Thứ Tư, 22 tháng 11, 2017

KÝ ỨC BUÔN NUI - tác giả KHÁNH HẠ - CHƯ YANG SIN SỐ 303 - THÁNG 11 NĂM 2017



Bút ký
  

Nằm sát nách thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh lỵ của Đắk Lắk chừng 20km, nhưng buôn Nui bây giờ lại thuộc về huyện Cư Jut của tỉnh Đắk Nông. Đây là buôn làng Ê Đê mà tôi gắn bó từ những ngày mới đặt chân đến Tây nguyên. Thi thoảng, nhớ một đêm rượu cần hay thèm nghe một giọng chiêng trầm hùng hoặc đơn giản là muốn nằm nghe tiếng mưa đêm rơi trên những mái nhà cũ kỹ, tôi lại về buôn Nui.
Lần này, tôi ghé về thăm để ngồi dưới tán cây cổ thụ mát rượi trong buôn, nghe già làng Ma Sim khái quát lại tình hình: Buôn Nui hôm nay có 252 hộ, với gần 1.000 nhân khẩu, chủ yếu là người dân tộc Ê Đê. Buôn Nui là buôn đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ đầu tiên của huyện Cư Jút đạt danh hiệu Buôn văn hóa, khoảng 60% số hộ có điều kiện kinh tế khá và giàu, 40% số hộ đã mua sắm được phương tiện nghe nhìn, nhiều hộ có xe gắn máy, xe cày càng và máy móc phục vụ sản xuất nông nghiệp; 80% số hộ gia đình đạt tiêu chuẩn gia đình văn hóa. Buôn Nui cũng là một trong những buôn làng bảo tồn và duy trì các lễ hội, các ngành nghề truyền thống của cha ông như: lễ cúng lúa mới, cúng bến nước, rước K’pan và duy trì, truyền dạy cho con cháu nghề dệt thổ cẩm, cách đánh chiêng, cách chế tác và sử dụng nhạc cụ Đàn Brố, Ching Kram và Đàn Goong để bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa đặc sắc của người dân tộc Ê Đê… 
Tôi gặp buôn Nui, lần đầu tiên, cách đây đã hơn 20 năm.
Đó là vào mùa hè năm 1995. Thi xong môn cuối cùng của năm học thứ nhất, tôi và anh bạn cùng lớp nhà ở tận Buôn Hồ ra vẫy xe đi luôn vào Tây nguyên.
Bao nhiêu lạ lẫm diễu qua ngoài cửa kính, hết đèo cao vực sâu lại đến ruộng đồng. Tôi chập chờn mơ mộng theo những đường cua, theo những đám mây ủ trắng đầu đèo núi Mang Yang, An Khê của Gia Lai. Đến Tây nguyên rồi! – anh bạn reo như trẻ nhỏ. Bên ngoài cửa xe là Tây nguyên điệp trùng rừng núi giữa mùa mưa tháng sáu. Khó mà tả lại cái cảm giác của một người đang sống giữa chảo lửa gió Lào xứ Nghệ lại bất ngờ được đi giữa một quãng đường đầy sương trắng xuyên qua giữa đại ngàn! Quốc lộ 14 ngày đó còn ít xe qua lại nên vắng và đẹp. Những trảng rừng thông trầm mặc đứng lặng lẽ trong mưa.
Qua cầu 14, tôi xuống buôn Nui, đã dặn đi dặn lại bác tài xế giọng miền Nam vui tính thế rồi mà xe vẫn quá đi hơn cây số, là thị trấn Ea T’Linh của huyện Cư Jút bây giờ. Tôi một mình đánh bộ vào buôn Nui, nơi mà tôi chưa bao giờ đặt chân đến, nơi đó, vợ chồng chị gái tôi đang sống. Lần đầu tiên đặt chân đến một buôn làng người đồng bào Tây Nguyên bản địa, cứ thấy lạ và sợ! Nhà chị gái nằm ngay góc ngã tư chính giữa buôn Nui với một quán hàng tạp hóa nhỏ xíu nhưng đủ các loại hàng hóa từ thức ăn đến bánh kẹo và thuốc tây! Ba đứa cháu nhỏ đang học tiểu học hoặc mầm non đều nói tiếng Ê Đê như… gió! Ngày đó chưa tách tỉnh Đắk Lắk và Đắk Nông như bây giờ, Cư Jút là một huyện gần trung tâm, nằm sát nách thành phố Buôn Ma Thuột, buôn Nui nằm lặng lẽ bên dòng Sêrêpốk hoang dã chảy ngược đại ngàn.
Những đêm mùa hè, trẻ con không phải học bài, thanh niên người lớn sau một ngày làm việc mệt nhọc tập trung đến đông chật nhà chị gái tôi chơi. Anh rể vốn ham khách khứa, đặt một cái bàn bằng gốc cây ngoài sân cho người già ngồi uống nước. Trước thềm đặt một chiếc tivi gắn đầu chiếu phim. Ai uống nước nói chuyện cứ nói, ai xem phim cứ xem. Tôi được may mắn hòa mình vào những câu chuyện bất tận của các già làng buôn Nui từ những ngày tháng đó. Già ama Mên nói về những vạt rẫy cạnh sông Sêrêpốk dù đất tốt nhưng còn phải đợi lâu lâu nữa mới đủ nước để gieo, già ama Rănh thì kể về những ngày tháng oanh liệt khi còn đi làm du kích, một mình vác nguyên con heo rừng về cho bộ đội cải thiện trước trận đánh… “Ờ, cũng khoảng đầu mùa mưa như bữa nay đây, chúng tao gùi gạo qua sông vào Buôn Ma Thuột cho bộ đội… Ờ, cũng chừng như bây giờ, mà không, muộn hơn chút nữa, đội du kích chúng tao vào Buôn Đôn…” Bao nhiêu là chuyện, những câu chuyện ấy đã mê hoặc tôi, vẽ ra trong trí tưởng tượng còn tươi mới của anh sinh viên năm thứ nhất những hình ảnh hùng vĩ của núi rừng. Tôi ngồi nghe, cứ tưởng những ama Mên, ama Rănh chính là Đam San, Xinh Nhã từ trong trang sách bước ra, vui tính và oai hùng. Ngay từ ngày đó, tôi đã biết rằng, rồi đây, mình còn phải trở lại buôn Nui nhiều lần nữa, không chỉ vì ở đó có người thân mà vì câu chuyện của rừng đã ám ảnh tôi.
Ama Mên nói:
- Thằng sinh viên miền Bắc, mày có ưng uống rượu cần không?
Trời ơi, rượu cần thì tôi nghe nói đến rồi, nhưng uống thì chưa lần nào. Già nói: Tối mai đến nhà mình uống rượu! Ché rượu được buộc ngay cạnh bếp. Tôi bước vào thì đã có mấy người khách nữa, cũng là người trong buôn cả. Lần đầu tiên uống rượu, lại là rượu cần, tôi rón rén quỳ bên ché. Chủ nhà động viên vui vẻ: Ồ, cái thằng này, nó chưa biết uống rượu! Cũng do “chưa biết uống rượu” nên tôi chỉ phải uống hai sừng. Vị đậm, ngọt, nuốt vào rồi cứ vương vấn nơi cổ họng. Làm xong một hơi, mắt tôi hoa lên. Lửa trong bếp nhảy múa, những người ngồi quanh ché rượu cũng đang rập rờn nhảy múa. Tôi dựa lưng vào cột, nghe hơi rượu chạy khắp người, rồi ngủ lúc nào không biết.
