Thứ Năm, 9 tháng 7, 2020

MỘT TRĂM NĂM KHÔNG CÔ ĐƠN CỦA PHỐ NÚI... tác giả LÊ VĨNH TÀI - CHƯ YANG SIN Số 334, tháng 6 năm 2020


 

Có thể nói, thành phố Buôn Ma Thuột, buôn của ông già Thuột, là thành phố duy nhất mang tên người khai sinh ra nó ở Việt Nam. Có lẽ vậy mà sương khói và huyền thoại vẫn cứ pha phất, vây quanh người Già Làng này. Tên của ông chìm trong âm vang của tiếng Chiêng suốt một trăm năm qua, không chỉ theo dòng Sê rê Pốc hòa vào Mê Kông trôi ra biển, mà vẫn bay âm u lơ lửng trong tâm trí của bao nhiêu thế hệ, như sương mù của mùa đông phố núi.

 

Vỡ ra mưa ấm

 

tiếng cồng thăm thẳm xa rồi

âm u ngày mẹ chuyển dạ

nào ai chọn cửa sinh ra

đất như máu mồ hôi người nóng hổi

ký ức như mây lãng quên như suối

nhiều không em...

 

ta lớn lên với muôn vạn vì sao

lấp lánh không cần chọn lựa

cao chi lắm núi ơi

rộng đến đâu cũng bước chân người

qua hết

sống và chết

cách một bước cầu thang

 

Tây Nguyên mênh mang tận cùng máu chảy

mẹ dạy ta nhìn thấy

một bông lúa rẫy cũng khát như người

giấu ngọt bùi sau lần trấu mỏng

 

Tây Nguyên mênh mang tận cùng sự sống

chàng Dam San yêu con gái Mặt Trời

người con gái nhìn vào chói mắt

vẫn yêu

 

Tây Nguyên mênh mang sau những buổi chiều

lên khói

mắt người già mệt mỏi

nhìn xa

 

ôi Tây Nguyên

lá vẫn xanh trong câu thơ lá đỏ

ngày nhiều nắng gió

vàng rơi

 

Tây Nguyên mênh mang

có những phận người...

 

Có một vùng đất được khám phá trở lại…

 

Chúng ta quay lại với "sứ mệnh Pavie", với những người Pháp đầu tiên thực hiện chuyến khảo sát một vùng đất rộng tới 676.000km², du hành hơn 30.000km tại các vùng cao ở phía đông và bắc sông Mê Kông, thu thập một lượng lớn thông tin khoa học.

Chuyến khảo sát đầu tiên, từ năm 1879 tới 1885, trải rộng trên khắp Campuchia và miền nam Siam (cách gọi Xiêm La thời ấy) tới tận Bang Cốc. Chuyến thứ hai, từ năm 1886 tới 1889, khảo sát miền đông bắc Lào và sông Đà tại Bắc Kỳ, tới tận Hà Nội. Chuyến thứ ba, từ năm 1889 tới 1891, bao gồm việc khảo sát sông Mê Koong từ Sài Gòn tới Luang Prabang. Chuyến thứ tư, từ năm 1894 tới 1895, bao gồm các vùng lãnh thổ Lào giáp giới với Trung Quốc và Miến Điện tại tả ngạn sông Mê Kông, tới tận sông Hồng. Do đó mà năm 1894, bác sĩ Yersin đã "khám phá" ra vùng đất mà sau này là Darlac (ông ký âm từ Tak-lac, hồ Lak) và KonTum, dù tuổi tên ông dường như chúng ta chỉ nghe gắn với Đà Lạt.

1885, Auguste Pavie là Thống đốc và Đặc nhiệm Toàn quyền Pháp tại Lào.

Sự "nghiên cứu" của Auguste Pavie lúc ấy nằm trong bối cảnh đang có "xung đột" Xiêm - Pháp. Sau Hòa ước Pháp – Xiêm 3.10.1893, vua Rama V của Xiêm tiếp tục hy vọng và yêu cầu chính phủ Anh bảo hộ. Chính phủ Anh sau đó đã đàm phán với vua Pháp, hai bên đã đạt được nhiều thỏa thuận, nhiều hòa ước nhưng phải đến hiệp ước Entente Cordiale năm 1904 giữa Pháp và Anh thì hai bên mới kết thúc những tranh chấp của họ tại Đông Nam Á. Theo đó, Xiêm nhượng lại Lào (và phần lớn phía Tây của Cam pu chia), Pháp bảo đảm sự toàn vẹn của phần còn lại của Xiêm. Đổi lại, Xiêm phải từ bỏ yêu sách của mình đối với các vùng Shan nói tiếng Thái (lãnh thổ phía tây sông Mê Kông xuyên qua Luang Prabang, Champasak và Tây Campuchia...)

Champasak, bao gồm một phần nam Lào và Tây Nguyên. Và Stung Treng, lúc đó vẫn đang thuộc vương quốc Champassack.

Chép vài con số 

 

- Sau hòa ước Pháp – Xiêm (3.10.1893) Lào tách khỏi Xiêm và thống nhất (trước đó là các tiểu vương quốc). Pháp sát nhập Cao nguyên Trung phần vào Lào, lúc này chưa có địa danh Darlac (theo nghĩa một đơn vị hành chánh chính thức). Đến 2.11.1899 thì theo Quyết định số 917 của Toàn quyền Paul Doumer, “đại lý hành chính Darlac” mới ra đời, thuộc Stung Treng. (tham khảo La Province Nouvelle du Darlac, ngày 01.4.1901 của Khâm sứ Tournier, Lào.)

