Thứ Hai, 23 tháng 4, 2018

ĐỌC “MIỀN THƠ THAO THỨC” của BÙI MINH VŨ - CHƯ YANG SIN, SỐ: 307- tháng 3 năm 2018





Lê Thành Văn ra mắt cuốn sách “Miền thơ thao thức”, Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 2017, gồm 34 bài viết tâm đắc về những bài thơ hay, những bài thơ được nhiều người yêu thích, như là bông hoa đẹp gửi cho các thế hệ học trò, người yêu thơ và bạn đọc xa gần.
Từ lâu, người ta biết đến anh như một thầy giáo mẫu mực, một nhà thơ trẻ, nay anh cho phát hành một công trình cảm nhận về cái hay, cái đẹp của những bài thơ của những thi sĩ nổi tiếng từ thời phong trào Thơ mới đến những thi sĩ hôm nay. Việc bình luận thơ ca là một thú vui lý thú, một công việc bếp núc hấp dẫn, một nghề của nhà phê bình, do vậy phải có đam mê, nhiệt huyết. Ở khía cạnh này, Lê Thành Văn là ứng viên đáp ứng các tiêu chí. Anh yêu thơ, say thơ, làm thơ và kiếm sống bằng thơ, cộng với kiến thức tiếp thu từ nhà trường và sách vở trong hai thập kỷ qua, đủ cho anh đưa ra các tiêu chí độc lập về bài thơ hay, khám phá cấu trúc thơ ở nhiều tầng nghĩa, giải mã ngôn ngữ dưới góc độ ngữ âm, ngữ pháp, tu từ, từ đó chỉ ra thi pháp và mã văn hóa trong bài thơ.
Tôi đọc cẩn trọng cuốn sách “Miền thơ thao thức” nhiều lần, và phát hiện ra rằng: công trình 248 trang này có cá tính sáng tạo của nhà phê bình, có dấu ấn riêng, khó lẫn lộn giọng điệu với các cuốn sách của Mộng Liên Đường, Tản Đà, Xuân Diệu, Hoài Thanh, Vũ Quần Phương, Lê Bá Hán, Vũ Bình Lục, Trương Tham… Lê Thành Văn bình thơ bằng cảm xúc đắm say của một thi sĩ; khai phá nét đẹp tinh tế của bài thơ bằng lối bình dung dị, dễ thấu cảm của một thầy giáo; tư duy và đưa ra những nhận xét, đánh giá, kiến giải bằng phương pháp có tính khoa học, giải mã cấu trúc nghệ thuật của tác phẩm bằng cái tâm của người có nghề.
Hầu hết các bài viết được anh lấy tiêu đề từ cái tứ của bài thơ. Đó là cách lý giải tự nhiên cấu trúc của thi phẩm, mà không gò bó, hoặc “lạc” trong các tầng nghĩa ẩn dụ. Có thể thấy rất nhiều lần tác giả rút tít như thế, ví như: Duyên thiếu nữ qua bài thơ “Tựu trường” của Nguyễn Bính; Gặp quê hương trên mọi quê hương (viết về bài thơ Nghe quan họ trên cao nguyên của Hữu Chỉnh), Máu tim anh đã nhuộm hồng sắc nắng (viết về bài thơ Một ngày không chiến tranh của Phạm Doanh), Khoảng trống tình yêu ngàn lần xao xuyến gọi (Ra cửa của Trinh Đường); Giờ biết làm sao cầm được hoa (Cầm chân em, cầm chân hoa – Yến Lan); Phút giây sống với ước mơ muôn đời (Biểu tượng Êđê – Vũ Quần Phương); Hôn và tuyên ngôn Phùng Quán (Hôn – Phùng Quán); Vết bùn già hơn tuổi mẹ tôi (Vết bùn trong kẽ móng chân mẹ tôi – Đặng Bá Tiến); Phía sau lời đá hỏi (Đi chơi – Bùi Minh Vũ)… Để rút được tiêu đề cho một bài bình là cả một quá trình suy tư.
Có những bài thơ trước đây tôi từng nghe, từng đọc nay được đọc lại từ cuốn sách của Lê Thành Văn, thấy thơ hay hơn. Phạm Doanh viết “Một ngày không chiến tranh” vào năm 1994, 23 năm sau, tác giả thẩm bình thấy sang trọng bài thơ lên, câu thơ như có cánh: “…như một nhà thiết kế sân khấu có tài dựng cảnh, nhà thơ Phạm Doanh điểm xuyết thêm trên cái nền không gian của quê hương người lính với vẻ đẹp của bầu trời xanh bất tận, một vẻ đẹp bình thường, đơn sơ nhằm để khắc sâu thêm cái bình yên từ cảnh vật đến con người:
Trời xanh, xanh bất tận
Đâu đẹp bằng quê anh?
Một câu hỏi tu từ thật hay, hỏi nhưng là để khẳng định vẻ đẹp bình yên của quê hương bản quán người lính. Nào đã có điều gì chẳng lành dự báo trước về sự bất trắc mà người lính phải đón nhận sau này! Chính trên cái nền của cảnh vật thanh bình, tươi đẹp và cuộc sống con người lao động hiền hòa trên mảnh đất quê hương, nhà thơ đã chuẩn bị cho một "kíp nổ" bắt đầu. Tứ thơ độc đáo, sự òa vỡ cảm xúc và tác động đến người đọc cũng nằm ở chỗ đó.” [trang 40]. Lại nữa, bình bài thơ “Cầm chân em, cầm chân hoa” (Yến Lan), tác giả chỉ ra cái hay da diết, xé lòng: “Cái hay của bài thơ là nhờ tác giả dựng lên một câu chuyện xin hồng, từ đó làm nổi bật tấm lòng xót xa, luyến tiếc về một cuộc tình duyên không trọn vẹn:
Hôm nay hồng nở, bóng em xa
Câu thơ xé làm hai vế, hồng nở đằng hồng, em đi đằng em. Chia biệt. Đoạn tuyệt. Bất giác buổi em đến xin hồng đã hóa thành quá khứ buồn thương vương vấn trong lòng người ở lại - chủ nhân của vườn hồng xinh đẹp. Bây giờ hình ảnh người con gái xin hồng và đóa hồng đang nở lại đồng hiện trong tâm hồn tác giả với bao nhớ tiếc ngẩn ngơ:
em bữa trước, em không ở
Giờ biết làm sao cầm được hoa?
Chữ "cầm" ở đây được nhà thơ dùng rất độc đáo. Cầm là giữ lại, mời lại một cách thân tình. Hình như người miền Trung ở Quảng Ngãi và Bình Định mới hay dùng chữ "cầm" khi thể hiện tình cảm muốn mời mọc, níu kéo ai đó nán lại. "Cầm em" hôm em đến xin hồng sao em không chịu khó ở lại, để bây giờ hoa nở rồi em lại không có đây!” [tr 112].