Khi tôi tỉnh dậy thì cuộc rượu đã tàn, một vài người đã về, còn lại chủ nhà và một ông khách vẫn đang rì rầm nói chuyện với nhau. Họ nói với nhau những gì, tôi không hiểu. Thấy tôi mở mắt, ama Mên nói: “Ô cái thằng này, say nhiều quá đấy!”. Rồi lại tiếp tục câu chuyện đang dang dở. Ngoài vách nhà sàn, trời đêm đang lác đác mưa… Trên chái, một chú tắc kè hoa nào đó thỉnh thoảng lại kêu lên những tiếng rời rạc trong đêm vắng. Đâu đó từ ngoài bến nước bờ sông Sêrêpốk vọng về tiếng con chim rừng kêu tha thiết. Những chiếc gùi, quả bí khô lủng lẳng bên cạnh, lủng lẳng trên giàn bếp hình như cũng đang thầm thì những câu chuyện riêng mà chỉ có chúng biết với nhau. Cho đến mãi về sau, khi đã nếm nhiều thứ rượu khác nhau trên đời, tôi vẫn không thể nào quên đêm rượu cần đầu tiên ở buôn Nui. Ama Mên nói đùa: “Mày biết say rượu cần rồi mới biết say con gái ÊĐê được!”
Như bao nhiêu buôn làng khác những năm đầu thời kỳ đổi mới, buôn Nui trong tôi là những căn nhà sàn bằng gỗ bạc màu mưa nắng, là những gương mặt hồn hậu thân tình và rất đỗi gần gũi. Thu nhập chủ yếu từ việc trồng cây cà phê và các loại cây ngắn ngày như bắp, đậu và cả lúa nước. Người Ê Đê ở buôn Nui ít nói nhưng dễ gần và rất tình cảm. Những ngày hè, tôi và những đứa bạn mới quen lang thang ra chơi ngoài những chân ruộng vừa mới gặt, rồi quay về bến nước bên bờ sông Sêrêpốk tắm. Vào bên trong là buôn Buôr, một buôn làng còn nhiều nét cổ xưa so với buôn Nui. Đứng trên dốc cạnh con đường, nhìn thấy những mái nhà gỗ nằm chênh vênh bên dốc, nhưng tôi không dám vào. Khi cảm giác lạ lẫm không còn nữa, ban đêm, đám bạn chúng tôi rủ nhau đi bộ ra cầu 14 chơi. Tôi kể cho H’Nhung, H’Miên nghe về miền Trung xa xôi bỏng rát gió Lào quê tôi, về những ngọn núi đá vôi sừng sững, về những bãi biển ngày hè đông nghịt người, về những buổi học mụ mị hết cả đầu trên giảng đường đại học. Những người bạn mới quen, hầu hết chỉ học hết cấp hai là nghỉ về làm rẫy, không thể hình dung được là tại sao lại phải học nhiều và khó đến thế! Tuổi thơ của H’Nhung là theo amí vào rừng rồi lên rẫy, còn nhỏ thì hái hoa bắt bướm, lớn hơn một chút thì nhổ cỏ, tỉa lúa, dệt vải. H’Miên thì mơ mộng: “Có khi nào chúng mình được đi ra miền Bắc, được xuống biển chơi nhỉ!”
Những ngày hè trôi qua thật nhanh, tôi quay về trường, nơi đó, những môn học đại cương rắc rối đang đợi tôi. Trong túi xách của tôi có một bông hoa rừng màu đỏ mà tôi chưa từng biết tên của H’Nhung gửi tặng. H’Nhung nói: “Tặng anh mang về Bắc để mà biết nhớ buôn Nui…”.
***
Hơn hai mươi năm rồi, lưu lạc nhiều nơi, bước chân đã kịp in dấu hầu khắp trên các buôn làng Tây nguyên rộng lớn, từ Gia Lai, Kon Tum đến Đắk Lắk, Lâm Đồng, tôi vẫn chưa khi nào hết thương nhớ buôn Nui. Hôm nay trở lại buôn Nui, tôi lại được sống lại với những kỷ niệm còn tươi mới của mùa hè đầu tiên ấy. Đường vào buôn bây giờ đã láng nhựa thênh thang. Những căn nhà quen thuộc hai bên đường đã khoác thêm một sự đổi thay. Nhà Ma Nhúi, nhà Ma Rum đã cất thêm những căn nhà xây kiên cố bên cạnh nhà sàn cũ. Hầu như nhà nào cũng có thêm nhà xây. Tôi dạo bộ giữa buôn Nui như một người lâu ngày về lại chính quê mình để nhìn, để nghe những sự đổi thay của buôn làng trong hơn hai chục năm qua.
Giọng già làng Ma Sim vẫn sang sảng, kéo tôi quay về thực tại:
- Mình được huyện gọi là nghệ nhân tiêu biểu của người Ê Đê đấy nhá!
Hỏi thêm thì mới hay: Lâu nay, già Ma Sim vẫn thường xuyên tham gia lớp truyền dạy đánh chiêng do huyện tổ chức. Đây là một trong những hoạt động thường xuyên mà Phòng Văn hóa thông tin huyện tổ chức nhằm mục đích bảo tồn và phát huy bản sắc của đồng bào dân tộc thiểu số trong toàn huyện. Nhà của già Ma Sim cũng đồng thời là nơi mà các thành viên trong đội chiêng trẻ thường xuyên đến học cách đánh chiêng. Thấy khách lạ, những “nghệ nhân trẻ” ngượng ngịu cười chào khách rồi lại miệt mài tiếp tục công việc của mình.
Mừng cho già Ma Sim, mừng cho buôn Nui của tôi, sau mấy chục năm vẫn tha thiết tìm về cội nguồn văn hóa của dân tộc mình. Tôi đã đi nhiều nơi trên mảnh đất Tây nguyên này, không phải buôn làng nào cũng đủ “sức đề kháng” để đứng vững trước thứ văn hóa ngoại lai đang ào ạt đổ vào. Nhiều buôn làng ở Buôn Ma Thuột đã tan biến vào trong đô thị cao tầng vôi vữa. Buôn Nui, như một chàng dũng sĩ bước ra từ trong sử thi, điềm đạm, tự tin và đầy kiêu hãnh đứng vững chãi bên bờ sông Sêrêpốk ngày đêm ào ạt.
Tôi một mình đi ra bến nước. Như bao nhiêu buôn làng ÊĐê khác, bến nước là vật thể văn hóa hữu hình không thể thiếu vắng của buôn Nui. Đường xuống bến nước ven sông rợp bóng cây. Mùa này, nước sông chưa dâng cao, lũ trẻ đang tắm, những amí giặt đồ ven bờ. Tiếng nước tràn qua ghềnh đá xen lẫn tiếng nói cười vui vẻ, dưới sông, vài chiếc thuyền độc mộc lặng lẽ nép vào bờ nhìn nước sông băng băng đi ngược đại ngàn…





