Thứ Hai, 27 tháng 4, 2020

NÓI THAY CHO NGƯỜI ĐÃ CHẾT truyện ngắn của NGUYỄN VĂN THIỆN - CHƯ YANG SIN SỐ 332 tháng 4 năm 2020

 


Có những đêm dài, bị truy sát bởi ác mộng, tôi không dám ngủ, chỉ nằm thôi. Tôi nằm sấp, há mồm ra để thở. Từ trong mồm rắn rết bò ra, cóc nhái bò ra, bọ rệp cũng bò ra, cả bầy, cả lũ, như chạy giặc, như di cư, như vượt biên, như tang lễ... Tôi hỏi: "Tụi bây đi đâu mà đông vui như thể biểu tình bãi khóa?". Rắn rết cóc nhái trả lời: "Chúng tôi nói thay cho những người đã chết!". Bực chưa? Hỏi một đường chúng trả lời một nẻo. Không lẽ đuổi theo mà giết từng con? Thôi thì kệ bọn nó. Để xem chúng kéo đi đâu giữa những đêm dài nóng nực...
Tôi nói: "Tao không gọi mày là mày, tất cả chúng ta là anh em...". Bọn chúng nghe thế, cười khành khạch. Con rết bận áo giáp đi sau cùng quay đầu lại nói: "Liệu hồn! Nằm im đấy, đừng lải nhải!". Ghê, chúng dám dọa tôi ư! Còn lâu tôi mới sợ, nhưng vẫn nằm im. Có thật là chúng nó nói thay cho những người đã chết không nhỉ? Phải chờ thôi. Trăng khuya đã lên rồi, vằng vặc như trong thơ và trong nhạc. Bầy rắn rết cóc nhái từ miệng tôi bò ra, xếp hàng rồng rắn giữa sân. Trời vẫn nóng hầm hập. Tôi vẫn không dám ngủ. Nằm sấp, im lặng xem chúng chơi đùa...
Đêm dài lắm, nhất là những đêm trời nóng nực. Nếu không ngủ được, đêm càng dài. Tôi nghĩ, những người đã chết, họ còn gì để nói nữa không nhỉ? Tại sao bầy động vật này lại sinh ra để nói thay người đã chết? Mà người đã chết thì nhiều vô kể, chết trên đường đi, chết bên sông, chết trên biển, chết trên máy bay, chết trong đêm , chết giữa trưa, chết sáng sớm, chết vì xe cán, chết vì treo cổ, chết vì súng bắn lê đâm, chết vì sặc nước, chết vì bị hiếp dâm... làm sao chúng nói thay cho xuể?
Con rắn màu xanh da trời rít lên: "Chúng ta là những kẻ không cần tài sản!". Cả bọn rít lên theo, như tiếng gió thổi bên vách núi: "Không cần tài sản!". Nói rồi, rắn điềm nhiên bò lên cây lộc vừng nằm, thò đầu xuống, lắc lư như đầu thằng say rượu. Con rết mặc áo giáp sắt bò ra, hét toáng: "Ta sống đây là vì người khác, không phải cho riêng mình ta!". Cả bọn lại hét lên phụ họa: "Không phải riêng mình!". À, hóa ra chúng chơi trò con nít, tưởng gì! Chúng nói phét thế thôi. Chuyện này, tôi biết rồi. Chú nhái bén phùng mang trợn má hét: "Tao ghét những đứa gian lận!". Cả bọn hét theo: "Đả đảo gian lận!".
Tôi có một ông bác, chết từ thời tám hoảnh. Cha thường kể: "Bác mày trước khi chết đòi vợ một bát cơm nếp, nhưng không có!". Tôi nghĩ, những người chết, nếu có thể gửi tiếng nói lại cho hậu thế, chắc họ không nói những chuyện tầm thường đâu. Ví dụ, như bác tôi, nếu có gửi lời lại, thì cũng sẽ nói rằng, cố mà xây dựng cuộc sống làm sao cho yên vui. Chứ không lẽ lại nói, cho tao bát cơm nếp! Bọn rắn rết vẫn mải mê chơi giữa sân. Trăng vẫn sáng. Trời vẫn nóng.  Không ngủ được, cảm giác cực kỳ khó chịu. Tôi hét lên như có ai móc họng: "Cho tao bát cơm nếp!". Bọn rắn rết cóc nhái giật mình dừng cả lại. Chúng ngớ ra một lúc rồi cười sằng sặc. "Người chết không xin cơm, đồ ngu, người chết nói điều đẹp đẽ hơn nhiều, mày im mồm lại, để chúng tao nói thay cho!".
Tôi vừa phát hiện ra mình có một khả năng siêu phàm: Hễ tôi nghĩ đến cái gì, lập tức cái đó xuất hiện! Tôi vừa nghĩ đến Phật, lập tức Phật hiện ra, đương nhiên là râu cước bạc phơ, đương nhiên là vẻ mặt nhân hậu. Phật ngồi xuống, bọn rắn rết bò lượn quanh. Trên tay Phật cầm một tô cơm nếp. Hoá ra Phật nghe được ước mơ của tôi, không phải, ước mơ của bác tôi. Thế mới gọi là Phật chứ...
Phật cười, hỏi bọn rắn rết: "Ai bảo tụi bay nói thay người đã chết?". Lũ nó trả lời: "Chúng tôi tự nguyện". Phật lại hỏi: "Nói mãi thế, có đói, có mệt không?". "Có". Rồi không đợi Phật nói gì thêm, rắn rết cóc nhái bu vào bát cơm nếp bốc ăn ngon lành. Tôi thất vọng, bác tôi cũng thất vọng, chính tôi nói dùm bác tôi, xin một bát cơm nếp, sao bọn kia lại được ăn? Phật nheo nheo mắt giễu tôi, nói như gió thoảng: "Mày ngốc quá, thời này là thời nào mà cứ đòi công bằng, trung thực!". Tôi hiểu rồi, Phật cũng là kẻ cùng phường với rắn rết...
