm như konet thế nay?
Ngày hôm sau, ông Phạm Văn Khôi tiếp tục đưa chúng tôi vào thăm địa danh mới được quy hoạch: Sở chỉ huy chiến dịch Tây Nguyên mùa xuân 1975 nơi Đại tướng Văn Tiến Dũng từng ở, chỉ huy chiến dịch giải phóng thị xã Buôn Ma Thuột tháng 3 năm 1975 và địa danh công bố Quyết định thành lập Quân đoàn 3 (Binh đoàn Tây Nguyên).
Xe qua trụ sở Ủy ban nhân xã Ea Tir chừng 2 km bắt đầu đi vào con đường đất đỏ bazan rải đá dăm, thêm khoảng 5 km nữa hết đường đá là con đường đất, xe máy cày chạy nhiều, thành từng vũng lầy. Chiếc xe hai cầu của huyện chở 4 người đi như người say rượu; hết trượt qua trái lại ngoặt qua phải, anh Sơn lái xe của Phòng Văn hóa thông tin huyện cũng phải thốt lên: Đường xấu lắm, các bác ngồi cẩn thận không bị sưng đầu đấy. Hết lên dốc đá cao vút, lởm chởm những hoàn đá tảng như lưng trâu lại lao xuống khe ngập nước; lái xe phải xắn quần, lội suối, lăn gốc cây mở lối cho xe vượt qua. Gần trưa chúng tôi đến được vùng đất dốc thoai thoải về phía bắc, cây cối chỉ mọc cao ngang đầu người; thỉnh thoảng mới thấy một gốc cây to cháy đen thui - dấu vết của đại ngàn còn lại. Xe dừng bên cột mốc bê tông gắn tấm biển ghi: KHU DI TÍCH NƠI CÔNG BỐ QUYẾT ĐỊNH THÀNH LẬP QUÂN ĐOÀN 3 (BINH ĐOÀN TÂY NGUYÊN).
Khu rừng hoang vắng, chỉ có cây cộng sản xanh rì mọc xanh tốt, chúng tôi đi rộng ra xung quanh phát hiện thêm một số cột bê tông được chôn cẩn thận, đánh dấu địa điểm các hầm – nơi làm việc của các đơn vị trực thuộc sở chỉ huy. Theo anh Phạm Văn Khôi, nếu xuôi theo triền đồi khoảng hơm 1 km đến suối lớn, băng qua suối 1 km là đến Sở chỉ huy chiến dịch Tây Nguyên của Đại Tướng Văn Tiến Dũng; nhưng suối sâu, xe không qua được, còn đi bộ thì… mấy anh em đã quá mệt, không bước nổi nữa.
Một vùng đất rộng, hoang vu chắc xưa kia nơi đây là rừng già của đại ngàn nay đã bị tàn phá hết, giao đất cho Công ty TNHH trồng rừng; rừng chưa trồng, chỉ có cỏ dại và le mọc um tùm. Thoảng trong gió của thảo nguyên lồng lộng thổi, tôi nghe như có cả tiếng xe tăng gầm, tiếng đại bác réo của một thời “gian lao mà anh dũng” của Quân Giải phóng Miền Nam vọng về. Các thế hệ cha anh đi trước không tiếc máu xương và lòng mưu trí, dũng cảm chiến thắng kẻ thù, mang lại thống nhất trọn vẹn lãnh thổ cha ông để lại. Đứng tại địa điểm của mảnh đất lịch sử nơi đây ta mới cảm nhật hết được cái rộng lớn của Tây Nguyên; cái đẹp, sự hùng vĩ của vùng đất phía tây của Tổ Quốc mà cha anh chúng ta chọn làm địa điểm chỉ huy chiến lược, quyết chiến với kẻ thù. Chúng ta mong và tin, một ngày không xa Khu di tích này sẽ được khởi công xây dựng và sớm hoàn thành để con cháu đến thăm và chiêm ngưỡng.
