Thứ Tư, 25 tháng 12, 2019

KỶ NIỆM truyện ngắn của BÍCH THIÊM - CHƯ YANG SIN SỐ 328 THÁNG 12 NĂM 2019

              

Thời tiết năm nay thật lạ. Đã cuối năm rồi mà vẫn còn mưa rào. Thậm chí có nơi còn bị lũ quét. Có ai ngờ rằng miền sơn cước mà lại bị lũ lụt...Thiên nhiên thật đúng như một cô nàng đỏng đảnh, chẳng biết đâu mà chiều. Ông Thành ngồi nhìn ra con đường trắng nước mưa mà nhớ da diết thời còn dạy học. Nỗi nhớ cứ bắt ông lần ngược thời gian trở về những ngày xưa cũ của đời dạy học.
…Con đường nhựa chạy từ thị xã Lạng Sơn sang Thái nguyên đen nhánh, loáng nước mưa. Sau ngót một trăm cây số chạy quanh co giữa hai bên là núi, tới địa phận xã Bình Minh nó lượn một đường mềm mại qua cánh đồng Tô Hiệu để rồi cao dần lên ở chỗ chân dãy Păc Khuông. Trước đây, hai bên ven đường là những thửa ruộng cấy lúa một vụ, còn vụ thu đông, trời khô hanh, người ta thường lên luống đất và trồng cây thuốc lá. Những năm gần đây, người càng ngày càng đông, cuộc sống cũng no đủ hơn trước nhưng đất chẳng thể đẻ thêm. Vậy nên dân tình mới tràn ra đây làm nhà. Vôi, gạch, cát, đá, xi măng chở về đổ đống hai bên đường. Lâu dần, con đường giống như một cái xương sống mà hai bên rìa là những ngôi nhà lô nhô đủ các kiểu dáng, màu sắc. Đều đặn mỗi ngày hai lần, chuyến xe khách liên tỉnh tới đây thì dừng lại để nhà xe và hành khách dùng bữa. Điều đó làm cho cảnh sắc nơi đây dần có vẻ sầm uất, nhộn nhịp hơn.
Trưa hôm ấy, trái với lệ thường, chuyến xe khách chỉ dừng chừng vài phút đủ để cho hai người khách xuống là chạy ngay. Có lẽ tại trời mưa to. Hai người khách tạt vào một cái quán bên ven đường. Bỏ cái áo mưa lùng bùng ra, người đàn ông cỡ chừng 50 tuổi, tóc xoăn đã điểm bạc, mắt mang kính, ông gọi to:
 - Bác chủ ơi! Cho hai chén rượu nào!
Người khách thứ hai cũng là một người đàn ông cỡ chừng tuổi đó, dáng thấp đậm. Ông giũ cái áo mưa rồi treo lên cột quán. Ngồi xuống cái ghế dài, ông hít hà:
 - Phải đấy! Mưa gió thế này phải có một chén mới ấm người lên được. Bà chủ quán tóc bạc phơ, khuôn mặt tròn phúc hậu bưng đến hai chén rượu, thứ chén bây giờ ít dùng vì trông nó thô (tựa như trái hồng đít vuông). Bà chậm rãi đặt xuống trước mặt hai ông và thủng thỉnh:
 - Hình như hai bác ở xa đến đây. Các bác về nhà ai thế?
Người khách vào đầu tiên đang lấy tay lau mắt kính bị ướt nước, nghe bà hỏi vội ngẩng lên:
 - Chúng con đến nhà cụ Ké...
Ông kia cắt ngang:
 - Ông nói vậy bà chủ không biết đâu. Ông quên là chỉ có bọn mình mới gọi cụ Ké thôi sao. Bà ơi! Chúng con đến nhà cụ Phúc. Không biết ông cụ có còn không ạ?
 - À! Cụ Phúc ở Khau Ngàm phải không? Thế các bác là thế nào với ông cụ?
 - Dạ, chúng con là giáo viên hồi năm tám mươi đã dạy Trường Bổ túc cán bộ cùng cô Vân ạ!
 - Chả trách tôi thấy các bác có nét gì quen quen... Bà lau lau chiếc bàn, đậm đà câu chuyện - Nhà cụ Phúc thật lận đận. Có mỗi một cô con gái, có nghề nghiệp lại xinh gái, thế mà mãi tận tháng chạp năm ngoái cũng giấc này đây mới lấy chồng. Cưới xong, anh chồng lại bắt về quê ở Na rì Thái nguyên luôn.
 - Thế cụ Phúc...
 - Ông cụ cũng đi theo con gái. Nghe nói có một cô cháu gái xinh lắm!
Có mấy người khách vào quán. Bà chủ vội chạy ra rót nước, đưa thuốc cho họ. Hai người đàn ông ngồi lại, nhấp một ngụm rượu, ông cao gầy nói khẽ:
 - Vậy là em đã lấy chồng.
Ông kia quay qua:
 - Gì cơ? À, ông nói về Vân hả? Thì ông về xuôi là về luôn, không đợi được thì em phải lấy chồng chứ sao? Ông thật tệ! Mà này,ông có nhớ ngày trước những đêm liên hoan không?
 - Sao mà quên được. Cứ cuối tuần là lại có ai về nhà mang con gà hay mớ cá suối lên. Đến đêm lại bắt đầu nấu nướng, và tất nhiên không thể thiếu cái món nước cất gạo cay nồng của quán em Hiển rồi.
 - Kể ra ngày ấy tụi mình cũng hay uống...
 - Thì ông bảo còn biết làm gì nữa? Điện thì không có, trời thì lạnh. Bốn phía là núi bao vây. Cả trường có mấy chục con người cả thầy lẫn trò. Không uống mới là chuyện lạ. Công nhận ngày ấy cực nhưng mà vui, ông nhỉ? Tôi còn nhớ, ngày thì thầy trò lên lớp buổi sáng, chiều lại đi rừng, lấy củi hay trồng rau, trồng thuốc lá...
 - Còn nhớ có lần bé Mơ cứ đòi "để em uống say một lần cho biết cái cảm giác say nó như thế nào". Những lần uống cùng học viên thì không dám vì sợ mang tiếng, đến lần có mấy anh em mình liên hoan trước khi về Tết cũng không dám uống. Mãi về sau em mới thổ lộ là em sợ say rượu rồi khóc như mấy chị học viên.
Mưa đã ngớt. Bầu trời sáng dần, vài tia nắng lóe lên. Phảng phất làn hơi nước từ những vũng nước nhỏ đọng trên mặt đường bốc lên. Trả tiền cho bà chủ quán xong, hai ông khách xách cặp đi dọc con đường theo hướng về thị trấn.
Tới chỗ ngã ba, có một cây cầu xây bắc ngang qua suối, hai ông phân vân:
 - Ái chà, có cầu xây rồi này! Ngày trước chỉ là cái cầu bắc bằng những mảnh ván ghép lại, đi cứ cập cà cập kênh.
