Chủ Nhật, 9 tháng 12, 2018

DẤU ẤN THƠ ĐƯỜNG TRONG TRÀNG GIANG CỦA HUY CẬN lời bình của PHẠM TUẤN VŨ - CHƯ YANG SIN SỐ: 314 - THÁNG 11 NĂM 2018




Tràng giang in trong tập Lửa thiêng, xuất bản lần đầu năm 1940, “không chỉ là một bài thơ hay của Huy Cận mà còn là một trong những bài thơ tiêu biểu của phong trào thơ Mới” (Trần Đình Sử, “Tràng giang của Huy Cận”). Như nhiều người nhận định, tác phẩm mang vẻ đẹp vừa cổ điển vừa hiện đại, in đậm dấu ấn Đường thi, thơ ca truyền thống của dân tộc nhưng đồng thời cũng hết sức mới mẻ, độc đáo. Thật vậy, ở phương diện cổ điển, bài thơ mang âm hưởng thơ Đường rõ nét. Dấu ấn của thơ Đường để lại trong bài thơ này thể hiện trên hầu hết các phương diện của tác phẩm.
Ảnh hưởng của thơ Đường trong bài thơ Tràng giang thể hiện trước hết ở việc lựa chọn đề tài của tác giả. Theo Trần Đình Sử, “đôi khi người ta thường hiểu Tràng giang là bài thơ miêu tả phong cảnh quê hương đất nước, thể hiện tình yêu quê hương đất nước, nhưng đúng hơn đây là bài thơ thể hiện nỗi cô đơn, bơ vơ của con người ngay giữa quê hương mình”. Có thể nói, dù là đề tài quê hương hay nỗi cô đơn trên chính quê nhà, bài thơ của Huy Cận đều chịu ảnh hưởng nhất định từ truyền thống thơ Đường.
Như ta biết, quê hương là một đề tài quen thuộc, phổ biến, quan trọng trong truyền thống thơ ca phương Đông nói chung và thơ Đường Trung Hoa nói riêng. Ở mảng đề tài này, thơ Đường đạt được nhiều thành tựu với những tác phẩm nổi tiếng, được độc giả ở nhiều thời đại, nhiều quốc gia yêu thích, học tập; tiêu biểu như Lý Bạch với Tĩnh dạ tư, Đỗ Phủ với Thu hứng, Thôi Hiệu với Hoàng Hạc lâu… Ngay cả chủ đề nỗi niềm cô đơn, lạc lõng, làm khách trên chính quê hương cũng sớm được nói đến trong thơ Đường, tiêu biểu với bài Hồi hương ngẫu thư (kỳ nhất) của Hạ Tri Chương:
         Thiếu tiểu ly gia, lão đại hồi
         Hương âm vô cải, mấn mao tồi
         Nhi đồng tương kiến bất tương thức
         Tiếu vấn khách tòng hà xứ lai
(Rời quê nhà lúc còn trẻ, già mới về/ Giọng quê không đổi, tóc mai đã rụng/ Trẻ con thấy nhau mà không hề biết nhau/ Cười hỏi rằng khách ở nơi nào đến).
Đề tài quê hương trong thơ Đường ảnh hưởng khá sâu sắc đến nhiều nhà thơ Việt. Ở thời trung đại, đề tài quê hương này được nhiều tác giả nước ta tìm cảm hứng, học hỏi, sáng tạo lại, tiêu biểu nhất là Nguyễn Du với hàng chục bài thơ chữ Hán cảm động viết về quê nhà như Quỳnh Hải nguyên tiêu, Thu nhật ký hứng, Xuân nhật ngẫu hứng… Trong thời hiện đại, bên cạnh Huy Cận, một số tác giả khác cũng tiếp tục kế thừa, phát huy truyền thống này, ví như Chế Lan Viên với bài Trở lại An Nhơn thể hiện tâm trạng chơ vơ, xa lạ trên chính quê hương thứ hai của mình trong lần trở lại:
            Trở lại An Nhơn tuổi lớn rồi
Bạn chơi ngày nhỏ chẳng còn ai
Nền nhà nay dựng cơ quan mới
Chẳng hỏi thăm quê lại hỏi người.
Là một nhà thơ yêu thiết tha quê hương đất nước, hơn nữa, ngay khi còn nhỏ, Huy Cận “đã thuộc lòng khá nhiều ca dao, thơ của Lý Bạch, Đỗ Phủ, Thôi Hiệu… Sau này, trong sáng tác của ông, người đọc ít nhiều cảm nhận được dấu ấn của Đường thi” (Hà Bình Trị, “Linh hồn và tạo vật trong bài Tràng giang của Huy Cận”). Rõ ràng, đề tài quê hương trong thơ Đường có ảnh hưởng nhất định đến thơ ông, trong đó có bài Tràng giang, đặc biệt là khổ thơ cuối của tác phẩm này.
Ảnh hưởng của thơ Đường trên bình diện thể thơ biểu hiện rõ nét ở hầu hết các tác giả Thơ Mới, trong đó có Huy Cận. Mặc dù thơ luật Đường được xem là thể thơ nghiêm ngặt bậc nhất trên thế giới nhưng “nó vẫn được nhiều nhà thơ của chúng ta sử dụng ngay cả khi phong trào Thơ Mới đang phát triển rầm rộ và trên đà thắng thế “thơ cũ”” (Lê Thị Anh, Thơ Mới với thơ Đường). Tuy không sáng tác thơ Đường luật nhiều như Quách Tấn, Hàn Mặc Tử, Thái Can… nhưng âm hưởng của Đường thi ở bình diện thể thơ vẫn vang vọng trong nhiều sáng tác của Huy Cận, trong đó Tràng giang là một trường hợp tiêu biểu.
Tác phẩm làm theo thể 7 chữ (một trong những thể thơ phổ biến trong thơ Việt thời kì 1932-1945, và cả sau này), gồm 4 khổ với 16 dòng. Đây là thể thơ có nguồn gốc từ thơ thất ngôn trong Đường thi. Xét trên đơn vị khổ thơ, có thể thấy, mỗi khổ trong bài Tràng giang, đặc biệt khổ 2 và khổ 3, nếu đứng độc lập, đều có thể là một bài thất ngôn tứ tuyệt Đường luật mẫu mực. Ví như khổ thơ thứ 3:
         Bèo giạt về đâu hàng nối hàng
         Mênh mông không một chuyến đò ngang
         Không cầu gợi chút niềm thân mật
         Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng
