Thứ Hai, 25 tháng 5, 2020

VĂN HỌC ĐẮK LẮK VỚI BẠN ĐỌC Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY tác giả LÊ THÀNH VĂN - CHƯ YANG SIN SỐ 333 THÁNG 5 NĂM 2020



 Tham luận của LÊ THÀNH VĂN


Văn học địa phương là tài sản tinh thần quý báu của mỗi tỉnh, thành phố trong sự tồn tại có tính độc lập của nó; mang những đặc trưng riêng của từng vùng miền với những dấu ấn không trộn lẫn, làm nên vẻ đẹp độc đáo, khu biệt. Văn học Đắk Lắk nằm trong tổng thể của nền văn học dân tộc, hình thành và phát triển qua nhiều thời kỳ khác nhau và đến nay cơ bản đã ổn định về nhiều mặt. Đó là khu vườn lộng lẫy sắc hương cần được nâng niu, chăm sóc mỗi ngày. Vì vậy, muốn khu vườn văn chương kia càng được mở rộng, đa dạng và khởi sắc hơn không thể thiếu bàn tay cần mẫn của người làm vườn và cả sự yêu quý của người thưởng ngoạn. Điều tôi muốn trình bày trong tham luận này là mối quan hệ giữa Văn học Đắk Lắk với bạn đọc ở nhà trường phổ thông trên địa bàn tỉnh trong giai đoạn hiện nay - lớp người đọc được xem là tiêu biểu và tinh túy nhất, có khả năng khám phá, phát hiện và đồng sáng tạo, từ đó góp phần giúp cho các tác giả văn học ở tỉnh Đắk Lắk có thêm những sáng tác hay hơn phục vụ bạn đọc được lâu dài và bền vững.
Chi hội Văn học Đắk Lắk hiện nay có trên 60 hội viên, chưa kể một số hội viên chuyên ngành văn học ở các Chi hội huyện Krông Năng, Krông Pắk. Trong số đó, nhiều tác giả đã thành danh và có tác phẩm để lại dấu ấn sâu đậm trong lòng bạn đọc. Lớp nhà văn, nhà thơ sinh những năm 30, 40 của thế kỷ XX tuy tuổi đã cao, song sức sáng tạo vẫn khá dồi dào. Số còn lại được sinh ra từ sau cuộc kháng chiến chống Pháp 1954 vẫn còn rất sung sức, đang từng bước chiếm lĩnh văn đàn. Trong quá trình sinh hoạt và giao lưu văn học, các nhà văn, nhà thơ thật sự đồng cảm, biết chia sẻ và học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau để tạo nên tác phẩm mang dấu ấn cá nhân mình, góp phần làm nên thành tựu chung của nền văn học tỉnh Đắk Lắk. Hiện tại, Chi hội văn học Đắk Lắk có 8 tác giả là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, tác phẩm của họ không những được bạn đọc trong tỉnh mà cả nước biết đến thông qua những giải thưởng chuyên ngành có giá trị.
Chúng ta đều biết, văn học địa phương Đắk Lắk có nhiệm vụ khai thác, bổ sung và phát huy vốn hiểu biết cho học sinh trên địa bàn tỉnh về các tác giả tiêu biểu, tác phẩm hấp dẫn, phản ánh cuộc sống lao động và văn hóa tinh thần của đồng bào bản địa. Bên cạnh đó, chức năng của nó cũng góp phần làm phong phú và sáng rõ hơn chương trình chính khóa, từ đó có cái nhìn đối sánh giữa cái cụ thể và toàn thể, giữa cái riêng và cái chung, giữa tính địa phương và tính dân tộc. Trên cơ sở những hiểu biết thấu đáo ấy, các tác phẩm văn học địa phương sẽ giúp học sinh biết sống hòa nhập và gắn bó nhiều hơn với môi trường, địa phương mà bản thân mình đang sống và thụ hưởng văn hóa. Bạn đọc là học sinh và giáo viên, thông qua các tác phẩm văn học địa phương được đưa vào chương trình giảng dạy hoặc đọc trên báo chí sẽ có điều kiện nâng cao kiến thức văn học, bồi dưỡng tâm hồn và tình yêu quê hương đất nước.
Tuy nhiên, theo thống kê và sự hiểu biết của người viết tham luận này, phần văn học địa phương Đắk Lắk chỉ có ở bậc trung học cơ sở được đưa vào chương trình giảng dạy còn rất khiêm tốn, tổng cộng 17 tiết cho bốn khối lớp 6, 7, 8, 9. Bên cạnh một số tiết về văn học dân gian, giới thiệu ngôn ngữ, văn hóa, thắng cảnh trên địa bàn tỉnh, các tác giả đương đại ở Đắk Lắk được đưa vào giảng dạy trong chương trình trung học cơ sở gồm: Ở nơi hoang dã (Trích Sống giữa bầy voi của Vũ Hùng - tác giả sống ở Kon Tum), Mùa xuân ơi, tới đi! của Linh Nga Niê K’dăm, Bác Hồ với Tây Nguyên của Y Ngông Niê K’dăm. Mảng thơ hầu như khuyết thiếu, trong khi đó tôi nhận thấy rằng thơ ca Đắk Lắk là thể loại có phần nổi trội với nhiều tác giả tên tuổi như Hữu Chỉnh, Phạm Doanh, Đặng Bá Tiến, Văn Thảnh, Bùi Minh Vũ,  Lê Vĩnh Tài… Đặc biệt, hai tác phẩm thơ phản ánh vẻ đẹp cuộc sống và con người Đắk Lắk đạt giải thưởng gần đây rất đáng lưu tâm, đó là Trường ca Rừng cổ tích của Đặng Bá Tiến và Màu thổ cẩm của Bùi Minh Vũ. Tới đây, trong quá trình đổi mới sách giáo khoa, đổi mới quá trình giảng dạy văn học ở nhà trường phổ thông, các nhà nghiên cứu văn học, biên soạn sách giáo khoa, chương trình dạy - học văn học địa phương Đắk Lắk cần bổ sung thêm các tác phẩm ưu tú khác, nhất là những tác phẩm thơ phản ánh vẻ đẹp về vùng đất Tây Nguyên cũng như những nét văn hóa mang đậm dấu ấn địa phương của tỉnh Đắk Lắk.
