Thứ Sáu, 13 tháng 12, 2019

ĐẬM ĐÀ BẢN SẮC TÂY NGUYÊN tác giả HỮU CHỈNH - CHƯ YANG SIN SỐ: 327 tháng 11 năm 2019



(Đọc Màu thổ cẩm – Thơ Bùi Minh Vũ – NXB Hội Nhà văn – 2019)


Đây đã là tập thơ thứ 10 của Bùi Minh Vũ, không kể tiểu thuyết, nghiên cứu, sưu tầm, biên soạn. Điều đó chứng tỏ sức viết bền vỉ, dẻo dai của tác giả.
Màu thổ cẩm đậm đặc hương vị của vùng đất Tây Nguyên – Đắk Lắk. Một bài thơ gây ấn tượng mạnh cho tôi là bài Đêm nghe tiếng khóc trâu:
Nức nở như mưa/ Nhuộm trăng vàng/ Màu đêm trắng.
Tiếng khóc nào về đêm cũng buồn, thê lương, xa vọng. Ở đây, không gian, thời gian phụ họa nỗi buồn: Mưa, trăng vàng, màu đêm trắng để càng buồn hơn, để dẫn đến khổ thơ đau xé lòng:
                              Lời nỉ non, mời trâu ăn cỏ lần cuối
                              Uống nước suối lần cuối
                              Xứ A Tâo xa lắm, trâu ơi
                              Sương nương buồn bời bời.
Con trâu thân thiết với người được (hay bị) làm vật hiến tế, hiến sinh. Điệp từ lần cuối thương lắm, ăn cỏ, uống nước cũng là lần cuối để trâu về với xứ A Tâo cùng ông bà, tổ tiên để thi nhân nhỏ lệ thương cảm: Sương nương buồn bời bời.
Một bài thơ, nếu đúng dịp thi viết về môi trường thì chắc có giải:
                              Ơ cái nước hát reo
                              Cháu con phải biết trồng cây trên rẫy, trên đồi.
Hai câu này chỉ là lời kêu gọi bình thường, nhưng những câu sau thì cái lạ hóa của thơ đã găm vào lòng người đọc:
                              Đất trồng nên sông/ Sông trồng nên cá
                              Suối hối hả/ Trổ hoa/ Nghe con chim hót.
                                                                                 Nghe cây hát
Chưa gặp thơ ai viết như Vũ: đất trồng, sông trồng. Đất, sông cũng là người. Có nước, có cá, có hoa, có chim là do người bảo vệ môi trường, phải có rừng. Thơ lạ mà thâm thúy.
Cùng chủ đề rừng, Minh Vũ viết nước là nguồn gốc sự sống, cũng là nguồn cội của văn hóa dân tộc:
                              Nước không về bến nước/ Con nai khát ven rừng
                              Chiếc gùi khóc rưng rừng/ Tiếng chiêng rơi lưng chừng.
                                                                                                      Nước
Không gian như ngưng đọng để dẫn vào câu kết:
                              Quả bầu/ Lăn xuống vực sâu
Không còn nước thì không còn ai mang bầu đi lấy nước, không còn bến nước. Thơ nghẹn lòng, tức tưởi.
Giữ được cây, được rừng, giữ được nước cũng là giữ được văn hóa của một vùng đất.
Bài Cổng nhà Yàng đậm đặc phong tục trong lễ cầu mùa, mang cho mùa màng tốt tươi khi mưa thuận gió hòa, từng chi tiết tả thực sinh động. Kết bài nói được cảm xúc của người dự lễ:
                              Khuya rồi/ Người muốn về
                              Tiếng chiêng vang dài như sợi dây trói lại.
Đêm đã về khuya mới có cảnh dùng dằng nửa ở nửa về, nhưng cuối cùng ở lại bởi dây trói của tiếng chiêng, của tâm thế văn hóa cồng chiêng.
Bài Ra bờ sông buổi sáng có cả phần trữ tình, phần tự sự và cả chút triết lý ẩn sau câu chữ:
                              Khi nào em buồn/ Nhìn xuống đáy nước
                              Nỗi buồn sẽ bị nhấn chìm
                              Trước ánh bình minh lan tràn chiếm giữ hồn em.
Em nhìn xuống đáy nước, thấy gương mặt mình, rửa mặt hay tắm gội để thanh lọc tâm hồn, nỗi buồn bị nhấn chìm trong nước, trước ánh bình minh lan tỏa, được tiếp thêm năng lượng tràn trề.
Trong tập có nhiều bài thơ ngắn mang tính triết lý đều đáng đọc như các bài: Về núi; Mảnh vỡ; Nơi tổ tiên họ ở…
Đặc biệt bài Tiếng cười tiếng khóc là bài cực ngắn, đúng 10 âm tiết:
                              Tiếng cười thường hết hạn sử dụng
