Thứ Sáu, 5 tháng 6, 2020

THÀNH PHỐ TUỔI THƠ TÔI tác giả LÊ VĨNH TÀI - CHƯ YANG SIN SỐ 333 THÁNG 5 NĂM 2020

Ngã Sáu Buôn Ma Thuột


Chuyên mục Đất và Người Đắk Lắk



1.
Tôi sinh ra ở Ban Mê Thuột, thức hay ngủ gì thì sông suối cũng rì rào ngay bên mình. Quê tôi miên man núi và rừng, xanh um một màu lá, chói chang một trời nắng bụi, lầy lội những trận mưa vào mùa. Từ thị xã đến làng quê, nhà cửa cũng theo thời gian mà ngả màu cùng đất đỏ, con người cũng phai màu trong đất đỏ, tử sinh cùng một màu đất đỏ. Màu đỏ của vùng đất như cái bánh sô-cô-la tuổi thơ, ngọt ngào cả một kiếp người.
Thị xã Ban Mê Thuột hình thành dọc theo con suối Tam. Phố núi trong tôi chính là những con suối của tuổi thơ. Khoan hãy nói về những tên người tên đất, ngay tên của những con suối thôi mà cũng đã nhầm lẫn những phận người. Nước suối trôi đi, nhưng những kỷ niệm với con suối thì đọng lại trong tuổi thơ nghèo khó. Ban Mê Thuột có bao nhiêu con suối, mà một thời tiểu học Nguyễn Công Trứ bao nhiêu thế hệ học trò đều nhúng chân xuống hoặc lội qua bắt cá lòng-tong.
Bài viết này xin bắt đầu bằng một con suối tại Ban Mê Thuột, mà thế hệ chúng tôi đã vô tình gọi sai tên là suối “BU-RI”, thay vì “MAURY” (tạm đọc là MU-RI), cái tên gọi mà sau này tôi mới biết nó đã có từ thập niên 1930.
Buri hay Maury?
Bắt đầu từ một con suối, như là một dẫn chứng về những nhầm lẫn khi lớp hậu sinh chúng tôi lớn lên và gọi tên cho vùng đất này. Cách gọi sai này đã góp phần làm biến mất một phần lịch sử của vùng đất. Không dám nhắc nhớ, chỉ là cái tên của một con suối nhỏ trong lòng thị xã Ban Mê Thuột, nay “xin gọi đúng tên người”. Vì bà Hồ Thị Thơm, vợ ông Maury, là chị gái của bà Ba-Lô (mẹ của nhạc sĩ Phan Ni Tấn), lại ở ngay trên đường Tôn Thất Thuyết, gần sát nhà tôi. (Một người em gái khác của bà, là bà chủ của quán cà phê Bâng Khuâng, giờ vẫn còn trên đường Phan Bội Châu.)
Bà Hồ Thị Thơm là ai?
Giống như Thác Nhà Đèn, suối bà Hoàng, suối Xanh… suối Mu-ri cũng có chỗ sâu ngập đầu. Những đoạn uốn lượn quanh hồ Piscine và đền ông Cảo trước khi chảy ra cầu Trắng, mùa mưa nước dâng cao, chảy xiết, ngầu đục. Nhưng dù mưa hay nắng, con suối này vẫn ít khi vắng mặt lũ trẻ chúng tôi. Khi tôi học tiểu học, khu vực này chỉ toàn người Tàu. Con suối Maury ngang qua đây đổi tên thành suối Tàu, những người Tàu-Nùng nấu rượu thơm lừng cả con suối và trồng bắp cải cung cấp cho cả thị xã, mà sau này tôi gặp lại trong thơ “cái người Tàu kỳ lạ / ngồi dầm bắp cải giữa đêm khuya…”
Vì sao Maury?
Ban Mê Thuột thành “đại lý” (thuộc Phú Yên 1904, được vẽ bản đồ 1905), nhưng đến năm 1923 tỉnh Daklak (người Pháp gọi là Darlac) mới được thành lập. Viên Công sứ đầu tiên của tỉnh là Sabatier. Ngay sau khi nhậm chức, viên Công sứ này đã có ý đồ “làm vua một cõi” nên cấm không cho người Kinh lên lập nghiệp, mặt khác ngăn các nhà tư bản Pháp lên lập đồn điền. Cho đến năm 1930, sau khi thuyên chuyển viên công sứ Sabatier đi nơi khác, các nhà tư bản Pháp mới lên Ban Mê Thuột khai thác đồn điền cà phê và trồng cây cao su. Thời kỳ này, người Kinh muốn lên lập nghiệp đều gặp nhiều khó khăn, trừ những ai đi lính như ba tôi.
Ngày nay, Nông trường cà phê Thắng Lợi đường đi Phước An, đồn điền cà phê bạt ngàn dọc hai bên đường, xưa là của ông Roger, sau này bán lại cho ông bà chủ tiệm sách Tia Sáng (giờ người cháu là anh Chánh, vẫn còn giữ được cái tên, tiệm “tạp hóa Tia Sáng” nhỏ bé 4m mặt tiền lặng lẽ trên đường Lê Hồng Phong). Còn ông Nicolas lại khai thác đồn điền gần suối ông Phán Lạc (tức tỉnh trưởng người Thượng tên là Y Say thuở đó) nay gần hồ Piscine dưới khu Trần Hưng Đạo. Cái đền Trần ở Buôn Hồ thành di tích mà đền Trần ở đây chỉ được những người dân (cả người Việt và người Tàu) gọi theo tên một người đàn ông (ông Cảo), lặng lẽ vô danh.
