Thứ Năm, 7 tháng 7, 2022

QUÀ CỦA YANG truyện ngắn của HỒNG CHIẾN - TẠP CHÍ VĂN HÓA CÁC DÂN TỘC số 3+4 năm 2022

 


Đ… o… à… n… g!

Một tia sáng lóe lên rạch ngang bầu trời đầy sao đêm ba mươi, liền ngay sau đó là tiếng nổ rền vang ập xuống các nóc nhà dài buôn Trưng. Trẻ con giật mình khóc thét, người lớn choàng dậy chất thêm củi vào bếp, ngó ra đầu sàn không giấu được nỗi ngơ ngác, sợ hãi. Già làng(1) đã sống hơn tám chục mùa rẫy(2) chưa bao giờ nghe tiếng sét khủng khiếp đến thế cũng lật đật ngồi dậy; cơn ho ở đâu kéo đến làm ông nấc lên. H’Lim, con gái út từ gian trong bước vội ra khoác cho ama(3) tấm chăn qua vai rồi dìu lại bên bếp lửa gian giữa nhà, chất thêm củi, hơi ấm lan tỏa ra xung quanh. Già trẻ, lớn bé trong ngôi nhà dài thức dậy ra vây quanh bếp lửa, nhìn nhau như muốn hỏi: vì sao Yang(4) lại tức giận đến thế?

 Đêm dài cũng qua đi, ông mặt trời lười biếng từ từ nhô lên trên đỉnh núi phía đông, ban phát những tia nắng vàng lên khắp cánh đồng cỏ mênh mông của thảo nguyên trước buôn. Có tia sáng xuyên qua những đám mây trắng đang vương vấn quấn quanh triền núi cao sau buôn xuống bờ suối, tạo nên nhiều màu sắc lung linh như ánh cầu vồng. Đám trẻ ùa ra đầu cầu thang, tranh nhau nhìn lên núi rồi khua chân múa tay, cố diễn tả vẻ đẹp mà chúng cảm nhận được.

Y Khuôn mặt vuông chữ điền, trên mình có độc chiếc khố, để lộ thân hình vạm vỡ, nước da như màu chiêng mới đúc, tóc xoăn tít; hốt hoảng chạy từ bến nước về buôn, miệng la ầm lên:

-Yang đến rồi, Yang đến bến nước buôn ta rồi Già làng ơi!

Y Khuôn chạy đến bên nhà Già làng, tay vịn vào chân cầu thang, miệng, mũi tranh nhau thở. Già làng bước ra đầu sàn, hỏi:

-Mày sống hơn hai mươi mùa rẫy rồi đấy, sao còn nói nhảm thế; làm sao có thể thấy Yang được?

- Già làng ra bến nước mà xem. Không phải Yang thì là gì…!

Già làng lại ho, cơn ho kéo dài làm tấm thân còng còng có bao nhiêu xương sườn đều phơi ra dưới lớp da, ai cũng có thể đếm được. H’Lim bước lại bên đỡ ông rồi dìu xuống cầu thang. Cả buôn Trưng như ong vỡ tổ, họ rùng rùng kéo nhau chạy về phía bến nước. Già làng đến gần, đám người dạt qua hai bên nhường lối. Trên đầu họ đám mây khổng lồ của ong và bướm tạo thành, vần vũ bay lượn trên bến nước, che kín luôn cả ánh sáng mặt trời và… thật kỳ lạ, một mùi hương thơm ngào ngạt tỏa ra, bao trùm cả không gian làm ngây ngấy mọi người. Hình như hương thơm tỏa ra từ trong gốc cây to hơn một vòng tay người ôm mới bị sét đánh nứt đôi khi đêm. Ông thầy cúng nhanh chân đến trước, quỳ xuống, cúi đầu vái lạy gốc cây, miệng lẩm bẩm những câu vô nghĩa, chẳng ai biết lão nói gì; rồi quay lại nói:

-Buôn ta được Yang tặng quà rồi?

-Mày nói vậy nghĩa là sao?

- Già làng nhìn đây!

Lão thầy cúng nói dứt lời bước tới cây bị sét đánh chẻ làm đôi, bê từ giữa gốc cây lên một cục như hòn đá, to bằng bắp đùi người lớn, dài hơn ba gang tay, màu trắng xám nâu, xung quanh như có lớp đường trắng mịn bám vào; đưa đến trước mặt Già làng. Già làng, nhắm mắt, ôm ngực, cúi đầu ho rũ rượi, ho như thắt cả ruột gan lại để văng ra ngoài. Bỗng nhiên ông ngừng ho, tinh thần khoan khóai trở lại; mở mắt thấy lão thầy cúng bê “cục đá” đến trước mặt, mùi thơm kỳ lạ tỏa ra và hình như chính mùi hương này làm ông hết ho. Hai tay đón “hòn đá Yang”, già làng quỳ xuống, ngửa mặt lên trời tạ ơn Yang đã ban cho buôn bảo vật. Màu sắc trông giống đá, nhưng nhẹ hơn lại được tìm thấy trong bụng của gốc cây đại thụ bên bến nước; đúng là kỳ diệu, đúng là quà của Yang cho.

*

**

Buôn Trưng định cư nơi đây từ lúc nào không ai nhớ nữa, người sống lâu nhất cũng chỉ biết sinh ra đã ở đây rồi. Buôn dựng trên một triền đồi không cao lắm so với xung quanh, giữa buôn có con đường đi từ cánh đồng cỏ phía đông qua phía tây, vượt qua con suối là lên núi xanh thẩm, cao vút. Bến nước ở phía nam buôn, có cánh rừng già nhiều cây to hai, ba người ôm không hết bao bọc; dù trời mưa to đến mấy, dòng nước từ trong lòng mẹ đất vẫn tuôn ra trong vắt, uống vào ngọt lịm. Trong buôn, các bếp đều đủ ăn quanh năm; lúa, bắp thu hoạch xong dựng kho để luôn trên rẫy, khi nào cần lên lấy mang về, không ai lấy “nhầm” của người khác. Nay được Yang tặng quà nên tổ chức Lễ cúng để tạ ơn. Lễ cúng tạ ơn của buôn Trưng kéo dài bảy ngày, bảy đêm; các buôn gần buôn xa trong vùng cũng đem trâu, bò, heo, gà… đến chung vui. 

Sau lễ cúng tạ ơn, “hòn đá Yang” được đưa về nhà Già làng để trong phòng khách; ai có bệnh tật, đau ốm… chỉ cần đến gần, khấn câu cầu xin Yang giúp đỡ, bệnh tự khỏi. Già làng ở nhà hướng dẫn người có bệnh đến khấn vái, chữa bệnh, không lấy của ai bất cứ thứ gì vì nghĩ đó là quà Yang ban cho chung mọi người.