 - Vậy nên ông mới có dịp thể hiện vai trò hiệp sĩ khi dắt tay Vân đi qua cầu hồi mưa lũ năm tám tư ấy...
Ông mắt kính trầm ngâm. Dòng suối chảy hiền lành bây giờ ngày ấy sao thật hung dữ. Nước chảy cuồn cuộn, réo ào ào. những cây gỗ, củi, rều rác... lừng lững từng bè trôi bên dưới. Vân với khuôn mặt tái mét, cứ đứng run lẩy bẩy, không dám đi qua. Cô hay có bệnh chóng mặt. Còn ông, khi ấy là anh giáo trẻ, đã một tay dắt Vân, trên vai khoác bao gạo mới đong ở kho lương thực về thận trọng dò từng bước trên những tấm ván chẳng còn mới mẻ gì, lòng thầm cầu mong đừng có chuyện gì không may xảy ra. Hai người vừa bước qua, một cơn lũ lớn cuốn ào cây cầu gỗ. Ông đứng sững, thở dồn dập. Còn Vân, cô gục vào vai ông khóc nức nở vì sợ hãi.
 - Thôi nào! Tỉnh mộng chưa ông? Đi thôi không có trời lại mưa nữa thì chết!
Hai người đi dọc theo con đường rải đá dăm song song với con suối. Phía này nhà cửa có vẻ thưa hơn. Tới một đoạn chỗ có một cái đập nhỏ ai đó đắp lên. Ông thấp đậm bảo bạn:
 - Ông có nhớ ngày trước ở đây có cái gì không?
 - Có cái cối giã gạo. Lúc mới lên ông với tôi đã chả suốt ngày lạ một điều là không ai xúc trộm gạo còn gì nữa. Mà cũng có lần tụi mình phải giã nhờ ở đây rồi đấy thôi.
 - Ừ! Ngày ấy thật cực. Lương thì chậm, lắm khi trả bằng thóc. Phải mất công xay giã giần sàng mới có gạo ăn.
 - Còn nhớ Mơ không biết giần gạo. Cứ gạo trấu lẫn lộn. May mà Vân đến chơi rồi làm giúp...
 - Công nhận Vân giần khéo. Tay em quay đều, những hạt thóc tụm ở giữa như đồng xu vậy.
 - Nhưng mà cũng vui. Mỗi lần đi xay gạo, tụi mình chỉ giã xong là ngồi uống nước với cụ Ké, các em giần xong phụ giúp quét dọn tinh tươm rồi mới về. Mà cái anh nước chè xuân của cụ mới đặc biệt làm sao. Thơm ngát, uống xong cứ thấy ngọt mãi ở trong miệng. Ông nhớ lần, chè vừa pha xong, mùi thơm bay ra tận sân, em Mơ cầm lòng không đậu nên xin cho một chén, uống xong thấy ngọt, lại uống nữa nên bị say chè không?
 - Ừ! Cô bé ấy bây giờ ra sao rồi không biết? Nó đúng là trẻ con, lúc nào cũng hồn nhiên.
Đã đến chân dốc. Con đường bị kẹp giữa sườn núi cao ngất nghểu và một bên đổ xuống khoảng đất bằng. Một tảng đá to cỡ chừng gian nhà nằm chềnh ềnh ngay lối rẽ xuống. Ông mắt kính lấy tay xoa lên mặt đá xám đen, trơ lì do thời gian bào mòn, lòng xúc động. Tại đây, ông - khi ấy mới hơn hai mươi tuổi - đã có rất nhiều lần hẹn hò với Vân, cô gái kém ông một tuổi có hoàn cảnh không mấy may mắn, mất mẹ ngay từ nhỏ. Cô đã sớm tạo cho mình tính tự lập, đảm đang việc nhà. Cặp môi mọng đỏ, nước da trắng hồng, mái tóc đen mượt cùng hàng mi dày, lúc nào cặp mắt của cô cũng ẩn chứa một vẻ gì buồn buồn. Cô đã làm anh xiêu lòng. Cha cô vốn quê ở Nam Định. Nạn đói năm 1945, cả gia đình chết hết. Cậu bé Phúc khi đó mới bẩy tám tuổi gì đó, trong lúc lả đi vì đói thì được một ông già người Hoa đi bán thuốc rong cưu mang, sau đó đem về đây nhận làm con nuôi. Cụ sống bằng nghề bốc thuốc giúp bà con chữa bệnh. Vân mồ côi mẹ ngay sau khi cất tiếng khóc chào đời. Cụ Phúc ở vậy nuôi cô khôn lớn. Vốn có sẵn thiện cảm với mấy thầy cô giáo dưới xuôi lên, cụ rất vui khi biết được nỗi lòng đôi trẻ. Còn Vân, cô cũng đã bị chinh phục bởi sự nhiệt thành của anh, song nhiều lúc cô vẫn thấy lo sợ nay mai anh sẽ về quê. Lo thì lo vậy, chứ mỗi lúc được gần anh, lòng cô lâng lâng hạnh phúc. Mọi người trong trường, ai cũng nghĩ họ là một đôi rất đẹp, và ai cũng thầm mong cho họ lấy nhau. Ấy thế nhưng Tạo hoá hình như hay bỡn cợt với người hiền. Ít nhất là với Vân. Mà thực ra cũng chẳng phải tại cô. Yêu nhau được chừng gần hai năm thì có một đợt tập huấn ở mãi trong một tỉnh miền Trung, Vân được cử đi học. Khi về, có ai đó xấu bụng đã tung ra cái tin là cô đã ngã lòng với một anh chàng con ông giám đốc một nhà máy lớn của tỉnh. Họ còn thêu dệt những điều ghê gớm hơn nữa. Mọi người nhìn Vân bằng con mắt nghi ngại. Còn Thành, anh giáo trẻ thì nửa tin nửa ngờ. Yêu nhau đã ngần ấy thời gian, anh và Vân vẫn giữ khoảng cách. Thoạt tiên anh không tin những gì mọi người kể. Chết một nỗi là về sau anh chàng kia tìm đến Vân thật. Anh ta người cao lêu đêu, da trắng xanh, môi mỏng, hai con mắt nhọn và hẹp thường đảo rất nhanh khi nhìn người khác. Anh ta tự giới thiệu về mình, về "ông bô" bằng một giọng kẻ cả. Anh ta tán tỉnh Vân nhưng bị cô từ chối nên quyết tâm "không ăn được thì đạp đổ" bằng cách dựng chuyện cho mọi người nghĩ xấu về Vân. Điều đó mãi sau này mọi người mới biết, còn lúc đó, không ai kể cả Thành không tin những điều anh ta nói là thực. Vân đau khổ, khóc sưng cả mắt. Nhận thấy thái độ khác lạ của Thành, cô đã chủ động nói lời chia tay chứ không chọn cách chứng minh sự trong trắng của mình bằng cách "cho nó ngủ cùng thì nó biết ngay" như chị vợ anh Quyết đã xui. Còn