Ngoài chương trình dạy - học văn học địa phương Đắk Lắk với 17 tiết còn quá ít, nhịp cầu nối giữa các tác giả văn học tỉnh nhà và độc giả ở nhà trường phổ thông chủ yếu thông qua Tạp chí Cư Yang Sin - Tạp chí sáng tác, nghiên cứu phê bình văn học nghệ thuật của Hội Văn học – Nghệ thuật Đắk Lắk xuất bản hằng tháng. Phải nói rằng, Tạp chí Cư Yang Sin những năm gần đây là một trong không nhiều tạp chí có chất lượng về nội dung và nghệ thuật trình bày rất trang nhã, bắt mắt. Đều đặn hàng tháng, Cư Yang Sin ra mắt bạn đọc với số lượng 500 bản in. Tạp chí đã tập hợp đội ngũ các nhà văn, nhà thơ, nhà nghiên cứu phê bình văn học nghệ thuật trên toàn tỉnh và khắp cả nước để có những trang viết sinh động, hấp dẫn nhất đến tay người đọc. Tạp chí trở thành “con mắt” của Hội Văn học - Nghệ thuật Đắk Lắk, góp phần làm cho khu vườn sáng tạo của tỉnh nhà ngày một thêm khởi sắc. Trong đó, mảng văn học chiếm số lượng lớn nhất, phản ảnh những tư tưởng, tình cảm của gần 70 hội viên chuyên ngành văn học hiện nay. Tuy nhiên, là một giáo viên đang giảng dạy môn Ngữ văn, tôi nhận thấy rằng, tác phẩm của đội ngũ sáng tác văn học trên địa bàn tỉnh vẫn còn quá xa lạ với bạn đọc ở nhà trường phổ thông. Hiện nay, ngoài hai tác giả được giới thiệu, giảng dạy bắt buộc trong chương trình, phần lớn số nhà văn, nhà thơ còn lại hầu như đội ngũ giáo viên và học sinh không biết đến. Riêng Tạp chí Cư Yang Sin lại chưa đến được với nhà trường phổ thông trên địa bàn tỉnh. Vì vậy, khoảng cách giữa các tác giả, tác phẩm văn học Đắk Lắk với người đọc được xem là thành phần ưu tú nhất này ngày càng xa hơn, không dễ gì ngày một ngày hai được kết nối và đồng sáng tạo trong qua trình tiếp nhận văn học.
Tôi nghĩ, một nhà văn, nhà thơ, nhà nghiên cứu - phê bình văn học được bạn đọc biết đến phải bắt đầu từ chính tác phẩm của họ đăng trên một diễn đàn nhất định. Không biết rằng, các tác giả văn học Đắk Lắk có khi nào đặt câu hỏi rằng: Có độc giả nào là giáo viên, học sinh đã đọc tác phẩm của mình chưa? Họ đánh giá như thế nào về tác phẩm đó? Bởi lẽ, vị trí nhà văn là chỗ đứng của họ trong lòng bạn đọc. Cha ông ta có câu ca dao vui về sứ mệnh và vai trò của con trẻ: “Sinh con rồi mới sinh cha/ Sinh cháu giữ nhà rồi mới sinh ông”. Nghe nghịch lý mà trúng và sâu sắc lắm. Không có đứa con ra đời, người đàn ông kia chẳng có ai gọi cha, theo đó cũng không có các chức ông, chức bà nếu không có cháu. Một nhà văn, nhà thơ cũng thế, nếu bạn đọc không “đếm xỉa” đến tác phẩm của anh, nghĩa là anh “mất trắng” độc giả, anh chỉ còn là nhà văn “tự phong”. Vì vậy, nói gì thì nói, vai trò của người đọc là cực kỳ quan trọng; không có họ, nhà văn viết ra chẳng để làm gì. Đối với người đọc tinh hoa, người đọc tri âm và ưu tú ở nhà trường phổ thống lại càng khó khăn gấp bội. Điều muốn nói ở đây, chính đội ngũ giáo viên và nhiều thế hệ học sinh ở nhà trường là bạn đọc có khả năng thâm nhập tác phẩm tốt nhất, họ có khả năng khám phá tác phẩm văn chương một cách khoa học dựa trên cơ sở lý luận, nhờ đó mà có khả năng tác động trở lại, đồng sáng tạo với tác giả trong quá trình sản sinh và tiếp nhận văn bản. Đó là mối quan hệ biện chứng sâu sắc mà các nhà lý luận cơ bản đều thống nhất như một nguyên tắc của mỹ học tiếp nhận.
Trước thực tiễn vẫn có một số bất cập trong mối quan hệ giữa Văn học Đắk Lắk với bạn đọc ở nhà trường phổ thông, tôi xin đề xuất một số giải pháp cần khắc phục sau đây:
Thứ nhất, Hội Văn học - Nghệ thuật Đắk Lắk nhiệm kỳ 2020 – 2025 cần tổ chức các cuộc thi sáng tác văn học nhân các ngày lễ lớn trong năm hoặc liên quan đến ngành giáo dục. Trên cơ sở đó, Hội có thư mời tham gia dự thi đến các trường học trên địa bàn toàn tỉnh để tìm ra những tác giả mới là giáo viên, học sinh có năng khiếu văn học. Đặc biệt, hằng năm có ngày 20 tháng 11, đây là dịp chúng ta tăng trang viết dành cho nhà trường, hoặc nếu có thể mở hẳn một chuyên mục “Thiếu nhi và nhà trường” (dù hiện nay chúng ta đã có mục “Văn học với nhà trường” nhưng dung lượng còn rất khiêm tốn), kêu gọi và khích lệ thầy cô giáo, học sinh gửi bài cộng tác. Đó chính là điều kiện để bạn đọc nhà trường phổ thông gắn bó tốt hơn với văn học địa phương, bổ sung nguồn lực hội viên, góp phần trẻ hóa đội ngũ văn học cho tỉnh nhà.
Thứ hai, Lãnh đạo Hội Văn học - Nghệ thuật Đắk Lắk cần chủ động phối hợp với lãnh đạo Sở Giáo dục và Đào tạo Đắk Lắk phổ biến Tạp chí Cư Yang Sin đến tay bạn đọc ở nhà trường phổ thông. Với số lượng mạng lưới trường lớp khá đông trên địa bàn tỉnh, chỉ cần một trường đặt mua 1 đến 2 cuốn tạp chí/ tháng, chúng ta đã có thể phát hành một số lượng khá lớn tạp chí đến được tay bạn đọc ở nhà trường. Qua đó, vừa giúp cho đội ngũ giáo viên và học sinh những hiểu biết về các nhà văn, nhà thơ địa phương đương đại, đồng thời Hội cũng có thêm nguồn kinh phí để chúng ta lấy đó tổ chức giải thưởng cho các cuộc thi sáng tác văn học, đồng thời là điều kiện để hoạt động bề nổi hiệu quả hơn.
Thứ ba, trong những ngày lễ lớn, chúng ta cần có những buổi giao lưu văn học một cách luân phiên với các trường phổ thông trên địa bàn tỉnh. Tùy theo mỗi cấp học, Hội cần tổ chức cho các nhà văn, nhà thơ, nhà phê bình văn học nghệ thuật đến đặt vấn đề giao lưu, qua đó vừa tuyên truyền các ngày kỷ niệm trọng đại của đất nước như Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước 30.4; Giỗ tổ Hùng Vương 10.3 âm lịch; Chiến thắng Điện Biên Phủ 7.5; Lễ quốc khánh 2.9; Sinh nhật Bác Hồ 19.5; Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam 22.12… Từ đó, các tác giả - tác phẩm tiêu biểu của văn học Việt Nam hiện đại nói chung và văn học địa phương Đắk Lắk nói riêng có điều kiện lan tỏa trong đội ngũ giáo viên và học sinh, giúp họ dần nhận thức và tìm hiểu bước đầu, góp phần nhân lên lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc cũng như hiểu biết về văn học trên địa bàn mình đang sống.

