Thứ Hai, 23 tháng 3, 2015
TRÁI TIM CỦA NHỮNG CÁNH ĐỒNG Bút ký của Hồng Chiến - CHƯ YANG SIN SỐ: 271 tháng 3 năm 2015
Xe dừng lại, ông Nguyễn Huy Bá - Phó giám đốc Công ty cà phê 719 mở cửa xe bước xuống nói với anh em trong đoàn:
- Mời các bác xuống thăm “Trái tim của những cánh đồng”!
Vừa ngạc nhiên, vừa tò mò mấy anh em xuống xe thấy một hồ nước rộng mênh mông kéo dài về hướng tây, nhòa dần vào màu xanh bạt ngàn của cà phê. Trên hồ có 5 chiếc thuyền, mỗi chiếc có hai người đang chèo như dạo chơi. Ba hướng mặt hồ là những vườn cà phê xanh tốt bao bọc. Phía hạ lưu nơi đoàn đứng, con đập dài khoảng 700 mét, bề mặt cũng là đường giao thông rộng 6 mét nối hai sườn đồi với nhau, cao hơn những thửa ruộng lúa dưới chân đập khoảng 30 mét. Chỉ xuống mặt hồ nước, ông Nguyễn Huy Bá giọng hồ hởi nói:
- Vàng bạc cũng là đây, sản lượng cây trồng cũng bắt nguồn từ đây tất cả đấy các bác ạ. Ông cha ta từ xưa đã dạy “nhất nước, nhì phân, tam cần tứ giống”; ở Tây Nguyên đất đai màu mỡ, khí hậu chia hai mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô; mùa mưa thì chỉ cần làm cỏ một lần thôi, cây trồng ngắn ngày đã có thu hoạch, nhưng mùa khô thì gay lắm… có được những hồ nước như thế này sẽ quyết định được tất cả công việc nuôi trồng ở đây, vì thế chúng tôi vẫn nói vui: Đập nước chính là “Trái tim của những cánh đồng”.
Nhìn khuôn mặt phúc hậu của ông Phó giám đốc Công ty kiêm Phó bí thư Đảng ủy khi nói về các hồ nước như rạng rỡ hẳn lên và hình như có xen chút tự hào, về vùng đất và con người nơi đây. Lớp cán bộ, chiến sĩ, như ông Bá đã góp phần khai khẩn vùng đất hoang vu trở thành cánh đồng phì nhiêu, mang lại ấm no hạnh phúc cho nhiều gia đình, góp phần làm giàu cho Tổ quốc, tự hào là đúng lắm. Năm tháng qua đi, từ người chiến sỹ qua thực tế công tác và học tập, được Đảng và đồng đội tín nhiệm cử giữ các chức vụ lãnh đạo lèo lái con thuyền Công ty trong thời kỳ đổi mới và hội nhập vượt qua thử thách thác ghềnh của kinh tế thị trường đưa Công ty ngày một phát triển, mừng là phải lắm. Để có những hồ nước góp phần làm thay đổi cả một vùng đất, những người hôm nay không quên những người đi trước đã ăn đói, mặc rét, sốt rét… vẫn cắn răng luồn rừng đi tìm nguồn nước.
Ngày ấy… Chuẩn bị cho giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà, ngày 01 tháng 4 năm 1975, tại Tỉnh đội Hà Tĩnh, Trung đoàn 761 được thành lập với lực lượng chủ yếu là thanh niên các huyện: Kỳ Anh, Đức Thọ, Cẩm Xuyên, Can Lộc, Hương Sơn, Hương Khê, Nghi Xuân và thị xã Hà Tĩnh với tổng lực lượng hơn 1100 cán bộ chiến sỹ biên chế thành 8 Đại đội trực thuộc Trung đoàn do ông Dương Văn Dục - Chính ủy, ông Lê Đăng Minh - Trung Đoàn Trưởng, ông Nguyễn Văn Miên - Phó chính ủy kiêm Trung đoàn phó. Theo yêu cầu của tiền tuyến lúc ấy, Trung đoàn tiến quân theo đường mòn Hồ Chí Minh qua Khe Sanh, vào Gia Lai. Tháng 8 năm 1975 Trung đoàn nhận lệnh vào đóng quân tại khu vực phía nam huyện Krông Pắc, đổi tên thành Trung đoàn 719, trực thuộc Sư đoàn 333, Quân khu V; thực hiện hai nhiệm vụ lớn: Bảo vệ vững chắc chính quyền non trẻ và xây dựng kinh tế. Khi ấy, khu vực Trung đoàn đóng là rừng già nguyên sinh xen các sình lầy lau sậy mọc um tùm, muỗi bay như ong, vắt bò nhiều như trấu, mỗi khi có hơi người thì dựng ngược vòi lên như một rừng chông… Nhưng tất cả khó khăn ấy không ngăn được đội khảo sát băng rừng lội suối vẽ sơ đồ xây dựng một nông trường sản xuất nông nghiệp hiện đại. Khâu khó nhất có tính đột phá: tìm nguồn nước để xây dựng các hồ chứa phục vụ tưới tiêu.
Thời ấy rừng còn nhiều thú lắm, ngoài heo, nai đi thành đàn còn có cả hổ, báo, chó sói… thường xuyên lẩn quất quanh các doanh trại bộ đội. Thế nhưng các chiến sỹ làm nhiệm vụ khảo sát vẫn phải lặn lội vào rừng đo đạc tính toán, thiết kế các con đập, kênh dẫn nước… sao cho hiệu quả nhất. Có lần vào một buổi chiều tổ khảo sát đi đến ven sình bỗng một mùi hôi thối nồng nặc ùa đến, một chiến sỹ đi phía sau kêu lên: “Thủ trưởng ơi ở đây có con gì chết thối lắm”! Nói chưa xong đã thấy cái bụi rậm trước mặt vọng lên một tiếng ào, bóng con hổ lớn như con bò đực màu vàng vằn đen lao qua đường mòn lẫn vào rừng. Sau cuộc gặp bất ngờ hôm ấy có người về phát ốm phải nghỉ làm mất mấy ngày. Dù nguy hiểm là vậy, đội khảo sát vẫn hoàn thành nhiệm vụ đặt ra đúng kế hoạch. Từ đây các hồ nước được hình thành và tiến hành thi công, khi hoàn thành đủ nước tưới tiêu cho 1680 ha lúa nước, 358 ha cà phê, phục vụ các mục tiêu dân sinh khác của Công ty.
- Các hồ nước của chúng tôi không những điều tiết nước tưới tiêu trên diện tích canh tác của Công ty, mà còn là vựa cá nước ngọt rất lớn góp phần cải thiện đời sống cho công nhân và nhân dân trong vùng nữa đấy. - Ông Trần Trọng Văn, Chủ tịch Công đoàn Công ty góp lời.