- Ngày 22.11.1904 Darlac chính thức tách khỏi Stung Treng (tức là khỏi Lào) để trở về với Annam sau 9 năm lưu lạc (từ 1893 đến 1904). Do từng thuộc về Lào, nên trước và sau mốc thời gian 11.1904 một chút, chúng ta sẽ gặp các địa danh vẫn thường được ghi theo kiểu Lào, như là Ban-mé-thuot. Từ 1904 – 1913 Darlac thuộc Phú Yên.

- Ngày 9.02.1913 Darlac là một đại lý hành chính thuộc tỉnh Kon Tum.

- Ngày 2.07.1923 Darlac mới chính thức tách khỏi Kon Tum, thành tỉnh riêng và Ban Mé Thuôt lúc này chính thức được “thủ phủ” hóa. Hầu hết các địa danh lúc này được Rhadé-hóa, Banme-thuot thành Buôn-Ma-Thuột.

Như vậy, dù chưa có những ghi chép tiểu sử của một con người (là ông “Ama Thuột”), nhưng vùng đất này từ khi thành lập (1899), lúc còn thuộc Stung Treng, và Banme-thuot còn ghi theo tiếng Lào, cho đến (1923) khi được “thủ phủ hóa” và Rhade hóa thành Buôn-Ma-Thuôt thì người ta đã lấy tên ông để gọi tên phố núi. Và nếu phải chọn một văn bản “chuẩn” nhất thì chúng ta có thể lấy nghị định 9.2.1924, lúc ấy Darlac được chia thành 27 khu, thì khu trung tâm có tên chính thức là “Secteur de Buôn-Ma-Thuôt” (chú ý cách viết có dấu gạch nối và người Pháp không có “dấu nặng”). Và bốn ông Công sứ Pháp liên tiếp được đưa đến Darlac từ năm 1899 đến 1913 lúc đó gồm Léon Bourgeois, Charles Bardin, Henri Besnard, Louis Cottez thực hiện việc hình thành nên thủ phủ là thành phố Banmé-Thuôt hay Buôn Ma Thuột ngày hôm nay.

---------------

MỘT GHI CHÚ BÊN LỀ CHƯA KIỂM CHỨNG VỀ BUÔN ALE… 

Theo mô tả của A. Monfleur (trong “Monographie de la Province du Darlac 1930”, nhà xuất bản Viễn Đông – Hà Nội in vào năm 1931, nếu lấy mốc là Tòa Công Sứ, tức Dinh Bảo Đại hôm nay, thì có một làng Rhadé tên là Ban-Mé-Thuôt, và làng này ở vị trí của Buôn Alê A (?) sau này.

Trang 17: “khi chia Tỉnh Darlac thành 27 khu vực quản lý (27 secteurs surveillance) thì “Secteur de Buôn-Ma-Thuôt” là Secteur trung tâm với 26 buôn Rhadé thành viên. Trong 26 buôn này thì các buôn Kô Sier, Păn Lăm, Ky, Niêng, Chuôr K’Nier, Sô, Buôn Tur... đều có mặt, nhưng KHÔNG THẤY CÓ BUÔN ALÊ mà lại có một buôn mới khác mang tên “Buôn-Ma-Thuôt”. Do vậy, có ý kiến cho rằng: Buôn-Ma-Thuôt (mang stt 01) trong 26 buôn, và “Secteur de Buôn-Ma-Thuôt” (?) chính là Buôn Alê (A). Chỉ là những gợi ý… (?)

Trang 23: (mô tả một số vị trí, vẫn đúng với ngày hôm nay)

“Gần hơn, là khu nhà Thanh tra mới hoàn thành, cùng các văn phòng, nhà nhân viên Trợ lý, Bưu điện, và kế đó là nhà trọ của các thư ký và phiên dịch. Về phía Tây của Tòa sứ, là khu nhà của Ban Giám hiệu trường, các phòng học, khu nội trú. Còn có một Trạm y tế gồm một số phòng, và xa hơn nữa ở cuối con đường lớn là buôn [có tên là] Ban-Mé-Thuôt, gồm khoảng 60 ngôi nhà tranh xinh xắn với gần 2.000 người bản địa, gần đó là một trại lính…” (?)

------------------

Tây Nguyên mênh mang có những phận người…

 

Vậy các tuổi tên người, những huyền thoại sống khi người Pháp lên Tây Nguyên những ngày tháng ấy để tìm gặp "Vua Lửa", “Vua Nước” chúng ta còn lại những tuổi tên nào?

Ta nhớ nhà thám hiểm Odend’hal bị giết ở chỗ Vua Lửa ngày 7 tháng 4 năm 1904 vì “tội” đòi xem gươm thần. Được báo động, ngay ngày hôm sau viên công sứ đầu tiên của tỉnh Darlac là Léon Bourgeois phải hộc tốc kéo một đoàn quân từ Bản Đôn ra. Có lẽ từ lúc đó người Pháp đã thấy việc bất tiện của việc đóng "tỉnh lỵ" ở Bản Đôn chăng? Vì khi Bourgeois đến nhậm chức công sứ Darlac, thì ở Bản Đôn có một người uy tín đến mức được coi là một huyền thoại sống. Người Pháp gọi ông ta là Khunjonob, do từ tước hiệu Khun Ju Nôb được vua Xiêm (Thái Lan) ban tặng, để gọi thay tên thông thường của ông là N’Thu K’nul theo cách gọi của người Mnông, còn người Ê Đê thì gọi ông là Y Thu.

Bản Đôn của vua Voi, chính là một phần đất của Mé Wal (Bà Val hay Bà Vầm), được “nhường” cho ông để hình thành nên “bản của những hòn đảo”.

- Y THU / KHUN SỤ LỐP, 1828 -1938.