Riêng ông Jean Maury, sau khi khẩn hoang ở Buôn Tur, thì về ở đầu dốc cổng số 1 (khu Thăng Long bây giờ), ông cho cất một dinh thự bề thế (kiểu nhà sàn bằng gỗ, hai đầu nhà đều có cầu thang đi lên). Ông kinh doanh nhà hàng, mở phòng ngủ, phát triển đồn điền cà phê và trại chăn nuôi gia súc. Các cơ sở này đều mang cùng một tên Maury. Trong vùng đất ông Maury khai phá, phía dưới thung lũng chính là con suối Tàu đang vùng vẫy để ra cầu Trắng, những người Thượng làm công cho ông đã lấy tên ông đặt tên cho con suối, tức là suối Maury ngày nay mà chúng tôi đang gọi nhầm là suối Buri.
Năm 1936, ông Hồ Tống Hàm từ Huế lên Ban Mê Thuột làm bồi bếp cho nhà hàng Maury. Sau đó ông trở về Huế chịu tang ông anh Hồ Tống Huy, quan thất phẩm dưới triều vua Bảo Đại, bị bệnh qua đời. Lúc trở lại Ban Mê Thuột ông dẫn theo cháu gái Hồ Thị Thơm lên làm ăn sinh sống, sau này giới thiệu người cháu cho ông Maury. Năm 1940 họ trở thành vợ chồng sanh được 3 trai, 1 gái. Từ năm 1955, ba người con trai lần lượt sang Pháp ăn học và sinh sống bên đó cho tới ngày nay.
Năm 1945, thời thế thay đổi, ông Jean Maury trở về cố quốc, nhưng vẫn đi về giữa hai nước. Năm 59 – 60, ông bỏ đồn điền ở Buôn Tur vì tình tình an ninh. Sau Noel 1959 ông Maury bị tai biến, ngồi xe lăn trở về Pháp cho tới ngày ông qua đời. Tất cả sản nghiệp của ông đều giao lại cho ông Hồ Tống Hàm nhưng ông này từ chối vì bận khai thác nhà thầu thực phẩm ở Pleiku nên ông bà Võ Ngọc Huấn tiếp nhận. Ông bà Huấn cũng chính là người chủ lô đất tại vị trí khách sạn Sài Gòn – Ban Mê bây giờ. Trước 1975, ông bà Huấn đã bán một nửa cho tiệm vàng Thái Long xây khách sạn Anh Đào, còn một nửa vẫn là biệt thự của ông bà. Cái biệt thự kiểu Pháp có hai cầu thang hai bên dắt lên một cái sảnh, rồi mới vào trong nhà. Nó đã biến mất khi Khách Sạn Thắng Lợi (tên sau này của khách sạn Anh Đào) dời về Km5, nhường chỗ cho khách sạn bốn sao Sài Gòn – Ban Mê. Cái biệt thự mà hình như một thời giới kiến trúc sư Daklak tìm lại và tiếc nuối vì vẻ đẹp của nó. (Cái thứ hai song sinh với nó nằm sau Nhà thờ Quân Đội, khuôn viên Tỉnh ủy bây giờ, cũng đã mất.)
Ngày 01-09-1965, ông Jean Maury qua đời tại nguyên quán Talant, gần Dijon, nước Pháp. Ông Jean Maury tuy qua đời đã gần 55 năm nay, nhưng suối Maury muôn đời vẫn còn đó, vẫn âm thầm chảy qua thị xã và chảy mãi trong lòng những ai từng sống chết một thời với thị xã mang biệt danh: Bụi Mù Trời, Buồn Muôn Thuở. Không phải vô cớ mà giữa lòng thị xã phố núi lại có một con suối mang tên một người Pháp.
Vợ ông, bà Hồ Thị Thơm sau năm 1975 từ Sài Gòn về lại Ban Mê Thuột, ở nhà người em gái là bà Ba-Lô, và mất năm 1981 tại Ban Mê Thuột. Cũng năm đó, bà Huấn qua đời. Năm sau gia đình ông Huấn được con cái ông Delors (người hùn vốn khai thác đồn điền với ông Maury) bảo lãnh sang Pháp. Vườn cà phê chung quanh đã thành Trung Học Hưng Đức (trường Ngô Quyền bây giờ) và Nhà Thờ Quân Đội (Tỉnh ủy bây giờ) và khu dân cư.
2.   
Bà Hồ Thị Thơm vợ ông Maury (tên một con suối) thì tôi nhắc nhớ đã đành, còn em gái của bà là bà Ba-Lô, thì có liên quan gì? Đó là vì ông Ba-Lô, chồng bà, chính là một trong những người Thợ Săn Vô Danh Của Vua Bảo Đại.
Bạn hay nghe những giai thoại về ông Vua lên Daklak săn bắn mà quên rằng, ông Vua chỉ cưỡi voi (hay xe) trong đoàn giải trí, bắn hạ con thú còn là việc của những người thợ săn. Ngày đó Ban Mê Thuột là những cánh rừng, ban ngày hươu nai chạy ngờ ngờ, nhất là công rừng đậu từng bầy trên cây. Mãi sau này khi Ban Mê Thuột đã có sân bay, Công rừng còn bay rợp trời nên người ta mới gọi sân bay Ban Mê Thuột là Phi trường Phụng Dực (nơi những con chim Công bay lên).
Mùa hè là mùa săn bắn. Thợ săn ở Ban Mê Thuột không nhiều cũng không ít, nhưng ông Ba-Lô là tay thiện xạ khét tiếng. Mỗi lần đi săn về, ông Ba-Lô chia đều phần thịt cho bạn đồng hành và hàng xóm, ông ưu tiên lấy sừng. Nếu hạ nhầm nai có chửa thì mổ bụng tại chỗ lấy thai nai con về ngâm rượu hàm nàm. Ai đã từng ghé qua nhà ông Ba-Lô trên đường Tôn Thất Thuyết (Lê Hồng Phong bây giờ) sẽ ngợp vì thấy trong phòng khách nhà ông treo toàn gạc nai, sơn dương và sừng Min đủ loại. Hổ báo đã thuộc da quỳ phục trong nhà, (một cửa hàng trên đường Nơ Trang Long còn bày bán mọi thứ cho đến những năm 80 mới biến mất.)