                              Trước tiếng khóc.
Câu thơ như một châm ngôn của người từng trải, tổng kết quá trình sống và trải nghiệm. Cái hay của thơ là sáng tạo từ mới, câu mới. Tiếng cười hết hạn sử dụng là câu như thế. Tiếng cười mau qua còn tiếng khóc thì dai dẳng, âm ỉ. Chọn cách sống nào để tiếng cười kéo dài hơn.
Bài Những cành mây hiểu đa nghĩa, xen giữa thực và ảo. Mười đầu ngón chân rỉ máu (có thể đi chân trần bị gai mây cào xước) là thực. Nhưng Hoàng hôn cười/ Thòng xuống những cành mây cô độc lại là ảo. Chiều buông thả cả mây trời.
Tôi thích tứ thơ:
                              Lửa vừa nhen/ Cháy lên chùm mặt trời
                              Lướt thướt/ Giọt sương/ Mổ vào chiếc lá.
Chùm mặt trời là từ lạ. Sương mổ vào lá cũng lạ. Đắt ở từ chùm và mổ. Thường viết sương đậu, thì đây là mổ tưởng có âm thanh lộp độp hay tí tách.
Phiêu du theo tập thơ khá dày dặn, lẩy ra những câu, những bài tâm đắc (chưa hết đâu), giờ là lúc quay lại với  bài thơ được lấy tên chung cho tập. Màu thổ cẩm đủ độ điển hình:
                              Họ yêu nhau từ lúa trước hoàng hôn
Thời gian, không gian chỉ là ước lệ, vô định, giả định.
                              Hẹn gặp phải qua năm đồi, bảy rẫy
                              Nhớ thương phải đến lễ hội trong buôn
                              Quấn quít phải ra bờ suối vắng.
Cảnh yêu đương rất thật, rất cụ thể, qua thử thách vượt năm đồi, bảy rẫy. Tìm nhau trong lễ hội rồi bờ suối vắng tự tình.
                              Chẳng ai thấy họ mặc áo màu gì
                              Đêm bẽn lẽn có chơi trò đối đáp.
Tất nhiên, đêm thì làm gì nhìn thấy màu, sắc. Đêm bẽn lẽn là từ hay, có e ngại, có thẹn thùng và cả làm dáng ẩn chứa:
                              Tay trong tay say sưa vừa tháng Chạp
                              Trăng mênh mang vàng suối nước thầm thì.
Từ vàng gánh cả hai nghĩa: trăng vàng, suối vàng như lời tâm sự được đồng cảm, lan tỏa từ người sang cảnh. Đây là khổ kết bài thơ:
                              Bóng của họ nhuộm sắc màu thổ cẩm
                              Tiếng yêu thương suối chảy, đá mòn
                              Còn thổn thức lửa tràn tay say đắm
                              Trên nương rẫy bao la dấu chân tròn.
Bằng tiềm thức mà đoán định sắc màu, có màu xanh của rừng, màu đỏ của đất chứ đêm thì nhìn không rõ. Trái lại nghe rõ âm thanh của nước chảy, đá mòn và cảm được sức nóng của tình yêu: Lửa tràn tay say đắm.
Bài thơ có 12 câu thì 11 câu khá, câu cuối cùng hơi đuối, có vẻ dễ dãi:
                              Trên nương rẫy bao la dấu chân tròn.
Thường yêu nhau, khi gặp nhau là ngồi một chỗ, đi lắm làm gì cho mỏi chân. Cụm từ dấu chân tròn giống vết chân tròn của Trần Tiến, nhưng Trần Tiến là đi trên cát, ở đây là nương rẫy khó hằn vết. Chẳng lẽ cũng đi bằng nạng? Nếu thay vết chân tròn thành gót chân son có lẽ đúng hơn.
Tập thơ tới 154 bài là thử thách lòng kiên nhẫn của người đọc, nhưng cuốn hút bởi đậm đặc chất Tây Nguyên nên người đọc vẫn lần giở tới trang cuối cùng. Vì dài nên không tránh khỏi có những bài hoài niệm về quê hương không hợp chủ đề. Nhất là bài Hát Môn viết về khởi nghĩa Hai Bà Trưng chẳng ăn nhập gì với màu thổ cẩm.
Bài Anh đừng say nhé, có một chi tiết cần xem lại:
                              Hôm nay lễ cúng lúa
                              Họ chôn nêu sau nhà.
Khi dựng cây nêu mời thần linh về dự, thường ở bãi đất rộng trước nhà cho đủ chỗ đốt lửa để mở vòng xoan, trước nhà cũng là tôn trọng thần linh.
Vài gợn lăn tăn không làm giảm giá trị Màu thổ cẩm – hương sắc Tây Nguyên – hồn cốt Tây Nguyên – thơ Bùi Minh Vũ.
Đọc để yêu thêm vùng đất mình đang sống.
                                                                                   Tháng 10-2019