Tây Nguyên bấy giờ vẫn đang còn tham vọng của người Xiêm. Họ thường xuyên đưa quân sang, do một nhân vật tên là Luong-Sakhon / Liong Sakhon dẫn đầu, Khunjonob còn phải tặng (?) vua Xiêm một con bạch tượng, con voi trắng quý nhất và duy nhất ông săn được. (Tước hiệu “Khun Ju Nôb” là tước hiệu khá cao quý của Vua Thái, nó có nghĩa là “Chiến Binh Dũng Cảm”, không có chữ “Voi” nào trong ý nghĩa này cả). Sau nhiều cuộc chạm trán, nhà thám hiểm và chinh phục Cupet mới đẩy được Luong-Sakhon khỏi Bản Đôn. Mấy ngày sau khi viên tướng Xiêm này chết đâu đó trong rừng, có thể do một vết thương, ý đồ của người Xiêm từ đó mới cơ bản chấm dứt. Sau khi Luong-Sakhon bị Cupet đánh bật, Khunjunob, là người hết sức thông thuộc địa thế và dân tình ở Darlac, đã khuyên Bourgeois không nên để tỉnh lỵ ở Bản Đôn nữa mà cần chuyển đến một địa điểm thuận lợi hơn về mọi mặt, cách chỗ cũ 54 km. Có lẽ Bourgeois thấy hợp lý, vì (1) tranh thủ được nhóm dân Rhadé Kpă, là bộ tộc chiếm đại đa số, (2) thuận tiện giao thông với Kon Tum, Phú Yên, Ninh Hòa, Nha Trang và cả Di Linh nữa, (3) khí hậu không quá khắc nghiệt như Bản Đôn, đất đai bằng phẳng, màu mỡ hơn… Và như vậy Banmé-thuôt trở thành thủ phủ (chef-lieu) của toàn vùng cao nguyên Darlac.

- AMA THUỘT  / Y MUN HDƠK, 18?? - 1923.

Năm sinh của ông không rõ đã đành, cả năm mất cũng mơ hồ. Vì vào đầu năm 1923 xứ Ban Mê Thuột có một đám tang rất lớn của một người Rhade rất quyền lực được nhà văn (là nhà văn, tức là theo quy ước những gì tác giả kể có thể là non-fiction, “sáng tác”) Roland Dorgeles viết và đăng trên tạp chí Les Annales Politiques số 2358, ra ngày 15-5-1930 dưới tiêu đề: “Tombeau de la Race Moi (Đám tang của một người Thượng)”. Bài này được tác giả Minh Mẫn (trích dịch một phần) là “Đám tang Ama Thuột” (tức là không theo đúng theo nguyên bản), đăng trên tạp chí Xưa và Nay, hiện vẫn đang lưu giữ tại bảo tàng Darlac.

Trích trong bài:

“Sinh thời ông Ama Thuột là một nhân vật quan trọng. Ngôi nhà của ông ta rất dài, có nghĩa là ông ta rất giàu. Cái chết của ông trùm tang tóc lên Ban Mê Thuột vì không biết ai sẽ là người thừa hưởng những con voi, trâu, ché rượu, cồng chiêng và thóc lúa ông ta để lại. Toàn thể dân Ban Mê Thuột đến dân làng lân cận, và cả các tay thợ săn voi của Bản Đôn đều có mặt lên đường từ ngày hôm trước với ngọn đao trên vai, họ đã phải qua đêm sau hàng rào của trạm bảo vệ nghỉ vì sợ bị cọp vồ. Đàn voi và bầy ngưạ dẫn đầu đám tang. Để đưa được một bậc kỳ hào đến nơi an nghỉ cuối cùng thì gào thét tốt hơn là khóc lóc. Và do đó tiếng gào thét của đám đông xô bồ ấy át cả tiếng trống. Đám tang vị tù trưởng có rất đông người dân Ban Mê Thuột, các buôn lân cận và cả thợ săn voi vùng Bản Đôn đến đưa tang. Huyệt mộ nằm trong một khoảnh rừng thưa, phải dùng đàn voi giày, làm ngã cây mới có lối vào…”. 

Vì bài dịch trên chỉ trích của “Tombeau de la Race Moi”, nên còn nhiều chi tiết mà trong bài không nêu, còn một đoạn khác:

“Một tiếng cồng thổi từ buôn của người Rhade và tôi nghĩ tiếng cồng ấy sẽ ầm vang trên bờ con suối EaTam. Có phải gió nổi lên để mang tin tức từ dòng Mékong ra biển?

Mathuot, bố già của thủ đô lau sậy này…”

Như vậy, theo bài: (1) người vừa mất có tên Ama Thuột (?) và (2) ông ấy được chôn ở ven suối EaTam chứ không phải ven suối Ea Sier.

Và như vậy, có lẽ (?) suối EaTam (Buôn Ale A) mới là Buôn của ông già Thuột, không phải Buôn Ako Sier. (?) Và cũng có lẽ vùng đất này đã được gọi theo tên ông từ những thương lái xa xưa, từ những nhà truyền đạo, những người “phương xa” lần đầu lên xứ sở này vào cuối thế kỷ XIX. Nhưng những ghi chép đầu tiên về ông lại là buổi lễ tang của ông, tức lúc ông đã chết.

Thôi thì ghi chép tuy không đầy đủ như vậy nhưng vẫn còn kịp, để ông còn thành huyền thoại của xứ sở này, như kiểu nghìn lẻ một đêm, chứ cũng không cần trăm năm bia đá…  Roland Dorgeles, tác giả của “Tombeau de la Race Moi (Đám tang của một người Thượng)” nói trên, đã ngậm ngùi khi quay về sau đám tang ông: “Cái huyệt mộ rất rộng, rất sâu đến nỗi nguyên cả một vương quốc huyễn hoặc của Ma Thuột có thể yên nghỉ trong đó. Như thể người được chôn cất không chỉ là ông Ama Thuột mà là cả quá khứ của một xứ sở. Chúng tôi vừa đặt xuống lòng đất một con người, và định mệnh đã muốn tôi có mặt để đánh lên những tiếng cồng ở bên rìa lăng mộ của ông ấy.”