Vai trò của Công đoàn cơ sở là chăm lo chế độ và đời sống của anh em cán bộ công nhân viên, có lẽ vì thế ông Chủ tịch Công đoàn Công ty đi cùng đoàn văn nghệ sỹ lưu ý với anh em về sản lượng cá thu hoạch được trên 5 hồ chứa nước trên địa bàn. Ông cho biết thêm: những hồ nước này được giao khoán cho các hộ vừa nuôi thủy sản vừa làm nhiệm vụ bảo vệ hồ. Nhiệm vụ gắn liền với quyền lợi nên buộc họ phải tự giác hoàn thành nhiệm vụ của mình. Cá ở các hồ lớn nhanh lắm, khi thu hoạch cá trắm, cá mè nặng 5 - 6 kg, cá chuối cỡ 4 kg một con là thường. Từ các hồ nước không chỉ nuôi cá mà còn chăn nuôi thêm vịt, tăng thêm thu nhập cho các hộ gia đình trong vùng.
Các hồ nước nơi đây vào mùa mưa góp phần giảm bớt lũ lụt, mùa khô khi vườn cà phê vào mùa tưới, cần những giọt nước mát để cây đâm bông kết trái thì chính các hồ nước này biến thành cơn mưa rào trùm lên cây cà phê đánh thức hoa xòe những cánh bé nhỏ trắng muốt khoe sắc dưới ánh nắng chói chang của mùa khô, khêu gợi các chàng ong mật làm nên vũ điệu tháng ba Tây Nguyên kỳ thú và chính vũ điệu ấy góp phần làm nên một vụ mùa bội thu. Dòng nước mát theo con mương đến các cánh đồng lúa theo ý của con người như trong mơ ước từ bao đời nay của người nông dân nghèo xứ Nghệ, làm nên những cánh đồng lúa năng suất cao, chất lượng tốt. Ở đâu có nước, ở đó có sự sống, sự đúc kết ấy hoàn toàn đúng; nhưng ở đây, trên vùng đất phía đông của Cao nguyên Đắk Lắk, nơi Công ty cà phê 719 đóng, con người còn điều khiển được dòng nước đến từng thửa ruộng theo ý muốn đã tạo nên sự khác biệt lớn trong sản xuất cũng như nuôi trồng thủy sản cả vùng. Sự khác biệt ấy góp phần quan trọng nâng cao sản lượng và chất lượng sản phẩm.
Hồ nước, trái tim của một vùng đất cung cấp nước cho cánh đồng giống như trái tim cung cấp máu nuôi cơ thể; trái tim có khỏe, cơ thể mới khỏe mạnh; còn cánh đồng có bội thu hay không phụ thuộc rất nhiều vào nguồn nước của hồ lưu giữ và điều tiết. Một sự liên hệ rất hay và độc đáo của những anh Bộ đội Cụ Hồ khi xưa, nay bỏ súng để cầm bút tính toán làm kinh tế, khoa học thật độc đáo!
Một vùng đất chuyển mình đang đổi thay hàng ngày. Sự đổi thay tốt đẹp ấy là kết quả của bao nhiêu lớp người đi trước mặc quân phục xanh, bắt thiên nhiên tuân theo ý muốn con người, làm nên điều kỳ diệu ở Tây Nguyên để lại cho lớp người đi sau những tài sản quý giá. Thành quả đó tiếp tục được phát huy có hiệu quả bởi những người gánh vác trọng trách công việc chung hôm nay; họ không những được trang bị kiến thức khoa học tiên tiến mà còn có tâm huyết với công việc.
Những ngày cuối cùng của mùa thu Tây Nguyên lại là mùa tươi đẹp trong năm, các cành cà phê trĩu quả đang chuyển từ màu xanh qua màu hồng và công nhân lại tất bật bắt tay vào thu hoạch. Những quả cà phê đỏ mọng chất đầy xe sẽ nối đuôi nhau tập kết về các sân nhà, trước khi chế biến để chu du đến nhiều nước trên thế giới quảng bá thương hiệu Công ty cà phê 719. Thành quả hôm nay có một phần đóng góp hết sức quan trọng của những hạt nước mát được lấy lên từ “trái tim của những cánh đồng”, nơi hội tụ của lớp người đi trước để lại cho hôm nay và mai sau.
Chủ Nhật, 22 tháng 3, 2015
CHƯ YANG SIN SỐ 271 - tác giả TRẦN ÁNH NGUYỆT
Tác giả TRẦN ÁNH NGUYỆT
NGƯỜI UY TÍN CỦA BUÔN
Đến buôn Năng, xã Ea Hồ,
huyện Krông Năng hỏi ai cũng biết nhà thương binh Y Ngô Mlô. Người thương binh ấy
không chỉ là một Trưởng Ban Mặt trận gương mẫu mà còn là một tấm gương vượt khó
vươn lên làm giàu. Mọi người vẫn gọi ông bằng cái tên trìu mến “Người uy tín của
buôn”.
Ông sinh ra và lớn lên
trên mảnh đất Tây Nguyên hùng vĩ. Năm 1968 ông tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu
nước, chiến đấu ở các mặt trận trên địa bàn Đắk Lắk. Trong quân ngũ, ông luôn
hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, được đồng chí, đồng đội đánh giá cao. Năm 1984,
sau khi tham gia quân ngũ 15 năm, ông xuất ngũ với quân hàm đại úy và mang theo
vết thương nặng với tỷ lệ thương tật 61%.
Sau khi xuất ngũ trở về địa
phương, bắt đầu cuộc sống mới. Đối mặt với những khó khăn sau chiến tranh người
khỏe mạnh đã vất vả huống chi ông là một thương binh. Ông thầm nghĩ “Trước đây, đất nước ta phải đối mặt
với ba thứ giặc, giặc ngoại xâm
thì ông góp phần cùng đồng đội đánh đuổi chỉ còn lại giặc đói và giặc dốt muốn thắng nó phải
kiên tâm bền chí”. Những năm đó, bà con trong buôn đang rất nghèo, sản xuất
nông nghiệp còn theo kiểu “phát - đốt - chọc - tỉa”, mùa màng chủ yếu trông đợi
vào thiên nhiên, trình độ dân trí thấp nên dễ bị bọn xấu lôi kéo và kích động…
Trong đầu ông lúc nào cũng đặt ra câu hỏi: Làm sao để góp phần hoàn thành tâm
nguyện của Bác Hồ kính yêu, đó là “… nhân dân ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng
được học hành”. Chính điều đó đã thôi thúc ông tìm tòi, sáng tạo trong lao động trên chính mảnh đất
của quê hương mình để không còn cái
đói, cái nghèo đeo bám và vươn lên làm giàu; qua đó góp phần giúp đỡ đồng bào từng
bước nâng cao nhận thức, xóa bỏ hủ tục biết cách làm ăn, xây dựng cuộc sống ấm
no, hạnh phúc. Những đêm trở trời vết thương trên thân thể đau nhức cộng với
gánh nặng gia đình gồm cha mẹ già và các con thơ làm ông không khỏi băn khoăn. Nhưng với bản lĩnh của một
người từng trải và với trách nhiệm của một
người đảng viên, ông từng bước tìm cho mình hướng phát triển kinh tế, tìm cách
chuyển hướng sản xuất định canh, bỏ các tập quán canh tác cũ. Ông động viên các thành viên trong gia đình tận
dụng quỹ đất hoang hóa đưa vào sản xuất, trồng hoa màu và cà phê xen lẫn cây ăn
trái. Trồng hoa màu để lấy vốn phát triển cây cà phê theo kiểu “lấy ngắn nuôi
dài”. Ông mạnh dạn vay vốn xóa đói giảm nghèo
để mua sắm các máy móc phục vụ sản xuất như máy cày, máy phay, máy bơm…
Với bản chất siêng năng cần
cù, chịu khó học hỏi, áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, đến
nay, gia đình ông đã có 3 ha cà phê trồng xen các cây ăn quả như sầu riêng, hồ
tiêu, 05 sào lúa nước, 02 hồ nuôi cá mang lại thu nhập mỗi năm cho gia đình ông
hàng trăm triệu đồng. Khi đã có điều kiện kinh tế, với tinh thần tương trợ giúp
nhau cùng tiến bộ ông thường xuyên giúp đỡ những hộ nghèo trong buôn như cung cấp
cây giống, con giống, nước tưới, cho vay vốn không lấy lãi… Đặc biệt, ông tận
tình đến từng gia đình trong buôn để chia sẻ những kinh nghiệm trong lao động sản
xuất. Nhờ sự giúp đỡ của ông, cuộc sống của các hộ nghèo đã có nhiều chuyển biến
rõ rệt.
