Thứ Ba, 22 tháng 5, 2018

PHONG CÁCH QUẦN CHÚNG CỦA BÁC HỒ tác giả NGUYỄN VĂN THANH - CHƯ YANG SIN SỐ: 308 - THÁNG 5 NĂM 2018



  
Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị (khóa XII) về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”  năm 2018 có nhiều điểm mới, mà trọng tâm là học tập và làm theo phong cách, tác phong Hồ Chí Minh về dân chủ, nêu gương, khoa học, nói đi đôi với làm…trong đó có phong cách quần chúng của Bác được thể hiện trong các lĩnh vực hoạt động của Người, từ nhận thức đến hành động, từ sinh hoạt đến ứng xử, từ đời sống riêng đến việc công.
Nói về phong cách Hồ Chí Minh, thì phong cách quần chúng là một trong những nội dung đặc sắc nhất. Phong cách quần chúng của Bác Hồ bắt nguồn sâu xa từ truyền thống dựng nước và giữ nước của dân tộc: “Nước lấy dân làm gốc”, từ sự thấm nhuần sâu sắc quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin: “Quần chúng là người sáng tạo ra lịch sử, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng”. Chính nguồn gốc sâu xa đó đã tạo nên sức mạnh vô biên của quần chúng nhân dân mà Bác Hồ đã khẳng định: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân…”
Phong cách quần chúng của Người cán bộ theo Tư tưởng Hồ Chí Minh biểu hiện ở một số vấn đề cơ bản sau:
Trước hết, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu cán bộ, đảng viên phải gần dân, thấu hiểu tâm tư, nguyện vọng của Nhân dân.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, cán bộ là cái dây chuyền của bộ máy, “Cán bộ là người đem chính sách của Đảng, của chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho chính phủ hiểu rõ để đặt chính sách cho đúng”. Để hoàn thành trách nhiệm của mình, theo Bác, cán bộ, đảng viên phải được dân tin, dân phục, dân yêu. Muốn vậy, trước hết phải yêu dân, kính dân, phải thân dân, gần dân để hiểu dân. Phải gắn bó với cơ sở, với thực tiễn, phải hành động theo phương châm “óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm”. Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt ra yêu cầu đối với cán bộ, đảng viên, đồng thời chính Người luôn là tâm gương mẫu mực về phong cách gần dân, có mối quan hệ gần gũi, thân thiết với quần chúng nhân dân.
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn tận dụng mọi cơ hội có thể để đến với dân. Người thường tranh thủ đi thăm, chuyện trò thân tình với các cụ già, gặp gỡ chiến sĩ và đồng bào các địa phương, để nắm tình hình và tâm tư, nguyện vọng của nhân dân. Điều đó trở thành một nhu cầu, một nếp sống, thành điều tâm niệm suốt đời của Người, từ buổi đầu ra đi tìm đường cứu nước đến khi trở thành Chủ tịch nước, Chủ tịch Đảng, từ việc lớn đến việc nhỏ, Người đều thể hiện theo tư tưởng “Nước lấy dân làm gốc”, “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng”. Theo tài liệu thống kê của Bảo tàng Hồ Chí Minh, chỉ trong 10 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc (1955-1965), không quản tuổi cao, công việc bề bộn, Bác Hồ đã thực hiện trên dưới 700 lượt đi thăm các địa phương, công trường, xí nghiệp, hợp tác xã, đơn vị bộ đội... từ miền núi đến hải đảo, để thăm hỏi chiến sĩ và đồng bào, xem xét tình hình, kiểm tra công việc. Tính ra mỗi năm có hơn 60 lượt Người đi xuống cơ sở, mỗi tháng có khoảng 6 lần Người gặp gỡ quần chúng. Đó là một kỷ lục khó ai có thể vượt qua, nhất là đối với một lãnh tụ ở tuổi 70.
Hai là, Hồ Chí Minh yêu cầu mọi cán bộ, đảng viên phải đi đúng đường lối quần chúng.
Ngay từ rất sớm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thấy rõ sức mạnh và vai trò quyết định của quần chúng nhân dân đối với sự nghiệp cách mạng. Người khẳng định: "Trong bầu trời, không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới, không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân... Trong xã hội không có gì tốt đẹp, vẻ vang bằng phục vụ cho lợi ích của nhân dân”. “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, chứ không phải là của sự nghiệp của cá nhân anh hùng nào”.  Người thường nói: "Nước lấy dân làm gốc", "Gốc có vững cây mới bền, xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân". Bác thường xuyên căn dặn các tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên phải coi trọng mối liên hệ chặt chẽ với quần chúng, và phải thể hiện tinh thần phụ trách trước nhân dân”.  Người thường xuyên căn dặn các tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên phải coi trọng mối liên hệ chặt chẽ với quần chúng, và phải thể hiện tinh thần phụ trách trước nhân dân. Phải sâu sát thực tế, gần gũi để thấu hiểu tâm tư, nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Nêu cao ý thức phục vụ nhân dân; làm việc với thái độ khách quan, công tâm, kịp thời giải quyết những lợi ích chính đáng của quần chúng, nhân dân; đấu tranh với những biểu hiện vô cảm, quan liêu, cửa quyền, hách dịch và các hành vi nhũng nhiễu, gây phiền hà nhân dân.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, phong cách quần chúng không chỉ là phong cách cần thiết của cán bộ, đảng viên trong quan hệ với dân, mà còn cần thiết trong quan hệ của cấp trên với cấp dưới, của cán bộ lãnh đạo với cán bộ, đảng viên bình thường. Đối với người lãnh đạo cấp trên, hiểu dân và hiểu cấp dưới đều có tầm quan trọng đặc biệt. Hiểu dân là để hiểu cấp dưới được chính xác hơn, hiểu cấp dưới là để hiểu dân được đầy đủ hơn. Càng hiểu dân và càng hiểu cấp dưới, người lãnh đạo càng hiểu chính mình và càng rút ra được những điều bổ ích để bổ sung cho chủ trương, chính sách đã được đề ra.
