Thứ Sáu, 4 tháng 9, 2020

BÊN KIA ĐƯỜNG BIÊN truyện ngắn của NAM GIAO - CHƯ YANG SIN SỐ 336 THÁNG 8 NĂM 2020

 


 

P và nhiều người khác bị chuyển đi ngay sau khi có kết quả xét nghiệm. Tất cả họ, hơn bốn mươi người nghi nhiễm một loại virut đặc biệt. Loại virut này, tính đến thời điểm hiện tại chưa có bất kỳ một phương thuốc nào chữa khỏi hoàn toàn. Trước khi bị nhồi nhét lên một chiếc xe bus cỡ lớn, P được biết rằng anh đang mắc phải một loại bệnh truyền nhiễm gì đó cần phải cách ly ngay lập tức, không thể chậm trễ.

Trên chuyến xe, chừng ấy con người lao nhao không thể tả. Ai nấy đều đang cảm thấy mình rất khỏe mạnh, việc nhiễm một loại virut gì đó nghiêm trọng như kết quả xét nghiệm máu mà bệnh viện X công bố là hoàn toàn sai lầm, hoặc có nhầm lẫn gì ở đây. Nhưng, lệnh cách ly đã được thông qua, dù tất cả họ có đang cảm thấy như thế nào đi nữa thì vấn đề cách ly vẫn phải được tiến hành, nếu không "mọi chuyện e là khó kiểm soát" như lời vị bác sĩ khẳng định.

Sau một hồi ồn ào mà không thu được kết quả gì, mọi người trên xe bắt đầu im lặng dần, chiếc xe vẫn chạy về phía hướng tây của thành phố. P ngồi hàng ghế số 4 từ dưới lên. Trông anh có vẻ đang suy nghĩ về một vấn đề gì đó. Ba mươi hai tuổi, anh đã kết hôn và có một cô con gái lên ba, có một công việc ổn định trong một công ty liên doanh, đã sắm được một ngôi nhà chung cư hạng vừa. Với anh, những tháng ngày của cuộc đời đang trôi qua trong yên lành. Thế nhưng bây giờ, sau cái kết quả xét nghiệm máu chết tiệt kia. Anh đang mắc virut. Nhưng là loại virut gì? Vì sao lại lây lan, và vì sao anh lại bị nhiễm bệnh là những câu hỏi cứ quanh quẩn trong đầu P mãi không thôi. Dường như, tất thảy những con người trên chuyến xe này đều đang suy nghĩ giống anh thì phải.

Báo cáo của bệnh viện lên cơ quan có thẩm quyền. Đã có người mắc virut và tình hình có thể tồi tệ hơn trong những ngày tới. Đây là điều mà những người nghiên cứu về căn bệnh này đã biết và chuẩn bị từ rất lâu. Từ  khi ốc đảo phía tây được giải tỏa để xây một tòa nhà kỳ lạ. Tòa nhà được xây nằm lọt thỏm giữa một vùng đất khá rộng, xung quanh thiết kế theo kiểu mê cung với những tường thành bằng đất được đắp cao như đê chắn lũ. Tòa nhà chỉ có mỗi cổng chính, không có cổng phụ, dạng block như chung cư nhưng được đánh dấu theo ký tự La Mã. Bên trong tòa nhà còn có cả một bệnh viện và… một khu nghĩa trang. Ban đầu khi dự án được triển khai ở vùng này, người dân trong vùng nghĩ rằng người ta sẽ biến khu này thành một khu dân cư đông đúc. Nhưng, những gì họ dự đoán đều không chính xác, tòa nhà như cách biệt với thế giới bên ngoài, ở đây không hẳn là nhà tù nhưng mọi thứ đều im ắng và tách biệt như những nhà tù vậy.

Bác sĩ K, cũng là người có chuyên môn cao đang nghiên cứu về loại virut này phát biểu trước một cuộc họp khẩn:

- Mọi lo lắng của chúng ta cuối cùng đã đến. Không phải một hay hai cá nhân bị mắc bệnh mà con số đã lên hàng chục người. Điều đó cho thấy, loại virut này lây lan một cách nhanh chóng và khó kiểm soát. Chúng ta cần phải rà soát và thống kê tính đến thời điểm hiện tại đã có bao nhiêu người bị mắc bệnh trên toàn lãnh thổ.

Bác sĩ K vừa dứt lời một thành viên trong cuộc họp phát biểu:

- Nhưng không thể bắt buộc mọi người đều phải đi xét nghiệm máu. Vì cách duy nhất để biết người ta có nhiễm bệnh hay không thì chỉ có xét nghiệm mới biết được.

- Vẫn còn cách phát hiện người bị nhiễm bệnh khác thông qua biểu hiện của họ, nhưng tôi e rằng, khi bệnh đã biểu hiện ra bên ngoài thì không thể cứu vãn được, và nguy cơ lây nhiễm sẽ tăng theo cấp số nhân. Ông K thở dài nhìn mọi người.

Người chủ trì phiên họp nãy giờ chỉ biết chống cằm lắng nghe. Khuôn mặt bà ấy đăm chiêu, nhăn nhúm như một vết sẹo dài, bà ấy thở dài rồi bảo "Chẳng lẽ chúng ta đang đứng trước một đại dịch mà không có cách gì ngăn chặn được hay sao?".

Chiếc xe bus dừng lại trước một tòa nhà. P bây giờ mới nhìn ra bên ngoài. Trời đã về chiều, nắng vẫn còn rải lên khu nhà một vệt vàng sáng, bầu trời xanh lơ, trên những con đê đắp cao xung quanh tòa nhà, cây xanh đã phủ um tùm làm P có cảm giác như đang ở trong một thung lũng, mà tòa nhà sáu tầng kia là một khu nghỉ dưỡng nào đó. Nơi đây, không khí dễ chịu vô cùng.

Mọi người xuống khỏi xe, cánh cửa được mở. Mấy chục người được chia theo thành nhóm tùy theo mức độ nhiễm virut mà bệnh viện xác lập được. P và vài người nữa được chuyển về khu đánh dấu XI, mà người đưa họ đến đây đã thì thầm vào tai P như chúc mừng, bởi khu P tới là khu dành cho người vừa mới bị lây nhiễm.