- Y YÊN AYŨN, tức Ama Jhao / Mé Sao (1840 - 1905)

Huyền thoại Ama Thuột pha phất sương mù, nhưng nhiều tuổi tên của thế hệ ông lại được người Pháp ghi chép khá rõ ràng. Vì khi quay lại với vua voi Y Thu, chúng ta gặp Ama Jhao / Mé Sao với một lý lịch khá “đầy đủ” (1840 - 1905).

Vào giai đoạn ông Y Thu (1828 – 1938) tư vấn người Pháp "dời đô" từ Bản Đôn (bản của những hòn đảo) về Ban Mê Thuột (làng của ông già Thuột), một “thủ lĩnh” cùng thế hệ với ông Y Thu (và cả ông Ama Thuột?) là ông Y Yên Ayũn, tức Ama Jhao / Mé Sao (1840 - 1905), nhận lấy cái chết. Mé Sao sinh ra ở Buôn Ko Tam trong một gia đình Rhade giàu có và uy tín trong vùng. Mé Sao / Y Yên Ayũn lấy cô H’Pang Niê Blô, con tù trưởng Ama Phi của buôn Ea Yông (xã Ea Yông, huyện Krong Pak) và sang ở rể bên phía nhà vợ. Mé Sao là người mà, theo mô tả của Henri Maitre, từng tung hoành đến tận miền núi Phú Yên. Khi Mé Sao chấm dứt những ngày tháng "chống Pháp" hào hùng của mình trên vùng đất của ông làm chủ nằm dọc theo quốc lộ 21 (đường đi Ninh Hòa), khi "kẻ chống đối quyết liệt cuối cùng" đã chết, đến lúc Ban Mê Thuột bắt đầu với những bài toán mới của nó. Và một nhân vật mới sẽ được đưa đến để đối mặt với những bài toán ấy, sẽ được nhắc tên ở cuối bài.

Từ 1923 thành lập tỉnh Darlac và Ban Mê Thuột thành thủ phủ, cho đến 1931 thì xã Lạc Giao xuất hiện. Xã Lạc Giao (Lak jao, rất có thể là cách gọi tiếng Việt (?) về "vùng đất của ông Ama Lak cho", jao = cho) ra đời. Đình Lạc Giao thờ thành hoàng là cụ Đào Duy Từ (do vua Bảo Đại ban, với hàm ý "người mở cõi"). Vậy ông Ama Lak là ai? 

Y SAY (1890 -1845) chính là ông Ama Lak.

Ông là "thư ký tòa luật tục" của Darlac từ 1923, khi đó ông Y Thu là "chánh tòa". Nhưng chúng ta thấy trên bản đồ Ban Mê Thuột 1918, thì người Pháp đã "bố trí" dinh cơ / nơi làm việc của ông Y Thu rồi. Chứng tỏ ông Y Thu phải từ Bản Đôn "ra phố" thường xuyên, không chờ đến 1923, và cũng không rõ cụ thể là làm gì? Người thứ 2 chính là ông Y Say, ông cũng có tên trong bản đồ Ban Mê Thuột 1930. Không rõ vì sao chỉ có 2 ông là được người Pháp chép tên trên bản đồ của xứ sở này? Rất có thể, sau này viên Thư ký Y Say đã lên chức Thẩm phán (Assesseur) của Tòa luật tục (chức vụ tương tự Y Thuôt, con của ông Ama Thuôt vào 1923), vì nếu không, người ta sẽ chỉ gọi là ông Thông (ngôn) hoặc ông Ký (Thư ký) thay vì ông Phán (Thẩm phán, và “ông Phán Lạc” là cách sau này người dân ở Buôn Ma Thuột gọi tên ông). Ngay cả ông Y Thu là "Chánh án" (Président du Tribunal Indigène au Darlac) chắc cũng là Chánh án danh dự thôi, vì ông Y Thu lúc ấy già yếu lắm rồi (sinh 1928, năm 1923 ông đã 95 tuổi). Ông Y Say nổi tiếng ngay từ khi còn theo học tại École Franco-Indigène khóa đầu tiên 1902-1904, vị công tử Y Say này (theo nhà văn Nguyên Ngọc) rất giỏi tiếng Pháp và cả tiếng Việt.

Kể một chút qua "Tòa luật tục."

Thời nhà Nguyễn thì mỗi châu có quan Lang (Thái – Mường) và Tri Châu (Nùng – Thổ). Đến thời Pháp, khi cao nguyên thuộc lãnh thổ Trung Kỳ, tức đã là đất của triều đình Huế. Bên cạnh các "Tòa công sứ", người Pháp lập thêm các "Tòa luật tục" do người bản địa đứng đầu để "tham gia" cai quản vùng đất bằng "các luật tục của dân tộc mình". Và triều đình thì bổ mỗi tỉnh một người Việt làm "Quản đạo". Trong số các quản đạo do triều đình Huế bổ nhiệm cai trị cao nguyên, ông Tôn Thất Hối lúc đầu giữ chức quản đạo Djiring, rồi sau đổi lên làm quản đạo Darlac. Sau đó ông Tôn Thất Hối lại sang làm quản đạo tại Đà Lạt, nhưng sau ông vẫn sống ở vùng đất này. Ông mất năm 1975 tại Ban Mê Thuột. (Khu vực nhà văn hóa Thanh Thiếu Nhi bây giờ, ngày đó là khu vườn BS Niệm (Tôn Thất Niệm, con trai ông, làm "chủ sự Dân Y Viện Darlac” thời ấy.)