Gần về sáng, trời mát, tôi ngủ thiếp đi, trong khi lũ rắn rết cóc nhái vẫn múa hát vòng quanh và tranh nhau nói thay người đã chết. Trong mơ, tôi thấy những người chết sắp hàng đứng nhìn lặng lẽ bằng đôi mắt ngùn ngụt lửa cháy. Họ không nói gì đẹp đẽ, không nói gì tầm thường. Họ cũng không xin cơm nếp và họ không tranh nhau ăn cơm nếp.
Những người đã chết, họ không nói gì. Bọn rắn rết cóc nhái tranh nhau ăn và tranh nhau nói.
Chúng nói chán và ăn no rồi nằm ngủ dưới trăng. Phật, sau một hồi nói nói cười cười bạc phơ nhân hậu, chỉ còn đứng trơ lại một mình. Tôi nói trong giấc ngủ ấm ức: “Thôi, Phật đi đi!”. Phật quay lưng đi, phe phẩy cái đuôi dài y như đuôi cáo. Trời ạ, hóa ra là tôi nhầm, đó là một con cáo trên núi Chư Mang xuống chơi giữa đêm nắng nóng. Không phải Phật, hèn gì!
Những người đã chết cũng lặng lẽ bỏ đi, những đôi mắt vẫn ngùn ngụt như lửa cháy.

Thứ Bảy, 25 tháng 4, 2020

TỪ TRẬN MỞ ĐẦU CHIẾN DỊCH TÂY NGUYÊN ĐẾN MỞ CÁNH CỬA ĐỒNG DÙ KẾT THÚC CHIẾN TRANH bút ký của NGUYỄN LIÊN - CHƯ YANG SIN SỐ 332 tháng 4 năm 2020




Đến nay cán bộ nhân dân các dân tộc huyện Ea H’Leo còn khắc ghi những cái tên đơn vị, tên người chỉ huy gắn liền với chiến công của vùng đất mà mình đang sinh sống. Trung đoàn 48 do Trung đoàn trưởng Lê Quang Bình và Chính ủy Đinh Hữu Tấn chỉ huy thuộc Sư đoàn 320 chủ lực đã đánh trận điểm huyệt Chi khu quân sự Thuần Mẫn ngày 8.3.1975 mở màn chiến dịch giải phóng Buôn Ma Thuột, giải phóng Tây Nguyên; cũng tại đây, thay mặt Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng, Đại tướng Văn Tiến Dũng đọc quyết định thành lập Binh đoàn Tây Nguyên.
Trận đánh Cẩm Ga, Chi khu quân sự Thuần Mẫn, Trung đoàn 48 đã hoàn thành nhiệm vụ cắt đứt đường viện trợ của Quân đoàn 2 địch từ Pleiku theo Quốc lộ 14, và theo đường số 7B từ hướng Cheo Reo để các đơn vị bạn tiến công giải phóng Buôn Ma Thuột. Thất thủ Tây Nguyên - nơi được coi là vùng chiến thuật, địch hy vọng kiểm soát toàn Đông Dương - Thiếu tướng Phạm Văn Phú, Tư lệnh Quân đoàn 2 và Vùng Hai chiến thuật đã lên trực thăng chuồn thẳng về Nha Trang, giao lại Quân đoàn cho Chuẩn tướng Trần Văn Cẩm, Phó tư lệnh lên kế hoạch rút quân, các tỉnh trưởng, cán binh cấp dưới ai biết thì chạy, mạnh ai nấy chạy như ong vỡ tổ. Như một thứ bệnh dịch lây lan từ binh lính sang người dân chen nhau chạy di tản. Bộ Tư lệnh Mặt trận vừa triển khai kế hoạch tiêu diệt Sư đoàn 23 địch hướng đường 21 Buôn Ma Thuột đi Nha Trang, vừa lên kế hoạch chặn đánh địch rút chạy trên đường số 7. Tiểu đoàn 9 Trung đoàn 64, Sư đoàn 320 cơ động ngay trong đêm 16 tháng 3 để có mặt tại nam thị xã Cheo Reo vào sáng hôm sau (17.3) theo kế hoạch nổ súng chặn địch. Biết đây là thời cơ nên cán bộ chiến sĩ Tiểu đoàn 9 đốt đuốc vận động xuyên rừng, vượt đèo dốc chạy đua với địch. Sau Tiểu đoàn 9 là toàn bộ Trung đoàn 64, tiếp theo là Trung đoàn 48 và tất cả các đơn vị còn lại của Sư đoàn 320 vào cuộc truy kích địch. Vừa trải qua những năm tháng thiếu thốn, gian khổ của Tây Nguyên, thiếu quân trang bổ sung, bộ đội truy kích địch bằng chân đất, te tua quần áo, chân tứa máu, vẫn chạy truy đuổi địch đến chiều 17 tháng 3 thì đến được Cheo Reo. Nhưng buổi sáng, một số xe địch đã chạy lọt về phía Củng Sơn, hầu hết Quân đoàn 2 nguỵ với hàng nghìn xe pháo các loại còn ùn tắc tại thị xã Cheo Reo. Trên đường số 7, lúc đó xe địch, xe dân chen nhau chạy hàng bốn, hàng năm như cố thoát khỏi cửa tử thần. Qua thị xã khoảng 4 cây số, một trận địa phục kích của Tiểu đoàn 9 nổ súng chặn đứng đoàn xe. Đang cơn hoảng