- Đây là căn bệnh có tên "suy mòn mãn tính", loại virut của căn bệnh này sẽ tấn công vào não, cột sống và các mô trong cơ thể khiến con người gầy đi rất nhanh, điểm đặc biệt dễ nhận biết của bệnh này là đôi mắt người nhiễm bệnh sẽ trở nên lờ đờ nhưng cơ thể họ đột biến và thay đổi tính nết và trở nên cực kỳ hung dữ. Người sẽ gầy chỉ còn da bọc xương, và cơ thể sẽ bị chứng lở loét khó lành như bệnh nhân tiểu đường bị biến chứng. Bệnh sẽ phát nhanh hay chậm tùy vào cơ địa của mỗi người. Đó là tất cả quá trình diễn tiến của bệnh. Ông K đặt xấp tài liệu trên tay mình xuống nhìn mọi người. Bên trong phòng họp, mọi người bắt đầu bàn tán trong lo lắng. Kết thúc cuộc họp, mọi người đứng dậy nhưng chân như có đá đè bước đi không nỗi, không ai dám chắc rằng, trong số những người ngồi trong phòng này, ngày mai, ngày kia lại có những biểu hiện đáng sợ như ông bác sĩ K vừa trình bày.

P được đưa về phòng. Đó là một căn phòng tầm mười mét vuông, gồm một chiếc giường được trang bị đầy đủ như một phòng bệnh nhân trong bệnh viện hạng sang. Căn phòng nằm ở tầng trệt gần với khu nghiên cứu. Lúc đứng phía trước cửa phòng, nhìn sang khu nghiên cứu P đã có cảm giác mình y như sắp thành một cá thể nghiên cứu của một căn bệnh nào đó chưa xác định được. Sau một buổi chiều di chuyển, khoảnh khắc được đặt lưng xuống nằm dài đối với P thật là thoải mái. Giờ này ở nhà, chắc vợ anh đã đi đón cô con gái nhỏ và chuẩn bị nấu cơm tối. Không biết bệnh viện đã báo rằng anh phải cách ly với cộng đồng cho gia đình anh biết chưa. Mọi phương tiện liên lạc đã bị tịch thu trước khi lên chuyến xe kia, giờ có muốn nghe giọng cô con gái thỏ thẻ gọi "Ba ơi.., ba ơi.." cũng khó.

Cái căn bệnh quái quỷ gì mà anh đang mắc phải? Anh nguyền rủa cái con virut điên khùng tại sao lại chọn anh mà không phải là một ai khác. Mà một ai khác cũng không được. Như vậy khác gì mình cầu người ta mắc bệnh. Anh ước giá mà không có con virut này tồn tại thì cuộc đời sẽ hay ho hơn biết bao nhiêu. 

Suy nghĩ một hồi P đã chìm vào giấc ngủ hồi nào không biết rõ. P thấy mình đang đi lang thang trong khu cách ly, lạ quá, ở khu I sao phòng bệnh cứ y như cái nhà tù, đằng sau những song sắt, những người hôm trước ngồi trên chuyến xe bus với P giờ khác hẳn. Sao họ gầy rộc đi nhanh thế, không lẽ khu ấy người ta không cho họ ăn cơm. Sao trông họ có vẻ như đau đớn vậy. P đi vòng vòng sang khu II anh mừng rỡ thốt lên” "Chị H kia rồi, cái chị hôm ngồi cùng dãy ghế với mình. Mà sao những người kia lại trói chị vào giường. Chị bị làm sao mà giống người nghiện lên cơn thế kia. Mà sao những người làm việc trong khu này lại bịt kín từ đầu tới chân, bộ đồ họ mặc trên người là chất liệu gì mà lạ vậy nhỉ?".

Lang thang một hồi P thấy mình đã đứng trước khu nghĩa trang. Ôi, P thốt lên không thành tiếng. Những người kia được chôn cất sao lại phải rải cái thứ bột trăng trắng lên như người ta rải vôi khi tiêu hủy lợn, bò, gà vịt vậy nhỉ? Sao không làm ma chay, sao không đặt họ vào trong những chiếc quan tài, họ là người kia mà..

P bừng tỉnh khi anh thấy như có ai đó đang rượt đuổi mình. Anh choàng ngồi dậy, vừa hốt hoảng vừa mừng rỡ, chỉ là một giấc mơ. Nhìn ra phía bên ngoài, trời đã tối. Khay cơm tối đã được ai đó đặt vào phòng, bên cạnh còn có một mẫu giấy bảo rằng chừng hai tiếng nữa anh sẽ được lấy máu xét nghiệm để kiểm tra lần nữa. P nhìn khay cơm trên bàn, bên ngoài, khu nghiên cứu điện sáng trưng, phía xa xa bầu trời tối đen như ngày đầu tháng không có trăng. Anh thấy cơ thể mình rã rượi sau giấc mơ kỳ lạ đó. Liệu đó có phải là tất cả những gì sẽ diễn ra với anh trong những ngày tiếp theo hay không? P không biết, cũng chẳng ai trả lời được điều gì cả. Anh ngồi nhớ lại đến từng chi tiết của giấc mơ kỳ lạ kia rồi thấy hoảng sợ vô cùng. Có phải giấc mơ đó là điềm báo không? Có phải rồi anh sẽ trải qua những giai đoạn như vậy và kết thúc cuộc đời này ngoài cái nghĩa trang trắng xóa ngoài kia không? P không biết, dường như anh chằng giữ được bình tĩnh nữa. Nếu điều đó xảy ra với tất thảy những con người trên chuyến xe bus chiều nay đến đây, tất cả họ đều không trở về? Ai sẽ cứu P và cứu họ. P càng nghĩ càng thấy rối bời, rồi anh tự trấn an mình rằng mọi chuyện sẽ ổn, anh sẽ ăn, sẽ cầu nguyện, sẽ điều trị và sẽ trở về. Mọi thứ rồi sẽ tốt đẹp, anh còn cả những ngày dài phía trước. P đứng dậy, với tay lấy phần cơm của mình. Bên ngoài hành lang, những tiếng xôn xao rất rõ của nhiều người trong khu nghiên cứu, P đến bên cửa sổ, vén tấm rèm và nhìn ra bên ngoài. Trong đầu anh cứ lờn vờn mãi không hiểu tại sao mình lại ở đây, và cái cảm giác rờn rợn đang bủa vây P lúc này thật khó chịu. P quay người định quay trở lại chỗ khay cơm, chợt có tiếng gõ cửa, rồi có tiếng xoay khóa. Một cô gái đang mặc bộ đồ cách ly bước vào phòng với khay dụng cụ trên tay

- Tôi đến để lấy máu xét nghiệm như đã nhắn.