                                                                                  Buôn Hồ, tháng 04/2020



Thứ Năm, 14 tháng 5, 2020

BÔNG BÍ VÀNG truyện ngắn LỮ HỒNG - CHƯ YANG SIN SỐ 332 THÁNG 4 NĂM 2020





Mới ban chiều còn như đổ lửa ra đường, ấy mà chập tối đã nghe lộp độp trên ngói. Mé vườn sát cửa sổ, bông bí vàng ươm như thắp nến trong vạt lá đen thẫm giữa đêm, ướt rũ vì giọt của trời. Phía trong này, trên chiếc giường mây, có hai người. Nhân nằm lặng lẽ, tay bíu chặt vào một bên thành, đến thở mạnh cũng chẳng dám. Miệng khẽ mở, nửa muốn nửa không, buông một câu chỏn lỏn:
- Má…
Bà Năm Thành nghe vậy, liền quay lưng vào vách, nửa khuôn mặt còm cõi in vào gối, người ta đếm tuổi cây nhờ lớp vỏ, còn người già, chỉ cần đếm số nếp hằn trên da mặt. Hổm rày, hễ con Nhân cứ mở miệng gọi má là nước mắt bà lại ứa ra. Nên nó cũng chỉ dừng ở đó, cấm có nói thêm được tiếng nào. Nhà có tới bốn đứa con, đủ trai đủ gái. Hai thằng lớn đều vợ con đề huề, nhưng… có cũng bằng không. Vợ thằng Hai trước còn ở chung, giặt đồ chừa cái áo mỏng dính của bà ra, đem vắt lại trên dây, đặng bà thấy mà tự giặt. Vợ thằng ba lớn hơn chồng chục tuổi, lại có con riêng, lần đầu về thăm ba má chồng, leo lên phản ngồi chễm chệ, miệng nói sang sảng. Gia môn như bà mà kể thì quả đúng là bất hạnh. Người con gái lớn sống lởi thởi, biết điều thì lại lấy chồng tận huyện xa, suốt dạo cứ cắm mặt vào đất trồng đậu, rủi ông hay bà khó ở cũng chỉ biết điện về an ủi chứ đâu phải muốn là có thể về thăm. Giờ đến lượt út Nhân lại nằng nặc đòi lấy chồng xa, thân là mẹ, bà cầm lòng sao đặng. Giá mà nó chịu lấy thằng Vinh, con nhà ông Bảy Hạnh ở bên kia đồng, nhà chỉ cách đường ray xe lửa. Trái gió trở trời còn chạy đi chạy về. Thằng nhỏ lại học kĩ sư ở Sài Gòn thiệt ngon lành, nếu so với cái Nhân nhà này - một thạc sỹ ngành văn học - thì cũng gọi là có phần tương xứng…
Mưa vẫn lộp độp trên mái, Nhân trở dậy, mở cửa dắt con Kun vào cột ở chạn bếp, chắc nằm ngoài lạnh, cứ nghe kêu ư ử. Cạnh đó là cái mẹt úp dở dăm ba cái bát, mẻ đầu mẻ đuôi, đũa thì chiếc đực chiếc cái, tèm lem vì dột. Rõ thảm! Những cảnh tượng quen thuộc ấy, Nhân đều ngán đến tận cổ. Nhân là đứa con gái cứng cỏi. Tốt nghiệp xong cao học cũng vừa tròn hai mươi bảy. Không đẹp, không mướt nếu không muốn nói là hơi khô cằn. Xấu nhất vẫn là hàm răng. Nên Nhân ít cười, có khi vui quá cũng nhoẻn ra rồi giật mình khép miệng lại. Nói vậy chứ ở huyện miền núi này, chó kiếm đá, gà kiếm sỏi đã nhọc thì gái như Nhân là của hiếm. Cứ nhìn hai vách tường xiêu vẹo nhà nó mà xem, nào là giấy khen học sinh giỏi cấp huyện rồi ra cả tỉnh, nào là chứng nhận học bổng “ươm mầm ước mơ” của ba bốn ngân hàng, huy chương vàng Olympic văn toàn miền… Chẳng thế mà hôm nào trong lu cạn gạo, vợ chồng ông Năm Thành lại ngó lên đó, lấy làm no suốt buổi. Nhân cũng từng có người yêu, ấy là Nghị, anh chàng tốt nghiệp ngành Cảnh sát, ra trường về ngay huyện nhà công tác. Nhà Nghị không khá bao nhiêu, nhưng nếu về làm dâu thì hẳn cũng xuôi chèo mát mái. Ba mẹ Nghị vốn nhà nông, thương Nhân ra mặt, ấy là khi tận mắt nhìn thằng con nhà mình dắt về một đứa con gái đi đứng đường hoàng, nói năng phải phép, lại là dân có chữ. Nhưng nói cho cùng, trăm năm duyên nợ phu thê, không phải lòng người muốn là được, mà ắt phải do trời định đoạt.
Nói cấm có sai. Cách đây dăm bảy hôm, Nhân dẫn về một người đàn ông lạ mặt, ông Năm Thành mới ngó đã không hớp nổi miếng trà thường nhật. Chuyên coi tướng số cho khắp cái vùng này như ông, lẽ nào lại đi chấp thuận một người đàn ông ti hí mắt lươn làm rể nhà mình hay sao? Tính đến tuổi lại chẳng phải điềm lành, nếu kết làm đôi sẽ rơi vào chữ Tử, hoặc cắt lìa hoặc mất mạng. Trước đây, ông cản chuyện con bé Nhân với Nghị cũng bởi nhiều lý do khó nói. Còn người đàn ông lần này, thật lòng ông tin không nổi. Thế rồi cứ vài ngày lại lôi cả dòng họ về họp một lần. Chú Sáu hăng hái đi trước, thím Sáu hối hả nối gót phía sau. Cô Năm, cô Ba về xắn ống quần, ngồi túm tụm ở mép phản mà thở ra thở vào. Nhưng tuyệt nhiên không có ai dám mở miệng quở trách ra mặt. Ngày thường, trong nhà từ người lớn đến kẻ nhỏ đều ngó chừng khuôn mặt cương nghị của cái Nhân mà lên tiếng. Nên ngay cả với cương vị là cha, ông Năm cũng không tiện nặng lời. Thực ra Nhân không phải đứa nông nổi, lại càng không phải kẻ tội đồ. Chỉ là lần này, sự lựa chọn để trao thân gửi phận của nó quả có vấn đề. Giờ chỉ biết víu vào cái chuyện xung tên khắc tuổi. Chẳng ra mặt cản trở, cũng chẳng tỏ vẻ gì cam lòng. Thành ra cả cha và con đều im lặng. Ở trên đời này, im lặng cũng là một cách trì hoãn. Còn bà Năm Thành chỉ biết khóc. Quẩn quanh ở cái miền quê này, muôn đời đàn bà chỉ biết khóc cười với những điều tủn mủn. Xưa uất chuyện làm dâu cũng khóc, đến giờ mái đầu đã hoa râm, xót con cũng chỉ biết khóc. Làm như khóc là điều duy nhất bà có thể làm tròn lúc này vậy. Nói không chừng bà sẽ còn ngất lịm đi nếu biết con gái yêu dấu của bà tùy tiện gật đầu làm vợ một người đàn ông mà chưa nắm tay một lần.