Áp vào những quy định của thơ Đường luật, có thể thấy, khổ thơ trên vừa khít theo khuôn khổ của một bài thất ngôn tứ tuyệt luật trắc (chữ thứ 2 của câu 1 là giạt mang thanh trắc). Theo lệ bất luận: nhất tam ngũ bất luận/ nhị tứ lục phân minh (tiếng thứ 1, 3 và 5 không bàn/ tiếng 2, 4 và 6 phải phân biệt rõ), khổ thơ tuân thủ đúng luật đối âm như sau: T-B-T (giạt-đâu-nối)/ B-T-B (mông-một-đò)/ B-T-B (cầu-chút-thân)/ T-B-T (lẽ-xanh-bãi).
Về niêm (chữ thứ 2 của 2 câu trong một liên phải dính với nhau, tức cùng thanh trắc hoặc bằng, giữa các liên phải xen kẽ bằng trắc), khổ thơ không vi phạm luật niêm của thơ Đường luật. Có 4 phương thức hình thành một bài tứ tuyệt (có bốn câu, còn được hiểu là cắt thành bốn câu): Lấy 4 câu đầu, 4 câu sau, 4 câu giữa hoặc 2 câu đầu và 2 câu cuối của bài bát cú (8 câu). Khổ thơ trên theo phương thức thứ 4, do đó, dòng 1 niêm với dòng 4 và dòng 2 niêm với dòng 3. Cụ thể: T-T (giạt-lẽ) và B-B (mông-cầu).
Về đối (đối ý), khổ thơ trên hình thành theo phương thức thứ 4 nên không có đối. (Những bài tứ tuyệt theo phương thức 1, 2 và 3, tức cắt 4 câu đầu, cuối hoặc giữa của một bài bát cú, mới có đối ý. Kiểu 1 đối ở 2 câu đầu, kiểu 2 là 2 câu sau, kiểu 3 đối ở cả 2 cặp câu thơ). Trong bài Tràng giang, ở khổ thơ 1 (theo phương thức 2: lấy 4 câu cuối của một bài thất ngôn bát cú), cặp câu thơ đầu (tương đương 2 câu luận trong bài bát cú) đối, tuy không thật chỉnh.
Về vần, khổ thơ thứ 3 gieo vần bằng, vần chân theo lối độc vận (chỉ có một khuôn vần “ang”), gieo ở chữ cuối của các dòng 1, 2 và 4. Cụ thể: hàng-ngang-vàng. Như vậy, khổ thơ này không bị lạc vận (tức vi phạm luật gieo vần), thậm chí vần gieo được hoà thanh khá hiệu quả (có sự đan xen giữa vần thanh ngang và vần thanh huyền một cách hợp lí).
Không chỉ khổ thứ 3 mà 3 khổ còn lại của bài Tràng giang nếu đứng độc lập cũng có thể xem là những bài thất ngôn tứ tuyệt Đường luật hoàn chỉnh. Đây là điểm rõ nhất của việc tác phẩm chịu ảnh hưởng từ thể thơ trong Đường thi.
Thơ Đường là một đỉnh cao của thơ ca Trung Hoa nói riêng và nhân loại nói chung, có ảnh hưởng đến nhiều nền thơ ca trong khu vực. Ở nước ta trong thời kì 1932-1945, “hệ thống từ ngữ, hình ảnh, điển tích, điển cố Đường thi thâm nhập một cách rộng rãi và tinh tế vào tất cả mọi thể thơ của Thơ mới: thơ Đường luật, thơ 5 chữ, 7 chữ, 8 chữ, song thất lục bát v.v…”(Lê Thị Anh, Thơ Mới với thơ Đường). Tràng giang là một trường hợp khá tiêu biểu cho hiện tượng này.
Bài thơ mượn lại nhiều thi liệu vốn quen thuộc, nhiều khi trở thành công thức ước lệ trong thơ Đường, chẳng hạn như: dòng sông (Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp. Liễu Tông Nguyên có câu: Cô chu thôi lạp ông/ Độc điếu hàn giang tuyết [Trên con thuyền lẻ loi có ông già nón rách/ Một mình ngồi câu trong tuyết trên dòng sông lạnh]), ngọn núi (Lớp lớp mây cao đùn núi bạc. Vương Duy có câu: Dạ tĩnh xuân sơn không [Đêm tĩnh lặng, ngọn núi mùa xuân vắng vẻ]), cánh chim (Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa. Lý Bạch có câu: Chúng điểu cao phi tận [Bầy chim bay cao hết]), con thuyền (Con thuyền xuôi mái nước song song. Lý Bạch có câu: Cô phàm viễn ảnh bích không tận [Bóng xa xa của cánh buồm lẻ loi mất hút vào trời xanh ngắt]), buổi chiều (Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều. Đỗ Phủ có câu: Hàn y xứ xứ thôi đao xích/ Bạch Đế thành cao cấp mộ châm [Nơi nơi may áo rét, dao thước giục giã/ Tiếng chày buổi chiều tối dồn dập nơi thành cao Bạch Đế])…
Bên cạnh đó, một số điển cố thơ ca (điển cố thơ ca trong thơ Việt phần lớn có nguồn gốc chủ yếu từ Kinh thi, Sở từ, Đường thi của Trung Hoa) cũng được Huy Cận dẫn lại. Chẳng hạn, hai câu thơ cuối của bài (Lòng quê dợn dợn vời con nước/ Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà) được lấy ý từ hai câu kết trong bài Hoàng Hạc lâu nổi tiếng của Thôi Hiệu: Nhật mộ hương quan hà xứ thị/ Yên ba giang thượng sử nhân sầu (Chiều tối rồi, quê nhà ở nơi đâu/ Khói sóng trên sông khiến người sầu). Hay như hình ảnh Lớp lớp mây cao đùn núi bạc trong khổ thơ cuối mượn lại ý của câu Tái thượng phong vân tiếp địa âm (Ngoài biên tái, gió mây sà xuống mặt đất âm u) trong kiệt tác Thu hứng (kỳ nhất) của Thi thánh Đỗ Phủ…
Có thể nói, việc sử dụng nhiều thi liệu, điển cố có người gốc Đường thi đã mang đến cho Tràng giang vẻ đẹp trang nhã, thi vị và đậm chất cổ điển. Mặt khác, những sáng tạo trong nghệ thuật dụng điển, dẫn thi của Huy Cận (không theo bút pháp ước lệ nhiều khi sáo mòn, đưa những hình ảnh thơ được mượn trở về gần gũi với hiện thực cuộc sống và tâm trạng con người…) cho thấy ở nhà thơ ý thức tiếp thu có chọn lọc từ truyền thống, đồng thời góp phần làm nên vẻ đẹp hài hoà giữa cổ điển và hiện đại cho tác phẩm.