Thứ Hai, 9 tháng 12, 2019

ĐẤT CỦA ĐỜI TÔI truyện ngắn THU LOAN - CHƯ YANG SIN SỐ: 327 tháng 11 năm 2019








Tôi vừa nhận bằng cử nhân kinh tế, đang ở Sài Gòn tìm việc thì nhận tin nhắn: “Con về gấp. Ba ốm nặng”. Vừa thấy tôi, ba tôi gạt tấm mền, lồm cồm ngồi dậy. Ba tôi là một doanh nhân có tiếng ở tỉnh. Nhìn ông, nếu không ai giới thiệu, người lạ sẽ tưởng ông là nông dân. Ông hay mặc quần soọc kaki, áo thun bạc màu rộng thùng thình. Ông nói: “May quá. Con về coi trang trại một thời gian. Chắc ba già rồi nên hay chóng mặt”.
Ba chở tôi đi thăm trang trại. Đây là nương rẫy của gia đình, ba đã mua thêm đất, mở rộng. Trước kia, nhà tôi lao động cật lực vẫn không đủ ăn. Tay ai cũng thô nhám, cộm vết chai mà vẫn nghèo. Vì thế tôi quyết thoát nghề nông, thề sẽ không bao giờ sống ở nơi này.
Trước mắt tôi, cà phê, tiêu bạt ngàn. Có cả dãy chuồng trại nuôi gia súc. “Chỗ này mình đánh con rắn to bằng cổ tay đó”. “Chỗ này con vác bao mì bị trượt chân, bong gân phải nghỉ học đó”.  “Chỗ này…”. “Chỗ này…”. Ba tôi gợi lại bao kỷ niệm nhưng tôi chỉ nhớ mang máng. Cảnh vật đổi thay quá. Bây giờ, tôi đến rẫy bằng ô tô chứ không đi bộ hay xe đạp. Bắp, mì, lúa - những cây trồng gắn bó với tuổi thơ tôi không thấy nữa. Ba tôi giải thích: “Giờ trồng cây công nghiệp, biến sản phẩm thành hàng hóa mới giàu được con ạ”. Tới khoảng đất trống, ba tôi dừng lại. Tôi ngạc nhiên thấy người làm đều là người dân tộc tại chỗ. Họ gật đầu chào. Nụ cười tõn tẽn, nước da nâu sẫm. Có người đã cà hết dãy răng hàm trên, trông ngồ ngộ. Ba tôi hỏi: “Mọi người làm đến đâu rồi?”. Nhìn những cái hố nông toen hoẻn, ba kêu: “Chưa được! Chưa được! Phải 60 phân mà”. “Mình không hiểu 60 phân là thế nào đâu”. Những nụ cười tõn tẽn đầy vẻ ngượng ngập thay sự thú nhận. Ba tôi liền cầm cuốc cuốc một cái hố làm mẫu. “Sâu bằng này này. Rộng bằng này này”. Những gương mặt lại nở nụ cười tõn tẽn ra điều đã hiểu. Tôi bảo: “Con chịu ba thật. Ai đời khái niệm 60 phân mà phải giải thích đi giải thích lại!”. “Trình độ văn hóa của họ thấp, chưa từng tiếp xúc với phương thức sản xuất mới, cây trồng mới. Mình phải kiên trì cầm tay chỉ việc thôi con ạ. Họ tốt lắm đó. Trong chiến tranh, họ chính là những cơ sở cách mạng kiên cường”. “Ba định nuôi dưỡng đội quân này sao?”. “Không có họ thì lực lượng lao động đâu? Những thanh niên mang danh đầy kiến thức, rành rẽ công nghệ, ngoại ngữ lưu loát có chịu cầm cuốc xẻng không, có chịu về nơi núi rừng làm việc không?”. Đây chính là lúc tôi dễ bộc lộ suy nghĩ của mình nhất. Tôi nhớ gia đình tôi đã có hai căn nhà ngoài phố cho thuê, một cửa hàng bán sản phẩm tiêu, cà phê ổn định từ lâu. Tôi thủ thỉ: “Ba ơi, nhà mình đủ giàu rồi. Của cải đời con, đời cháu ăn không hết. Ba cũng trở thành doanh nhân như đã mơ ước. Làm gì nữa cho mệt. Con cũng không về đây đâu. Gia đình mình nên chuyển về thành phố. Ba cũng cần nghỉ ngơi tuổi già.”. Ba tôi lắc đầu: “Con nhầm. Ba chưa từng nghĩ phải làm giàu nữa, giàu mãi. Ba cũng không đặt ra mục đích phải thu về thêm cho gia đình ta bao nhiêu tiền. Ba chỉ muốn mỗi năm có thể tạo công ăn việc làm cho thêm bao nhiêu người, nâng mức thu nhập lên bao nhiêu để người lao động thoát nghèo bền vững, vươn lên đủ ăn đủ mặc và  giàu. Như thế việc làm giàu của mình mới có ý nghĩa con ạ”. “Việc gì ba phải lo cho người dưng”. “ Ồ, họ cũng như mình khi xưa. Cũng nghèo vì thiếu vốn, thiếu kiến thức, thiếu đủ thứ. Giờ mình đi trước, có điều kiện hơn thì cũng phải biết nhìn xuống, tự thấy xót xa mà thương họ nhiều hơn chứ”. Quan điểm của ba và tôi thường chỏi nhau. Đụng đến lại gây tranh cãi nên tôi im. Ba tôi nói: “Giờ ba đưa con tới làng. Con nên biết đời sống của những người làm công cho mình như thế nào”.
Làng đồng bào cách trang trại không xa. Có chừng hơn hai chục nóc nhà nằm thưa thớt dưới chân đồi. Nhà nào cũng rộng khoảng 50 m2, lợp mái tôn, vách ván, nền trát xi măng. Trước kia đồng bào ở nhà sàn, sâu trong núi. Theo chủ trương định canh định cư, làng đã dời về đây. Nhà nào cũng na ná như nhau. Đồ đạc chẳng có gì giá trị: Vài bộ quần áo cũ kỹ vắt trên dây, một ít bắp giống, ba, bốn cái nồi đen sì úp, treo xung quanh bếp lửa. Nhà kha khá một chút có thêm vài ghè rượu xếp dọc tường. Trước cuộc sống nghèo nàn, đơn giản, cảm giác muốn cưu mang, giúp đỡ như một cơn gió nhẹ chợt len lỏi trong lòng tôi.