Từ ngày có “hòn đá Yang”, người già khỏe lại; lũ người trẻ không còn bị bệnh tật, nên ai cũng vui mừng. Có sức khỏe, mọi người ham làm việc nên: lúa, bắp, đậu… lúc nào cũng đầy kho; ché túc, ché ba… xếp hàng bên vách lúc nào cũng được bịt kín miệng, sẵn sàng chờ đón lễ hội. Trong các buôn ban ngày đầy ắp tiếng cười của lũ trẻ; ban đêm quanh bếp lửa người lớn im như hạt thóc thay nhau vít cần rượu nghe kể khan(5). Cuộc sống cứ vậy trôi đi, cho đến một hôm…

Một đoàn người lạ đến thăm buôn Trưng. Họ là người ở buôn xa, ngồi trên lưng ba con voi được lão thầy cúng đưa đến. Lão thầy cúng buôn xa khoảng năm chục mùa rẫy; mặt dài, hai mắt sùm sụp như chưa bao giờ nhìn thẳng vào ai, râu ria lâu ngày không cắt tạo cho khuôn mặt trông như mặt vượn; người thấp bé, nước da như đít xoong lâu ngày không rửa. Đi cùng đoàn còn có người ngoại quốc, da trắng bờn bợt giống con cá suối chết lâu ngày, mặt tròn, mắt một mí, trên môi có cái tẩu không bao giờ tắt khói. 

Cả đoàn khách lạ lên nhà già làng, mang theo nhiều lễ vật quý như: rượu trong chai trong như nước suối, chỉ nhấp một tý thôi đã thấy như có ngọn lửa trong mồm. Muối trắng, hạt to như hạt bắp đỏ trồng mùa mưa, đưa một hạt lên lưỡi có vị mặn, vị chát và cả cảm giác ngọt thấm vào tận trong bụng. Đặc biệt, họ còn có cây gậy hét lên tiếng như Yang, cây cách xa cả trăm bước chân, to bằng bắp đùi người lớn cũng bị xuyên thủng. Già làng vui lắm, sai mổ trâu, mổ bò đãi khách quý đúng ba ngày ba đêm. Dàn chiêng của buôn lại được dịp nổi lên bản chúc phúc, mừng sức khỏe cho khách đã vượt núi cao, suối sâu đến thăm buôn.

Sáng ngày thứ tư, đoàn khách từ biệt trở về. Lão ngoại quốc nói với già làng:

-Ngộ có con gái út đến tuổi bắt chồng mà bị bệnh lạ nằm liệt một chỗ. Trong giấc mơ được thần linh bảo: phải nhìn thấy “hòn đá Yang” mới khỏi bệnh. Nay lặn lội đường xa đến đây muốn xin Già làng cho mượn hòn đá quý về chữa bệnh cho con, rồi mang trả lại.

-Điều đó không được, hòn đá của Yang không thể rời buôn, mang đi sẽ bị Yang trừng phạt cả buôn.

Nghe Già làng trả lời, người lạ nói tiếp:

-Ngộ vì con gái nên phải tới đây, nếu Già làng đồng ý ngộ sẽ để lại đây một con voi làm tin; hôm sau lên trả lại đá sẽ hậu tạ buôn ta ba bồ muối lớn được ba con voi chở đến.

-Không phải Già làng không tin mà phong tục nó thế, không làm trái được.

Y Khuôn giờ đã là chồng của H’Lim, con gái út Già làng trả lời.

-Con gái ngộ bị bệnh cũng không thể ra khỏi nhà, ra khỏi nhà thì thành atâo(6) nên mới phải lặn lội đến đây. Chẳng lẽ thấy người sắp chết mà già làng không cứu.

Nghe lão nói như khóc làm người già trong buôn tranh cãi nhau đến to tiếng; người bảo nên cho mượn để cứu người; người lại bảo không được làm trái ý Yang. Cái buôn Trưng đang yên lành bỗng nhiên nổi sóng, đám thanh niên cũng chia làm hai phe tranh luận sôi nổi, giận hờn đến suýt nữa thì xông vào đánh nhau. 

H’Lim thấy mọi người không vui mới đến bên Già làng nói:

-Yang cho ta hòn đá này để cứu người, nay nghe tin người sắp chết mà không cứu thì không đúng ý Yang. Nhưng đưa đá ra khỏi buôn cho người lạ mượn cũng trái ý Yang. Anac(7) nghĩ thế này: buôn ta nên làm lễ cầu xin Yang cho mang đá đi cứu người. Nếu Yang đồng ý thì chọn mấy người con trai khỏe mạnh đưa “đá Yang” đi rồi đưa về, không cần giữ voi của người lạ làm gì.

Già làng nghe lời con gái út, cho mổ trâu làm lễ cúng bến nước, xin ý Yang. Trong lúc mọi người tíu tít chuẩn bị làm lễ, lão ngoại quốc đi đến gần, nắm tay thầy cúng, đặt vào đó một chiếc vòng bạc lớn rồi ghé tai nói nhỏ:

-Ngộ mời thầy cúng đi cùng hòn đá thần đến chữa bệnh cho con gái. Xong việc, con voi ta cỡi kia và số muối hạt chất đầy lưng voi chở về đây là của lão. 

Nghe nói thế, mắt lão thầy cúng sống gần sáu mươi mùa rẫy bừng sáng lên như có ánh lửa; lão gật đầu rối rít, trả lời:

-Biết rồi, biết rồi.

Mồm trả lời, trong đầu lão hiện lên cảnh một mình chễm chệ ngồi trên cổ voi đi qua các buôn dự lễ; mọi người sẽ tròn mắt nhìn mà thèm. Có voi, đi vào rừng kéo những cây gỗ đẹp nhất về dựng ngôi nhà to nhất, to hơn cả nhà Già làng. Rồi mùa khô đến, sẽ tổ chức cho đám thanh niên đi theo săn voi, bắt thêm nhiều voi nữa để rồi… lão cười với ý nghĩ: mình sẽ là Già làng của buôn, của cả vùng thảo nguyên rộng lớn và xinh đẹp này.

*

**

Trong lễ cúng, lão thầy cúng nhảy múa loạn xạ một hồi, rồi phán:

-Yang đồng ý cho mang hòn đá thần ra khỏi buôn đi cứu người và phải xuất phát ngay hôm nay.

Già làng nghe nói vậy, họp buôn lại hỏi đám thanh niên ai xung phong đi cùng “hòn đá Yang”.

-Y Khuôn xin nhận trọng trách gùi “hòn đá Yang” đi, xong việc sẽ mang đá trở về.

Lũ con trai nhiều người xung phong, nhưng Y Khuôn chỉ chọn năm người thanh niên khỏe mạnh chưa có vợ để đi cùng mình. H’Lim bỏ vào gùi cho chồng hai cái khố mới bên cạnh “hòn đá Yang” và một quả bầu khô đựng nước, dặn: 

-Đi đường xa phải cẩn thận, nước trong bầu chỉ uống khi bị đau bụng thôi nhé. Đi nhanh về không anac mong! 

-Người lạ tốt lắm, lại có những ba con voi đi cùng chở đồ ăn không phải lo gì đâu, vắng ít hôm sẽ về ngay thôi mà.

Vợ chồng nhìn nhau, đứa con gái đầu vừa tròn tuổi nắm chặt tai ama như không muốn thả ra.