Không chỉ làm kinh tế giỏi.
Ông còn tích cực tham gia công tác ở địa phương, hăng hái hoạt động công tác mặt trận ở cơ sở. Trong xã có
hơn ba ngàn người theo đạo, ông là người có công lớn trong việc vận động họ sống
"tốt đời, đẹp đạo", không nghe và không làm theo kẻ xấu. Đối với những
thanh - thiếu niên chậm tiến, người lầm lỡ, ông luôn gần gũi lắng nghe những
tâm tư của họ để có cách thuyết phục và định hướng phù hợp. Để cảm hóa những
người lầm lỗi chống phá chế độ, ông không tiếc thời gian và công sức theo kiểu
“Mưa dầm thấm lâu”. Kết quả, ông đã cảm hóa được nhiều đối tượng chống đối,
thái độ ngoan cố, trở thành người tốt; nhiều thanh niên lêu lổng trước đây, bây
giờ đã
chí thú làm ăn ổn định cuộc sống, góp phần đảm bảo an ninh trật tự tại địa phương.
Trong các cuộc gặp gỡ với bà con
trong buôn, ông tuyên truyền đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà
nước, qua đó, giúp người dân nêu cao cảnh giác cách mạng, không bị mắc mưu kẻ xấu,
lo làm ăn, không vi phạm pháp luật. Với những việc làm cụ thể trên, ông được bà
con tin yêu và được bình bầu “Người có uy tín”, Già làng của buôn từ nhiều năm nay.
Ông tâm sự: Đã là “Cây
sung đầu bến nước, cây đa đầu buôn” thì phải gánh vác trách nhiệm với dân với Đảng, phải làm chiếc cầu nối vững
chắc giữa ý Đảng - lòng dân, luôn
kiên tâm, bền chí trong sự nghiệp bảo vệ an ninh trật tự. Người dân ở đây ví
ông là “cây đại thụ tỏa bóng mát bình yên”, “Dòng suối đầu nguồn mát lành” cho
mọi người; góp phần vào công cuộc phát triển kinh tế-xã hội của địa phương.
Với những thành tích trên,
nhiều năm liền ông được tặng danh hiệu Cựu chiến binh gương mẫu, thương binh sản
xuất giỏi của huyện Krông Năng và được khen thưởng trong công tác bảo vệ an
ninh trật tự tại địa phương. Tháng 12 năm 2014, ông được Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh
mời dự Hội nghị gặp mặt các già làng, trưởng thôn, buôn tiêu biểu của tỉnh để
trao đổi những kinh nghiệm trong công tác xóa đói, giảm nghèo. Ông là một tấm
gương bình dị mà tỏa sáng trong lòng mọi người.
Thứ Sáu, 20 tháng 3, 2015
Chủ Nhật, 1 tháng 3, 2015
GIỚI THIỆU CHƯ YANG SIN SỐ XUÂN ẤT MÙI - tác giả AN PHƯƠNG
Nhà văn - Nhà báo H'XIU HMOK - bút danh AN PHƯƠNG
(hội viên Hội VHNT Dak Lak)
BẾN NƯỚC - NÉT ĐẸP TRUYỀN THỐNG
CỦA NGƯỜI ÊĐÊ CÓ NGUY CƠ BỊ MAI MỘT
Bến nước từ xưa đã gắn bó với đời sống
của người Êđê, là nơi họ đến tắm giặt hay lấy nước về để ăn uống. Với sự gắn bó
mật thiết ấy, hàng năm, người Êđê tổ chức lễ “cúng bến nước” để bày tỏ sự biết ơn
đối với thần linh, cầu mưa thuận gió hoà, cuộc sống ấm no cho buôn làng. Ngày
nay, ở nhiều nơi, bến nước vẫn được người dân và chính quyền địa phương gìn giữ.
Tuy nhiên, dưới tác động của đô thị hoá, nhiều bến nước đã không còn tồn tại, kéo
theo đó là sự mất dần của nghi lễ cúng bến nước ở nhiều buôn đồng bào dân tộc Êđê.
Bến nước buôn Tùng Thăng (xã Ea Ral, huyện Ea Hleo) có 2
nhánh bến nằm đối diện nhau, nước trong vắt, chảy quanh năm bất kể mùa khô hay
mùa mưa. Dù mỗi nhà đều có giếng nước nhưng hàng ngày, các bà các chị vẫn thường
xuyên ra bến nước lấy nước dùng cho việc ăn uống, còn nước giếng chỉ dùng để tắm
giặt và rửa chén bát. Đều đặn hàng ngày, bà H’Huăt Adrơng (thường gọi amí
H’Loch) lại ra bến lấy nước, đối với bà, đấy là một thói quen thường nhật.
Bến nước gắn bó với đời sống người dân trong buôn nên hàng
năm cả buôn lại họp nhau cùng chuẩn bị tổ chức lễ “cúng bến nước” để cảm tạ các
thần, cũng là một nghi thức cúng cầu sức khoẻ và cầu bình an, yên ấm cho cả buôn.
Tùy vào điều kiện kinh tế của buôn trong năm đó mà sẽ mổ bò hay heo để làm lễ cúng.
“Thường thì mỗi nhà góp khoảng 10 nghìn, nếu mà cúng heo thì mỗi
nhà góp 20 nghìn, nói chung là mọi người cùng đóng góp rồi mua các thứ về chuẩn
bị và cùng nhau tổ chức lễ cúng thôi”. Ông Y Gu Kpă (thường gọi aê Wương),
buôn trưởng buôn Tùng Thăng cho biết.