Thành, anh vừa cảm thấy được giải thoát vừa cảm thấy tự khinh ghét chính mình khi không thể bảo vệ được người yêu, tình yêu của mình trước búa rìu dư luận (mặc dù anh cũng không biết cái dư luận ấy có đúng hay không). Sau đó một năm, nhân dịp mẹ giục xin về quê vì anh đã ở miền núi bảy năm, lại sẵn có người cùng làng làm ở Ty Giáo dục, Thành đã được chuyển vùng. Mỗi khi có người chuyển về miền xuôi, bao giờ trường cũng liên hoan, chúc tụng rất rôm rả. Riêng những thầy cô giáo dưới xuôi lên bao giờ cũng bần thần, xao động hàng tuần sau đó. Lần Thành chuyển vùng cũng vậy. Tất cả mọi người đều tiễn anh ra bến xe, duy chỉ có Vân là không ra (cô lấy cớ nhà có việc bận). Về quê, một thời gian sau Thành lấy vợ. Đó chính là cô bé con "ông hàng xóm" đã giúp anh chuyển vùng về quê. Là cán bộ lâu năm, lại quen biết nhiều, ông đã góp phần giúp cho đường hoạn lộ của con rể thăng tiến rất nhanh. Vợ Thành là kế toán một doanh nghiệp lớn. Hai đứa con gái thì ngoan ngoãn, học giỏi... Tưởng chừng như thế là đầy đủ lắm rồi. Nhưng một đôi khi Thành vẫn thấy thiêu thiếu một điều gì. Cho đến hôm mới đây, khi gặp lại Cường - anh bạn dạy cùng trường sau khi ông về quê cũng đã theo gia đình chuyển vào Gia Lai sinh sống. Nhìn bạn, nước da nâu bóng, ăn nói ào ào, ông thấy thèm và chợt vỡ ra một điều: Cuộc sống của ông bằng phẳng, đơn điệu,và nhạt nhẽo làm sao. Vậy nên khi nghe Cường rủ quay lại Lạng Sơn một chuyến ông đã nhận lời dù vẫn hơi ngại Mai (hay còn ngại điều gì khác ông cũng không dám nghĩ nữa). Lên đến đây rồi, biết tin Vân đã lấy chồng, ông thấy nhẹ nhõm có chen chút nuối tiếc trong lòng: "Chỉ mong sao cho em được hạnh phúc là được rồi, còn chuyện xưa, xin hãy tha lỗi cho sự ích kỉ của thằng đàn ông hèn nhát là tôi ". Ông tự thầm thì trong lòng...


Thứ Ba, 24 tháng 12, 2019

BẾN NƯỚC BUÔN TAI truyện ngắn của HỒNG CHIẾN - CHƯ YANG SIN SỐ 328 THÁNG 12 NĂM 2019






Hôm nay chủ nhật, Y Thịnh rủ Hồng, người bạn mới theo bố mẹ từ phía Bắc chuyển vào học cùng lớp về thăm buôn. Hồng kể cho lớp nghe về quê mình có sông, có cánh đồng lúa nước cò bay mỏi cánh không có chỗ dừng. Nhiều làng có những ngôi đình cổ xây cách đây cả trăm thế hệ, cây đa trồng bên cạnh đình gốc to tới mức năm người ôm không hết. Chuyện quê ở miền Bắc nhiều cái hay, cái lạ khác hẳn với quê hương người Tây Nguyên và đặc biệt là người dân tộc Ê đê.
Y Thịnh tự hào khoe người Ê đê có bến nước là thân thiết nhất, gần gũi và cũng là linh thiêng nhất, ai cũng phải kính trọng, giữ gìn, bảo vệ giống như ngôi đình làng của người Kinh nên rủ Hồng về chơi. Được bố mẹ cho phép, Hồng đạp xe đến đầu buôn đã thấy Y Thịnh đứng đợi từ lúc nào rồi. Hai đứa đi thăm bến nước. Hồng rất ngạc nhiên trước khu vực được xem là linh thiêng nhất buôn mà chỉ có thế này… Hình như đoán được suy nghĩ của Hồng, Y Thịnh chống cây xà gạc (1) xuống đất, hất mấy sợi tóc quăn tít trước trán, nói:
- Bến nước buôn mình đây!
- Ủa, chỗ này gọi là bến nước của buôn ư?
- Ừ!
Một vũng nước trông giống như vũng trâu đằm, ba phía đất cao lên thoai thoải, còn một phía đất thấp dần cho nước chảy xuôi xuống suối. Phía đối diện với dòng nước chảy, ai đó đã cắm vào trong lòng đất ba ống tre. Các ống tre được đánh thông hết mắt, vạc đi một phần tư, tạo thành máng hứng nước từ trong lòng đất chảy ra. Không biết ống tre cắm sâu bao nhiêu vào trong đất mà cả ba ống tre lúc nào cũng có dòng nước trong vắt chảy ra như ba vòi nước máy.
Hồng nhìn vũng nước, ngạc nhiên hỏi Y Thịnh – người bạn học cùng lớp bảy với mình. Y Thịnh nhìn bạn tủm cười ra vẻ đắc ý lắm.
- Hồng ngạc nhiên lắm phải không? Bến nước không phải là ngôi nhà lớn được xây dựng cầu kỳ như đình làng người Kinh mà chỉ là một vũng nước nhỏ. Nhưng để tìm ra bến nước cho buôn thì khó khăn lắm lắm…
Người bạn Ê đê thường ngày ít nói, đôi mắt thông minh màu nâu đen bao giờ cũng nhìn thẳng vào người đối diện khi trò chuyện. Đã nói luôn ngắn gọn, dễ hiểu; hình như đó là đặc trưng của người Tây Nguyên cũng như nước da ngăm ngăm đen đã ngầm giới thiệu đó là người quen với nắng gió nơi đây.
- Làm sao người ta biết chỗ này có nước trong đó mà lấy ra?
- Ồ, do Yang(2) giúp mà.
- Lạ quá, Yang của cậu giỏi thiệt.
- Đúng thế, người dân tộc mình lập buôn có nhiều ngôi nhà dài dựng gần nhau, thuận tiện giao tiếp chứ không bị ngăn cách bằng hàng rào, bức tường… vây quanh như của người Kinh. Khi có thú dữ hay kẻ thù tấn công vào một nhà, mọi người nhanh chóng tập trung lại để cứu giúp nhau rất nhanh vì không có vật cản. Người Ê đê sống hòa thuận và thân ái với nhau, có lẽ vì thế các buôn được định cư tại một điểm thích hợp. Chỉ khi nào có biến cố thiên nhiên như: thiên tai, Yang  phạt làm xảy ra nhiều điều xấu… thì họ mới di chuyển chỗ ở qua khu vực khác.
- Hay nhỉ?