P chẳng nói gì, bước tới nằm lên giường, kéo ống tay áo để cho cô y tá chọc kim vào ven nơi khuỷu tay mình. P nhắm mắt, cảm giác như đang nghe rõ dòng máu đang bị giật lùi ở cánh tay để chạy vào xilanh.

Xong việc, cô gái nhìn vào khay cơm, cô bảo:

- Anh nên ăn một chút khi còn cảm thấy ngon miệng.

P bị đánh thức bởi tiếng xoèn xoẹt vọng lại từ bên ngoài, dường như là tiếng cưa máy. Lạ thật, một nơi dùng để cách ly người bệnh lại bị làm phiền nhiễu bởi âm thanh gắt gỏng này. P cố để ngồi dậy. Cơ thể anh hôm nay dường như đã phản bội anh, tất cả mọi thứ đều như muốn nằm ỳ ra biểu tình. 

Cố hết sức để đến gần bên ô cửa sổ, kéo tấm rèm. Trước mắt P là nghiêng ngả những cây xanh bị đốn hạ, sườn đồi, những gốc cây đỏ au đang ứa nhựa ra từ những vết cắt. P xoay người, nhìn một lượt xung quanh phòng bệnh để tìm một chiếc gương bởi anh bắt đầu cảm thấy như đang có đám chấy rận bò dưới da mình, cảm giác ngứa ngáy không thể chịu được, từ mang tai lan dần ra cả khuôn mặt rồi di chuyển rất nhanh khắp toàn bộ cơ thể… P bắt đầu giãy dụa, tự cấu xé vào cơ thể mình. Cảm giác kiệt quệ trước đó dường như biến mất hoàn toàn, P lúc này chẳng khác gì một con thú đang vùng vẫy cố gắng thoát khỏi chính cơ thể mình như con thú cố cứu mình thoát khỏi cái bẫy.

Tiếng còi báo động làm cơn cuồng nộ trong P trỗi dậy mạnh mẽ hơn nữa. Anh quay cuồng xé toạc quần áo trên người, những vết xước, vết cắn bắt đầu chảy máu. Từ phòng nghiên cứu, vài người đàn ông trong bộ đồ cách ly chạy vội về phía phòng P. Cánh cửa bật mở. P vụt chạy ra ngoài như không hề có bất cứ một vật cản nào. Dưới nắng, một cơ thể trần truồng, rướm máu đang chạy như bay về phía ngọn đồi với những gốc cây đỏ au đang ứa nhựa.

 


Thứ Năm, 3 tháng 9, 2020

YÊN BÌNH MỘT MIỀN CAO NGUYÊN bút ký của H’LINH NIÊ - CHƯ YANG SIN SỐ 336 THÁNG 8 NĂM 2020

 


 

Tôi chẳng từng nói với bạn rằng “mỗi bước chân đi trên miền cao nguyên sẽ bắt gặp một lung linh huyền thoại” đó sao. Tin hay không thì tùy, nhưng cứ đến huyện Lắk quê tôi đi, chưa cần phải tới soi mình trên mặt hồ đã gặp đá Voi, mà theo huyền tích mỗi năm lại tiếc nuối nhích một chút bước chân khổng lồ về phía xanh xanh rừng dường như ngày càng xa thăm thẳm. Bạn đã nghe câu chuyện chàng trai đứng trên đỉnh núi cất tiếng hát gọi người yêu, để rồi  đợi chờ quá lâu nên hóa đá thành thần Sin chưa? Cô gái đến muộn chẳng được gặp người yêu, buồn thương biến thành những tấm khăn mây trắng nõn ngày ngày choàng ôm đỉnh núi. Ừ, đứng trên đỉnh Yang Sin còn ngắm được hàng vạn đóa hoa sen, hoa súng hồng hồng rung rinh trên mặt nước hồ thơ mộng, nghe kể câu chuyện cổ về anh em chàng Lăk, Liêng được Yang cho con lươn thần, quẫy, dũi thành chiếc hồ rộng mênh mông hơn 500ha, cho dân các buôn làng quanh vùng không bao giờ thiếu nước, kể cả những tháng ngày cao nguyên bỏng khát bởi Yang sấm sét mải chơi không gọi mưa về tưới tắm.

Vì những cảnh đẹp đầy màu sắc truyền kỳ ấy, mà huyện Lắk  trở thành một cái tên hấp dẫn trên bản đồ du lịch thế giới. Có rất đông du khách trong và ngoài nước bị những huyền thoại kể trên rủ rê, mà nườm nượp kéo đến ngắm hồ, bơi thuyền độc mộc hay dạo chơi trong khuôn viên xanh mát cây cổ thụ, xưa từng là điểm dừng chân của vua Bảo Đại mỗi lần ngẫu hứng cưỡi voi săn bắn thú rừng.

 Những truyền thuyết hư hư thực thực ấy thuộc về 24 dân tộc anh em, trong đó 60% là đồng bào dân tộc thiểu số, 50% số cư dân này là người Mnông Rlâm, Mnông Gar, bên cạnh một vài nhóm Êđê, Bih và các nhóm Tày, H’Mông… từ phía Bắc chuyển cư vào tìm đất sản xuất. Nơi cách nay già nửa thế kỷ, nhà khoa học trẻ người Pháp G. Comdominas  ngùn ngụt tâm thức cống hiến, đã dựng lều sống chung cùng bon làng, để rồi họ cùng ông tìm ra bộ đàn đá cổ xưa nhất của loài người; hiện vẫn đang trưng bày trong bảo tàng Con Người ở kinh đô ánh sáng Paris, minh chứng cho tài hoa và thẩm mỹ âm nhạc tuyệt vời của người bản địa quê tôi. Người Mnông cũng như nhiều cư dân Tây Nguyên khác, nổi tiếng là chất phác, hiền lành và thân thiện.