loạn, nghe tiếng súng của ta, cả đoàn xe địch chạy bừa ra hai bên đường, lao vào rừng. Nhiều tên giặc lái bỏ xe chạy bộ về Cheo Reo. Thị xã Cheo Reo trở thành điểm tập kết trung chuyển của địch. Đâu đâu cũng chật ních xe các loại, hàng vạn lính địch dựng lều bạt nằm ngổn ngang khắp vườn rẫy, tràn cả ra sân bóng. Bộ Tư lệnh chiến dịch lệnh cho Sư đoàn 320 nhanh chóng chiếm thị xã Cheo Reo. Trưa 18.3 Trung đoàn 48 có sự chi viện của pháo binh mở đợt tấn công vào sân bay, khu cố vấn Mỹ và khu tòa hành chính… Cầu Ea Nu bắc qua sông Ba, xe tăng địch chen nhau chạy bị sập do quá tải. Bãi sông Ba trở thành bãi xác xe. Tướng Phạm Văn Phú từ Nha Trang điện lệnh cho chỉ huy cấp dưới phá xe mở đường máu mà chạy về Củng Sơn. Trước tổn thất quá nặng nề, những tên chỉ huy còn lại của địch cũng lên máy bay tìm đường thoát thân, để lại quân lính như rắn mất đầu chạy loạn xạ. Dọc sông Ba không những trở thành bãi xác xe, xác pháo mà còn là bãi xác người do chen lấn giẫm đạp lên nhau. Số còn lại tìm vào các hang núi, bờ bụi ven sông trú ngụ. Chính uỷ Trung đoàn 48 Đinh Hữu Tấn ngồi trên chiếc xe Jeep vừa thu của địch, thấy cảnh nhốn nháo ông nói lái xe dừng lại. Một người phụ nữ đau bụng quằn quại. Ông gọi y tá giúp người phụ nữ khả năng sinh con. Anh y tá nói: “Báo cáo thủ trưởng, tôi chưa làm việc này bao giờ!”. “Thì bây giờ làm đi. Giúp dân cũng là nhiệm vụ!”. Ca đỡ đẻ thành công, Chính uỷ nói cậu công vụ Phạm Vũ Cần pha sữa nóng cho người sản phụ uống. Những người dân lúc đầu sợ bộ đội Việt cộng, bây giờ chảy nước mắt vì nghĩa cử của bộ đội. Người đàn ông mặc bộ đồ lính ngụy đứng trong đám đông liền cởi chiếc áo rằn ri, quấn cho đứa bé sơ sinh, anh ta xúc động: “Các ông Việt cộng đúng là Phật sống. Vậy mà lâu nay nghe tuyên truyền chúng tôi đã hiểu sai!”. Tới một đoạn khác có một bà cụ già chừng hơn tám mươi tuổi ngồi trong đám đông đói lả, Chính uỷ lại nói cậu chiến sĩ pha cho cụ sữa nóng, lệnh cho bộ đội khuân những bao gạo trên xe xuống giúp dân, khuyên họ trở về nhà làm ăn sinh sống, bộ đội cách mạng cũng là dân, không phải sợ. Vừa uống sữa vừa chảy nước mắt biết ơn, bà cụ nói trong hang còn nhiều người lắm. Trong con mắt người dân lâu nay sống dưới chế độ cũ, nghe tuyên truyền về Cộng sản, về Việt cộng tuốt móng tay, moi gan ăn thịt người, ba anh lính Việt cộng bám cành đu đủ không gãy, bây giờ được nhìn thấy những chàng trai khoẻ mạnh đẹp trai, hành động đầy tính nhân văn của bộ đội cách mạng, họ vô cùng biết ơn và những giọt nước mắt vừa vui mừng vừa như tạ lỗi về những điều họ đã nghĩ sai về bộ đội cách mạng. 
Ngày 26 tháng 3 năm 1975 tại căn cứ chỉ huy chiến dịch trong rừng xã Ea Tir, Đại tướng Văn Tiến Dũng, Tổng tham mưu trưởng quân đội nhân dân Việt Nam đã thay mặt Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng đọc quyết định thành lập Binh đoàn Tây Nguyên, Trung đoàn 48 cùng Sư đoàn 320 tiếp tục hành quân theo chiến dịch Hồ Chí Minh, thần tốc tiến về Sài Gòn. Cán bộ chiến sĩ Trung đoàn 48 được cấp trên giao mở cánh cửa sắt Đồng Dù nằm phía tây bắc Sài Gòn. Đồng Dù là một căn cứ lớn nằm cạnh lộ 8 Củ Chi đi Bình Dương cách Sài Gòn chừng ba mươi cây số. Căn cứ này trước đây trong “Chiến tranh cục bộ” là hậu cứ của Sư đoàn 25 Mỹ - sư đoàn “Tia chớp nhiệt đới”. Khi “Việt Nam hoá chiến tranh”, Mỹ giao lại Đồng Dù cho Sư đoàn 25 nguỵ. Căn cứ rộng khoảng 7 cây số vuông nằm giữa cánh đồng như con mắt cú vọ gườm gườm nhìn về  Trảng Bàng, nhìn lên Hố Bò, Nhuận Đức - những căn cứ du kích nổi tiếng của Tây Ninh, Củ Chi, và của vùng ven.