Hồng ngạc nhiên thốt lên, Y Thịnh đưa tay hứng dòng nước từ lòng đất theo ống tre chảy ra vã lên mặt ra vẻ thích thú rồi nói tiếp:
-Đi tìm nơi định cư mới cho buôn là công việc của già làng. Vùng đất mới định cư cho buôn phải đáp ứng được điều kiện quan trọng nhất: Bến nước. Tìm bến nước là việc cực kỳ gian khó mà chỉ có Yang mách bảo mới thấy được.
- Yang ở đâu mà giỏi thế?
Hồng ngồi xuống một chiếc rễ cây to bằng bắp đùi bên cạnh bến nước, hỏi bạn. Y Thịnh nở nụ cười hiền hậu trả lời:
- Trước khi tìm đất dựng buôn, già làng đã cầu xin Yang chỉ đường rồi, Yang ở khắp mọi nơi và thường về trong giấc ngủ để chỉ bảo cho già làng.
- Vậy là đến trong mơ rồi!
- Gần giống thôi vì mơ không thành sự thật, còn Yang đến trong giấc ngủ chỉ thì chính xác lắm. Người già kể: Lâu, lâu lắm rồi người sống trong buôn bỗng nhiên bị bệnh lạ, tay chân ghẻ lở không đi làm được. Trời nắng mãi không mưa. Cây bắp trồng lên đến ngày thu hoạch, con chó chạy còn thấy đuôi, quả không có hạt. Bến nước của buôn tự nhiên cạn kiệt, không còn nước chảy ra nữa. Già làng ra bến nước cúng, xin Yang giúp đỡ. Đêm ấy Yang về báo cho già làng biết người trong buôn chặt phá rừng nơi đây nhiều quá nên bị trừng phạt, đuổi khỏi nơi ở cũ. Già làng xin Yang chỉ đường đi tìm vùng đất mới lập buôn. Yang bảo ngày mai nhằm hướng ngược gió mà đi, đi đến bao giờ gặp con heo trắng đang nằm ngủ thì đó chính là bến nước buôn mới. Hôm sau già làng cùng ông thầy cúng và lũ thanh niên trai tráng gùi đồ ăn, lễ vật đi tìm vùng đất mới. Họ gặp bao nhiêu tai ương như voi, hổ chặn đường; núi cao, vực sâu ngăn cản nhưng cuối cùng cũng đến được vùng đất bằng phẳng có nhiều cây lớn mọc. Đang mải miết bước đi, bỗng có tiếng chim công hót, mọi người ngạc nhiên kéo nhau tiến lại gần, thấy đôi công trắng đang tình tự bên nhau trên một mảnh đất bằng phẳng cỏ non chỉ mọc cao bằng ngón tay. Xa hơn một chút, đất thấp xuống như bị xoáy nước hút đất đi tạo nên một vùng đất thấp. Chỗ thấp nhất một con heo to như con bò rừng, bộ lông trắng bạc như ánh mây mùa hè nằm ngủ. Già làng mừng quá, quỳ xuống, kêu lên: “Con cảm ơn Yang”! Cả đoàn hơn chục người đồng thanh kêu lên như vậy làm con heo bạc giật mình, thức giấc bỏ đi. Đám người tiến lại gần, dọn sạch cây cối xung quanh rồi bày lễ cúng Yang để già làng đóng ống tre. Lạ thay, bên cạnh vách đất tưởng như khô cằn ấy chỉ đóng ống tre vào độ hai gang tay thì nước ùa ra, trong vắt, chảy đầy ống tre, tràn cả ra ngoài. Mọi người mừng lắm chia nhau, người ở lại phát cây chuẩn bị dựng nhà; người trở lại buôn cũ đón người qua ở. Từ đó buôn mới được đặt tên buôn Tai(3) và ở cho đến ngày nay.
- Hay quá nhỉ, thế Yang là đàn ông hay đàn bà?
- Cái này th…ì… th… ì mình chưa nghe ai nói cả, bây giờ mới nghe Hồng hỏi đấy.
- Sao bến nước có cánh rừng nhiều cây to thế. Dân ở đây không chặt về làm nhà và lấy củi đun à?
- Không được chặt cây ở đây đâu, buôn phạt nặng lắm. Nếu ai lỡ chặt cây nhỏ về làm củi thôi cũng bị phạt; nhẹ thì lễ cúng bằng một ché rượu, một con gà và con heo một gang(4)…, nặng phải cúng heo lớn, trâu, bò… nữa.
- Thế có người chặt trộm cây về làm nhà thì sao?
- Bị đuổi khỏi buôn luôn. Đây là luật tục phạt nặng nhất của người dân Ê đê đấy.
- Sao người buôn bạn quý một cây gỗ hơn con người vậy?
- Ai lại so sánh thế. Đây là luật tục, là quy định phải tuân theo, ai vi phạm đều bị phạt. Từ xa xưa người Ê đê đã biết rừng là người mẹ lớn, canh giữ cuộc sống bình yên cho con người; giữ nguồn nước cho bến nước. Vì thế bến nước bao giờ cũng gắn liền với cánh rừng vây quanh và không ai được chặt phá.
- Bến nước là nơi người dân lấy nước về ăn thôi mà, sao lại phải kính trọng như đình chùa của người Kinh thế?
- Đúng mà chưa đúng, bến nước không chỉ cung cấp nước cho mọi nhà trong buôn, là nơi tắm, rửa… mà còn là nơi linh thiêng để người dân đến cầu xin những điều mình mong muốn. Hàng năm buôn vẫn tổ chức lễ cúng bến nước cầu cho mưa thuận gió hòa, được mùa, mọi người sống vui, sống khỏe đấy.
Nghe Y Thịnh giảng giải, Hồng như lạc vào một thế giới khác, nhìn cánh rừng rộng mênh mông có những ngọn cây cao vút che bóng mát kín mặt đất, trên các cành to thỉnh thoảng có từng chùm hoa phong lan khoe sắc rực rỡ. Tiếng chim hót rộn ràng xen lẫn tiếng chim cu thả vào không gian tiếng gáy: cúc cù cu, cúc cù cu… như chào đón khách quý. Bỗng Y Thịnh reo lên:
- Có dâu da chín kìa, để mình hái cho Hồng nhé.
- Đâu, à mình thấy rồi. Nhưng đây là rừng của bến nước nếu hái quả có người thấy thì bị phạt đấy.
- Ha ha ha… Hái quả trong rừng không ai phạt đâu.
Nói dứt lời Y Thịnh bước nhanh vào trong rừng, ôm gốc cây leo lên cao, bứt mấy chùm quả dâu da màu đỏ rực như ớt chín. Đúng là con trai của núi rừng – Hồng thầm nghĩ: Tay chân rắn chắc, leo trèo nhanh như khỉ.
Y Thịnh đưa cho Hồng một một chùm, còn mình cầm một chùm, bóc từng quả ra nhấm nháp. Hồng ngạc nhiên hỏi:
- Ơ, trên cây nhiều quả thế sao không hái hết về cho bố mẹ ăn cùng, nhiều nữa mang ra chợ bán lấy tiền?