Thông thường, một miền đất có đông bà con các dân tộc thiểu số cùng chung sống, chắc chắn người ta sẽ nghĩ ngay đến việc tiềm ẩn những điều bất ổn về an ninh chính trị. Bởi tập tính bà con thường rất dễ tin, lại vốn có tập quán “bầy đàn” dễ làm theo phong trào. Dù tốt hay là không tốt chưa biết,  nhưng cứ người mình nói với nhau bằng tiếng mình là tin đã. Nhất là huyện Lắk có tới 85 % đồng bào các dân tộc thiểu số là tín đồ của đạo Tin lành hay Công giáo (chưa kể Phật giáo, Hòa Hảo hay Cao Đài). Và có hơn 900 đối tượng, đủ thể loại cũ, mới, cần phải tiếp cận, dõi theo thường xuyên. Huống gì vào thời buổi công nghệ 4.0 này, mạng xã hội là phương tiện giao tiếp dễ dàng, nhanh chóng với toàn thế giới; thông tin, thậm chí là sự chỉ đạo từ xa cũng đâu có khó khăn gì. Bên cạnh đó, trong một năm số lượng khách nước ngoài đến tham quan, du lịch tại đây có tới hơn 3.300 lượt. Ấy vậy mà khi làm việc cùng các cán bộ lãnh đạo và trinh sát của Đội An ninh, Công an huyện Lắk, tôi luôn gặp những cái lắc đầu và những lời cam kết chắc nịch “không có chuyện gì bất thường hay nổi cộm”. Bản báo cáo năm 2018 về “Công tác đảm bảo an ninh trên địa bàn huyện Lắk” có ghi rõ “tương đối ổn định, không xảy ra vụ việc nào ảnh hưởng tới an ninh quốc gia”. Hay trong báo cáo 6 tháng đầu năm 2019 “tình hình an ninh nông thôn không có vụ khiếu kiện nào vượt cấp, hoặc kẻ địch lợi dụng chống đối chính quyền ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh trật tự”. Không có điểm nóng. Không có sự tập trung đông người biểu tình. Không vượt biên… Thật lạ! Khiến lúc đầu tôi cũng hơi băn khoăn.

Tất nhiên, khi đi sâu vào công việc, các anh cũng kể cho chúng tôi nghe nhiều chuyện. Như vụ tranh chấp đất đai tại buôn Mih, buôn Diăm và buôn Dlei xã Đăk Nuê. Vốn từng là đất rẫy truyền thống cũ của các buôn theo phương thức canh tác luân khoảnh truyền thống, nay được giao 50 năm cho Công ty Agrilăk  để trồng cao su nhưng không hiệu quả, cũng không quản lý được, nên địa phương lại giao cho Lâm trường Lắk trồng rừng, cũng không có hiệu quả nốt. Công ty đem một số diện tích phân lô bán nền; hoặc liên kết cho người dân tạm sản xuất cây ngắn ngày, nhưng chỉ cho hưởng 30% thu nhập từ hoa lợi. Kể cả người dân những buôn được thủy điện Tuor Sra đền bù bằng tiền, nhưng không có đất sản xuất, thấy vậy cùng đổ xô vào lấn chiếm đất làm rẫy, rồi nảy sinh khiếu kiện lẫn nhau. Đội đã  yêu cầu cả hệ thống chính trị địa phương vào cuộc, phối hợp với các già làng, người có uy tín trong buôn tuyên truyền, giải thích, vận động. Cùng chính quyền tổ chức đối thoại với dân, yêu cầu cả hai bên dừng công việc, ngừng tranh chấp. Công ty không được chia chác đất đai thành thổ cư sai nguyên tắc quản lý, bà con cũng không nên xuống giống trồng cây lưu niên. Rồi sau đó khảo sát rồi giải quyết cấp 34 ha đất cho các hộ nghèo, những diện tích nào dân đã trồng cây, Công ty không được thu hồi. Vụ việc được vậy là xong xuôi.

Hay một cách giải quyết có lẽ chỉ mới thấy ở Công an huyện Lắk, là vụ đập phá tài sản ở buôn Liêng Két, do trời tối lại khẩn cấp nên Đội Hình sự đã bắt nhầm một người dân bị ho lao. Vị buôn trưởng liền đứng ra đánh kẻng, tụ tập người 3 buôn mang theo xà gạc, dùng 7 xe càng chuẩn bị kéo lên huyện đòi thả người. Cả Đội An ninh đã nhanh chóng đến hiện trường, sau 2 ngày cùng già làng vận động, mới nguôi được cơn giận. Dân yêu cầu công an phải đến tận nơi xin lỗi. Đại tá Nguyễn Mạnh Hường, Trưởng công an huyện lúc ấy đã xuống ngay, thay mặt chiến sĩ ngỏ lời xin lỗi, câu chuyện được dẹp yên. Hoặc vụ thông qua facebook rủ rê người vượt biên kiếm việc làm lương cao, Đội đã làm việc với 40 người, trong đó có 2 cốt cán, lắng nghe, thấu hiểu để tuyên truyền, vận động người dân tập trung vào phát triển kinh tế bền vững, không nghe lời kẻ xấu.

Trung tá Y Tiêng Păng Sơr, người dân tộc Mnông, quê tại Lắk, Phó đội trưởng, có thâm niên tới 28 năm làm công tác an ninh, nhà ở ngay buôn Yang Lang, hồ hởi khoe “buôn mình không có người xấu đâu. Bà con chăm lo làm ăn phát triển kinh tế hộ. Chỉ phải cái thiếu đất sản xuất nên còn nghèo thôi, chứ đoàn kết với nhau lắm”. Điều ấy cũng được chứng thực khi chúng tôi ghé thăm già làng và mục sư ở buôn Biăp, buôn mang tên một loại lá nấu canh đặc sản ngọt lịm từng mọc rất nhiều ở đây – lá bép.

Nếu đâu đó ở vùng đồng bào dân tộc còn nghi kỵ, chưa thật sự hợp tác và yêu mến công an, thì sự gắn bó và tin tưởng vào các anh lại  bộc lộ rất rõ trong chia sẻ của già làng buôn Biăp, một trong 3 buôn kết nghĩa của công an huyện Lăk, cụ Y Si Ô Alêo vui vẻ cho biết mọi lễ lạt theo hình thức mới hay mang tính truyền thống xưa, các trinh sát đều có mặt chung vui cùng bà con. Các anh còn quyên góp xây dựng căn nhà tình nghĩa có cả nhà bếp riêng cho một hộ nghèo, trị giá gần 100 triệu đồng. 