Thẩm bình bài thơ hay, câu thơ hay, mỗi người có một cách hiểu, một cách cảm thụ, nhìn nhận đánh giá khác nhau, nhưng tựu trung là hiểu đúng, bình đúng, giải mã trúng ý tác giả nhằm  tìm ra cái hay, cái đẹp chìm khuất trong các ký hiệu ngôn ngữ. Ở góc độ này, Lê Thành Văn tránh được lối thẩm bình chủ quan, cảm tính, tránh được những kiến giải lệch lạc, những suy diễn mơ hồ, gây cho người đọc một cảm giác gần với văn bản thơ, yêu thơ hơn. Hãy nghe một đoạn Lê Thành Văn bình bài thơ “Vết bùn trong kẽ móng chân mẹ tôi” (Đặng Bá Tiến): “Tứ thơ hay và độc đáo như ngôi nhà có nền móng chắc chắn, các trụ cột vững chãi, mưa gió bão bùng khó làm lay chuyển nên bền lâu với thời gian. Tôi nghĩ bài thơ Vết bùn trong kẽ chân mẹ tôi của Đặng Bá Tiến là một điển hình như thế. Ở đây, tên bài thơ đã là một tứ thơ, một tứ thơ mà nhiều người cũng đã viết nhưng vẫn còn nằm ở dạng hình ảnh, hình tượng, nghĩa là chỉ điểm qua, kể qua kiểu như "bầm ra ruộng cấy bầm run, chân lội dưới bùn tay cấy mạ non" (Tố Hữu). Vết bùn trong kẽ móng chân của mẹ giờ đã bất động rồi, mẹ không tự mình lấy ra được nữa mà chính con đây - đứa con chuẩn bị tiễn mẹ về với ông bà tổ tiên phải bấm từng móng chân của mẹ để lấy ra. Từ hình ảnh, hình tượng quen thuộc, tác giả đã nâng lên thành một ám ảnh, một đau xót, một cảm thương về nỗi nhọc nhằn của đời mẹ, nhờ đó bài thơ thực sự có được một vị trí xứng đáng trong mảng thơ ca viết về đề tài người mẹ.” [tr 204].
Chọn bài thơ hay quả là khó theo một tiêu chí, nhưng say mê, phát hiện, và thích thì Lê Thành Văn bình; do vậy; lời thẩm định thường rất trữ tình, đầy cảm xúc, đốt lên ngọn lửa, gợi lên các giá trị thẩm mỹ, nhân văn. Anh không “tán”, không ngoài đề, không xông vào vùng ngoại biên xa thẳm, mà vào trung tâm, vượt qua các giải phân cách, bóc tách các tầng ý nghĩa qua cảm xúc thăng hoa. Khi anh hạ lời thẩm định: “Khổ thơ cuối bài lặp lại hành động ra cửa, khi khoảng trống không em cứ thảng thốt gọi gào trong sự mê muội từ tâm tưởng của kẻ đang yêu:
Chiều nay sau cánh cửa
Khoảng trống lại gọi anh
Không cưỡng được lòng mình
Anh lại đi ra cửa.
"Không cưỡng được lòng mình" như con muỗi tìm đến ánh sáng của ngọn đèn chiếu rạng, như con nghiện vật vờ tìm chất kích thích để giết chết đời mình. Trong tình yêu, người ta có thể đau khổ vật vã, có thể u sầu điên dại, có thể sống mà như đã chết rồi; nhưng hoang tưởng đến mê lầm, thực ảo đan xen, xác hồn rời rạc đến tội nghiệp chỉ có thể nói đến ở bài thơ Ra cửa này của Trinh Đường.” [tr 68]. Cách bình khoa học, cách lý giải dựa vào ký hiệu học trong phê bình văn học đã bộc lộ tài năng của tác giả khi giải mã một tầng nghĩa trong bài “Đi chơi” của Bùi Minh Vũ. Ta nghe Lê Thành Văn bình câu mở đầu của bài thơ với lối tư duy lý thú và thông minh: “Ngắn gọn và mới mẻ trong ngôn ngữ biểu đạt, Đá hỏi mở đầu bằng một câu thơ có vẻ khác thường:
Hôm qua tôi đưa tôi đi chơi
Câu thơ có 7 tiếng, tác giả sử dụng toàn thanh bằng (B) nghe cứ nhẹ thênh như một cuộc rong chơi vô định, "không còn không còn ai/ ta trôi trong cuộc đời" (Ru ta ngậm ngùi - Trịnh Công Sơn). Nghệ thuật trần thuật ở đây rất cụ thể, có thời gian "hôm qua", có hành động "đi chơi" của nhân vật trữ tình xưng "tôi". Có điều lạ, tôi không đi chơi với ai khác mà lại đi chơi với chính tôi, còn lại "đưa" nhau nữa mới trang trọng chứ. Người đọc một thoáng trầm tư, mỉm cười như thể xem thi sĩ muốn biểu đạt điều gì sau cách kể chuyện có vẻ lẩn thẩn ấy. Quái, sao lại "tôi đưa tôi đi chơi" nhỉ?! Hay là có sự nhầm lẫn nào chăng? Câu thơ đầu tiên vì vậy phảng phất chút gì như là khói sương huyền ảo, dù tác giả đang hồi ức lại một cuộc đi chơi đã diễn ra ở thì quá khứ tương đối rành mạch, cụ thể. Sự song hành có vẻ thiếu lôgic trong hành trình "đi chơi" đã khiến cái tôi trữ tình tác giả phân thân, tách rời để đối thoại. Dấu hiệu của thơ hậu hiện đại chăng?” [tr 241].
Đọc Miền thơ thao thức nên đọc chậm, đọc lại, bạn sẽ thấy chất thơ thấm đẫm qua từng kẽ chữ, sẽ thấy chất trí tuệ qua từng đoạn văn; nhưng cũng bất ngờ để thấy từng chi tiết, hình ảnh, so sánh, ẩn dụ được phân tích tỉ mỉ; lý thú hơn là sẽ nhận diện cấu trúc nghệ thuật được giải mã một cách tài hoa qua con mắt của nhà phê bình, trái tim tràn đầy yêu thương của thi sĩ, độ thẩm thấu của người thầy từng nhiều năm đứng trên bục giảng đang thủ thỉ tâm tình với các thế hệ học trò. Nhiều bài thơ hay qua tác giả thẩm bình, thấy cảm xúc hơn; nhiều bài thơ chưa quen với học trò, với bạn đọc, qua Miền thơ thao thức, sẽ thấy cái hay, cái lạ, mà lâu nay đã chưa một lần để ý.
Có thể nói, mỗi tác giả (dù là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam hay chưa vào hội, dù là ngoài tỉnh hay trong tỉnh), Lê Thành Văn chỉ chọn một hoặc vài bài yêu thích, nhưng qua giọng thẩm bình đầy cá tính sáng tạo, đã vẽ ra chân dung từng nhà thơ, khẳng định thêm tên tuổi đã từng, nhưng cũng trân trọng, nâng niu những người mới bước vào nghề thơ với bao bỡ ngỡ và lạ lẫm trong sân chơi trí tuệ.