Nhân và Nhật. Hai con người ở hai phương trời xa lạ. Ấy vậy mà quen. Nhân có vào Sài Gòn gặp Nhật đúng một lần, gặp gỡ đúng nghĩa. Rồi quay về. Không hồi âm, không hứa hẹn. Ấy là lúc cô còn quen Nghị. Nghị biết và chờ đợi, tự tin rằng dẫu có đi đâu thì Nhân cũng trở về với đồng ruộng quê hương mà thôi, nơi đó có anh, có người xách giùm túi đồ mỗi khi về thăm ngoại. Mẹ cha hiện tại dẫu có phật lòng đôi chút cũng không thành vấn đề. Rồi sẽ ổn. Không đời nào lại còn lối rẽ đẹp hơn. Nhưng Nghị đã sai. Đàn bà cũng như anh, cứ nghĩ hạnh phúc là bình yên. Mà chẳng biết rằng khắc nghiệt và bình yên, hai thứ đó chỉ cách nhau làn khói mỏng. Huống chi cuộc đời là một vùng xao động, ai dám đảm bảo sẽ giữ được bình yên. Nhân là vì thế, can đảm yêu lấy một người đàn ông như Nhật, đã qua nửa dốc bên kia cuộc đời, ngót 40 tuổi, lăn lộn cũng đã nhiều, thế mà vẫn trắng tay. Cô chờ mong và tin tưởng gì ở một người đàn ông như vậy? Thế kỉ này, đối với đàn ông mà nói, chẳng phải nghèo tức là hèn hay sao? Không thể lí giải nổi thứ tình cảm mà Nhân dành cho Nhật. Bỏ cả nơi chôn nhau cắt rốn, bỏ Nghị và rời cha mẹ, anh em. Cũng chỉ mình Nhân dám quyết. Cả quãng đời thanh xuân, kinh qua nhiều mối tình sâu đậm, cứ tưởng là Nhân dùng hết trái tim rồi. Cho đến bây giờ, để có một cái gật đầu đeo nhẫn, vẫn không có chỗ nào cho lý trí. Nếu chỉ dùng lí lẽ để chứng minh Nhân sai thì hẳn có quá nhiều. Nhân hát hay lại khéo, thêm tính cầu toàn. Từ cái xóm nghèo vùi đầu bám ruộng mà ra phố theo học trường chuyên rồi thi đậu Sư phạm theo ước nguyện của ba. Sách học cũng mua từ những đồng tiền ít ỏi của anh Hai, nhờ chụp ảnh dạo mà có. Nhân có thể thiếu nhiều thứ, nhưng thừa một thứ là nghị lực. Chỉ cần là cô gái nghị lực, đã xứng đáng được hạnh phúc rồi. Vậy mà…Nhật có đáng để Nhân phải đánh đổi chừng ấy điều quý giá không? Những điều này bà Năm thấu hết, thì cũng bởi đó, điều bà lo sợ nhất là về xứ mới, đâu ra cơ hội mà con bà còn được gõ đầu trẻ kiếm cơm, mấy chục năm âm thầm hi vọng của bà giờ cứ chực tan thành mây khói. Khóe mắt bà ngày một trũng xuống, đến thở cũng đau.
Trên cái nền xi măng ngổn ngang vết rạn. Ba người lẳng lặng cùng bưng bát cơm lên.Trong mâm có độc một đĩa đọt bí xào với mỡ và một chén nước mắm trơn. Chợ phiên hai hôm nữa mới tới, thôi thì tè tém đợi thêm chút đỉnh, đặng tới đó mua lấy ít thịt ba chỉ về kho ăn cả tuần luôn. Mà kể ra, giờ phút này, thịt có khác gì rau đâu. Ông Năm Thành lùa một phát rồi đứng dậy, bưng li trà ngồi ngây ra ở phản, nhìn vợ mình nuốt cơm như kiểu sợ nghẹn. Còn út Nhân thì như vừa nhai rơm vừa hình dung ra khuôn mặt bụi bặm của Nhật mà mới đêm qua cô vừa mơ thấy. Trong giấc mơ, có một người đàn ông đen nhẻm, đội sụp chiếc mũ lưỡi trai xuống nửa mặt, nắm tay Nhân đi bên vệ đường, hè vắt vào trời chiều những dải nắng mỏng tang, trên tay cô lại cầm một bông bí vàng ươm, hình như vừa hái trong vườn. Cứ thế mà đi… Là thương. Là thương. Chỉ có thể là thương mới làm cho cô gái vốn chín chắn như Nhân trở nên con người điên rồ trong mắt tất thảy mọi con người kia. Ba im lặng. Má Khóc. Bạn bè, họ hàng can ngăn. Mặc kệ! Nhân nhắm mắt. Không phải là nhắm mắt đưa chân, mà nhắm lại để không còn thấy giọt nước mắt của má nữa. Nhân coi má là ủy mị, chỉ biết an phận với cái không gian chật hẹp, tù túng này. Đến nỗi giận nhiều hơn thương...Tiếng bỏ đũa xuống mâm của bà Năm đánh một tiếng khô khốc, cắt luôn dòng suy nghĩ của Nhân. Cô út bưng mâm chén ra ngoài giếng, thả dây xuống kéo lên gàu nước trong veo tận đáy. Giá mà giếng cạn, giá mà có thể nhảy xuống để gội đi những bức bách trong lòng lúc này. Tròn một tuần im lặng, tròn một tuần không hồi âm với Nhật, đúng hơn là không có gì để hồi âm. Nhân tựa thành giếng, ngó ra mé vườn. Bông bí vàng hơn nắng mà Nhân ngỡ nó nhạt vô cùng…
Tối. Đợi ba xong cơm, Nhân mở miệng. Lần này hơn đinh đóng cột:
- Con sẽ làm theo ý ba má. Con không tính chuyện cưới xin nữa. Nhưng lần này lỡ duyên, con không hứa sẽ dẫn thêm một ai đó về nhà. Và từ mai, con dọn đồ xuống Quy Nhơn để tiện việc đi dạy.
Ông Năm Thành thở một điệu, dài hơn hơi thuốc lào ông rít bên hàng xóm ban chiều, rồi sấn đến cửa xỏ dép, đi một hơi ra ngõ. Bà Năm ngồi sượng trân, nước mắt lại rỉ ra, nói được đúng một câu:
- Con hờn ba má sao con?
Đúng ba ngày sau, chú của Nhật dẫn theo một đám người xuống tận nhà Nhân nạp lễ. Hai chỉ vàng đi cho Nhân là Nhật đi vay. Chị hai Nhật xuống ngồi mép phản, bĩu môi thầm:
- Tìm cho xa, tưởng là ngon. Ai dè… Được mỗi cái chữ.
Thím Sáu lọt tai, méc lại với bà Năm Thành. Bà giờ như người mất hồn, sự đã rồi, có nghe thì cũng ngậm bồ hòn làm ngọt.
Ngày đưa dâu, ông Năm bỏ qua nhà thằng Hai rít thuốc. Để phần chú Sáu thưa gửi, dặn dò. Bà Năm mang cả áo dài nằm ra giường, tay cứ một chập lại đưa lên chận chận khóe mắt. Nhân mặc áo dài trắng, vải đã sờn, cùng Nhật đi ra ngõ. Cái Trâm con đầu anh Hai chạy từ mé bếp ra, hét to:
- Cô Út ơi! Quên hoa cô dâu nè…
Nhân ngoảnh lại, đỡ bó bông bí trên tay con bé. Thêm một bước về phía Nhật là thêm một bước rời xa mái ngói thẫm, xa vườn bí đương hoa. Thêm một bước về phía chân trời lạ lẫm là thêm một bước rời đi những điều thân thuộc. Từ cái giây này, Nhân bỗng chốc trở thành một đứa trẻ bơ vơ, côi cút. Bão tố hay hoa hồng, phiêu dạt hay trở về, khắc nghiệt hay an lành? Tất thảy dựa vào người đàn ông đi bên cạnh. Ép bông bí vào ngực, Nhân giữ cho mình đôi chân không chao đảo. Là lựa chọn. Đã là lựa chọn thì không có đúng hoặc sai.
Đường về nhà chồng xa tít tắp…
Con đường trải hoa hồng, đi được đến đích cũng là chuyện quá đỗi bình thường. Nhân tuyệt nhiên chọn lối khác. Chỉ có điều: ngay lúc này, ở dưới một khoảng trời chưa ửng nắng, Nhân chẳng vội phân bua…