Y Jiam Bơng Ting, vị mục sư điển trai sinh năm 1970, có bằng cử nhân lâm nghiệp trường Đại học Tây Nguyên, được ơn mà đi làm việc Chúa, cũng rất hồ hởi khi kể “Nhà nguyện buôn Biăp là một trong ba địa chỉ nguyện khang trang ở huyện Lắk. Nơi này là vùng thuần đạo Tin Lành, nhờ sự giúp đỡ qua mọi thủ tục của nhiều cơ quan, trong đó quan trọng nhất là của Công an huyện, mà từ 2015 đến nay hàng tuần các tín đồ đã có được nơi tụ hội”. Vậy nên khi già làng đặt vấn đề để cho tiếng thì thụp ấm áp của ching Mnông bay lên, góp phần gìn giữ và bảo tồn văn hóa tộc người, các nghệ nhân sẽ luyện tập lại các bài bản, mong được tấu ching đón và tiễn khách mỗi sáng chúa nhật ở cửa nhà nguyện, mục sư đã vui vẻ tiếp nhận, hứa sẽ làm đơn xin ý kiến giáo hội, đồng thời đề nghị Công an và Văn hóa huyện cũng cần có tiếng nói ủng hộ, để mọi việc thuận lợi hơn. 

75 mùa mưa nắng, dáng dấp nhanh nhẹn, chữ viết rất đẹp, đọc vanh vách mọi thông số của buôn và nói tiếng Pháp “như gió”, già làng Y Si Ô kết luận chắc nịch “Buôn Biăp trở thành nơi yên ổn nhất, thành tấm gương điển hình cho các buôn toàn huyện là nhờ có sự tuyên truyền vận động sát sao và tình nghĩa của anh em công an”.

Sự “tỏa bóng” của Đội An ninh Công an huyện Lăk còn được nhắc đến trong câu chuyện cùng các lãnh đạo Vườn quốc gia Cư Yang Sin, khi các anh chị em không chỉ sát cánh cùng tập thể Vườn làm công tác tuyên truyền, vận động người dân tham gia nhận khoán giữ rừng, để gần 10 năm nay không xảy ra vụ cháy nào (như  ở buôn Biăp, nơi có 29 hộ người Mnông, nhận chăm sóc 855 ha rừng tự nhiên, cũng không có bất cứ một vụ cháy nào); mà trinh sát còn có mặt ngay sau khi nhận được thông tin những vụ việc diễn ra trong khu vực Vườn, sẵn sàng hỗ trợ. Điển hình là mới đây, vụ hai người dân H’Mông đi săn trái phép, khi bị bắt giữ chó săn, đã chặn đường nổ súng khiến một cán bộ kiểm lâm bị thương nặng. Hoặc xác minh nguồn gốc vụ đào 9 gốc hương cổ thụ, trong đó có 3 gốc thuộc địa bàn rừng. Hai bên còn cùng phối hợp xây dựng các mô hình điểm “Toàn dân tham gia bảo vệ an ninh”, nhất là trong việc tuyên truyền để thu hồi súng tự chế của bà con người H’Mông, vốn quen dựng nhà rải rác ở trên đồi, giữa rừng.

 Dù phải đến hiện trường bằng phương tiện xe máy vi vu trên đường nhựa êm ru hay chắc tay lái trên đường cấp phối nảy người như nhảy hip hop, ngồi thuyền ngắm dòng sông Krông Ana êm ả, hoặc lội bộ xuyên những cánh rừng gai góc, nằm vùng tại các địa bàn xa xôi hiểm hóc, các trinh sát của đội đều không quản ngại, bởi đó là “nhiệm vụ phải thi hành”, đấy là lời của Thượng úy Hà Thị Thu Hiền trẻ trung, xinh đẹp, người dân tộc Thái.

Nói đến Đội An ninh Công an huyện Lắk, phải kể  đến hai “nhân vật” nổi bật, đó là Đội phó Y Thuận Niê, dân tộc Êđê. Tốt nghiệp trung cấp an ninh năm 1989, anh công tác ở Công an huyện Ea Sup một thời gian, đến 1990 mới được trở về quê nhà, ở huyện Lăk. Trong những năm 2001-2004, khi những kẻ ngoài biên giới lợi dụng sự cả tin của đồng bào dân tộc, khuấy động phong trào theo Fulro đang diễn ra vào hồi quyết liệt, có khi anh phải đóng một lúc hai vai cán bộ ngân hàng, thợ sửa điện… để không chỉ vận động người dân, mà còn khai thác, bóc gỡ các đối tượng cộm cán, không để xảy ra vụ biểu tình nào. Như vụ cùng đồng đội ở Công an tỉnh bắt giữ Y Sok Niê ở huyện Krông Buk, Nay Tuyên ở buôn Ea Choh, xã Ea Rông (Lắk).  Anh bảo “mình suốt đời gắn bó với an ninh dân tộc. Nay mai có nghỉ hưu về làm dân thường cũng vẫn tiếp tục cùng đồng đội giữ bình yên quê hương”.

Người thứ hai là Đội trưởng, Đại úy Lê Văn Công. Trẻ, đẹp trai, ngại tự nói về mình, anh dường như tránh mặt, nhưng qua chuyện kể của đồng đội, cũng có thể hiểu được. Với vai trò là Đội trưởng, Bí thư chi bộ, anh không chỉ làm tốt việc chỉ đạo thi hành nhiệm vụ thường ngày hay bất thường của toàn đội, tham mưu kịp thời và đúng lúc, đúng đối tượng cho lãnh đạo xử lý công việc phát sinh; mà còn trực tiếp cùng trinh sát xuống buôn, gặp gỡ đối tượng, tìm hiểu hoàn cảnh, tâm tư nguyện vọng, ngăn chặn ngay từ đầu những biểu hiện ảnh hưởng tới an ninh trật tự. Bên cạnh đó là việc nắm vững, thấu hiểu tình cảnh khó khăn, vướng mắc trong  kinh tế, trong đời sống, nhất là của đồng bào dân tộc, để tham mưu, đề xuất với lãnh đạo huyện những chủ trương, chính sách  khác biệt với từng buôn, từng dân tộc tại chỗ hay chuyển cư. Thông thuộc địa bàn, thân thiết với người dân từng buôn làng như trong gia đình.Vượt qua rào cản những ngày đầu về ngôn ngữ, phong tục tập quán hay văn hóa khác biệt, khi  gật gù cầm cần bên một ghè rượu, lúc gắp  những miếng cá, thịt chế biến “chẳng giống ai” bỏ vào chén; để trả lời câu nói của bà con, rằng “bụng người Kinh có tốt hay không, cứ ăn được, uống được cùng người dân tộc mới biết”. Đến buôn Biăp hay buôn Dơng Guôn, hỏi người dân ai cũng biết công an Công, công an Thuận, Y Tiêng, Y Teh, Huệ…