Còn ở xã Ea Tul (huyện Cư Mgar), dù không còn tổ chức lễ
cúng bến nước hàng năm, nhưng người dân vẫn gắn bó với bến nước buôn Sah B. Ở đầu
nguồn bến nước này có nhiều cây cổ thụ toả bóng xanh rì, nước luôn mát lạnh và
trong vắt. Chính quyền và nhân dân địa phương đã đóng góp tiền và ngày công trải
bê tông con đường xuống bến nước, xe máy cày cũng có thể chạy xuống đậu ngay gần
đầu bến. Người dân cho biết, mặc dù ở xã Ea Tul có nhiều bến nước nhưng mọi người
vẫn đến bến này lấy nước thường xuyên. Bến nước này có từ thời cha ông xưa được
người dân duy trì và bảo vệ cẩn thận. Ống nứa cắm vào mạch nước để làm máng dẫn.
Theo thời gian, máng nước bị cũ hay hư mục, người ta lại chặt ống mới thay vào.
Cứ như thế, mạch nước cứ tuôn tràn đầy máng, đem đến những giọt nước mát lành
cho mọi người sử dụng. Bà H’Gueh Ayun (thường gọi amí Nghip) kể: “Thời
cha ông mình ngày xưa thì có làm lễ cúng bến nước, nhưng thế hệ mình bây giờ thì
không làm nữa. Nhưng người ta vẫn đến đây lấy nước, cả người ở buôn Knia, buôn
Phơng, buôn Tría cũng đến đây lấy nước, người ta đi cả xe máy cày đến để chở nước
về sử dụng, rồi người ta còn tắm giặt ở đây nữa, bến nước ở đây nhiều người dùng
lắm”.
Bến nước buôn Ky (phường Thành Nhất, thành phố Buôn Ma
Thuột) được khánh thành và đưa vào sử dụng đúng dịp kỷ niệm ngày giải phóng Buôn
Ma Thuột 10.3.2013. Nhân dịp này, chính quyền địa phương và Phòng Văn hoá Thông
tin thành phố Buôn Ma Thuột cùng phối hợp tổ chức lễ “cúng bến nước” theo truyền
thống. Đây là một tin vui đối với người dân trong buôn, nhiều thanh niên rất phấn
khởi vì lần đầu tiên được chứng kiến một lễ hội truyền thống của dân tộc. Tuy
nhiên, theo nhiều người dân chứng kiến lễ cúng nhận xét: Lễ cúng bến nước được
tổ chức ở đây không đúng theo nghi thức truyền thống mà có nhiều sự đổi mới và
pha trộn chưa thật hợp lý, kể cả trong cách tiến hành lễ và trong cách chọn địa
điểm làm lễ.
Nhưng buôn Ky vẫn còn may mắn hơn
nhiều buôn làng khác ở tỉnh Đắk Lắk bởi ở đây vẫn còn giữ được bến nước và tổ
chức được lễ cúng bến nước như hiện tại. Trong khi đó, nhiều buôn đồng bào Êđê
khác, chẳng hạn như 3 buôn ở xã Hoà Xuân (thành phố Buôn Ma Thuột) thì hoàn toàn
không còn bến nước, do đó “lễ cúng bến nước” - cũng không còn . Ông Y Khiêm Êban,
Chủ tịch Hội đồng già làng xã Hòa Xuân, thành phố Buôn Ma Thuột, cho biết: “Bến
cũ dọc theo suối Ea Tam ô nhiễm quá nhiều rồi. Hơn chục năm nay bà con không dùng
nữa. Hầu hết bà con bây giờ đang dùng nước máy. Cách đây mấy năm chúng tôi cũng
đã có ý xin cấp trên hỗ trợ xây dựng lại bến nước để bà con có nơi sinh hoạt
mang tính truyền thống của mình”.
Ở một số buôn làng trong tỉnh Đắk Lắk, ngành chức năng và
chính quyền địa phương đã tiến hành đầu tư khôi phục bến nước và tổ chức lễ cúng
bến nước cho bà con, nhưng con số này còn khá khiêm tốn. Nguyên nhân một phần là
do tác động của đô thị hoá, một số nơi người dân đã bỏ hẳn thói quen sử dụng nước
ở bến nước trong các sinh hoạt hàng ngày, thay vào đó họ dùng nước giếng, nước
máy vừa tiện lại vừa đảm bảo vệ sinh. Mặt khác, do môi trường thiên nhiên bị tác
động, các bến nước không còn giữ được mạch nước ngầm hay rừng đầu nguồn, diện tích
đất bao quanh bến nước cũng bị người dân lấn chiếm nên hầu như bến nước đã bị
phá bỏ hay bị chuyển sang sử dụng với mục đích khác.
Bến nước không chỉ gắn bó với sinh hoạt của người Êđê mà
nghi lễ cúng bến nước cũng là một nét văn hoá đẹp truyền thống của dân tộc Êđê.
Dù hiện nay, nhiều nơi người dân đã có nguồn nước khác dùng trong sinh hoạt hàng
ngày, nhưng dưới góc độ văn hoá, việc duy trì bến nước và lễ cúng bến nước là cần
thiết để góp phần bảo tồn văn hoá và bản sắc dân tộc.
Thứ Bảy, 28 tháng 2, 2015
GHI CHÉP Ở BUÔN PUĂN A bút ký của HỒNG CHIẾN - CHƯ YANG SIN SỐ: 173+174 tháng 1&2 năm 2007
Đường từ thành phố Buôn Ma Thuột về xã Ea Phê, huyện Krông Pak chỉ độ 38
km. UBND xã đóng gần đường quốc lộ 26A có khuôn viên tương đối rộng rải, thoáng
mát, toạ lạc trên đó là căn nhà làm việc hai tầng được thiết kế khá đẹp. Tiếp tôi
tại trụ sở, bà H’Ka Phó Chủ tịch Uûy ban nhân dân xã vồn vã bắt tay, mời nước.
Thoáng nhìn bề ngoài, bà (phải gọi bằng chị mới đúng) tuổi ngoài bốn chục, có dáng
giống như một cầu thủ bóng chuyền: to, cao, mạnh mẽ; có lẽ đây là người trực tính
và quyết đoán. Sau khi xem giấy giới thiệu, chị H’Ka hỏi thăm sức khỏe Chị Linh
Nga – Chủ tịch Hội VHNT và các anh chị trên văn phòng Hội vì lâu ngày chưa gặp.
Biết tôi lần đầu đi công tác phong trào chị dặn dò khá chu đáo các công việc cần
lưu ý khi về vận động quần chúng tại buôn. Ngoài cửa mấy người thập thò chờ đến
lượt được tiếp. Chị mời tôi uống nước và đợi buôn trưởng đưa về. Qua trao đổi,
tôi thấy có cảm tình với người nữ cán bộ địa phương tận tình, chu đáo và dễ gần,
mà bề ngoài trông có vẻ như rất nghiêm khắc. Trước khi xuống đây công tác tôi cứ
tưởng người phụ nữ Ê đê làm đội trưởng công tác nổi tiếng trong thời kỳ mới giải
phóng là con người khô khan, sắt đá. Gặp và làm việc mới thấy chị là người rất
chu đáo, cẩn thận trong công việc. Có những người cán bộ năng nổ như thế này không
trách địa phương xây dưng và giữ được danh hiệu điển hình tiên tiến nhiều năm
liên tục của xã Ea Phê.