Y Khuôn từ biệt vợ con, đeo gùi, vác xà gạc(8) lên vai bước xuống cầu thang nhập vào đoàn người. Ba con voi chở người lạ, hai lão thầy cúng và mấy người Êđê buôn xa đủng đỉnh đi trước mở đường. 

Chiều, khi đi đến chân một ngọn núi cao, có dòng suối nước trong như lọc chảy qua, đoàn người dừng lại, dựng lều, nổi lửa chuẩn bị bữa chiều. Ba con voi được thả vào rừng tự kiếm ăn.

Bên bếp lửa, người lạ tỏ ra là người hiếu khách, mời mọi người ăn uống thoải mái. Ngoài món thịt nai khô và thịt heo rừng hong khói Già làng buôn Trưng cho, đem nướng; còn có nhiều chai rượu trắng xếp quanh đống lửa. 

-Hôm nay Ngộ mời mọi ngưới, cứ tự nhiên uống cho thỏa thích nhé. Rượu này được nấu ở nước mẹ từ phương bắc rất xa, phải đưa lên tàu thủy chạy trên biển nhiều lần trăng mọc mới tới được cảng. Cảng là nơi tàu thủy dừng để vận chuyển hàng hóa lên, xuống tàu. Rồi từ bến cảng đó phải đi nhiều ngày nữa mới tới được đây. Có viên đá này chắc chắn con ngộ được cứu sống rồi, cảm ơn tất cả. Uống, uống nào!

Rượu ngon, mồi ngon; họ cụng, chúc nhau, mừng nhau rồi… say lúc nào không biết. Màn đêm qua đi, bầy vượn vui mừng hò hét vang rừng chào đón ngày mới. Y Khuôn thức dậy, bụng đau như có người cào cấu trong đó; nhớ lời vợ dặn, ngồi dậy lấy quả bầu khô mang theo, mở nút lá chuối nhấp một ngụm. Cơn đau dịu dần, nhìn qua bên cạnh thấy năm người bạn đi cùng và lão thầy cúng, ai cũng ngủ say, mồm trào ra nước bọt đen sì, tỏa mùi hôi khó chịu. Thôi chết, bọn này trúng độc rồi, Y Khuôn nghĩ vậy, nên mang nước trong bầu đổ vào miệng cho bọn chúng tỉnh lại. Một lúc sau cả bọn ngồi dậy nhìn nhau, nhìn ra xung quanh thì lũ người đi cùng đã biến mất như tan vào các gốc cây. Y Khuôn gầm lên:

-Ta bị lừa rồi. Chúng cướp mất “hòn đá Yang” của buôn ta rồi. Ta phải đuổi theo lấy lại.

-Chúng có cây gậy của Yang giết người xa hơn trăm bước chân thì làm sao lấy lại được?

Lão thầy cúng hỏi, Y Khuôn trả lời:

-Bọn chúng đi bằng voi, đi đến đâu thành đường đến đó. Ta theo dấu đuổi theo sau, chờ đến đêm bọn chúng ngủ say thì lấy lại đá của Yang mang về.

-Tao phải tìm nó trả thù.

Lão thầy cúng của buôn gầm lên, Y Khuôn nói:

-Ông già, sức yếu, quay về buôn trước chứ đi theo thì làm được gì. Lũ chúng tôi chân còn khỏe, bước nhanh mới đuổi kịp chúng.

-Tại tao tham vòng bạc, ưng con voi như lời nó hứa mới bị lừa dối thế này. Xấu hổ quá, có lỗi với mọi người trong buôn thì còn mặt mũi nào mà về gặp họ nữa.

Lão thầy cúng nói xong, quỳ xuống lạy đất trời; khóc nức nở rồi quay đầu, lững thững bước đi, thỉnh thoảng vấp vào dây rừng ngã dúi dụi. Sáu chàng trai mặc khố, lưng đeo gùi, trên vai có cây xà gạc, lần theo dấu chân voi chạy như bị ma đuổi. Đói bứt tạm lá rừng bỏ vào miệng nhai, khát vốc nước suối uống; trong lòng họ như có ngọn lửa đốt. Họ hận vì bị lừa dối, họ tức vì niềm tin bị đánh cắp; trong lòng họ giờ đây chỉ còn ngọn lửa hận thù. 

*

Gần đến chiều tối, chạy đến bờ một con sông rất lớn. Dòng nước chảy cuồn cuộn như Yang đang giận dữ. Mọi người nhìn sông thất vọng vì dấu vết lũ voi đã lội xuống sông đi qua bờ bên kia. Sông rộng, nước chảy xiết, cả sáu chàng trai đều không biết bơi, nhìn sông họ chảy nước mắt.

Y Khuôn bảo:

-Ta đi xuôi một đoạn xem có cách gì qua sông được không.

Cả đoàn lại xé rừng, xuôi sông; đi được một đoạn, bỗng phía trước mặt, có một ngọn cây lớn chắc là bị nước cuốn từ thượng nguồn về mắc vào hòn đá không đi được, từ ngọn cây vào đến bờ xa đến chục sải tay. Ngồi trên cành cây nhô cao hơn mặt nước một chút chính là người quản tượng(9) của con voi chở người lạ. Thấy mấy người buôn Trưng đến, hắn kêu lên:

-Cứu tôi với, cứu tôi với.

Y Khuôn hỏi:

-Tên Ngộ đâu?

-Bị nước sông ăn rồi?

-Còn lũ người đi cùng đâu rồi?

-Bị nước sông nuốt hết vào bụng rồi.

Đám người buôn Trưng bàn nhau, người thì bảo: Để nó tự chọn chết khô trên cành cây hay chui vào bụng sông; người lại nói: hắn cũng là người nên cứu; người khác không chịu: giúp người khác làm điều ác nên Yang trừng phạt, chết là phải… Cuối cùng Y Khuôn quyết định:

-Hắn không phải chủ mưu mà chỉ a dua, đi theo thôi, không nên để chết mà không cứu vì hắn cũng là người; vợ con, bạn bè, người thân đang đợi hắn trở về.

Nói xong phân công, người chặt nứa buộc lại làm bè, người chặt dây nối lại với nhau để kéo bè. Bè được làm xong, đưa lên phía trên một đoạn thả xuống, mong nước đẩy bè vướng vào cành cây đổ dưới sông, để cứu tên quản tượng. Nhưng nước lớn, chảy xiết, ba lần thả bè đều bị nước cuốn qua chỗ khác không đến được ngọn cây gãy mắc ngoài sông.

Thấy vậy, Y Khuôn nói:

-Để tao ngồi trên bè nứa, dùng cây, chèo cho nó vướng vào ngọn cây gãy mới cứu được người.

-Làm thế nguy hiểm lắm.

Đám thanh niên phản đối, nhưng Y Khuôn đã quyết. 

-Tao không bơi ra thì không cứu được hắn đâu. Mọi người phải nắm chắc dây, ráng sức kéo mới có cơ hội sống đấy.

