Thứ Năm, 7 tháng 5, 2020

HUYỀN THOẠI VỀ ĐÀN VOI CỦA VUA BẢO ĐẠI tác giả TRƯƠNG BI - CHƯ YANG SIN SỐ 332 THÁNG 4 NĂM 2020




Trong một chuyến đi điền dã sưu tầm văn hóa dân gian M’Nông, tôi được ông Y Khem Pang Ting, dân tộc M’nông Gar, buôn Jê Juk, xã Dak Phơi, huyện Lăk kể cho nghe huyền thoại về đàn voi của vua Bảo Đại.
Ông Y Khem kể rằng: thuở ấy tôi vừa tròn 25 mùa rẫy, cha tôi có con voi đực to khỏe nhất trong buôn, được vua Bảo Đại chọn mua để đưa vào đàn voi 21 con của mình, nên nhà vua tuyển tôi vào đội quản tượng đàn voi ở Đắk Lắk.
Sau khi thực dân Pháp trở lại xâm lược nước ta lần thứ hai (năm1946), Bảo Đại đã theo chân Pháp về Huế làm vua bù nhìn. Từ khi trở lại làm vua, Bảo Đại chỉ thích ăn chơi và săn bắn thú rừng khắp các vùng rừng núi Tây Nguyên. Riêng ở Đắk Lắk Bảo đại có một đàn voi đực 21 con. Hàng năm, khi mùa mưa  đến là Bảo Đại thường về vùng rừng núi hồ Lak để tổ chức đi săn thú. Mỗi lần đi săn, chúng tôi dẫn đàn voi cùng đi với vua. Đi đầu là 10 voi, đi giữa là vua Bảo Đại ngồi trên lưng con bạch tượng, đi sau là 10 voi, con nào con nấy to khỏe hùng dũng hiên ngang tiến bước dưới những tán cây rừng. Mỗi lần gặp thú rừng, cả đoàn voi cùng một lúc gầm lên vang dội cả núi rừng, làm cho thú rừng như heo, hoẵng, hươu, cheo… chỉ nghe tiếng voi gầm là hốt hoảng lăn ra chết ngất. Chúng tôi chỉ việc nhặt hết con thú này đến con thú khác bỏ vào sọt mang  về. Tối đến tại dinh thự bên hồ Lak, vua sai những người phục vụ nướng chín các con thú săn được, vừa ăn vừa uống rượu cần vừa xem nghệ nhân đánh chiêng, múa hát. Đến khuya thì nghe kể khan Êđê. Vua bảo Đại rất thích nghe khan “Đam San”. Vua từng nói: “Mình thích nghe khan “Đam San” vì mình muốn tài giỏi như Đam San, đánh thắng mọi M’Tao hùng mạnh, và cùng được Đam San đi bắt nữ thần Mặt Trời về làm vợ”.
Mùa mưa năm 1953, do chiến tranh ác liệt, nên không thấy vua Bảo Đại về vùng rừng núi hồ Lak đi săn nữa. lúc này không nhận được tiền nhà vua ban cho để nuôi đàn voi, nên chúng tôi phải thả đàn voi vào rừng để chúng tự kiếm ăn. Trong đó có con bạch tượng rất khôn ngoan, cứ đến tối lại về khu vườn nhà tôi trú ngụ, sáng sớm bạch tượng đi vào rừng kiếm ăn. Bạch tượng vẫn còn mang chiếc khánh bằng vàng ở cổ do bà mẹ của Bảo Đại tặng vì đã cứu bà thoát khỏi sự truy đuổi của đàn hổ khi bạch tượng đưa bà đi từ Buôn Ma Thuột vào hồ Lak để kiểm tra việc làm dinh thự ở nơi này.
Có một lần, tôi làm lễ cúng sức khỏe cho mẹ tôi. Tối đến, tôi mời nghệ nhân kể khan “Đam San”. Tôi không ngờ cả đàn voi (trong đó có con bạch tượng) kéo về đứng ngoài vườn nhà tôi nghe kể khan say sưa. Sáng hôm sau, khi hết kể khan chúng nó mới trở lại rừng. Một hôm, tôi có việc phải đi Kon Tum hơn một tháng trời. Khi tôi trở về thì nghe người nhà nói: “Con bạch tượng có về đây nhiều lần để tìm chủ, nhưng không thấy, nên nó đã đi vào rừng rồi”. Nghe nói vậy tôi rất xúc động và cảm thấy con bạch tượng sống rất tình cảm. Xa đàn voi lâu