Huyện Ea H’Leo không chỉ có công trình điện gió duy nhất xây dựng trên vùng Tây Nguyên sẽ là điểm thu hút khách du lịch mà còn nhiều địa danh nổi tiếng khác như: thác Bảy Tầng, thác Mỏ Đen, Hồ Ea Đrăng, Khu bảo tồn sinh vật cảnh thông nước… và đặc biệt Khu di tích lịch sử: Nơi công bố Quyết định thành lập Quân đoàn 3 (Binh đoàn Tây Nguyên); Sở Chỉ huy chiến dịch Tây Nguyên, giải phóng Buôn Ma Thuột tháng 3 năm 1975 đã được quy hoạch. Trong tương lại gần, nếu ta biết tổ chức khai thác tốt thì đây là những “khu công nghiệp không khói” mạng lại nguồn lợi vô cùng to lớn góp phần quan trọng nâng cao vị thế của vùng đất nơi đây. Tuy nhiên để đạt được điều ấy là cả một chặng đường còn hết sức gian nan phía trước, đặc biệt kinh phí đầu tư vào các hạng mục công trình. Một số địa danh cơ sở hạ tầng gần như bằng không, đang cần một cơ chế quản lý, chính sách phù hợp thu hút đầu tư, nhưng điều này lại vượt tầm của địa phương. Đây là một thách thức lớn với chính quyền địa phương nơi đây.
Vùng đất địa linh, nhân kiệt – Ea H’Leo, đã gặt hái được những thành tích vô cùng rực rỡ sau gần 40 năm thành lập và phát triển, chắc chắn sẽ còn phát triển hơn nữa trong thời gian sắp tới. Mừng với Ea H’Leo được một tập thể đảng bộ đoàn kết, nhất trí cao, có những cá nhân xuất sắc đảm nhiệm những chức vụ chủ chốt lãnh đạo huyện ngày càng phát triển về mọi mặt, vươn lên thành điểm sáng của tỉnh Đắk Lắk về phát triển kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng. Vui với Ea H’Leo cuộc sống người dân đang dần một nâng cao, họ không những biết làm giàu trên vùng đất màu mỡ của mình mà còn tin tưởng vào đường lối, chủ trương của Đảng, chung tay cùng chính quyền xây dựng quê hương ngày một tươi đẹp hơn. Nhưng cũng còn đó nỗi lo về chính sách, cơ chế đầu tư, quy hoạch phát triển du lịch – một thế mạnh của Ea H’Leo đang đợi lời giả đáp của các cấp có thẩm quyền để đánh thức vùng đất huyền diệu của đại ngàn phục vụ cuộc sống.

Thứ Sáu, 15 tháng 11, 2019

DRAY NU TRUYỀN THUYẾT truyện ngắn của HỒNG CHIẾN - TẠP CHÍ NÂM NUNG SỐ: 159 tháng 11 năm 2019




-         Gâu, gâu, gâu…
Tiếng con vàng gầm lên nghe có vẻ bất thường so với mọi lần vào rừng le đi săn. Y Duk quẳng luôn sáu chiếc đó mang theo xuống đất, leo lên bụi le tiến lại chỗ chó sủa. Bụi le to quá, rộng đến cả chục sải tay, các cây cao chót vót, chen nhau đứng như một bức tường thành. Các bụi le mọc sát vào nhau, mỗi bụi chỉ cách xa vừa một lỗ cho con chó chui qua phía dưới, còn phía trên cây này đan vào vây kia không cho các loài thú lớn đi qua. Con người muốn vào sâu bên trong phải leo lên cao, lần từng cây le này qua cây le kia.