Cả bọn lại kéo bè nứa lên trên một đoạn, Y Khuôn cầm một khúc cây làm bơi chèo, leo lên bè chèo mạnh, băng ra sông. Sóng gầm lên, đẩy bè lao băng băng. Y Khuôn khéo léo đưa bè chạm vào ngọn cây, dùng hai tay bám chặt vào cành cây giữ bè lại để đón tên quản tượng xuống, đưa vào bờ an toàn. Bước lên bờ, tên quản tượng quỳ xuống vái lạy những người đã liều mạng, cứu kẻ bất tín, tiếp tay ăn cướp bảo vật của buôn. Lạy xong hăn nói:

-Người lạ sống ngoài phố, mọi người vẫn gọi là lão Vương, nhà cách đây tới ba ngày đường voi đi. Nghe tin buôn Trưng có đá thần chữa được bệnh nên thuê người buôn tao đưa vào xem. Khi thấy “hòn đá Yang” của buôn chính là dao(10), lão bảo: “Loại này quý lắm vớ, một ký có giá hơn bảy ký vàng bốn số chín đấy”. Vì tham, lão Vương bày kế để ăn cướp hòn đá và giết mấy người đi theo. Không ngờ về đến đây, khi ra đến giữa sông bị Yang trừng phạt; sóng lớn nổi lên, sông nuốt tất cả voi, người và “hòn đá Yang” vào bụng; chỉ mình tao may mắn và biết bơi, trôi xuống đến đây vớ được ngọn cây mới dạt vào chỗ này, thoát chết. 

Nghe vậy mọi người thở dài, Y Khuôn nói với quản tượng:

-Làm người đừng nên làm điều ác và cũng không được giúp kẻ khác làm điều ác vì cái kết bao giờ cũng không tốt. Lũ chúng mày đến buôn tao lừa dối mọi người cướp “đá Yang” nên bị Yang trừng phạt, phải làm mồi cho cá, ngủ trong bụng sông là phải lắm. Buôn tao chắc rồi sẽ bị trừng phạt vì không biết phân biệt người xấu, người tốt nên Yang lấy lại quà. Âu đó cũng là bài học cho mọi người.

Nghe Y Khuôn nói vậy, cả bọn đưa mắt nhìn nhau, rắng nghiến chặt, mắt nhìn dòng sông như muốn nổ tung. Bỗng trong rừng vọng đến tiếng hổ gầm nghe rất gần: 

-H… ù… m!

 

 

Chú Thích tiếng Êđê:

1. Già làng: người có uy tín nhất trong buôn;

2. Ama: ba;

3. Yang: thần linh;

4. Sống hơn hai mươi mùa rẫy: cách tính tuổi của người Êđê, mỗi mùa rẫy là một tuổi;

5. Khan: truyện cổ sử thi truyền miệng của người Êđê.

6. Atau: chỉ người đã chết;

7. Anac: con;

8. Xà gạc: con dao dùng phát rẫy, đi rừng;

9. Quản tượng: người trông nom và điều khiển voi;

10.  Dao: kỳ nam;

Thứ Hai, 27 tháng 6, 2022

VÌ SAO CÀ PHÊ NỞ HOA truyện ngắn của HỒNG CHIẾN - TẠP CHÍ lANG BI AN số 225 tháng 6 năm 2022

 


Hôm qua trời bị đau bụng. Mới tối một lúc, sấm, chớp nổi lên đùng đùng. Gió, gió mới khủng khiếp làm sao, cứ như muốn giật tung mọi thứ ném đi. Rồi mưa ập đến đổ nước xuống ầm ầm. Một lúc sau mưa tạnh, gió nhè nhẹ lướt qua, trả lại bầu trời xanh thăm thẳm, đầy sao.

Những nụ hoa trên cành cà phê được mưa gió tắm mát, gội rửa bụi, bừng tỉnh. Sáng ra hoa đua nhau nở, khoe năm cánh dài, trắng muốt; tạo nên một rừng hoa trắng, ngào ngạt hương thơm. Các cô ong mật không biết có ngủ không mà mới hửng sáng đã hối hả rời tổ lao đến vườn cà phê lấy phấn, hút mật.

U, u, u… người chưa thấy mà tiếng kêu đã vọng đến; một bà ong Bầu to gần bằng ngón chân cái người lớn, khoác bộ đồ màu tím than, điểm xuyến một mảnh khăn choàng qua lưng màu vàng, óng ánh dưới ánh nắng mặt trời, bay tới. Bà ong bầu là loài ong lớn nhất Tây Nguyên thường chỉ đi một mình đến dự tiệc hoa.

Cà phê nối nhau trãi dài như vô tận, tràn ngập tiếng reo vui của các loài ong tham gia bữa tiệc hoa buổi sáng. Không khí náo nhiệt vô cùng. Dạo chơi phía trên vườn hoa còn có một bầy chuồn chuồn đỏ; lúc chúng đứng im một chỗ, lúc lao vun vút, chao lượn như múa trên không nhưng luôn luôn cách vườn hoa một quãng không xa lắm.

Mặt trời lên cao một khúc dài, bầy bướm vàng đông như một đám mây mới bay đến dự tiệc. Cô bướm Vàng bay trước, nhìn thấy chuồn chuồn, ngạc nhiên nói:

-Lũ chuồn chuồn không dự tiệc hoa thì đến đây làm gì nhỉ?

-Lũ xấu xí, mồm toàn răng là răng thế kia thì ăn mật thế nào được. Còn chúng ta thì…

Cô bướm bay bên cạnh không nói hết câu, giơ chiếc vòi dài như chiếc kim nhỏ ra khoe. Một anh bướm khác góp chuyện:

-Hoa cà phê nở ra để chào đón chúng ta, vậy mà lũ ong lại đến trước, thật chẳng công bằng chút nào?

Một cô bướm khác reo lên:

-Đúng rồi, nhờ loài bướm chúng mình bay về nên cà phê mới nở hoa. Lũ ong chỉ ăn theo thôi mà không đợi, thật bực mình.

Một cô ong Mật mặc bộ đồ màu vàng có những vòng đen ngang bụng, nghe bướm nói vậy, bật cười hỏi lại:

-Nhờ bướm bay về cà phê mới nở hoa à?

-Đúng thế còn gì.

Mấy anh chuồn chuồn Đỏ nghe bướm trả lời, cười rung cả đuôi, một lúc sau mới nói được:

-Mấy hôm nay trên các con đường dọc ngang khắp mọi nơi, con người  cắm nhiều cờ lắm, có thể vì thế cà phê mới nở hoa để hưởng ứng đấy.

Bướm không chịu, nói lại:

-Đúng là loài mắt to hơn đầu, lớn lên ở ao hồ, không biết ăn mật thì đến đây làm làm gì còn lắm chuyện?

-Chúng tôi đến đây để bảo vệ vườn hoa.

Bầy bướm cười rung cả râu, một lúc lâu mới ngừng được, một anh nói với vẽ chế giễu:

-Ô hô, a ha… chuồn chuồn đi bảo vệ hoa cà phê, chuyện thật nực cười. Ai đến phá hoại mà cần bảo vệ cơ chứ?