Ba là, cán bộ, đảng viên phải biết phấn đấu, hy sinh vì lợi ích của tập thể, lợi ích của nhân dân.
Chủ tịch Hồ Chí minh chỉ rõ: “ Bao nhiêu cách tổ chức và cách làm việc, đều vì lợi ích của quần chúng…Vì vậy, cách tổ chức và cách làm việc nào không phù hợp với quần chúng thì ta phải có gan đề nghị lên cấp trên bỏ đi hoặc sửa lại…”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh quan niệm, điều gì có lợi cho nhân dân, cho dân tộc thì điều ấy là chân lý và với Người, phục vụ nhân dân chính là phục tùng chân lý; cán bộ, công chức phải làm “công bộc” cho dân và đó là một việc làm cao thượng. Người nhấn mạnh: “Việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh”. Người chỉ rõ: “Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì. Dân chỉ biết rõ gía trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh  luôn nhắc nhở, cán bộ, đảng viên phải luôn ghi nhớ người dân chính là chủ nhân tối cao của chế độ mới: “Chính quyền dân chủ có nghĩa là chính quyền do dân làm chủ”, “Nhiệm vụ của chính quyền dân chủ là phục vụ nhân dân; tổ chức, giáo dục, động viên nhân dân xây dựng cuộc sống mới”. Dân chủ cũng có nghĩa là các cơ quan Đảng và nhà nước là tổ chức được dân ủy thác làm công vụ cho dân, công chức nhà nước cũng là những người được dân ủy thác làm công vụ cho mình. Do vậy, họ phải vì lợi ích chung mà gánh vác việc dân, trung thành tận tâm, tận lực phục vụ nhân dân giống như những người lính vâng lệnh quốc dân mà thi hành nhiệm vụ. Người viết: “Người xưa thường nói: Quan là công bộc của dân, ta cũng có thể nói: Chính phủ là công bộc của dân vậy. Các công việc của Chính phủ làm phải nhằm vào một một đích duy nhất là mưu tự do hạnh phúc cho mọi người. Cho nên Chính phủ nhân dân bao giờ cũng đặt quyền lợi của nhân dân lên trên hết thảy”.
Bốn là, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường yêu cầu cán bộ, đảng viên phải “từ nơi quần chúng mà ra, trở lại nơi quần chúng”.
Người đã nhiều lần phê phán tệ xa rời quần chúng, lên mặt "làm quan cách mạng", "quan nhân dân", không thấy mình là đày tớ, người học trò của nhân dân. Bác đã nêu ra một quan điểm rất rõ: không phải cứ viết lên trán hai chữ "cộng sản" thì đương nhiên sẽ được mọi người quý trọng. Quần chúng nhân dân chỉ quý trọng những người có đức, có tài, hết lòng phụng sự nhân dân. Phải yêu dân, kính dân thì dân mới dành sự yêu kính cho mình.
Điều này có ý nghĩa rất quan trọng đối với cán bộ, đảng viên trong giai đoạn hiện nay. Làm cho dân kính, dân yêu, dân tin, dân phục là vấn đề thuộc về lòng người. Nếu cứ ỷ vào quyền lực chỉ có thể làm cho người ta sợ, ngại, xa lánh và khinh ghét chứ không thể giành được sự tin yêu, kính phục của người khác. Nhân dân từ già đến trẻ thuộc mọi tầng lớp, dân tộc, mọi thế hệ đều gọi Hồ Chí Minh bằng hai tiếng: Bác Hồ. Bởi, Bác đến với mọi người một cách rất tự nhiên và bình dị. Mọi nghi thức đối với Người đều trở thành không cần thiết.
Với phong cách quần chúng, tác phong gần dân, Người đến với mọi người một cách rất tự nhiên và bình dị. Tác phong đó đã làm cho vị lãnh tụ và quần chúng dễ dàng hòa nhập với nhau trong sự đồng cảm sâu sắc, tạo nên sức hút kỳ lạ. Vì vậy, mọi người có thể nói hết những trăn trở, suy nghĩ của mình với Người. Qua đó, Người có thể hiểu được thực tế cuộc sống của nhân dân để đưa ra những chủ trương đúng đắn hợp với lòng dân, tạo nên sự phát triển của đất nước.
Phong cách quần chúng của Bác là bài học là chuẩn mực. Vì vậy, việc đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh,  nhất là phong cách quần chúng, là bổn phận, danh dự của những người cán bộ, đảng viên tâm huyết với Đảng, với nhân dân. Đó là giải pháp hữu hiệu nhất để xây dựng người cán bộ cách mạng vừa “hồng” vừa “chuyên”, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, làm cho Đảng thật sự trong sạch vững mạnh, lãnh đạo toàn dân thực hiện thắng lợi toàn diện công cuộc đổi mới và phát triển bền vững đất nước.