Rừng le không biết có từ bao giờ, chỉ nghe người già nói rằng chúng rộng lắm, con người có leo mỏi chân cả ngày cũng chưa đến được bờ sông, nơi ngã ba của con sông Vợ gặp sông Chồng. Sông Vợ bắt nguồn từ hướng đông, nơi mặt trời thức dậy mỗi buổi sáng mai lấy nước đổ về phía tây. Nước của con sông Vợ được chắt lọc từ những ngọn núi cao của đỉnh Chư Yang Sin hùng vĩ, nơi ngự trị của thần cọp. Còn sông Chồng bắt nguồn từ đỉnh Lang Biang, chảy ra phía bắc đón thêm nước mát của đỉnh Nâm Nung trước khi lượn qua đón nước phía tây dãy Chư Yang Sin chạy về phía bắc. Hai dòng sông gặp nhau, reo vui tạo nên một vùng nước mênh mông, ba phía núi chắn chỉ chừa một khúc cho nước chảy về phía tây. Để vượt qua dãy núi chắn, dòng sông gầm thét tạo nên những cái thác khổng lồ trên đường đi của mình, một trong những cái thác lớn đó ẩn sâu sau khu rừng le. Người trong vùng biết có con thác ở đó vì tiếng nước réo của nó đứng trên đỉnh núi cách xa cả nửa ngày đường vẫn nghe thấy.
Trong rừng le có một loài thú to như con thỏ rừng, lông màu xám mốc và có hình giáng như con chuột, chuyên sống trong hang, ăn rễ le; người trong vùng gọi là con dúi, thịt ăn rất ngon. Vào những ngày không mưa, Y Duk dắt chó vào khu rừng le săn dúi. Mỗi ngày đi săn Y Duk chỉ bắt đủ sáu con dúi nhốt vào sáu chiếc đó, mang về ăn thịt và trao đổi với người trong buôn lấy thứ cần thiết như: gạo, muối, nước mắm…
Buôn Tua Srah cách rừng le vừa đủ một khoảng tiếng vọng của thác nước đuối hơi không đến được những ngày mùa khô. Trong buôn có hơn trăm nóc nhà dài, nhưng không ai có tài bắt dúi như Y Duk. Chuyện cũng tình cờ, năm được mười mùa rẫy, sau ngày ami mất YDuk lên núi Cư Kuin lấy mật ong rừng. Khi đi qua một hốc đá nghe có tiếng chó con kêu. Tò mò, Y Duk bước lại gần và giật mình thấy một con trăn to bằng bắp đùi, bụng to như cây chuối lớn, chắc mới nuốt con  sói mẹ và mấy con sói con nên không chạy được, chỉ nằm một chỗ ngúc ngoắc cái đầu, lè lưỡi dài đỏ lòm ra dọa người. Y Duk nắm đuôi lôi con trăn khỏi hang rồi vào bế con chó sói to bằng cổ chân người, còn sót lại trong hang, bỏ vào gùi mang về nuôi. Ba tháng sau, con sói con đã lớn gần bằng bắp đùi, Y Duk đi đâu nó theo đó như hình với bóng; lông từ màu xám chuyển dần qua màu cỏ tranh chín nên mấy đứa bạn đặt cho nó cái tên mới: con vàng.
Một lần đi hái măng trong rừng le, con vàng bỗng nhiên thò đầu vào chiếc hang dưới bụi le sủa lên inh ỏi, hai chân trước đào tung đất cát. Tò mò, Y Duk lại gần giúp con vàng đào hang; bất ngờ từ cửa hang phía sau bui le, hai con dúi nối đuôi nhau chay ra, con vàng lao lên tóm được một con to đúng bằng cổ chân, béo núc ních. Từ đó, Y Duk đưa con vàng vào rừng bắt dúi kiếm sống, không còn vất vả như trước nữa. Dúi trong rừng le nhiều lắm, con vàng vào trong đó chọn một chiếc hang có nhiều dúi đứng sủa. Y Duk mang theo đó leo qua các bụi le đến chỗ chó sủa, tìm xem có bao nhiêu cửa hang dúi có thể chạy ra để đặt đó vào cửa. Cửa hang nào không có đó đơm thì chặt cây, lấp đất lại. Khi đã đơm đó và chặn hết các lối thoát, Y Duk dùng một cành le dài, phía đầu để lại ít lá, luồn từ từ vào cửa hang, cứ thọc vào độ ba gang tay lại rút ra một gang. Bên một cửa hang khác con vàng canh giữ, khi thấy Y Duk thọc que vào hang, nó cũng gầm lên thật to, hai chân trước bới tung đất cát để tiến sâu vào hang. Trong hang, nghe tiếng chó sủa, lại thấy lá cây luồn vào, lũ dúi hoảng sợ lao ra khỏi hang, chui ngay vào đó đơm sẵn. Có hôm hai ba con dúi chui vào một đó, nhưng Y Duk chỉ giữ lại sáu con to nhất mang về, số còn lại thả chúng vào rừng.