Quay lại ông Y Say, ông mất năm 1945. Mộ của ông do vợ (là người cung nữ được Đức Từ Cung gả cho) tên Nguyễn Thị Mùi phụng lập. Mộ cải táng của ông Y-Say và Y-Lăk (con trai ông) hiện vẫn còn, ở sát cạnh nhà thờ Giáo họ Giu-Se, phường Tân Thành. Bà Nguyễn Thị Mùi cũng mất tại Ban Mê Thuột vào khoảng thập niên 80. Bà có hai con trai, các cháu nội vẫn đang sống tại Ban Mê Thuột.

Kể thêm về mộ ông Y Thu.

Lăng mộ của vua voi Y Thu / N'Thu K'Nul do R'leo K'Nul, người kế tục sự nghiệp, cho xây dựng. Mộ có kiến trúc M'nông và Lào với mô típ hình khối đơn giản trên có trang trí hình búp sen ở bốn góc và đỉnh mộ. Và mộ của R'leo K'Nul, người nối nghiệp ông, cũng ở ngay bên cạnh, được xây dựng rất đẹp theo mô típ hình chóp nhọn của dân tộc Lào. Do hai ngôi mộ liền kề nhau và kết hợp hài hòa như một nên khách tham quan hay nhầm tưởng đây là một ngôi mộ duy nhất, và thấy mộ R' Leo lại tưởng nhầm là mộ vua voi Y Thu / Khunjunob. Kỷ vật còn lại duy nhất của vua voi Khun Ju Nob là chiếc mâm đồng trong ngôi nhà sàn độc đáo vì có mái lợp bằng “ngói gỗ” của ông. Tương truyền đây là chiếc mâm mà Khun Ju Nob thường dùng để cúng voi khi ông sang Lào săn voi. Nó được con cháu ông tìm lại và đưa về Việt Nam năm 1959.

Kể chuyện ông vua voi đời thứ 2, R’Leo Knul.

R’LEO KNUL, còn gọi là Ma Krong, là vua voi đời thứ 2. Ông cũng là người được vua Bảo Đại thường xuyên mời đi săn cùng (được đi săn với vua chúa là một vinh dự mà ít người thợ săn nào có được). Ông Ma Krong là bố vợ của công sứ Sabatier. H’Nhuôn, con gái ông, là vợ của Sabatier, mẹ của H’Nhi vì thế ông Ma Krong còn được gọi là Aê Nhi (Ông của bé Nhi). Ông qua đời năm 1947, thọ 70 tuổi. Cho đến đời thứ 3 là ông Ama Kong (1910 – 2012), tên Rhade là Y Prong Eban, tên Lào là Khăm Prong thì Ban Mê Thuột cũng chấm dứt huyền thoại về các ông vua voi.

Y THUỘT (? - 1930)

Trong "quyết định" (1923) bổ nhiệm ông Y Say làm thư ký thì chúng ta thấy có tên ông Y Thuột (con ông Ama Thuột?), làm trưởng Buôn Niêng. Chỉ thấy tài liệu này, nên năm sinh của ông không rõ, ông Y Thuột mất vào khoảng tháng 5-1930 (tức là sau cha [nuôi?] là ông Ama Thuột khoảng 7 năm). Không rõ ông Y Thuột có người con nào với bà vợ H'Wênh Alêo ở Buôn Niêng hay không. Nên chúng ta cũng không nghe ông Y Thuột là Ama gì?

Đã trôi đi những tuổi tên người…

 

Không chỉ những chủ buôn, vùng đất này còn của những già làng những trí thức những thầy giáo… như các thầy Y Jut (1888-1934), tên đầy đủ là Y Jut Hwing, được ghi nhận là tác giả chính của bộ chữ viết Êđê ngày nay, cùng với những bạn bè như Y Ut, Y Blul (bộ chữ này được đốc học Angtoamaki và Sabatier tu chỉnh lại năm 1920). Mộ ông giờ tọa lạc buôn Păn Lăm.

Và những tuổi tên khác vẫn tiếp tục tiếp nối, tiếp tục sinh ra những nhà cách mạng, những trí thức lừng danh của phố núi hiện đại: Y Ngong Nie Kdam, Y Wang Nie Kdam, Y Tlam K'bour, Y Nue Buon Krong, Y Blok Eban, Y Bih Aleo… để lịch sử một trăm năm của phố núi tiếp tục nhiều thêm tuổi tên của những con người, làm nên bề dày của văn hóa phố núi. Một Ama Kong (thế hệ cuối cùng của vua voi) vẫn còn bài thuốc cường dương thành huyền thoại, đến giờ vẫn không ngớt người tìm mua. Một Ama Hrin, chủ buôn A-Cô-Thôn hóa thành cổ tích ngay giữa lòng thành phố. (Ông Ama Hrin, bố của ca sĩ Y Jak, cùng với Y Phôn, Y Moan... cũng là những "huyền thoại sống” của âm nhạc Tây Nguyên hiện đại. Ama Hrin cũng là người coi sóc việc xây dựng Tòa Giám Mục và nhà thờ Chính Tòa của Ban Mê Thuột vào thập niên 60, hai công trình tuyệt đẹp vẫn còn giữa lòng thành phố.)