Thứ Bảy, 19 tháng 5, 2018

GẶP TRẦN CHI, LẠI ĐƯỢC UỐNG RƯỢU BÊN NHÀ MỒ - ghi chép của PHẠM PHÚ PHONG - CHƯ YANG SIN SỐ: 308 - THÁNG 4 NĂM 2018


                                                                   
                                       


Thi và tửu. Nhân loại xưa nay vẫn thường quan niệm hai thứ này gắn liền với nhau, đến mức có lúc không còn có ý nghĩa vật chất, mà gắn kết với nhau không thể chia cắt, như cùng một bản thể mang ý nghĩa triết học. Cổ nhân đã có thi tiên Lý Bạch uống rượu say nhảy xuống sông ôm trăng mà chết. Tiền nhân cũng đã có Tú Xương đời hơn “Một trà một rượu một đàn bà” hoặc như cái lãng tử ngông nghênh thơ rượu của Tản Đà “Rượu say thơ lại khơi nguồn/ Nên thơ rượu cũng thêm ngon giọng tình”… Tất nhiên, không phải người nào uống rượu cũng làm được thơ, nhưng hầu như người làm thơ nào, không ít thì nhiều đều uống được chút ít rượu, kể cả các nữ lưu thi sĩ. Uống rượu không còn là thói hư tật xấu mà hàm nhiên trở thành phẩm chất tốt đẹp của thi nhân, nên từ cổ chí kim người ta coi thi – tửu là lẽ đương nhiên và mỗi thi nhân có một kiểu uống/ nơi uống khác nhau, mà phần lớn là uống rượu thưởng trăng, chứ quả là tôi ít thấy ai như Trần thi sĩ, một thi nhân lạc loài của xứ Huế lên đất Tây Nguyên: mang rượu ra bên nhà mồ mà uống! Tôi phải thưa trước với Trần thi sĩ rằng, do cái nghề mê đắm chữ nghĩa của mình mà tôi phải đọc nhiều, trong lịch sử thi nhơn xứ ta, đến lành tính như ngài Tam Nguyên Yên Đổ cũng chỉ mong được uống rượu với bạn hiền: “Rượu ngon không có bạn hiền…”, tôi không biết phong tục của đồng bào mình trên đó ra sao, mà vào đêm khuya anh lại vác rượu ra nhà mồ uống với Amí – người đã ở cõi âm: Đêm trên nhà mồ/ Ngồi bên người đã khuất/ Không gian chia thành hai vùng/ Lạnh ngắt – xốn xang/ Chiếc cần rượu bắt ngang/ Như chiếc cầu vồng bảy sắc/ Vắt ngang qua bầu trời/ Như nối hai đầu: âm – dương/ Amí ơi hãy uống chung cần rượu yêu thương/ Dẫu cái chết đã cách ngăn làm hai nửa/ Đêm có còn dài con đốt bùng lên ngọn lửa/ Mà trầm ngâm nhìn ánh lửa thâu đêm/ Ơi nhịp cần rung theo từng cơn gió thổi ngang/ Đêm trên nhà mồ khơi dậy quãng đời gian khổ/ Qua chín núi mười khe sau lưng còn đỏ lửa/ Cực còn chạy theo bóng amí in dài…
Những câu thơ như âm ấm lửa than ngún âm thầm đâu đó, làm xốn xang tâm can người nghe, mới thấy không còn là chuyện rượu chè ngật ngưỡng, mà là nỗi buồn, nỗi đau mang ý nghĩa nhân văn, được nghiệm sinh từ chính những trải nghiệm cuộc đời của thi nhân. Có lẽ vì thế mà Trần Chi lấy nhan đề bài này làm nhan đề chung cho cả tập thơ khá khiêm tốn mỏng mảnh chỉ 32 bài, phải “độn” thêm mấy bức tranh sơn dầu rất đẹp và hợp với chủ đề (Ký ức tuổi thơ, Cõi ta bà, Đoá vô thường) của hoạ sĩ Bửu Tân vào mà chẳng dày thêm được bao nhiêu.
Sống ở đời không ai là không có ký ức. Chỉ có độ dày, mỏng khác nhau thôi. Và, quan trọng hơn là có biết gìn giữ, chắt chiu, bồi đắp để ngày càng giàu có hơn hay phung phí, làm rơi vãi cạn dần đến mức trở nên trống vắng vô cảm. Người làm văn chương nghệ thuật thường là người giàu có và đầy tiềm năng về ký ức. Đó vừa là niềm hạnh phúc vừa là nỗi khổ đau. Bởi lẽ, những khoảng “bất chợt nhớ” của họ nhiều và thường xuyên hơn. Nhớ niềm vui cũng buồn và tiếc nuối, nhớ nỗi buồn lại càng buồn hơn. Buồn nhưng mà đẹp và đẹp nhưng mà buồn. Trần Chi nhớ nhiều đến sông (13 lần nhắc sông), đến biển (3 bài về biển), nhắc nhiều đến màu sắc và nhất là khi “những câu thơ khó khăn chợt đến”, anh hay tự kiểm, tự nói về mình/ với mình, tự hoạ chân dung mình một cách tự trào (Tự kiểm, Tự bạch, Tản mạn về… tôi, Vô thường), cảm thức cô đơn, lạc loài như một người Đi bên mùa xuân với những ngậm ngùi nuối tiếc khi “Đêm cuối năm ngồi ngẫm lại tháng ngày qua/ Ngẫm lại buồn vui, ngọt bùi cay đắng/ Ngẫm lại những yêu thương, hờn giận/ Ngẫm lại đời qua bao cuộc khóc, cười/ Sấp ngửa cuộc đời, sấp ngửa tôi/ Chợt nuối tiếc một thời nông nổi/ Vô tư buông những năm tháng đi về”. Thời tôi và Trần Chi lớn lên ở miền Nam được bao quanh những sinh khí của các thứ chủ nghĩa hiện sinh, siêu thực, hư vô, lãng du tràn ngập trên sách báo, tham gia hoạt động cách mạng ít nhiều cũng nảy sinh từ các thứ triết lý nhân sinh thời thượng ấy. Khi chưa tròn hai mươi tuổi (1977), anh đã lên với rừng thiêng nước độc để xây dựng quê mới, bỏ lại sau lưng phố xá thị thành, tình bạn tình