Ngôn ngữ thơ Đường nhìn chung vừa hàm súc, kiệm ngôn, tỉnh lược đến mức tối đa hư từ vừa mang vẻ đẹp giản dị, tự nhiên nhưng cũng thật trang trọng, thanh nhã. Theo Nguyễn Thị Bích Hải, ở bộ phận thể hiện con người vũ trụ là bộ phận chủ đạo trong thơ Đường, ngôn từ “thường cổ kính, trang nhã, nhiều danh từ chung, nhiều ngôn từ và hình ảnh ước lệ, mang tính chất tượng trưng, gợi liên tưởng…” (Nguyễn Thị Bích Hải, Thi pháp thơ Đường). Đó là lí do mà ngôn ngữ thơ Đường được xem là mẫu mực, có ảnh hưởng lớn đến các nhà thơ đời sau.
Chịu ảnh hưởng từ ngôn ngữ thơ Đường, Tràng giang của Huy Cận mang vẻ đẹp cổ điển, trang nhã, súc tính, hài hoà. Làm nên điều này, nhà thơ sử dụng nhiều thủ pháp khác nhau, như: Tăng cường sử dụng từ Hán Việt nhằm mang lại sắc thái trang trọng, cổ kính (15 từ/ 16 dòng, trong đó có những từ mang tính điệu thẩm mĩ cao như điệp điệp, cô liêu, hoàng hôn…); hạn chế đến mức thấp nhất việc sử dụng các hư từ (6 từ/ 112 chữ của bài thơ, trong đó, phó từ phủ định không lặp lại đến 3 lần), sử dụng nhiều danh từ để tăng tính khái quát cho lời thơ (39 từ/ 16 dòng), tăng cường sử dụng thanh bằng nhằm tạo nên âm hưởng chậm rãi, lắng sâu (74/112 tiếng là thanh bằng, chiếm 60,1%)… Nhờ đó, bài thơ như ngưng đọng lại, góp phần khắc hoạ thành công tâm trạng bơ vơ, “sầu trăm ngả” của nhân vật trữ tình.
Theo Lê Thị Anh, “trên bình diện thi pháp, có thể thấy Thơ Mới tiếp thu thơ Đường trong việc tạo dựng các mối quan hệ, bút pháp chấm phá, gợi tả theo lối “ôhoạân hiển nguyệt” và cấu trúc cú pháp tỉnh lược. Đây chính là những nét nổi bật và khái quát nhất trong cấu tứ, bút pháp thơ Đường mà Thơ Mới đã tiếp thu”. Trong bài thơ Tràng giang, biểu hiệu rõ nhất của sự tiếp thu này là bút pháp tạo dựng mối quan hệ đối lập và bút pháp tỉnh lược.
Thứ nhất, bài thơ đã tạo dựng được nhiều mối quan hệ đối lập, một điều thường xuyên bắt gặp trong thơ Đường, như: Đối lập giữa thiên nhiên với thiên nhiên theo chiều cao (nắng xuống > < trời lên), chiều rộng (sông dài > < trời rộng), giữa thiên nhiên với con người theo không gian (thuyền về > < nước lại, thuyền là hình ảnh hoán dụ chỉ con người), giữa ngoại cảnh với nội tâm (không khói hoàng hôn > < cũng nhớ nhà)… Về hình thức ngôn ngữ, bài thơ có nhiều cặp câu đối, tiểu đối. Rõ ràng, những mối quan hệ đối lập trong hình thức cặp câu đối, tiểu đối này có tác dụng gây ấn tượng (đặc biệt là ấn tượng thị giác) mạnh hơn đối với người đọc, đồng thời làm cho bài thơ “đậm đà phong vị Đường thi” (chữ dùng của Lê Thị Anh) hơn.
Thứ hai, bài thơ còn được tăng cường sử dụng bút pháp tỉnh lược với việc triệt tiêu hư từ nhằm tạo những khoảng trống ngữ pháp cho hiện tượng “ý tại ngôn ngoại” (ý ở ngoài lời), “ngôn tận ý bất tận” (lời cạn ý không cạn) xuất hiện, đồng thời là cho lời thơ mang tính đa nghĩa, gợi mở tối đa trường liên tưởng cho người đọc. Ví như ở câu thơ đầu Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp, vì bị tỉnh lược hư từ nên cho phép đọc giả hiểu theo nhiều cách khác nhau, chẳng hạn: Sóng gợn [làm cho/ nên] tràng giang buồn điệp điệp, Sóng gợn tràng giang [làm cho/ nên lòng người]buồn điệp điệp… Hay như trong câu Không cầu gợi chút niềm thân mật, vì hư từ bị tỉnh lược, câu thơ trở thành một cấu trúc mở với những khoảng trống ngữ nghĩa cho phép độc giả đồng sáng tạo, thoả sức lấp đầy bằng nhiều cách hiểu khác nhau nhưng có thể chấp nhận được, như: Không [có cây] cầu [nào để]gợi chút niềm thân mật, Không [có cây] cầu [nào nên] gợi chút niềm thân mật hoặc Không [có cây] cầu [nào mà nó] gợi chút niềm thân mật… Như vậy, với việc tỉnh lược hư từ ở một số câu thơ, Huy Cận đã đem đến những cách hiểu độc đáo mới cho độc giả tuỳ thuộc vào năng lực và thị hiếu thẩm mĩ của từng người. Với thủ pháp này, Tràng giang gần với thi pháp thơ chữ Hán, đặc biệt là thơ Đường hơn, và dấu ấn Đường thi trên bình diện thi pháp trong bài thơ cũng được thể hiện rõ hơn.
Tóm lại, Tràng giang xứng đáng với lời nhận xét của Hà Bình Trị: “Là bài thơ hay nhất, tiêu biểu nhất trong toàn bộ sự nghiệp sáng tác của Huy Cận” (Hà Bình Trị, “Linh hồn và tạo vật trong bài Tràng giang của Huy Cận”). Bài thơ thành công bởi không chỉ khắc hoạ được tâm trạng cô đơn, lạc lõng của “chàng Huy Cận ngày xưa hay sầu lắm” giữa một thời đại bế tắc mà còn mang vẻ đẹp hoà quyện giữa chất cổ điển và chất hiện đại. Nổi bật trong bài thơ là âm hưởng của thơ Đường trên hầu hết các phương diện của tác phẩm. Dù nằm trong mạch nguồn vô thức của thơ ca truyền thống hay được nhà thơ cố tình tiếp thu, vận dụng thì ảnh hưởng của thơ Đường trong Tràng giang vẫn để lại dấu ấn đậm nét, mang đến cho tác phẩm nhiều giá trị độc đáo.
    