- Của chung cả buôn mà, mỗi người lấy một ít vừa đủ dùng thôi còn để cho người đến sau ăn nữa chứ.
À ra thế, Hồng ngạc nhiên, thầm kêu lên, mắt tròn xoe nhìn bạn như vừa khám phá thêm điều mới lạ. Y Thịnh thấy vậy ngạc nhiên hỏi:
- Trên mặt mình có gì đó lạ à?
- Không, không phải thế. Nghe bạn nói mình thấy hay lắm; giá mọi người đều sống với nhau như ở buôn bạn thì hạnh phúc lắm.
Hồng đỏ mặt như người ăn trộm bị bắt quả tang, vội chống chế. Y Thịnh bật cười, tiếng cười trong vắt như tiếng suối xa vọng đến rồi nháy mắt bảo:
- Truyền thống của người Tây Nguyên từ xưa đến nay vẫn thế đấy!
Vũng Tàu, 31/10/2019




Chú thích:
1. Xà gạc: con dao đi rẫy của người Êđê;
2. Yang: thần linh – tiếng Êđê;
3. Tai: giải thoát – tiếng Êđê;
4. Một gang: cách tính trọng lượng heo của người Êđê.

Thứ Tư, 18 tháng 12, 2019

TÓM TẮT SỬ THI “TAM XEP ĐI ĐÁNH QUỶ KLEANG NGÔ” tác giả Y MANG - CHƯ YANG SIN SỐ: 327 tháng 11 năm 2019




  

Dân tộc Xơ Đăng cư trú lâu đời nhất ở bắc Tây Nguyên, chủ yếu ở tỉnh Kon Tum và cư trú rải rác ở các tỉnh Gia Lai, Quảng Ngãi, Đắk Lắk... Cộng đồng tộc người này khá đồng nhất về ý thức tộc người, ngôn ngữ, văn hoá, tuy tồn tại ở nhiều địa phương khác nhau; gồm có 5 nhóm chính, đó là: Xơ Teang, Tơ Dră, Mơ Nâm, Ca Dong và H’lăng sống chủ yếu ở các huyện của tỉnh Kon Tum như: Dak Tô, Sa Thầy, Dak Glây, Kon Plong, Kon Rẫy và thị xã Kon Tum, huyện Dak Đoa, Đak Pơ của tỉnh Gia Lai, huyện Krông Păc, Cư M’gar tỉnh Đắk Lắk và một số huyện của tỉnh Quảng Ngãi... có dân số khoảng 180 nghìn người. Về nguồn gốc nhân chủng, có thể khẳng định rằng dân tộc Xơ Đăng thuộc nhóm ngôn ngữ Môn – Khơme, là một trong các nhóm ngôn ngữ thuộc ngữ hệ Nam Á.
Kho tàng văn hóa dân gian nhóm Xơ Đăng nói chung, rất phong phú. Trong các tác phẩm mà chúng tôi sưu tầm được của dân tộc Xơ Đăng nhánh Kon Hrễng, có sử thi “Tam Xep đi đánh quỉ Kleang Ngô” (con rồng) do các nghệ nhân kể lại. Chàng Tam Xep là một anh chàng đẹp trai, dũng cảm, có uy tín và quyền lực, biết giúp đỡ mọi người.  Chàng có em gái xinh đẹp là nàng Pia Xăng Lăng, hai anh trai Tam Chông, Tam Chiă. Làng Tam Xep là làng to lớn ở vùng cuối nguồn sông Krông Kan. Trong làng có một cây pring cổ thụ, các ngày lễ lớn dân làng thường tập trung thờ cúng, vì cây pring này thường che chở những người nghèo, những người có nhà bị dột hoặc không có nhà, đến gốc cây này để ở tạm, nên dân làng lúc nào cũng thờ cúng cây pring của họ vào các dịp lễ lớn. Chàng có nghe đồn ở làng đầu nguồn sông Krông Kan bị quỷ Kleang Ngô giết hết người trong làng, không sót một ai, cả già lẫn trẻ; heo, gà, trâu, bò cũng ăn sạch; nhà cửa bị phá hết. Trong đó có chàng Tam Têu là người yêu của em gái mình. Nàng Pia Xăng Lăng thương tiếc chàng Tam Têu nên khóc mấy ngày đêm.
Chàng Tam Xep nhìn thấy em khóc nhiều quá, thấy thương em, chàng nấu cơm, thịt gà cho em, nhưng nàng cũng không ăn nổi vì nhớ chàng Tam Têu; đã nhiều ngày nhiều đêm khóc, nước mắt đã khô, giọng đã khàn, không còn sức để ngồi, nàng nằm luôn năm ngày năm đêm. Chàng quyết định phải trừ quỉ Kleang Ngô để dân làng mình sống bình yên.
Hôm sau, Pia Xăng Lăng dậy thật sớm, nấu cơm cho anh thật nhiều, gói cơm cho anh đầy gùi để ăn đủ bảy ngày. Chàng Tam Xep cũng dậy sớm mài rựa, mài kiếm, đao, mác... Chàng ăn cơm xong, gom đủ đồ vào gùi rồi lên đường. Chàng chèo thuyền đi hướng đông, chèo ngược dòng chảy của sông Krông Kan. Chàng chèo qua bến thuyền làng nhỏ, gặp bến thuyền làng lớn, đến bến thuyền làng Hdang, qua bến thuyền làng Bu Nar. Đêm nghỉ, ngày đi, đã bảy ngày bảy đêm, chàng cứ chèo miết đến làng tù trưởng giàu có, chàng muốn nghỉ chân, chàng ghé vào, gặp một cô gái đang tắm ở bến, đó là nàng Pia Ka Nei, chàng gọi:
Này, cô nàng kia tránh chỗ cho tôi vào bến.
Nàng Pia Ka Nei chưa nghe
Tam Xep: Ơi cô nàng! Tránh chỗ cho tôi vào bến.
Nàng Pia Ka Nei vẫn chưa nghe. 
Tam Xep đến gần, cầm cây dầm đập mạnh, tát nước như mưa. Nàng Pia Ka Nei giật mình, quay đầu nhìn thấy chàng Tam Xep to cao, đẹp trai, nàng ngất xỉu nằm ở đó. Chàng thấy vậy, gọi nhiều lần nàng vẫn không dậy. Sờ người nàng, thấy tim hết đập, chàng không biết phải làm gì, chàng nghĩ mình đã giết chết người ta, phải đền sao đây. Chàng gọi:
“Ơi thần trời! Thần có mắt nhìn thấy, thần có tai nghe nói, thần có tay biết chỉ, người này ta không cố ý, xin thần giúp cho người này sống lại” .