Ban ngày tôi quanh quẩn khắp vườn cây. Hết việc nọ đến việc kia, từ sáng đến chiều, từ ngày này sang ngày khác. Tôi chỉ cho người làm cách tỉa bớt những cành già, cành yếu, biết bỏ lượng phân bón bao nhiêu vào mỗi gốc cây. Công việc xoay vần lại tới mùa làm cỏ, phun thuốc trừ sâu… Cũng như ba tôi, có việc rất đơn giản tôi phải giảng đi giảng lại, mệt muốn đứt hơi. Có lúc chính tay tôi làm mẫu, thực hiện nhiều lần người làm mới làm được đúng ý. Đôi lúc tôi mệt mỏi rã rượi, ngồi thừ ra, mặc dàn tưới tự động phun nước ướt đẫm cả mặt mũi, áo quần. Tối về, tôi không sao chợp mắt ngay được. Ban đêm ở miền rừng thường lạnh. Bóng đêm đen kịt bao phủ khắp nơi. Tôi nhớ âm thanh thành phố náo nhiệt, nhớ người yêu, thầm nghĩ không biết mấy tháng nữa mới trở lại nơi ấy. Ba tôi cựa mình hỏi: “Nhớ Sài Gòn hả?”. Tôi bảo: “Ở đây tĩnh lặng quá. Nghe được cả tiếng lá rơi. Ba định ở mãi nơi này sao?”. “Thời nay cha mẹ có quyền lựa chọn à? Thôi ngủ đi, chuyện đó tính sau”.
Ngày tháng cứ trôi, tôi bị cuốn vào công việc lúc nào không hay. Nhìn những người làm tự tay be bồn, bón phân, tỉa cành… không cần có tôi kèm bên cạnh nữa, lòng tôi vui. Tôi chụp những chùm hoa cà phê trắng muốt, những nhánh tiêu trĩu hạt, những triền đồi xanh thắm sắc lá gửi cho nàng. Tôi muốn chia sẻ với nàng không gian thiên nhiên thoáng đãng, mùi hoa thơm dịu dàng, tiếng gió khua vòm lá lao xao… Những lúc ấy, tâm trí tôi chẳng còn hình ảnh chung cư cao ngất, dòng âm thanh ầm ì suốt đêm ngày, giờ phút bị kẹt xe khói bụi xộc vào cay cay mũi. Chỉ còn khuôn mặt thân yêu của nàng hiển hiện.
Một buổi trưa, tôi vừa bước vào nhà đã thấy ba tôi chờ trước cửa. Ông không nằm trên giường, trùm chăn, ho sù sụ mà tiến lại, túm cổ áo tôi, chỉ vào bao hạt đu đủ khô. Giọng ba tôi lạc đi: “Nói! Có phải mày đem thứ  này trộn vào tiêu không?”. “Các nơi thu mua nông sản đều làm thế ba ạ”. “ Bốp’. Ba tôi giang thẳng tay tát vào mặt tôi. Mắt tôi hoa lên, má đau rát. Tôi ngã dúi dụi xuống nền nhà. Ba tôi vơ luôn bộ ly tách trên bàn đập mạnh xuống đất như vẫn chưa hả giận. Ông hét: ‘Mất dạy! Mày học thói lừa lọc ở thành phố đem về đây hả? Bao năm, bao công sức xây dựng uy tín đã bị trò lưu manh của mày đạp đổ trong chớp mắt. Mày giết tao cho rồi!”. Ba tôi lấy chiếc roi mây ra. Năm xưa tôi không chịu đi học, ba đã đánh tôi tứa máu bằng chiếc roi này. Giờ ông vừa giơ roi lên thì đã thở hổn hển, nằm vật xuống giường, xùi bọt mép. Mẹ tôi mếu máo vừa khóc vừa van: “Ông ơi, ông bớt giận. Con nó trẻ người non dạ, ông tha cho nó. Cũng tại tôi nuông chiều nó đây mà”. Mẹ quay sang tôi: “Ba giả vờ ốm để con về, thử cho con làm quen công việc. Giờ con làm ông ấy ốm thật rồi”. Quả thật chân tay ba tôi xuội lơ, suốt ngày nằm thiêm thiếp. Mỗi lần ba ăn, tôi phải đỡ dậy để mẹ tôi đút từng muỗng cháo. Nghe tin ông ốm, dân làng kéo đến chật nhà mang theo gà, gạo, bắp, khoai lang, chuối chín... “Mong ông ăn được để khỏe”.  Mẹ tôi giãy nảy: “Nhà tôi đầy heo, đầy gà kia, có thiếu gì đâu? Mọi người đem về đi! Đem về”. Ai cũng lắc đầu: “Không được. Đây là tình mà. Bà không nhận, chúng tôi cứ ở đây”. 
Mùa thu hoạch xong cũng là lúc tôi đã biết hết việc ở trang trại. Ba đưa cho tôi vé máy bay đi Sài Gòn, bảo: “Giờ con tùy ý chọn việc làm, nơi ở mà con thích. Ba không ép”. “ Vâng, ba để con suy nghĩ thêm”. Tôi nhớ nàng, nhớ mùi nước hoa thơm phức mỗi khi nàng đi qua, nhớ gương mặt tươi như hoa khi tôi dẫn nàng đến ăn ở những nhà hàng sang trọng, mua cho nàng trang phục đắt tiền. Nàng liên tục lên đời điện thoại bởi bạn bè toàn xài hàng hiệu. Nàng sẽ bị coi thường nếu dùng những đồ vật thua kém. Người như nàng sao có thể về nơi đầy đất bụi, đầy nắng như ở đây, sao chịu được những đêm nghe được cả tiếng lá rơi. Tôi biết nàng thật phù phiếm nhưng ai lý giải được tình yêu, ai không đau khi người yêu lìa bỏ? Tôi hỏi ba, giọng run run: “Mẹ có phải là mối tình đầu của ba không?”. Ba đặt tay lên vai tôi, giọng trầm hẳn: “Không con ạ. Mối tình đầu… xót xa mãi. Nhưng cái mình cần là tình yêu bền vững. Người ấy có dám chia sẻ với mình tất cả khó khăn trong cuộc đời không. Con đừng quá đau khổ, đừng quá tiếc nuối khi dứt bỏ một thứ gì đó mà thực ra nó không thuộc về mình”.
Tôi xé vé máy bay. “Con quyết định rồi à?”. Tôi gật. Ba tôi cười rạng rỡ. Trong mắt như có đốm nắng nhảy nhót. Ba mở tiệc mời dân làng đến uống rượu, ăn mừng, giới thiệu tôi “chủ nhân mới”. Cồng chiêng ngân vang suốt ngày đêm. Lần đầu tiên giấc ngủ đến với tôi thật nhẹ nhàng. Tôi mơ thấy mình hóa thành cây xanh. Càng lúc rễ càng cắm sâu, tán càng vươn rộng trên chính mảnh đất tôi biết chắc chắn là của đời mình.