Uống chưa xong ly nước đã có người đàn
ông tuổi trên năm chục bước vào phòng. Chị H’Ka đứng dậy giới thiệu: Đây là anh
Y Tó buôn trưởng buôn Puăn A, còn đây là anh Hồng Chiến ở chỗ Chị Linh Nga được
cử về buôn ta công tác. Anh đưa về buôn bố trí chổ ở cho anh ấy nhé. Sau cái bắt
tay thân mật tạm biệt chị phó chủ tịch, tôi đi theo ông Y Tó. Đường về buôn nếu
tính từ quốc lộ 26A vào đến nhà buôn trưởng chỉ độ hơn một km, nhưng rất khó đi
vì xe ô tô, máy cày chạy quá nhiều, mặt đường toàn “ổ trâu”. Căn nhà buôn trưởng
gồm ba gian, mái lợp tôn, thưng ván xung quanh, nền láng xi măng bóng lộn. Giửa
nhà kê bộ xa lông thẻ trang nhã, được chạm trổ tinh vi, góc nhà để chiếc ty vi
màu 21 in hiệu Soni, màn hình phẳng màu đen. Buôn trưởng lấy phích pha trà, mùi
trà Bắc Thái thơm ngào ngạt toả ra, chứng tỏ chủ nhà là người sành uống trà. Vừa
trò chuyện, vừa quan sát xung quanh, tôi bị bất ngờ trước những gì được thấy.
Theo như cách trang trí trong nhà và
cả cách quy hoạch vườn, ao tôi đoán chắc kinh tế gia đình cũng phải khá lắm. Trước
đây tôi chỉ nghe đến xã Ea Phê là một xã điển hình tiên tiến không chỉ của huyện,
của tỉnh mà còn của cả nước; song vẫn không hình dung ra nó như thế nào. Nay được
đêùn một buôn, quan sát xung quanh tôi giâït mình nhận ra nét rất quen của các
làng quê miền Bắc. Những ngôi nhà được thiết kế vườn khá giống nhau: bên nhà là
vườn cây ăn trái xen cà phê, xa hơn một chú là ruộng rau xanh mượt mà. Trước đây
khi chưa về công tác tại toà soạn, tôi cũng thường la cà xuống các buôn người dân
tộc bản địa sinh sống, họ có nét chung: sống rất đoàn kết. Những ngôi nhà sàn dài
hàng chục gian được làm sát gần nhau, nhà này cách nhà kia chỉ độ ba bốn mét là
cùng, cây cối được dọn sạch sẽ, quang đảng, đứng dưới gầm nhà sàn có thể quan sát
được hêt toàn bộ các nhà trong buôn; còn ở đây thật khác, nét khác của buôn là
nhà cửa được bao bọc xung quanh bằng những mảnh vườn tươi tốt. Nhà sàn xen lẫn
nhà trệt xây theo kiểu Thái thấp thoáng
sau những vườn cây. Ngồi trao đổi công việc với buôn trưởng một lúc, tôi xin được
đến nhà H’ Vêra, cô gái vừa học xong lớp 12 và có tham gia trại sáng tác văn học
dành cho thanh thiếu niên người dân tộc thiểu số hè vừa qua.
Ngôi nhà ngói hai gian, năm phòng xây theo kiểu Thái khá bắt mắt. Giữa phòng
khách kê bộ xa lông nệm bọc gia, trong tủ kê sát tường là một giàn karaôkê hiện
đại. Tiếp chúng tôi, người đàn ông trung niên đậm người, tuy không cao lắm nhưng
trông có vẻ lanh lợi, hoạt bát, khuôn mặt cương nghị và đặc biệt có cặp mắt rất
thông minh. Nghe ông buôn trưởng giới thiệu, chủ nhà siết tay tôi thật chặt và
nói: Anh ở chỗ chị Linh Nga à! Chị ấy có khỏe không? Nhân dân mong chị về thăm
lắm đấy. Quay ra cửa sổ anh gọi con gái vào pha nước. Cô con gái đậm người, rất
giống bố bước vào cửa, tôi nhận ngay ra cô bé H’ Vêra. Có lẽ H’ Vêra cũng bất
ngờ khi thấy tôi xuất hiện trong nhà mình, nên tròn mắt nhìn trước khi cất tiếng
chào. Amí H’Vêra người hơi gầy rất giống cô gái người kinh, nếu không được giới
thiệu trước ta có thể nhầm chị với một cô thôn nữ vùng quê miền trung, mang két
bia Sai Gòn trắng đặt bên bộ xa lông và đặt đĩa thịt heo nướng lên bàn chị nói:
Mấy khi anh về thăm, mời ba anh em lai rai cho vui.
Tôi thật bất ngờ trước cách cư xử của gia đình. Về một buôn người dân tộc Ê
đê được chứng kiến vườn, nhà, tiện nghi sinh hoạt và cả phong cách sống như người
thành thị, không ngạc nhiên sao được. Cuộc
sống mới mà Đảng và chính quyền mang lại
làm đổi thay vùng đất Tây Nguyên giàu đẹp này. Sự thay đổi ấy diễn ra trong từng
ngôi nhà, từng con người, từng phong giao tiếp… Ba anh em vừa lai rai vừa tâm sự.
Qua câu chuyện tôi biết anh chủ nhà tên Y Tâm, quê tận thành phố Buôn Ma Thuột “bị” vợ bắt về đây.