Căn cứ được rào kín bằng 11 lớp dây thép gai vòng ngoài 300 mét, phía trong là một hệ thống công sự phòng thủ, cứ 50 mét lại có một lô cốt, 10 mét lại có một hố bắn cá nhân. Trong căn cứ có cả sân bay, trận địa pháo lớn tới 15 khẩu, một thiết đoàn khoảng 20 xe thiết giáp, một trường huấn luyện hạ sĩ quan. Quân số địch đóng trong căn cứ lúc ấy có chừng 3.500 tên do Chuẩn tướng Lý Tòng Bá, Tư lệnh Sư đoàn 25 chỉ huy.
Theo hồi ký của Chính ủy Đinh Hữu Tấn, tôi hiểu hơn về vị trí người chỉ huy lúc ấy: “Đồng Dù là một miếng “mồi” không dễ nuốt tí nào cả đối với chúng tôi là những người lính hết sức bỡ ngỡ, lại chân ướt chân ráo mới từ cao nguyên tới. Trước khi nhận lệnh đánh Đồng Dù, Trung đoàn tôi từng tham gia chiến dịch Tây Nguyên, tiến đánh đồn Cư Sê trên đường 14, tấn công quận lỵ Thuần Mẫn, Cheo Reo, trận truy kích địch bỏ chạy trên đường số 7 có một không hai trong lịch sử chiến tranh… góp phần cho trận đánh giải phóng Buôn Ma Thuột, mở đầu Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Nếu trận đánh Buôn Ma Thuột là một vết tử thương cho chế độ Thiệu, một đột phá khẩu để dân tộc ta đi vào vòm cửa khải hoàn, thì đường số 7, tôi muốn ví von như kiểu thầy thuốc, là nơi nguỵ mất nhiều máu nhất để đến nỗi cái cơ thể Việt Nam Cộng Hoà đang bề ngoài phì nộn ấy bị choáng cấp, thực sự đổ ụp xuống để rồi ngày 30 tháng 4 năm 1975 nó thở hắt ra giãy đành đạch.
Giờ đây chúng tôi nhận lệnh đánh Đồng Dù, mở cánh cửa sắt phía tây bắc Sài Gòn cho quân ta tràn vào dứt điểm cuộc chiến tranh trường kỳ của dân tộc. Trong lúc chờ đơn vị bạn qua cầu trước, tôi tranh thủ kéo cậu Niên công vụ xuống sống tắm. Vì muốn tẩy sạch bụi đường cũng có, mà vì để thỏa tính lãng mạn của mình cũng có. Từ đây chúng tôi đã nhìn thấy quầng sáng của thành phố Sài Gòn hắt lên nền trời đêm một thứ ánh sáng nhờ nhờ mông lung và lạ lẫm quá, tôi cứ thấy chộn rộn trong lòng.
Đêm 24 tháng 4 Trung đoàn vượt sông Sài Gòn về tập kết ở Phú Mỹ Hưng thuộc huyện Củ Chi. Pháo ở Trảng Bàng, Tân Trung Hòa, Đồng Dù có thể bắn về đây, nơi có những đơn vị chủ lực của ta tập kết chuẩn bị cho trận đánh cuối cùng. Cán bộ đi trinh sát, chiến sĩ gói bộc phá, người lo làm đường kéo pháo, tất cả chuẩn bị hết sức khẩn trương, nhộn nhịp như đêm giao thừa vậy. Tôi chưa sống ở Vĩnh Linh, mới dừng chân ở địa đạo Củ Chi, tôi đã cảm thụ được chất anh hùng ca của lời hát: “Mẹ vẫn đào hầm”. Lúc này những người mẹ bằng xương bằng thịt chứ không phải hình ảnh trong ca từ bài hát, các mẹ thương những người lính từ rừng Tây Nguyên gian khổ biết chừng nào:
- Út ơi. Bổ dưa mời chú Hai ăn con!
Chúng tôi, cả Sư đoàn, mười mấy sư đoàn mang tinh thần cho trận đánh cuối cùng này làm thế nào để thỏa lòng mong ước của người dân trong lòng địch đang mong đợi. Chờ đợi là vậy nhưng cái mục tiêu mà Trung đoàn tôi đảm nhận phải mở bằng được cánh cửa sắt Đồng Dù cho đại quân ta tiến về giải phóng Sài Gòn. Ông già Năm ở Phú Mỹ Hưng khuyên tôi bằng chất giọng đặc Nam bộ:
- Qua khuyên thằng Hai, có phải bọn bay định đánh Sân Dù, hổng ăn đâu. Đánh vào đấy bỏ lại con nghen!
- Chúng con còn giải phóng cả Sài Gòn ấy chứ ba.
- Hầy! Sài Gòn toàn lính kiểng. Chúng bay đánh được Sân Dù thì Sài Gòn không đánh khắc tan. Sức mấy nó giữ được.
Đảng ủy và cán bộ chỉ huy Sư đoàn tôi đã được nghe quân báo, cán bộ địa phương, cùng một thượng sĩ nội tuyến trong căn cứ Đồng Dù về bố phòng trong căn cứ của địch. Cần phải làm tốt công tác chuẩn bị. Quân đoàn trưởng Vũ Lăng ra lệnh cho chúng tôi tổ chức một đợt kiểm pháo. Nếu tính tất cả trận địa pháo của địch trong vùng có đến 80 đầu khẩu. Phải hết sức thận trọng không được xảy ra sơ sót.
Chiều 28.4, Sư đoàn chúng tôi làm lễ xuất quân bên bờ sông Sài Gòn đúng lúc nước lên, đôi bờ sông mênh mông. Máy quay phim của các phóng viên chiến sĩ  bám theo đơn vị bắt đầu xè xè quay. Lá cờ Quyết thắng được giao cho Tiểu đoàn chủ công, chiến sĩ Phạm Văn Lệ được vinh dự vác cờ. Suốt cuộc đời chiến sĩ của tôi, trên 20 năm đi đánh giặc, chưa bao giờ thấy người lính ra trận khuôn mặt lại trang nghiêm và rạng rỡ như lần này.