Hôm nay con vàng gầm lên như đang đối diện với một con vật nguy hiểm trên mặt đất chứ không phải tiếng sủa gọi người đến hang có dúi. Bình thường khi xác định được hang có dúi, con vàng đứng canh bên cạnh rồi cất tiếng sủa gọi người; tiếng sủa phát ra từng tiếng một, khoan thai, không lớn lắm. Khi được lệnh đuổi dúi ra khỏi hang, con vàng mới gầm lên dữ dội, kèm theo đó là tiếng đào đất, tiếng cắn, giật rễ le… làm lũ dúi hoảng sợ phải bỏ chạy ra khỏi hang.
Thế mà hôm nay tiếng sủa của con vàng hình như dữ dội và âm hưởng như có gì đó khác lạ làm Y Duk không an lòng, phải hối hả trườn trên các ngọn le, tìm đến. Khi đến gần nơi con vàng sủa, Y Duk không tin ở mắt mình: một con dúi to hơn con vàng, lông nó vàng óng ả, hai chiếc răng cửa từ phía hàm dưới to bằng hai ngón tay cái chĩa lên sát mũi, dài đến nửa gang tay. Con dúi không sợ con vàng, mà hình như nó tò mò ngồi trên hai chân sau quan sát đối thủ, hai chân trước để trước ngực. Con vàng hình như cũng sợ nên đứng thủ thể cách xa đến năm bước chân, miệng sủa, nhưng cái đuôi lại cụp xuống sát đất, không dựng lên như mọi khi. Nhìn thấy Y Duk đu ngọn le đến, con dúi bỏ chạy; con vàng vội vã lao theo rồi lại dừng, đứng sủa. Cứ như trêu đùa, Y Duk đến gần được tiếng sủa của con vàng, nó lại chạy một đoạn rồi dừng, rồi lại chạy… cứ đuổi nhau như thế từ sáng đến trưa, qua chiều, Y Duk thấy thấm mệt định bỏ cuộc vì biết đã đi quá sâu vào trong rừng le, tiếng thác nước đổ nghe gần lắm rồi.
Bỗng con vàng kêu lên thảm thiết, tiếng kêu lớn hơn cả tiếng thác nước đổ làm Y Duk vội vã dùng hết sức trườn trên các ngọn le lao tới. Khi đến được gần phía trên tiếng con vàng kêu, trước mắt Y Duk là dòng thác dài hơn trăm sãi tay, nước đổ ầm ầm, hơi nước bốc lên mù mịt, các ngọn le ở gần bị ướt như mới mưa xong. Mấy cây le hình như đồng loạt cúi đầu xuống làm Y Duk trượt tay, người trôi trên ngọn le rồi văng xuống…
*
Hơi ấm lướt nhẹ lên mặt cùng với tiếng gầm nho nhỏ: gừ gừ, gừ… làm Y Duk chợt tỉnh lại, mở mắt nhìn nhận ra con vàng nằm bên cạnh đang thè chiếc lưỡi dài liếm lên mặt. Trời đã tối từ lúc nào không biết, Y Duk chống tay định ngồi thậy thì thấy chân phải đau buốt. Thôi chết, mình bị gãy chân rồi, chắc lúc chiều bị ngã từ ngọn le xuống bờ sông đây. Cố co chân lên, lấy tay sờ cổ chân thấy sưng tròn, đau rát. Cơn khát bất ngờ ùa đến, Y Duk chống tay trườn đi, nhích từng tý, từng tý trên mặt đá trơn tuột, xuống bờ sông. Xuống được mép nước, Y Duk úp cả mặt xuống sông để cho dòng nước mát ôm lấy mặt. Tiếng thác réo ầm ầm, bui nước bốc lên tạo thành một màn khói dày đặc. Mặt trăng tròn như miệng chiếc gùi, màu trắng xanh leo lên đỉnh thác. Bụi nước bốc lên làm mặt trăng lúc ẩn, lúc hiện; thực thực, hư hư như đưa người ta lạc vào một thế giới thần tiên.