CHÀNG DON QUIJOTE (theo cách gọi của nhà văn Nguyên Ngọc)

Có một người không phải Amí Ama, nhưng theo nhà văn Nguyên Ngọc thì ông là chàng Don Quijote của xứ sở này, với nhiều mộng mơ đến không tưởng, là ông Sabatier. Có lẽ nhà văn Nguyên Ngọc cũng chịu “ảnh hưởng” từ nhà văn Roland Dorgelès (đã trích ở trên, người từng ghé thăm phố núi năm 1923.)

Ông đến nhậm chức Công sứ Darlac năm 1914, ở tỉnh này 11 năm, rồi về Pháp năm 1926. Ông là người phát hiện ra "chỉ cần dịch cần chuyển 500 mét, đã tạo cho Ban Mé Thuột một thế đứng khác hẳn, không chỉ thoáng đãng về không gian phát triển của chính nó, mà còn có thể thực sự trở thành trung tâm phát triển của cả một xứ sở rộng lớn và đầy triển vọng này." (Nguyên Ngọc)

Dưới thời ông, Ban Mê Thuột hoàn thiện các tuyến đường giao thông, kết nối khắp nơi để "tròn vai" thủ phủ Tây Nguyên như hiện nay.

Ông là người phát hiện, dịch ra tiếng Pháp các luật tục Tây Nguyên mà sau này còn pha phất bay trong các công trình nghiên cứu dân tộc học của nhiều tác giả người Việt. Ông cũng là người dịch và giới thiệu rộng rãi sử thi Đam Sam, góp phần hoàn thiện việc "latinh hóa" bộ chữ Rhade. Vấn đề sử thi Tây Nguyên, từ ông, từ Sabatier, mới được đặt ra, và đưa đến những phát hiện mới không ngờ: Cả một kho tàng văn học truyền khẩu phong phú cả về lượng và chất đến kỳ lạ, dường như bất tận, và hình như cũng chưa tìm thấy tương tự ở đâu khác…

Tôi nhớ tên ông cuối cùng. Như nhớ những sử thi, những bài trường ca. Nỗi nhớ của một thành phố một trăm năm không hề cô đơn, nó đông đủ các nhân vật, đẹp như cổ tích. Thành phố tuổi thơ tôi…


Thứ Tư, 8 tháng 7, 2020

BÉ NHÌN BIỂN tác giả LÊ THÀNH VĂN - CHƯ YANG SIN Số 334, tháng 6 năm 2020


Sổ tay thơ:

 

Nghỉ hè với bố

Bé ra biển chơi

Tưởng rằng biển nhỏ

Mà to bằng trời.

 

Như con sông lớn

Chỉ có một bờ

Bãi giằng với sóng

Chơi trò kéo co.

 

Phì phò như bễ

Biển mệt thở rung

Còng giơ ngọn vó

Định khiêng sóng lừng.

 

Nghìn con sóng khỏe

Lon ta lon ton

Biển to như thế

Vẫn là trẻ con.

                                                Trần Mạnh Hảo

LỜI BÌNH:

BIỂN VẪN LÀ TRẺ CON

           

Trần Mạnh Hảo là tác giả của nhiều tập thơ, tiểu thuyết, truyện thiếu nhi và cả lý luận phê bình. Thơ ông nồng nàn cảm xúc và có nhiều phát hiện thú vị qua hình ảnh, ngôn ngữ. Bài thơ Bé nhìn biển, bằng cái nhìn ngây thơ của bạn nhỏ, nhà thơ đã đem đến cho người đọc những cảm nhận thú vị, bất ngờ về biển - vẻ đẹp thiên nhiên thân thuộc và gần gũi trên đất nước ta.

Bài thơ có bốn khổ, mỗi khổ là một cái nhìn riêng của bạn nhỏ về biển khi lần đầu được bố đưa đi chơi vào dịp hè sang. Nhưng cái hay và độc đáo ở đây chính là bên cạnh cái dáng vẻ to lớn, mênh mông của biển, bạn nhỏ khám phá thêm nét tính cách trẻ con thật ngộ nghĩnh, nhờ vậy mà người đọc vô cùng ngạc nhiên và thích thú.

Miêu tả biển rộng, nhà thơ Trần Mạnh Hảo đưa ra một hình ảnh so sánh rất gần gũi với mọi người và cũng không xa lạ gì với các trẻ thơ:

Nghỉ hè với bố

Bé ra biển chơi

Tưởng rằng biển nhỏ

Mà to bằng trời.

Hóa ra biển không nhỏ chút nào đâu nhé! Biển "to bằng trời" nữa đấy! Khi chạm mặt biển rồi, bạn nhỏ trong bài thơ mới nhận ra biển vô cùng rộng lớn. Vậy biển rộng lớn như thế nào? Biển to bằng trời là thế nào? Các em hãy xem nhà thơ miêu tả nhé:

Như con sông lớn

Chỉ có một bờ

Với sông, thường đứng bờ bên này, các em sẽ thấy bờ bên kia. Nhưng với biển, bờ bên kia sẽ không nhìn thấy được, chỉ có thấy đường chân trời tít tắp mà thôi. So sánh như thế là tuyệt hay rồi. Song, thú vị nhất là từ cái rộng lớn vô cùng của biển, Trần Mạnh Hảo đã phát hiện thêm cái nét rất trẻ con từ biển kia. Chính cái nhìn ngây thơ và giàu tưởng tượng ấy đã tạo nên nét duyên dáng, hấp dẫn khó quên về biển:

Bãi giằng với sóng

Chơi trò kéo co

Quả là đến biển, hẳn mỗi chúng ta đều nhận ra những con sóng vỗ vào bờ rồi lại lùi ra xa, cứ thế hết lớp này đến lớp khác, như thể các bạn nhỏ đang chơi trò kéo co vậy. Sự giằng co ấy mới trẻ con làm sao, người lớn khi tham gia chơi trò kéo co cũng hóa thành trẻ con mất thôi. Phải giàu sức tưởng tượng lắm, khả năng liên tưởng thật kỳ diệu, đặc biệt là phải có một tâm hồn trong sáng, trẻ thơ thì tác giả mới viết tài tình đến thế. Đến khổ thơ này, điều thú vị và ngạc nhiên về biển đã thực sự bắt đầu.