Thứ Bảy, 18 tháng 11, 2017

LỄ HỘI CỐM Ở XÃ EA TAM tác giả TRẦN THỊ SÔNG HƯƠNG - TẠP CHÍ CHƯ YANG SIN SỐ: 302 - THÁNG 10 NĂM 2017

TRANG CHUYÊN ĐỀ NHÂN KỶ NIỆM 30 NĂM THÀNH LẬP
HUYỆN KRÔNG NĂNG (1987 – 2017)


Xã Ea Tam nằm về hướng đông bắc của huyện Krông Năng, được thành lập từ năm 1989, chủ yếu là các sắc dân Tày, Nùng thuộc 6 tỉnh biên giới phía Bắc vào định cư.
Tuy xuất phát từ những vùng quê khác nhau, những nét văn hóa truyền thống có khác nhau, nhưng có một điểm chung, điểm tương đồng, đó là những truyền thống tốt đẹp của nền văn minh lúa nước. Nhiều tập quán, phong tục, lễ - hội gắn liền với các sản phẩm của lúa nước. Trong đó các nét đẹp và đặc sắc của văn hóa ẩm thực đã được đồng bào dân tộc thiểu số ở các tỉnh miền núi phía Bắc di cư vào làm ăn sinh sống ở Krông Năng – Đắk Lắk gìn giữ và phát triển.
Trong các sản phẩm được làm ra từ lúa nếp thì cốm được xếp vào một trong các sản phẩm đặc sắc nhất. Hội cốm của đồng bào dân tộc thiểu số ở các tỉnh miền núi phía bắc còn được gọi là “Tết con gái”. Các câu ca của đồng bào Tày, Nùng có liên quan đến hương cốm như:
Hương em như thể Cốm hương
Cách xa đến chín ngày đường vẫn thơm
Sự so sánh trên đã phần nào nói lên giá trị của ngày hội cốm, ngày Tết con gái, và có lẽ không có sự ngợi ca giá trị của người con gái nào cho bằng những câu ca nói trên…
Thời tiết ở Tây Nguyên vào khoảng tháng 9 âm lịch hàng năm thường hay mưa dầm, nhưng người dân ở đây, đặc biệt là các nam nữ thanh niên đã không quản ngại đường sá xa xôi, vất vả. Họ tập trung về nơi diễn ra lễ hội từ rất sớm để tham gia Lễ Hội Cốm do xã tổ chức với mục đích bảo tồn, gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.
Về ý nghĩa của ngày hội Cốm, ngày “Tết con gái”, ông Đinh Công Hưởng - Bí thư Đảng bộ xã Ea Tam cho biết: Lễ hội nhằm tôn vinh, ca ngợi các sản phẩm của lúa nước, tôn vinh người phụ nữ, đặc biệt là các thiếu nữ trong độ tuổi trăng tròn, những người đóng vai trò chủ lực trong việc sản xuất ra các sản phẩm từ cây lúa nước. Lễ hội còn mục đích tăng cường công tác đại đoàn kết các dân tộc, các bản làng trên địa bàn.
Trường tồn cùng với sự hình thành và phát triển của đất nước, lúa nếp luôn được coi là linh vật, là tinh hoa của trời đất, của tạo hóa. Gạo nếp luôn được dùng trong những dịp quan trọng, thiêng liêng; là sản phẩm không thể thiếu trong các lễ hội cúng tế trời đất, cúng tế ông bà tổ tiên, cưới hỏi, mừng nhà mới.v.v… Hội Cốm thường được tổ chức vào ngày 9 tháng 9 âm lịch hàng năm, ngày này thường rơi vào tiết Hàn lộ (khí trời mát mẻ) hoặc tiết Sương giáng (bầu trời luôn có nhiều sương, có năm có mưa bụi). Tuy nhiên khi di cư vào Tây Nguyên, do thời tiết khác hẳn nên ngày hội cũng phải chuyển dịch cho phù hợp.
Mở đầu cho hội Cốm, các chị em phụ nữ cùng nhau ra đồng ruộng chọn cắt những bông lúa đạt tiêu chuẩn cho việc chế biến các sản phẩm của Cốm. Cần lưu ý khi chọn nếp làm cốm phải chọn giống “nếp cái hoa vàng” chính gốc ở các tỉnh miền núi phía Bắc. Khi cắt phải chọn những bông lúa vừa đến độ chín, đầu hạt lúa hơi ngả sang màu vàng, người dân thường gọi là “gié lúa đỏ đuôi” và thân lúa khi cắt phải có độ dài chừng 40 phân. Các chị cho biết: Sở dĩ thân lúa phải cắt dài vì nó còn được bện làm chổi quét bàn ghế, quét nhà sàn; chổi được làm từ thân cây lúa nếp rất bền và quét dọn rất sạch… Các chị lớn tuổi cũng tâm sự: Khi mới vào định cư ở Tây Nguyên, hàng năm cứ đến tháng 9 âm lịch là người cứ nao nao nhớ đến mùa hội cốm, nhớ thời con gái cùng nhau đi thu hoạch lúa nếp từ làng này sang làng khác như kiểu vần công đổi công hiện nay…
Khi những bông lúa nếp được đưa về, mọi người tập trung tuốt lúa, đem ngâm vào nước lạnh để vớt đi những hạt lép, giữ lại những hạt chắc, mẩy như người con gái trong độ tuổi trăng tròn. Tiếp đó lúa được đem luộc chín, vớt ra quạt cho nguội rồi đem rang. Công đoạn này phụ thuộc vào sự khéo léo và kinh nghiệm của các chị, nếu luộc và rang chưa chín thì khi giã, nếp sẽ bị nát; nếu luộc và rang chín quá, khi giã vỏ trấu sẽ dính vào cốm. Rang xong, để nguội rồi đem giã, dần, sàng đủ 9 lần cho sạch trấu, cốm mới có màu sắc đẹp. Cốm ngon, đạt tiêu chuẩn phải hội đủ các yếu tố: Xanh, dẻo, dẹp (mỏng) và thơm.
Những phụ nữ giỏi, đảm đang có thể chế biến cốm thành hàng chục món khác nhau như: Hương cốm, cốm gừng, cốm đậu xanh muối, cốm làm bánh tét nhân đường, cốm chuối, cốm lam, cốm rang đường, cốm ép… Ngoài ra, từng vùng miền còn có bí quyết riêng để cốm thơm ngon và có màu sắc tự nhiên của cây lá núi rừng. Hội thi còn chấm điểm cao cho những đội có đông người tham gia giã cốm. Điểm kỹ thuật cao nhất sẽ thuộc về đội có từ 8 người đến 16 người cùng giã - đông người nhưng giã không va vấp, ra vào nhuần nhuyển, âm thanh giã cốm nghe như tiếng nhạc. Hội thi cũng chấm điểm cao cho đội có trang phục đẹp, khi đội mâm cốm dâng lên cúng tổ tiên, ông bà đi đứng nền nã, có phong cách.
Khi những nam thanh nữ tú của xã Ea Tam dâng mâm cúng của thôn, của bản làng mình lên bàn thờ Tổ quốc ở đình làng rồi đem đến cho ban giám khảo chấm điểm, có thể nói rằng trong mâm cúng của họ đã có những bài Then, câu Lượn, có cả bóng dáng của núi đồi Tây Nguyên hùng vĩ, có cả tình cảm bao la của người nông dân cần cù, chịu thương, chịu khó, biết chắt lọc những điều kỳ diệu của thiên nhiên để làm nên những sản vật mang đậm màu sắc của quê nhà.
Lễ hội cốm ở xã Ea Tam là một trong những nét văn hóa truyền thống đặc sắc của đồng bào dân tộc thiểu số các tỉnh miền núi phía Bắc đang sinh sống trên mảnh đất Krông Năng. Nét đẹp này cần được duy trì nhằm giúp cho nhân dân các dân tộc tăng cường hơn nữa sự đoàn kết, yêu thương, học hỏi, giúp đỡ lẫn nhau trong đời sống, trong sản xuất và trong sinh hoạt…