Chuồn chuồn trả lời:

-Có loài côn trùng thấy hoa cà phê nở là bay đến gậm vỏ cây, có khi ăn luôn cả cánh hoa nữa đấy.

Một cô bướm đậu trên hoa, rung rung đôi cánh, góp lời:

-Chuồn chuồn chỉ giỏi bịa chuyện, làm gì có chuyện đó.

Vừa lúc đó một con bọ cánh cứng lao vút xuống cành hoa, chuồn chuồn Đỏ lao theo như một mũi tên, tóm gọn. Tiếng ai đó vang lên:

-Chuồn chuồn Đỏ giỏi quá, tóm gọn được tên phá hoại rồi.

Cả bọn nhìn lên thấy một chú chim hút mật to hơn ngón tay cái một tý, đội mũ màu xanh, từ đầu xuống ngực khoác áo màu đỏ rực rỡ, riêng nửa mình phía sau và đuôi màu đất. Chim vẫy cánh liên tục nhưng lại đứng im một chỗ; chiếc mỏ dài cong cong màu đen, nhọn hoắt. Một cô ong Mật hỏi:

-Bác chim Hút Mật sống lâu năm, đi nhiều nơi có biết vì sao hôm nay cà phê bung hoa không ạ?

-Tại người cắm nhiều cờ để mừng ngày lễ nên cà phê nở hoa theo.

Chuồn Chuồn nhanh nhẩu cướp lời. Cô bướm Vàng đậu bên cạnh đáp ngay:

-Không phải thế, hoa cà phê nở là do họ hàng nhà bướm hôm nay bay tới đây đấy.

Chim Hút Mật, gật gật cái đầu rồi trả lời:

-Con người cắm cờ đã mấy ngày rồi, hôm nay hoa mới nở, như vậy là hoa nở không phải do có nhiều cờ. Còn bầy Bướm sáng nay mới bay về mà hoa cà phê nở trắng cả như thế này, có lẽ là do… do… bướm thật rồi.

-Không phải thế!

Một dọng nói ồm ồm vọng đến, làm cả bọn ngạc nhiên kêu lên:

-Ai nói đấy?

-Ta đấy!

Cả bọn ngạc nhiên nhìn cây muồng đứng nơi góc lô, gốc to hơn cả đầu người lớn vừa trả lời. Cô bướm Vàng nói:

-Ui chu cha, ông to thế này chắc sống ở đây lâu lắm rồi ạ?

-Đúng thế. Con người trồng cà phê cùng lúc mang chúng ta đến đây trồng để che nắng, gió cho cà phê mà.

Một cô ong reo lên:

-Ô, thế thì chỉ có ông mới biết vì sao hôm nay cà phê trổ bông rồi.

-Đúng thế!

Cả bọn đồng thanh kêu lên:

-Ông bật mí cho chúng cháu biết đi ạ!

Cây Muồng giơ cành, đầy lá xanh đen vờn cơn gió vừa chạy đến, rồi mới trả lời:

-Cuối tháng hai hoặc qua tháng ba, khi ông trời mang mưa đến tưới mát cho cây cối trong vùng, không khí mát mẻ thế là cà phê bung hoa. Tùy theo từng năm, từng vùng, nơi nào có mưa sớm thì nơi ấy cà phê nở sớm. Còn Tây Nguyên, vào tháng ba kỷ niệm ngày giải phóng nên con người cắm cờ chỉ là trùng hợp ngẫu nhiên thôi. Cũng do mưa, độ ẩm trong không khí tăng lên, được nắng mặt trời sưởi ấm nên lũ nhộng mới cắn kén, lột xác thành bướm, bay ra đấy.

-Hay quá!

Cả bọn reo lên vì hiểu ra được một việc quan trọng nên vui vẻ cùng nhau thưởng thức lễ hội hoa, không tranh giành nhau nữa. Bầy chuồn chuồn vẫn nhẫn nại tuần tra, canh gác phía trên bảo vệ vườn hoa. Ông mặt trời hình như cũng vui với cảnh vật, nên ánh nắng buổi sáng có vàng hơn lên một chút so với mọi ngày.

 

Hòa Khánh, tháng 4 năm 2022

 

 


Thứ Tư, 22 tháng 6, 2022

HẠNH PHÚC ĐƯỢC CHẠM VÀO TAY BÁC ghi chép của HỒNG CHIẾN - TẠP CHÍ NHÀ VÁO VÀ CUỘC SỐNG SỐ THÁNG 6 NĂM 2022

 



Nhà thơ Phạm Doanh

-Mình đã từng một lần trong đời được chạm vào tay Bác! Đó là lơi tâm sự của nhà thơ Phạm Doanh nguyên Phó chủ tịch Hội văn học nghệ thuật, Tổng biên tập tạp chí văn nghệ của tỉnh Đắk Lắk (sau này đổi tên thành tạp chí Chư Yang Sin).

Hơn chục người cùng ngồi uống cà phê bỗng nhiên lặng ngắt, mắt tròn xoe không giấu được ngạc nhiên trước thông tin vừa nghe. Nhà thơ Phạm Doanh kể:

-Mình quê ở Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng, lớn lên tham gia xây dựng nhà máy điện Uông Bí. Sáng Mùng Một Tết ta năm 1965, từ mờ sáng đã kéo nhau đi dự mít tinh theo lệnh của lãnh đạo thị xã. Mình nghĩ, mới sáng mùng một Tết mà bắt tập trung đi mít tinh thì… vô lý quá, nên trốn. Ngủ dậy thấy đói bụng nên xuống nhà bếp xem có gì ăn cho đỡ đói. Dưới nhà ăn, mấy anh cán bộ miền Nam tập kết đang cùng nhau chế biến món ăn. Thấy mình xuống, cắt cho một khúc bánh tét. Vừa đưa bánh lên miệng, bỗng nghe tiếng hò reo của mọi người từ phía bên kia sông vọng đến. Tiếng reo to lắm, to đến mức mà mình chưa bao giờ từng nghe như thế. Trong đầu thoáng nghĩ: mọi người reo vui như vậy trong sân khu nhà ở của chuyên gia Liên Xô là chuyện gì nhỉ? Hay Bác Hồ về thăm? Đúng rồi, chỉ có Bác đến mọi người mới vui đến thế. Mình bỏ miếng bánh chạy ra sân, định xuống bến, bơi qua sông để được nhìn thấy Bác một lần, nhưng chợt nghĩ lại: giờ này bên ấy chắc Công an cấm hết đường rồi, làm sao đi được? Một ý nghĩ chợt lóe lên: nếu Bác xuống thăm thì khi về Hà Nội chắc chắn phải đi qua con đường trước cửa khu tập thể này, mình vội lao ra cổng. Ra đến cổng mới biết có rất nhiều người đã đứng ở đó rồi nên không thể chen ra sát đường được, mình rẽ ngang, vạch rào đi ra sát mép đường. Vừa lúc ấy xe chở Bác từ từ tiến đến. Bác ngồi trong xe, xe chạy chầm chậm, Bác giơ tay qua cửa xe vẫy vẫy. Xe chạy đến gần, nhìn rõ vầng trán cao, da màu hồng, trên khuôn mặt Bác có vài đốm tàn nhang nho nhỏ; mình cố giơ hai tay thật xa, thật cao và thật may mắn, hạnh phúc khi tay mình chạm vào tay Bác.