ngày, tôi càng nhớ chúng, nhất là con bạch tượng, nên sau khi kết thúc mùa rẫy, tôi làm lễ cúng sức khỏe cho cả nhà và mời nghệ nhân về  kể khan “Đam San”. Chiều hôm ấy tôi mang tù và vào rừng thổi gọi đàn voi. Thật là kỳ lạ, đêm hôm ấy, khi pô khan vừa mới kể khan “Đam San” thì cả đàn voi (có con bạch tượng nữa) đã có mặt tại khu vườn của nhà tôi, đầu hướng vào nhà lặng lẽ nghe lời khan say sưa. Trời về khuya, lời khan càng hấp dẫn, tất cả người nghe đều chìm vào không gian huyền ảo của lời khan. Sau một hồi lâu, tôi ra hiệu cho pô khan nghỉ giải lao uống nước, hút thuốc. Tôi cùng vợ con ra vườn chặt mía, chặt cây chuối cho đàn voi ăn và xoa đầu vỗ về từng con như những người bạn chân tình. Con nào cũng mừng, chúng lấy vòi đặt lên ngực, lên vai, lên đầu tôi rất tình cảm. Con bạch tượng thì cứ quấn chặt tay tôi, hít vào má tôi vô cùng thân thiết. Sáng hôm sau cả đàn voi lại đi vào rừng. Lễ cúng sức khỏe của gia đình tôi được tổ chức ba ngày liền, tối nào chúng tôi cũng mời nghệ nhân đến kể khan “Đam San” cho mọi người và đàn voi nghe nhằm tạo không khí vui tươi ấm cúng trong ngày lễ.  Đàn voi thì đêm nào cũng kéo về nghe kể khan say sưa. Thật là kỳ lạ, đêm cuối cùng sau khi nghe kể khan xong rồi, nhưng đàn voi vẫn ở lại chưa chịu về rừng. Hình như chúng biết chỉ còn lần này nữa thôi là sẽ xa chủ, nên cứ nấn ná chưa chịu đi. Tôi hiểu ý đàn voi, nên bảo vợ con ra chặt mía, chặt cây chuối và mang ra những buồng chuối chín cho đàn voi ăn. Rồi tôi vỗ về từng con, tâm sự như những người bạn thân tình: “Các bạn hãy vào rừng sống nhé, lúc nào nhớ chủ thì về thăm ta, ta sẽ cho các bạn ăn no, ăn ngon”. Đàn voi nhìn tôi, con nào cũng chảy nước mắt. Thấy vậy, tôi cũng xúc động, nước mắt tôi tự nhiên chảy dài trên má. Đợi voi ăn xong, tôi đưa tiễn cả đàn voi một đoạn đường dài vào tận bìa rừng rồi mới chia tay chúng. Nhưng cả đàn voi cứ bịn rịn kéo tôi lại. Nhìn con nào nước mắt cũng chảy ướt đầm hai gò má, nên tôi không thể rời xa chúng nó. Tôi nói với đàn voi: “Các bạn ơi! Ta không bao giờ quên các bạn đâu! Các bạn cứ vào rừng sống thật vui vẻ, lúc nào nhớ chủ thì hãy về thăm ta”. Nói xong tôi quay lưng ra về. Cả đàn voi nhìn theo tôi, chúng kêu lên những tiếng dài như chào tạm biệt người chủ mến thương. Tôi nhanh chân bước ra đường cái thì đã thấy con bạch tượng đứng trước mặt. Nó gật đầu như chào tôi, rồi bước đến vắt vòi lên tay, lên ngực và cả mặt tôi. Tôi xoa đầu nó và nói vào tai: “Ta thương bạch tượng nhiều lắm! Ta không bao giờ bỏ rơi bạn đâu. Bạn hãy trở về với các bạn của mình đi, lúc nào nhớ chủ thì về thăm ta. Ta sẽ mời người kể khan “Đam San” cho bạch tượng và các bạn cùng nghe nhiều đêm hơn thế này nữa”. Nghe tôi nói vậy, con bạch tượng càng quấn vòi chặt vào vai tôi một hồi lâu, rồi gật đầu như chào tôi và từ từ đi vào rừng.