Có lần ông Ba-Lô săn được một con cọp ngoại khổ, đuôi dài cả thước, nanh vuốt dài ngoằng, nhọn hoắt. Con nít tụi tôi nghịch ngợm nhổ râu cọp chơi bị rầy. Thì ra râu cọp để dành trộn với một loại lá rừng đựng trong hũ, lâu ngày biến thành một loài sâu rọm lông lá xanh lè. Họ lấy sâu giã nhuyễn làm thuốc độc tẩm mũi tên để săn thú rừng.
Ông vua Bảo Đại nổi tiếng là ông vua tân thời. Nhà vua rất hâm mộ các môn thể thao quí phái, thời thượng như bơi thuyền, cưỡi ngựa, đánh goft, chơi tennis, nhưng có thể nói săn bắn là môn "thể thao đường rừng" ông ưa chuộng nhất. Mỗi lần đi kinh lý trên Ban Mê Thuột, vua thường tổ chức đi săn. Và tháng 5/1950, nhân dịp lên Daklak thăm viếng đồng bào, ông vua sai cận thần triệu ông Ba Lô đi săn với vua. Thời trước, ông Ama Kông, vua săn voi cũng từng đi săn với Bảo Đại. Đi săn với vua chúa là niềm vinh dự hiếm có.
Những người thợ săn khét tiếng một thời ở Ban Mê Thuột, có thể nói họ như một loại huyền thoại, một biểu tượng sống động của thị xã núi cao. Nhưng rồi họ vẫn là những thợ săn vô danh, mãi mãi vô danh, dù có người đã từng đi săn với vua Bảo Đại. Thật ra, trong sử sách, không ai biết mà cũng không cần thiết nhắc đến tên tuổi của họ, trừ vua săn voi Ama Kông, một thợ săn ngoại hạng của núi rừng đại ngàn vào thế kỷ trước.
Săn bắn tài tình như vậy, mà một sớm một chiều ông Ba-Lô bất ngờ buông súng để bước vào cửa Phật. Những tiếng súng ác liệt của những người thợ săn năm xưa đã chìm trong tịch lặng, ông Ba-Lô cũng vậy. Ông mất năm 1983 tại Ban Mê Thuột.
3.
Những tiệm sách ngày xưa…
Cuối thập niên 1960, sách dịch rất thịnh hành, được giới yêu sách ưa chuộng. Trí thức thì chuộng triết học hiện sinh và mỹ học nặng về lý luận, hoặc truyện dịch. Bình dân thì đọc tiểu thuyết trinh thám, truyện đường rừng, truyện kiếm hiệp, hoặc truyện tình cảm, tâm lý xã hội… Chiến tranh làm phố núi có thêm nhiều trí thức, họ lên vì nhiều lẽ, và sách vở theo đó cũng bán được nhiều…
Thập niên 1960, ông Cao Trí là chủ nhân tiệm sách Cao Trí khai trương đầu tiên tại thị trấn miền cao Buồn Muôn Thuở. Tiệm sách này nằm trên đường Nguyễn Thái Học, cạnh nhà may Thừa Thiên. Ông Cao Trí tên thật là Y Tí, em song sinh với ông anh là Y Lý, chủ cà phê Đồng Xanh.
Vì sao tôi lại nhớ đến những tiệm sách, và kể tên nhà sách Cao Trí giữa muôn trùng nhà sách ở phố núi lúc bấy giờ? Là vì ông (và ông Đồng Xanh) là hai con trai song sinh của ông Y Say (ông chủ tỉnh của người Ê đê thời ấy), với người vợ thứ 7, người cung nữ mà Đức Từ Cung mang từ Huế vào gả cho ông. Khu đất mênh mông lượn từ đường Lê Hồng Phong bây giờ xuống Hồ Tùng Mậu ngày xưa là “nhà ông Phán Lạc”. Đâu có ngẫu nhiên khi ông được ở ngay kề bên Dinh Công Sứ? Gọi là Dinh Công Sứ vì Dinh này là nơi làm việc của công sứ Pháp. Ông Sabatier từng cùng các già làng ngồi đọc và dịch trường ca Damsan bên bập bùng bếp lửa ở đây. Theo Nguyễn Quang Tuệ, thì ông Sabatier mới là người “latinh” hóa chữ Ê đê (cũng như giáo sĩ Francesco de Pina đã “latinh” hóa tiếng quốc ngữ vậy.) Thầy giáo Y Jut và Y Ut chỉ là những người giúp sức cho ông. Sau năm 1954, người Pháp trao trả lại miền Nam cho Quốc Gia Việt Nam, các dinh thự ấy đồng loạt mang tên “Dinh Bảo Đại” vì lúc ấy Bảo Đại là Quốc Trưởng. Là Quốc Trưởng, nên những hình ảnh ngai vàng cùng xiêm áo trong dinh e rằng không hợp lý, vì ông Quốc Trưởng có phải / có còn là ông Vua nữa đâu? Ông đã đàng hoàng Vestone trắng và ngồi xe Jeep hàng ngày…
Quay lại ông Y Say. Ông Y say chính là ông Ama Lak, người Việt ở Ban Mê Thuột vẫn gọi ông là ông Phán Lạc (chữ “Lạc” từ chữ “Lak” mà ra). Ông là thư ký tòa Luật tục từ năm 1923, lúc đó ông Khun Jonop Y Thu (Vua voi) là chánh tòa. Ông Khun Jonob Y Thu sinh năm 1828, vậy lúc người Pháp “bổ nhiệm” ông đã 95 tuổi (?) Có lẽ vậy mà nhắc tới tòa Luật tục này, người ta chỉ truyền nhau cái tên ông Y Say. Ông mất năm 1945.