Nhà thơ Phạm Doanh dừng lời, nâng ly cà phê nhấp một ngụm nhỏ; những người xung quanh ngồi im như hóa đá, mắt chăm chú nhìn không giấu được sự ngưỡng mộ, chờ nghe tiếp câu chuyện.

-Các ông biết không, cảm giác của mình lúc ấy không thể nào diễn tả ra được: vừa sung sướng, hạnh phúc; vừa lâng lâng như qua một giấc mơ. Khi xe chạy xa rồi, mọi người ùa chạy theo phía sau xe Bác; còn mình đứng lặng đi. Khi vào phòng rồi, mình cứ nhìn chăm chăm hai bàn tay của chính mình, như không thể tin đó là sự thật. Trong mấy ngày Tết, người lúc nào cũng lâng lâng, không dám rửa tay; và cho tới tận bây giờ, mỗi khi nhớ lại, cảm giác ấy vẫn còn nguyên. Cũng từ khoảng khắc tuyệt vời ấy mà sau này trong suy nghĩ, hành động của mình, mình luôn luôn tự vấn: mình làm vậy đúng chưa, Bác biết có vui không?

Nhà thơ Phạm Doanh ngừng lời, đôi mắt ngân ngấn nước. Không ai bảo ai, mọi người ngồi cùng bàn uống cà phê đứng hết dậy, chìa tay ra để chờ được bắt tay nhà thơ Phạm Doanh – người có may mắn được chạm vào tay Bác. Bạn uống cà phê hôm nay, người làm bác sỹ, người làm giảng viên đại học, người làm báo… và trong trái tim họ, hình ảnh của Bác luôn sâu đậm trong tim. Nghe nói về Bác, nghe kể chuyện về Bác luôn là hạnh phúc của mọi người, vậy mà hôm nay được nghe chính người bạn thân của mình đã từng được chạm vào tay Bác quả là bất ngờ và quá đặc biệt.

 

Hòa Khánh, 4/5/2022 

Thứ Tư, 18 tháng 5, 2022

CÁ LÓC ĐÁ truyện ngắn của HỒNG CHIẾN - TẠP CHÍ VĂN NGHỆ PHÚ YÊN số 252 tháng 5 năm 2022

 

Sáng chủ nhật, trong buôn của H’Uyên có nhà tổ chức lễ bỏ mã(1), trong lễ bỏ mã có lễ đâm trâu được nhiều người ưa thích, vì thế tất cả người già trẻ, trai gái, lớn bé kéo nhau ra nghĩa địa dự lễ đâm trâu. H’Uyên và Y Nhớ không thích cảnh đâm trâu nên rủ Vân, người bạn học cùng lớp vào rừng Yang(2) chơi. Hai bạn người bản địa rủ Vân, vì Vân là học sinh người Kinh duy nhất trong lớp; mặt tròn, má bánh đúc nước da trắng hồng trông như con gái, khác hẳn các bạn trong lớp có nước da màu chiêng mới đúc. Bố Vân làm bác sỹ, mẹ làm giáo viên mới được biệt phái vào thị trấn công tác đầu năm học.

Theo truyền thuyết, phía thượng nguồn dòng sông trước buôn có một cánh rừng được gọi là rừng Yang, rừng ấy không ai dám vào, vì vào rồi không bao giờ trở về được nữa. Trí tò mò của tuổi trẻ nổi lên, thế là cả ba quyết định lấy thuyền ngược sông vào rừng Yang khám phá. H’Uyên lớp trưởng, mặt trái xoan, tóc đen quăn tự nhiên như được uốn, dài quá lưng; thông minh nhưng nghịch như quỷ, chuyên bày trò trêu ghẹo bạn bè trong lớp. Y Nhớ cùng tuổi, mặt chữ điền, tính hiền từ, hay giúp đỡ bạn bè công việc nặng như: khiêng, vác hay cuốc, cào…  tay chân săn chắc lắm, ra giáng đàn ông.

Sau nửa buổi chèo thuyền, cả ba cột thuyền vào gốc cây đa ven sông rồi lên rừng. Khu rừng già rất đẹp, cây trong rừng mọc cách đều nhau như được trồng, gốc to đến ba người lớn ôm không hết. Trên cây hoa phong lan đủ các màu đua nhau khoe sắc làm cả ba đi mãi không thấy mệt. Trời ngã qua chiều, cả ba đi xuôi theo dòng suối cạn tìm đường ra sông, trở về.

Nhảy qua mấy hòn đá lớn chặn ngang giữa dòng suối, Y Nhớ dừng lại, vui vẻ thông báo:

-Chiều nay có đặc sản ăn rồi.

-Thấy gì thế?

Vân đi phía sau nghe nói vậy dừng lại hỏi, H’Uyên cũng tò mò, lên tiếng:

-Gặp suối có nước à?

-Ừ, có vũng nước dưới kia, chiều nay có món cá lóc đá nướng rồi.

Y Nhớ trả lời H’Uyên, Vân nhăn mặt tỏ vẻ không tin, nói:

-Suối khô như bị nung thế này đào đâu ra nước mà bảo có cá, Y Nhớ lại đùa?

-Thật mà, lại đây nhìn xem có gì ở dưới kia nào?

Vân bước đến ngang chỗ Y Nhớ đứng, nhìn xuống phía dưới, bất chợt reo lên:

-Có nước thật rồi H’Uyên ơi!

-Vậy à?

H’Uyên bước lại, leo lên hòn đá đứng ngang với hai bạn, nhìn xuôi dòng suối. Mấy tảng đá lớn nơi ba người đang đứng, tạo thành bậc cao hơn phía dưới đến ba sải tay. Chắc mùa mưa, nước tràn về nhiều, bị đá ngăn dòng, nước dâng cao trước khi lao qua đá xuống phía dưới, xoáy sâu vào đất, tạo nên một cái vụng lớn. Xung quanh vũng nước còn sót lại rộng chừng hai bước, dài độ bốn bước chân; có nhiều những hòn đa to như cái nồi, cái chiêng xếp xung quanh. Nước trong vũng đen ngòm, chắc do lá cây rụng xuống lâu ngày tạo nên.

-Có chút nước thế kia thì làm gì có cá?

Vân nhìn vũng nước con con, tỏ vẻ không tin. Y Nhớ lại cười, một nụ cười trông thật dễ mến, trả lời:

-Ơ, Vân không biết thật hả; suối Tây Nguyên mùa khô chỗ nào có nước, chỗ đó có cá mà. Không tin thì xuống khắc biết.

-Lại nói đùa rồi, đứng trên này cách xa cả chục mét mà khẳng định dưới vũng nước bé tý tẹo dưới kia có cá mà lại là cá lóc đá thì giỏi quá. Mắt Y Nhớ tinh thế cơ á, hay tối qua Yang nói vậy?