Mùa rẫy sau, thật là may mắn cả buôn làng tôi được mùa lúa, bắp, nhà nào cũng thu được gần 100 gùi thóc. Để tạ ơn thần linh đã cho dân làng tôi được mùa bắp lúa, tôi xin phép chủ buôn đứng ra làm lễ cúng tạ ơn thần linh mừng được mùa. Người M’nông chúng tôi gọi là “Lễ tâm nghết”. Lễ hội này được tổ chức trong ba ngày liền. Trước ngày lễ, tôi vào rừng cầm tù và thổi gọi mời đàn voi. Thế là đàn voi (trong đó có bạch tượng) kéo về dự lễ hội. Ban ngày đàn voi tham gia đi chở nước, chở củi, chở rượu, chở khách đến dự lễ. Đêm đến, chúng đứng ngoài vườn quay đầu vào nghe kể khan “Đam San”. Ngày cuối cùng kết thúc lễ hội, chúng nó không muốn vào rừng cứ nấn ná mãi. Thấy vậy, tôi phải mời thầy cúng làm lễ cúng sức khỏe cho đàn voi. Lễ vật cúng sức khỏe cho mỗi chú voi là một ché rượu, một tô xôi nếp, một con gà trống choai, riêng con bạch tượng là một đầu heo thay cho con gà trống. Tối hôm ấy, cúng sức khỏe cho đàn voi xong tôi mời Pô Khan kể khan “Đam San” cho đàn voi nghe. Đàn voi đứng nghe kể khan suốt đêm. Sáng hôm sau vợ chồng tôi nhờ bà con trong buôn chặt chuối, mía, cả những buồng chuối chín vàng mang đến cho đàn voi ăn. Chờ cho cả đàn ăn xong, tôi mới tiễn đàn voi vào rừng. Đến bìa rừng đàn voi cứ vây lấy tôi, chúng dùng vòi đặt lên vai lên trán, lên đầu tôi rất tình cảm. Rồi những dòng nước mắt của chúng chảy ướt đầm vai áo tôi. Tôi cũng chảy nước mắt như đàn voi. Tôi xoa đầu xoa vai ừng con và nói: “Các bạn cứ vào rừng sống vui vẻ. Ta không bao giờ bỏ rơi các bạn đâu, lúc nào nhớ ta thì hãy về thăm. Ta sẽ tiếp đãi các bạn tử tế!”. Đàn voi nghe tôi nói vậy, liền xiết chặt vòi vào người tôi lần nữa rồi gật đầu lê từng bước đi vào rừng. Tôi đứng nhìn theo đàn voi đi khuất mới trở ra đường cái. Tôi vừa ra đến đường thì đã thấy con bạch tượng đứng đợi sẵn. Thấy tôi, bạch tượng liền kêu lên một tiếng dài như gọi tôi. Tôi cảm động chạy lại ôm đầu bạch tượng. Bạch tượng dùng vòi đặt lên vai, lên đầu tôi vô cùng tình cảm. Nước mắt của nó chảy dài hai gò má làm ướt đẫm cả vai áo tôi. Lúc này nước mắt tôi cũng chảy dài trên má. Tôi ôm đầu bạch tượng và nói nhỏ vào tai: “Bạch tượng ơi! Mình quý bạn nhiều lắm! Xa bạch tượng và các bạn mình rất buồn, rất nhớ. Thôi bạch tượng cứ vào rừng sống với các bạn đi. Lúc nào nhớ ta thì về thăm. Ta sẽ cho bạch tượng và các bạn ăn nhiều món ngon và mời người kể khan “Đam San” cho các bạn nghe nhiều đêm”. Lúc này bạch tượng dùng vòi ôm vai tôi thật chặt. Hai dòng nước mắt của nó cứ thế chảy ướt vai áo tôi. Nấn ná một hồi lâu, bạch tượng mới chia tay tôi đi vào rừng. Đi được vài bước bạch tượng lại quay đầu nhìn lại phía sau, với cử chỉ bịn rịn, lưu luyến người chủ của mình.
Sau đó chiến tranh ác liệt, gia đình tôi phải sơ tán vào vùng Krông Knô. Con bạch tượng và cả đàn sợ bom đạn nên lánh vào rừng sâu. Sau này có người đi rừng tình cờ gặp con bạch tượng và đàn voi cùng đi ăn với nhau.
Kể xong ông Y Khem xúc dộng nói: “Trên đây là ký ức của tôi về đàn voi của vua Bảo Đại. Một đàn voi vô cùng kỳ lạ, khôn ngoan, thông minh, tình cảm, thật là hiếm thấy trên núi rừng Tây Nguyên này”.