Thứ Sáu, 7 tháng 12, 2018

THĂM THẦY GIÁO CŨ lời bình của LÊ THÀNH VĂN - CHƯ YANG SIN SỐ: 314 - THÁNG 11 NĂM 2018


Sổ tay Thơ:



              Kính tặng thầy Hoàng Như Mai




Hai mươi bốn năm xa
Con ngồi lặng bên thầy
Phố Nguyễn Du nồng nàn hoa sữa
Tóc thầy bạc phau
Mái tóc con nửa đời sương gió

Đứa học trò thuở mười chín đôi mươi
Lại lắng từng câu, lại nhập từng lời
Cái giọng nói một đời không quên được
Cái ánh lửa cháy lên trong cặp mắt
Hai mươi bốn năm rồi ấm mãi trong con
Thầy giảng cho con về đất nước nhân dân
Để khi mặc lành không quên người áo vá
Ăn miếng cơm nhớ bàn tay trồng khoai, dỡ củ
Câu ca dao đau đáu một đời

Con ngước lên, con gặp mắt thầy
Đầm ấm quá, con thành trẻ nhỏ
Những vui buồn thầy lặng nghe con kể
Có lúc nào thầy không ở bên con
Con nghe rất nhiều trong lặng im
Thầy thấu cả những điều con chưa nói
Phút giao cảm: thầy là tia nắng dọi
Con, cây xanh đang nảy lộc trong vườn

Thầy tiễn con về. Phố lạnh hơi sương
Con để mãi bàn tay trong tay thầy ấm áp
Và con biết đêm nay thầy lại thức...
                                                            NGUYỄN BÙI VỢI

LỜI BÌNH:
CON BIẾT ĐÊM NAY THẦY LẠI THỨC

Năm câu thơ mở đầu phác hoạ chân dung người thầy qua mái tóc "bạc phau" sau hai mươi bốn năm thầy trò xa cách. Thầy Hoàng Như Mai là một giáo sư đại học nổi tiếng, nhà thơ Nguyễn Bùi Vợi cũng là một thầy giáo dạy văn. Hai nhà giáo, một thầy dạy và một học trò cũ cứ thế nhẹ nhàng say chuyện. Không gian mở ra nồng nàn nơi phố Nguyễn Du với mùi hoa sữa đặc trưng của Hà Nội. Dựng được không gian thanh khiết, khắc hoạ sâu lắng bóng dáng thời gian đủ để tâm trạng nhớ thương cứ thế đan tràn, hình ảnh người học trò có mái tóc đã hơn nửa đời sương gió càng gợi sự thấm thía và xúc động khi được hội ngộ bên thầy. Lời thơ bình dị, dễ hiểu mà trữ tình, lắng đọng, bởi nó được ngân lên từ cảm xúc chân thành, từ hiện thực đời sống được tác giả trải nghiệm. Thơ hay toả ra từ chính hồn người vậy, dù chỉ mới là lời trần thuật làm nền cho một niềm xúc động lớn lao hơn.
Sau phút giây dạt dào xúc động gặp được thầy giáo cũ, Nguyễn Bùi Vợi đã dành những câu thơ thật hay để khắc hoạ chân dung người thầy qua giọng nói và ánh mắt. Vâng, phải là giọng nói mới toả được vẻ đẹp tâm hồn của thầy từ góc nhìn sư phạm. Nhà thơ không viết thầy dạy hay và hấp dẫn môn văn mà chỉ trần thuật lại mình như bị thôi miên trước bài giảng của thầy thuở mười chín đôi mươi, nay "lại lắng từng câu, lại nhập từng lời" vì "giọng nói một đời không quên được". Giọng nói không quên được chắc phải đặc trưng lắm, độc đáo lắm, say người lắm. Ý thơ cốt ở ngoài lời, quả Nguyễn Bùi Vợi đã làm được điều này thật thú vị và tinh tế lắm. Riêng ánh lửa nồng nàn cháy lên trong cặp mắt thầy quả là một phát hiện tinh tế nữa của tác giả. Nhìn vào mắt thầy mà cảm được biết bao nồng nàn, say đắm của tình yêu văn chương và niềm yêu đời thiết tha, cháy bỏng quả là người học trò tri âm và thấu hiểu lòng thầy:
Đứa học trò thuở mười chín đôi mươi
Lại lắng từng câu, lại nhập từng lời
Cái giọng nói một đời không quên được
Cái ánh lửa cháy lên trong cặp mắt
Hai mươi bốn năm rồi ấm mãi trong con
Ban đầu là mái tóc "bạc phau", rồi đến giọng nói "suốt đời không quên được", nhưng đó mới chỉ là ở hình thái bên ngoài của thầy. Lắng sâu hơn chính là sự cảm nhận của Nguyễn Bùi Vợi về vẻ đẹp tâm hồn thầy thể hiện qua tính giản dị, khiêm nhường trong sinh hoạt đời sống hằng ngày bằng một tình cảm kính yêu vô hạn. Nhờ thế những câu thơ tự nhiên, giản dị mà bất chợt trào dâng cảm xúc lạ thường. Câu hỏi tu từ càng xoáy sâu hơn tâm tình của đứa học trò sau hai mươi bốn năm được gặp thầy giáo cũ: "Rét đầu mùa thầy ngủ có ngon không?". Cảm phục nhất là nhân cách người thầy hiện lên qua nỗi bồi hồi xúc động khi nhà thơ hồi tưởng về những lời dạy dỗ ân tình, mang đậm tính nhân văn mỗi lần nghe thầy giáo giảng:
Thầy giảng cho con về đất nước nhân dân
Để khi mặc lành không quên người áo vá
Ăn miếng cơm nhớ bàn tay trồng khoai, dỡ củ
Câu ca dao đau đáu một đời
Yêu người lao động, biết trọng ơn nghĩa đối với nhân dân là vẻ đẹp của nhân cách người thầy cao cả. "Mặc lành không quên người áo vá", bưng bát cơm nhớ người trồng khoai dỡ củ là phẩm chất đạo đức, là tình nghĩa uống nước nhớ nguồn mà suốt đời thầy đã dạy cho lớp lớp học trò sau những tháng năm khó nhọc. Hình tượng thơ nhờ thế gần gũi, thân thuộc mà rưng rưng niềm xúc động, khái quát được những tư tưởng lớn, những bài học làm người cao đẹp của dân tộc ta.
Kính trọng và đồng cảm với thầy từ tình yêu văn chương, yêu đất nước và con người, nhất là vẻ đẹp nhân văn lấp lánh qua từng câu chữ mà thầy đã dạy dỗ, nhà thơ Nguyễn Bùi Vợi một lần nữa đã thấu hiểu lòng thầy và dường như thầy cũng hiểu lòng mình. Hai thầy trò nhờ đó có mối tương giao thật kỳ diệu:
Con nghe rất nhiều trong lặng im
Thầy thấu cả những điều con chưa nói
Phút giao cảm: thầy là tia nắng dọi
Con, cây xanh đang nảy lộc trong vườn
Ba câu thơ kết bài là một cảm xúc lắng đọng, thiết tha về tình nghĩa thầy trò sáng trong, cao đẹp. Vẫn phố Nguyễn Du chìm trong sương lạnh nhưng lòng người học trò lại ấm áp vô biên. Hình ảnh đêm nay thầy lại thức gợi mở ra rất nhiều ý tưởng. Thầy thức vì nỗi thương đời, thương đất nước và nhân dân vẫn còn nghèo khó, thương cậu học trò hơn nửa đời sương gió hay đó còn là tâm tình rộng lớn mênh mang về cõi đời, cõi nhân sinh với biết bao buồn vui mà văn chương không nói hết được. Nhờ thế, khổ thơ cuối bài khép lại, ta vẫn nghe điệu nhạc tâm hồn của nghĩa tình thẳm sâu, của tình thầy trò rộng lớn vô biên: "Thầy tiễn con về. Phố lạnh hơi sương/ Con để mãi bàn tay trong tay thầy ấm áp/ Và con biết đêm nay thầy lại thức..."
                                                                                    LÊ THÀNH VĂN