Sau dáng vẻ của biển qua hàng ngàn lượt sóng giằng với bờ và chơi trò "kéo co" ấy, nhà thơ Trần Mạnh Hảo miêu tả âm thanh của biển cũng thật tinh tế. Tiếng biển "phì phò" như thể "biển mệt thở rung" được nhà thơ ví với cái bễ thụt hơi vào lò lửa cháy. Thích thú hơn nữa là hình ảnh những chú còng giơ gọng vó như định khiêng cả sóng lừng ngoài biển khơi. Cái bé nhỏ mà muốn thách đố với cái to lớn, hùng vĩ sao? Chính giọng thơ ngạc nhiên, hình ảnh ngộ nghĩnh và độc đáo đã làm cho khổ thơ khắc họa về biển thật ấn tượng:

Phì phò như bễ

Biển mệt thở rung

Còng giơ ngọn vó

Định khiêng sóng lừng.

Điều muốn nói cuối cùng của nhà thơ với các bạn nhỏ chính là sự trẻ con ngàn đời của biển. Biển rộng lớn là thế, nhưng biển cũng chỉ là đứa trẻ mà thôi. Hình ảnh "nghìn con sóng khỏe" giữa đại dương có khác gì hình ảnh các bé đang nô nức chơi đùa, tung tăng chạy nhảy, "lon ta lon ton" trên mặt đất này? Nhờ cách liên tưởng thật bất ngờ ấy, bài thơ khép lại bằng một cảm nhận thật tuyệt vời về biển:

Nghìn con sóng khỏe

Lon ta lon ton

Biển to như thế

Vẫn là trẻ con.

Tóm lại, bài thơ Bé nhìn biển đã làm cho người đọc ngạc nhiên, thích thú qua cái nhìn rất ngộ nghĩnh, dễ thương của bạn nhỏ. Đất nước Việt Nam có bờ biển dài, tươi đẹp, là địa chỉ lý tưởng cho các bé mỗi dịp nghỉ hè. Khám phá thêm một góc nhìn mới mẻ từ tính cách "trẻ con", hồn nhiên của biển, tác giả đã góp phần mang lại nét độc đáo và hấp dẫn cho bài thơ này. Qua đó, mỗi người Việt Nam càng có thêm tình yêu với biển đảo của Tổ quốc.




Thứ Hai, 6 tháng 7, 2020

MIỀN KÍ ỨC tác giả PHAN THÙY DUNG - CHƯ YANG SIN SỐ 334 THÁNG 6 NĂM 2020


 

 

Ngày  còn bé ai cũng mong mình lớn thật nhanh, được đi khắp đó đây, vùng vẫy với khoảng trời riêng của mình, nhưng đâu ai biết, lớn lên rồi chỉ muốn trở về những ngày ấu thơ mà cuộn tròn như một chú mèo nhỏ nằm gọn trong vòng tay  của mẹ để tham lam ngửi lấy mùi hương thơm nhè nhẹ từ mái tóc mẹ mặc cho bàn tay chai sạm ấy vuốt ve khắp sống lưng. Nhưng tất cả có lẽ chỉ là một miền kí ức xanh thẳm nằm sâu trong trái tim cùng ta đi hết cuộc đời dài rộng lắm chông  gai.

Năm đó mẹ vừa tròn đôi mươi, cái tuổi đẹp nhất đời con gái, bạn bè đang mải mê theo đuổi những ước mơ, khát vọng tuổi trẻ thì mẹ đang mang trong mình một sinh linh bé bỏng, mẹ coi đó như là kết tinh của tình yêu đầu đời với bao mộng tưởng về một mái ấm hạnh phúc. Nhưng trớ trêu thay người đàn ông mẹ tin tưởng ấy hóa ra chỉ là một gã Sở Khanh, khi nghe tin mẹ mang thai, người đàn ông đó biến mất như chưa từng xuất hiện. Họ hàng không ai chấp nhận. Mẹ bỏ ngoài tai tất cả những lời bàn tán cay độc, một mình dũng cảm mang con đến với thế giới này bằng tất cả yêu thương. Một thân một mình nơi đất khách, mẹ làm đủ mọi việc trên đời, chịu biết bao tủi  nhục để kiếm từng đồng nuôi con khôn lớn.

Ngày còn bé, tôi vẫn luôn hỏi mẹ sao nhà mình lại không có bố, các bạn ở lớp ai cũng có bố cả, riêng con thì không có, các bạn cứ chọc con mãi. Mỗi lần như thế, mẹ cũng chỉ mỉm cười rồi ôm tôi vào lòng. Cứ thế tôi lớn lên trong vòng tay mẹ, cuộc sống của mẹ con tôi cứ bình lặng như vậy, với lo toan đủ điều đè nặng trên vai mẹ. Lớn hơn một chút, tôi bắt đầu hiểu ra tại sao mình lại không có bố, chúng bạn luôn rỉ tai nhau nói tôi là đứa con hoang. Chính vì không chịu được những lời xỉa xói ấy mà tôi dần khép kín hơn, đôi khi lại trách mẹ tại sao lại như vậy, tại sao lại không thể cho tôi một mái ấm như những người khác. Khoảng cách giữa hai mẹ con cứ thế lại xa hơn một chút, tôi chẳng buồn tỉ tê với mẹ những câu chuyện vụn vặt ở trường lớp. Còn nhớ năm tôi nhận được giấy báo đậu cấp ba chuyên của tỉnh, cả đêm đó tôi vui quá mà không ngủ được, định dậy đi lấy nước uống thì thấy mẹ ở trong phòng xếp từng tờ tiền lẻ ngay ngắn thành một xấp khá dày, lúc đó chỉ nghĩ chắc mẹ lại đang đếm tiền bán của buổi chợ hôm nay. Sáng hôm sau, tôi dậy muộn hôm mọi khi, cứ tưởng mẹ đã ra chợ từ sớm nhưng vừa bước xuống bếp thì thấy mẹ vẫn đang nấu ăn, tôi thấy lạ nên hỏi:

- Hôm nay mẹ không ra chợ bán hả?