Đại úy Lê Văn Công đã sát cánh cùng đồng đội giúp người dân hiểu rõ các chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước, để không nghe, không tin, không làm theo lời xúi giục của kẻ xấu. 5 năm liền Lê Văn Công đạt danh hiệu Chiến sỹ thi đua cơ sở, được Giám đốc Công an tỉnh, Đảng ủy, Ủy ban nhân dân huyện Lắk tặng giấy khen.

Đội An ninh Công an huyện Lắk có đến 21/26 anh chị em là người các dân tộc Êđê, Mnông, Tày, H’Mông, Thái… trong đó người ít thì mới về đội 3 năm như Trung úy Y Teh Buôn Krông, dân tộc Êđê; người thâm niên lâu nhất 34 năm như Trung tá phó đội Y Thuận Niê. Có 20 chiến sĩ đã qua bậc đại học chuyên ngành. Bên cạnh bản lĩnh vững vàng, ý thức trách nhiệm vì dân cao, yêu mến và tự tin ở nghề nghiệp được đào tạo chính quy, họ đều thông thạo ngôn ngữ, thông thuộc địa bàn, dễ dàng tiếp cận với bà con, gắn bó với buôn làng, để lại những dấu ấn không quên cho người dân. Ở sân rợp mát bóng cây cổ thụ của Công an huyện Lắk có một câu khẩu hiệu rất hay để ngày ngày nhắc nhở “Thức cho dân ngủ ngon. Gác cho dân vui chơi. Lấy niềm vui, hạnh phúc của nhân dân làm niềm vui, hạnh phúc của cán bộ, chiến sỹ công an”. Bên nhau, họ đoàn kết để cùng thực hiện tiêu chí ấy, hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ an ninh chính trị, an toàn trật tự của một miền đất đầy huyền thoại. Xứng đáng là một tập thể nhiều năm liền được trao danh hiệu  tiên tiến xuất sắc của công an Đắk Lắk.

Việc giữ gìn sự yên bình ở một miền cao nguyên xa xôi có đông bà con người dân tộc thiểu số, lẫn sự đa dạng về tôn giáo, chắc chắn là những công việc không ít những khó khăn chẳng ở đâu giống đâu. Vậy mà Hà vẫn rất lãng mạn khi kể chúng tôi nghe về địa bàn hoạt động của mình. “Cô nhìn lên  mà xem. Trên đỉnh núi cao hơn 2.400m, chỗ cái mỏm đá gù gù ấy phía bên này thuộc huyện Lắk là rừng kín, thường xanh, khí hậu mát mẻ. Phía bên kia cánh rừng thông bạt ngàn thuộc huyện Krông Bông, khí hậu nóng hơn. Đúng như lời Phó giám đốc Vườn Quốc gia Cư Yang Sin nói, trên đó, thông hát reo vi vu, mây trắng mềm mại từ dãy núi Cư Jut, Cư Yang Reh thường dồn về quẩn quanh. Đẹp vô chừng cô ạ”. Có một bài hát của nhạc sỹ Ama Nô viết về Lắêk chừng hơn 50 năm trước, nay vẫn còn được các bạn trẻ chưa từng sinh ra ngày ấy hát rằng “Lắk của ta quê hương đẹp lắm. Nước hồ Lắk in hình Yuk rta. Núi Yang Sin vươn mình cao đẹp trên đất quê ta”. 

Và Lắk còn đẹp hơn khi có rất nhiều những chiến sĩ áo xanh màu cỏ, ngày đêm mải miết với công việc gìn giữ yên bình một miền đất cao nguyên, cho du khách gần xa đến đấy ngắm bình minh chim hót, hay hoàng hôn đỏ hồng mặt nước tĩnh lặng, soi mình vào chiếc gương thần trong veo của nàng H’Lung dắt ngang lưng núi, để thấy ai cũng đẹp, rồi dẫu có rời bước chân đi mọi “đất trời xa xôi” đều luyến lưu với vẻ đẹp của Lắk trong tâm trí.,.

 


Thứ Tư, 2 tháng 9, 2020

SUÝT "TOI" VÌ BÀI ĐĂNG TRÊN BÁO TIỀN PHONG HƠN 30 NĂM TRƯỚC

 

 Cùng các bạn fb!

Nhân kỷ niệm sinh nhật lần thứ 65 xin mời các bạn cùng tôi ôn lại một "tai nạn" nghề nghiệp ngày ấy...
















Tháng 10 năm 1986 tôi vừa tròn 30 tuổi, nhận quyết định điều động về làm Hiệu trưởng trường PTCS Ngô Gia Tự, huyện Ea Kar có hơn 100 giáo viên với ba cấp học: mẫu giáo, tiểu học và trung học cơ sở. Trường đóng ở trung tâm thị trấn huyện Ea Kar, số lớp đông nhất huyện, đội ngũ giáo viên nhiều người được tăng cường từ ngoài Bắc vào, tập thể khá đoàn kết. 

Cả trường vòi Hiệu trưởng khao

Ngoài công tác quản lý trường, tôi còn phải thường xuyên tham gia các đoàn kiểm tra do Phòng Giáo dục thành lập. Vì thế tôi đến được nhiều trường, nhiều địa phương trên điạ bàn huyện Ea Kar và tham gia viết bài cộng tác với báo Đắk Lắk, báo Tiền Phong, báo Người giáo viên nhân dân (sau này đổi tên Giáo dục & Thời đại)…

Một hôm tôi đạp xe đến trường thấy anh chị em giáo viên nhìn mình có vẻ gì đó khang khác. Trống trường báo hiệu vào tiết một, cô Tổng phụ trách kiêm Bí thư Đoàn mới chạy qua phòng Hiệu trưởng, vui vẻ nói : “Chúc mừng anh có bài được đăng báo nhé!”, tôi ngạc nhiên hỏi lại: “Đăng ở báo nào vậy?” “Báo Tiền Phong đấy, bài Hãy  đến với Ea Kar”.