20 giờ địch bắn pháo. Có ai đó nói: “Người lính chỉ chết một lần. Người chỉ huy phải chết nhiều lần”. Chỉ một quả phảo 105 mm rơi trúng đội hình có khi mất đứt cả đại đội như chơi. Cách cứ điểm chừng một cây số, tôi nhận được điện báo của sư đoàn, phải khẩn trương vào chiếm lĩnh vị trí chiến đấu, có thể địch bỏ chạy.
2 giờ sáng ngày 29.4, trời đêm mông lung, chúng tôi tới chỉ huy sở, nói chỉ huy sở cho oai, thực ra chỉ là một bờ ruộng hoang, các chiến sĩ công binh đào sâu một cái hầm cho chỉ huy. 3 giờ 30 phút thông tin hoàn thành mạng hữu tuyến, chúng tôi thay nhau trực và đi kiểm tra bộ đội sẵn sàng mở cửa.
5 giờ sáng, phía đông trời đã ửng hồng, pháo ta bắn. Đến 30 phút đầu, căn cứ của địch chết lặng, không một tiếng súng bắn trả. Tôi băn khoăn nói với Trung đoàn trưởng Lê Quang Bình: “Hay nó chạy?”. Bình chưa kịp trả lời thì con “nhím” Đồng Dù xòe hết lông, xe tăng chạy hỗn loạn, 4 cái xông ra bịt cửa. Tất cả các lô cốt, các ụ súng cá nhân thay nhau nhả đạn, tôi không còn phân biệt nổi những tiếng nổ gì nữa. Một trận đọ súng núi lở long trời, y như có trận động đất. Đạn bay ra phía chúng tôi như bầy ong sắt nổ tung tóe ngay trước mặt, sau lưng, đất đá bay rào rào. Ta bắn pháo đến 7 giờ thì bộ binh tràn lên mở cửa. Hướng C3 mở của rất gọn nhưng vẫn chưa lên được. Hai chiếc xe tăng địch nép hẳn vào bờ tường đất, đổ như vãi đạn 12,8 ly vào cửa mở mỗi lần xung kích nhô lên. Hướng thứ yếu do trung đoàn bạn đảm nhiệm cũng chưa lên nổi. Trong căn cứ, Lý Tòng Bá điều thêm một tiểu đoàn bảo an ở Hiệp Phước đánh thúc sau lưng trung đoàn bạn. Qua chiếc bộ đàm PRC 25 giọng Lý Tòng Bá điều quân túi bụi:
- Các chiến hữu cứ yên tâm, mấy thằng Bắc kỳ bụng toàn rau muống, để rồi xem nó làm được gì. Tôi đã xin được sự yểm trợ tối đa của không quân rồi.
Sau đó 5 phút, quả thật có tiếng gầm rú của máy bay, hai chiếc phản lực F5 bay tới lấc láo ném 4 quả bom cách chỗ chúng tôi chừng hai trăm mét. Pháo cao xạ của ta kịp thời lên tiếng, hai chiếc phản lực hình như không ưa cái chuyện nhảy vào khu “hỏa diệm sơn”, chúng dướn mình lên cao rồi tuốt thẳng về Tân Sơn Nhất. Chỉ còn một lớp cánh cửa cuối cùng vẫn chưa mở được, nòng súng đại liên của địch bên kia bờ đất sẵn sàng trút đạn, tôi hình dung cả đội hình chủ lực của quân đoàn đang chờ đơn vị mở được cánh cửa sắt này. Chúng tôi ra lệnh điều thêm pháo, xe tăng vào tăng cường cho mũi đột kích chủ yếu. Trung đội trưởng Vũ Thanh Sơn (sau này được tuyên dương anh hùng) nằm ép mình xuống bờ đất bò lên cửa mở. Dọc đường tới cửa mở có gần 30 chiến sĩ hy sinh nằm đó. Anh nhặt lấy khẩu B41 của một đồng chí xạ thủ vừa trúng đạn 12,8 của địch. Bất ngờ, Sơn bật đứng dậy trước cửa mở, chĩa khẩu B41 vào sườn chiếc xe tăng đang ép mình bên bờ đất. Chiếc xe tăng địch bốc cháy như đúc bằng nhựa thông. Những chiếc còn lại hoảng loạn vội vàng biến vào phía trong mất hút. Chúng tôi thường nói vui, đấy là quả phạt đền 11 mét; sau cú sút đó, trọng tài nổi hiệu còi chấm dứt trận đấu.”
*
Đúng 11 giờ 30 phút ngày 29.4.1975, các chiến sĩ Tiểu đoàn Đống Đa giật lá cờ vàng sọc đỏ xuống đất, trịnh trọng treo lá cờ đỏ sao vàng lên. Cánh cửa sắt phía tây bắc Sài Gòn được mở. Tôi ra lệnh tìm bằng được tên Lý Tòng Bá, nhưng hắn đã lẩn trốn mất. Buổi chiều, du kích Củ Chi dẫn tới một người mặc thường phục đang đợi xe đò chạy về Sài Gòn, nói hắn là chỉ huy căn cứ này. Ngồi trước Chính ủy Đinh Hữu Tấn, hắn khúm núm trả lời:
- Tôi là người dân đi làm thầu xây dựng.
- Chính hắn là Lý Tòng Bá đấy - Du kích Củ Chi khẳng định.