Y Duk giật mình khi phát hiện ra dưới gốc cây đa mọc bên cạnh thác, con dúi lúc sáng con vàng rượt đuổi đang ngồi trên một hòn đá có sáu cạnh bằng nhau to như chiếc cột nhà dựng đứng, cao hơn các hòn đá xung quang khoảng một cánh tay. Trên các tảng đá xung quanh, hàng trăm, hàng ngàn con dúi nhỏ hơn đang ngồi ngữa mặt lên trời nhìn trăng. Cả bầy dúi lặng im như hóa đá. Khi cơn gió nhẹ lướt qua làm đám lông của chúng như cũng phát ra ánh sáng, khẽ bay bay. Một cảnh đẹp như cõi Yang hiện về nơi trần thế. Ôi, lũ dúi hàng ngày chui rúc trong các gốc le, bị Y Duk săn đuổi, bắt giết cũng biết thưởng thức cảnh đẹp đêm trăng rằm tháng tám như con người thế này ư? Bất giác Y Duk khẽ run lên, người lạnh toát mà trán vã mồ hôi. Con vàng hình như cũng đã nhìn thấy bầy dúi, miệng rên lên khe khẽ. Vỗ nhẹ tay lên đầu con vàng, ra hiệu cho nó im lặng, Y Duk từ từ trườn lại bên vách đá bên bờ sông tìm đường trèo lên. Con vàng như hiểu ý người cũng nhè nhàng bước từng bước một tiến lên trước dẫn đường, không muốn làm phiền bầy dúi.
Đói, giờ thì cái đói mò đến làm bụng Y Duk sôi lên sùng sục, thèm được nhìn thấy một cục than hồng nhiều lắm. Xung quanh trời vẫn mờ mờ, theo con vàng từ bờ sông rẽ vào một dòng suối cạn, dùng một cành cây gãy làm gậy chống để lê bước đi xa khỏi dòng sông tìm đường về nhà mà cái đói cứ réo hoài không chịu ngủ. Hình như càng về khuya, thác càng gầm lên dữ dội. Mặt trăng đã lên đến đỉnh đầu, xa xa thỉnh thoảng nghe tiếng chim ăn đêm gõ vào không gian những tiếng kêu não nùng.
*
Y Duk lò dò lần từng bước dưới lòng suối cạn một cách tuyệt vọng. Bụng đói, miệng khát, chân đau nhức như có hàng trăm, hàng ngàn con kiến đang cắn xé cổ chân. Nhiều lúc trong đầu chợ lóe lên ý nghĩ: hay ngủ lại qua đêm, sáng mai hãy về; nhưng rồi một ý nghĩ khác lướt qua: phải cố mà đi, còn hôm nay ngủ lại trong rừng không có lửa thì thú dữ sẽ đến bắt ăn thịt. Lúc này Y Duk đi như trong cơn mộng, đi bằng đầu chứ không phải bằng chân; con vàng trung thành vẫn đi phía trước dẫn đường.
Bỗng con vàng đứng sững lại rít lên khe khẽ, tiếng kêu chỉ như bất ngờ thoát ra khỏi cổ họng. Ngạc nhiên, Y Duk cố mở to mắt quan sát phía trước, xung quanh không thấy có gì khả nghi nên chỗng gậy đi tiếp. Con vàng không đi theo, đứng im một chỗ nhe bộ răng trắng toát ra gầm gừ như đe dọa kẻ thù. Hai bên suối vách đá dựng đứng cao quá đỉnh đầu; lòng suối chỉ có những hạt cát mịn trắng tinh, vậy mà… con vàng lại sợ là thế nào? Phải đi thôi, dừng lại là ngủ, ngủ ở đây thì chết là cái chắc; nghĩ thế, Y Duk lại tiếp tục lê bước..