Chàng nghe tiếng ở trên trời vọng ra: “Người này là của làng ta, dẫm nắng ra tắm, trời mát ra sân, đêm ngày gió mát hiu hiu, ngủ giấc cũng thức, nằm dậy rồi đi. Con hãy quạt lấy hơi của con đi, người này sẽ dậy thôi mà.”
Chàng chặt tre đan quạt. Chàng quạt một hồi vẫn chưa thấy nhúc nhích gì, chàng quạt tiếp nữa, quạt thật mạnh. Một lúc sau, nàng Pia Ka Nei tỉnh dậy, nhìn thấy chàng, mắc cỡ vì mình đang trần truồng, nàng chạy một mạch về làng, không quay đầu lại, chàng gọi không dừng. Về làng báo cho tù trưởng. Tù trưởng mời nàng vào nhà và hỏi: Sao, có chuyện gì nói tôi nghe.
Nàng Pia Ka Nei: Tôi đang tắm ở bến làng mình, tình cờ gặp một anh chàng đẹp trai to cao, tôi sợ quá bỏ chạy về báo cho ông. Tù trưởng nhà giàu biết đó là Tam Xep. Người nào đến được làng này thì người đó có sức khỏe phi thường. Nhà tù trưởng có hai con trai lớn là Tam Phu và Tam Ket. Tù trưởng kêu gọi tất cả các chàng trai, cô gái tập trung tại nhà rông: Làng ta chuẩn bị đón khách quý từ phương trời xa xôi. Các chàng trai xôn xao nghe nói Tam Xep nổi tiếng, có sức mạnh phi thường. Các cô gái nghe nói chàng này còn đẹp trai, to cao, chưa yêu ai, các cô lục đục sửa soạn, chọn bộ áo, váy thật đẹp để xem chàng Tam Xep đẹp cỡ nào.
Tù trưởng nhà giàu lệnh cho Tam Ket xuống đón Tam Xep, Tam Ket đi ngay tức thì, không suy nghĩ gì. Chạy đến nơi, thấy Tam Xep, anh run sợ hoảng hốt, chưa kịp hỏi đã ngất xỉu luôn tại đó. Tam Xep gọi dậy nhiều lần vẫn nằm im, sờ người anh này thấy tim hết đập, chàng không biết phải làm gì, chàng nghĩ mình giết chết con người ta, phải đền sao đây? Chàng lại gọi thần trời giúp. Thần trời lại mách như trước. Chàng quạt một hồi vẫn chưa thấy nhúc nhích gì, chàng quạt tiếp nữa, quạt thật mạnh, một lúc sau, Tam Ket tỉnh dậy nhìn thấy Tam Xep, sợ run rẩy, không há được miệng, chàng chạy một mạch về làng, không quay đầu lại.
Tù trưởng điều Tam Phu xuống đón, chàng Tam Phu lên ngựa vừa đi vừa suy nghĩ, vừa sợ, chàng cứ lẩm bẩm nói: “Ơi bum, ơi bum (tức người lạ) từ đâu tới… anh đẹp thế nào, anh to khỏe cỡ nào…”. Tam Phu đến nơi, thấy Tam Xep người phong độ, to cao, đẹp trai, có giật mình nhưng không bị xỉu như mấy người kia, chàng nói: “Ơi chàng Tam Xép ơi! Đường làng ta đã dọn sạch sẽ, nệm đã trải cho nhẹ chân, cơm đã chín, rượu đã buộc vào cột nhà rông, cha tôi mời chàng vào làng, xin chàng lên ngựa.”
Tam Xep lên ngựa đến tới cổng làng, nhìn đường sạch, trải nệm thẳng tới nhà rông. Chàng vào làng, người chàng đóng khố màu sặc sỡ, đầu cuốn khăn trắng, đỏ, hai bên hông đeo kiếm, đao với tiếng vó ngựa cọc cọc cọc... Con heo, gà chạy tán loạn, tiếng chim kêu sợ như mưa to gió lớn; các cô gái đang giã gạo thấy chàng Tam Xep, vội vứt chày bỏ chạy vào nhà. Tù trưởng mời chàng vào nhà rông, uống nước, hút thuốc. Ông hỏi: Chàng đến đây có chuyện gì?
Tam Xep: Tôi đến đây chẳng có chuyện gì xấu, điều gì tốt, tôi đến chơi và thăm một người bạn thân lâu không gặp.
Tù trưởng hỏi: Chàng đi đường đều gặp chuyện tốt chứ?
Tam Xep: Tôi đến đây không có chuyện gì xảy ra, tôi cảm ơn ông đã tiếp đón chu đáo quá, mai mốt có dịp ghế thăm làng tôi. Làng tôi không có gì, ông đến để biết làng, biết nhà thôi ạ. 
Lúc này, các cô gái trong làng tập trung đông đúc quanh nhà rông, không ai dám xuất hiện trước mặt chàng, họ đứng ngoài rình, nhìn qua lỗ phên nhà rông, họ giành nhau, đè đạp lên nhau chí chóe, còn nàng Pia Ka Nei chưa kịp thay váy áo, quơ được tấm chăn liền cuốn che người chạy đến xem. Nàng chạy chỗ này bị người ta hất đi, nàng chạy chỗ kia cũng bị người ta hất đi chỗ khác. Họ bu vào nhau như heo con giành bú... Nàng chạy về thay bộ áo váy mới rồi nàng đứng ở giữa hiên nhà rông, giả vờ sửa áo váy, chải tóc. Chàng Tam Xep nhìn thấy, mời nàng vào trong ngồi gần chàng, các cô gái khác ghen tỵ, nói xấu nàng Pia Ka Nei.
Tù trưởng đánh trống, kêu gọi dân làng giết trâu, đốt heo, đem cơm, bê rượu tiếp khách quý, mọi người thịt trâu, bò đem cơm, rượu... họ cùng chung vui. Rượu đã thấm, mọi người kéo nhau hát giao duyên, múa xoang theo nhịp chiêng, cuộc vui suốt đêm.
Hôm sau, tù trưởng ngồi nói chuyện với chàng, Tam Xep hỏi: Ông có biết làng bị Kleang Ngô tàn phá, ăn hết heo, trâu, bò của dân làng và giết chết sạch, không còn ai sống sót. Tù trưởng nghe chàng hỏi, ông suy nghĩ một chập rồi hỏi lại: Thế chàng sẽ làm gì? Tam Xep: Tôi đến đó giết chết quỉ Kleang Ngô cứu dân làng. Tù trưởng nghe càng thấy sợ. Một người như chàng dám đọ sức với con quái vật khổng lồ, có sức mạnh gấp cả trăm lần sức con người, bao nhiêu người đã không đánh nổi, ông nói: Phải đi hết ba ngày ba đêm tới đó, thế chàng định đi một mình hả? Chàng không đánh nổi con quái vật hung dữ kia đâu, thôi chàng về đi. Tam Xep: Tôi phải đi trừ Kleang Ngô để cứu dân làng.