Chủ Nhật, 22 tháng 4, 2018

GIỚI THIỆU TẠP CHÍ CHƯ YANG SIN SỐ: 308 - THÁNG 4 NĂM 2018








NGHỆ THUẬT, SO SÁNH, ĐỐI LẬP, TƯƠNG PHẢN TRONG “CHỮ NGƯỜI TỬ TÙ” CỦA NGUYỄN TUÂN của PHẠM MINH TRỊ - CHƯ YANG SIN, SỐ: 307- tháng 3 năm 2018




Nguyễn Tuân (1910 – 1987) đã về với cõi người tài hoa ngót nghét một  phần ba thế kỷ rồi, vậy mà bóng dáng của ông vẫn cứ lừng lững ôm trùm cả một khoảng rộng dài mênh mông trên con đường văn chương hiện đại Việt Nam. Cái khoảng trống ấy đến nay dường như chưa thấy ai có thể thay thế được. Có lẽ nó vang bóng mọi thời chứ không chỉ “vang bóng một thời” như tựa đề tập truyện của ông đã đặt.
 Nhiều người cho rằng “Chữ người tử tù” là một tác phẩm: gần tới sự toàn thiện, toàn mỹ (Vũ Ngọc Phan); là trong sáng lạ thường (Trương Chính); là nghệ thuật văn xuôi điêu luyện (Nguyễn Đăng Mạnh); là truyện ngắn “cổ điển” trong lịch sử văn học Việt Nam hiện đại (Văn Tâm); là đạt đến trình độ nghệ thuật bậc thầy (Hà Bình Trị); là làm thơ trong văn xuôi (Ngô Ngọc Phú)... “Chữ người tử tù” không dài, chỉ trên dưới sáu trang sách giáo khoa khổ 17x24cm, thế nhưng người đọc “đào xới” mãi vẫn ẩn tàng nhiều điều cần nói, cần bàn và cần học. Thế mới hay rằng cái giá trị của chữ nghĩa khi được một người chân tài sử dụng thì năng lượng của nó dường như bất tận, không giới hạn. Một trong những nét giá trị làm nên văn phẩm nổi tiếng này là nghệ thuật so sánh, đối lập, tương phản đến lạ kỳ nếu không muốn nói tới sự đạt gần đến độ tận cùng của nó.
Cặp nhân vật Huấn Cao – viên quan coi ngục là cặp nhân vật (hình tượng) chứa đựng chứa quan điểm thẩm mỹ sâu sắc nhất của tác giả. Không phải ngẫu nhiên mà Nguyễn Tuân dùng danh từ chung gọi viên quan ngục mà không dùng danh từ riêng như dùng để đặt tên nhân vật Huấn Cao. Ngay cách đặt tên nhân vật, người đọc đã thấy sự so sánh, đối lập, tương phản. Một bên là danh từ riêng bên kia là danh từ chung. Một đằng viết hoa còn đằng kia viết thường. Tâm ý của tác giả đã rõ: một trân trọng, nâng niu một tầm thường, giải đãi. Chỉ một cách dùng từ loại thôi, đơn giản thế mà sao sâu sắc thế. Chỉ là cách đặt tên cho nhân vật đã lóe lên dụng ý nghệ thuật, đã khiến người đọc phải nghĩ suy, đã bắt quan điểm, tư tưởng, nhận thức của bất cứ người đọc nào cũng phải dứt khoát lựa chọn hoặc ngợi ca hoặc coi thường, tôn vinh hoặc khinh bỉ, trân quý hoặc rẻ rúng. Cái tài ở chỗ đó, nghệ thuật viết văn ở chỗ đó, người đọc học được cũng ở đó mà ra.
Ta thấy, số lượng từ chữ miêu tả, kể trực tiếp về hình tượng Huấn Cao rất ít. Còn về nhân vật viên quan coi ngục thì gấp nhiều lần. Đây lại là một thủ pháp so sánh, đối lập nếu người đọc vội vàng, sơ ý rất dễ bỏ qua. Không phải ngẫu nhiên như vậy. Hình tượng Huấn Cao chủ yếu hiện lên sáng chói khí phách, tài hoa, lẫm liệt là do từ lời nói của chính viên quan coi ngục và nhân vật thầy thơ lại. Thông thường, người viết sẽ dựng nhân vật một cách trực tiếp để người đọc hình dung ra dáng hình, tính cách, lời nói, hành động... nhưng ở đây Nguyễn Tuân không làm thế mà ngược lại ông cho nhân vật này chồng lấn, ẩn và thoát lên từ nhân vật kia. Có lẽ thế mà người đọc mới cảm thấy sửng sốt, kinh ngạc về hình tượng Huấn Cao lồng lộng sáng ở phần cuối tác phẩm. Thủ pháp này nhà phê bình Kim Thánh Thán gọi là “vẽ mây nẩy trăng”. Và chợt nhớ ra rằng trong tác phẩm “Những trò lố hay Va-ren và Phan Bội Châu”, Nguyễn Ái Quốc cũng dùng thủ pháp nghệ thuật này điêu luyện, khéo léo vô cùng. Từ đầu đến cuối truyện, Phan Bội Châu dường như chỉ im lặng, chẳng nói gì, chỉ có nhân vật Va-ren nói và nói liên tục, liên hồi, không ngớt từ đầu đến cuối. Còn trong “Chữ người tử tù” Nguyễn Tuân vẫn còn dành cho Huấn Cao một tỉ lệ vừa phải để trực tiếp kể tả. Về mức độ đậm đặc, thì Nguyễn Ái Quốc sử dụng đến tận cùng hơn Nguyễn Tuân. Nhưng cả hai ngòi bút tài năng thiên bẩm này bắt cái “thần” của nhân vật sáng bừng, ôm trùm, xuyên suốt từ đầu đến cuối thiên truyện.
“Chữ người tử tù” đem đến một khoái cảm thẩm mỹ đến không cùng. Tác giả dựng lên một đối sánh tương phản rất kỳ thú đó là: ánh sáng và bóng tối. Cái thế giới tối tăm, tù ngục, kẻ độc ác, bất lương làm chủ, còn người “thiên lương, nhân tính, tài năng, bị chèn ép gông cùm. Một đốm sáng Huấn Cao bị vây bủa cả một vùng tối tăm, ẩm thấp, tù đọng. Nhưng cái đốm sáng vẫn hừng hực cháy, tưởng như thiêu tàn cả cái không gian tù ngục luôn bốc mùi ai oán, ác nhân. Ngay từ đầu tác phẩm, “ánh sáng Huấn Cao” đã khiến cho viên quan coi ngục và thầy thơ lại phải kính nể: “cái người mà vùng tỉnh Sơn ta vẫn khen cái tài viết chữ rất nhanh và rất đẹp đó không?” và “ngoài cái tài viết chữ tốt, lại còn có tài bẻ khóa và vượt ngục”; “thế ra y văn võ đều có tài cả”. “Cái ánh sáng Huấn Cao” ấy  đã chinh phục được địch thủ: “phải chém những người như vậy, tôi nghĩ mà thấy tiêng tiếc”. “Chữ tốt” ở đây là biểu tượng văn hóa đẹp nhất của dân tộc. “Tài bẻ khóa và vượt ngục” là cái tài tuyệt đỉnh. Hiểu như thế càng thấy cái đẹp có sức hút