Thứ Ba, 12 tháng 5, 2020

GIẤC MƠ CHẬM TỚI truyện ngắn VÕ CHÍ NHẤT - CHƯ YANG SIN SỐ 332 THÁNG 4 NĂM 2020






Có một tín đồ thời trang đang loay hoay trong chốn riêng tư của mình cả buổi chiều chỉ để chọn ra một bộ trang phục ưng ý nhất. Bởi vì Tuyết có một cuộc hẹn với vị hôn phu của mình, người luôn được báo chí thể hiện là một anh chàng ưu tú đã từ hai bàn tay trắng mà tạo dựng chuỗi nhà hàng khách sạn. Tất nhiên là cá nhân Tuyết cũng không phải kém cỏi khi trở thành nhà tạo mẫu thiết kế trang phục rồi nghiệp chủ một cửa hàng thời trang với điểm xuất phát là trại trẻ mồ côi. Sự nghiệp và tình cảm của Tuyết với hôn phu là một điển hình của thông tin thời thị trường với sự pha trộn công khai và riêng tư ở một tỷ lệ thích hợp. Việc tiến đến hôn nhân sẽ là một cái kết hoàn hảo mà định mệnh an bài cho một cô gái như Tuyết. Ở tuổi 26, cô đã có một shop thời trang hái ra tiền, một vị hôn phu biết làm ăn khác xa đám thanh niên làm mửa mật mới kiếm được vài triệu đồng mỗi tháng. Vì vậy, cuộc hẹn sắp tới lại càng trở nên quan trọng đối với Tuyết vì hôn phu của cô rất thiếu thốn thời gian, lắm khi ngồi với cô mà anh ta cứ phải bàn đủ thứ chuyện làm ăn qua điện thoại.
Tuyết với tay đóng cửa sổ. Màn đêm sâu thẳm, sạch sẽ và tinh khiết. Nhà hàng Cá Heo nằm trên đường số 6, cách cửa hàng của nàng không xa. Bình thường thì Tuyết vẫn leo lên taxi để vèo một cái là đến nơi hẹn, nhưng trời tối nay sao mà đẹp quá nên khiến cô chợt thích tản bộ hơn.
Và điều bí mật đột ngột xuất hiện, khi Tuyết nhìn thấy mụ. “Con chim hải âu” - nỗi ám ảnh của những công dân cư ngụ hai bên đường số 8, hiện đang nằm bẹp trên đám hoa chuông ven bãi cỏ công viên, chắn ngay trước đoạn vỉa hè mà Tuyết đang rảo bước. Những ai cho rằng phụ nữ luôn tạo nên những điều tốt đẹp thì hẳn là họ sẽ thất vọng lắm khi biết mụ. Sở dĩ người ta gọi mụ như thế là cũng có nguyên do. Mụ sẽ nôn bắn ra một chất dịch vàng nặng mùi như một con chim hải âu khi bị ai đó chọc ghẹo. Cũng nhờ đó mà mụ được liệt vào tuýp phụ nữ an toàn vào bất kỳ giờ nào trên phố, thậm chí ở bất cứ đâu. Nhưng điều ấy không làm Tuyết yên lòng khi bắt gặp điều này. Giá như giờ này mụ đang ở trong căn phòng được sắp sẵn cho mình, thì Tuyết đã có thể đến nơi hò hẹn hoặc nếu không thì cũng an tâm nhìn mụ ngủ vì khi ấy mụ luôn cười. Có lẽ những lúc ấy mụ đang mơ những giấc mơ đẹp. Hôm nay mụ không xin tiền cô để mua rượu như mọi hôm, cũng không than thở phàn nàn những cái răng sâu mà chưa bao giờ nghĩ đến việc nhổ nó đi. Cũng không rề rà quanh cô nàng mà khen đại một câu đại loại “Đi đâu mà ăn mặc bảnh thế” rồi phá lên cười khùng khục. Nhưng hôm nay, Tuyết cũng không ở bên mụ buổi chiều vì phải chuẩn bị cho cuộc hẹn quan trọng của mình và… thật không ngờ xảy ra chuyện này. Thần sắc mụ sao mà tệ quá. Mụ gối đầu trên đám hoa chuông bốc mùi ngai ngái dưới gốc cây táo, tay nắm hờ chai rượu. Giờ đây, dẫu có khoác lên mụ thiết kế của Coco Chanel cũng không thể nào sang lên được cả, vì mụ chỉ hợp với những bộ đồ bạc màu của hơn 20 năm về trước. Nếu may mắn gặp được Hân Nhiên, có lẽ mụ đã được lên sóng chương trình Khinh Phong dạ thoại để dày vò người nghe suốt mấy ngày liền bằng câu chuyện cuộc đời mình.
Ánh trăng như khối vàng non xỉn màu. Nó không thèm ló ra khỏi ụ mây xám mà vẫn nấp ở đó rình xem “tiếp theo sẽ là gì?”. Tuyết quét mắt một vòng xung quanh mới cúi nhìn mụ, nhỏ giọng:
- Sao mẹ nằm đây? Chẳng phải hồi chiều con đã dặn mẹ phải ở nhà hay sao?
Khuôn mặt xám tro của mụ cháy bừng lên bởi tia nhìn mờ đục vừa chợt hé:
- Cô… là ai?
Tuyết chỉ muốn kêu trời. Sắp đến giờ hẹn rồi mà còn cò cưa với mụ thì đời nào mới đúng hẹn. Nhiều lần lỗi hẹn, những lý do mà cô đưa ra sớm đã nhàm. Nào là đau đầu chóng mặt hoặc những chứng bệnh tương tự thế. Thử hỏi tâm trạng một người vừa chia tay người cũ sẽ ra sao khi người mới liên tục lỗi hẹn. Nếu tối nay không nói rõ ràng thì có lẽ mọi chuyện sẽ khác. Nhưng làm sao mở lời cho được.
Việc thu xếp cho thực tế luôn được ưu tiên. Tuyết lật đật vít cái mũ rộng vành che khuất nửa khuôn mặt rồi dìu mụ đứng dậy. Dợm bước đi mụ đã kịp tợp một ngụm rượu và kịp thả một đợt rắm. Phải công nhận rằng tình cảnh chẳng hề vui chút nào. Hồi chiều, cô mở cửa sổ thoáng khí cho phòng không biết đã đóng lại hay chưa. Khốn khổ hơn là cái mùi mỡ ôi trời đánh bốc ra từ mụ hắt vào mặt cô nàng chẳng khác một cú đấm thẳng vào mặt. Vậy mà có lúc cô còn ao ước được ngửi mùi cơ thể mẹ mình. Vài cặp mắt sáng quắc trong công viên chiếu đến. “Ai lại dám dìu “con chim hải âu”… kia vậy trời?”. Lời nói gió bay, chẳng sao cả, họ cũng đâu biết là ai. Cô nàng nhủ lòng thế.