Thứ Năm, 5 tháng 12, 2019

NHỚ NHỊP THƯỚC THẦY TỪ BUỔI HỌC ĐẦU TIÊN tác giả LÊ THÀNH VĂN - CHƯ YANG SIN SỐ: 327 tháng 11 năm 2019




Sổ tay thơ:

THẦY


Ngôi trường nhỏ nơi thị trấn cổ
và bầy chim xanh trên cành vông đồng
thầy giáo già nhịp cây thước gỗ
tiên học lễ, hậu học văn.

Khu vườn cũ đã lâu không quét lá
ai buộc lên nhành lựu gãy chiếc khăn
thềm giếng rêu in dấu thầy trượt ngã
chúng con buồn
quả lựu rưng rưng.

Con đường mới giờ không còn dấu tích
vũng lầy xưa nước đọng chắn ngang
phong phanh thầy ngược chiều mưa gió
bắc cầu dừa cho chúng con sang.

Bầy chim xanh trên cành vông đồng đã bay muôn nẻo
chúng con từ tay thầy đi khắp thế gian
vũng lầy nào cũng nhắc thầm cây dừa nhân hậu
gặp tráo trở càng thương quả lựu chín vàng.

Thầy ơi
cánh đồng tháng mười lụt lội
chậm muộn con về dâng một nén nhang
nhịp thước tập ngắt câu của thầy chợt vang trong ký ức
nhịp thước dạy chúng con đối thoại với cuộc đời
từ buổi học đầu tiên.
Trần Thị Huyền Trang
LỜI BÌNH:
NHỚ NHỊP THƯỚC THẦY TỪ BUỔI HỌC ĐẦU TIÊN