biết nhường nào, cái tài có sức thuyết phục đến không giới hạn. Cái Đẹp, cái Tài ấy tụ lại ở một cái Tâm sáng trong rờ rỡ cùng với phẩm cách uy nghi, phi phàm của ông Huấn Cao thì Đẹp –Tài –Tâm dứt khoát phát ra một thứ ánh sáng đặc biệt, đó là thứ ánh sáng “xưa nay chưa từng có”. Vì vậy, thứ ánh sáng ấy đã cảm hóa cả ngục tù tăm tối, ác nhân. Quan trọng hơn nó khiến cho địch thủ phải ngưỡng mộ, kính nể và thay đổi cả bản chất của mình. Thói thường, viên quan coi ngục là một tên ác quỷ, là tay sai đắc lực, là bản sao y nguyên bản chính của cái chế độ xã hội mà “người ta sống bằng tàn nhẫn bằng lọc lừa”, ấy vậy mà viên quan coi ngục khi được giáp mặt với “ánh sáng Huấn Cao” đã ngợp choáng và dần dần thay đổi, cuối cùng lột sạch hết những cái “cặn bã” bấy lâu mà y chìm vào để ngoi đứng lên, vượt thoát khỏi kiếp tôi đòi hèn hạ, theo lời khuyên bảo của “ánh sáng Huấn Cao”: “ở đây lẫn lộn. Ta khuyên thầy Quản nên thay chốn ở đi. Chỗ này không phải là nơi để treo một bức lụa trắng với những nét chữ vuông tươi tắn nó nói lên những cái hoài bão tung hoành của một đời con người... Tôi bảo thực đấy, thầy Quản nên tìm về nhà quê mà ở, thầy hãy thoát khỏi cái nghề này đi đã, rồi hãy nghĩ đến chuyện chơi chữ. Ở đây, khéo giữ thiên lương cho lành vững và rồi cũng đến nhem nhuốc mất cái đời lương thiện đi”. Cuối cùng  ánh sáng đã chiến thắng huy hoàng, bóng tối bị tan rữa, hủy hoại. Nhưng đáng giá hơn bao giờ hết là cái “bóng tối” ấy đã nhiễm hoàn toàn cái “thiên lương”của “ánh sáng Huấn Cao”: “Ngục quan cảm động, vái người tù một vái, chắp tay nói một câu mà dòng nước mắt rỉ vào kẽ miệng làm cho nghẹn ngào: Kẻ mê muội này xin bái lĩnh”. Thật lạ lùng, chính ánh sáng Huấn Cao đã làm thay đổi, đảo lộn một cách ghê gớm, không thể tưởng tượng nổi: kẻ tử tù giữa chốn lao ngục được chính chủ của nó kính trọng, vái lạy, người mang gông, đeo xiềng làm chủ còn kẻ trước đây là chủ lại khúm núm, so ro, lo sợ. Mới chưa đầy hai ngày mà kẻ nắm quyền sinh sát lại tôn quý kẻ tử tù, xin chỉ dạy một cách cung kính, lễ phép. Vị trí, vai trò đã thay đổi, ngược hẳn lại, tù nhân răn dạy, chỉ bảo cai ngục, cai ngục quỳ lạy tù nhân. Thật là “xưa nay chưa từng có”. Trong ngục tù tăm tối cứ tưởng rằng cái ác, cái xấu, cái bẩn thỉu, nhơ nhớp thống trị làm chủ, có ai ngờ rằng cái đẹp, cái cao cả, cái phi thường, sự thiên lương toàn quyền làm chủ. Phải chăng “cái đẹp cứu vớt con người”.
Có thể nói rằng “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân điệp trùng thủ pháp nghệ  thuật so sánh, đối lập, tương phản. Có đối sánh tương phản rộng, có đối sánh tương phản hẹp, có đối sánh tương phản của hai đối tượng, lại có đối sánh tương phản trong một đối tượng. Ta hãy xem nhân vật “viên quản ngục”. Ngay bản thân nhân vật này vẫn tồn tại sự đối lập tương phản. Đã là quản ngục thì đó là  ác quỷ hiện hình, song trong tâm hồn của y khi gặp được ánh sáng lành thiện và văn võ song toàn của Huấn Cao thì cái ác nhân trong con người hắn đã nhạt dần đi theo thời gian được gần cận với Huấn Cao. Từ tàn ác chuyển sang nhún nhường, biết điều; từ cậy quyền thế, ra oai tác quái sang thành tâm sám hối; từ u ám tối tăm sang thanh nhẹ trong trẻo. Ta hãy đọc những đoạn văn sau đây sẽ thấy rất rõ điều đó: “Trong hoàn cảnh đề lao, người ta sống bằng tàn nhẫn, bằng lừa lọc, tính cách dịu dàng và lòng biết giá người, biết trọng người ngay của viên quan coi ngục này là một thanh âm trong trẻo chen vào giữa một bẩn đàn mà nhạc luật đều hỗn loạn xô bồ... Ông trời nhiều khi chơi ác đem đầy ải những cái thuần khiết vào giữa một đống cặn bã. Và những người có tâm điền tốt và thẳng thắn, lại phải ăn đời ở kiếp với lũ quay quắt” và “Ta muốn biệt đãi ông Huấn Cao, ta muốn cho ông ta đỡ cực trong những ngày còn lại”; “hôm nay viên quan coi ngục nhìn sáu tên tù mới vào với cặp mắt hiền lành. Lòng kiêng nể...” Một lần nữa, ta càng thấy công năng hiệu nghiệm, sức cảm hóa của cái Đẹp-Tâm-Tài quyện tụ làm nên một sức mạnh không gì cản ngăn được. Sức mạnh ấy cuốn phăng hết mọi u tối, xấu xa, thấp hèn, nhơ bẩn, ác độc, đem lại sự sáng trong, thành tâm. Và bản thân đối tượng như được hồi sinh với tràn đầy nhựa sống được chuyển lưu trong từng mạch máu, trong từng nghĩ suy, nó làm thay đổi hẳn cả thế giới quan của đối tượng.
Quả thực, với nghệ thuật so sánh, đối lập, tương phản được tác giả sử dụng điệp trùng, chồng lấn, trong ngoài, trên dưới, cao thấp một cách khéo léo góp phần không nhỏ trong việc thể hiện sâu sắc chủ đề của thiên truyện, đem lại một xung lực hấp dẫn hiếm thấy cho người đọc. Và theo riêng tôi, đó là chỗ lý thú nhất, còn nhớ một lần Nguyễn Tuân nói thế này: “Văn học có cái rất vui là phong cách. Cách nói, cách viết khác nhau. Vậy mà nhiều anh viết văn, dạy văn lại không đi vào đấy, chỉ nói về nội dung, về tư tưởng nên trở thành nhạt nhẽo, vô duyên. Tại anh thôi, cái chỗ phong phú, cái chỗ “xôm” nhất, “vui” nhất anh “đếch” đi vào nên người ta chán.” Ta cùng suy ngẫm.