yêu, những kỷ niệm đẹp của “Tuổi thơ tôi đếm theo mùa những con ve/ Hoa phượng cháy một thời mơ mộng…” vì vậy, khi ngẫm lại những ấn tượng đã trôi qua còn đọng lại, dâng trào ngập tràn ký ức. Về chân dung con người, hầu như từ mấy mươi năm nay Trần Chi không có gì thay đổi: dáng gầy, da hơi đen mai mái (hồi trẻ chưa “lai” đồng bào mình trên đó, không hiểu sao da anh đã thế!), tóc dài, luôn đội mũ bê-rê vì cố che giấu cái đầu bị hói, nhưng khi uống rượu bia bốc lên đọc thơ, giật ngay mũ xuống, đọc xong rồi chợt nhớ ra, len lén đội trở lên… Gần đây, từ ngày làm báo, lên chức trưởng đài, lại tòng teng thêm chiếc máy ảnh, ống tê-lê dài, cứ gặp em nào xinh xinh là chụp! Nhà thơ Mexico Octavio Paz, Nobel văn học 1990 nói rằng: “Con người hiện đại chỉ có tâm lý, không có tâm hồn”. May mắn thay, Trần Chi sống càng ngày càng hiện đại, biết sử dụng tất cả các loại máy di động, vi tính, chụp ảnh, ghi âm, quay phim, dựng hình… thuộc loại hiện đại nhất, nhưng vẫn có một thế giới tâm hồn đa cảm, đa mang. Những câu thơ của anh như những sợi chỉ lóng lánh đa sắc màu, đẹp mà buồn, được kéo ra từ ký ức dệt nên thành chữ, thành câu, thành những tấm thảm xanh thẳm màu ký ức thách thức cả thời gian. Chỉ nhìn vào nhan đề các bài thơ cũng dễ nhận ra toà lâu đài ký ức nguy nga tráng lệ của thi nhân: Ký ức tuổi thơ, Ký ức một thời, Ký ức mười năm, Vầng trăng ký ức, Những ô ngăn ký ức, Vườn xưa,… Ngay cả những bài thơ viết về những cảm quan hiện thực khác, âm hưởng hoài niệm xếp thành những câu thơ dường như cũng được gọi ra từ ký ức (Dòng sông quê hương, Tình xa, Chiều cuối năm viếng bạn, Trước tượng đài Võ thị Sáu, Krông Bông…), khi hát cùng Bài ca đồng đội, sức mạnh cũng được huy động “Với ký ức ba mươi năm phủ bụi” hoặc khi quay về với mình, tự ngắm mình/ soi lại hình tượng tác giả - cái tôi trữ tình của chính mình, trong động thái Tản mạn về… tôi, ký ức bỗng vụt hiện ra: Bạn trách tôi lâu rồi sao chẳng làm thơ/ Hay bụi Tây Nguyên đã phủ mờ ký ức/ Hay men rượu đã làm chai huyết mạch/ Hay bởi “ruồi bu kiến đậu” của đời thường.”
Lại thi với tửu. Lúc nào cũng trong tâm thế gắn liền, sóng đôi thơ với rượu. Thơ với rượu cũng là những nội dung mỹ cảm được nhắc nhiều, như một điệp khúc tâm hồn được lặp đi lặp lại trong tập thơ như trong bài Ché rượu hoặc bài Vườn xưa anh uống đến trào nước mắt: “Ly rượu đắng nửa đời vẫn đắng/ Ta uống vào cay trào nước mắt/ Chợt nghẹn ngào bật hai tiếng: Mẹ ơi!”. Và, khi đọc đi đọc lại tập thơ, tôi mới nhận ra rằng không phải chỉ một lần trong đêm anh Uống rượu bên nhà mồ cùng với Amí mà anh còn uống lần thứ hai vào buổi Chiều cuối năm viếng bạn, người bạn cũng “thoáng hiện về trong đáy cốc/ nói cười như chuyện một đêm mơ” (Quang Dũng) thật cảm động: Hùng ơi!/ Thắp cho mi một nén nhang, điếu thuốc/ Rồi vác mặt nhìn trời thơ thẩn/ Có con chim nào tha niềm vui làm tổ/ Mi chỉ còn như tiếng độc huyền cầm đêm vọng tiếng cô liêu/ Thôi đừng trách cuộc đời sao nghiệt ngã/ Gió xô nghiêng, bạc nửa mái đầu/ Thôi đừng trách chén rượu nồng sao nhạt/ Uống vào rồi mộng mị hoá chiêm bao/ Ừ thì uống/ Uống cạn đời chếnh choáng/ Mây ngang qua hoá lau trắng quê nhà?/ Ừ thì uống/ Uống cả vầng trăng loá/ Mắt có hoa không/ Mà thoáng hiện mi về/ Từ chốn vô cùng/ Nói cười như chưa bao giờ xa cách…/ Thôi giã biệt mà cũng là vĩnh biệt!/ Mi cứ rong chơi trong cõi vĩnh hằng/ Tau ở lại cố kìm không khóc/ Bởi sợ mi bên ấy mưa sa!
Tôi nhớ mang máng là khi Uống rượu bên nhà mồ (2006) mới in ra, tôi đã có viết bài, nay đọc lại nhận ra nhiều điều mới, nên viết lại lần thứ hai. Bởi vì, trong tập thơ, Trần thi sĩ đã có ít nhất hai lần “uống rượu bên nhà mồ”, thì tôi có uống lại lần này cũng không có gì là lạ. Như vậy, để biết “lại được uống” nghĩa là đọc lại tập thơ, chứ thực ra trong đời sống, tôi với Trần Chi đã uống rượu với nhau không biết bao nhiêu lần không đếm hết, nhưng đã có lần nào tôi có cái vinh hạnh là được anh đưa ra nhà mồ để uống cùng anh đâu! Gần đây, sau ba mươi năm gặp lại thi nhân ở đất Phú Xuân, chỉ mình tôi uống rượu, còn anh chơi sang chỉ uống được bia, vì đang bị một chứng bệnh khá phổ biến và sang chảnh, có vẻ như hơi… thiếu văn hoá là hay đứng “tháo bên đường”! Vậy thì càng khó có ngày liều mạng “ừ thì uống, uống cạn đời chếnh choáng” như âm hưởng giọng điệu Vũ Hoàng Chương nghiêng ngã trong thơ anh ngày nào, Trần thi sĩ ơi!