Cuộc sống khi hai người mới lấy nhau vô cùng cơ cực. Vùng đất trù phú ngày nay,
xưa kia là những cánh rừng nối tiếp nhau chạy dài đến hết cả tầm mắt. Sau giải
phóng lập Hợp tác xã nông nghiệp, xây dựng cuộc sống mới, biến mảnh đất hoang
vu thành mảnh đất thanh bình đầm ấm, cuộc sống ngày một ấm no, hạnh phúc. Thật
khó tin một hộ gia đình người dân tộc bản địa, không những đủ ăn, có đầy đủ tiện
nghi sinh hoạt hiện đại phục vụ gia đình,
mà sáu đứa con đều được học hành tử tế. Cô gái đầu có cái tên rất đẹp H’ HaNa đang
học năm thứ ba tại trường Đại học Đà Lạt, cô thứ hai - H, Vê Ra học xong lớp mười
hai dứt khoát ở nhà ôn thêm năm nửa để thi vào Đại học, chứ nhất định không đi
học trung cấp; cậu thứ ba - Y Za Nai học lớp mười một và cô thứ tư - H’Biểu học
lớp mười tại trường nội trú Ama Trang Lơng của tỉnh, cô thứ năm - H’ Nhai học lớp
chín và cậu út - Y Thiêu học lớp tám gần nhà. Như đoán được sự ngạc nhiên của tôi
trước cuộc sống có phần sung túc của gia đình, Y Tâm cho biết thêm: Mình từng làm
cán bộ công ty bông Dak Lak, vận động nhân dân trong vùng trồng bông, góp phần
giúp nhiều hộ gia đình nâng cao thu nhập, phá thế độc canh trước đây chỉ trông
chờ vào ba cây trồng chính là lúa, bắp và cà phê. Còn bây giờ cây nông nghiệp được
trồng đa giạng, nhiều loại giống mới được nhân dân đưa vào trồng, có năng suất
cao đã góp phần làm giàu cho người dân trong vùng. Do kinh tế phát triển, người
dân giàu lên, nhu cầu mua sắm cũng tăng cao nên ngày nay nhiều hộ bung ra mở tiệm
buôn bán, phục vụ nhu cầu bà con không chỉ ở trong buôn mà vươn ra cả các vùng
lân cận. Điều trăn trở nhất ở đây là còn một số hộ được nhà nước cấp đất có sổ đỏ
hẳn hoi mà vẫn không được giao đất vì có người lấn chiếm, hơn chục năm nay rồi,
qua bao nhiêu lần họp vẫn không giải quyết dứt điểm, người dân tộc ở đây tin Đảng,
tin chính quyền nhiều lắm, nhưng chờ mãi thế này cũng buồn.
Nghe tin có tôi đến, ông Ma La Ri, Bí thư chi bộ thôn cũng đến góp chuyện.
Ma La Ri: to, cao cở 1,7 mét, trán hơi dô, tuổi chắc xấp xỉ 40, dáng khỏe mạnh
như đô vật; nắm tay tôi thật chặt: Các anh về thăm buôn thế này là quý hóa quá.
Anh biết đánh chiêng không? Không à. Tiếc nhỉ. Tôi phải thú thật mình chỉ biết
viết văn xuôi còn âm nhạc dốt đặc. Anh Bí thư chi bộ có vẻ tiếc rẻ vì cứ tưởng
ai ở Hội VHNT đều giỏi đánh chiêng cả. Anh muốn dạy cho lớp trẻ trong buôn khỏi
quên cái âm nhạc cổ truyền của ông bà. Anh hồ hởi cho tôi biết thêm: Đập Krông
Buk Hạ mà hoàn thành, nhân dân quanh vùng sẽ có nhiều ruộng lúa ba vụ, cà phê đủ
nước tưới, chắc chắn năng suất sẽ cao. Đủ ăn, đủ mặc và sẽ giàu lên là cái chắc.
Nhưng cái lo của lãnh đạo địa phương là bản sắc dân tộc phải được gìn giữ và phát
triển. Cái gì cũng có gốc rễ, cội nguồn, con người mà không giữ được nét văn hóa
cha ông để lại thì giàu có để làm gì. Tôi thấy tâm đắc với những suy nghĩ của các
anh ở đây.
Trời về chiều, tôi rủ các anh đi dạo trên con đường chính giữa buôn, nhìn từng
đoàn xe công nông nối nhau gầm rú chở bắp, chở cà phê vừa thu hoạch về, trên xe
chất đầy các bao tải. Ngồi vắt vẻo giữa đống bao bì đó là những khuôn mặt rạng
rở, miệng nở nụ cười tươi thắm khi chạy qua tôi. Theo chân ông buôn trưởng, tôi
tới nhà ama Thin, nhà amí H’Nhai, nhà Y Vai… nhà nào vào thời điểm này cũng thấy
để trước sân từng đống bắp cao như núi, mảnh sân trước nhà rải kín quả cà phê.
Cảnh chiều ở một buôn gần như 100% là người dân tộc Ê đê đang hối hả trở về sau
một ngày lao động, làm lòng tôi cảm thấy
vui vui vì biết đó là dấu hiệu của một vụ mùa bội thu. Giờ đây cuộc sống của của
đa số người dân buôn Puăn A không những đủ ăn, có của để dành, xây dựng được những
ngôi nhà khang trang, mà nhiều hộ còn trở
nên giàu có. Nhiều nhà không những sắm đầy đủ tiện nghi phục vụ sinh hoạt
gia đình, mà còn mua được máy móc phục vụ sản xuất, tăng năng suất lao động. Anh Y Tâm vui vẻ nói trao đổi thêm với tôi như rút
ra kết luận: cái quan trọng nhất để nâng cao mức sống cho bà con dân tộc nơi đây
là tạo điều kiện cho người dân làm giàu, chỉ cho người dân biết cách làm giàu;
chứ không phải cầm tay dắt người ta theo đi làm giàu, cho người ta tiền để người
ta giàu. Nói đâu xa, mấy hộ buôn mình nhận tiền đền bù đất bị quy hoạch làm hồ,
không chịu mua đất khác canh tác lại mang tiền ăn nhậu hết nên nghèo, xã cấp đất
khác lại chê xa không chịu nhận.
Câu nói của Y Tâm như một triết lý nhưng ngẫm ra lại đúng. Người dân được áp
dụng khoa học vào sản xuất, xoá đi nền sản xuất tự cung, tự cấp từ bao đời nay ở
đây để phát triển lên nền sản xuất hàng hoá. Cơ chế thị trường đã và đang trực
tiếp tác động đến đời sống người dân nơi đây. Nhìn chung có cái được, cái mất;
cái được lớn nhất đời sống đa số hộ được cải thiện và nâng cao, con em được học
hành, đời sống dân trí được nâng cao; song bên cạnh đó cái mất cũng rất đáng
quan tâm như nhiều thanh niên bây giờ chỉ thích uống rượu, hát kraôkê mà quên đi
nhạc truyền thống dân tộc; thậm chí bây giờ cách đánh chiêng của dân tộc mình cũng
không biết. Ông Y Tó, buôn Trưởng thở dài và nói thêm: anh về trên âùy đề nghị
với lãnh đạo Hội cho người về dạy cho cánh thanh niên học đánh chiêng với, chiêng
còn đấy nhưng bon trẻ quên hết rồi.
Nỗi trăn trở của buôn trưởng cũng đúng thôi, cồng chiêng của cha ông bao đời
để lại được cả thế giới công nhận là “Văn hoá phi vật thể,” vậy mà người dân bản
địa lại quên, không biết đến thì quả là có lỗi. Nhưng khôi phục lại như thế nào
thì một mình buôn trưởng với Hội VH-NT
Dak Lak không thể làm nổi mà phải có sự đồng thuận của cả các cấp chính quyền cũng
như cơ quan quản lý chuyên môn mà trực tiếp phải là Phòng VH-TT cấp huyện. Là
người dân tộc Ê đê, có trong tay cả bộ chiêng quý giá mà không biết sử dụng hết
thì đáng tiếc lắm thay. Thiết tưởng các cơ quan lãnh đạo văn hoá địa phương cần
suy nghĩ nghiêm túc vấn đề này. Cái may cho phong trào ở đây, cán bộ địa phương
còn muốn giữ lại truyền thống văn hoá dân tộc, còn trăn trở với bản sắc dân tộc
đang ngày môït mai một mà tìm cách khôi phục lại. Với tấm lòng vì dân, vì phong
trào như thế, tôi tin một ngày không xa các buôn người dân tộc bản địa Tây Nguyên
nói chung và buôn Puăn A , xã Ea Phê, huyện Krông Pak nói riêng không chỉ nhà cửa
khang trang, tiện nghi sinh hoạt trong gia đình hiện đại, mà sẽ còn rộn rã tiếng
chiêng trong những ngày lễ hội truyền thống.