Thứ Năm, 6 tháng 12, 2018

VƯỢT MIỀN KÝ ỨC bút ký của PHAN MAI HƯƠNG - CHƯ YANG SIN SỐ: 314 - THÁNG 11 NĂM 2018


Nhà văn Phan Mai Hương

Trở lại Tây Nguyên lần này đối với tôi như được trở về ngôi nhà thân thuộc. Nhớ có lần bạn gọi rủ rê hãy vào Tây Nguyên mùa khô, sẽ thấy cao nguyên đất đỏ thắm chan cùng trời xanh mây trắng nắng vàng. Bạn sẽ được thoả thuê nhìn tận mắt  đi trong thảm vàng dã quỳ miên man.
Chẳng biết tự khi nào, dã quỳ mang trọn linh hồn Tây Nguyên như một điều đương nhiên. Cứ càng nắng gắt khô khát, màu dã quỳ càng vàng tươi rực rỡ. Dường như bao nhiêu mầu mỡ của đất đỏ ba-zan tình tự với hạt mưa rừng Tây Nguyên mà dồn hết cả vào bông dã quỳ  vàng tươi tắn. Hoa dã quỳ Tây Nguyên khiến cho liên tưởng đến những con người di cư đến miền cao nguyên và đơm hoa kết trái sâu rễ bền gốc ở nơi có hạt đất đỏ núi lửa mầu mỡ kết tinh của hai mùa mưa nắng.
 Bây giờ đang tháng Tư, là đỉnh điểm mùa khô, hoa dã quỳ cũng đã hết. Tôi không gặp dã quỳ, mà chìm luôn trong nắng chang chang như thể không gắt gay được hơn thế nữa. Nhưng cuộc gặp gỡ với đồng hương Tây Bắc trên vùng Tây Nguyên lại chan chứa nhiều ngọt ngào, háo hức, mừng vui như cơn mưa sớm trước mùa mưa.
 Trên hành trình mưu sinh, con người luôn tiến hành những cuộc di cư vĩ đại  qua các miền đất để  chọn cho mình nơi sinh sống tốt nhất. Cũng nhờ những cuộc di cư mà những miền đất hoang vu được khai phá và thấm đẫm giọt mồ hôi nước mắt của con người. Lịch sử xã hội và con người Việt Nam cũng để lại những cuộc di cư khác nhau. Tôi dầm chân trong cái nắng gắt gay của Tây Nguyên mùa khô để hình dung những âu lo héo hon trong cuộc di cư của những con người đi tìm kế sinh nhai trên miền đất mới. Vì rất nhiều lí do khác nhau mà bà con các dân tộc thiểu số Tây Bắc di cư đến Tây Nguyên.
Có cuộc di cư do lịch sử để lại vào năm 1954. Tôi đã đọc tài liệu ở đâu đó rằng đây là thời điểm diễn ra cuộc di cư khổng lồ, có quy mô lớn nhất của người Việt Nam trong lịch sử dựng nước và giữ nước. Cái ngày diễn ra cuộc di cư đó, tôi vẫn đang còn là hạt bụi trôi nổi vô định đâu đó trong vũ trụ này. Nên bây giờ, tôi chỉ hình dung cái quy mô lớn của nó diễn ra bằng vài dòng mà lịch sử kể lại, đó là những kiến thức hạn hẹp được học trong nhà trường. Tôi  chỉ phần nào thấu hiểu thân phận của những con người bỗng chốc phải rời bỏ quê hương mà không hẹn ngày trở lại. Cuộc chuẩn bị để xa biệt nơi chôn rau cắt rốn, nơi có mồ mả tổ tiên ông bà đâu có phải dễ dàng gì? Chắc chắn họ ra đi mà mang trong lòng nỗi niềm đau đáu về nơi chôn nhau mà không biết bao giờ trở lại.
Vậy người dân di cư đã làm được gì cho mảnh đất đã cưu mang họ? Quê hương mới có mang đến cho ngươi di cư một cuộc sống như mong muốn không? Người dân di cư đã gặp những khó khăn gì? Thế hệ tiếp nối đã đón nhận hiện tại và tương lai như thế nào? họ đã và đang cư xử với quá khứ ra sao? Sau hơn nửa thế kỷ rời xa nơi chôn rau cắt rốn để xây dựng cuộc sống nơi quê mới, người  dân di cư  đã có thể có cuộc sống an cư lạc nghiệp hay không? Miền cao nguyên là nơi sinh sống chính của các dân tộc Bana, Jalai, Êđê,  nay tiếp nhận đồng bào dân tộc thiểu số miền Tây Bắc, và cộng đồng các dân tộc ở Tây Nguyên vẫn ẩn chứa biết bao điều cần phải khám phá.
Tôi  xúc động và có cảm giác như được trở về nhà, khi nhà văn Nguyễn Liên, người ra đón tôi ở sân bay Buôn Ma Thuột, kể rằng sân bay Buôn Ma Thuột có tên là sân bay Hoà Bình. Khu dân cư ở liền kề sân bay cũng mang tên Hoà Bình. Lý do rất đơn giản, đây là khu cư dân của người Mường Hoà Bình di cư từ  năm 1954. Hầu hết, người Mường Hoà Bình đều tập trung sinh sống ở nơi này, làm nên một cộng đồng quan trọng trong ngôi nhà chung các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên. Bạn sẽ ngỡ ngàng khi gặp rừng cây sao đen hàng trăm tuổi, xanh tươi lừng lững trải dọc con đường dẫn vào sân bay. Tôi nghĩ những cánh rừng cây sao đen được giữ gìn và chăm sóc rất tốt, kể như từng cọng lá xanh cũng được nâng niu, đã làm nên vẻ đẹp khó quên của thành phố cao nguyên. Phải chăng những tán cây sao đen xanh tốt kia như nhân chứng đã chứng kiến bao thăng trầm của lịch sử và cuộc sống của cộng đồng người Mường Hoà Bình di cư đến nơi đây.