Thứ Năm, 17 tháng 5, 2018

VỀ THỂ LOẠI BÚT KÝ VĂN HỌC - trao đổicủa NGUYỄN VĂN THIỆN - CHƯ YANG SIN SỐ: 308 - THÁNG 4 NĂM 2018




Khác với truyện ngắn và tiểu thuyết vốn có sự ổn định tương đối về đặc trưng thể loại, các tác phẩm ký tuy cùng nằm trong loại hình văn xuôi tự sự song lại là tên gọi chung cho một nhóm thể tài có tính giao thoa giữa báo chí (chính luận, điều tra, ghi chép tư liệu, tường thuật sự kiện và thường có tính xã hội, tính thời sự sâu sắc, bao gồm nhiều tiểu loại thể văn như bút ký, ký sự, phóng sự, tiểu thuyết phóng sự, du ký, hồi ký, nhật ký, tuỳ bút, tản văn, tạp văn...
Vậy làm sao để phân biệt đâu là một truyện ngắn đâu là một bài bút ký văn học, rồi làm sao để phân biệt một bài bút ký với một bài ghi chép báo chí hoặc phóng sự? Theo tôi, ở vế thứ nhất, dễ dàng thấy sự khác biệt: Truyện ngắn là hư cấu còn bút ký bám vào một sự kiện hoặc một vấn đề thời sự xã hội. Cá biệt cũng có những truyện ngắn kiểu tự truyện, kể lại một câu chuyện mà mình chứng kiến hoặc vừa xảy ra, nhưng về cơ bản, trong đó, tác giả có quyền bịa chuyện, thêm thắt nhân vật, chi tiết, miễn là phù hợp. Còn bút ký, về cốt lõi, vẫn là sự thật, một sự thật đáng tin cậy mà tác giả thu nhận từ hiện thực trực tiếp và người đọc tin rằng, nó “có mặt” ở ngoài đời thực.
Ở vế thứ hai, làm sao để phân biệt một bài báo ghi chép, hoặc một phóng sự với một bút ký văn học? Có rất nhiều người viết băn khoăn chỗ này. Như trên đã nói, tính giao thoa mập mờ giữa các thể loại khiến cho việc phân biệt rạch ròi trở nên khó khăn. Theo kinh nghiệm cá nhân, tôi phân biệt như sau: Cùng hướng đến đối tượng là các sự kiện thời sự - xã hội, nhưng ở bài ghi chép hoặc phóng sự, người viết cố gắng mô tả hiện thực càng chi tiết, càng rõ ràng càng tốt, để bày ra trước mắt người đọc vấn đề cần nói. Đối tượng của bài ghi chép, phóng sự là những sự kiện, những con số, những ý kiến từ nhân vật tại hiện trường. Đặc biệt, ở phóng sự, là những diễn biến thực sự đang nóng, đang ảnh hưởng trực tiếp hoặc thu hút sự quan tâm của dư luận xã hội. Sự hấp dẫn của ghi chép, phóng sự là tính thời sự. Do đó, nếu cùng một phóng sự đó, nhưng sau 2 năm đọc lại thì tính hấp dẫn sẽ không còn như khi mới ra đời, vì nó mất tính thời sự. Sau 2 năm đọc lại một bài ghi chép, người đọc chỉ còn được “tưởng nhớ” đến một bức tranh hiện thực nào đó đã từng diễn ra.
Còn với một bài bút ký thì sao?
Thứ nhất, thể loại này không chú trọng khai thác tính thời sự của vấn đề, mà đi tìm cốt lõi ở chiều sâu của suy tưởng, chiêm nghiệm. Tôi lấy ví dụ cho dễ hiểu: “Ai đã đặt tên cho dòng sông” của Hoàng Phủ Ngọc Tường là bút ký về sông Hương. Đọc lên, ta không thể thoả mãn các câu hỏi là ai đang làm gì, sự kiện gì đang xảy ra, vấn đề gì đang nóng bỏng ở đây? Hoàn toàn không có. Mà trong đó, bằng vốn văn hoá của mình về vùng đất, nhà văn trình bày cảm nhận chủ quan về đối tượng, về sông Hương. Ở thượng nguồn, trong thành phố, qua ngoại vi, mỗi khúc sông mang một dáng vẻ khác nhau. Nhà văn lần tìm trong lịch sử, trong địa lý, nhằm khai thác mọi khía cạnh giá trị của dòng sông này.
Đến đây thì chúng ta có thể hình dung được, bút ký cần thứ gì, người viết bút ký, cần những phẩm chất gì? Để dễ hiểu hơn, chúng ta thử so sánh: Bút ký Ai đã đặt tên cho dòng sông của Hoàng Phủ Ngọc Tường với bút ký về sông Sêrêpôk của các tác giả Tây nguyên. Đã có ai viết về Sêrêpôk như một sinh thể, như một cuộc đời chưa? Hay là chỉ vài hiểu biết hời hợt, đó là dòng sông chảy ngược duy nhất ở Tây nguyên, không đi ra biển mà vòng qua Biển Hồ? Tôi đọc nhiều bài ghi là bút ký về dòng sông này, thấy mô tả các đặc điểm nhận dạng: Là hợp lưu của hai dòng sông Krông Nô và Krông Ana, hai bên bờ là diện tích đồng lúa rộng bao nhiêu héc ta, dưới sông thì có các loại tôm cá đặc biệt là cá lăng Sêrêpôk nổi tiếng vân vân… Những thông tin đó, một bài báo bình thường có thể cung cấp đủ, cần gì đến một nhà văn động bút?
Vậy làm sao để bút ký thực sự là một bút ký văn học?
Trước hết, đừng hời hợt, hớt váng. Đến cầu 14 ăn cá lăng rồi về viết, đến huyện Krông Nô hỏi về diện tích lúa nước rồi về viết. Tệ hơn, gặp mấy đồng chí chủ tịch xã, chủ tịch huyện hỏi ký kiến rồi bê nguyên xi vào bài viết. Người đọc không chờ đợi những thông tin đó ở một tác phẩm văn học. Cái bạn đọc cần là dòng sông đó và con người đã “ăn ở” với nhau như thế nào để góp phần tạo nên diện mạo, bản sắc một vùng đất?
Hoàng Phủ Ngọc Tường gắn bó cả đời với Huế, với sông Hương, thì mới có tác phẩm ấy, Nguyễn Tuân ròng rã lên Tây Bắc hàng năm trời mới có bút ký Người lái đò sông Đà, Nguyên Ngọc mất cả thời trai trẻ ở Tây nguyên mới có tập bút ký Các bạn tôi ở trên ấy.