Thứ Hai, 13 tháng 11, 2017

 KÝ ỨC VỀ MỘT VÙNG ĐẤT tác giả TRẦN VĂN TƯƠNG - TẠP CHÍ CHƯ YANG SIN SỐ: 302 - THÁNG 10 NĂM 2017

TRANG CHUYÊN ĐỀ NHÂN KỶ NIỆM 30 NĂM THÀNH LẬP
HUYỆN KRÔNG NĂNG (1987 – 2017)



“Lúc ấy chỉ thấy rừng và rừng, rừng tranh bạt ngàn, thời tiết rất lạnh, sáng nào ngủ dậy cũng phải đốt lửa…”. Người bạn bằng tuổi tôi đã thốt lên câu nói trên, đó là ấn tượng đầu tiên của anh, khi đến đây anh ấy 22 tuổi thì nay đã 50, những người khi đến đây ở lứa tuổi 50 hoặc 60 nay đã thành cụ ông cụ bà. Câu chuyện về thủa bình minh của xã thường được các cụ nhắc lại khi gặp nhau ở các bữa kỵ, bữa giỗ. “Mình cứ tưởng như mới ngày hôm qua, ông có nhớ đợt cháy rừng nớ không? Toàn bộ lán ở, tranh tre chất đống để chuẩn bị làm nhà cháy sạch, may mà bà con còn chạy về kịp cứu một ít đồ đạc ra khỏi lán…” - cụ Hải nhớ lại với khuôn mặt đầy hoài niệm. Bạn bè lứa tuổi với tôi khi xe từ Huế đến Buôn Hồ, rất ngạc nhiên bởi lần đầu thấy được cây cà phê, loại thức uống đầy kỷ niệm của chúng tôi với các quán cà phê nhạc ở Huế.
“Dân cày đường nhựa” tôi không nhớ rõ là từ đâu có danh xưng này, do người dân địa phương ở đây đặt cho chúng tôi, hoặc do ai đó buột miệng gọi đùa. Nghe ra có vẻ mỉa mai, nhưng danh xưng đó rất đúng với đa số dân xã Phú Xuân lúc ấy. Những người dân thành thị lần đầu tiên đến với rừng, lần đầu tiên thực sự cố làm quen với những dụng cụ lao động nông thôn như cuốc, rựa, rìu… với những công việc: Đẵn cây, cắt tranh để dựng nhà ở, phát quang, vỡ đất, gieo trỉa... Tất cả mọi công việc được làm trong cảm giác ngỡ ngàng mới mẻ. Vừa làm vừa học vừa rút kinh nghiệm. Tôi không bao giờ quên được cảm xúc khi thu hoạch vụ mùa đầu tiên, cái cảm giác ngon đến lạ lùng với những sản phẩm mộc mạc đơn sơ lần đầu tiên do bàn tay mình cày cuốc, gieo trỉa. Những cảm giác lần đầu thật khó tả, với rừng, với gió đại ngàn, bụi đỏ, những giỏ phong lan hoang sơ, tiếng kêu của thú rừng lạ lẫm giữa đêm. Những ấn tượng ấy hoà quyện vào nhau còn đơn sơ trong tôi cho đến tận bây giờ. “Buôn Hồ chào quê hương mới, Buôn Hồ tiến tới bạn ơi, thắng gian lao ta dựng cuộc đời ” bài hát mà nhạc sỹ Quang Hào sáng tác khi đến vùng đất mới. Tôi nhớ lại người bạn trong cơn sốt rét rừng vẫn cố đến với buổi sinh hoạt Chi đoàn thanh niên và hát vang lên cho đến lúc vã mồ hôi. Có nhiều bài hát theo ta đến hết cả cuộc đời, bài hát Buôn Hồ hành khúc của anh Quang Hào có vị trí như vậy, đối với chúng tôi những thanh niên của thủa ban đầu ấy.
Tôi nhớ lại những học sinh chân ngập trong bùn đỏ, với áo quần đẹp, hoặc chưa lành lặn vẫn hồn nhiên đến trường. Các em lớn học cấp III ở trường huyện phải đi xa hơn, lúc ấy là thị trấn Buôn Hồ. Hàng tuần các em phải về nhà lấy lương thực, bới theo củ khoai, củ sắn, những thứ tốt nhất mà ở nhà dành dụm được. Những em học sinh của năm tháng gian khổ đó nay có em đã rất thành đạt. Tôi biết lúc đó có nhiều  thầy cô giáo phải bỏ tiền lương của mình mua sách vở giúp cho các em học sinh ham học mà điều kiện còn quá thiếu thốn, đêm đêm còn phải đốt đèn dầu đến những tụ điểm để dạy học xóa mù chữ dưới các lán lợp tranh mà xung quanh phên thưng chưa đủ kín.
Những người đi khỏi xã đã lâu, khi trở lại rất ngạc nhiên và ấn tượng về sự thay đổi nơi đây. Một sự thay da đổi thịt kỳ diệu, con đường đất ở lộ chính bây giờ đã là tỉnh lộ 3 chạy suốt gần hết chiều dài của xã, ngày từ Buôn Hồ vào Phú Xuân ngang qua xã Krông Năng, trước đây là con đường vắng vẻ, thì nay đã là một thị trấn bề thế. Hàng ngày, trên con đường đó, xe cộ giao thông không ngớt. Ai đó muốn đi Huế, Nghệ An, Nha Trang, TP. Hồ Chí Minh… có thể đón xe ngay cửa ngõ nhà mình, mà điều đó cách đây mười năm không ai nghĩ đến. Trường học, trạm xá, trụ sở UBND xã khang trang sạch đẹp. Ở khu trung tâm của xã mở ra nhiều hàng, quán bày bán từ cây kim sợi chỉ đến những đầu đĩa hát và máy truyền hình đời mới hiện đại. Ánh điện sáng khắp nơi, điện nhấp nháy ở các quán cà phê mang chút hơi thở thị thành. Tôi nhớ cách đây một vài năm, đồng chí chủ tịch UBND xã đọc thư chúc tết bà con nhân dịp Tết Nguyên Đán có câu: “Tương lai Phú Xuân còn ở phía trước, nhưng nhìn lại chặng đường đã qua chúng ta không khỏi tự hào...” quả đúng như vậy, với những ai đã từng hiểu đời sống những năm tháng đầu tiên của bà con nơi đây, lúc chưa đủ cơm ăn áo mặc, đau chưa đủ thuốc, thì những gì hiện có ở Phú Xuân hôm nay quả là một bước đổi mới.
Mỗi chiều khi nhìn các cháu học sinh đi học trong bộ áo quần đồng phục tươm tất, đẹp đẽ, nhìn đám thanh niên cưỡi những chiếc xe máy đời mới, hóng gió trên trục lộ của xã, tôi bỗng nghĩ: Có bao giờ các em nghe kể lại, để hình dung cuộc sống của những năm tháng đầu tiên trên vùng đất này không?