Thứ Sáu, 27 tháng 2, 2015
CHƯ YANG SIN SỐ XUÂN ẤT MÙI - tác giả BÙI MINH VŨ
ĐỌC THƠ TRÊN TẠP CHÍ
CHƯ YANG SIN
Thơ luôn gắn bó với cuộc
sống; thoát ly cuộc sống, thơ rời bỏ con người, xa lánh thế giới tinh thần và
như thế, thơ còn có ý nghĩa gì với bạn đọc? Trên quan niệm ấy, tôi đã cố gắng đọc
301 bài thơ trên tạp chí Chư Yang Sin (phát hành năm 2014), với nhiều thể
loại, trong đó lục bát có 90 bài, thơ mới: 109 bài, tự do: 66 bài, 4 chữ: 2 bài,
5 chữ: 16 bài, 6 chữ: 9 bài, 7 chữ: 11 bài, siêu thực: 3 bài, văn xuôi: 2 bài,
tân hình thức: 0.
Trước hết, hãy xem biên
độ cảm xúc và đối tượng thẩm mỹ được thể hiện có gì mới không, có bám vào hơi
thở của cuộc sống, của những thay đổi trên khắp các buôn làng, của những suy tư,
trăn trở để tự hoàn thiện trong tiến trình vươn lên hội nhập trong thế giới đa
cực. Dễ bắt gặp nhất là cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ
Chí Minh đã trở thành phong trào rộng khắp, thành hành động cách mạng diễn ra sâu
rộng ở nhiều tầng lớp trong xã hội, từ đó Nguyễn Văn Chương khẳng định: Học đạo
đức Bác Hồ phải học suốt đời/ Trong mỗi việc làm, trong từng suy nghĩ/ Chức
trọng quyền cao càng học nhiều hơn thế/ Lơi phút giây là sa ngã, mất lòng tin/
Mỗi ngày đêm như có Bác đang nhìn/ Bác dõi theo từng bước đi con cháu (Chúng
con học đạo đức Bác Hồ). Cảm hứng của nhà thơ vẫn theo dòng chảy của thơ truyền
thống, thể hiện tình cảm cao quý, nhân bản, toàn vẹn về niềm tin không gì phá vỡ
được: Dân tin Đảng - cội nguồn sức mạnh/ Đảng tin dân - vươn những tầm
cao (Cảm xuân Giáp Ngọ - Hữu Chỉnh).
Trí tuệ của nhà thơ thể
hiện ở sự nhạy cảm quan sát, lắng nghe và nhìn tỏ tường cuộc sống trong những dịch
chuyển không ngừng. Chính điều này làm diện mạo thơ có sự nối tiếp, không đứt đoạn
với mạch nguồn truyền thống. Dù cuộc sống có nhiều gam màu sáng tối, nhưng hình
ảnh Tổ quốc vẫn là biểu tượng sáng chói và khi Tổ quốc cần: Triệu con tim cùng
chung nhịp đập/ Viết ca khúc khải hoàn trên phiến đá ngàn năm (Viết về
Tổ quốc tôi - Phạm Thị Ngọc Thanh). Đó chính là mạch nguồn cốt tử của thi ca, nó
không bao giờ dừng lại mà luôn được thể hiện. Khi chủ quyền biển đảo bị đe dọa,
mỗi công dân Việt Nam ngày đêm trăn trở muốn “ăn xương uống máu quân thù”: Nhìn
tàu giặc/ Lòng ta nổi sóng/ Thấy giàn khoan kẻ cướp/ Máu cuộn trong tim…/ Ta -
/Mỗi công dân đất Việt/ Lưng tựa Trường Sơn/ Mắt dõi biển Đông/ Nuôi dũng khí/
Triệu tấm lòng như một (Biển đảo ta ơi - Nguyễn Đức Khẩn). Biển đảo là
một phần không thể tách rời của đất nước, là máu thịt của Tổ quốc muôn quý ngàn
yêu, bởi thế những người lính ở đó luôn luôn kiên định một lòng trung kiên gìn
giữ, dù biết rằng ở đất liền có những đứa con và người vợ đang trông mong: Em
muốn dành gửi cho anh hàng ngàn nụ hôn theo gió/ Với cả tấm lòng của người vợ
ngoan hiền luôn đau đáu nghĩ về anh. (Nỗi lòng vợ lính biển - Phạm Hữu Tình)
“Nghĩ về anh” cũng chính
là nghĩ về đất nước, nghĩ về Trường Sa và mùa xuân: Trường Sa dào dạt
xuân về/ Đảo xa gần lắm làng quê đất liền (Trường Sa dào dạt xuân về -
Thai Sắc). “Đất liền” nơi cuộc sống diễn ra sôi động, thay đổi từng giờ, cái mới
từng bước thay thế cái cũ, cái thiếu thốn, đói nghèo cũng thu hẹp dần cho những
sung túc, an khang: Đói nghèo qua, giờ đến lúc làm giàu/ Hạt lúa, con bò trở
thành thương hiệu/ Đất cát sỏi Ea Kar cũng làm nên kỳ diệu/ Để người bốn phương
náo nức tìm về (Viết trên cánh đồng Ea Kar - Đặng Bá Tiến). Tìm về quê
mới để lập nghiệp nhưng lòng vẫn nhớ nơi ra đi, nơi sinh ra, lớn lên từ gốc rạ,
chân tre: Xin quỳ xuống lạy chào cánh đồng mẹ/ Ngần ấy năm con mới trở
về làng/ Ngàn vạn lần cầu mong quê hương tha thứ/ Dù đi đâu/ Dù cách xa bao lâu/
Đau đáu phương trời/ Đinh ninh trong dạ/ Vóc hình con từ gốc rạ, chân tre (Cánh
đồng mẹ - Sơn Thúy).
Có thể nói biên độ cảm
xúc và đối tượng thẩm mỹ trong thơ in trên tạp chí Chư Yang Sin luôn luôn mở, đề
tài không vì thế mà bó hẹp. Các chủ đề được lồng ghép nhau, không gò bó trong các
chủ đề thời sự, báo chí, mà cái gì thuộc về đời sống, cũng là đối tượng thẩm mỹ,
là nơi nhà thơ ghé mắt và để lại dấu ấn trong thơ. Hình ảnh người mẹ tưởng như
“biết rồi nói mãi”, nhưng nói lại theo cách nhìn mới, vẫn hay: Chân trần
vách núi liêu xiêu/ Nghiêng gùi mẹ cõng nắng chiều về sân (Mẹ ơi -
Nguyễn Tiến lập).