Như vậy, sẽ nảy sinh vấn đề thứ hai: Vậy, tôi gắn bó cả đời với Tây nguyên sao tôi không viết được? Đến đây lại cần phẩm chất của nhà văn (không phải nhà báo): Quan sát, so sánh, suy tưởng, tưởng tượng và vốn văn hoá. Anh ở Tây nguyên vậy anh đã bao giờ thử phân biệt tiếng nước suối chảy vào ban đêm và ban ngày giống và khác nhau điểm nào chưa? Đã bao giờ nghe tiếng cơn mưa trút trên rừng để cảm nhận cái u tịch của rừng chưa? Đã bao giờ cháy lưng quệt mồ hôi giữa rẫy cà phê để thấm cái nắng cháy da cháy thịt của Tây nguyên chưa? Nếu chưa thì thử tưởng tượng, có tưởng tượng được không?
Tôi xin trích một đoạn văn của nhà văn Nguyễn Tuân: “Đối với mỗi người, sông Đà lại gợi một cách. Có lần, tôi nhìn Sông Đà như một cố nhân…Cảnh ven sông ở đây lặng tờ, hình như từ đời Lê đời Trần đời Lí, quãng sông này cũng lặng tờ đến thế mà thôi. Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử, hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa”.
Còn đây là một đoạn về Sông Hương của nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường: “Trước khi về đến vùng châu thổ êm đềm, Sông Hương đã là một bản trường ca của rừng già, rầm rộ giữa bóng cây đại ngàn, và cũng có lúc trở nên dịu dàng và say đắm, như một cô gái Digan phóng khoáng và man dại…”.  
Một đoạn bút ký “Những chiều kích của rừng” của nhà văn Nguyên Ngọc kể lại một đêm nghe hát sử thi ở Tây nguyên: “Chính lúc ấy ta mới biết hoá ra có cả một dàn nhạc đệm mênh mông vẫn chảy theo cuộc phiêu lưu của anh chàng Đăm Noi trên từng bước số phận gian nan và anh hùng của anh: Tiếng nước lanh tanh kiên nhẫn và thân yêu ở máng nước đầu làng, trong đêm khuya càng trong veo, tiếng vỗ cánh của con chim đêm bí ẩn vừa bay vút qua trên ngọn nhà rông, mất hút trong rừng xa, tiếng một con mang tác gọi con đêm nào cũng thống thiết khiến ta chợt lo lắng đến quặn lòng, tiếng nước quấn quýt quanh cái gành đá ngoài sông, chần chừ nửa ở nửa đi, và trùm lên tất cả, tiếng rì rào vĩnh cửu của Mẹ rừng…”.
Thể loại bút ký cho phép người viết tha hồ tưởng tượng, tha hồ so sánh, đối thoại, miễn là dắt được người đọc vào thế giới của mình. Trở lại với vấn đề đang quan tâm, tôi thấy nhiều người viết ngại miêu tả, ngại suy tưởng, nên lấy số liệu, lấy báo cáo trát vào bài viết rồi nằng nặc nói đó là bút ký, hoặc gặp gì ghi nấy cho đủ chữ đủ trang rồi cũng ghi vào đó là bút ký.
Tóm lại, thể loại bút ký không dễ viết, bằng chứng là người viết truyện ngắn, thậm chí tiểu thuyết thành công rất nhiều nhưng người viết bút ký chỉ đếm đầu ngón tay. Tuy nhiên, khi đã nhận diện được đặc trưng của thể loại này, mong rằng, chúng ta cố gắng, đừng để tác phẩm của mình trở thành những bài báo dài dòng chi chít các con số các sự kiện, các ý kiến nhân vật. Và điều cuối cùng tôi muốn nói, là trước khi viết như một nhà văn thì hãy sống như một nhà văn, quan sát, suy tư, chiêm nghiệm, trăn trở và đọc sách thật nhiều để rèn luyện ngôn ngữ. Đó là nói chung cho tất cả mọi người, trong đó có cả bản thân tôi, vì nghề viết là rất nhọc nhằn, cần kiên nhẫn và cỗ gắng không ngừng.




Thứ Tư, 16 tháng 5, 2018

NGƯỜI VIẾT “HUYỀN THOẠI NÚI” - lời bình của PHẠM MINH TRỊ - CHƯ YANG SIN SỐ: 308 - THÁNG 4 NĂM 2018





(Nhân đọc “Huyền thoại núi”, NXB Văn hoá Dân tộc)


Thế nào rồi cũng có phút giây cùng với người viết “Huyền thoại núi” trò chuyện với nhau. Cứ ngỡ rằng người viết tập thơ này còn trẻ lắm vì mới đọc thấy bao trùm giọng thơ của tập là tình cảm sôi nổi, nồng ấm nhiều lúc vồ vập, nghẹn ngào. Hoá ra anh sinh năm 1942, tính đến nay cũng kha khá gió sương đậu trên mái tóc bồng bềnh như mây trắng mỗi chiều của anh. Lúc đầu cứ tưởng anh là người chính gốc ở cái xứ sở nhiều điều kì bí cuốn hút này vì có những câu thơ anh viết như là hơi thở ấm nóng của mùi hương cà phê trực tiếp toả bung lên vậy. Quê anh mãi tận Thanh Oai, Hà Tây nay thuộc thủ đô Hà Nội. Thì ra vậy, thảo nào trong tứ thơ của anh phảng phất mùi văn của đất Bắc. Anh là nhà thơ Hữu Chỉnh, vào vùng đất đỏ ba zan từ khi mùi hương ngọt đắng nồng nàn đượm thấm của cà phê vẫn còn vương sau hàng rào giây thép gai. Bước chân của anh đặt dấu trên rẫy cà phê, cao su, tiêu của Tây Nguyên từ  năm 1972. Thời gian đó anh làm Trưởng Ban Giáo Dục H9 (Krông Bông). Vất vả, gian truân, thiếu thốn mọi bề, ngoài công việc của một cán bộ quản lí, anh vẫn dành chút ít thời gian cho thơ.