Tiếng Ê-đê, Jao còn có nghĩa là “cho”, Lạc Giao là cách của người Việt gọi vùng đất được ông Ama Lak “jao/cho”. Lạc Giao là vùng đất ông Ama Lak cho để bên vợ có nơi mà lên, mà sum vầy. Có lẽ vậy mà chúng ta mới có Trịnh Công Sơn đã sinh ra (1939) ở phố núi này chăng? Dù lên năm tuổi họ Trịnh về lại Huế học tiểu học do chiến tranh loạn lạc, nhưng nhiều người Huế ngày ấy theo chân người cung nữ vẫn còn ở lại. Để phố núi là nơi sinh ra và lớn lên của nhạc sĩ gốc Huế Hằng Vang, người nhạc sĩ của Phật giáo được biết đến tài năng qua những bài hát mang đậm tư tưởng nhà Phật. Ông sáng tác hơn 500 ca khúc, và ca khúc “Ánh Đạo Vàng” của ông được giới Phật tử cả nước thuộc lòng: “Từ ngàn xưa phương thành Ca Tì La Vệ. Tất Đạt Đa, Thái tử con vua Tịnh Phạn. Thời niên thiếu sống trong nhung lụa êm ấm. Thương chúng sanh lạc loài trong kiếp luân hồi…” Ông là niềm hãnh diện của giới văn nghệ Phật Giáo của cả nước, hiện vẫn trường chay và an nhiên tự tại với con cháu ở phường Thành Nhất.
Ngoài người nhạc sĩ đó, thế hệ chúng tôi còn được học môn Anh Văn do thầy Đặng Ngọc Thanh Hải dạy. Người thầy giáo này là cháu nội của một vị nhất phẩm Đặng Ngọc Oánh, tinh thông cả Pháp ngữ và Nho học, từng là thầy dạy vua Duy Tân và từng làm quan đến chức Hiệp tá Đại học sĩ. Ông Đặng Ngọc Oánh từng là Tuần Vũ Quảng Ngãi nên rạp hát “Bà Tuần” lừng danh ở Huế là cách người ta gọi rạp hát của vợ ông, cũng là bà nội thầy giáo dạy Anh văn của tôi. Những trâm anh thế phiệt đã trôi dạt và dừng lại trên phố núi, và vẫn đang nối tiếp nhau một đời sống thật thanh bình, làm như mình không từng tham dự vào “lịch sử” của một vùng đất.
Ngoài các nhà sách, thời ấy mỗi ngày còn có mấy chục tờ báo được xuất bản. Ngay góc đường Quang Trung – Y Jut (đối diện rạp LoDo) là một góc “văn học” nhộn nhịp nhất phố núi. Ở đó, giữa bao nhiêu người qua kẻ lại có một sạp báo tên là “Tia Sáng”. Bà chủ sạp báo đó cũng là bà chủ của khu Biệt Thự đường Hai Bà Trưng (khách sạn Đại Hùng bây giờ) và cũng là bà chủ của những vườn cà phê trên đường đi Phước An. Bà đã mất ở Pháp. Bà Tia Sáng là cô của tôi.
Đến sau này tôi mới nghe những giai thoại về Ông Ama Thuột, lúc thì tù trưởng Buôn Niêng, lúc thì ông ở buôn Ky về buôn Kosier làm rể. Giữa những Ama Jhao (Mé Sao), Nơ Trang Gưh đánh nhau với Pháp “chảy máu” thì ông lại bình an được người Pháp “tôn vinh”, lấy tên đặt cho vùng đất này thì kể cũng là điều lạ. Những Ama Jhao, Y Say, Y Thu… còn hình ảnh năm sinh tháng đẻ thì ông sương khói như cổ tích. Những gán ghép phận người… Hay là những sương khói vậy biết đâu lại làm phố núi thêm phần lãng mạn, như chàng Damsan còn yêu được cả con gái Mặt Trời cơ mà? Vừa mới đây, tôi lại lục tục xếp hàng khi loa ở sân bay Buôn-Ma-Thuột xướng lên: “Kính mời những hành khách đã có vé đi từ Ban-Mê-Thuột đến Hà Nội vui lòng ra cửa số 2…” Xứ Ban Mê ở ngay trong sân bay Buôn Ma, tôi ngồi vào máy bay rồi mà vẫn ngỡ ngàng…
Tiếng Thái-Lào, Mé là “thủ lĩnh”, vì vậy Ama Jhao mới là Mé Sao. Mé Kong là “con sông thủ lĩnh”. Vùng đất của những người thủ lĩnh ngày xưa đã trở thành quê hương của tôi. Đô thị trung tâm của cả vùng Tây Nguyên không chỉ có “cà phê cứt chồn” mà đã có nhà thơ, đã có trường ca và tiểu thuyết… Khi kể về con suối Maury, tôi không chen thêm vào suối Đốc Học vì sợ làm rối bạn đọc. Con suối mang tên ông quan Đốc người Việt lai Pháp về hưu mở trường gõ đầu trẻ. Đầu dốc xuống con suối ấy là một bến xe ngựa (tòa nhà Trung Nguyên trên Lê Hồng Phong bây giờ). Chéo qua bến xe ngựa ấy, nằm trên đường Nơ Trang Long, là tiệm vàng Kim Thịnh. Ông bà Kim Thịnh đã sinh ra nhà văn Nguyễn Thanh Việt (1971), người đoạt giải Pulitzer văn chương năm 2016 ở Mỹ, đã làm cho địa danh “Ban Mê Thuột” hiện ra trên website của trường Đại học Berkeley và viện Hàn Lâm tít xứ sở Hoa Kỳ. Vùng đất nào cũng vậy, không chỉ Amí Ama mà còn cần lắm những tuổi tên người.
                                                              Ban Mê Thuột, thành phố tuổi thơ tôi…