Thứ Tư, 6 tháng 5, 2020

ĐỪNG VÌ MỘT PHÚT BẤT CẨN MÀ GÂY HỌA CHO NGƯỜI KHÁC tác giả BÙI MINH VŨ - CHƯ YANG SIN SỐ 332 THÁNG 4 NĂM 2020








(Đọc “Giá như...” của Trương Nhất Vương, NXB Giao thông Vận tải, 2019)



Gần mười năm trở lại đây, Trương Nhất Vương, một thầy giáo dạy lái xe, một người viết văn, làm báo nghiệp dư ở Đắk Lắk đã liên tục nhận các giải thưởng: Giải Ba: Cuộc thi văn hóa giao thông và ứng xử của bạn do báo Tiền Phong và Ủy ban An toàn giao thông quốc gia tổ chức năm 2012 cho tác phẩm “Nhanh một chút, chậm một đời”; Giải thưởng báo chí tuyên truyền về an toàn giao thông Quốc gia năm 2012; giải Ba tác phẩm “Căn bệnh thường gặp của lái xe đường dài” – Báo Điện tử Dân trí; Giải Khuyến khích tác phẩm “Khoảng lặng sau tay lái” – báo VOV online; giải Ba Cuộc thi bút ký về đề tài Công an Đắk Lắk bản lĩnh, nhân văn, vì nhân dân phục vụ, cho tác phẩm “Việc gì khó có anh Quyết”.
Những tác phẩm viết về giao thông của Trương Nhất Vương được in, được bạn đọc đón nhận rộng rãi trên các báo Dân Trí, báo VOV, báo VOV News, báo VOV giao thông, báo Vnexpress. Trên cơ sở đó, anh tập hợp tác phẩm và in thành tập sách “Giá như...”
Đây là một tập giao thông ký sự, ghi chép sinh động những câu chuyện, những điều trông thấy, bộc bạch những suy nghĩ hướng người đọc đến những điều bổ ích. Tập sách có 52 bài viết, với nhiều trang ảnh màu bắt mắt, nhằm cụ thể hóa những mong muốn trên hết là lái xe phải an toàn của tác giả. Thoạt nhìn, cuốn sách như những mảnh rời, những sự kiện khô cứng, không chia thành chương, thành phần, nhưng thực chất, là một chỉnh thể thống nhất của một tác phẩm đã được xác định chủ đề, được viết dưới góc nhìn của một lái xe chuyên nghiệp, một thầy giáo dạy lái, một người đi đường, một nhà báo nghiệp dư, một nhà văn. Nhiều câu chuyện kể từ những điều mắt thấy tai nghe, những giây phút trải nghiệm lái xe trên đường, được rút ra, đúc kết thành những nguyên nhân cốt lõi gây ra tai nạn giao thông, tỉ như lấn làn, lấn đường, phóng nhanh, vượt ẩu, thiếu quan sát, thiếu tập trung, bất cẩn, coi thường tính mạng người khác, chủ quan, nghe điện thoại... Với giọng văn thiên về ký sự báo chí, dễ hiểu, gần với đời sống hàng ngày, pha trộn những cảm xúc nhân văn, khiến độc giả dễ dàng tiếp nhận nhiều thông điệp có giá trị do tác giả gợi ra. 52 bài viết như 52 bài học cho những, có phương tiện tham gia giao thông, ít nhất là tránh được tai nạn cho chính mình. Đó chính là điều thiết thực, bổ ích với bất cứ ai đọc cuốn sách này.
Qua tác phẩm “Giá như...”, người đọc có thể nhận thấy Trương Nhất Vương là người quan tâm đến một lĩnh vực “cực nóng” hiện nay: Tai nạn giao thông ngày càng không giảm, vì thế tập sách như là một bản tường trình về an toàn giao thông, hay nói cách khác, đó là những đề đạt tâm huyết gửi đến những ai tham gia giao thông và những nhà quản lý liên quan. Tác phẩm này đã bộc lộ khả năng lắng nghe, quan sát chi tiết, tường tận và phân tích các vụ việc tai nạn trên đường một cách chân thực, xúc động tại Bình Thuận, Khánh Hòa, Quảng Nam, Đắk Lắk, Gia Lai của Trương Nhất Vương với giọng điệu khó trộn lẫn, có cá tính riêng, không cầu kỳ, lên giọng, mà sinh động, có duyên.
Trương Nhất Vương bộc bạch: “Tôi yêu nghề lái xe, yêu những cung đường nên luôn luôn trăn trở: làm sao bớt đi tai nạn giao thông, làm sao bớt đi những sách nhiễu dọc đường để người lái xe đỡ căng thẳng, mỗi chuyến đi về an toàn là đem lại niềm vui, niềm hạnh phúc cho chính mình và cho mọi người... Tôi mong muốn mỗi người khi ngồi sau tay lái phải thật cẩn thận, đừng để phải nói hai tiếng “giá như” hối tiếc.”
Tập sách “Giá như...” là những lời cảnh báo, nhắc nhở khi chúng ta ra đường. Những câu chuyện dễ hiểu, những câu chuyện có thực thường dễ gây xúc động, những giải bày, tâm sự, trăn trở thường đi vào lòng người. Khép lại 160 trang sách, sự đồng cảm với tác giả là điều hiển nhiên khi tham gia giao thông, vì chính tác giả “muốn viết để nhân lên những khát khao thiện lành và sự bình an, nhân văn trong cuộc sống.”

Thứ Hai, 4 tháng 5, 2020

VẤN ĐỀ ĐỌC- HIỂU BÀI THƠ VỘI VÀNG CỦA XUÂN DIỆU tác giả PHẠM QUỐC CA - CHƯ YANG SIN số 332 tháng 4 năm 2020




Vội vàng là một trong những bài thơ tiêu biểu của Xuân Diệu trước Cách mạng tháng Tám. Chúng tôi cho rằng việc chọn dạy và học bài thơ này là đúng đắn và tán đồng với PGS.TS Nguyễn Xuân Lạc: “Vội vàng” là bài thơ duy nhất của Xuân Diệu được học ở chương trình Ngữ văn 11. Sách giáo khoa chọn bài thơ này vừa tiêu biểu cho sự bùng nổ mãnh liệt của “cái tôi” trong Thơ mới nói chung, lại in dấu khá đậm hồn thơ Xuân Diệu (“tha thiết, rạo rực, băn khoăn”- Hoài Thanh) và cũng rất tiêu biểu cho sự cách tân táo bạo, độc đáo trong nghệ thuật thơ ông” [2; tr.32-33]. Nhưng đọc bài hướng dẫn dạy và học tác phẩm Vội vàng [2; tr.32-40] chúng tôi thấy có nhiều điều cần phải được trao đổi.
1. Trước hết, xin góp ý về văn bản bài thơ
Văn bản bài thơ đưa vào sách giáo khoa thí điểm Ngữ văn lớp 11, Ban Khoa học xã hội và nhân văn, bộ 2 như sau:

VỘI VÀNG

Tôi muốn tắt nắng đi
Cho màu đừng nhạt mất;
Tôi muốn buộc gió lại
Cho hương đừng bay đi.