Đúng ngày 20.11.1973, anh viết bài thơ: “Đêm buôn Khanh” tràn đầy tình yêu thương của một người thầy đối với các em học sinh. Tình cảm ấy trong sáng, vô tư, đẹp đẽ vô cùng. Bây giờ ngoảnh lại mà nghĩ có lẽ bản thân mình cũng phải ngạc nhiên. Hồi ấy sao trong sáng thế, không mảy may một gợn bụi bặm trong tâm hồn, trong nghĩ suy. Cái hoàn cảnh: “Quần buộc túm sợi dây/ Áo rách bung từng mảng/ Củ mì theo năm tháng” bây giờ ngẫm xem lại khác gì là huyền thoại. Thiếu thốn về vật chất mà dư thừa,giàu có về nghĩa tình: “Rất xa và rất sâu/ Trong từng đôi mắt nhỏ/ Những Y Tim, Y Cố/ Những H’Yêng, H’Yun/ Là khát vọng bao trùm/ Là tiếng sông, tiếng suối/ Chuyển thành lời em ca.” Những dòng thơ chân thật ấy đã nói lên tư cách mẫu mực của một người thầy. Hình bóng mẫu mực của người thầy ấy mãi in sâu trong tâm tưởng của những học sinh như YTim, YCố, H’Yêng, H’Yun. Chắc hẳn bây giờ, sau bao đổi thay của cuộc sống, tôi vẫn tin trong sâu thẳm tấm lòng của các em vẫn còn nguyên hình ảnh người thầy tận tâm ấy, thời gian tuyệt nhiên không thể nhoà xoá được. Người đọc thật sự cảm động khi đọc những dòng thơ sau: “Có nặng lắm không mà quai gùi căng thế?/ Mệt lắm không mà mồ hôi đổ thành dòng?/ Chân sáo tung tăng, tiếng cười tươi trẻ/ Trên lưng em lấp loáng đạn đồng!” (Gùi đạn). Ngoài tình thương của thầy đối với trò, còn một tình cảm nồng đượm nữa là tình của người anh bộ đội giải phóng với  lứa em chiến sĩ trẻ đang tiếp sức cho mình. Hình ảnh lấp loáng đạn đồng trên lưng của mỗi học sinh vừa dễ thương vừa dũng mãnh kiêu hùng, vừa ngây thơ vừa dạn dày. Câu thơ khiến cho người đọc liên tưởng tới hình ảnh hai nụ cười điệp vào nhau làm sáng bừng cả không gian trập trùng núi đồi, sông suối, không gian ấy đâu đây vẫn còn vương mùi súng đạn, váng vất âm thanh của bom mìn. Nụ cười của chính em và nụ cười đang lấp lánh trong gùi đạn sau lưng em. Hai nụ cười ấy đã góp phần không nhỏ vào chiến thắng mùa xuân 1975 của dân tộc ta. Thơ anh trong thời gian này là thơ phản ánh chân thật cuộc sống sục sôi của khí thế cách mạng, là thơ của thế hệ: “Cha cầm súng giữ làng buôn giải phóng/ Nắng tháng ba đã gọi mí lên nương/ Anh còn bận đem mìn phá lộ/ Đoàn dân công có chị dẫn đường”; là thơ của niềm vui chiến thắng, một niềm vui quá lớn đến ngỡ ngàng, sửng sốt: “Ta đã gặp nhau mà tưởng còn trong mộng/ ...Cứ bùng lên cháy bỏng  cõi lòng” (Đi trong hương cà phê). Niềm vui to lớn ấy khiến anh ngất ngây: “Nắng xanh mắt lọc qua vòm tán lá/ Hương từ hồn em toả lên say mê”. Hương không phải từ em nữa mà ôm trùm cả không gian, không phải từ mắt em nữa mà từ cả vòm lá, từ màu nắng, tất cả cứ thế mà  bung toả lên. Anh phải cảm ơn niềm vui chiến thắng lẫy lừng to lớn kia vì đã đem đến cho anh hai câu thơ thật ấn tượng. Chợt nghĩ giá mà lúc ấy, anh kìm nén một chút mức độ dâng trào của cảm xúc thì hai câu thơ trên bớt đi sự rườm rà của từ ngữ và tất nhiên sẽ đem lại cho người đọc hai câu thơ thật sự độc đáo.
Từ khi giải phóng, anh vẫn song hành hai nhiệm vụ. Một là nhà quản lý (Giám đốc công ty Sách - Thiết bị trường học, Phó ban vận động thành lập hội VHNT Đắk Lắk, Chủ tịch hội VHNT Đắk Lắk 1990-2001), hai là nhà thơ. Những tưởng làm quản lý thì thơ anh nhẹ đi phần nào, ngờ đâu thơ anh ngày một sâu sắc hơn, cái sự rườm rà trong từ ngữ không còn nữa thay vào đó là là sự cô đọng của suy tư, chiêm nghiệm. Cảm xúc trong mỗi bài thơ vẫn nồng nàn, vẫn say mê: “Trên đầu ta em ơi/ Ngọn cờ sao lồng lộng/ Trước mắt ta hồ rộng/ Thu bẩy sắc cầu vồng” (Biệt điện bên hồ). Anh nhìn cảnh vật lúc này giống hệt một chàng trẻ tuổi, nhìn chỗ nào cũng vui, thấy người nào cũng dễ mến, dễ yêu. Háo hức và sung sức: “Đường lên hạnh phúc - cánh bay tuyệt vời/ Thanh tân qua mỗi dáng người” (Cho em phố núi). Nhưng rồi cái háo hức dễ mến ấy rồi cũng có lúc lặng thầm nghiêng đi mà nghe, mà suy tư, mà ngẫm nghĩ: “Pleiku có mơ màng/ Mà sương nắng cứ nhuốm vàng tháng năm”.