Thứ Tư, 3 tháng 6, 2020

BĂNG CỦA EVA truyện ngắn của TRẦN BĂNG KHUÊ - CHƯ YANG SIN SỐ 333 THÁNG 5 NĂM 2020





Tôi chỉ nói chuyện với tảng băng đó.
Dứt khoát không phải ai khác (hoặc một thứ gì khác), ngoài tảng băng đó.
Tôi đã ngắm nghía nó khá lâu. Rồi lại cất đi. Giấu giếm nó đi trong một ngăn chứa vừa bí mật vừa lộ lộ từng lớp. Ấy thế mà, không phải ai cũng có thể nhìn thấy, dễ dàng nhìn thấy. Tôi thực tình không muốn ai thấy. Vì vậy mà nó mới bị giấu đi. Vì vậy mà nó (đôi lần) chẳng cần đến sự giấu giếm của tôi, nó tự mình biến mất, tự mình lẩn trốn trong lau lách của thế giới buồn tẻ cô độc của loài người.
Tôi đã cố tình chối từ thứ lạnh lùng này. Nhưng, thản nhiên, nỗi buồn, sự ám ảnh chúng mặc định tồn tại, không chịu di dời. Chúng xâm nhập tôi hằng ngày hằng giờ, mọi lúc mọi nơi. Một người bạn ở xa vừa nhắn hỏi rằng, “tại sao tớ luôn cảm thấy lo lắng cho cậu”. Tất nhiên, tôi không trả lời đủ đầy. Tôi nói, trong người tôi có một tảng băng. Tôi đặt tên cho nó là Eva. Tảng băng Eva này, tàn nhẫn lắm. Giống hệt như tôi tự làm tôi tổn thương vậy. (hoặc là một ai đó từng làm tôi đau đớn, thời ấu thơ, thời tuổi trẻ).
Mấy mùa xuân hè hoặc thu đông năm ngoái, khi tôi đang phiêu bạt ở bên kia bờ đại dương, (xứ người chỉ ấm áp vào hè và băng giá buốt lạnh cả ba mùa còn lại). Những khoảnh khắc mà tôi nhận biết được sự tồn tại của nó, thì đồng thời nó cũng dịch chuyển tôi về với khoảng thời gian trước kia, khi tôi còn ở Huế. Mùa đông, mưa dầm, bầu trời dày đặc màu sắc u ám lê thê kéo dài. Tuổi trẻ của tôi ở đó. (Tuổi trẻ đầy buồn tủi của tôi). Tôi nhớ, tôi còn nhớ hình bóng tôi co rúm lại trong bộ xương gầy đỏng đảnh suốt cả bốn mùa xuân - hạ - thu - đông.
Tôi nghĩ, tảng băng của tôi đã mê dụ tôi đi hoang từng tiềm thức trôi ngược về những tháng năm xa xôi hơn nữa.
Năm, mười, mười lăm, hai mươi. Không phải một trò chơi trốn tìm với đám trẻ con trong xóm, với những kí ức lạnh lẽo. Đó là tôi, chính tôi, một tảng băng đang lạc trôi dưới ánh sáng nguyệt bạch những đêm tối trời. Tôi nhớ thế này, rồi tôi lại nhớ là thế kia, cái hoạt cảnh vừa xa vừa gần ấy chúng thật đáng sợ. Chúng níu lấy bàn tay tôi cười ha hả. Chúng cợt nhả, trêu đùa bắt tôi phải đau khổ vừa muốn tung hê nó ra, vừa muốn giấu giếm đi thật kỹ lưỡng trong một ngăn chứa bí mật của riêng tôi, chẳng để ai phát hiện.
Có nhiều lần, khi đối diện với bóng tôi, hoặc một vài cơn say dại dột thời tuổi trẻ, tôi đã khóc, đã hét lên với sự tồn tại của nó rằng, “mày chỉ là một tảng băng vô tích sự, không hơn không kém. Eva”. Tuy nhiên, tôi lại thấy dường như nó cười cợt lại và thì thầm mỉa mai, “cô cũng chỉ là một thứ cố chấp, lì lợm".
Năm tôi hai mươi tám tuổi. 
Lần thứ ba tôi thử tự sát sau chưa đầy ba ngày làm cô dâu. Nhận thức về việc tự sát của tôi lúc đó, chẳng khác gì một đứa trẻ. Tôi quen nuông chiều cảm xúc. Chơi đùa với nó, quên mất sự tồn tại của lý trí. Chồng tôi, anh ấy cũng là một tảng băng, rất lạnh. May mắn thay, trước sự bướng bỉnh của tôi, tảng băng của anh ấy bắt buộc phải tan chảy, để bảo bọc tôi, che chở tôi, sưởi ấm cho tôi.
Bây giờ, mỗi ngày, tôi thấy nó tan, thực sự thì nó vẫn tan ra rất đều đặn, từng chút một. Tôi nghĩ, nó có thể cũng đang tan ra như thế giới ngoài kia, nó sẽ hoá thành nước rửa trôi mọi âm thanh bẩn thỉu, kể cả những giọt nước bọt chứa đầy virus văng tứ phía trong lời nói của ma quỷ. Tôi biết, nó vẫn đang tan. Nhưng kỳ lạ thay, nó tan và tiếp tục ngấm sâu vào tim tôi hơn. Lạnh. Tôi không phải nói mê. Giữa mùa hè đổ lửa, tôi vẫn rên rẩm về một cơn buốt lạnh - buồn bã nào đó mãi bám riết trong cơ thể mình. Rồi, tôi tự đánh lừa tri giác tôi, rằng đó không phải là tảng băng Eva. Tôi tự đánh lừa trái tim tôi, rằng tôi vẫn ấm áp và yếu đuối như bản thể quen thuộc của loài người.