Nhà thơ Trần Thị Huyền Trang là tác giả của nhiều tập thơ lưu dấu ấn trong lòng bạn đọc suốt mấy chục năm qua: "Những đêm da trời xanh", "Muối ngày qua"... Bên canh đó, chị còn viết truyện ngắn, biên khảo lịch sử. Thơ chị nhẹ nhàng, sâu lắng về cuộc sống đời thường, thấm đẫm tình cảm yêu thương xuất phát từ trái tim nhân hậu của một người phụ nữ nhiều nghĩ suy, trăn trở. "Thầy" được in trong "Tuyển tập thơ Thầy giáo và nhà trường" là bài thơ hay, để lại ấn tượng đậm sâu trong lòng người đọc nhờ những cảm xúc chân thành, tấm lòng kính yêu vô hạn đối với người thầy từ thời tiểu học. Đọc xong thi phẩm, ta càng thấu hiểu nhiều hơn bài học về lòng biết ơn, tình thương yêu và sự nhân hậu ở đời. Nhờ đó, "Thầy" đã truyền hơi ấm đến tất cả chúng ta trong cuộc sống vẫn còn lắm bộn bề, ngang trái.
Bằng giọng thơ nhẹ nhàng như một lời thủ thỉ, khổ đầu tác phẩm là nỗi niềm của nhà thơ khi nhớ về một thời bé bỏng được đi học "ngôi trường nhỏ nơi thị trấn cổ". Ở đó, không gian mở ra thật êm đềm, thơ mộng. Hình tượng "bầy chim xanh trên cành vông đồng" vừa có nét tả thực, vừa ẩn dụ cho vẻ đẹp ấu thơ, hồn nhiên được học tập và vui chơi của tuổi học trò vụng dại. Khắc sâu trong ký ức của chủ thể trữ tình tác giả là hình ảnh người thầy nghiêm trang với cây thước gỗ tập ngắt nhịp mỗi ngày:
Ngôi trường nhỏ nơi thị trấn cổ
và bầy chim xanh trên cành vông đồng
thầy giáo già nhịp cây thước gỗ
tiên học lễ, hậu học văn.
Lời thơ tự sự mộc mạc mà giàu sức gợi. Quá khứ tươi đẹp và yên bình ấy giờ chỉ còn vọng vang trong ký ức người học trò nhỏ khi nhớ về thầy. Chuyển tiếp mạch cảm xúc trữ tình bằng khổ thơ giàu hình tượng, nhà thơ Trần Thị Huyền Trang như cứa vào trái tim người đọc một nỗi buồn xa xót khi vẽ ra cảnh tượng u buồn của khu vườn cũ nhà thầy. Những chiếc lá vàng rụng rơi không ai quét, nhành lựu gãy buộc chiếc khăn như báo hiệu sự ra đi vĩnh viễn của thầy. Hình ảnh "thềm giếng rêu in dấu thầy trượt ngã" thật xúc động, không những diễn tả cuộc sống âm thầm, lặng lẽ của thầy mà còn mở ra chân dung người thầy cần mẫn với công việc mỗi ngày. Đến thăm lại nhà thầy xưa, nhìn cảnh cũ còn đây mà bóng thầy xa khuất, lũ học trò ngơ ngác thật tội nghiệp. Đồng cảm với con người, cây trái nơi vườn nhà thầy cũng rưng rưng một nỗi buồn đau, mất mát không sao diễn tả hết được:
Khu vườn cũ đã lâu không quét lá
ai buộc lên nhành lựu gãy chiếc khăn
thềm giếng rêu in dấu thầy trượt ngã
chúng con buồn
quả lựu rưng rưng
Nghệ thuật nhân hóa "quả lựu rưng rưng" được nhà thơ lựa chọn khá ấn tượng và giàu tính biểu cảm. Khắc sâu và lưu nhớ mãi về thầy, người nay đã trở thành thiên cổ, trong tâm hồn nhà thơ là hình ảnh thầy "bắc cầu dừa cho chúng con sang". Xưa cuộc sống khó khăn, đướng sá trơn trợt, nước đọng chắn ngang mỗi lúc mưa về, thầy đã  ngược chiều mưa gió để giúp lũ học trò không phải bỏ học. Thầy hiện lên gần gũi, bình thường mà cũng bao dung, lớn lao như ông Tiên, ông Bụt trên đời. Không cầu kỳ câu chữ, mạch cảm xúc của bài thơ cứ thế chảy dài, chân thành và cảm động khiến người đọc không sao nén được lòng mình. Câu chữ ngắn gọn, vẫn giọng thơ tâm tình như một niềm tự bạch, hình ảnh người thầy "phong phanh" chiếc áo giữa chiều mưa gió hiện lên thật cảm động:
Con đường mới giờ không còn dấu tích
vũng lầy xưa nước đọng chắn ngang
phong phanh thầy ngược chiều mưa gió
bắc cầu dừa cho chúng con sang.
Thơ hay và lắng sâu trong lòng người đọc đôi khi lại nhờ vào một thi ảnh độc sáng. Chiếc cầu dừa trong bài thơ này là hình tượng độc đáo ấy chăng? Thầy đã qua đời, học trò xưa đã lớn khôn như bầy chim xanh trên cành vông đồng đã chắp cánh bay xa muôn nẻo. Nhưng chính từ tấm lòng nhân hậu của thầy, tình thương yêu vô hạn của thầy, nhất là chiếc cầu dừa thầy bắc qua vũng nước mưa gió ngày nào đã đưa học trò đến những chân trời mơ ước. Cao đẹp và sâu lắng hơn vì chính thầy là người đã giáo dục lễ nghĩa, lòng nhân hậu cho chúng em từ những gì bình dị, đơn sơ trong cuộc sống mỗi ngày:
Bầy chim xanh trên cành vông đồng đã bay muôn nẻo
chúng con từ tay thầy đi khắp thế gian
vũng lầy nào cũng nhắc thầm cây dừa nhân hậu
gặp tráo trở càng thương quả lựu chín vàng.
Bài thơ khép lại bằng hình ảnh tháng mười gió mưa trĩu nặng. Ngoài trời mưa, lòng học trò cũng đang mưa vì nỗi nhớ thương thầy. Thầy không còn, tháng mười lũ lụt, con về thắp nén nhang cho thầy mà rưng rưng nước mắt. Nhớ thầy, những kỷ niệm êm đềm của quá khứ xa xưa lại hiện về trong ký ức. Hình ảnh nhịp thước tập ngắt câu của thầy tràn về nhắc nhở chúng em phải biết sống sao cho xứng đáng với tình thương yêu và sự dạy dỗ của thầy. Biết đối thoại, biết sống chân thành với người, với đời mới là con người đúng nghĩa. Buổi học đầu tiên cứ thảng thốt gọi lòng, gợi cho người học trò ngày nào ngậm ngùi trước vong hương thầy giáo cũ. Đọc đến đây tôi chợt nhớ đến hai câu thơ của tác giả Dương Thúy Liễu cũng trong bài thơ "Thầy" cảm động: "Run run em đặt vòng hoa/ Khóc thầy cho cả người xa... chưa về". Vâng, Trần Thị Huyền Trang đã khóc thầy một cách cảm động, nhất là khi hoài niệm về cây thước gỗ từ buổi học đầu tiên vô hình mà ngay thẳng, rạch ròi:
Thầy ơi
cánh đồng tháng mười lụt lội
chậm muộn con về dâng một nén nhang
nhịp thước tập ngắt câu của thầy chợt vang trong ký ức
nhịp thước dạy chúng con đối thoại với cuộc đời
từ buổi học đầu tiên.
Bài thơ "Thầy" của nhà thơ Trần Thị Huyền Trang xúc động và neo đậu mãi trong lòng người đọc nhờ vào cảm xúc thành tâm, ngôn ngữ thơ giàu hình tượng, hơi thơ liền mạch và đậm chất suy tư. Đặc biệt, qua bài thơ này, tác giả đã dựng lên chân dung người thầy khả kính với tấm lòng cao đẹp, giàu tình yêu thương và nhân hậu. Hình tượng chiếc cầu dừa và người thầy phong phanh giữa ngày mưa tháng gió đưa học trò đến lớp là thông điệp lung linh sáng mãi nơi trái tim người.
                                                                      LÊ THÀNH VĂN

Thứ Ba, 3 tháng 12, 2019

ĐẤT NÍU CHÂN NGƯỜI bút ký dự thi đoạt giải Khuyến khích của NGUYỄN LIÊN - CHƯ YANG SIN SỐ: 327 THÁNG 11 NĂM 2019


Tác phẩm tham dự Cuộc vận động viết bút ký chủ đề
“Công an Đắk Lắk bản lĩnh, nhân văn, vì nhân dân phục vụ”