Cuộc sống luôn cần đến một sự thay đổi, nếu không thì sự nhàm chán hẳn đã giết chết không ít người. Chuyện bắt đầu khi cô trở về trại trẻ mồ côi, nơi cô được nuôi dưỡng 4 năm đầu đời và được biết về mẹ mình, một người phụ nữ bị anh trai lạm dụng tình dục. Sau cú sốc ấy bà lang thang khắp nơi và nghiện rượu nặng.
Giả dụ bây giờ có người quen xuất hiện thì cô nàng phải giải thích thế nào đây? Mụ già mà thiên hạ cạch mặt lại chính là mẹ tôi sao? Cứ đi vài bước cô nàng ngó chừng xem có ai nhận ra không.
- Ai giống con Tuyết vậy cà?
Cô nàng giật mình vì ai đó nhắc đến mình nên bước nhanh hơn một chút. Cái nón sớm đã che gần hết khuôn mặt nàng. Cô nàng cầu may và tỏ ra bình tĩnh xem đây là việc giới trẻ nên làm.
Để kiểm tra nghi vấn của mình, người buôn chuyện nọ thúc thân hình tròn như trái sim tiến nhanh về phía trước.
- Aha! – cô ta suýt cười toét miệng như khi phát hiện trò lăng nhăng trong một cuốn tiểu thuyết ba xu. Cô ta muốn nói với giọng mỉa mai nhưng vì không kiềm được sự phấn khích đành nổ súng luôn – Há há… đúng thật là con Tuyết rồi. Vậy mà tao còn tưởng là ai chớ?
Tuyết choáng váng, tối sầm mặt lại và lặng lẽ đi tiếp mà không thèm quay lại nhìn, cũng không thèm chú ý đến những lời cạnh khóe của ả nọ nữa. Bởi cô nàng vẫn chưa biết phải giải thích thế nào, phải trả lời được câu hỏi “đây là ai” nếu không thì sẽ khó mà yên. Rồi những tin đồn về “con chim hải âu” nghiện rượu hôi hám sẽ không chỉ mang đến cho cô sự phiền phức, mà hơn cả phiền phức.
Người buôn chuyện lao tới, ngó nghiêng một cách lấc láo:
- Đúng là mày rồi…Phải mày không hả Tuyết?
Thẳm sâu trong đôi mắt ả nọ hiện lên bốn chữ: “Mày coi chừng tao”.
- Bộ mày câm hả?
- Ừ đó. Là tao đó thì sao?
- Thì tao cũng không muốn tin những gì mình vừa thấy đâu. Để tao chống mắt lên coi ảnh còn thích mày nữa không.
- Mày thật khốn nạn. Tao thách mày đó…
Tuyết sôi máu, chút xíu nữa là tẩn cho cô ta một trận nếu mụ không đẩy Tuyết dạt qua một bên, sấn tới tặng cho người buôn chuyện một bãi nước miếng vàng chạch.
Cô nàng nhảy cẫng lên, hú hét.
- Cha mẹ ơi… gớm quá…
Rồi cô gái tém váy trèo lên xe đạp, vọt lút. Mặc dù khó khăn trước mắt đã được giải trừ nhưng Tuyết cũng đã đoán được câu chuyện tiếp sau đó. Vậy kể như xong.
Mụ khuỵu xuống trước cửa. Tuyết dìu mụ vào trong, trên chiếc giường bé tin hin đã được lau chùi sạch sẽ. Đủ thứ gói to gói nhỏ Tuyết mua tặng mụ bao lâu nay vẫn còn nằm ngay ngắn trên ván mà vẫn chưa bàn tay nào mó tới. Cô biết, hình như có ai đó đang dõi theo mình. Cô biết, đó không phải là người buôn chuyện, vì cô ta không thể quay lại nhanh như vậy được và nếu có quay lại thì với tính cách cô ta cũng không lặng im đến thế.
- T-u-y-ế-t… cô thật tốt với tôi…
Cô vuốt ve gương mặt sưng tím vì rượu của mụ, tém mái tóc xõa xượi che kín vầng trán đầy nếp nhăn sang một bên nhưng sao lòng vẫn trĩu nặng. Những kẻ mồ côi luôn trách móc bậc phụ huynh vô tâm đã từ bỏ mình từ tấm bé nhưng có bao giờ nghĩ đến việc nhận lại người mẹ nghiện rượu như thế. Chúng ta luôn tạo ra những chiếc mặt nạ để che đậy những xúc cảm thật của mình, nhưng không may nó vỡ tan rồi. Cô nàng cảm thấy hai mí mắt nóng ran. Những đêm coi sóc mụ, Tuyết biết mụ hay gặp ác mộng. Có lẽ, với mụ thì quá khứ thật khủng khiếp. Khi tìm gặp lại mẹ, Tuyết vẫn mong quá khứ ấy không còn cơ hội dày vò bà nhưng hiện tại và tương lai liệu còn chút nào cho hy vọng?
Mụ chống hai khuỷu tay chồm dậy nhưng bị Tuyết ngăn lại. Hai mắt mụ chú mục vào dây mướp tươi rói đang chồm vào cửa sổ. Lát sau, mụ vuốt nhẹ gò má, nhìn về phía trước như có một con đường trải dài trước mặt mình. Tuyết nắm chặt tay mụ… nhiều lúc cô nàng thấy cuộc đời mình đã được số phận an bài. Trong một khoảnh khắc, mụ nghe thấy như ai đó đang gọi tên mình rồi mụ giãy nảy lên, ọc ra một ngụm rượu chưa kịp đi xuống bao tử rồi kết thúc bằng một tiếng ré như một con ve bị bóp bụng.  Mặt Tuyết bừng đỏ như một cái bát đất sét, chỗ đôi mắt rực sáng bỗng sụp xuống bởi cơn xúc động, lòng hối hận và cả sự thờ ơ về tất cả mọi điều còn lại bên ngoài căn phòng này. Nếu biết trước mọi chuyện thế này thì cô sẽ ở bên mụ từ chiều.
Mụ lại ngủ rồi. Ngủ thật rồi. Nhưng lần này thì mụ không cười.
Có lẽ, giấc mơ mụ luôn mơ đã không đến kịp.
Trăng ngoài trời đã ra khỏi đụn mây che. Trăng không tròn, không sáng như vào mỗi đêm rằm, mà méo mó vàng vọt như sự thật về mỗi số phận với công khai, riêng tư và bí mật trộn cùng theo một tỷ lệ của khái niệm định mệnh.