À, trước đó nửa tháng, tôi có viết một bài báo về trường Tiểu học Nguyễn Bá Ngọc, cách thị trấn huyện Ea Kar chỉ hơn 5 km nhưng cơ sở vật cất quá thiếu thốn: trường mái tranh, vách đất, bàn học sinh làm bằng bìa gỗ đặt lên bốn cái cọc đóng xuống đất, ghế làm bằng hai cây tre tròn ghép lại, bàn giáo viên không có. Tôi hỏi thầy Hiệu trưởng: Nơi làm việc ở đâu? Thầy ấy cho biết đang ở nhờ nhà dân. Khi cần tiếp khách thì mượn nia (dụng cụ phơi lúa) ngồi tạm. Cám cảnh, tôi đã viết bài phản ánh chuyện này. Thời ấy phương tiện liên lạc chủ yếu bằng thư từ, điện tín, nên bài viết xong mang ra Bưu điện gửi đi, từ huyện ra Hà Nội thường cả tuần mới tới.

Buổi trưa, mấy thầy cô độc thân ở nội trú bắt Hiệu trưởng khao vì có bài đăng báo,lại là báo Tiền Phong. Ngày ấy, ngoài báo Nhân Dân còn có hai tờ báo nữa được xếp hàng đầu, mọi người hết sức yêu thích là báo Lao động và báo Tiền Phong. Có được tờ báo để đọc đã quý, nay có bài đăng trên đó nữa, thì… không thể không khao. Bữa tiệc thịnh soạn được bày ra: rượu mía, bánh đa, nải chuối, kẹo lạc… . Anh em đồng nghiệp vui hết cỡ.

 

Tai họa ập tới

Khi mọi người hình như đã quên chuyện bài báo của tôi thì… ông Vũ Thế Hiển - Trưởng phòng Giáo dục gọi lên hỏi: “Phải Chiến viết bài báo này không”? Ông quẳng tờ báo Tiền Phong có đăng bài “Hãy đến với Ea Kar” lên bàn trước mặt tôi rồi quát: “Anh bôi tro trát trấu lên ngành, lên huyện như thế này à”? Tôi trả lời: “Thưa thầy, thực trạng ở trường Nguyễn Bá Ngọc nó vậy đấy ạ”! “Cả tỉnh, cả nước khó khăn như vậy chứ riêng gì huyện ta, ngành ta, phải có thời gian khắc phục dần dần chứ”. Sau một hồi quát tháo, ông Trưởng phòng thông báo: “Anh về chuẩn bị bàn giao công tác đi nhận nhiệm vụ mới”.

Hôm sau tôi nhận quyết định điều động về trường PTCS 333, làm Hiệu phó. Trong thời gian này tôi lại có bài “Cúng chồng bằng ba củ khoai lang” đăng trên báo Người giáo viên nhân dân, kể chuyện 5 giáo viên ở tỉnh Hải Hưng tăng cường theo dân kinh tế mới. Hết 6 tháng nhận phụ cấp kinh tế mới, giáo viên bị cúp lương, Phòng giáo dục Ea Kar cũng không cấp lương lương thực. Có cô giáo chồng chết ba mẹ con ăn khoai trừ bữa; đến ngày giỗ chồng cũng chỉ có khoai lang cúng chồng, và vẫn phải lên lớp hàng ngày. 

Thế là tôi lại nhận quyết định điều động về Phòng Giáo dục. Bàn giao công việc của trường xong, tôi về Phòng, không ngờ bước ngoặt cuộc đời bắt đầu từ đây. Tôi bị Công an “mời” lên làm việc rồi thu Giấy chứng minh nhân dân. Hàng ngày tôi chỉ có công việc duy nhất trả lời các câu hỏi rồi viết bản tường trình: Vì sao lại viết bài báo “Hãy đến với Ea Kar” đăng trên báo Tiền Phong. Viết bài báo ấy có mục đích gì? Có ai xúi giục viết không? Trong một lần làm việc, ông Nguyễn Văn Đợi - Chủ nhiệm Ủy ban thanh tra Nhà nước tỉnh, ông ta nói như quát vào mặt tôi: Anh có biết bài báo của anh được Đài BBC đọc không?

Chao ôi, thời ấy, đài BBC, đài Hoa kỳ… đều là đài địch bị cấm nghe, vậy mà bài của tôi lại còn bị đọc trên ấy!? Thảo nào tôi khổ! Hoảng quá, tôi điện về Tòa soạn báo Tiền Phong cầu cứu. Tòa soạn đã cử anh Hữu Thanh và anh Hồng Tuyến bay vào làm việc với Tỉnh ủy Đắk Lắk. Các anh gọi tôi lên thị xã Buôn Ma Thuột để gặp mặt, trao đổi. Mất gần buổi sáng đạp xe, chiếc xe cọc cạch vượt 64km lên phố. Gặp được các anh ấy, tay bắt mặt mừng. Hình như thấy tôi gầy quá, hai anh lặng người hồi lâu rồi mới hỏi: Làm việc với Công an đã nói gì? Khai gì? Có bị đánh không…?  Gia cảnh hiện nay thế nào? Hai anh động viên: Phải tự tin! Hy vọng mọi sự sẽ tốt đẹp!

 

Ấm lòng tình đồng chí

Chia tay các anh, tôi đạp xe về lại nhà, sau đấy không thấy bị “mời” lên làm việc nữa. Khoảng một tháng sau, bất ngờ nhận được giấy mời của Phòng Giáo dục hẹn gặp. Ông Vũ Thế Hiển - Trưởng Phòng Giáo dục đưa cho tôi Quyết định buộc thôi việc số: 09 ngày 10/8/1988 của UBND huyện Ea Kar. Tôi lặng người, không nói gì, cầm quyết định ra về và đánh điện ra Tòa soạn thông báo cho anh Hữu Thanh biết (thời ấy nếu nói chuyện điện thoại phải đăng ký, chờ nối máy lâu lắm mà lại tốn nhiều tiền nên tôi chỉ gửi điện tín thông báo). Anh ấy gửi thư vào bảo khởi kiện ra tòa. Rồi anh Nguyễn Vĩnh ở Ban bạn đọc báo Người Giáo viên nhân dân, anh Quang Ngãi ở Đài tiếng nói Việt Nam cũng viết thư vào động viên, khuyên tôi phải kiên trì đấu tranh.