Tôi mơ về một thế giới khác. Có những đêm tôi chỉ sống trong giấc mơ. Không phải đời thực. Tôi không muốn thoát ra khỏi giấc mơ đó. Mộng cảnh là thứ có thể tạm thời giấu giếm bớt nỗi đau của tôi. Vài thứ mà tôi không tài nào chấp nhận được trong cuộc sống đời thực chẳng hạn. Tôi mơ về một thế giới khác. Và cái thế giới đó đã biến thành một tảng băng nữa, một tảng băng nữa. Nó - Chúng. Chúng - Nó. Thể nào cũng trêu đùa tan nát trái tim tôi thôi.
Tôi kể với ai đó về một cơn đau. Không phải tảng băng ấy. Cơn đau này rất sâu, rất sâu, hệt như muốn vùi lấp tôi trong những ký ức cũ kỹ, và kể cả thứ mới vừa xảy ra ngay trước mắt tôi lúc này, ngày mai nó cũng trở thành ký ức thôi. Nhưng giá như, thứ ký ức đó tươi tắn, đẹp đẽ như mộng cảnh. Cơn đau không bị kích hoạt, tôi trơ mắt đứng nhìn và cười thật to. Hình như tôi có chửi thề nữa. Thỉnh thoảng, cũng nên chửi thề một chút. Biết đâu đó cũng là một liệu pháp chữa bệnh.
Tôi nghe có tiếng gió gào bên ngoài cánh cửa. "Chôn sống. Chôn sống. Chôn sống". "Bắn đi. Bắn đi. Bắn đi". "Chết. Chết. Chết".
Ai? Dĩ nhiên chẳng có ai ngoài tiếng gió. Chẳng có ai ngoài chính tôi đối diện với những bức tường lạnh trong bóng tối. Tôi nhớ một đoạn phim có những tiếng hét như thế. (đó là năm tôi hơn ba mươi tuổi).
“Hẳn là, em nên trở về tìm kiếm tảng băng không chịu tan của mình”, tôi nói với chồng như thế.
Anh ấy bảo, “chúng ta không nên tự mình nhân đôi số lượng nỗi buồn làm gì, thế giới vốn dĩ đã quá nhiều đau đớn”. Tôi không nghe lời chồng, tôi vẫn thích chiều chuộng cảm xúc như thời trẻ tuổi. Và tiếp tục tự nhốt mình trong mọi hoang cảnh.
Mùa hè gần hết. Thu - đông sắp chạm gót chân tôi trong từng ký ức ngắn ngủi ở xứ người. Tôi sợ mùa đông. Tôi sợ những tảng băng tích tụ trong cơ thể tôi. Nhưng lúc này tôi lại nhớ mùa thu, nhớ những hàng cây lá đỏ, lá vàng trên con đường quen ở Symond St, muốn rớt nước mắt.
"Tôi không thể rớt nước mắt một cách dễ dãi như ngày xưa được". Tôi nói.
Vẫn không có ai ngoài tôi với bức tường lạnh. Tiếng của tôi im bặt ngay sau một câu nói nhảm. Tôi nghĩ. Tảng băng trong chiếc hộp pandora cũng lỳ lợm phong tỏa nước mắt của tôi. Vậy thì tôi sẽ tiếp tục trò chơi này, trò chơi giấu giếm một tảng băng ở nơi nào đó sâu kín nhất. Bất quá, cô độc quá tôi sẽ mời Lão ấy chơi cùng. Ông già khó tính bị réo gọi mỗi lần con người yếu đuối gục khóc. “Thượng đế hỡi”, tôi gào tên lão, tôi không cầu nguyện xin xỏ, tôi sẽ gào tên lão hết đêm nay.
Liệu ngài có nhìn thấy tảng băng nặng trĩu này của tôi trong đêm mùa hè buốt lạnh? Thượng đế hỡi, liệu ngài có nghe thấy tiếng nhân sinh muôn loài đang kêu cầu van xin được cứu rỗi? Thượng đế hỡi, đêm hôm qua cha tôi đã vô tình cất cao giọng đòi chôn sống mẹ tôi bằng những lời chót lưỡi đầu môi cay độc.
Hơn ba mươi lăm tuổi. Khi tôi trở về từ xứ người.
Trong một đêm không vui vẻ, tối trời. Tôi ngồi đó. Ngay chính giữa một nấm mồ hoang lạnh. Không phải được vùi lấp bằng đất đá, mà bởi bốn bức tường ngột ngạt. Tôi ngồi đó. Ngay chính giữa hai thực thể còn sống, đã tạo tác ra tôi. Một thực thể Eva khác đang lặng im gục xuống như một tảng băng lạnh buốt. Một thực thể Adam, bội phản, tàn nhẫn vừa hóa thân thành thứ gì đó thật xấu xí, không phải là một câu chuyện giống loài của Thượng đế. Tôi là cái gì vậy, hỡi Thượng đế? Có khi nào ngài nhầm lẫn, sai sót khi chơi trò nặn tượng với tôi, với thế giới đầy u mê dục vọng này?
"Chôn sống. Chôn sống. Chôn sống". "Đi chết. Đi chết. Đi chết đi".
Bất giác tôi muốn chửi thề. May sao, tôi kiềm chế lại được. Tảng băng Eva trong tôi co cụm. Lạnh buốt. May mắn thay, tôi không chiều chuộng cảm xúc của tôi như thời tuổi trẻ nữa. Chồng tôi, anh ấy đã dạy cho tôi cách tiết chế, cách nhìn nhận chân - giả, cách yêu thương. Dù rằng, tôi vẫn còn run rẩy trước những âm thanh vang vọng bên tai tôi lúc này. “chôn sống, đi chết…”.
Thật kinh khủng.
Tôi muốn mở miệng, tôi muốn chửi thề với Thượng đế.
Không ai cất một lời đáp lại. Chỉ có tiếng gió gào thét trong đêm mùa hè, chỉ có một tiếng chim lạ não nề bên ngoài cánh cửa sắt.