-Oái!
Một cú giáng như trời đánh đúng vào cổ chân đau, giật mạnh, Y Duk ngã lăn trên cát, miệng thét lên đau đớn. Theo phản xạ của người bị đau, đưa hai tay xuống ôm cổ chân mới phát hiện ra con trăn đang cắn cổ chân mình. Dùng hết sức tác miệng con trăn để rút chân ra. Con trăn chỉ chờ có vậy cong mình lại quấn tròn lấy Y Duk như người ta dùng thừng quấn lại, không thể nào rút tay ra được nữa. Con trăn miệng vẫn cắn chặt cổ chân, toàn thân co giãn từng đợt một một thắt chặt dần. Mặt Y Duk úp xuống cát, nước mắt trào ra ướt đẫm; thế là phải làm mồi cho trăn rồi, không còn được nô đùa cùng bạn, không được leo trèo trên các cây cổ thụ trong rừng hái quả, lấy mật ong nữa rồi…
-G… àu, gàu gàu!
Tiếng kêu của con vàng không lớn lắm, mà hình như nó đang cắn, đang nhai cái gì đó trên người con trăn. Con trăn hình như cảm nhận được sự đau đớn, uằn mình vòng tròng trên cát làm Y Duk cũng bị xoay theo. Một lát sau, vòng quấn của con trăn nới lõng dần; nó há miệng, bỏ chân Y Duk không cắn nữa, trường đi, kéo theo cả con vàng. Con vàng cắn chặt chiếc đuôi trăn, bị kéo xuôi về phái bờ sông một đoạn mới chịu nhã ra, chạy lại với chủ.
Ngày xưa ami từng kể chuyện, bảo: con trăn mạnh nhất khúc đuôi và cũng yếu nhất khúc đuôi. Đuôi trăn có thể thành đầu dây cột chặt con mồi, thắt  cho con vật bị bắt nghẹt thở mà chết; nhưng cũng là điểm yếu của con trăn, nếu bẻ gập được đuôi trăn hoặc chém đứt chỉ một khúc ngắn thôi con trăn sẽ chết. Hôm nay tình cờ hay có chủ ý mà con vàng cắn đúng khúc đuôi, làm con trăn đau đớn, bỏ chạy. Thật là may mắn, có Yang giúp sức, à không con vàng giúp chứ đâu phải Yang, nếu không đã phải ngủ trong bụng trăn rồi. Ngồi bệt xuống cát, để mặc cho nước mắt rơi, Y Duk ôm chặt con vàng vào lòng tỏ lòng biết ơn.
*
Ngồi một lúc cho khô nước mắt, Y Duk lại đứng dậy chống gậy ngược suối lê đi. Con vàng cà nhắc đi trước, hình như chân nó cũng bị thương rồi thì phải. Đêm khuya, ánh trăng chui qua cành tre, vẽ lên mặt đất đủ hình thù kỳ quái, kệ Y Duk vẫn cố bước đi, mong tìm được đường ra khỏi rừng le.
Đang cà nhắc chống gậy bước đi, Y Duk vấp vào con vàng. Con vàng dừng lại như phát hiện ra điều gì đó khủng khiếp lắm. Cùng lúc một mùi hôi thối theo gió ập đến như có con thù chết lâu ngày ở đâu gần đây. Mấy cây le nô đùa với gió ngã nghiêng để ánh trăng vàng rơi xuống khúc cong của dòng suối phía trước mặt. Cách hơn chục bước chân; một con hổ to như con bò, dài bằng sãi tay xuất hiện, bước lên bãi cát trắng. Hình như con hổ cũng bất ngờ khi thấy Y Duk trước mặt nên dừng lại.