Bây giờ, sân bay Hoà Bình đã đổi tên là sân bay Buôn Ma Thuột, và khu dân cư đổi tên là xã Hoà Thắng. Chúng tôi có cuộc gặp ngắn ngủi với lãnh đạo xã, và đón chúng tôi là chị Nguyễn Thị Loan, Chủ tịch uỷ ban nhân dân xã Hoà Thắng.  Chị Loan vui vẻ kể rằng chị cũng là dân di cư, từ quê Hải Dương vào đây lập nghiệp ngót 30 năm rồi. Chị đưa ra cho chúng tôi những số liệu cơ bản về cộng đồng người Mường, gồm có 3 thôn: Thịnh Lang, Cao Phong, Mường Bi, chủ yếu là dân di cư từ 1954. Ở xã Hoà Thắng, văn hoá truyền thống của người Mường được bảo tồn rất tốt. Những lễ nghi như lễ Lúa Mới vào tháng 10, lễ Khai Hạ vào tháng Giêng đều được đồng bào Mường ở Hoà Thắng tổ chức trọng thể và linh đình. Tôi nhớ, có lần vào dịp Tết Nguyên Đán 2017, chị Linh Nga Niê Kdam, là nhạc sĩ dân tộc Êđê và là người có nhiều đam mê và nghiên cứu rất sâu sắc về văn hoá dân gian của tỉnh Đắk Lắk có gọi điện thoại và kể về cảm xúc thú vị và háo hức của chị khi đang dự lễ Khai Hạ của người Mường ở Hoà Thắng. Chị  Linh Nga đã làm cho tôi cứ ước ao một lần được tham dự một trong lễ nghi truyền thống quan trọng bậc nhất, đón một mùa trồng cấy mới của dân tộc Mường ở miền đất cao nguyên xa xôi. Thì hôm nay đây, tôi đã mang niềm mong ước ấy vào với Buôn Mê Thuột như đất khát đợi cơn mưa.
  Chị Loan cho biết, xã Hoà Thắng đã giữ gìn và bảo tồn rất tốt nền văn hoá truyền thống của dân tộc Mường, đặc biệt là phong tục tập quán của người Mường Hoà Bình. Trong đó bộ môn nghệ thuật cồng chiêng Mường được chú trọng lưu giữ và có kế hoạch phát triển rất chu đáo. Công tác xây dựng đội nghệ thuật cồng chiêng được Đoàn thanh niên tổ chức rất quy củ và bài bản, nghiêm túc. Các bạn trẻ được tuyển chọn đều có tâm hồn yêu nhạc cụ truyền thống dân tộc Mường. Các buổi tập luyện đánh cồng chiêng được những cụ già nghệ nhân tận tình hướng dẫn, chỉ dạy cho người trẻ. Đội nghệ thuật cồng chiêng Hoà Thắng luôn có mặt tham dự hầu hết các sự kiện văn hoá của thành phố Buôn Ma Thuột. Trong ngày Hội Văn hoá Thể thao các dân tộc năm 2017, tiết mục biểu diễn cồng chiêng Mường của xã Hoà Thắng được trao giải nhì. Nếu so sánh với cộng đồng người Mường sống ở  huyện Buôn Đôn, những sinh hoạt văn hoá văn nghệ truyền thống gần như bị lãng quên, hoặc không thể khôi phục thành nề nếp như ở Hoà Thắng. Phải thừa nhận rằng việc giữ gìn nét văn hoá truyền thống ở Hoà Thắng đã tạo nên một cộng đồng người Mường rất đoàn kết ở Tây Nguyên, góp phần làm phong phú thêm màu sắc cho bản đồ sắc tộc của vùng Tây Nguyên.
Trong đời sống tinh thần của người Mường, tín ngưỡng thờ thần linh cũng là một mặt quan trọng của đời sống văn hoá truyền thống. Người Mường ở Hoà Thắng rất có ý thức bảo tồn đời sống tâm linh của cộng đồng. Chính quyền xã Hoà Thắng  rất ủng hộ trong công tác bảo tồn văn hoá tâm linh dân tộc Mường. Các thôn Mường đều có đình làng dùng làm nơi tế lễ và sinh hoạt văn hoá tâm linh. Các ngôi đình Cao Phong, đình Thịnh Lang, đình Mường Bi, đều được xây dưng và tu bổ khang trang. Đình là biểu tượng tinh thần cho mỗi thôn Mường và do các thôn đó tự quản lí. Các ngôi đình được dùng làm nơi tổ chức các sự kiện, các nghi lễ quan trọng của cộng đồng Mường ở xã Hoà Thắng.
Tôi đến ngôi đình của thôn Mường Bi, thấy có khuôn viên rất rộng rãi và được xây cất khang trang. Nhà thờ chính nối liền nhà hội họp nép dưới bóng rợp của cây đa xoè tán che mát một vùng rộng lớn, trước mặt là cánh đồng mênh mông. Cũng phải đợi một lát thì ông chủ tế Đinh Thế Đổng mới vội vã chạy đến mở cổng, thắp hương trên ban thờ và cẩn trọng mời vào lễ. Ông Đổng nói vì không được báo trước nên đã  không kịp chuẩn bị chu đáo hơn.
Ông Đinh Thế Đổng thuộc dòng dõi nhà quan lang ở Mường Bi (Hoà Bình). Năm 1954 cha mẹ ông di cư vào Buôn Ma Thuột và cắm chốt ở mảnh đất Hoà Thắng, khi ấy còn là rừng rậm um tùm. Ông kể, hồi nhỏ còn thấy cha bắt được cầy cáo và heo rừng nhiều vô kể. Được sinh ra ở  Buôn Ma Thuột - năm 1960 -  nghĩa là ông Đổng là thế hệ đầu tiên ở đây trưởng thành trên đất Tây Nguyên. Qua hai thế hệ lập nghiệp, đến nay cuộc sống gia đình ông Đổng đã rất ổn định và chắc chắn. Các con của ông Đổng đều đã trưởng thành. Con gái học đại học sư phạm và hiện đang là cô giáo trường tiểu học gần nhà. Thu nhập của gia đình chủ yếu từ rẫy cà phê. Khi tôi hỏi về số thu nhập cụ thể, ông Đổng hơi ngập ngừng, cũng ít thôi, thì cỡ khoảng chừng trăm triệu gì đó. Có lẽ ông Đổng không biết đấy là con số trong mơ của những người nông dân? Ông Đổng vui vẻ kể về công việc tự nguyện làm  thủ từ ở đình Mường Bi. Đây là công việc ông nhận làm tự nguyện vì việc mưu sinh cũng đã không còn vất vả nữa. Ông vui vẻ khoe, sau hơn 60 năm sống ở Tây Nguyên, đại gia đình với các con và các cháu cũng đã trưởng thành, có cuộc sống sung túc, an yên. Ông chỉ nói nhiều về cộng đồng Mường và ngôi đình mà ông hết lòng chăm sóc.
 Ở ngôi đình này, ông Đổng cùng với cư dân thôn Mường Bi tổ chức những lễ nghi hằng năm, lễ Khai Hạ mùng Bẩy tháng Giêng, lễ rằm Tháng Bẩy, lễ Cơm mới tháng Mười, lễ đón Năm Mới. Kinh phí hoạt động nhờ vào sự đóng góp tự nguyện của các hộ dân trong thôn. Có thể tuỳ theo khả năng kinh tế của từng hộ, nhưng ít nhất là 100 ngàn đồng cho một năm.