Thứ Tư, 18 tháng 4, 2018

CHIM K'TIA truyện ngắn của HỒNG CHIẾN - BÁO VĂN NGHỆ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH số: Số 493-12/4/2018


Người dưới xuôi thường nói “học vẹt” hay “nói như vẹt” để chỉ những người học thuộc bài mà chẳng hiểu gì điều mình đã học, hay là kẻ nói nhiều mà thôi; điều đó thật oan uổng cho dòng họ nhà tôi lắm. Đừng thấy chúng tôi có thể bắt chước được tất cả giọng nói của muôn loài mà tưởng “chỉ biết bắt chước” đơn thuần, không suy nghĩ, như vậy là nhầm to đấy. Nếu không thông minh chịu khó học hỏi thì không bao giờ có thể hiểu được tiếng của muôn loài, kể cả con người. Chúng tôi có thể nói: “Nhà có khách, nhà có khách...” mỗi khi có người lạ đến nhà. Thấy trẻ em nghịch ngợm thường hỏi: “nghịch gì đấy! nghịch gì đấy!” vv… Nghĩa là chúng tôi biết phân biệt ý nghĩa của từng câu nói đã học và không bao giờ nhầm lẫn; điều đó chứng tỏ rằng họ hàng nhà chim K’tia chúng tôi thật sự có biệt tài trong việc học ngoại ngữ. Nói như vậy không có nghĩa, họ hàng chúng tôi không cần học, hay ít học cũng biết được đâu mà ngược lại, việc học tập phải chuyên cần, vất vả lắm. Nếu không tin mời bạn đến thăm quê hương tôi nhé!
          Dòng họ chim Vẹt mà người Tây Nguyên bản địa thường gọi một cách thân thiện là chim K’tia. Chim K’tia sống ở nhiều quốc gia trên thế giới và loài người biết thuần dưỡng chúng tôi từ rất lâu rồi. Màu lông họ hàng nhà K’tia cũng khác nhau do sống những vùng khí hậu khác nhau: lông màu trắng, màu vàng, màu đỏ và màu xanh biếc... Mỗi màu lông có vẻ đẹp riêng của nó. Ở Việt Nam sống trong môi trường hoang dã, loài K’tia chỉ có chung một màu áo xanh. Họ hàng K’tia ở Tây Bắc to lớn hơn loài K’tia miền Trung và Tây Nguyên. Ở cao nguyên Đắk Lắk có hai dòng khác biệt nhau, một dòng thuộc loại to lớn, thân hình phải bằng quả bắp; một dòng nhỏ bé hơn chỉ nhỉnh hơn ngón tay cái người lớn một chút – dòng họ này hiện nay còn ít, chủ yếu sống ven bờ sông lớn và khe suối sâu. Tôi không dám mời bạn làm một cuộc du lịch thám hiểm họ hàng loài K’tia chúng tôi trên khắp thế giới mà chỉ muốn mời bạn tới thăm gia đình tôi – loài K’tia lớn sống trên mảnh đất Tây Nguyên hùng vĩ.
*
**
          Dạ! Xin được giới thiệu với bạn về cuộc sống gia đình tôi ở Tây Nguyên.
          Cứ mỗi độ xuân sang khi những hạt mưa cuối cùng còn sót lại trên bầu trời rụng xuống mặt đất, nhường chỗ cho ánh nắng chan hòa rải khắp nơi là lúc K’tia tách bầy làm tổ. Từng đôi uyên ương dắt nhau đi tìm cây làm nhà. Thường thường tiêu chuẩn tối thiểu của cây được chọn xây tổ là cây còn sống hoặc cây khô còn vững, thân to lớn; xung quanh cây phải thoáng, không có hoặc ít có cây lớn mọc gần. Tiêu chuẩn này họ hàng tôi thường chọn cây lồng bàn - một loài cây có lá gần giống lá bàng, mọc lẻ loi trên các đồi cỏ gianh ở Tây Nguyên. Tìm được cây vừa ý đôi uyên ương phải chọn cành để làm bức chắc phía trên cửa ra vào. Cành được chọn phải to, hơi nghiêng để nước mưa  hay sương đêm không lọt vào tổ.
Với cái mỏ rắn chắc như thép, ba má tôi thay nhau đục thân cây phía dưới cành to thành một lỗ tròn như quay bằng com pa sâu vào thân cây tới nửa sải tay. Phía trong bao giờ cũng rộng có thể đủ chỗ cho bốn năm má con cùng chung sống, được lót một lớp dày các sợi cây mềm. Chiều xuống, ba tôi thường đứng ngoài cửa canh chừng kẻ thù. Loài K’tia đẻ hơi nhiều, một tổ bao giờ cũng có từ bốn đến năm quả trứng, to bằng ngón út tay người, màu xanh có đốm đỏ.