Mọi người nghe vậy ai cũng thấy run sợ, một mình chàng mà dám giết một con vật khổng lồ ăn thịt người. Sợ chàng chết, can ngăn không cho chàng đi, họ bảo: Chàng không đánh nổi con quái vật kia đâu, chàng sẽ chết đó. Tù trưởng: Ơi tất cả các chàng trai khỏe mạnh, tay dài, chân to, ai có thể đi cùng chàng Tam Xep giết con quái vật kia, để cứu dân làng ta. Mọi người ai cũng xôn xao chỉ người này, chỉ người kia. Tam Ket và Tam Phu đứng lên: Cha ơi cha! Cho con đi cùng. Ông tù trưởng không muốn mất con bèn nói: Hai bọn mày vác một bó tranh khô đã kêu mệt; con kiến nhỏ cắn cũng kêu ca, nằm liệt hết một mùa trăng thì làm được cái gì, giúp dân làng được cái gì, thôi ở nhà.
Chàng xin phép mọi người, xuống bến thuyền lên đường. Chàng chèo lên qua ba bến thuyền hết ba ngày ba đêm thì đến làng không một bóng người, cũng chẳng nghe tiếng gà gáy, heo kêu. Chàng vào trong làng thấy một ngôi nhà to, chàng vào trong thấy một tẩu thuốc trên giàn bếp, chàng nhìn rồi quay ra. Nghe thấy tiếng tẩu thuốc rớt, chàng quay lại nhặt lên đặt lại chỗ cũ. Chàng vừa quay đi lại nghe thấy rớt nữa, chàng nhặt lên, mở nắp ra thì thấy một cô nàng xinh đẹp, Nàng bảo chàng: Ơi anh chàng đẹp trai, anh hãy ra khỏi đây mau. Tam Xep gọi nàng ra khỏi tẩu thuốc để hỏi chuyện. Nàng kể: Em là Pia Tuih Năng, con của tù trưởng làng này, làng em không phải bị giặc cướp phá mà là bị tàn hại bởi con quái vật khổng lồ Kleang Ngô. Nó ăn thịt cả làng. Bữa nó ăn thịt hết người làng của em, em trốn một mình vì không biết đi đâu nữa, bèn núp trong tẩu thuốc. Làng em lớn bằng này thế mà nó ăn hết sạch. Tam Xep: Vậy thì tôi phải trừ bằng được con quái vật này. Em có biết nó ở đâu không? Pia Tuih Năng: Làng của nó ở núi cao kia, núi ở gần mặt trời mọc. Tam Xep: Tôi muốn giết nó, tôi phải lên đó mới được. Pia Tuih Năng: Anh không cần đến đó, nó nghe có người trong làng là nó đến ngay thôi. Tam Xep: Thế phải làm thế nào? Pia Tuih Năng: Anh nhóm lửa, khói bay lên trời và nghe tiếng chày gõ cối để giã gạo là nó đến. Tam Xep thúc giục nàng: Hãy nấu cơm cho tôi ăn tôi sẽ giết chết Kleang Ngô. Nàng Pia Tuih Năng càng run sợ, run đến nỗi lung lay cả sàn nhà, hồi lâu nàng mới nói nên lời: Chàng không đánh nổi con quái vật kia đâu, chàng sẽ chết đó, chàng hãy nghe em mà đi khỏi nơi đây đi. Tam Xep quyết giết bằng được.
Hai người ăn cơm xong, nàng nhóm lửa cho khói bay lên trời, rồi nàng vừa khóc vừa chạy trốn, tìm chỗ núp. Nàng chui vào tẩu thuốc, chẳng dám khóc thành tiếng và cũng chẳng dám hé môi ngăn cản chàng nữa. Tam Xep lôi cối, chày giã gạo ra hiên nhà gõ kêu rầm rầm, tiếng vang khắp núi rừng, đến tai của Kleang Ngô.
Kleang Ngô không ngủ được, đứng dậy nhìn thấy khói bay lên tối mù mịt khắp vùng, nó nghĩ: Thằng nào mà to gan, tay dài, chân khỏe mà dám trêu chọc ta, xuống xem thử. Nó bay nghe tiếng u tai rợp trời, vừa bay vừa thét những tiếng rùng rợn. Nó sà xuống nhìn mái nhà có khói, có tiếng gõ cối chày giã gạo. Nó đậu xuống cây jêi trong làng. Đậu cành nhỏ, cành  nhỏ gãy; đậu cành lớn, cành lớn oằn xuống dưới sức nặng của Kleang Ngô. Nó bay lướt quanh ngay trước mặt chàng trong tiếng la rền rống thúc giục, chọc tức chàng, mà chàng không hề hoảng sợ gì cả. Tam Xep đứng ngoài hiên nhà và gọi: Này, lão Kleang Ngô kia, hãy xuống đây nói chuyện với ta, uống nước, hút thuốc với ta, hai ta đua nhau hút thuốc phun khói bay cao lên trời.
Kleang Ngô bay quanh ngay mặt chàng, vừa nhìn chàng và nói: Ơi thằng con người nhỏ bé kia, mày không xứng đọ sức với ta, về nhà bú sữa mẹ đi, kẻo tan nát xương mày đấy.
Tam Xep: Lão hãy xuống đây nói chuyện, uống nước, hút thuốc với ta.
Kleang Ngô: Ta đâu có nợ máu nhà mày, ta đâu có mượn của cải nhà mày, mà mày muốn trả thù ta.
Tam Xep: Làng lớn bằng này, mày đã ăn thịt người trong làng hết sạch, mày còn ăn hết heo, trâu bò của dân làng nữa, ta phải trả thù.
Kleang Ngô nghe vậy lập tức xuống hiên nhà đứng đối diện chàng, lão nhìn chàng chăm chăm, chàng liếc liếc nhìn lão. Tam Xep làm kìm hãm sự tức giận của lão, chàng nói: Hai ta đua nhau hút thuốc, phun khói bay lên trời.
Kleang Ngô đưa ra điều kiện: Nếu ta thắng, nàng Pia Tuih Năng là của ta, còn mày phải làm nô lệ cho ta.
Tam Xép không hề hoảng sợ, trả lời: Được, nếu ta thua, mày sẽ được nàng Pia Tuih Năng, và ta sẽ làm nô lệ cho nhà mày; nếu ta thắng, ta sẽ trói mày ở gốc cây jêi kia, cho dân làng xé thịt mày.
Kleang Ngô hít một hơi, phun khói, vỗ cánh, khói bay khắp núi rừng. Tam Xep quạt một luồng gió mạnh làm tan hết khói của lão, Kleang Ngô tức giận, không chờ đến lượt của Tam Xep, lão rền rống vỗ cánh lấy đà như sấm sét bay thẳng vào người chàng, chàng tránh được. Lão phun ra lửa, ra khói tối um, các loài vật trong rừng chạy tán loạn, chàng quạt một cái tan hết. Lão phun một luồng khói lớn hơn rồi bay theo, đậu lên cành cây jêi giữa làng, làm cây jêi nghiêng hướng đông bảy lần, ngả bên tây bảy lần. Cây nghiêng ngả làm động hết rễ cái rễ con, khiến lá trên cành khô hết nhựa rụng sạch.