Của ong bướm này đây tuần tháng mật;
Này đây hoa của đồng nội xanh rì;
Này nay lá của cành tơ phơ phất;
Của yến anh này đây khúc tình si
Và này đây ánh sáng chớp hàng mi.
Mỗi buổi sớm, thần Vui hằng gõ cửa;
Tháng giêng ngon như một cặp môi gần;
Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa;
Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân.

Xuân đương tới, nghĩa là xuân đương qua,
Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già,
Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất.
Lòng tôi rộng, nhưng lượng trời cứ chật,
Không cho dài thời trẻ của nhân gian,
Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn,
Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại!
Còn trời đất nhưng chẳng còn tôi mãi,
Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời;
Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi,
Khắp sông núi vẫn than thầm tiễn biệt…
Cơn gió xinh thì thào trong lá biếc
Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi?
Chim rộn ràng bỗng đứt tiếng reo thi,
Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa?
Chẳng bao giờ, ôi! Chẳng bao giờ nữa…
Mau đi thôi! Mùa chưa ngả chiều hôm,
Ta muốn ôm
Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn;
Ta muốn riết mây đưa và gió lượn,
Ta muốn say cánh bướm với tình yêu,
Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều
Và non nước, và cây, và cỏ rạng
Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng,
Cho no nê thanh sắc của thời tươi;
- Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!
                                      (Theo Thơ thơ, Nxb Đời nay, Hà Nội, 1938) 
Có mấy điều chúng tôi thấy cần góp ý là:
- Nếu theo bản in của Nxb Đời nay, 1938 thì phải giữ lại lời đề tặng: Tặng Vũ Đình Liên ngay sau tên bài thơ Vội vàng, không được tự ý bỏ.
- Nguyên văn câu thơ của Xuân Diệu là: Con gió xinh thì thào trong lá biếc chứ không phải  Cơn gió xinh thì thào trong lá biếc như ở văn bản này.
Để đảm bảo tính khoa học, người biên soạn không được tự ý bỏ đi hay thay đổi một chữ nào so với văn bản gốc của tác giả.
2. Vấn đề đọc hiểu bài thơ “Vội vàng”
Lý thuyết tiếp nhận ra đời và phát triển từ nửa sau thế kỷ XX là một bước tiến quan trọng của lý luận văn học hiện đại. Theo đó, phải thừa nhận rằng một tác phẩm văn học có nhiều cách hiểu khác nhau do yếu tố chủ quan của người đọc. Công thức hoá thì đó là: tác phẩm văn học = văn bản + người đọc. Nhưng như thế không có nghĩa là muốn hiểu tác phẩm thế nào cũng được, mà phải bám sát vào văn bản để đưa ra cách cảm nhận có lý nhất.
Theo chúng tôi, bài Vội vàng có thể xem là một triết luận bằng thơ của Xuân Diệu về lối sống vội vàng. Đó là một quan niệm nhân sinh có nguốn gốc từ các nhà Nho tài tử trong văn chương trung đại phương Đông, từ Lý Bạch (đời Đường,Trung Quốc) đến các nhà thơ Việt Nam như Nguyễn Công Trứ, Tản Đà… Ý thức về thời gian đời người như bóng câu qua cửa sổ, phải đốt đuốc chơi đêm, tranh thủ hưởng lạc cũng đã trở thành ý thức dân gian và không phải không có phần minh triết ở đó. Với ảnh hưởng của văn hoá phương Tây, bài thơ Vội vàng của Xuân Diệu không dừng lại ở triết lý hành lạc mà mang ý nghĩa tích cực của con người cá nhân thời đại Thơ mới (1932-1945). Để thuyết phục người đọc, Xuân Diệu đã trình bày bài thơ theo kiểu tam đoạn luận. Chúng tôi đọc hiểu bài thơ như sau:
Đoạn 1 (Từ đầu đến Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân): Cuộc sống là một vườn địa đàng đầy hạnh phúc khi đang độ xuân thì và khi người ta trẻ. Con người cảm nhận sự sống tươi non mà như cảm nhận hạnh phúc ái tình (Tháng giêng ngon như một cặp môi gần).
Đọan 2 (Xuân đang tới đến …chẳng bao giờ nữa):Tiếc thay, xuân thì của thiên nhiên và tuổi trẻ của con người không dài. Thời gian trôi chảy âm thầm mà khắc nghiệt theo quy luật vận động: Xuân đang tới nghĩa là xuân đang qua và cùng với nó là sự phôi pha của tuổi trẻ, của kiếp người.
Đoạn 3 (phần còn lại của bài thơ): Chính vì sự sống vận động theo quy luật phai tàn, sinh tử: “Còn trời đất, nhưng chẳng còn tôi mãi” nên phải sống vội vàng, sống mãnh liệt: “Thà một phút huy hoàng rồi chợt tối/ Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm”, “Sống toàn tâm, toàn trí, sống toàn hồn/Sống toàn thân và thức nhọn giác quan”. Sống là hưởng thụ hạnh phúc trần thế một cách đủ đầy: “Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!”
Triết luận bằng thơ về lối sống vội vàng như thế là hết sức thuyết phục, có ý nghĩa phổ quát nhân loại và không hạn chế trong một thời đại nào. Đó là triết luận về sự trôi chảy của thời gian tuyến tính, thời gian đời người một đi không trở lại và tuyên ngôn về lối sống tích cực chống lại sự hữu hạn của kiếp người- một vấn đề hiện sinh buốt nhói của nhân loại.
3. Những điều cần trao đổi
3.1. Về cảm nhận chung đối với bài thơ Vội vàng
Để giúp học sinh trả lời câu hỏi 1 trong phần đọc hiểu của sách giáo khoa [1; tr.46], trong Sách giáo viên, người biên soạn định hướng: bài thơ thể hiện “diễn biến tâm trạng của thi nhân qua ba giai đoạn: từ chỗ yêu cuộc sống say mê, tha thiết (đoạn 1) đến nỗi băn khoăn trước cuộc đời (đoạn 2) để rồi sau đó tình yêu cuộc sống lại bùng lên cuồng nhiệt, hối hả (đoạn 3) [2; tr.35]. Đây là một nhầm lẫn quan trọng dẫn đến sự lạc hướng và những sai lầm trong đọc hiểu bài thơ. Như chúng tôi đã phân tích, bài thơ trình bày một triết luận bằng thơ về lẽ sống vội vàng theo kiểu tam đoạn luận chứ không phải thể hiện diễn biến tâm trạng của thi nhân qua ba đoạn thơ như người biên soạn đã cảm nhận.
3.2. Về đọc hiểu đoạn 1 của bài thơ “Vội vàng”
Đoạn 1 của bài thơ được người biên soạn hiểu là nói lên Tình yêu cuộc sống của Xuân Diệu [2; tr.35]. Ông viết: “Yêu cầu cần đạt (đối với học sinh- P.Q.C) là thấy được nét riêng trong tình yêu cuộc sống của Xuân Diệu: yêu cuộc sống nào?. Đó là cuộc sống trần thế xung quanh nhà thơ: Những ong bướm, hoa lá, yến anh; những ánh sáng chớp hàng mi và “Tháng giêng ngon như một cặp môi gần”… Xuân Diệu đã yêu cuộc sống đó bằng một tình yêu thiết tha, say đắm và thể hiện nó trong những ý tưởng táo bạo (4 câu đầu), những bức tranh thiên nhiên và đời sống con người (9 câu tiếp) qua những cách tân nghệ thuật của Thơ mới.”… “Bức tranh thiên nhiên được nhà thơ gợi lên vừa gần gũi thân quen, vừa mượt mà, đầy sức sống. Những ong bướm, hoa lá, chim chóc của đời thường bỗng như sống dậy, ngây ngất si mê dưới ngòi bút của Xuân Diệu [2; tr.35-36]”. Cần khẳng định ngay rằng: ở đây có sự đọc nhầm. Không có những bức tranh thiên nhiên và cuộc sống con người như người biên soạn nói mà chỉ có những thi tiết mang ý (ý cảnh) phục vụ cho lập luận của nhà thơ. Hãy lưu ý điệp từ Này đây có tính chất liệt kê xuất hiện liên tiếp trong 5 câu, kết hợp