- Tôi cứ hình dung ông phải là một người bản lĩnh như cuốn sách ông từng viết “Từ Điện Biên Phủ đến Plei Ku”, không ngờ trong lúc hoạn nạn ông lại bỏ mặc lính, cố chạy trốn giữ bản thân. Tôi nghi ông không phải là Lý Tòng Bá.
Nghe Chính ủy Đinh Hữu Tấn nói, người mập ụ ngồi đối diện thầm nghĩ thì ra mình cũng được phía bên kia biết tới, lại còn đọc cả sách của mình; ông ta vội vàng khẳng định:
- Chính tôi là Lý Tòng Bá đây.
Sợ ông chỉ huy Việt cộng không tin, ông ta còn mở túi áo lấy ra tờ căn cước đưa ra để chứng minh.
Đại quân ta nhanh chóng tiến về giải phóng Sài Gòn. Chỉ có điều, sau chiến thắng, người ta thấy Chính ủy Đinh Hữu Tấn khóc đỏ mắt. Để mở được cánh cửa sắt này phải đổi bằng máu của cán bộ chiến sĩ quá lớn, trận đánh chỉ diễn ra mấy tiếng đồng hồ, sự mất mát hy sinh của bộ đội ta bằng cả một chiến dịch giải phóng Tây Nguyên.

Thứ Sáu, 24 tháng 4, 2020

BẦY KHỈ TẠ ƠN truyện ngắn của HỒNG CHIẾN - CHƯ YANG SIN SỐ 332 tháng 4 năm 2020




BẦY KHỈ TẠ ƠN!
Truyện ngắn


 
-Ô, cái gùi của H’Uyên kìa!
Vân buột miệng reo lên, Y Nhớ đang ngồi đứng bật dậy như bị ong đốt đít, nhìn theo tay Vân chỉ; một con khỉ đi bằng ba chân, còn chân trước nắm dây gùi kéo theo phía sau. Miệng chiếc gùi khi mắc vào bụi cây, lúc mắc vào gốc cỏ… nó giật thật mạnh cho chiếc gùi vượt qua; miệng gùi theo quán tính thoát khỏi vật cản thúc ngay vào đầu, vào cổ. Chắc bị đau, hắn ta vội buông gùi nhảy bắn ra phía trước mấy bước, quay đầu nhìn như quan sát xem ai đánh mình; không thấy ai mới tiếp tục nắm dây gùi kéo đi tiếp về phía con thuyền. Vân và Y Nhớ ôm bụng cười ngả nghiêng.
-Giỏi quá, chúng vớt được gùi lúc nào mà kéo đến để trả chị đây?
H’Uyên reo lên, bước nhanh lại đón. Con khỉ đứng sững lại nhìn, buông dây gùi, miệng kêu lên the thé: “H… óc, h… óc, h… óc…” rồi chạy lại nắm dây đu người lên cành cây bên đường đi. Cả bầy trên cây được dịp đồng thanh kêu lên:
-H… óc, h… óc, h… óc!
-Chị cảm ơn nhé!
-H… óc, h… óc, h… óc!
Như hiểu được tiếng người, chúng đồng thanh kêu lên. Vân nắm tay Y Nhớ giật mạnh, nói nhỏ:
-Nhìn kìa?
Đúng mười con khỉ, mỗi con cầm một cành cây, xếp thành hàng dọc tiến lại chỗ H’Uyên; cây chúng cầm theo chỉ to như ngón tay út, dài độ một cánh tay. Đến gần chỗ H’Uyên đứng, con đi trước dừng lại thả cây xuống, những con đi sau đều thả cành cây mang theo lên trên cành cây thả xuống trước như xếp chồng lên nhau rồi vội vã quay lại, chạy vào rừng, biến mất sau những gốc cây to.
H’Uyên tay cầm gùi, mặt ngây ra nhìn, không hiểu chuyện gì đang xảy ra trước mặt. Vân bước lại cầm một que lên xem, nói:
-Chúng mang cành cây này cho ta ăn à?
-Cây này cứng lắm, mà đắng nữa, không ăn được đâu.
H’Uyên cũng ngạc nhiên nói tiếp:
-Chẳng lẽ bọn chúng cũng biết trả ơn chuyện Y Nhớ đánh cá sấu cứu con đầu đàn thoát chết lúc sáng?
Buổi sáng, đang chèo thuyền ngược sông, bỗng nghe tiếng kêu như khóc vọng đến. Khi thuyền đến gần, cả bọn thấy một “dây” khỉ nắm tay nhau từ trên cành cao xuống đến tận mặt sông. Dưới mặt nước, đầu con cá sấu to như cây cột đang ngậm tay một con khỉ cuối cùng của dây khỉ. Lạ là chúng nắm tay nhau, không chịu buông ra. Khi thuyền bơi lại gần, Y Nhớ dùng mái chèo gõ vào một bên mắt cá sấu một cái thật mạnh. Chắc bị đau nó nhả tay con khỉ ra, lặn luôn xuống nước. Nghĩ lại chuyện khi sáng, Y Nhớ bật cười, bước đến cầm một cây lên ngắm nghía cố tìm ra bí mật của mấy cành cây mà khỉ mang đến, nhưng hình như cũng không hiểu được gì.
***
Ông mặt trời sà xuống những ngọn cây phía tây, báo hiệu màn đêm sắp ập xuống. Bầy khỉ trên các ngọn cây không chịu đứng yên, chúng nhảy múa rối rít; con đầu đàn, miệng kêu the thé, hai tay đu lên cành cây, thả hai chân xuống nhún nhảy như bị treo.
-A, đúng rồi, mình biết chúng định cho ta cái gì rồi!