-Kinh nghiệm đi rừng thôi Vân.

H’Uyên góp lời, Vân không chịu:

-H’Uyên lại bênh Y Nhớ rồi, thế cá lóc đá nó như thế nào mà cả hai người đứng trên này nhìn thấy chúng nằm dưới vũng nước đen ngòm kia?

H’Uyên giải thích:

-Con cá lóc đá nó giống y con cá lóc, miền Bắc còn gọi là cá quả hay cá chuối; con lớn nhất chỉ to hơn ngón tay cái một chút thôi, toàn thân màu đen giống như lá ngâm dưới nước lâu ngày. Khi mùa khô đến chúng tập hợp lại thành bầy sống gần những vũng nước còn sót lại, chống chọi với thiên nhiên khắc nghiệt để tồn tại. Các loài cá khác phần bị các loài thú ăn thịt, một phần nước đặc quá, thở không nổi nên chết. Trên Tây Nguyên chỉ có cá lóc đá mới sống được ở những nơi đất ẩm ướt như vũng nước con con này qua mùa khô.

-Hay nhỉ, thế lũ kỳ đà, rắn, chim, cò… không mò tới ăn thịt chúng à?

-Chúng nhảy nhanh lắm, lại trốn trong các kẻ đá rất giỏi nên các loài thú không bắt hết được.

Nghe H’Uyên giảng giải, Vân ngạc nhiên thốt lên:

-Hay nhỉ!

-Muốn biết thì phải xuống tận nơi là rõ ngay mà.

Y Nhớ trả lời. Cả ba vịn đá, bám đám rễ cây cổ thụ mọc bên bờ suối từ từ tụt xuống phía dưới. Y Nhớ xuống trước, đứng cạnh vũng nước nông choèn, nhìn rõ những chiếc lá mục đen ngòm phía dưới. Vân đi lại đứng bên cạnh, nhìn vũng nước rồi bất ngờ bật lên tiếng cười lớn:

-Ha ha ha… kinh nghiệm đi rừng, có nước là có cá, cái vũng này cá nhiều thật, chắc hôm nay bắt đầy gùi về phơi khô chia cho cả buôn cùng ăn quá.

Vân cười đắc ý, Y Nhớ không nói gì; H’Uyên xuống sau vì lưng đeo gùi nên khó đi, vỗ vai Vân cười bảo:

-Từ từ nào, mới đứng trên bờ làm sao biết dưới nước có cá. Bây giờ Y Nhớ đi chặt ba cái roi để ta thi xem ai bắt được nhiều cá.

-Hả, chặt roi bắt cá. Ha ha ha… hi hi hi!

Nghe H’Uyên nói chưa dứt câu, Vân đã cười nghiêng ngã, tay ôm lấy bụng, một phút sau mới dừng lại được, nói tiếp:

-Nay mình mới biết H’Uyên cũng thích đùa quá nhỉ.

-Sao lại đùa, chưa thấy bắt cá bằng roi bao giờ à?

-Roi đập vào đít thì… Vân biết rồi; nhưng còn bắt cá thì phải dùng: lưới, vó, lao hay chĩa hay là tay… chứ chưa bao giờ nghe ai nói dùng roi cả.

Y Nhớ chặt ba nhánh cây to bằng ngón tay út, dài hơn cánh tay mang lại chia cho mỗi người một cái, dặn:

-Bắt đầu từ hòn đá bên cạnh vũng nước nhé, mình thúc vào đá, cá sẽ nhảy ra xung quanh, nhớ đập cho trúng và vừa đủ để cá chết; nhưng không mạnh quá nó nát, nướng không ngon.

-Ơ, đánh cá thật à?

-Ừ, Vân chưa quen đứng ra xa xem. H’Uyên đứng bên trái, mình bên phải, ta bắt đầu nhé.

Y Nhớ nói xong bước lại bên hòn đá to bằng cái chiêng, gần mép nước, giơ chân đạp mạnh, hòn đá đổ nghiêng xuống gần mép nước. Điều kỳ diệu bất ngờ xảy ra, dưới đám lá hòn đá vừa chuyển đi, lũ cá lóc đá hoảng hốt nhảy lung tung như mưa rào; con lao xuống nước, con bay qua các hòn đá khác, có con lao cả qua đám cát cách xa đến hơn sải tay. H’Uyên, Y Nhớ vung roi quất, lũ cá bị đánh trúng rơi xuống đất nằm run run. Vân thích quá, bỏ cái roi trên tay lao lại vồ mấy con nhảy trên mặt cát.

Lạ, rõ ràng thấy nó nhảy lên cát, vậy mà vồ xong giở tay ra xem chỉ thấy cát, không thấy cá đâu cả. Hăng máu, Vân lao cả người lên mặt cát nhằm nằm đè cá luôn. Cá đã không bắt được, có con còn lao cả vào mặt, vào đầu; H’Uyên thấy vậy cười ngặt nghẽo đến không đánh cá được nữa. Y Nhớ cũng dừng tay, nói:

-Vân bơi trên cát đẹp lắm, mấy con cá lóc đá có vẻ thích, nhầm với cái thuyền độc mộc nên chúng nhảy lên lưng bạn làm người chèo đấy.

Vân đỏ mặt, lồm cồm bò dậy, phủi cát trên quần áo xong; xắn quần lên quá đầu gối, bảo:

-Đừng coi thường, đây chưa trổ tài đâu nhé. Bây giờ không cần roi mình cũng bắt được cá cho các bạn xem.

-Từ từ hãy lội xuống nước, lấy que khoắng trước xem có rắn dưới đó không đã.

H’Uyên vội kêu lên, ngăn lại. Vân xì một cái rõ dài, trả lời:

-Nhát thế, hay sợ Vân bắt được nhiều cá hơn. Xem đây!

Vừa nói, Vân vừa bước xuống vũng nước, thò hai tay lần dưới lớp lá mục rồi reo lên:

-Nhìn đây, một con rồi nè. Ngon chưa. H’Uyên đưa gùi đây cho mình bỏ cá. Dân bắt cá thứ thiệt nhé.

Động nước, lũ cá trốn dưới lớp lá cây thi nhau nhảy lên bờ, tìm các khe đá để lẫn trốn. H’Uyên và Y Nhớ lại vung roi quất lia lịa, một chốc đã thấy cá rải đầy trên cát. Y Nhớ kêu lên:

-Đủ rồi, không bắt nữa, Vân lên đi.

-Ơ, mình mới bắt được có một con, phải bắt thêm mấy con nữa cho bõ tức.

Vân nói xong lại bước ra giữa vũng nước đưa tay sờ sờ dưới lớp lá mục, mong tóm thêm được con cá nữa; bất ngờ hét lên một tiếng hãi hùng: “Ối!”, rồi ngồi phịch xuống vũng nước, giơ tay trái lên trời; mặt trắng bệch. Y Nhớ lao vội xuống xốc nách Vân kéo lên bãi cát, miệng líu lại:

-Sao vậy, sao vậy?