Tôi sinh ra trong một gia đình có bốn anh chị em, Ba tôi vất vả bay ngược, bay xuôi lo đủ miếng ăn cho cả nhà. Má tôi vừa canh chừng kẻ trộm vừa phải luôn miệng trả lời các câu hỏi của anh em tôi. So với anh chị, tôi là người nở ra sau cùng nên bao giờ cũng bé hơn, song không vì thế mà được chiều chuộng hơn đâu. Tôi vẫn phải theo học như các anh chị. Từ bài học đầu tiên về chữ o tròn như quả trứng… K’tia, đến cách phát âm chữ cái, cách chào hỏi xã giao vv… và vv… có nghĩa là tất tần tật mọi thứ trên đời đều phải học. Từ mờ sáng cho đến lúc mặt trời đi ngủ, má tôi bắt chúng tôi học ra rả cả ngày. Vì thế, ai đến cách gốc cây có gia đình tôi ở chừng trăm mét cũng biết nhà tôi ở đâu rồi.
*
**
Cuộc sống gia đình tôi tuy thanh bình vậy nhưng cũng gặp vô vàn khó khăn, nguy hiểm, nhiều lúc cái chết rình rập ngay bên cạnh. Tôi nhớ hôm đó trời mới vừa sáng được một lúc, ba tôi đi làm chưa lâu; bỗng nghe tiếng má la thất thạnh ngay ngoài cửa:
-         Cướp! Cướp! Cướp!
Tôi định thò đầu ra cửa xem có chuyện gì xảy ra mà ầm ĩ như thế liền bị anh Hai dùng mỏ giáng cho một cú vào đầu ngã lăn quay. Nhìn vẻ mặt nghiêm trọng của anh và chị, tôi không dám hé môi kêu khóc như mọi bận bị bắt nạt. Bỗng một mùi hôi nồng nặc phả vào, một cái lưới dài ngoằng thọc vào cửa. Anh tôi vội vã xô tôi ra sau, còn mình hiên ngang bước lên phía trước cửa đón kẻ thù. Con quái vật đầu bẹp, mắt nhỏ tí tẹo, có cái lưỡi dài ơi là dài, từ từ xông vào nhà; chậm rãi nhích từng tí, từng tí một. Chị tôi thét lên một tiếng té xỉu. Còn anh Hai tôi cố xù mấy chiếc lông măng mới mọc ở cổ, cất cao đầu giơ cái mỏ bé tẹo lên định lăn xả vào quái vật. Con quái vật bò qua cửa lọt vào nhà nhằm anh tôi trườn tới. Tôi sợ quá nhắm tít mắt, không dám nhìn sự việc đang diễn ra... Ngoài kia tiếng má tôi kêu khóc thảm thiết, tiếng mấy bà hàng xóm hò hét om sòm. Bỗng tiếng ba tôi thét lên:
 -K…é…t!
Cùng lúc, con quái vật oằn mình đau đớn, phun ra một búng nước tanh ngòm về phía chúng tôi rồi vội vã lùi ra khỏi cửa. Tiếng la hét: “Két! Két!” vang lên của các bác, các chú láng giềng đang kịch chiến với con quái vật náo động cả không gian. Anh tôi quay lại nói như xin lỗi:
- Đừng giận anh chuyện lúc nảy nhé! Lần sau nếu có chuyện gì em… đừng… có… ra… ngoài. Ba… đứa… phải… nghe… lời… ba… má!
Giọng anh đứt quãng, rồi lịm dần. Chị tôi gào lên:
- Ba má…ơi!
Tôi lao ra định ôm lấy anh. Anh xua tay:
- Không… đụng… và...o a…nh!
Anh lảo đảo bước ra cửa, chị em tôi chạy theo ra và bóng anh vuột biến mất cùng với tiếng thét hãi hùng của mẹ:
-         Con ơi!
Đau thương tang tóc trùm lên gia đình, làng xóm. Sinh được người con đã khó, giữ cho chúng khôn lớn, trưởng thành càng khó hơn. Thoáng chốc kẻ thù đã cướp mất người anh yêu quý của chúng tôi tôi, người đã dũng cảm mang thân đón nhận chất độc vào mình và ra đi vĩnh viễn để cho các em được sống. Má tôi ốm liệt giường, tất tật mọi việc nhà cửa nhờ cậy vào ba. May có mấy bác hàng xóm thay nhau giúp đỡ chứ không biết rồi sẽ ra sao.
*
**
    Lại một lần khác, khi ấy ba anh chị em chúng tôi đã khoác trên mình bộ quần áo truyền thống của gia đình, dòng họ một màu xanh đặc trưng. Mỗi khi chiều về, ba má đậu trên cành cây trên miệng tổ cổ vũ anh chị em tôi bước ra ngó trời xanh, đồng cỏ tranh và tập vỗ cánh. Chà, thật thú vị khi lần đầu tiên được đứng trên thành tổ để giang đôi cánh nhỏ bé khẽ vỗ vào không khí, tạo nên một ngọn gió nhè nhẹ. Đôi cánh vỗ nhanh hơn, hình như gió cũng lớn hơn, tạo nên cảm giác lâng lâng khó tả.