GIÀ LÀNG AÊ CHIÊN SAY MÊ BẢO TỒN NHẠC CỤ DÂN TỘC tác giả H’PHI LA NIÊ - TẠP CHÍ CHƯ YANG SIN SỐ: 302 - THÁNG 10 NĂM 2017

TRANG CHUYÊN ĐỀ NHÂN KỶ NIỆM 30 NĂM THÀNH LẬP
HUYỆN KRÔNG NĂNG (1987 – 2017)

                                     
                                                                    
Người đàn ông có dáng người cao, gầy, ánh mắt hiền lành ấy tôi vẫn gặp hàng ngày trên đường đi làm. Khi thì thấy ông đang tỉ mẩn cắt từng cành dâu tằm, khi thì lúi húi nhổ cỏ dại lẫn trong đám đậu, đám cây cà đắng bên đường. Người ta biết ông với cái tên Aê Chiên, già làng, uy tín của Buôn Hồ B thuộc xã Ea Hồ, huyện Krông Năng. Người Êđê khắp buôn gần làng xa biết đến ông ở vị trí của người đại diện trong các đám cưới hỏi của các cặp đôi trong các buôn, là người vun vén dạy những điều đúng đắn cho những người trẻ mới lập gia đình, là người có những bài cúng Yang hay nhất, “linh” nhất. Gia đình tôi cũng không phải ngoại lệ, mỗi khi cần làm lễ gì dù lớn hay nhỏ, mẹ đều đích thân đến tận nhà để mời ông đến cúng.
Vì là một người thường xuyên được xã mời đi diễn tấu cồng chiêng hoặc tham gia các hội diễn của huyện, tỉnh nên ông không lạ gì tôi. Mỗi lần gặp là ông lại kể chuyện ngày xưa, về những trăn trở của ông đối với văn hóa dân tộc mình, ông gửi gắm nhiều điều vào tôi và những người trẻ như tôi. Ông kể:
Từ khi còn là một cậu bé hàng ngày theo cha mẹ lên nương, lên rẫy, đêm đêm nghe các ông cậu, ông bác kể khan, hát đối đáp, tình yêu của ông với nhạc cụ của dân tộc ngày càng lớn dần. Từ tình yêu ấy, ông cứ theo người bác là anh trai ruột của mẹ đi khắp nơi để tìm vật liệu làm nhạc cụ. Được chứng kiến nhiều điều thú vị, những nét đẹp của dân tộc, được bác truyền lại những câu nói vần hay, những lời lẽ phải trái, để sau này ông dạy lại cho con, cho cháu, cho buôn làng.
Lớn lên một chút, ông được bác chỉ cho cách đánh chiêng, chỉnh chiêng sao cho âm thanh nghe vang nhất, hay nhất. Được bác dạy cho cách đẽo, gọt những ống nứa, quả bầu khô sao cho khi thổi lên âm thanh nghe trong trẻo, nhẹ bẫng.
Khi được hỏi làm thế nào để có thể nhớ hết những lời nói vần trong tất cả các luật tục của người Êđê, ông bảo tất cả muốn biết đều phải trải qua thời gian học hỏi, nghe một lần, rồi hai lần và nhiều lần, khi đã hiểu ngụ ý của câu nói thì tự nhiên câu nói ấy hiển hiện trong đầu mình thôi. Những người khi đứng ra đại diện cho nhiều người để nói chuyện phải luôn suy xét trong từng câu nói, một câu nói vần có thể nó hay, nhưng khi chưa hiểu ngụ ý nó muốn nói gì thì tuyệt đối không được dùng đến…
Căn phòng khách rộng khoảng hơn chục mét vuông, ngoài những chiếc gùi do người ta đặt ông đan còn có nhiều nhạc cụ mà lớp trẻ như tôi không biết tên, ông chỉ đâu là Đing Năm, đâu là Đing Buôt Choc, Brỗ, Gông, Đing Tak ta, Ky kpah… mỗi thứ có một âm thanh đặc trưng riêng, không giống nhau. Ông bảo ông làm được nhiều loại nhạc cụ lắm, nhưng do vật liệu để chế tác bây giờ khó kiếm, có những thứ phải đi đến những nơi khác để mua, nhạc cụ sau khi chế tác mà không sử dụng thì rất nhanh hư hỏng, rồi ông chỉ những nhạc cụ sau khi làm xong được ông treo trên tường, cũng chẳng có khi nào dùng đến. Ông cũng khoe với tôi tấm giấy khen giải A khi ông tham gia hội diễn nghệ thuật quần chúng cách đây gần 10 năm, từ đó đến giờ những loại nhạc cụ này được treo cẩn thận trên tường. Từng lời kể của ông cứ đều đều, buồn buồn như đang thì thầm cùng tiếng thở khó nhọc. Ông cũng từng vận động thanh niên trong buôn học đánh chiêng Kram, được một thời gian đầu, rồi ai cũng bận bịu với công việc xã hội, việc học hành, cuối cùng chỉ một người hàng ngày vẫn chạy sang trò chuyện, hỏi han ông như khi còn trẻ ông hay theo bác mình vậy, ông thấy mình lẻ loi trong hành trình lưu giữ nét đẹp của dân tộc giữa cuộc sống bộn bề có quá nhiều thứ phải lo… Ông tâm sự: Thời của bác chưa được học chữ nhiều như các cháu bây giờ, nên cả tuổi thơ của bác là những tháng ngày lẽo đẽo theo cha mẹ lên rẫy. Khi đã thanh niên rồi, bác đi theo anh trai của mẹ học cách làm nhạc cụ của dân tộc mình, vì bác mê những âm thanh đó lắm. Nhiều đêm đi ngủ mà chúng cứ văng vẳng bên tai như là có ai đó đang thổi bên cạnh mình vậy. Đâu có được ghi chép lại hay thu âm lại như bây giờ. Mình nghe, nhìn bằng tim thì mới nhớ được cháu ạ… Sức khỏe bác giờ yếu rồi, bác chỉ có một mong muốn duy nhất là có ai đó để bác truyền lại nghề chế tác nhạc cụ này, bác từng mong muốn nhà nước mình có thể hỗ trợ kinh phí hoạt động để mở các lớp hoặc câu lạc bộ truyền dạy cho thế hệ trẻ…
Trở về với công việc hằng ngày, tôi cứ trăn trở mãi về hình ảnh người đàn ông gầy yếu ấy một mình trên con đường gìn giữ văn hóa dân tộc cho con cháu, trong khi chúng tôi, những con người trẻ tuổi với bao nhiêu hoài bão xa xôi tận đẩu tận đâu.
Lần gần đây nhất tôi gặp ông là khi làm lễ bàn giao nhà sinh hoạt cộng đồng cho Buôn Hồ B sau khi được nhận kinh phí hỗ trợ sửa chữa từ dự án của nước ngoài. Muốn giới thiệu cho đoàn công tác nước bạn biết đến văn hóa của người bản địa, nhưng nghe nói ông mới bị bệnh nặng nên tôi suy nghĩ mãi mới dám ngỏ ý muốn ông cùng những người lớn tuổi của buôn biểu diễn vài tiết mục văn nghệ, có đánh chiêng, hát ay ray, biểu diễn nhạc cụ dân tộc. Nghe xong, ông mừng lắm, đôi mắt sáng bừng. Sáng hôm ấy khi tôi đến đã thấy ông cùng những người đàn ông có tuổi trong buôn đang lau chùi lại những chiếc chiêng, một vài thanh niên đang xúm lại xem, người thì giúp họ treo những chiếc chiêng lớn lên. Aê Chiên mặc chiếc áo truyền thống có nhiều nút trước ngực, ông đang gõ từng chiếc chiêng xem âm thanh đã chuẩn chưa, rồi ông cũng phân công cho những người khác rằng người nào đánh chiếc nào. Ông  cứ đi ra đi vào, ánh mắt không dấu được sự hồ hởi, vui mừng xen lẫn hồi hộp, tưởng chừng người đàn ông có ánh mắt buồn rượi với khuôn mặt xanh xao mà tôi gặp cách đây mấy ngày đã lột xác thành người khác, một người nhanh nhẹn, hoạt bát hơn… Bên hiên trước nhà cộng đồng có một nhóm bạn trẻ mặc áo Đoàn thanh niên đang xúm quanh hai người mặc áo truyền thống chỉ cách thổi cây đàn đing năm. Ông chỉ cho tôi số nhạc cụ ông mang từ nhà, có đến năm, sáu loại, một mình ông sẽ diễn tấu trong buổi sáng ấy.
Tiếng chiêng, tiếng Đing năm, tiếng Ky kpah xen lẫn tiếng cười nói rôm rả của những người lớn tuổi, những ánh mắt trầm trồ thích thú của thanh niên, tôi thầm nghĩ “ Bác sẽ không lẻ loi trên con đường ấy nữa đâu bác Aê Chiên ạ”.