Y Nhớ nhìn lên ngọn cây bật reo lên như vừa bắt được gì đó quý giá lắm, Vân ngạc nhiên hỏi:
-Mấy cái cành cây này thì làm được gì?
Y Nhớ không nói gì, chạy lại cầm cây lao rồi bước nhanh vào rừng. Đàn khỉ trên cây bỗng nhiên lặng ngắt, tất cả cúi đầu nhìn theo Y Nhớ. Vân ngạc nhiên kêu lên:
-Bạn ấy đi đâu ấy nhỉ?
-Chắc Y Nhớ đã nghĩ ra điều gì quan trọng đuổi được cá sấu để về nhà thì phải.
H’Uyên trả lời Vân mà như nói với chính mình. Cả hai đều quay mặt nhìn lên ngọn cây; nắng chiều xuyên qua lá cây, chiếu lên bộ lông trên mình lũ khỉ, tạo nên một vùng sáng bạc óng ánh như có ánh hào quang bao phủ, trông rất đẹp mắt.
-H’Uyên nhìn kìa, sao chúng ngồi im lặng như đi học thế?
-Chắc đang quan sát Y Nhớ làm gì đó trong rừng.
-Sao lông chúng như có ánh hào quang phát ra?
-Tại ta nhìn ngược nắng nên thấy nó vậy thôi, có gì lạ đâu.
-Cũng có thể như thế lắm.
Vân trả lời, mắt nhìn lên ngọn cây. Hình như cả gió giờ đây cũng thôi không thổi nữa, các lá cây đứng im thin thít, không dám cựa quậy. Ngoài sông, con cá sấu vẫn nhô đầu lên khỏi mặt nước giương hai con mắt to bự nhìn lên bờ canh giữ chiếc thuyền và ba cậu học trò vừa học xong lớp tám bị lạc trong rừng Yang đang định lên thuyền trở về.
***
Một lúc sau, Y Nhớ bước ra, trên tay cầm một đoạn dây và một  khúc cây dài độ sải tay, đã đẽo bỏ đi gần một nửa. Vân tròn mắt, kêu lên:
-Y Nhớ định làm thêm cái lao bằng gỗ nữa để đâm cá sấu à?
Y Nhớ lại toét miệng cười, không nói gì. H’Uyên đập tay vào đầu Vân, bảo:
-Ngốc thế, Y Nhớ làm cây cung bắn cá sấu đấy. Lần này thì chắc chắn cá sấu thua rồi.
-Đúng vậy, Vân giúp Y Nhớ chút nào, uốn cong cây này lại để làm cung, dùng để bắn mấy cái cành cây lũ khỉ mang lại lúc nãy ấy.
Vừa buộc dây làm cung, Y Nhớ vừa giải thích thêm với hai bạn:
-Lũ khỉ thông minh thật, chúng kiếm được loại cây cứng như sắt, lại thẳng thế này để đưa cho ta làm mũi tên. Giờ thì con cá sấu kia chỉ có khóc thôi.
Buộc xong dây cung, Y Nhớ ngồi bệt xuống đất với cành cây lũ khỉ mang đến đưa lao lên vót. Những cành cây trong phút chốc được vót nhọn phần đầu, xẻ phần sau buộc thêm mảnh cây mỏng làm đuôi, thế là thành mũi tên. Vân tò mò hỏi:
-Không biết Y Nhớ bắn cung có giỏi không?
-Chốc nữa là biết ngay thôi mà.
H’Uyên trả lời, Y Nhớ cũng vừa làm xong chiếc mũi tên cuối cùng, đưa cây lao cho Vân cầm rồi bỏ bó tên vào gùi; còn mình chỉ cầm một mũi tên lên đưa ngang mắt ngắm, miệng nở nụ cười tỏ vẻ thích thú. H’Uyên khoác gùi lên vai, nói:
-Y Nhớ phải bắn vào một cái gì đó thử xem cây cung có tốt không rồi hãy bắn cá sấu cho chắc.
-Đúng đấy, Y Nhớ trổ tài xem nào.
Vân đứng bên cạnh cũng tỏ vẻ đồng tình, Y Nhớ nhìn quanh tìm kiếm điểm bắn thử cây cung vừa làm xong, trong bụng không giấu được niềm vui: Có thế này mà không nghĩ ra, để con sấu bắt nạt, húc thuyền không cho rời bến. Nếu có cây cung chắc chắn mình đã bắn vào mắt, nó hết dám đuổi theo nữa. Mà cũng lạ, tại sao lũ khỉ biết được loại cành cây có thể làm mũi tên để bắn nhỉ? – Y Nhớ nghĩ mà không dám trao đổi với hai bạn.
-Y Nhớ thấy vết sẹo trên vỏ cây đa kia không?
H’Uyên chỉ vào cây đa mọc bên bờ sông cách chỗ ba người đứng độ ba chục bước chân. Vân gạt đi:
-Gần quá, phải bắn xa xa một chút mới biết được kết quả như thế nào chứ!
-Con cá sấu đuổi theo thuyền, chỉ cách chúng ta có vài sải tay thôi chứ đâu xa xôi gì. Quan trọng nhất là bắn phải chính xác, trúng ngay vào mắt của nó, nó mới sợ.
H’Uyên lên tiếng bảo vệ ý kiến của mình, Y Nhớ đứng nhìn hai bạn tranh luận, cười trừ không biết phải làm thế nào.
***
-H… óc, h… óc, h… óc!
Bầy khỉ ngồi im như hạt gạo trong gùi, bỗng nhiên gào lên rồi nhảy loạn xạ trên các cành cây. Con lớn nhất bầy đu cây xuống gần mặt đất phía cửa rừng, gầm lên:
-H… óc!