Anh chị em tôi lớn lên, cũng là lúc ba má phải đi xa tổ lâu hơn để kiếm thức ăn cho cả nhà. Anh Ba thành “đại ca”, luôn nhận nhiệm vụ đứng ngoài cửa canh gác kẻ gian. Hôm nào trước lúc đi xa, ba má cũng dặn không được bước ra cửa tổ khi không có người lớn ở nhà. Nhưng tôi thấy mình lớn lắm rồi, sắp biết bay rồi nên cần phải học bay nhiều hơn nữa nên năn nỉ anh chị cho bước ra cửa tập luyện. Chị Tư cáu:
-Út quên lời ba má dặn à?
-Ngoài kia nguy hiểm lắm, không ra được đâu. Chịu khó chờ ba má về rồi tính.
Anh Ba cũng đồn tình với chị Tư, ngăn cản không cho tôi bước ra. Tôi vùng vằng, tỏ vẻ khó chịu:
-Anh chị nhát như con dế thế kia thì bao giờ làm người lớn được? Ngoài ấy có gì mà đâu sợ cơ chứ. Chúng ta sắp biết bay rồi đấy, cho em ra ngắm trời đất buổi trưa một chút thôi.
Hình như nghe tôi năn nĩ quá, anh Ba thôi không nỡ chối từ, giọng hơi buồn, bảo:
-Út đã nói vậy thì để anh ra cửa ngó xem thế nào đã nhé.
-Anh ba đừng đi, không chiều Út như vậy được đâu, về ba má mắng đấy.
-Rõ đồ đàn bà thấy cái gì cũng sợ. Ba má không biết đâu, cứ cho Út ra cửa một chút rồi vào nhà ngay mà.
-Lớn bằng này rồi mà còn không nghe lời ba má thì có lúc hối không kịp đấy.
-Chị làm cứ như có con rắn nằm phục ở cửa chờ bắt anh chị em mình không bằng ấy. Nếu chị sợ để em ra một mình.
-Thôi, hai đứa đừng cãi nhau nữa, để anh ra trước xem sao.
-Không được đâu anh Ba!
-Một lần thôi nhé Út.
-Dạ. Hoan hô anh Ba!
Anh Ba bước từng bước có vẻ nặng nề lắm ra cửa, tôi bám ngay phía sau, lòng vui phơi phới vì thuyết phục được ông anh cho ra cửa chơi. Chị Tư nằm trong tổ nói với theo:
-Cả hai anh em không nghe lời ba má dặn, hối không kịp đó.
Tôi quay đầu lại, xù lông cổ lên, đập mỏ vào thành tổ trả lời:
-Đàn ông mà bà chị!
Anh Ba đi trước chắn gần hết cả khuôn cửa tròn, tôi rón rén bước theo sau, đi dần ra cửa tổ. Nhìn phía dưới bụng anh Ba, ánh sáng ùa vào, tôi thấy một mảnh trời xanh nho nho nhỏ phía xa xa; bụng thầm reo lên: ta được thỏa ý nguyện rồi. Anh Ba bước chậm lại, hình như sợ hãi điều gì ấy,  nói nhỏ:
-Đứng ở đây để anh ra ngoài xem thế nào đã nhé.
-Dạ!
Tôi, dừng lại không đi tiếp dù chỉ còn mấy bước nữa ra đến cửa. Anh Ba từ từ thòa đầu ra ngoài cửa ngó xung quanh.
Ào. Một cơn gió to như bão ào đến thổi tôi rơi lộn ngược vào trong tổ, đè luôn lên chị Tư. Ngoài cửa, anh tôi thét lên môt tiếng hãi hùng, liền sau đó là tiếng gào thét của mấy bác hàng xóm vừa về đến. Trận kịch chiến diễn ra ngắn ngũi, tiếng hò hét xa dần rồi mất hẵn.
Sau này tôi mới được nghe kể lại, hôm đó có mụ Diều Hâu đứng phục sẵn trên ngọn cây cách cây gia đình tôi làm tổ không xa, anh Ba vừa ra khỏi cửa bị mụ ta lao xuống, dùng bàn chân có những vuốt dài, quắt chặt đầu anh Ba, lôi ra khỏi cửa, tha đi luôn...
Tôi giận mình, tự dày vò, xỉ vã mình, bỏ cả ăn uống, không dám nhìn ai. Chị Tư khóc hết nước mắt nhưng không một lời oán trách tôi, ba má cũng vậy. Giá như mọi người trừng phạt tôi, la mắng tôi thì dễ chịu hơn; đằng này...
*
**
Thời gian trôi qua, chị em tôi đã khoác trên mình bộ áo xanh biếc, nơi cổ tôi có thêm chiếc khăn quàng màu gạch mà cánh phụ nữ không bao giờ có. Chiếc mỏ cứng cáp màu vàng tươi rắn chắc là thứ vũ khí tự vệ quan trọng của họ hàng chúng tôi. Chị tôi có chiếc mỏ đen bóng như sừng, bộ váy áo một màu xanh biếc. Tất cả hành trang của tuổi mới lớn đầy ắp con tim, chờ ngày tung cánh, hòa nhập  cộng đồng.
     Cuối cùng, ngày ấy cũng đến. Đó là một ngày trời trong xanh không một gợn mây. Các ông bố, bà mẹ trò chuyện râm ran trước khi đưa con vào khai giảng năm học mới. Bài học bắt đầu bằng những cái vẫy cánh chậm chạp, sau nhanh dần nhanh dần; chị tôi lao vút ra, chơi vơi giữa trời xanh. Đến lượt mình, tôi cố bình tĩnh tung cánh bay từng đọan ngắn giữa tiếng reo hò, cổ vũ của cả xóm.