Mẹ quay đầu lại nhìn tôi rồi cười, bưng chén cháo đậu lại trước mặt:

- Ăn đi cho nóng, hôm nay mẹ nghỉ bán, đưa con đi mua chút đồ chuẩn bị nhập học!

Tôi ậm ừ, rồi vội ăn nhanh chén cháo đậu, từng miếng cháo thơm dẻo nóng hổi tan ngay trong miệng, tôi thấy mẹ nhìn tôi ăn rồi cười, khẽ vén lại tóc mai còn vương trên mặt, mẹ thật sự rất ít khi cười hay cũng có thể vì tôi vô tâm mà chẳng bao giờ để ý đến từng đường nét trên khuôn mặt mẹ. Lần đầu tiên tôi thấy cháo đậu lại ngon đến vậy, mãi sau nay lớn lên, đi nhiều vùng đất, ăn đủ món trên đời nhưng chẳng món nào sánh bằng món cháo đầu thơm dẻo của mẹ. Ăn xong, mẹ chở tôi lên chợ huyện bằng chiếc xe đạp đã cũ, mỗi lần nhấc chân lên đạp là nó lại kêu cót két, ra chợ, tôi sắm một vài thứ đồ cần thiết cho việc học. Thật ra thì tôi rất  thích có một đôi giày xịn một chút, cái đôi mà tôi đang mang đã được ngót nghét gần ba năm rồi, vì ngại mẹ không có tiền nên tôi chả dám đòi, thế rồi mẹ nắm tay tôi nói rằng:

- Mẹ mua cho con một đôi giày nhá, coi như quà của mẹ chúc con gái của mẹ đậu trường chuyện nha!

Không chần chừ gì cho lâu, tôi gật đầu liền rồi cùng mẹ đi vào tiệm giày, nhưng lựa mãi lựa mãi vẫn không có đôi nào mà tôi ưng ý, thế rồi mẹ con tôi đi khắp cả cái chợ huyện để chọn giày. Quả thật cái chợ huyện bé xíu chẳng có lấy mẫu  nào ưng ý cả, lựa tới lựa lui cả buổi trời mẹ quyết định đi chợ tỉnh. Đường lên đó cả gần hai chục cây số, tôi do dự không muốn đi nhưng rồi mẹ vẫn quả quyết muốn tìm cho tôi đôi giày đẹp nhất, trên chiếc xe đạp cũ, tôi tựa vào lưng mẹ im lặng suốt quãng đường dài. Chợ tỉnh có khác, bao nhiêu hàng quán san sát nhau nhiều không đếm  hết, hàng giày đủ loại mẫu mã, ngay lập tức một đôi giày được trưng bày trong tủ kính đập vào mắt tôi, đây chính là đôi giày mà tôi mong muốn. Tôi lay tay mẹ chỉ vào cửa hàng đó, mẹ dẫn tôi bước vào thử đôi giày ấy, nó vừa y chân tôi, chưa bao giờ tôi thấy thích một đôi giày đến vậy.  Bà chủ nhìn hai mẹ con tôi vẻ ái ngại lên tiếng:

- Đôi đó là giày xịn, hơi đắt đấy!

Quả thật, đồ xịn thì rất đắt, đôi giày ấy bằng tiền mẹ bán cả tuần trời, mua nó về rồi thì lấy tiền đâu mà mua gạo ăn, tôi im lặng hồi  lâu rồi nói mẹ rằng tôi không thích đôi này nữa. Mẹ xoa đầu tôi rồi nói:

- Không sao, mẹ biết con rất thích nó, mẹ sẽ mua cho con. Một đôi giày tốt sẽ đủ bền lâu để cùng con đi khắp mọi nơi con muốn.

Cuối cùng thì tôi cũng có đôi giày xịn, đẹp như tôi muốn, nhưng lòng tôi lại chùng xuống rất nhiều. Chưa bao giờ tôi quan tâm mẹ nhiều như cách mẹ yêu thương tôi, có lẽ quãng thời gian tôi thờ ơ ấy mẹ đã buồn rất nhiều. Mẹ không tiếc tiền bạc hay thậm chí là cả thanh xuân dành cho con, ấy vậy mà tôi lại tiếc chút thời gian cùng mẹ trò chuyện, tâm sự, tôi lại không thể mở lòng mà thấu hiểu cho những tủi nhục mẹ vì tôi mà gánh chịu.

Con đường về nhà ngả chiều, bóng hai mẹ con một cao gầy, một bé nhỏ in dài trên mặt đường loang lỗ. Chiều hôm đấy cũng là lúc tôi thấy dường như mình đã lớn hơn, mình cần phải cố gắng thật nhiều vì mẹ và cũng vì bản thân. Không có bố thì sao? Là con hoang không ai cần đến thì sao? Tôi vẫn sống rất tốt cùng với tất cả yêu thương đẹp nhất của mẹ, tôi vẫn là món quà quý giá nhất mà ông trời ban tặng cho mẹ.