Chủ Nhật, 10 tháng 5, 2020

Thể lệ cuộc thi "Rừng là cuộc sống của tôi" lần thứ 3, năm 2020.


Thể lệ cuộc thi "Rừng là cuộc sống của tôi"
lần thứ 3, năm 2020.

Tổng cục Lâm nghiệp, Báo Nông nghiệp Việt Nam chiều 24/12 đồng tổ chức Lễ phát động cuộc thi "Rừng là cuộc sống của tôi" lần thứ 3, năm 2020 và ban hành thể lệ cuộc thi.

1. Mục đích
Cuộc thi Rừng là cuộc sống của tôi do Tổng cục Lâm nghiệp và Báo Nông nghiệp Việt Nam đồng tổ chức. Cuộc thi nhằm tạo diễn đàn sôi nổi, khơi gợi những đề tài mới trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật, tạo ra những món ăn tinh thần phong phú, động viên, cổ vũ tinh thần đối với những người làm nghề rừng nói riêng và toàn xã hội nói chung.
Cuộc thi cũng hướng tới cổ vũ, động viên tinh thần lao động, sáng tạo trong ngành lâm nghiệp, hướng tới kỷ niệm 75 năm hình thành và phát triển ngành lâm nghiệp Việt Nam.
Qua đó, động viên, khuyến khích, tạo điều kiện cho các tác giả chuyên nghiệp và không chuyên trong cả nước sáng tạo những tác phẩm phản ánh trung thực, sinh động về ngành lâm nghiệp với vai trò quan trọng trong đời sống con người, trong các yếu tố phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường, văn hóa, an sinh xã hội và an ninh quốc gia.
Thông qua tác phẩm dự thi, những câu chuyện trong công tác quản lý, bảo vệ, phát triển rừng, nâng cao giá trị của rừng sẽ được nhiều người trong xã hội biết đến. Từ đó, tôn vinh những tấm gương trong lĩnh vực lâm nghiệp, đưa đến cái nhìn thấu hiểu, đồng cảm của xã hội đối với ngành Lâm nghiệp.
Từ sự lan tỏa của cuộc thi hy vọng thu hút hơn nữa sự chung tay vào cuộc của toàn xã hội trong vấn đề bảo vệ, phát triển rừng, phát triển kinh tế lâm nghiệp, gia tăng giá trị ngoài gỗ gắn với cân bằng hệ sinh thái tự nhiên đóng góp vào sự phát triển chung của đất nước.
2. Yêu cầu
Các tác phẩm cần tập trung khơi gợi được tình yêu thiên nhiên, yêu rừng đồng thời phản ánh được những khó khăn gian khổ hy sinh, thậm chí là mất mát của cán bộ ngành lâm nghiệp trong cuộc chiến bảo vệ rừng, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên của đất nước.
Bên cạnh đó, các tác phẩm có thể phản ánh được sự thay đổi đáp ứng những yêu cầu, điều kiện trong thời kỳ mới, sự chuyển mình tích cực của lĩnh vực lâm nghiệp trong thực hiện Luật Lâm nghiệp cũng như các cơ chế, chính sách, chương trình, đề án lớn của ngành như tái cơ cấu ngành lâm nghiệp, thực hiện mục tiêu phát triển lâm nghiệp bền vững.
Cuộc thi sáng tác với chủ đề "Rừng là cuộc sống của tôi" cũng nhằm truyền thông điệp phát triển kinh tế lâm nghiệp bền vững là tạo việc làm, tăng thu nhập, cải thiện cuộc sống cho người dân làm nghề rừng, đồng thời nêu cao trách nhiệm của con người với môi trường sống, bảo vệ rừng chính là bảo vệ cuộc sống của chính chúng ta.
3. Thể lệ
Nội dung các tác phẩm dự thi truyền tải được các thông điệp và đáp ứng theo nội dung yêu cầu của cuộc thi, bám sát chủ đề "Rừng là cuộc sống của tôi". Thể loại cuộc thi bao gồm 3 thể loại sau: Phóng sự, Truyện ngắn, Thơ.
Đối tượng tham gia là các tác giả chuyên nghiệp và không chuyên. Đặc biệt khuyến khích các các tác giả là cán bộ, nhân viên trong ngành lâm nghiệp. Thành viên Ban Tổ chức và Hội đồng chấm thi không được tham gia cuộc thi, nhưng có thể gửi tác phẩm hưởng ứng cổ vũ cuộc thi.
4. Yêu cầu về tác phẩm
Tác phẩm nhất thiết phải được tác giả tự nguyện gửi đến Ban Tổ chức và tự chịu trách nhiệm về vấn đề bản quyền tác phẩm.