Vùng đất được đặt theo tên dòng “Sông Tóc” (Krông Buk) sau khi đất nước thống nhất bao gồm một phần thuộc quận Thuần Mẫn, gộp lại với quận Buôn Hồ. Đây cũng là vùng đất nóng về hoạt động của Fulro với cái tên khá nổi tiếng Y Bliêng quận trưởng Buôn Hồ thời Mỹ chiếm, sau này theo Fulro làm tới chức “Phó thủ tướng chính phủ Fulro”. Đất nước thống nhất, Fulro vẫn không ngừng chống phá chính quyền nhà nước ta đòi thành lập “nước Đề Ga cao nguyên tự trị”. Năm 2001 Đắk Lắk đã diễn ra cuộc bạo động do thế lực thù địch ngoài nước móc nối với lực lượng phản động trong nước xúi giục đồng bào kéo lên Buôn Ma Thuột nổi loạn. Trong thời điểm ấy Bộ Công an phải tăng cường lực lượng cho các đợn vị ở Tây Nguyên nhằm bảo đảm an ninh trật tự. Năm 2003 chàng sinh viên Học viện Cảnh sát Nguyễn Đức Tin nhận quyết định đi thực tập ở Đắk Lắk. Sau cuộc tham gia dẹp loạn năm 2004, anh trở về trường thi tốt nghiệp. Nhận tấm bằng cử nhân cảnh sát loại ưu, anh tiếp tục nhận lệnh điều động của tổ chức tăng cường nhân lực cho công an Đắk Lắk, và anh được biên chế vào Đội Cảnh sát hình sự Công an huyện Krông Buk. Từng có thời gian thâm nhập vùng đất Đắk Lắk, Đức Tin yên tâm nhận nhiệm vụ với lòng tin “Đến đây thì ở lại đây/ bao giờ bén rễ xanh cây mới về”. Địa bàn vốn có nhiều phức tạp về tình hình an ninh trật tự, có Quốc lộ 14 chạy qua kéo theo đó là những đối tượng tội phạm hình sự; về an ninh vùng giáo dân di cư có quan hệ với thân nhân sinh sống nước ngoài và đồng bào dân tộc Êđê bản địa. Công việc của người cảnh sát hình sự luôn phải chạm trán với các đối tượng trộm cắp, lừa đảo, cướp giật, đánh nhau... anh gặp cô gái Trần Thị Thu Nga, cán bộ Ngân hàng Chính sách của huyện, một người không quản khó khăn đến với đồng bào nghèo, một người luôn gần gũi đồng bào đảm bảo bình yên cuộc sống và họ đã nên duyên vợ chồng. Biết công việc của chồng thời gian thất thường, phải đối mặt với nguy hiểm nhưng chị vẫn luôn thể hiện là người vợ đảm lo chu toàn công việc gia đình, động viên anh yên tâm công tác. Tuổi trẻ xốc vác, lại được đào tạo bài bản tại Học viện Cảnh sát, anh đã tham mưu cho cấp trên và trực tiếp thực hiện nhiều chuyên án đấu tranh với các loại tội phạm, được cấp trên và nhân dân tin yêu. Nhớ lại chuyên án bắt vụ trộm của Công ty cà phê Hồng Nga tại thôn 9 xã Cư Bao; vụ trộm kéo dài suốt một thời gian, Công ty không hề hay biết, bởi chiếc camera đặt trước cửa kiểm tra hàng ngày vẫn bình yên, đến 4 tháng sau, khi kiểm kho mới phát hiện ra số lượng cà phê bị mất lên tới 20 tấn. Đội Cảnh sát hình sự nhận được tin báo của Công ty, anh đã lên kế hoạch thực hiện chuyên án điều tra vụ trộm. Trong quá trình điều tra, trinh sát phát hiện gia đình ông Tuấn ở kế hàng rào Công ty có sinh hoạt bất thường. Gia đình ông có hai người con làm công nhân cho Công ty, lương chỉ 2,5 triệu/ tháng, rẫy của gia đình ít, cuộc sống không dư dả, nhưng chỉ trong một thời gian ngắn gia đình ông mua hai chiếc xe máy tay ga hiệu Hon Da AIR BLADE. Cảnh sát tiếp cận hỏi nguồn tài chính nào mua xe máy thì ông không giải thích được. Sau khi mời lên Công an làm việc ông đã khai nhận, hai người con làm trong Công ty đã quan sát và biết nơi chứa cà phê. Đêm tối, gia đình ông bố trí các con trèo lên dỡ mái tôn, thả dây xuống, đóng cà phê vào từng nửa bao cho người ở trên kéo lên thả sang bên kia tường cho người nhà đón, cứ vậy trong suốt một thời gian gia đình ông đã chuyển từ kho của Công ty về nhà mình 20 tấn cà phê. Mở rộng chuyên án mới biết được gia đình ông từ con rể, con trai con gái tất cả có 9 người tham gia vụ trộm. Giám đốc Công ty thưởng nóng cho Đội Cảnh sát điều tra hình sự của anh 50 triệu đồng, số tiền đó, thời điểm ấy lớn lắm, anh không dám nhận. Anh báo cáo với lãnh đạo đơn vị, được lãnh đạo đồng ý, anh đã nhận và thưởng lại cho anh em trinh sát - những người trực tiếp thực hiện chuyên án, còn lại tổ chức cho đơn vị liên hoan thắng lợi một trận đánh. Hoặc vụ đánh bạc trong rẫy cà phê vào năm 2007 để lại cho anh nhiều kinh nghiệm cho công việc điều tra hình sự sau này. Nhóm đánh bạc được tổ chức rất chặt chẽ, chúng bố trí các ngả đường đi vào rẫy đều có người canh gác, người gác làm chòi canh trên cây cao, phát hiện có người lạ đi vào khu vực đánh bạc thì gọi điện thông tin cho nhau. Chuyên án do anh làm đội trưởng phụ trách, anh bố trí trinh sát đóng vai người đi làm rẫy, ăn ở trong rẫy cả tháng trời để nắm bắt tình hình chính xác báo về mới ra quân, đến khi bị lực lượng công an ập vào bắt, những con bạc còn ngơ ngác không biết có phải công an không.