-Tay mình, tay mình, ôi đau quá.

H’Uyên cầm tay trái của Vân, thấy trong lòng bàn tay bị mất một miếng da to hơn móng tay cái, hình tròn, máu đang túa ra; chạy lại bên gùi lấy mấy cái lá, bỏ vào miệng nhai nát, lè ra đắp vào vết thương, hỏi:

-Vân đau lắm không? Đây là vết cắn của con ba ba đấy, không phải rắn, chỉ đau thôi không nguy hiểm đâu.

-Sao biết là ba ba?

Vân nén đau hỏi lại. Y Nhớ cau mày trả lời:

-Răng ba ba sắc lắm, nó mà cắn là đứt da ngay. Miếng cắn bao giờ cũng mất một miếng da hình tròn như miệng chai. Con này chắc phải được hơn gang tay đấy, để mình xuống bắt.

-Y Nhớ bắt thế nào?

H’Uyên hỏi, Y Nhớ trả lời:

-Mang cây chĩa xuống xăm, có vũng nước nông thế này thì nó chạy đâu cho thoát.

-Cách bắt ấy, ăn thịt không ngon. H’Uyên có cách khác bắt hay hơn.

-Cách gì?

Y Nhớ ngạc nhiên hỏi lại. H’Uyên trả lời:

-Đợi chút. Vân thấy đỡ chưa, đỡ đau là tốt rồi, máu cũng không chảy nữa vì chỉ mất một miếng da thôi. Đừng để miếng lá rơi ra nhé.

-Cái tay trái của Vân xui quá, sờ vào đâu bị đau đấy. Lúc sáng đụng vào cây thì bị bọ cạp đốt, giờ xuống nước lại bị ba ba cắn. Vân chỉ làm cây cảnh được thôi.

-Y Nhớ đừng trêu Vân nữa, có ai muốn vậy đâu. Bây giờ Y Nhớ đưa cây đinh ba đây, H’Uyên bắt ba ba cho xem.

Bỏ tất cả mọi thứ trong gùi xuống mặt cát xong, H’Uyên một tay xách gùi, một tay cầm cây đinh ba lộn ngược, ba mũi đinh chĩa lên trời, còn thọc cán xuống dưới nước. Thấy vậy, Vân kêu lên:

-H’Uyên cầm lộn rồi kìa, cái đầu ấy không làm con ba ba đau được đâu.

H’Uyên cười không nói gì, mắt chăm chú quan sát mặt nước, tay phải vẫn thọc cán đinh ba xuống nước như người dò đường qua vùng nước sâu. Y Nhớ đứng im quan sát bạn làm. Bỗng, H’Uyên thả cây đinh ba xuỗng, hai tay cầm gùi nhấn chìm xuống nước, kéo mạnh rồi hất ngược lên, reo to:

-Bắt được rồi!

Y Nhớ chạy xuống nước đỡ gùi trên tay H’Uyên mang lên bờ. Vân đứng bật dậy nhìn vào gùi xem thủ phạm cắn mình mặt mũi thế nào, nhưng… trong gùi chỉ toàn lá mục, bực mình phụng phịu:

-Lại bị lừa rồi, chỉ có lá mục thôi.

-Ha ha ha… coi thường nhau thế!

Y Nhớ cười vang, xách gùi bước ra xa vũng nước một đoạn rồi úp gùi xuống cát, lắc mạnh. Từ trong đám lá mục, một con ba ba màu đen, lưng rộng đến hơn gang tay chui ra, hối hả bơi trên cát, định quay lại vũng nước. Đặt miệng gùi trước mặt để ba ba tự bò vào rồi dựng gùi lên, Y Nhớ quay lại hỏi Vân:

-Con gì đây?

Vân đỏ mặt cười, trả lời:

-Sao các bạn giỏi thế?

-Thói quen thôi mà, Vân đi rừng vài lần cũng làm được vậy.

H’Uyên trả lời như an ủi Vân, Vân tò mò hỏi lại:

-Tại sao khi nãy H’Uyên lại dùng cán cây đinh ba đâm ba ba mà không dùng mũi sắt?

-Không phải đâm, mà là tìm. Muốn xác định con ba ba đang nằm chỗ nào, phải thúc cho nó chạy để bắt. Khi cán đinh ba dộng xuống lá cây, ba ba thấy động chạy trốn, mình dùng gùi xúc lên thôi.

H’Uyên giải thích cách bắt ba ba, Vân vẫn thắc mắc:

-Làm sao biết khi nào ba ba chạy mà xúc?

-Ô, phải quan sát chứ, nó ở dưới nước đi đến đâu bong bóng nước nổi lên đến đó, trốn đâu được!

-Thì ra thế!

-Tay Vân còn đau không?

-Bây giờ thấy rát quá.

-Để mình lấy dây buộc lại cho dễ đi.

Nói xong, H’Uyên lại bên bờ suối chọn một chiếc dây to bằng ngón tay cái, cắt một đoạn dài hơn gang tay, đặt lên hòn đá dùng sống xà gạc đập lên dây cho bong lớp vỏ ngoài chỉ còn lại phần sợi bên trong màu vàng sẩm. Tẽ sợi dây dẹp ra như tờ giấy quấn vào tay Vân. Quấn xong, H’Uyên hỏi:

-Thấy vết đau thế nào rồi?

-Hình như nong nóng thì phải.

-Thế là tốt rồi, sáng mai sẽ khô miệng thôi.

-Từ giờ cho đến lúc về tới nhà, Vân làm ơn chỉ nhìn, đừng đụng vào cái gì nữa không lại bị đau đấy.

Y Nhớ nghiêm nét mặt ra giáng người lớn dặn dò. H’Uyên cũng vui vẻ hòa theo.

-Y Nhớ nói đúng đấy, Vân lần đầu vào rừng mọi thứ phải làm quen dần dần, không nóng vội được; nóng vội mà thiếu hiểu biết chỉ có mang vạ thôi.

-Tuân lệnh!

Vân đứng dập hai chân vào nhau giơ tay chào làm cả ba cùng cười. Trong đầu Vân một ý nghĩ bất chợt chạy qua: hai người bạn Êđê học cùng lớp tám với mình sao cái gì cũng giỏi thế, vào rừng mà cứ như ở nhà.

Y Nhớ giúp H’Uyên nhặt cá bỏ vào xoong rồi đặt vào trong gùi. Con ba ba cõng luôn chiếc xoong trên lưng, thò đầu dài như đầu rắn nhưng không cựa quậy gì được. Cả ba tiếp tục xuôi theo suối, tìm đường ra sông trở về nhà. Thỉnh thoảng một tia nắng mặt trời xiên ngang qua lòng suối, tạo nên những sợi vàng óng ả, đẹp mắt.

 

 

Ghi chú tiếng Êđê:

1.    Lễ bỏ mã: Lễ cúng để vĩnh biệt người quá cố, không nhắc tới nữa;

2.    Yang: thần linh;

3.    Xà gạc: một loại dao dùng phát rẫy và đi rừng của người Êđê.