với các sự vật, hiện tượng xuất hiện cặp đôi trong tương quan tình ái: tuần trăng mật của ong bướm, hoa của đồng nội, lá của cành tơ, khúc tình si của yến anh, bình minh của mỗi buổi sáng. Tất cả chỉ để nói lên quan niệm của nhà thơ: cuộc sống đang độ xuân thì tràn ngập hạnh phúc (như chúng tôi đã phân tích) chứ không nhằm tạo nên những bức tranh thiên nhiên và nói lên tình yêu cuộc sống của Xuân Diệu như người biên soạn đã cảm nhận. (Nếu nói lên tình yêu cuộc sống của Xuân Diệu thì  phải tìm ở đoạn cuối bài thơ). Nhầm lẫn ý cảnh thành bức tranh thiên nhiên còn xuất hiện một lần nữa ở đoạn sau khi người biên soạn cho rằng: “Nhà thơ còn dựng lên bức tranh thiên nhiên để nói nỗi lòng mình… (ở đây là gió “hờn vì nỗi phải bay đi” và chim “sợ độ phai tàn sắp sửa“) [2; tr.37]. Đoạn này Xuân Diệu cũng chỉ dùng các ý cảnh để diễn đạt cảm nhận: cuộc sống đang biến chuyển từng giây theo quy luật phai tàn, không phải là bức tranh thiên nhiên.
3.3. Về việc đọc hiểu đoạn 2 của bài thơ
Đoạn 2 của bài thơ (từ Xuân đương tới đến …chẳng bao giờ nữa) là đoạn thơ triết luận của Xuân Diệu về sự vận động của thời gian: “Xuân đương tới, nghĩa là xuân đương qua”. Cùng với nó là sự phôi pha của xuân thì, của kiếp người: “Mà xuân hết nghĩa là tôi cũng mất”. Người biên soạn đã đọc nhầm thành nỗi “băn khoăn của Xuân Diệu trước cuộc đời thực lúc bấy giờ” [2; tr.34]. Người biên soạn viết: “Xuân Diệu là một thi nhân rất yêu đời, ông đã mở lòng ra để đón cuộc sống mà ông yêu tha thiết, rạo rực. Nhưng cuộc đời lúc bấy giờ (cuộc sống mòn mỏi, tù túng của một thi nhân mất nước trước 1945) lại không bù đắp được cho ông (Lòng tôi rộng nhưng lượng trời cứ chật), từ đó mà có nỗi băn khoăn trước cuộc đời”[2; tr. 35]. Người biên soạn đã đọc sai văn bản. Ông đã xén riêng ra dòng thơ “Lòng tôi rộng nhưng lượng trời cứ chật”để phân tích. Dòng thơ này phải gắn kết với dòng sau đó thì mới trọn vẹn ý một câu thơ:
Lòng tôi rộng nhưng lượng trời cứ chật
Không cho dài thời trẻ của nhân gian.
Lượng trời cứ chật ở chỗ không cho dài thời trẻ của nhân gian chứ không phải là ở chỗ “cuộc đời thực lúc bấy giờ không bù đắp được cho ông, vì thế mà băn khoăn buồn chán cho thân phận mình” [2; tr.35]. Vì hiểu sai văn bản, người biên soạn đã hạ thấp giá trị triết lý phổ quát mang tầm nhân loại của bài thơ xuống tầm xã hội học dung tục.
3.4. Về việc đọc hiểu đoạn 3 của bài thơ
Như chúng tôi đã phân tích, ở phần còn lại của bài thơ, Xuân Diệu đã tuyên ngôn và hình tượng hoá lối sống vội vàng. Cách hiểu của người biên soạn tỏ ra không ăn nhập gì với đoạn thơ này khi ông xác định: đó là “Tình yêu cuộc sống lại bùng lên cuồng nhiệt (đoạn 3)” [2; tr.35].  Người biên soạn diễn giải rằng: “Chính nỗi băn khoăn đó (băn khoăn trước cuộc đời thực- P.Q.C) lại làm bùng lên sự cuồng nhiệt, hối hả đến với cuộc sống khi ông sợ rằng cuộc sống ấy cũng sẽ không còn nữa (Mau lên thôi! Mùa chưa ngả chiều hôm).[2; tr.35]. Thật khó tiếp nhận lập luận luẩn quẩn này.
Với tính chất là một tài liệu hướng dẫn giảng dạy cho giáo viên và học tập cho học sinh lớp 11 cả nước, những cái sai sẽ được nhân lên và truyền từ thế hệ này đến thế hệ khác. Đó là lý do tôi thẳng thắn trình bày những băn khoăn của mình và chân thành mong được trao đổi lại.                                                                                                    