     Kể từ hôm đó ngôi nhà thân yêu chỉ còn trong kỉ niệm, không ai trở lại đó nữa. Tất cả mọi người trong cái xóm nhỏ - đồi tranh tập hợp đông đến cả ngàn con, bay rợp trời đến vùng đất mới kiếm ăn. Vừa học vừa lao động kiếm sống nên dòng họ nhà chim K’tia chúng tôi đi tới đâu ai cũg biết vì những câu chuyện trao đổi không dứt. Và cái lớp lau nhau vừa mới vào đời lại phải dài lưỡi ra học, học tất cả những điều cần thiết cho cuộc sống. Họ nhà chim K’tia chúng tôi là vậy đấy. Nếu không học tập hàng ngày để có thể nói được hàng trăm thứ tiếng khác nhau thì ai còn gọi họ hàng chúng tôi là “ chim K’tia” có phải thế không  bạn!

CUỘC ĐUA TRONG TRẺO, BÌNH YÊN Lời bình của LÊ THÀNH VĂN - CHƯ YANG SIN SỐ: 307 - THÁNG 3 NĂM 2018

Sổ tay thơ:

CUỘC ĐUA


Cháu bốn tuổi rủ chạy đua
Ông ông cháu cháu vui đùa hồn nhiên
Cuộc đua trong trẻo, bình yên
Ông vờ thua, cháu cười nghiêng nắng chiều!

(Rút từ tập thơ Đủng đỉnh trăng về)
TRẦN PHỐ

LỜI BÌNH:


Nhà thơ Trần Phố đã in và chủ biên nhiều tập thơ, tập phê bình trong hành trình sáng tác hơn một phần tư thế kỷ. Thơ Trần Phố, nói như Đặng Bá Tiến, đó là một tạng thơ "thường kiệm lời, ngắn gọn, mang chất giọng tâm tình nhẹ nhàng, nhẹ nhàng mà không nhạt, không như gió thoảng qua, bởi câu thơ thấm được tình thật của tác giả". Tôi muốn nói thêm, trong tập thơ Đủng đỉnh trăng về, mảng thơ thế sự quả thật đã có nhiều bài rất đọng, rất sâu lắng cảm xúc và tràn đầy tình thương yêu của tác giả đối với mẹ cha, bạn bè, cháu con và những gì thiết thân, gần gũi trong cuộc sống. Đọc xong một mạch 62 bài thơ trong tập Đủng đỉnh trăng về, tôi đã dừng lại khá lâu ở bài thơ Cuộc đua mang vẻ đẹp thâm trầm, sâu lắng về ý tứ; tha thiết và đằm thắm về tình thương yêu của một người ông đối với cháu mình. Sâu sắc hơn, thông điệp về một "cuộc đua" rất "thiền" của Trần Phố cũng là bài học nhân sinh đầy triết lí để mỗi người tự suy tư, chiêm nghiệm về những lẽ thiệt hơn đang tồn sinh giữa cuộc sống con người.
Không trang hoàng, cầu kỳ về chữ nghĩa, hai câu thơ mở đầu bài thơ đi thẳng vào ý tứ của thi phẩm mà tác giả muốn giãi bày:
Cháu bốn tuổi rủ chạy đua
Ông ông cháu cháu vui đùa hồn nhiên
Đó là một cuộc chạy đua hồn nhiên, tinh nghịch. Một ông, một cháu đang hào hứng thi thố tài năng. Bằng giọng thơ nhẹ nhàng, trong sáng, nhà thơ đã trần tình, thủ thỉ lại "cuộc đua" mà cháu là người "rủ" trước. Nhà thơ Trần Phố không cố ý phô diễn các thủ pháp nghệ thuật, song phép điệp sóng đôi "ông ông cháu cháu" một cách tự nhiên đã gợi mở cho người đọc thấy được một cuộc chạy đua "ngang sức ngang tài" giữa ông và cháu. Nhưng chạy đua mà lại "hồn nhiên" thì lạ quá! Ngay cả sự thách thức ban đầu của cháu đã là một sự trong sáng và đầy thi vị. Tuổi thơ quá vô tư, thích gì nói nấy; ông thì thương cháu vô cùng, thích gì chiều nấy; nên đua mà hóa ra chơi, một cuộc chơi hồn nhiên, trong trẻo.
Độc đáo và tỏa sáng nhất là ở hai câu thơ kết bài, đó cũng là ý tưởng để làm nổi bật tứ thơ thật hàm súc và đầy dư vị:
Cuộc đua trong trẻo, bình yên
Ông vờ thua, cháu cười nghiêng nắng chiều!
Cuộc đua giữa ông và cháu đã trở thành một tứ thơ lạ, vì đó là "cuộc đua trong trẻo, bình yên". Một cuộc đua mà người ông đã xác định phần thua thuộc về mình và mong cháu giành chiến thắng để được vui cười hớn hở. Cháu vui ông cũng vui lây, thế là cả hai cùng thắng! Hình ảnh ông và cháu cười trong ánh nắng buổi chiều nghiêng xuống sao mà đáng yêu đến thế. Nụ cười hồn nhiên của cháu thật ngây ngô và trong sáng làm sao! Câu thơ cuối bài nhờ đó ánh lên vẻ đẹp tâm hồn nhân ái và tràn đầy thi vị, đồng thời cũng thấm đẫm màu sắc triết lí về tình thương yêu giữa cuộc sống đời thường thông qua cảm xúc chân thành và đầy trải nghiệm. Hình ảnh đứa cháu "cười nghiêng nắng chiều" trước cuộc thất bại của ông và chiến thắng của mình đã làm nức lòng người đọc. Bài thơ hay nhất ở câu thơ cuối bài này, ba câu trên phần lớn chỉ làm sứ mệnh dẫn dắt. Viết thơ tứ tuyệt cốt ở sự độc sáng ấy và nhà thơ Trần Phố đã thực sự thành công ở thi phẩm này.
"Cuộc đua trong trẻo, bình yên" là tứ thơ xuất thần và thâm thúy. "Cuộc đua" ấy cũng chính là một cuộc nhượng bộ mang tính "chiến lược" mà người ông dành cho cháu mình về sứ mệnh cuộc đời phải mang vác ở tương lai phía trước. Có lẽ nhờ đó mà thi phẩm lấp lánh sáng lên tấm lòng độ lượng, tình cảm thương yêu của chủ thể trữ tình tác giả khi ta cầm trên tay tập thơ Đủng đỉnh trăng về của nhà thơ Trần Phố.
                                                                       LÊ THÀNH VĂN