Thấy hổ, cát dưới chân Y Duk như đang bị một cơn lũ lớn ào đến cuốn đi làm cả người khụy xuống; nhưng tay vẫn nắm chặt chiếc gậy cắm vào cát làm chỗ dựa, hai hàm răng căn chặt vào nhau. Nhìn đối thủ như đánh giá sức mạnh rồi con hổ gầm lên một tiếng ghê rợn, tung người lên cao, nhằm Y Duk lao tới. Y Duk ngã gục xuống mặt cát, mắt trợn trừng chờ đón cái chết.
-K… í… t!
Tiếng kêu của con dúi át cả cả tiếng thác, nghe như có cái gì đó ập vào tai, đâm vào đầu đau buốt; cùng với tiếng kêu, một quả cầu lửa rực đỏ từ trên bờ suối lao xuống chắn ngay trước mặt Y Duk chặn đà con hổ đang lao tới. Thoáng tĩnh tâm lại, Y Duk nhận ra đó là con dúi mà cả ngày hôm nay mình săn đuổi. Nó ngồi bằng hai chân sau, giơ hai chân trước lên quá đầu như định đỡ con hổ. Có lẽ con hổ bị bị bất ngờ và hoảng sợ nên rướn mình bay qua đầu Y Duk, rơi xuống phía sau lưng, rồi bỏ chay đi luôn. Con dúi quay lại nhìn Y Duk, đôi mắt nó to như chiếc ly uống nước phát ra tia sáng màu xanh, rồi vươn mình bay qua đầu Y Duk đuổi theo con hổ.
Y Duk như bị lên cơn sốt, người run bần bần bật, không thể tin những gì vừa xãy ra. Con vàng sợ quá, tè cả vào chân đau Y Duk. Bỗng tiếng chiêng vọng đến, lúc đầu chỉ một tiếng đơn lẻ, sau rồi cả bản hòa tấu cùng vang lên, xuyên qua các bụi le, tràn xuống suối. Y Duk mừng quá, bám le leo lên khỏi bờ suối, hướng theo tiếng chiêng bò tới.
Đói, lạnh, đau đớn nơi cổ chân, nhưng Y Duk không bỏ cuộc và cố bò theo con vàng đi phía trước dẫn đường. Hình như con vàng biết chủ của nó đang kiệt sức nên đi vài bước lại dừng để chủ theo cho kịp. Thời gian không biết trôi đi bao lâu, hai đầu gối rớm máu rồi không chịu nổi sức nặng của cả thân người nên đổ sụp xuống. Y Duk không bò được nữa, đành trườn theo con vàng, trong đầu chỉ có một ý nghĩ duy nhất: phải cố lên để đến cho được chỗ tiếng chiêng, dừng lại là chết. Nhưng rồi, hình con vàng đứng phía trước mặt nhòe đi, nhòe dần rồi bóng đêm ụp xuống, che đi tất cả.
*

Đêm rằm tháng tám, người lớn trẻ con trong buôn Tua Srah cùng theo nhau ra ngắm trăng, vui chơi. Bỗng H’Mát con gái út già làng kêu lên:
-Ô, sao hôm nay không thấy thằng bé mồ côi đến chơi? Hay nó ốm rồi, ta lại nhà nó xem có chuyện gì không?