Tài liệu trích dẫn:
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Ngữ văn 11, tập 2, Giáo khoa thí điểm, bộ 2, Ban Khoa học xã hội và nhân văn, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2004.
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Ngữ văn 11, tập 2, Giáo khoa thí điểm, bộ 2, Ban Khoa học xã hội và nhân văn, Sách giáo viên, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2004.

Thứ Bảy, 2 tháng 5, 2020

NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NHÂN VẬT TRONG “CHỮ NGƯỜI TỬ TÙ” CỦA NGUYỄN TUÂN tác giả NGUYỄN VĂN THIỆN - CHƯ YANG SIN số 332 tháng 4 năm 2020

 


(NGỮ VĂN 11, TẬP 1)


Nhân vật là yếu tố được coi không thể thiếu trong quá trình thiết kế một tác phẩm tự sự, đặc biệt là truyện ngắn. Nói không ngoa, thành công của một truyện ngắn gắn liền với thành công xây dựng nhân vật. Thậm chí, rất nhiều trường hợp, bạn đọc chỉ nhớ tên nhân vật, không còn nhớ tên tác phẩm lẫn tác giả. Nhân vật có từ trong trang sách bước ra ngoài đời, sống giữa cõi nhân gian hay không, điều này phụ thuộc vào tài năng của nhà văn.
Nguyễn Tuân là nhà văn lớn, được bạn đọc nhắc nhiều bởi phong cách tài hoa uyên bác. Tập truyện ngắn “Vang bóng một thời” (1940) đã làm nên tên tuổi của ông khá sớm. Trong đó, tác phẩm Chữ người tử tù với nhân vật Huấn Cao đã đóng một dấu mốc quan trọng trong hành trình đi tìm cái đẹp của người nghệ sĩ tài hoa này. Nguyên mẫu để xây dựng nhân vật là Cao Bá Quát, một nhà nho với tài năng xuất chúng và cốt cách hiên ngang “Nhất sinh đê thủ bái mai hoa”. Khi đi vào tác phẩm, dĩ nhiên, Huấn Cao được chú trọng tô đậm những nét vẽ điển hình.
Trước khi Huấn Cao xuất hiện, bạn đọc đã phần nào hình dung được diện mạo của nhân vật qua những lời trầm trồ thán phục của viên Quản ngục với thầy thơ lại:
“Dạ bẩm, thế ra y văn võ đều có tài cả. Chà chà!”.
“Tôi thấy những người có tài thế mà đi làm giặc thì đáng buồn lắm. Dạ bẩm, giả thử tôi là đao phủ, phải chém những người như vậy, tôi nghĩ mà thấy tiêng tiếc”.
Nghệ thuật “vẽ mây nẩy trăng” được Nguyễn Tuân sử dụng khá tự nhiên, dẫn dắt người đọc đi vào câu chuyện một cách thoải mái.
Trong suốt tác phẩm, nhân vật Huấn Cao được đặt cạnh nhân vật Quản ngục, một người ở vị trí đối lập về địa vị xã hội nhưng đồng thời lại là một con chiên, một tín đồ trung thành với cái đẹp. Trong con mắt “biệt nhỡn liên tài” của Quản ngục, Huấn Cao không hề là một tội đồ cần phải trừng trị hay thu phục, mà là hiện thân của vẻ đẹp tài hoa, của dũng khí, của thiên lương trong sáng. Hành động của Quản ngục từ đầu đến cuối là khúm núm, rụt rè, run run, bái lạy… Và như vậy, hình tượng Huấn Cao được tôn lên, khinh bạc và lộng lẫy, cao hơn hẳn thế tục, vượt ra khỏi chốn giam cầm tối tăm bẩn thỉu. Cho đến dòng cuối cùng của tác phẩm, thì bạn đọc đã nhận rằng, cái đẹp, cái cao cả luôn luôn làm chủ, dẫn dắt con người đi tới: Ngục quan cảm động, vái người tù một vái, chắp tay nói một câu mà dòng nước mắt rỉ vào kẽ miệng làm cho nghẹn ngào: "Kẻ mê muội này xin bái lĩnh".
Quản ngục không phải là tên riêng nhân vật, đó là tên gọi một chức danh, một nghề nghiệp. Đó là một công việc không mấy thiện cảm, trong xã hội suy đồi thường được mặc định là hiện thân của cường quyền hung bạo. Và nếu không có sự xuất hiện của Huấn Cao, thì Quản ngục suốt đời là quản ngục, như bao nhiều kẻ “nách thước tay dao khác” trong xã hội phong kiến. Huấn Cao xuất hiện để Quản ngục chiêm ngưỡng, đồng thời, cũng nhờ sự soi sáng từ người tử tù sắp sửa nhận án chém mà Quản ngục hiện ra những phẩm chất rất “người” vốn bị che lấp sau bộ trang phục công quyền nghiêm cẩn mỗi ngày. Hóa ra, Quản ngục là kẻ biết người biết ta, biết đá biết vàng bị số phận chơi khăm. “Trong hoàn cảnh đề lao, người ta sống bằng tàn nhẫn, bằng lừa lọc; tính cách dịu dàng và lòng biết giá người, biết trọng người ngay của viên quan coi ngục này là một thanh âm trong trẻo chen vào giữa một bản đàn mà nhạc luật đều hỗn loạn xô bồ. Ông Trời nhiều khi hay chơi ác đem đầy ải những cái thuần khiết vào giữa một đống cặn bã. Và những người có tâm điền tốt và thẳng thắn, lại phải ăn đời ở kiếp với lũ quay quắt”.
Hóa ra, viên quan coi ngục cũng là một con người có sở nguyện cao quý. Ông sẵn sàng liều mạng biệt đãi tử tù Huấn Cao chỉ vì khát khao cháy bỏng có được chữ đẹp để chiêm ngưỡng.
Để ý, với cả hai nhân vật, Nguyễn Tuân không bỏ công miêu tả ngoại hình, cũng không nhiều đối thoại. Nhân vật này là ngọn đèn soi chiếu vào nhân vật kia, để cả hai cũng bộc lộ hết vẻ đẹp bên trong. Với thủ pháp này, dung lượng của truyện ngắn được giảm xuống, nén lại trong một vài trang viết, nhưng hình tượng nhân vật lại có chiều kích mênh mông.
Không hề nói quá, “Chữ người tử tù” là tác phẩm thể hiện đầy đủ nhất cá tính, bút lực của Nguyễn Tuân. Không chỉ độc đáo ở bút pháp xây dựng nhân vật, truyện ngắn cũng là một ví dụ tham khảo cho người cầm bút đi sau về cách lựa chọn ngôn ngữ: cổ kính nhưng lại rất hiện đại, lạnh lùng nhưng cũng rất điệu đàng! Đó chính là phong cách của Nguyễn Tuân.
Sau cùng, có thể nói thêm, để có được một tác phẩm “gần đạt đến sự hoàn thiện, hoàn mỹ” (Vũ Ngọc Phan), thì ngoài những thủ pháp nghệ thuật như đã nói ở trên, vấn đề cốt tử, phải chăng, là quan niệm của nhà văn về cuộc đời? Cái hành trình xê dịch của Nguyễn Tuân để đi khám phá vẻ đẹp của con người cũng chính là hành trình của nhân loại, đi từ dã man đến văn minh, bỏ lại sau lưng nhưng dấu vết tàn dư của cái xấu, cái ác để làm Con Người đúng nghĩa.