Những năm 1980 trở đi thơ anh không còn thuần tuý nhìn sự vật ở bên ngoài bằng cách kể, tả nữa mà mà đi vào từng tầng sâu của nó. Vì thế có những câu thơ anh kết hợp giữa kể, tả với chiều sâu tâm trạng, giữa cảm xúc với suy tư, tạo ra một sự tưởng tượng đầy sức gợi: “Nắng lưng đồi cứ tưởng nước lơ thơ” (Nghe quan họ trên cao nguyên). Câu chuyện trong bài: “Chợ huyện mới trong vùng căn cứ cũ”, cảm động lòng người, chọn để trích ra đôi câu hơi khó, nhưng cái tứ của nó cho người đọc một nỗi tình bâng khuâng, da diết. Và đằng sau cái bâng khuâng, da diết ấy là sâu thẳm tính nhân văn: có hôm nay là nhờ có quá khứ, có hoa hồng là nhờ có máu đổ, có nụ cười là nhờ có nước mắt, mồ hôi. Bên cạnh cảm xúc nồng nàn về những đổi thay của cuộc sống mới, anh đã có cái nhìn biện chứng, toàn diện về mối quan hệ giữa quá khứ, hiện tại, tương lai giữa sự vật và con người, giữa hai mặt đối lập của một thực thể: “Đêm cứ chung và đêm cứ riêng/ Núi cứ tím hồ sẫm màu cổ tích/ Bên cánh cửa khép vào tĩnh mịch/ Bên mở ra nắng mới ùa vào” (Đêm huyện Lăk). Nhìn bông lúa chín vàng trĩu hạt hôm nay ở khu căn cứ cách mạng Khuê Ngọc Điền, anh bỗng rưng rưng nhớ về thời chưa giải phóng và chính thời ấy đã cho anh nguồn sống, cho anh những suy tư về những gì đã mất mát, hy sinh, nhắc nhở thế hệ sau, chúng ta sống đủ đầy bao nhiêu là chúng ta “mắc nợ” các thế hệ trước bấy nhiêu: “Lúa!/ Nơi nào tôi cũng gặp/ Nhưng có ở đâu mắc nợ thế này/ Nâng bông lúa sẫm vàng ngang mặt/ Nghe rưng rưng chuyển vào đôi tay.” (Lúa Khuê Điền). Chắc hẳn người đọc rất đề cao cái tâm thế cung kính biết ơn của nhà thơ trước những bông lúa vàng hôm nay có được là bởi biết bao máu đỏ của biết bao người đã rải khắp miền sông suối, núi rừng ấy.
Cái đáng quý và trân trọng trong thơ Hữu Chỉnh là ở chỗ dường như lúc nào trong thơ anh cũng tràn đầy sức sống, giọng thơ hăm hở, cảm xúc nồng đượm, cái khoẻ khoắn hoà cùng sự sôi động, cái sức trẻ nhuyễn hoà cùng mê say. Đời sống của đồng bào đặc biệt đời sống văn hoá  tinh thần dưới góc nhìn của anh vừa đẹp vừa đượm tính đặc trưng: “Sóng dội sóng/ Chiêng nhịp chiêng/ Bập bùng vỗ lửa/ Chuếnh choáng say/ Trong lúng liếng rượu cần.” (Ơi H’năng). Một lát cắt ròng tươi sự sống. Người, cảnh, tình quyện lại xoả ra xung quanh một hấp lực say sưa quyến rũ. Hình ảnh thơ của anh ngày một cô đọng và có tầm khái quát hơn: “Lững thững đàn voi cổ sơ/ Chở nắng chiều nhuộm vàng lưng núi/ Nhạc theo chân cô gái Ê-đê.” (Buôn Đôn chiều). Mạn phép nhà thơ cho tôi tạm cất từ “nhạc” vào kho từ vựng. Rõ ràng ý thơ cô đọng hơn, hàm ẩn sâu hơn. Sự thực nhạc đã tràn ra ở các  câu thơ rồi, bỏ từ nhạc đi người đọc còn nhận ra sự linh thiêng của cái đẹp, của truyền thống văn hoá  mẫu hệ ngàn đời đậm sâu trong dòng máu mỗi người hiện ẩn trong dân tộc người Ê-đê. Ngoài sự linh thiêng còn tỏ rõ uy quyền của giới nữ. Từ thiên nhiên hoang sơ kì bí đến núi đồi hiểm trở, từ đàn voi dũng mãnh đến chiều vàng mênh mang đầy nắng, tất cả đều quy thuận “theo chân cô gái Ê-đê”. Một bức tranh hoàn hảo, gợi cảm, ấn tượng, độc đáo về Tây Nguyên, về phụ nữ Ê-đê.
Nhà thơ Hữu Chỉnh cũng là một trong những người đi nhiều, tới đâu anh cũng đặt dấu ấn thơ ở đó. Tới Phong Thổ, anh cho người đọc nghe tiếng ngựa hí trên đỉnh trời vọng xuống, với tiếng khèn gói bao nhớ thương của những đôi tình nhân muôn thuở ở chợ tình Sa Pa được bọc ướp bằng những làn sương đục trắng la đà lưng chừng núi. Ghé qua Sơn La gặp đêm múa xoè thơ mộng khiến anh: “Một lần gặp/ Đam mê/ Đắm đuối/ Níu hồn người.” (Đêm Sơn La). Lên Hà Giang anh vẩy lên bầu trời đá mấy nét mà cảnh, người, phong tục tập quán nơi đây hiện ra thật sinh động: “Ngô vạch đá lên trời/ Lúa bắc thang lên trời/ Để ngàn đời/ Người xuống chợ.” (Xuống chợ).
Có thể nói thơ của Hữu Chỉnh giàu hình ảnh, đượm say về cảm xúc. Dường như bài thơ nào của anh cũng mang hơi thở say tràn sự sống. Thơ anh là thơ của xúc cảm dâng trào, người đọc chẳng bao giờ lãng quên thơ của anh.