Ngày 2/12/1988, Tòa án tỉnh đưa vụ án ra xử, tuyên UBND huyện Ea Kar kỷ luật tôi là đúng. Tôi chống án lên Tòa Tối cao.

Ngày 17/6/1989, Tòa án Tối cao vào Buôn Ma Thuột mở phiên tòa công khai xét xử và tuyên: “Hủy bản án sơ thẩm số 16, ngày 1/12/1988 của Tòa án nhân dân tỉnh Đk Lk x việc buộc thôi việc giữa Ủy ban nhân dân huyện Ea Kar và anh Nguyễn Hồng Chiến, giao hồ sơ cho Tòa án tỉnh Đak Lak điều tra xét xử lại”.

Ngày 2/11/1990 Tòa án tỉnh tiếp tục mở phiên tòa công khai xét xử và tuyên: Ủy ban nhân dân huyện Ea Kar kỷ luật tôi là đúng pháp luật! Tôi lại chống án lần 2 lên Tòa Tối cao.

Trong thời gian này, tôi nhận được thư, điện của các anh Hữu Thanh, Hồng Tuyến – báo Tiền Phong, anh Nguyễn Vĩnh - báo Người giáo viên nhân dân gửi vào động viên; các anh Đặng Bá Tiến, Dương Thế Hoàn, Uông Ngọc Dậu – Báo Đắk Lắk; Đỗ Trọng Phụng, Nguyễn Quyền – Đài Phát thanh Dak Lak và anh Đinh Hữu Trường - Phó phòng PX15, Công an tỉnh, nhà thơ Phạm Doanh – Hội Nông dân tỉnh… động viên, an ủi và khuyên tiếp tục chống án. Các anh nhà báo ở tỉnh không những san sẻ cho tôi ăn uống khi tôi lên Buôn Ma Thuột hầu tòa, mà còn viết nhiều bài đăng trên các báo của Trung ương như: “Tội giả chụp lên đầu người thật” - Báo Tiền phong; “Bị trù dập vì hăng hái đấu tranh chống tiêu cực, một phiên tòa không vì lẽ phải và công lý- Báo Giáo dục và Thời đại… tạo lên cơn địa chấn” vang khắp cả nước. Nhiều người đã gửi thư, tiền vào ủng hộ, động viên tôi.

Ngày 21/5/1991, Tòa án Tối cao tại Đà Nẵng vào mở phiên tòa xét xử công khai tại thành phố Buôn Ma Thuột. Đây là phiên Phúc thẩm đồng thời cũng là Chung thẩm – không còn quyền kháng cáo, nên tôi rất hồi hộp. Tòa tuyên: “Hủy Quyết định số 09 ngày 10/8/1988 của UBND huyện Ea Kar buộc thôi việc đối với anh Nguyễn Hồng Chiến - Ủy ban nhân dân huyện Ea Kar có trách nhiệm khôi phục các quyền lợi hợp pháp cho anh Chiến trong thời gian bị buộc thôi việc”. Tòa vừa dứt lời, cả hội trường vỗ tay ầm ầm, mọi người đổ xô lại chúc mừng tôi. Tôi ngồi lặng đi, để mặc cho nước mắt rơi mà nụ cười nở trên môi. Thế là cuối cùng tôi cũng được minh oan và được trả về với nghề dạy học!

Mấy hôm sau, báo Tiền Phong đăng bài: “Sau bốn phiên tòa, Hồng Chiến được trả lại công việc” của nhà báo Đặng Bá Tiến; Báo Giáo dục & Thời đại đăng bài: “Phúc thẩm và quyết định: Hủy bản án sơ thẩm xét xử không công minh thầy giáo Nguyễn Hồng Chiến” của nhà báo Dương Thế Hoàn…

Tính từ ngày bàn giao chức Hiệu trưởng năm 1987 đến khi tôi nhận được Quyết định sửa sai của Ủy ban nhân dân huyện Ea Kar đã hơn 6 năm, trong đó có hơn 3 năm tôi phải kiếm sống bằng những nghề bần cùng như: đốt than, vào rừng chặt mây thuê, làm “lâm tặc” mưu sinh, trải qua 4 phiên tòa căng thẳng ...

 Nếu không có sự quan tâm của các nhà báo chí tình ở Tòa soạn báo Tiền Phong, báo Giáo dục & Thời đại… cũng như các anh ch nhà báo, bạn bè  khác luôn động viên, khích lệ tôi, sẵn sàng đương đầu với các sức cản khác, dũng cảm viết bài bảo vệ tôi, thì đời tôi hẳn đã rẽ qua một hướng khác.

 

Box

Hơn 30 năm đã qua, kỷ niệm với báo Tiền Phong và các anh chị  đồng nghiệp ngày ấy để lại dấu ấn không thể nào quên trong trái tim tôi. Đền đáp lại những gì các anh chị đi trước dành cho mình, tôi đã cố gắng làm tốt vai trò người quản lý giáo dục ở huyện Ea Kar hơn 10 năm nữa. Năm 2006 tôi chuyển qua làm Thư ký Tòa soạn Tạp chí Chư Yang Sin. Và hiện đang Phó chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật Đắk Lắk, Ủy viên Ban chấp hành Hội Nhà báo tỉnh Đắk Lắk, Phó Tổng biên tập tạp chí Chư Yang Sin.

Xin được gửi lời cảm ơn đến Tòa soạn báo Tiền Phong- Điểm khởi đầu niềm đam mê cầm bút và trau dồi đức dũng cảm; cảm ơn các anh chị nhà báo đã giúp tôi hiểu thêm về tinh thần đồng chí, đồng đội cùng giúp nhau vượt qua thử thách để đi tìm công lý, sự thật và niềm tin vào tính thượng tôn pháp luật của Đảng và Nhà nước. Mong qua câu chuyện của tôi, các bạn đồng nghiệp đi sau rút ra cho mình điều gì đó khi gặp khó khăn trong tác nghiệp.