Người Mường thôn Mường Bi vẫn giữ nguyên tập quán dân tộc Mường khi xây dựng ngôi đình. Tập quán người Mường vốn sinh sống nơi vùng thấp ruộng nước, nhất định phải là cây đa bến nước. Ông Đổng dẫn tôi xuống phía bờ tre um tùm, che khuất con suối chảy ngang hướng đông nam của  đình. Nếu không xuống tận nơi, tôi cũng không biết đó là con suối. Mùa khô này, con suối cạn sạch nước nhưng mùa mưa sắp đến rồi, sẽ đủ tưới nước cho cả cánh đồng lúa mênh mông trước mặt.
Ông Đổng nói rất yêu thích công việc này. Vào ngày mùng Một và ngày Rằm, ông Đổng vẫn qua lại thắp hương trên ban thờ và quét dọn lá rơi rụng. Tuỳ theo vùng miền, nhưng về cơ bản thì người Mường không có tục lệ thắp hương thường xuyên ngày rằm và mùng một. Nhưng theo tâm lý thì phải chăng giữ gìn nơi thờ cúng cho sạch sẽ gọn gàng thì tâm linh thanh thản nhẹ nhõm hơn. Ông Đổng yêu thích công việc và găn bó thực sự với ngôi đình. Việc chăm sóc lễ nghi truyền thống khiến cho cộng đồng người Mường Hoà Thắng vơi bớt nỗi nhớ quê hương. Đồng thời, như một sợi dây kết nối khăng khít với ông bà tổ tiên ngoài quê cũ. Ông Đổng kể rằng ngoài quê cũ vẫn còn có họ hàng, và ông cũng mới về Bắc thăm người thân. Nhưng bây giờ quê mới lại là nơi có quá nhiều gắn bó khiến cho không thể xa lâu được. Tự nguyện bỏ thời gian và tâm sức ra phục vụ cộng đồng, mỗi cá nhân sẽ làm cho cuộc sống cộng đồng người Mường nơi đây ngày càng được kết nối khăng khít bởi đời sống văn hoá tâm linh lành mạnh.
 Nếu đất nước phải đi qua những trang sử thăng trầm vì những cuộc chiến tranh tiếp nối. Thì số phận con người thực sự là những người khổng lồ khi phải mang vác những gánh nặng éo le và bất ngờ mà lịch sử mang lại. Chị Bùi Thị Hạnh đã vào tuổi lục tuần nhưng vẫn giữ được dáng hình mảnh mai với khuôn mặt xinh xắn, mỏng mày hay hạt, với giọng nói nhỏ nhẹ gần như giữ nguyên âm sắc Mường Bi. Chị Hạnh thủ thỉ kể với tôi về những thăng trầm mà bản thân chị và gia đình đã trải qua trong chiến tranh, tính từ thời điểm 1954, khi cha mẹ di cư vào Buôn Ma Thuột.
Người cha Bùi Văn Diên, ở ngoài Bắc từng theo hầu nhà Lang Mương Bi, đã từng đi lính thay cho nhà Lang, đóng quân ở Hà Nội 2 năm.  Ông mang cả gia đình vào Đắk Lắk năm 1954. Cho đến  năm 1961 tham gia đội lính của Lang Đinh Công Tuân, nuôi dưỡng mục tiêu lý tưởng là thành lập quân đội riêng, giành chiếm đất dựng ấp, lập cơ nghiệp nhà Lang trên Tây Nguyên. Hồi đó, đội lính Mường của các quan nhà Lang Mường khá đông và mạnh, nổi lên ở nhiều nơi, trong đó tiêu biểu là đội lính Mường của Quách Công Liên ở Đồng Nai, đội lính Hà Công Tố ở Buôn Trấp là của người Mường Phú Thọ. Sau này,  khi đội lính của lang Mường bị dẹp yên, thì ông Bùi Văn Diên đăng lính. Ông đã từng là gián điệp, được đưa ra ra miền Bắc nhảy dù ở Thanh Hoá thì bị bắt. Từ năm 1964 tới năm 1983 ông Diên sống ở trong các trại cải tạo trên miền Bắc, nhưng gia đình không hề biết. Năm 1984, ông Diên trở về Hoà Thắng sống cùng gia đình. Ông Diên mất năm 2001, thọ 70 tuổi
Sự mất tích của ông Diên đã khiến gia đình làm đám ma hai lần, trong đó có làm ma khô theo phong tục Mường để cho người vợ có thể tự do đi lấy chồng. Chị Hạnh kể về người cha với giọng xót xa nhớ thương, vì tuổi thơ của ba chị em Hạnh vắng bặt bóng cha. Đến khi cha trở về, thì thời gian sống cùng gia đình lại quá ngắn ngủi. Phải hiểu sâu sắc những thiệt thòi, mất mát ấy là do bi kịch lịch sử mang lại. Thế nên, khi kể chuyện, chị Hạnh vẫn giữ nét an nhiên như  đời người phải nương bóng số phận mà men theo.
Người mẹ là Nguyễn Thị Sen, năm nay 92 tuổi, hiện đang sống cùng gia đình chị Hạnh. Theo lời chị Hạnh kể thì mẹ chị rất xinh đẹp. Khi cha bị mất tích thì có nhiều người ngỏ lời cầu hôn với bà. Đặc biệt là lang Đinh Công Tuân đã từng công khai theo đuổi và dùng mọi cách ép buộc cô Sen về làm vợ. Khi ấy, cô Sen buộc phải đóng giả làm đàn ông để tránh sự ép gả cho nhà Lang. Để nuôi ba đứa con khôn lớn, bà Sen đã làm rất nhiều nghề, làm ruộng rẫy, bán bánh ở chợ. Hồi chiến tranh, xã Hoà Thắng vốn là vùng giáp ranh, ban ngày là của chính quyền Cộng Hoà, nhưng ban đêm lại là của bộ đội và du kích kháng chiến. Chị Hạnh chỉ tay ra phía đường quốc lộ, trước mặt chỗ chúng tôi trò chuyện và nói đằng kia là ấp chiến lược và hàng rào dây thép gai. Nhưng chỗ mình đang đứng đây – cách đường quốc lộ khoảng 500m – là rừng rú rậm rạp, nơi bộ đội và du kích về với dân. Sống ở vùng đất giáp gianh cài răng lược, người đàn bà Mường khéo léo và đảm đang ấy vừa bán bánh nuôi con, vừa làm giao liên cho bộ đội du kích. Thư từ, súng đạn, đồ tiếp tế cho bộ đội du kích được khéo léo giấu dưới mẹt bánh. Bà Sen làm giao liên suốt những năm chiến tranh mà không bị lộ là nhờ vào nhan sắc xinh đẹp, sự thông minh và khéo léo.