Năm 2009, huyện Krông Buk chia tách thành hai đơn vị hành chính, thị xã Buôn Hồ và huyện Krông Buk, Nguyễn Đức Tin vẫn làm Đội trưởng cảnh sát hình sự thị xã Buôn Hồ. Anh vẫn là người trực tiếp lãnh đạo các chuyên án hình sự nổi bật là phá một đường dây trộm cắp liên huyện Krông Buk, Cư M’gar, Krông Năng, góp phần đảm bảo an ninh trật tự cho thị xã. Đội Cảnh sát Hình sự được Ủy ban Nhân dân Thị xã tặng Giấy khen và được nhận Bằng khen về thành tích bảo vệ an ninh trật tự của Bộ Công an, Ủy ban Nhân dân tỉnh và Giám đốc Công an tỉnh Đắk Lắk. Nhưng có lẽ tấm bằng danh dự cao quý hơn cả đối với cán bộ chiến sĩ Đội Hình sự là lòng tin yêu, ủng hộ của nhân dân.
Tháng 5 năm 2018 từ Đội trưởng hình sự Công an thị xã Buôn Hồ, Thiếu tá Nguyễn Đức Tin được bổ nhiệm Phó trưởng Công an huyện Krông Buk. Với cương vị mới, cơ quan mới, trên vùng đất có nhiều đồi núi, nhiều buôn làng đồng bào Êđê còn khó khăn lại kèm theo nhiều phức tạp về an ninh như lừa đảo, trộm cắp, anh đã tham mưu cho cấp trên và tổ chức phá nhiều chuyên án thành công, trong đó có vụ án “Bảo kê sầu riêng”. Chuyện là trong xã Cư Né, những người khách buôn vào làng tìm mua sầu riêng đang yên bình bỗng có một nhóm người cản đường đòi tiền bảo kê, mỗi tấn hai triệu đồng. Nhóm này rất tinh quái, kẻ đòi tiền không trực tiếp nhận tiền mà là một người khác. Một hôm, có người khách tên Tâm đi mua sầu riêng bị toán bảo kê đòi tiền, Tâm chấp nhận đưa tiền cho chúng để vào buôn, bởi việc buôn bán anh không muốn rắc rối. Nhưng khi chở sầu riêng ra, nhóm bảo kê đòi tiền tiếp. Bực mình với những kẻ bảo kê tráo trở, Tâm liền đến Công an huyện báo. Chuyên án liền được triển khai, các trinh sát đóng vai người đi mua sầu riêng đã bắt gọn nhóm bảo kê, chúng là những người nơi khác đến, đều là những tên vừa ra tù không chịu cải tà quy chính, tiếp tục phạm tội. Nhưng những tên có tiền án thâm niên đâu chịu thua dễ dàng như vậy, bị trinh sát bắt thì chúng vừa chống trả vừa hô lớn “Cướp, cướp!”, nhân dân nghe hô không biết chuyện gì đã xông ra cùng chúng đánh lại lực lượng công an mặc thường phục, các trinh sát lao vào đỡ đòn cho đồng đội đang bị đánh và nói cho đồng bào biết mình là công an đang làm nhiệm vụ, những người kia mới là cướp. Thiếu tá Nguyễn Đức Tin kể với giọng đầy tự hào về tình đoàn kết đồng đội luôn xả thân vì nhau. Có lẽ vì thế mà các vụ án luôn có sự chung sức đồng lòng cùng nhau hoàn thành nhiệm vụ. Anh cho biết, không những hết lòng vì nhân dân giải quyết kịp thời những vụ án mà các anh còn ngăn chặn tội phạm trước khi xảy ra. Những tờ giấy quảng cáo dán trên tường rào, gốc cây cho vay tiền “tín dụng đen”, anh cho bóc và lấy sơn quét đè nội dung. Bởi theo anh, đồng bào mình ở các buôn làng thật thà dễ tin, bọn lừa đảo dễ lừa, chúng đưa hợp đồng nhiều khi đồng bào không đọc hoặc đọc qua chưa rõ nội dung rồi ký ngay, từ đó số tiền vay chúng có thể ghi thêm số vào, vay ít nhưng khi chúng đòi nợ lại là số tiền lớn, dân không đủ sức trả thì chúng dùng cách của xã hội đen ép. Ngăn chặn trước là giúp được nhiều người bị lừa, chúng nói rằng: “Đ.M! Đi khắp cả nước mà chưa thấy ở đâu như Công an huyện Krông Buk thế này!”.
Đang nói chuyện với tôi thì có một chiến sĩ vào báo cáo đồng chí Phó công an huyện, nhận được điện thoại của người dân ở xã Ea Sin đang bị kẻ chắn đường đòi nợ, Nguyễn Đức Tin lệnh ngay cho chiến sĩ vừa báo cáo, anh em lấy ô tô đi xuống xử lý cho kịp. Người lãnh đạo trẻ tuổi sinh năm 1981 nhanh nhẹn, nghiệp vụ vững vàng, lại có tâm đức như Nguyễn Đức Tin, hèn chi năm vừa qua một trăm phần trăm đồng ý bầu anh đạt danh hiệu Chiến sĩ thi đua cấp tỉnh. Đồng bào tin tưởng an tâm xây dựng cuộc sống, trồng sầu riêng, mua bán sầu riêng không còn lo bị chèn ép. Có trái sầu riêng ngon, đồng bào không quên mang biếu đồng chí Phó công an huyện. Đối với gia đình, anh chị có hai cháu gái, một tám tuổi, một năm tuổi, mỗi lần hiếm hoi có ngày nghỉ về với gia đình tại thị xã Buôn Hồ, anh thay vợ dạy con học và không quên nhắc nhở con: “Mẹ vất vả làm việc giúp người nghèo, bố lo gìn giữ cuộc sống bình yên cho mọi người, thì các con phải chăm lo học hành thật tốt là biết ơn bố mẹ đó nghe!”. Cây đã bén rễ, lá đã xanh, vùng đất còn níu chân anh ở lại với cán bộ chiến sĩ, với bà con các dân tộc ở nơi thấm đẫm tình người. Anh muốn như dòng Krông Buk, “sông tóc” tuôn chảy tưới mát cho đời.