Tác phẩm dự thi phải là tác phẩm chưa xuất bản hoặc chưa in trọn vẹn trên báo, tạp chí, chưa được sử dụng trên các phương tiện thông tin đại chúng khác trong nước và nước ngoài. Trong quá trình dự thi tác phẩm không được in vào tập sách riêng của tác giả và các tuyển tập chung hay phát hành trên các phương tiện truyền thông khác.
Bản thảo dự thi được viết tay hoặc đánh máy rõ ràng, sạch sẽ trên khổ giấy A4. Thí sinh ghi rõ họ tên (dưới bút danh - nếu có), số chứng minh thư nhân dân, địa chỉ, số điện thoại liên lạc. Bài dự thi được xét giải thưởng sẽ bị loại nếu không xác định được địa chỉ và tên thật của thí sinh.
Trong thời gian diễn ra cuộc thi, Ban Tổ chức được quyền sử dụng miễn phí các tác phẩm tham gia dự thi (đạt giải và không đạt giải) vào mục đích tuyên truyền cho ngành lâm nghiệp. Các tác phẩm không được sử dụng hoặc không đạt giải, Ban Tổ chức không trả lại bản thảo.
Đối với thể loại Thơ, mỗi tác giả dự thi không quá 3 tác phẩm, bằng tiếng Việt. Đối với thể loại Phóng sự, Truyện ngắn mỗi tác phẩm dài không quá 5.000 chữ, tác giả dự thi không quá 3 tác phẩm. Một tác giả có thể dự thi cả 3 thể loại.
5. Thời gian và địa chỉ nhận tác phẩm
Thời gian tổ chức cuộc thi: Quý IV/2019 đến Quý II/2020. Cụ thể, thời gian phát động cuộc thi ngày 24/12/2019. Thời gian nhận bài dự thi: Từ ngày công bố Lễ phát động đến hết ngày 15/6/2020. Thời gian trao giải dự kiến trong tháng 8/2020.
Tác phẩm dự thi gửi trực tiếp đồng thời bằng văn bản và email đến: Báo Nông nghiệp Việt Nam, số 14 Ngô Quyền, quận Hoàn Kiếm, TP. Hà Nội hoặc thông qua địa chỉ email: runglacuocsongcuatoi@gmail.com. Ngoài phong bì thư/chủ để email ghi rõ: Bài dự thi "Rừng là cuộc sống của tôi".
Thời gian nhận tác phẩm dự thi được xác định theo dấu bưu điện hoặc ngày nhận email, theo ngày nào đến trước.
6. Quyền lợi
Các tác phẩm dự thi có thể được lựa chọn để biên tập, đăng tải trên báo Nông nghiệp Việt Nam nhằm cổ vũ, lan tỏa thông tin về cuộc thi. Đối với tác phẩm được đăng báo, tác giả sẽ hưởng nhuận bút theo quy định của Báo Nông nghiệp Việt Nam. Tùy theo chất lượng tác phẩm sẽ được thẩm định, lựa chọn đăng trên báo Nông nghiệp Việt Nam từ ngày 1/1/2020 đến ngày 31/06/2020. Chấm, công bố và trao giải trong tháng 8/2020.
Các tác phẩm có thể được sử dụng in sách (tuyển tập) với mục đích truyền thông cho ngành lâm nghiệp, khi đó tác giả được hưởng bản quyền và nhuận bút theo quy định.
7. Cơ cấu giải thưởng
Mỗi thể loại có tổng giải thưởng: 65.000.000 đồng/1 thể loại  x  3 thể loại = 195.000.000 đồng, cụ thể:
- 1 Giải Nhất: 20.000.000 đ (Hai mươi triệu đồng)/1 thể loại
- 2 Giải Nhì, mỗi giải: 10.000.000 đ (Mười triệu đồng)/1 thể loại
- 3 Giải Ba, mỗi giải: 5.000.000 đ (Năm triệu đồng)/1 thể loại
- 5 Giải Khuyến khích, mỗi giải: 2.000.000 đ (Hai triệu đồng)/1 thể loại
Ban tổ chức có thể xem xét trao thêm các giải đặc biệt theo đề xuất của Ban Giám khảo và Quyết định của Ban Tổ chức cuộc thi. Quyết định của Ban Tổ chức cuộc thi là quyết định cuối cùng.
8. Công bố thông tin về cuộc thi
Thể lệ cuộc thi, Quyết định về giải thưởng sẽ được công bố trên Trang tin điện tử của Tổng cục Lâm nghiệp, Báo Nông nghiệp Việt Nam và các phương tiện thông tin, truyền thông.
Bạn đang đọc bài viết Thể lệ cuộc thi viết Rừng là cuộc sống của tôi năm 2020 tại chuyên mục Xã hội của Báo Nông Nghiệp Việt Nam. Mọi thông tin góp ý và chia sẻ, xin vui lòng gửi về hòm thư baonongnghiepdientu@gmail.com hoặc số điện thoại, Viber: 0369024447.