Lại nữa, tôi nhớ Hegel
từng có lần nói: “Thi ca là thứ nghệ thuật chung của tâm hồn đã trở nên
tự do và không bị bó buộc vào nhận thức giác quan về vật chất bên ngoài; thay vì
thế, nó diễn ra riêng tư trong không gian bên trong và thời gian bên trong của
tư tưởng và cảm xúc”. Đó là điều các nhà thơ không những có ý thức thể
hiện các hình tượng đang diễn ra, đang tồn tại mà còn cố hình dung ra cuộc sống
và bằng tài năng của mỗi người, thi sĩ đã trình bày thế giới bên trong, thế giới
tinh thần không bị cản ngăn và giới hạn. Ở lĩnh vực này, nhiều bài thơ với các
mức độ khác nhau về những trăn trở, suy tư, tâm tình, bộc bạch về cái tồn tại
trên bước đường hướng về cái ích, chân, thiện, mỹ. Đôi khi những câu thơ như buồn
vụn vỡ, rã rời, khó hiểu, nhưng lại trữ tình, duyên dáng, thân thương bằng hình
ảnh rực rỡ, choáng ngợp: Đừng viết những chán chường lên gương mặt đêm/ Sẽ rách
nát như áo ngày trở lại (Mùa xuân, những câu thơ rời bất tận - Vũ Dy).
Viết về nỗi buồn, về
giấc mơ, nhưng không tạo ra nỗi buồn, lại tạo ra nỗi trầm tư mênh mang với hình
ảnh mới, lạ, đẹp và đáng yêu: Đêm qua/ Mơ thấy em đến đặt quả khắc nghiệt…/
Bước về/ Từ những tiếng chuông khô/ Những hơi thở nở hoa tịch mặc/ Giữa hoài
nghi rụng xuống/ Tôi hóa rêu/ Trong thị giác em (Thị hiện - Trần Tịnh
Yên). Nét đáng yêu là tự mình nhìn thấy mình, vạch trần chính mình trước sự đảo
lộn, đổi thay tác động trực tiếp vào tâm hồn của thi sĩ: Thấy mình biến
thiên khủng khiếp (Ảnh cũ - Vũ Dy). Có thể cái tôi trữ tình của nhà thơ
được nhận diện như sự dấn thân bẽ bàng trong thời khắc khổ ải khốn cùng.
Cũng thật dễ thấy, bên
cạnh sự hút dạng của hình ảnh, hoặc lu mờ, sáo mòn, lại thấy những hình ảnh mới,
đẹp, xuất hiện ở nhiều bài thơ, ở các tác giả khác nhau, đôi khi cùng một tác
giả, tạo nên một nét sinh động làm nên diện mạo thơ trên tạp chí Chư Yang Sin: Mặt
hồ/ Và bầy le le bay đi/ Chỉ còn chiếc lá cuối xuân/ Đang hỏi gió/ Cách rơi chậm
cho điệu valse lướt êm… (Điệu valse cho mùa hạ - Nguyễn Thánh Ngã).
Phan Thành Minh cũng có
cách nói mới, ngôn ngữ ấn tượng: Ngọn lửa nhai củi giòn tan/ Nhà rông no tiếng
cười sơn nữ (Mùa yêu).
Và Lê Vĩnh Tài, một
thi sĩ tài hoa với Bài thơ, có cái gì long lanh như vết đốt… anh đã
đưa người đọc đến tham quan những hình ảnh ẩn dụ, lạ, bất giác tỉnh ra, tiếp tục
suy ngẫm, suy ngẫm về sắc màu của tiếng chuông màu trắng: Núi/ Rung chuông/
Như nhà thờ/ Gió lạnh/ Trên gian hàng phía xa/ Hội chợ giá rẻ/ Bán những tiếng
chuông màu trắng… Hình ảnh gợi cảm này làm tôi nhớ đến câu thơ của Phương
Uy: Câu kinh trườn theo gió thoảng (Ngày khuất mặt). Tôi rất
thích động từ “trườn” làm vị ngữ trong câu thơ này.
Một điều dễ nhận ra,
thơ trên tạp chí ngày càng có những khởi sắc, bên cạnh những bài thơ thiên về
thanh, vận, điệu, nhịp, thiên về cấu trúc truyền thống tuyến tính, nhiều bài thơ
tự do xuất hiện với những cấu trúc đồng hiện, phân mảnh, lắp ghép cộng hưởng những
yếu tố hư ảo, vô thức, siêu thực… Điều này làm cho thơ trên tạp chí Chư Yang
Sin xích lại gần hơn với thơ đương đại.
Một điều cần phải đề cập
đến là trên tạp chí Chư Yang Sin, ngoài mảng thơ chuyên nghiệp, còn có một mảng
thơ được dư luận bạn đọc quan tâm, đó là thơ câu lạc bộ của các huyện và thị xã
Buôn Hồ. Khi tạp chí công bố những bài thơ này, chắc chắn là đã tạo ra một sân
chơi lớn cho những người yêu thơ, chơi thơ, rồi từng bước làm thơ. Đã là sân chơi,
tất nhiên có luật chơi. Những người tham gia như những vận động viên, không thi
đấu hết mình, chắc chắn sẽ bị sàng lọc (hoặc bị thay thế). Ở một
mức độ nào đó, có nhiều bài thơ khá, hình ảnh đẹp, câu thơ như một “miếng
ngon”: Mặt trời vén tấm chăn mùa đông phủ lá/ Khoảnh khắc chuyển giao bình
minh vỡ òa (Hẹn ước mùa xuân - Nguyễn Trọng Lịch - Câu lạc bộ thơ Hoa đời).
Giá như tạp chí Chư Yang Sin có phụ trang cho các câu lạc bộ
thơ, chắc chắn sẽ khích lệ các tác giả tham gia nhiều hơn, sáng tác sung sức hơn,
sàng lọc nhiều hơn và thơ hay cũng sẽ nhiều hơn.
Trên tạp chí Chư Yang
Sin, trong năm 2014, có 301 bài thơ được công bố, là một số lượng tác phẩm khá
lớn so với văn xuôi. Thơ được viết với nhiều thể loại, phản ánh những vấn đế cốt
lõi của cuộc sống. Nhiều người làm thơ là giáo viên, bác sĩ, nhà kinh doanh, công
chức, cán bộ hưu trí, lao động tự do, tuy mỗi người có một cách viết, cách nhìn
cuộc đời riêng, chất lượng tác phẩm khác nhau, nhưng suy cho cùng, các tác giả đều
có những trăn trở, suy ngẫm về những điều trông thấy, những đổi thay, kể cả những
gay cấn đang đặt ra trước mắt và lâu dài. Điều đáng mừng là tạp chí đã góp phần
phát hiện và giới thiệu những tác giả mới, tác giả trẻ, và tôn vinh thơ trong
thế giới văn hóa đọc ngày càng xa rời những người vốn thờ ơ với sách vở.
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)