Thứ Hai, 1 tháng 6, 2020

KHƯƠNG truyện ngắn của THÙY TRANG - CHƯ YANG SIN SỐ 333 THÁNG 5 NĂM 2020

  

 

1.

- Chỉ là đùa thôi mà!

Lời của người ấy nham nhở trong giấc mơ bóp trái tim Khương như nghẹn thở.

-Xin lỗi nhé.

Khương mơ màng. Quá muộn rồi!

-Chả ai thèm quan tâm đâu!

-Chuyện thường ngày ấy mà. Người ta còn phải đối mặt với cả đống thứ. Một tin nhắn bị chụp và đăng lại trên mạng xã hội thì thấm vào đâu!

Khương bị nói xấu vì cái tật xoá tin nhắn. Hở ra là xoá trong Messenger Facebook. Không biết vì sao Khương lại sợ để lại những gì mình đã ghi ra như vậy. Bộc bạch ý kiến rồi xoá. Chia sẻ suy nghĩ rồi xoá. Lâu ngày thành quen. Mọi người gọi nó bằng cái tên Khương xoá. Đó là trước khi Khương thử inbox Facebook những người không quen biết để thổ lộ. Trút bầu tâm sự Khương thấy dễ chịu, còn người ta thì sao, Khương không biết. Nhỡ đâu họ đang cười mình... Khương nhớ cái giật mình của cây xấu hổ. Nếu có thể Khương muốn ôm mình gọn lại, tay ôm thân, mắt nhắm và tai cụp vào đầu. Nếu không chú ý tới ai, hẳn cũng chẳng ai chú ý tới mình?

Ngày đầu lân la, nhảy vô một Facebook, Khương muốn comment nhưng sợ mình nhỏ tuổi, lại ít kiến thức, nói ra nhỡ có chuyện gì. Thôi thì lẳng lặng. Inbox. Inbox. Nó như cái tủ đồ ngày xưa Khương mở ra thấy áo dài áo ngắn quần này quần nọ rồi chui đầu vô, đóng tủ lại, núp! Inbox là như thế chăng?  Nói chuyện cũng e dè, Khương bắt đầu góp ý. Người được inbox cũng tiếp nhận. Khương thả lỏng mình như lá xấu hổ qua cơn run rẩy.

 2.

Những cây xấu hổ có cái lá thật tuyệt. Thoáng đụng cái là khép ngay. Chứ không như xương rồng bản bự, người ta gọi là cây lưỡi long. Khương thấy hình thù của chúng như người đàn bà gương mặt hình trái xoan đầy rẫy hận thù, gai mọc ra từ trong xương trong tủy. Có lần chạy đi chơi theo tụi bạn không kịp, té vào xương rồng mọc xiên theo bờ dốc. Ám ảnh. Ở đâu ra loại cây chỉ chực chờ làm người ta sợ. Khương cứ nghĩ về khả năng làm hại người khác của xương rồng. Chẳng như cây xấu hổ, Khương men theo hết cây này đến cây khác, lấy chân đá vào cây, chúng vội khép lá ngay. Thích lắm nhưng khi có em trai, sợ em thấy sở thích mềm yếu của mình, Khương chạy một mạch không nhìn cây, chân đạp đất văng bụi tung toé. Cây xấu hổ thoáng chừng cảm nhận tiếng động nên co rụt mình. Khương vẫn cắm đầu chạy.

Thấy tên mình trong ảnh. Thấy chữ mình trong ảnh và icon mặt cười cố hữu. Mất hồn. Những dòng chữ ngây thơ lồ lộ trên Facebook của người ấy. Khương đã bị chụp lại inbox. Khương thấy mình như chúi đầu ngã xuống đất từ cái tủ đồ của mẹ. Ngước mặt lên là cái nhìn của đứa em đắc thắng trong trò chơi trốn tìm.  Đầu Khương đầy quần áo. Đồ đội quần! Em Khương đã nói như vậy.

Khương tìm đồng minh. Bật dậy giữa đống đồ hỗn độn. Mẹ ơi. Ba ơi. Bà ơi. Mọi người đi vắng. Nhưng đám nhóc trẻ con hàng xóm đầy rẫy chen mắt qua các ô cửa. Thấy rõ mồm mép chúng. Thấy rõ mắt lồi của chúng. Và cái miệng cười của đứa nào đó rất to. Đứa còn đập mạnh vào tường, đứa ôm thanh cửa sổ hú hét. Khương xấu hổ muốn chui vào trong tủ nhưng đã bị em mình nắm áo.