Thứ Sáu, 10 tháng 11, 2017

VÀI NÉT VỀ VĂN HOÁ DÂN GIAN CỦA ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN KRÔNG NĂNG tác giả NGỌC MUỘN - TẠP CHÍ CHƯ YANG SIN SỐ: 302 - THÁNG 10 NĂM 2017

TRANG CHUYÊN ĐỀ NHÂN KỶ NIỆM 30 NĂM THÀNH LẬP
HUYỆN KRÔNG NĂNG (1987 – 2017)




Huyện Krông Năng là một địa bàn chiến lược quan trọng của tỉnh Đắk Lắk, có nhiều tiềm năng để phát triển về kinh tế, văn hóa, du lịch... Trong thời điểm hiện nay, việc giải quyết các vấn đề cơ bản về kinh tế - xã hội là nhiệm vụ trọng tâm thì việc giữ gìn và phát huy những giá trị văn hoá của cộng đồng các dân tộc trong huyện được xem là một nhiệm vụ quan trọng góp phần xây dựng vùng văn hóa Krông Năng - Đắk Lắk - Tây nguyên trong nền văn hoá Việt Nam đa dạng, đậm bản sắc dân tộc.
Với 24 dân tộc anh em đang sinh sống trên địa bàn 12 xã, thị trấn, đã tạo nên một bức tranh đa sắc màu, chứa đựng nhiều giá trị riêng về văn hóa của từng dân tộc trong cả cộng đồng dân cư. Chính điều này tạo cho Krông Năng có một hệ giá trị tinh thần phong phú, đa dạng có thể thúc đẩy phát triển văn hóa du lịch, góp phần ổn định cuộc sống cho nhân dân.
Để có cái nhìn tổng quát về hoạt động văn hoá của các dân tộc thiểu số ở Krông Năng, có thể chia ra thành hai nhóm: Nhóm bản địa (còn gọi là dân tộc tại chỗ) và nhóm chuyển cư từ các vùng miền trên cả nước.
Đồng bào tại chỗ trên địa bàn huyện Krông Năng đại đa số là người Êđê thuộc nhánh Êđê Adham, cũng một số ít tự nhận mình là Êđê Bih. Họ có phong tục tập quán và hệ thống lễ hội dân gian truyền thống cơ bản như cộng đồng Êđê. Các lễ hội theo lễ nghi nông nghiệp và vòng đời người được duy trì thường xuyên. Hàng năm, lễ cúng bến nước, lễ cúng được mùa, cúng về nhà mới… tuy có thưa dần nhưng vẫn còn tổ chức tại các buôn. Nhiều điệu múa dân gian được phục dựng để phục vụ các lễ hội và biểu diễn trong các dịp sinh hoạt cộng đồng. Đội nghệ nhân buôn Wiâo đã từng đạt nhiều huy chương vàng liên tục trong các năm gần đây ở cấp tỉnh và khu vực, được vinh dự mời đi tham gia giao lưu ở Làng văn hóa các dân tộc Việt Nam tại Đồng Mô - Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Hành trình di sản văn hóa tại Quảng Nam và tham gia giao lưu văn hoá Việt Nam - Thụy Điển tại thủ đô Hà Nội ...
Theo số liệu điều tra mới đây thì tại huyện Krông Năng có hơn 72 bộ chiêng quý với tuổi thọ trên 100 năm và hàng trăm bộ chiêng khác; đây là một kho tài sản vô cùng quý giá đang nằm trong các gia đình mẫu hệ Êđê; nhiều nghệ nhân tự chế tác ra các loại nhạc cụ như đàn Goong, Đing Tut, Ching Kram… các làn điệu dân ca như Eiray, hát K’ưt, các bài cúng, bài chiêng và các điệu múa; đặc biệt điệu múa: Mkăm Prôk là một giá trị nghệ thuật độc đáo riêng có của buôn Wiâo – Krông Năng mà không nơi nào trên địa bàn Đắk Lắk có được (Mkăm có nghĩa là: Tụ tập, đông người. Prôk có nghĩa: con sóc). Tên gọi của điệu múa một phần đã giải thích: Đây là một vũ điệu đông người, còn động tác của các thiếu nữ tham gia thì thoăn thoắt như con sóc rừng. Hình ảnh chàng Đăm San đại diện cho khát vọng sức mạnh, tay cầm khiên, tay cầm đao, giương oai, biểu diễn võ thuật đã được thể hiện rõ trong điệu múa của Lễ bỏ mả... Đây là một giá trị nghệ thuật đã được gìn giữ và bảo tồn vì hiện nay lễ hội bỏ mả đã thưa dần và có nguy cơ mất đi…
Ngoài dân tộc bản địa Êđê, huyện Krông Năng cũng có nhiều dân tộc khác chuyển cư từ các tỉnh thành trong cả nước đến đây làm ăn sinh sống.
Nhóm văn hóa Tày – Nùng (tập trung chủ yếu tại xã Ea Tam và các vùng lân cận) , nhóm văn hoá Thái - Mường tại xã ĐliêYa và rải rác khắp nơi trong huyện.