Kleang Ngô gọi: Này thằng con người gan nhỏ chưa bằng một con kiến, hãy mau ra đây đọ sức với ta.
Tam Xep trả lời: Mày cứ chờ đó, ta uống nước, hút thuốc xong đã.
Kleang Ngô la ó thách thức, thúc giục. Chàng uống nước, hút thuốc xong và nói: Này, lão hung ác kia, ta chưa hề gây chuyện gẫy xương đổ máu với ai, vậy mà mày đã ăn thịt hết người dân làng. Mày còn ăn thịt Tam Têu là người yêu của em gái ta. Mày to gan thật, hãy vào đây. Ta không cho mày sống, ta giết mày có sự chứng kiến của dân làng.
Kleang Ngô gầm thét thúc giục, khiêu khích. Lão bỗng bay cao, xuống thấp, làm bao nhiêu cây lớn nhỏ quanh đó đều run rẩy ngả nghiêng rụng sạch lá. Lão vỗ cánh bay cao lên trời, chàng Tam Xep cầm kiếm, đao đuổi theo. Hai người đánh nhau trên cao, tiếng kiếm, đao chạm vào nhau toé lửa, sấm sét, tạo mưa gió lớn, bão to, làm nước sông dâng cao, lũ lụt khắp vùng; các loài vật chạy trốn hết trong rừng, sợ rung cả rừng; núi to, đá lớn trôi ầm ầm xuống sông lớn. Kleang Ngô vỗ cánh, đập mạnh tạo bụi khói lớn bay mù mịt, tối hẳn một góc trời. Kiếm, đao của Tam Xep chém mãi cũng phải cùn thì Pia Tuih Năng mài chuốt lại đưa cho chàng. Cứ như vậy, hai bên đánh nhau từ sáng tới trưa, từ trưa đến tối, hết bảy ngày bảy đêm.
Tam Xep chặt cánh phải ba phát, kiếm bị cùn; chặt cánh trái ba phát, kiếm bị mẻ. Pia Tuih Năng mài lại, chuốt lại ném cho chàng. Với sức mạnh phi thường, chàng chém một phát cánh phải, lông Kleang Ngô rụng rơi lả tả như mưa, làm giảm sức mạnh của lão.
Tam Xep nói: Này lão kia, hãy cúi nhìn xem nàng Pia Tuih Năng đang nằm trước hiên nhà rông xem ta đánh nhau. Lão không nhìn mà nói: Mày không lừa được tao đâu.
 Tam Xep nói tiếp: Ơi xem kìa, nàng Pia Tuih Năng đang tắm trần truồng, hai cặp vú căng như sợ dây chỉ... Nói chưa hết thì lão đã cúi xuống, chàng chém đứt cánh trái. Lão đã đuối sức, đành chịu thua chàng.
Lúc này, Tam Phu, Tam Ket đã đến giúp chàng, cùng dân làng kéo nhau đến xem. Pia Tuih Năng muốn giết ngay Kleang Ngô để trả thù cho dân làng và cha mẹ, anh em trong nhà nhưng bị chàng cản lại. Tam Phu, Tam Ket bắt đầu dùng gậy, hai anh đua nhau đánh hai trận, ba trận… Đánh đến mười trận, Kleang Ngô vẫn chưa chết, hai anh đòi đánh tiếp thì bị chàng Tam Xep cản lại. Tam Xep bảo nàng Pia Tuih Năng tìm sợi dây da trâu của cha nàng xưa thường dùng buộc voi đưa cho chàng. Mỗi người một tay giúp chàng trói Kleang Ngô vào gốc cây jêi.
Nàng Pia Tuih Năng đòi đền nợ. Kleang Ngô không chịu hé môi một lời nào. Tam Phu, Tam Ket dọa: Mày không chịu đền nợ trả lại dân làng và chàng Tam Têu thì chúng tao sẽ treo cổ mày đến chết. Hai chàng vắt sợi dây thả thòng lọng qua cành cây jêi rút mạnh, Kleang Ngô bị treo cổ lủng lẳng. Hai chàng kéo lên thả xuống ba lần, Kleang ngô mới chịu nói: Trái tim của dân làng đều còn nằm nguyên trong trong bụng tôi, còn Tam Têu nằm sau cùng, các người muốn làm thế nào mà lấy được của ai thì người đó sống lại, tùy các người.
Thấy Kleang Ngô vẫn ngoan cố chưa sợ, Tam Xep, Tam Phu, Tam Ket, nàng Pia Tuih Năng thay phiên nhau đánh, cả dân làng kéo nhau ùa đánh theo, rút dây treo cổ Kleang Ngô lên cành cây jêi cho tới lúc Kleang Ngô không thể chịu nổi được nữa. Cứ sau một lần rút dây treo cổ nó lên và đánh nó một gậy, nó lại nhả ra một trái tim và trái tim đó hiện thành người sống. Cả Tam Geng, cha mẹ nàng Pia Tuih Năng đều sống lại.
Kleang ngô nói: Tôi đã nhả ra hết rồi, tất cả trái tim dân làng đều sống lại, các người hãy tha cho tôi chứ.
Tam Xep: Còn một người nữa, còn chàng Tam Têu nữa, mày có nhả ra không? Tam Phu và Tam Ket đòi đánh, lão nói: Trong bụng tôi không còn người nào nữa, Tam têu đã chết rồi. Lão cố tình không nhả ra Tam Têu. Tam Xep rút kiếm bên hông đòi mổ bụng, lão nói: Khoan, khoan đã, tôi nhả ra. Sau cùng Tam Têu cũng sống lại. Dân làng hô hào kéo nhau xúm quanh, mỗi người đánh chưa đầy một cái, Kleang Ngô đã xụn xương, chết tại chỗ.
Sau đó, dân làng hớn hở bê rượu, thịt bò, đâm trâu, chúc sức khỏe chàng Tam Xep, cảm ơn chàng đã cứu dân làng, còn cha mẹ nàng Pia Tuih Năng xin cưới luôn nàng cho chàng Tam Xep. Mọi người cùng chung vui lễ cưới của hai người. Tam Têu cầm cần rượu và ăn thịt chúc mừng hai người, lần lượt đến Tam Phu, Tam Ket và cả dân làng chúc mừng đám cưới của chàng Tam Xep và nàng Pia Tuih Năng.
Từ đó, họ sống chung trong một làng và làm ăn ngày càng thêm nhiều của cải khiến khách từ mọi nơi, từ làng phía đông, phía tây qua lại ghé thăm nhà chàng đều phải khen chàng, phục chàng.
Vợ chồng Tam Xep và vợ chồng Tam Têu sống hạnh phúc, hết lòng thương yêu và giúp đỡ lẫn nhau.