Nghe H’Mát nói vậy, cả bọn trẻ lau nhau hơn hai chục đứa tuổi mới qua chục mùa rẫy(2) kéo nhau lại ngôi nhà cuối buôn, giống như một chòi canh rẫy. Ngôi nhà chỉ có hai gian, trên lập cỏ gianh, xung quanh và sàn lát bằng những cây tre to đập giập, tải ra. Ami(3) Y Duk không biết ở đâu phiêu bạt đến đây khi sau lưng chỉ có một chiếc gùi với vài thứ lặt vặt, trước ngực địu đứa con trai đỏ hỏn. Người trong buôn thương tình dựng cho ngôi nhà để hai mẹ con ở tạm. Người phụ nữ khéo tay, dệt vải rất đẹp nên được người trong buôn giúp đỡ cũng đủ sống qua ngày. Năm Y Duk được mười mùa rẫy, người mẹ vào rừng lấy vỏ cây về nhuộm vải bị cây gãy, đè chết. Thế là từ đó Y Duk sống một mình trong vòng tay chia sẻ của những người trong buôn. Chắc được Yang thương sau này cho thêm con sói làm bạn, nên gần hai năm nay cuộc sống có phần sung túc hơn nhờ tài săn bắt dúi. Còn hôm nay…
Tin Y Duk không có mặt trong nhà vào đêm rằm giống như cơn lốc xoáy ập vào các bếp nhà dài, già làng vội triệu tập cánh đàn ông đến để đi tìm. Mọi người bàn luận sôi nổi và quyết định đi về phía rừng le gần ngọn thác để tìm, vì đoán Y Duk đã gặp nạn trong khu rừng le ấy. Hàng trăm ngọn đuốc được đốt lên, sáng rực, đưa mọi người đến rừng le. Rừng le vẫn ngạo nghễ đứng chắn lối, thỉnh thoảng còn nghiêng mình theo gió cất tiếng thì thào như trêu ngươi, thách thức con người.
Đến chỗ mấy cái đó bắt dúi của Y Duk bỏ lại lúc leo lên ngọn le đuổi thú, đám người dừng lại. Theo lệnh của già làng, cánh thanh niên gom cây khô lại chất thành đống, nổi lửa đốt. Mười ba chàng trai trên mình mặc độc một cái khố, cầm chiêng nhảy múa xung quanh đống lửa cầu xin Yang phù hộ Y Duk. Thỉnh thoảng cả đám đông lại cùng nhau gào lên: Hầy, hầy hầy… như xua đuổi tà ma.
-Dừng lại!
Bất ngờ già làng hét lên, giơ hai tay lên trời. Tiếng chiêng ngừng, mọi người cùng lắng nghe, hình như thoảng trong tiếng gầm của dòng thác đang giận giữ có tiếng chó sủa vọng lại. Một người vội reo lên;
-Có tiếng chó sủa trong rừng le, chắc Y Duk bị nạn trong đó rồi.
-Đốt đuốc lên, chặt le mở đường đến chỗ tiếng chó kêu.
Già làng phát lệnh, cánh đàn ông thay nhau đi trước chặt le mở lối, người không chặt le thì thay nhau gào lên: “Y Duk ơi, Y Duk ơi…!” Hình như con vàng nghe được tiếng người nên sủa cũng to hơn, giọng đau đớn như đang cầu cứu. Cuối cùng đoàn người cũng đến được nơi con vàng sủa. Mọi người sững sờ nhìn con vàng ngồi bên cạnh Y Duk, thỉnh thoảng nó lại ngữa mặt lên trời kêu những tiếng tắc nghẹn. Y Duk nằm úp mặt xuống đất, bất tỉnh.
Một thanh niên khỏe nhất buôn đỡ Y Duk lên lưng, cõng về nhà già làng. Khi tỉnh lại, được uống nước cháo đỡ đói, Y Duk mới kể lại câu chuyện kỳ là trong rừng le mà mình đã gặp. Mọi người tròn mắt, lặng nghe. Nghe xong già làng bảo:
-Đúng là có Yang phù hộ nên nó mới thoát chết kỳ lạ. Từ nay con thác này ta gọi là Dray Nu(4) để tỏ lòng thành kính với Yang đã phù hộ con người.
Từ đó dòng thác có tên mới: Dray Nu, lưu truyền đến ngày nay. Và nghe đâu, sau khi lành vết thương, Y Duk không bao giờ vào rừng le đi săn dúi nữa.

Buôn Ma Thuột, tháng 7 năm 2019



Chú thích:
1.     Yang: thần linh – tiếng Êđê;
2.     Chục mùa rẫy: cách tính tuổi của người Êđê, mỗi mùa rẫy là một năm.
3.     Ami: mẹ - tiếng Êđê.
4.     Dray Nu: thác dúi – tiếng Êđê.