Tại xã Ea Tam, vào dịp rằm tháng giêng hàng năm đều tổ chức lễ hội văn hoá dân gian Việt Bắc. Đây là một lễ hội lớn thu hút ước tính hơn 10.000 lượt khách tham gia, tạo nên một nét văn hoá riêng mang đậm bản sắc của các dân tộc phía bắc chuyển cư vào Krông Năng làm ăn, sinh sống; các trò chơi dân gian như tung còn, đi cà kheo… xen lẫn với các trò chơi hiện đại tạo ra sân chơi bổ ích cho người tham gia lễ hội .
Đồng bào dân tộc Thái chuyển cư, đến sinh sống tại các xã ĐliêYa, Phú Xuân, Phú Lộc, Ea Tân, Tam Giang, Ea Dăh. Họ đã mang theo phong tục tập quán và những nét văn hoá riêng của họ, các nghi thức, lễ thức chính vẫn được duy trì. Nghề dệt thổ cẩm truyền thống vẫn còn lưu giữ với những hoa văn, họa tiết mang sắc thái riêng, đặc biệt có những nghệ nhân đã đạt giải cao trong hội thi; Đội nghệ nhân khua Loóng của thôn Ea Krái xã ĐliêYa đã được biết đến nhờ có các tiết mục biểu diễn xuất sắc trong các hội thi gần đây.
Tuy nhiên, cũng giống như các địa phương khác trong tỉnh, giá trị văn hóa các dân tộc trên địa bàn huyện Krông Năng cũng đang có nguy cơ bị mai một dần, một số ít giá trị còn có nguy cơ mất hẳn hoặc thất truyền; số lượng cồng chiêng ngày càng ít, lực lượng nghệ nhân có kinh nghiệm truyền dạy những bài chiêng cổ hầu hết đã lớn tuổi và mất dần theo năm tháng, nguy cơ thất truyền là không thể tránh khỏi; một số đông đồng bào theo đạo không còn sử dụng cồng chiêng và đã bán với giá rẻ, việc truyền lại cho lớp trẻ còn gặp nhiều khó khăn, bất cập. Các lễ hội truyền thống được tổ chức nhưng đã có sự tham gia của các phương tiện hiện đại vào lễ hội dân gian. Một số nghệ nhân chế tác nhạc cụ dân tộc tại các buôn Êđê quanh địa bàn thị trấn Krông Năng, xã Ea Hồ… đã quá lớn tuổi trong khi lực lượng trẻ đa số không mấy mặn mà với các nhạc cụ cha ông để lại mà tìm đến với nhiều phong cách của nền âm nhạc hiện đại, các hội thi, hội diễn, liên hoan vẫn chưa tìm ra được nhân tố trẻ mới …
Việc đầu tư kinh phí từ các đề án để bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống cho đồng bào các dân tộc khác trên địa huyện tuy có sự quan tâm nhưng vẫn chưa đủ mạnh; các hội diễn, hội thi, liên hoan chủ yếu là sự tham gia tự nguyện của quần chúng nhân dân, vì vậy, việc khai thác, bảo tồn phát huy vẫn chưa đạt hiệu quả như mong muốn.
Mới đây, Nghị quyết về phát triển du lịch huyện Krông Năng giai đoạn 2017 – 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 được ban hành đã mở ra một thời kỳ mới cho việc bảo tồn, phát triển văn hoá các dân tộc gắn với việc phát triển du lịch trên địa bàn. Danh thắng quốc gia Thác Thuỷ Tiên và một vài cảnh quan thiên nhiên được quan tâm, chú trọng đưa vào các tour du lịch. Bên cạnh đó, hình thức du lịch homestay (du lịch xanh) lưu trú tại các thôn, buôn đồng bào dân tộc, khám phá những giá trị văn hoá tinh thần sẽ là cầu nối cho việc phát huy giá trị văn hoá. Những bài chiêng được biểu diễn trong nhà dài cạnh những ché rượu cần ngây ngất men say; các món ẩm thực dân gian truyền thống, những điệu múa, lời ca, tiếng nhạc là điểm nhấn không thể thiếu cho du khách, bên cạnh đó, các nghệ nhân có một phần kinh phí để duy trì và phát triển một cách thường xuyên.
Xây dựng, tổ chức hoạt động mô hình thôn, buôn kiểu mẫu gắn với du lịch cộng đồng; thường xuyên tổ chức các hoạt động văn hóa cồng chiêng trong sinh hoạt cộng đồng, lễ hội, trong các hoạt động văn hóa du lịch cũng là một trong những nội dung chính mà huyện Krông Năng đang triển khai thực hiện để bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá dân gian truyền thống trên địa bàn.



Thứ Tư, 8 tháng 11, 2017

VÀI NÉT VỀ CƠM HẾN Ở XÃ PHÚ XUÂN HUYỆN KRÔNG NĂNG tác giả TRẦN CHI - TẠP CHÍ CHƯ YANG SIN SỐ: 302 - THÁNG 10 NĂM 2017

TRANG CHUYÊN ĐỀ NHÂN KỶ NIỆM 30 NĂM THÀNH LẬP

HUYỆN KRÔNG NĂNG (1987 – 2017)