-Ơ, lũ khỉ thấy gì trong rừng mà có vẻ hoảng hốt thế?
Ánh nắng mặt trời nhạt dần, bóng cây đổ dài chồng chéo lên nhau. Gió bất chợt từ phía đông lại ào ạt thổi đến, vặn cành cây kêu răng rắc; mùi hôi thối nồng nặc ùa đến. Y Nhớ bỗng kêu lên một tiếng:
-Hổ!
Một con hổ lớn, mặt tròn chắc phải rộng hơn hai gang tay người lớn, trông như mặt con mèo to từ sau gốc cây bước ra. Hình như nó cũng giật mình khi thấy ba con người đang đứng phía trước nên vội co mình lại. Con hổ nhếch mép để lộ bốn chiếc răng nanh nhọn hoắt to như ngón tay cái; chiếc mũi đỏ như mũi mèo hơi chun lại.
Vân mắt không rời con hổ, hai tay nắm chặt cán lao, bước lên trước một bước, sẵn sàng quyết đấu. Y Nhớ hơi khom mình về phía trước, giương cung lên:
-Phật, vút!
-H… ùm!
Sau tiếng dây cung bật, tiếng mũi tên xé gió bay đi, con hổ cũng gầm lên một tiếng vang vọng cả khu rừng, cùng lúc tiếng rừng nhại lại: h… ù… m; rồi lao biến vào rừng. Vân kêu lên:
-Có hơn hai chục bước chân mà bắn cũng không trúng con hổ thì làm sao bắn được mắt cá sấu?
-Y Nhớ bắn cho nó sợ thôi, không muốn làm nó đau đâu?
Nghe H’Uyên trả lời, Vân không nén được ngạc nhiên hỏi lại:
-Tại sao lại sợ nó bị thương?
-Vân không biết thật à, nếu Y Nhớ bắn trúng, con hổ không thể chết ngay mà chỉ bị thương. Lúc ấy nó sẽ nổi điên lên, cây lao trên tay Vân có giết được nó  không?
-Ừ nhỉ!
Vân trả lời mà như tự nói với mình. Y Nhớ không nói gì chỉ cười, một nụ cười rất tươi. H’ Uyên cũng vui vẻ nói thêm:
-Mới có mấy ngày vào rừng mà Vân giỏi lên nhiều quá, không còn sợ cọp gầm nữa rồi. Thế mới là đàn ông chứ.
-Đúng đấy, bất ngờ thấy hổ mà không sợ, dám nhìn thẳng vào mắt nó rồi cầm lao bước lên… chỉ vậy thôi đã đủ làm con hổ run rồi đấy.
Thấy hai bạn khen, Vân đỏ mặt hỏi lại:
-Hai bạn thấy con hổ nhìn chúng mình chằm chằm như thế có sợ không?
-Đi rừng gặp hổ là chuyện thường, còn chạm nhau khi đi ngược đường không phải là chuyện hiếm. Lúc gặp trường hợp đột ngột như thế phải bình tĩnh, quan sát con vật để kịp thời phản ứng. Nếu nó lao thẳng lại phía mình thì tùy theo từng loại thú, khoảng cách gần hay xa mà tránh né, hoặc giao chiến. Trong rừng, các trường hợp gặp bất ngờ, đối diện nhau như vừa rồi chỉ có con thú bị thương mới tấn công người thôi, còn lại chúng đều bỏ chạy hết.
Nghe Y Nhớ giảng giải, Vân vẫn băn khoăn, hỏi thêm:
-Nếu con thú bị thương lao lại tấn công, ta làm thế nào?
-Tùy theo địa thế mình đang đứng xem có gần gốc cây, ụ mối nào không. Nếu gặp heo hay hổ ở xa thì leo lên cây, còn gần quá không kịp thì né, phải chấp nhận giao chiến. Thấy nó lao lại gần, ta lẩn nhanh qua gốc cây, con thú sẽ lao qua đúng chỗ ta vừa đứng; nếu có vũ khí trên tay ta tấn công nó luôn. Đối diện với chúng, phải nhanh nhẹn, tránh bị húc trực diện và lựa thế phản đòn. Trong rừng gặp thú tuyệt đối không bỏ chạy theo đường thẳng vì thú chạy nhanh hơn, ta không thoát được. Thì ra thế, kinh nghiệm của người đi rừng nhiều có khác – Vân tự nhủ rồi nói: -Hổ bỏ chạy rồi, giờ ta ra bắn cá sấu nhé.
-Ơ… cá sấu đâu rồi?
H’Uyên cũng ngạc nhiên kêu lên khi nhìn ra sông. Dòng sông rộng mênh mông, các ngọn sóng đuổi theo nhau chạy mãi về hướng tây, thỉnh thoảng vỗ vào bờ tạo nên tiếng kêu: rào rạt, rào rạt… Y Nhớ nói:
-Có lẽ tiếng gầm của con hổ làm con cá sấu sợ mất vía rồi, ta đẩy thuyền ra sông, về thôi.
Cả ba bước lại bên thuyền bỏ đồ lên rồi cùng nhau đẩy thuyền xuống nước, chuẩn bị xuôi dòng về nhà. Ông mặt trời chui xuống khu rừng từ lúc nào rồi, chỉ còn những đám mây trắng bay nhè nhẹ như vén một tấm màn cho các ngôi sao nhỏ bé xuất hiện, nhấp nháy, nhấp nháy như những con mắt quan sát mọi người. Gió vẫn đuổi theo các con sóng vỗ vào bờ rào rạt, rào rạt.