Khi kể về mẹ, chị Hạnh không giấu được niềm cảm phục mẹ, xen lẫn ngậm ngùi khi nhắc lại ký ức khủng khiếp, người ngoài khó mà tưởng tượng được nỗi đau khổ  khi cuộc đời người đàn bà 92 tuổi mà có tới hai lần làm đám ma cho chồng. Tôi cũng cố gắng mà cũng không thể hình dung hết nỗi vất vả cay đắng mà bà Sen đã mang trên đôi vai mảnh khảnh, đã đi qua số phận bằng nghị lực mạnh mẽ khác thường. Mới hiểu và ngẫm ra, lịch sử thường được thiết lập từ những cuộc đời người dân bình thường vô danh, những người dân cần cù sống trên miền đất họ từng gắn bó. Mặc dù số phận éo le hay suôn sẻ, họ đều ghi dấu ấn vào trang lịch sử bi tráng và hào hùng của dân tộc.
Chúng ta thường nói về những bi kịch đời người rằng đó là số phận phải mang. Như những suy nghĩ quá quen thuộc như lối mòn trong suy nghĩ. Chúng ta lại  thường nói ra những điều to tát như số phận dân tộc, vận mệnh đất nước. Nhưng giờ thì tôi nghĩ khác, phải chăng những điều hay được nói bằng những lời đao to búa lớn kia vẫn đang tồn tại một cách giản dị trong những gia đinh có đứa con buộc phải  lìa xa quê hương.
  Trong không gian bản làng của người Mường, bên bờ ao hoặc lối đi xuống suối, người Mường không thể thiếu những cây sung mật quả bám trĩu trịt quanh gốc cổ thụ sần sùi vệt múi thời gian. Nếu như có thể ví những đứa con lưu lạc xa quê ấy đã bị những éo le của khoảnh khắc lịch sử rứt ra khỏi dòng họ như trái sung mật bị rứt ra khỏi gốc cây. Nhưng ở nơi quê mới, họ vẫn sinh sống một cách can trường để vượt lên trên số phận. Phải chăng, chính những người dân bình thường vất vả và lam lũ mới làm nên sự trường tồn của dân tộc Việt Nam trên dải đất hình chữ S yêu dấu này.
 Thì bây giờ, ở tuổi 92, cụ Sen đã có thể hưởng phúc an yên cùng con cháu. Cuộc đời cụ Sen khiến tôi thấu hiểu hơn về miền đất cao nguyên đã từng thấm máu và mồ hôi công sức của nhiều thế hệ người Việt Nam đi qua chiến tranh.
 Phải chăng ngày nay, chúng ta cần có cách nhìn nhiều góc độ hơn, toàn diện hơn về quá khứ. Bất cứ cuộc chiến tranh nào thì người dân cũng phải mang vác những bi kịch éo le. Nếu ai đó có nhắc lại thì cũng là để nhớ rằng chiến tranh gây chia lìa ly tán biết bao gia đình. Nhớ lại để cho lòng người biết sống bao dung và biết chia sẻ hơn. Nhắc nhớ quá khứ bi kịch eo le như một cách để chúng ta thanh thản hơn, để nhìn về cuộc sống tương lai chỉ đơm hái những mùa hoa trái ngọt ngào.
Kể về bản thân chị Hạnh lại rất  bình thản, là cái an nhiên của người đã từng đi qua núi cao vực sâu. Nếu từ hồi nhỏ, chị Hạnh đã cùng mẹ làm ruộng làm rẫy và phụ mẹ buôn bán nuôi các em, thì hiện giờ chị vẫn làm từng ấy công việc nuôi con và chăm sóc mẹ già. Có chăng là thêm việc trông coi cửa hàng photocpy thêm thắt vào cuộc sống hàng ngày. Thu nhập từ rẫy cà phê cũng được khoảng từ 80 đến trăm triệu một năm, đủ cho chi phí vào những việc lớn trong gia đình.
 Vào tuổi học hành, chị Hạnh cũng được mẹ cho đi học hết phổ thông trung học. Chị nói vẻ đầy nuối tiếc, tuy học rất khá nhưng lí lịch gia đình phức tạp thì làm sao vào được trường đại học? Bây giờ, những đứa con của chị Hạnh đã học bù lại cho phần của mẹ. Cô con gái học xong đại học và đang làm ngành ngân hàng. Cậu con trai đang học đại học dưới thành phố. Chị rất tích cực tham gia công tác ở xã, hiện đang đảm nhiệm phụ trách đoàn thể phụ nữ của thôn Mường Bi. Chị nói, cuộc sống hiện tại như thế là tốt lắm rồi, và không mong ước gì hơn. Hai vợ chồng chị vẫn khoẻ mạnh để chăm sóc mẹ già, để nuôi dạy các con trưởng thành trên quê mới.
Dù không sinh ra ở quê gốc Mương Bi, nhưng chị Hạnh vẫn đau đáu nỗi nhớ quê. Ngay sau ngày đất nước thống nhất, chị Hạnh đã viết thư về quê tìm họ hàng, và chị  đã được gặp lại hai người chú và một người bác. Đôi mắt nâu ngời sáng, thể hiện niềm vui của chị Hạnh khi kể về Mường Bi quê gốc vẫn là nơi chốn cho chị đi về thăm hỏi. Ngẫm ra, thế hệ thứ hai như chị Hạnh đã có cách nhìn và cách nghĩ năng động với tư duy rộng rãi hơn, nhưng vẫn giữ nguyên bản chất dân Mường, hiền lành chân chất mộc mạc như  đất đồi sau nhà, con suối trước ruộng.
 Dường như mỗi thời khắc biến động của lịch sử đều in dấu lên số phận đời người. Chấp nhận và kiên cường vượt lên trên số phận là bản chất của những người nông dân miền núi Tây Bắc nói riêng và của người Việt Nam nói chung. Từ vùng núi đá, người Mường Tây Bắc mang thói quen lao động cần cù trung thực để sống với miền đất đỏ cao nguyên. Những người con xa quê Mường lại làm nên một vùng Mường đậm bản sắc văn hoá, làm cho quê mới trở nên ấm áp hơn, và nhất là không thể rời xa vì đã gắn bó như phần máu thịt của quê hương. Lại ước mong có một dịp Tết Nguyên Đán nào đó được nếm ngụm rượu cần ngọt ngào mà dễ say lòng người ở đình Mường Bi trong lễ Khai Hạ trên miền cao nguyên. Tôi tạm biệt Hoà Thắng với nhiều lưu luyến vì biết rằng không dễ để trở lại.