Cuối năm 2017 này xã Phú Xuân tròn 40 tuổi, với một vùng đất sắp bước vào kỷ niệm 40 năm ngày thành lập xã sẽ có rất nhiều chuyện để bàn, để nói và để nhớ… Nhưng không hiểu tại sao cứ nghĩ về Phú Xuân là tôi lại nhớ đến câu thơ của Nguyễn Khoa Điềm:
…Họ đắp đập be bờ cho người sau trồng cây hái trái
Họ gánh theo tên xã tên làng trong mỗi chuyến di dân…
Đúng vậy, cách đây 40 năm, những người dân thành phố Huế trong đợt di dân lớn vào Tây Nguyên đã gánh theo cái tên Phú Xuân mà Chúa Nguyễn Hoàng đã đặt cách đây 700 năm vào huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk. Đi kèm với cái tên đó, họ cũng gánh theo cả những phong tục, tập quán, gánh theo cả “giọng điệu mình cho con tập nói”…Vì vậy, lớp trẻ ở Phú Xuân hiện nay vẫn cứ cái giọng Huế trọ trẹ của cha ông ngày nào để đi học, đi làm khắp cả nước kèm với thói quen “trời hành” của mình, đó là thói quen ăn cay. Ăn cay đến mức mà những người Huế xa quê được gắn một “chứng minh thư” mới: Người Việt gốc Ớt.
Quả thực, người Huế ăn cay đến mức mà người xứ khác cũng lắc đầu và tiêu biểu nhất trong các món ăn “cay kinh khủng” đó thì “Cơm Hến” được xếp vào loại thượng thừa. Theo nhà văn Trần Kiêm Đoàn, ăn cơm hến cũng có “ăn dòng”“ăn theo”: Ăn dòng là những người Huế chính thống, sinh ra từ miệt vườn An Hòa, An Lăng, An Cựu, Bao Vinh, Vỹ Dạ, Chợ Dinh, Chợ Nọ trở vào thành phố, đó là những người mới sinh hôm trước, sáng hôm sau đã có O bán cơm hến gánh triêng gióng, nồi niêu  ngồi lù lù ngay trước cửa nêm cơm hến rồi. Còn ăn theo là dân Huế thuộc phận gái chữ tòng hay thân trai dài lưng tốn vải từ quê lên tỉnh học hoặc trong Quảng ra thi rồi “lỡ bước sang ngang” mà ở lại đất thần kinh… Vậy cơm hến ở xã Phú Xuân huyện Krông Năng thì như thế nào? Nó có gì khác so với vùng đất cố đô cách 700 cây số mà họ đã di dân?
Cơm hến là món cơm đạm bạc của con nhà nghèo mà theo cụ Trần Văn Tường - Giáo sư Hán văn trường Đại học sư phạm Huế, thì chỉ có canh hến chan với cơm nguội, thêm một chút rau tươi và gia vị. Có thể ban đầu do nghèo khó, do tiết kiệm nên người ta dùng lại cơm nguội còn thừa từ đêm hôm trước cho buổi sáng hôm sau, tuy nhiên cơm nguội để qua đêm sẽ se mình lại, không dính vào nhau, không nhão nhoét, không làm cho các loại rau sống tím giập, bớt dòn và gia vị bớt hương thơm. Tại xã Phú Xuân vì không có những gánh cơm hến truyền thống do những O, những chị với chiếc áo dài cũ kỹ, với tiếng rao lanh lảnh đi rao bán khắp các ngõ hẻm mà chỉ có một vài quán cơm hến (tất nhiên là có kèm thêm những thức ăn đồ uống khác nữa). Các quán này do khách hàng không thường xuyên, khi thì đông, khi thì vắng khách nên chủ quán không dám chủ động nấu nhiều cơm để nguội. Nhiều khi khách không gặp may, gặp lúc quán đông người nên đành ăn cơm hến khi cơm đang còn nóng…
Về hến ở Huế có thể khẳng định ngay rằng: Hến ngon nhất ở Huế là hến cồn. Cồn Hến là cách nói nôm na của người dân, trong thuật phong thủy nó chiếm vị “Tả Thanh Long” rất quan trọng trong Dịch lý của kiến trúc kinh thành Huế. Tại xã Phú Xuân cách kinh thành Huế 700 cây số, lại trong thời bao cấp thì lấy đâu ra cái vị ngọt thanh và mùi thơm độc đáo của hến cồn. Đến đây ta mới thấy hết tinh thần sáng tạo của những mệ, những O bán cơm hến ở Phú Xuân; không có hến nhỏ, ngon của cồn hến thì tìm kiếm tại chỗ những loại hến to, thậm chí lấy những con “Vọp Vọp”, con Trai to gần bằng bàn tay luộc lấy nước rồi xắt nhỏ ra thay hến. Thiếu bắp chuối sứ, bạc hà… thì thay bằng các loại rau khác như rau má, môn nước… Ngoài ra, một số loại rau có mùi vị đặc biệt vẫn có thể dùng như tía tô, diếp cá, rau húng… tùy theo sở thích của từng người - “…Ngay cả Thúy Kiều khi vắng cũng còn thay Thúy Vân vào được nữa là cơm hến…” miễn sao những “người Việt gốc ớt” xa quê vẫn cảm nhận được hương vị cơm hến quê nhà là quý lắm rồi! Nhớ lại những lần tôi rủ rê những người bạn “tha phương tứ xứ” của tôi gồm cả dân Bắc, dân Quảng, dân Nam… đi ăn cơm hến ở Phú Xuân, các bạn tôi nhận lời đi một cách rất hào sảng, nhưng tất cả đều khéo léo thủ thêm những chiếc khăn tay để lau mồ hôi. Nhiều người nói: Đi ăn riết rồi cũng quen, cũng thấy ngon, đặc biệt là nhiều loại rau sống khác nhau được xắt nhỏ, trộn lại để vào đĩa nhìn rất tươi mắt và tạo được mùi hương riêng không lẫn vào đâu được, nhưng mặt khác thì vẫn có cảm giác như Tôn Ngộ Không đang bị nhốt trong lò bát quái của Thái thượng lão quân, vì vậy khăn tay là vật không thể thiếu khi ngồi ăn cơm hến.
Cơm hến ngoài chức năng điểm tâm cây nhà lá vườn, nó còn mang tính tiết kiệm cao của người Huế. Giá cả tô cơm hến tại Phú Xuân hiện nay giao động từ mười đến mười lăm ngàn đồng, nếu so với đời sống hiện nay tại Krông Năng thì giá cả đó vẫn dễ chịu và chấp nhận được. Đặc biệt nếu đem so sánh với một tô bún giá từ ba mươi đến bốn mươi ngàn đồng tại Buôn Ma Thuột thì cơm hến ở xã Phú Xuân huyện Krông Năng sẽ được xếp vào diện no, ngon, bổ, rẻ…
Có lẽ đối với những người Huế xa quê và cả những người yêu Huế hình như đều có tô cơm hến nằm ở đâu đó trong những ô ngăn ký ức của mình trên bước đường tha hương… Trên vùng đất mới Phú Xuân này, người Huế do được sống tập trung nên ít nhiều đều lưu giữ được những nét truyền thống, và một trong những nét truyền thống đó là những món ăn tinh hoa hoặc giản dị, trong đó cơm hến tuy là món ăn bình dân, giản dị nhưng lại được xếp vào hạng khó quên và cũng “chẳng nơi nào có được”.
Phú Xuân như một bến đỗ cho những người Huế xa quê và những người yêu Huế ở Đắk Lắk thỉnh thoảng cập bến, tiếp thêm năng lượng, tiếp thêm sức mạnh để rồi lại tiếp tục vững bước trên con đường tha hương lưu lạc của mình.

* Những chữ in nghiêng hoặc nằm trong ngoặc kép là trích tư liệu.