Bật dậy giữa đêm, khương quờ lấy điện thoại để ngang đầu. Màn hình xanh quen thuộc. Hủy kết bạn. Chặn. Bỏ theo dõi. Để avatar màu đen. Làm thế nào cho phải. Tin nhắn của Khương đã bị chụp lại và phơi lên. Không dám nhìn vào những bình luận. Người thả mặt cười. Người thả phẫn nộ. Số lượng comment tăng lên. Khương inbox cho người ấy. Ngần ngại. Lỡ đâu ngày mai...

Khương xoá.

Khương xoá.

Đủ thời gian người ấy đọc tin nhắn xong rồi là Khương xoá. Xong xuôi, Khương xoá luôn cuộc trò chuyện. Người ta bất ngờ vì cách hành xử của Khương. Người ta nói, đàn ông con trai gì mà. Rồi người ta gán ghép các kiểu. Dối trá. Mờ ám. Lừa đảo.

Sợ gì nó? Đứa em ngày xưa làm Khương mất mặt nói trong điện thoại. Cứ để vậy đi. Chụp tin nhắn có gì hay ho. Anh cũng chỉ là một nạn nhân mà thôi. Như ngày xưa người ta ghi âm, quay phim. Mạnh mẽ lên. Cứ coi như là một ai đấy ngoài mình đi.

Hằng đêm, Khương nghĩ cách soạn ra một đoạn tin lý giải về lời nói của mình, thực sự mọi chuyện là thế nào. Tin nhắn bị chụp lại là ra sao. Mọi người không hiểu. Không nên hiểu theo chiều hướng xấu. Khương là người tốt mà. Nhưng Khương sợ những tin nhắn comment sẽ cuốn mình, và không đủ sức để phản hồi lại. Khương bất lực. Những người cười với Khương ban ngày có phải đã đọc được inbox của Khương. Những người nói nặng lời với Khương vì lý do này khác có phải muốn mượn cớ chê bai Khương. Nhiều lắm. Khương cứ miệt mài viết rồi xoá. Đăng lên tầm 5 phút, Khương xoá. Rỉ rả tâm sự 10 phút Khương xoá. Làm người ta không kịp trở tay.

Chụp màn hình hả, đừng hòng!

3.

Khương làm mất điện thoại. Đi đường dốc, bánh xe trơn, té ngã trầy mặt, điện thoại bỏ trong túi áo văng ra đâu không biết, tìm hoài không được. Con rắn lục bò xẹt ngang qua con đường. Nhìn quanh, đoạn đường nghĩa địa, đất linh, cây lưỡi long mọc lên, mọc chen lên, chỗ này một ít, chỗ kia một ít như những gương mặt người kinh sợ... Khương hoảng hốt, vứt luôn ý nghĩ tìm điện thoại, lên xe nổ máy. Từ ngày rớt điện thoại, đầu óc Khương thanh thản. Ai muốn liên lạc qua tận nhà, hoặc gọi nhờ em Khương. Thích thì Khương nghe máy, không thích thì thôi. Khương đi men theo đường dốc nhổ cây xấu hổ, anh muốn xoá nó đi khỏi đất này. Người ta nói cây xấu hổ mọc lan khắp, chẳng ai đâu mà bứt cho xuể. Vậy mà Khương cứ bứt, như không tin.

Rồi tới ngày nhận lương, thằng em Khương lại vỗ vai, nè, cho anh, chiếc điện thoại mới. Kỉ niệm, nó mua kèm ốp lưng màu xanh sọc rắn. Cho anh tập làm quen! Nó cười mà Khương thấy lạnh.

Một cảm giác liều mạng như khi đang bứt lá xấu hổ. Khương thấy lá xấu hổ thì nhiều mà những cây lưỡi long thì lại mọc từng cụm, dễ chặt đứt một lần nhiều nhánh. Khương thấy mình bình tĩnh hơn mọi khi dẫu mồ hôi đang đổ ra nhễ nhại. Khi ngồi yên một chỗ trên cát nóng, Khương nhận ra mình không thể ngừng ám ảnh về cây lưỡi long, cũng như ngừng thích lá xấu hổ. Vốn dĩ mọi thứ đã như vậy. Khương online và quyết định xóa những cuộc trò chuyện, rồi bắt đầu lại từ đầu.

Khương ý tứ hơn trong việc sử dụng từ ngữ, thể hiện quan điểm thẳng thắn ư, chê bai ư. Cũng được, nhưng khéo một chút. Khương tìm những người bạn ngoài đời sống, những người Khương chia sẻ thẳng thắn và anh cũng nhận lại phản hồi. Dễ, nhanh gọn hơn Facebook khi những gương mặt người cười với đôi lông mi, với ánh mắt, với nụ cười và màu nắng quen thuộc. Không phải là nỗi ám ảnh của đời sống. Khương tự do hơn và dễ chịu hơn. Dần dà trong mơ, Khương bắt đầu thấy mình thôi không bứt những cây xấu hổ nữa, cũng không còn ghét cây lưỡi long. Khương đã biết những loài cây trên đời luôn tồn tại với một lý do nào đó, và nếu không thích thì nó vẫn ở đó. Bây giờ Khương ít viết gì riêng tư lên mạng xã hội, vì anh không đủ khả năng kiểm soát những gì sau đó, và cũng bởi vì, ngoài cái biểu tượng màu xanh của Facebook, còn quá nhiều thứ chờ Khương, ở phía trước.

Chuyện Khương xóa dạo nọ vẫn hiện lên khi đi ngang những vùng đất cây lưỡi long đầy gai nhọn. Và cũng không bao giờ ngưng mọc, cây xấu hổ phủ đầy giấc mơ màng.