Thứ Hai, 19 tháng 8, 2013

THANG ÂM truyện ngắn của HỒNG CHIẾN - CHƯ YANG SIN SỐ: 216 tháng 8 năm 2010






Xen lẫn trong tiếng vỗ tay ầm ầm như pháo nổ là tiếng reo của đám đông:
-         Đàn lại đi! Đàn lại đi!
Lê Quang cúi đầu chào và cánh màn nhung từ từ khép lại. Được biểu diễn trên sân khấu đã là một vinh dự lớn lao đối với một người nhạc công vô danh vốn chỉ quanh quẩn trên mảnh đất thị xã miền núi heo hút, nào mấy ai biết đến; thế mà hôm nay được biểu diển trước khán giả chật cứng của Nhà Hát Lớn đến đêm thứ ba vẫn được người xem hâm mộ gào thét xin được thưởng thức thêm, Lê Quang thấy mình hạnh phúc quá. Ông Quốc Cương, Trưởng đoàn văn công của tỉnh bước từ cánh gà ra vỗ vai:
-         Khán giả hâm mộ quá, thôi cháu ráng chịu khó tặng người ta thêm một bản nữa nhé.
-         Dạ!
Cánh màn nhung lại từ từ kéo lên, ông Trưởng đoàn cúi đầu chào khán giả và cất tiếng:
-         Kính thưa các quý vị khán giả! Thật vui khi được các quí vị dành cho đoàn nghệ thuật tỉnh lẻ chúng tôi sự đón tiếp nồng nhiệt và ưu ái đến bất ngờ như thế này, anh em chúng tôi vô cùng cảm động. Đêm nay cũng là đêm biểu diễn cuối cùng của đoàn trước khi trở về Tây Nguyên, hẹn các bạn một ngày gần nhất chúng ta lại gặp nhau tại đây. Để đáp lại thịnh tình của các bạn, nhạc sĩ Lê Quang sẽ  trình bày một nhạc phẩm nữa, xin hãy xem đây là món quà tặng người hâm mộ trước lúc chia tay.
Cả hội trường đứng bật dậy vỗ tay hoan hô. Lê Quang ôm cây đàn ghi ta bước ra cúi đầu chào:
-         Thưa các bác, các anh, các chị! Thật vinh dự cho một nhạc công như cháu khi được mọi người ở đây mến mộ dành cho sự ưu ái đến bất ngờ, vậy cháu xin tặng mọi người một bản nhạc nữa ạ.
Cả hội trường lặng ngắt, chỉ có tiếng đàn vút lên; mọi người tròn xoe mắt khi thấy vị nhạc công chỉ dùng một tay chơi đàn. Tiếng đàn như có phép màu nhiệm xóa tan u buồn, xóa tan sầu muộn, xóa tan oán hờn… và tất cả chỉ còn là một dòng suối sôi sục của trái tim khao khát tình yêu và cuộc sống. Tiếng đàn của một thanh niên tuổi chỉ mới “hăm”, chưa qua một nhạc viện nào đào tạo sao lại có sức cuốn hút mãnh liệt đến thế! Bản nhạc đã dừng, người ta nghe rõ cả tiếng một con muỗi vừa mới bay qua và rồi đột nhiên như có phép thần tiên cả hội trường đứng bật dậy vỗ tay như sấm kéo dài. Người nhạc công từ từ quay lưng lại khán giả, quay lưng lại với những tràng pháo tay nồng nhiệt dành cho mình, chiếc đàn ghi ta cũ kỹ nhiều chỗ đã bong lớp sơn bên ngoài được chuyển từ phía trước ra sau lưng; khán giả có thể nhìn rõ những chiếc giây đàn mỏng mảnh như bao chiếc dây đàn của các cây đàn bình thường khác, vậy mà qua tay anh chàng nhạc công ốm nhách này lại có sức hút kỳ lạ đến thế. Tiếng vỗ tay thưa dần, có thể trong số các vị khán giả đã có chút không bằng lòng với cách cư xử của người nhạc công khi có thái độ quá ngạo mạn – quay lưng lại khán giả! Có người phật ý vì cách cư xử không lịch sự, hay nói đúng hơn là thiếu văn hóa của người nhạc công đã quay lưng lại với những người hâm mộ mình! Cũng có người tỏ ra thông cảm: “bệnh ngôi sao” là vậy, phải có một chút gì đó cố tạo ra cho khác người thường chứ! Có lẽ hơn một ngàn người có mặt xem biểu diễn đã có rất nhiều người hụt hẫng vì thần tượng của mình cư xử không đúng mực trong khi được tung hô, vì thế tiếng reo ngớt dần và mọi người từ từ ngồi xuống, trật tự được vãn hồi.
Thật bất ngờ, tiếng đàn lại vang lên! Nó ngân lên ngay sau lưng người nhạc sĩ và mười ngón tay như có phép mầu nhảy múa trên các phím đàn. Có lẽ tất cả khán giả không còn tin vào mắt mình, họ tưởng mình đang mơ ngủ! Không! Tiếng đàn ma quái hay tiếng đàn thần tiên vẫn đang bay ra từ đôi bàn tay người nhạc công, có điều lạ: đôi bàn tay nhảy múa trên phím đàn, phía sau lưng người nhạc công như có mắt và vẫn cuốn hút người nghe, người xem như có một ma lực nào đấy. Tiếng nhạc dừng, người biểu diễn quay mặt lại phía khán giả cúi đầu chào, cả hội trường vẫn lặng ngắt rồi bỗng nhiên vỡ òa, người ta chen nhau chạy lên sân khấu để chỉ mong có cơ hội được sờ vào bàn tay “có mắt” của vị nhạc công.
*
*    *
Sáng hôm sau, khi Đoàn đang chuẩn bị ra xe xuôi vào Nam, người nhạc công mảnh khảnh oằn mình vác chiếc loa thùng to đùng ra xe thì bất ngờ có chiếc Vonga đen chạy đến xin gặp Trưởng đoàn và vị nhạc công đã biểu diễn đàn ghi ta sau lưng như làm xiếc. Trước lời đề nghị quá hấp dẫn dành cho người nhạc công tài hoa, ông Trưởng đoàn chỉ còn biết trả lời: Tùy cháu nó quyết định! Nếu Lê Quang nhận lời về đoàn Văn công của Tổng cục, lương chính được nâng vượt bậc, cấp nhà ngay tại thủ đô và nhiều thứ ưu tiên khác; một tương lai rực rỡ đang đón đợi phía trước. Theo lời mời của vị lãnh đạo (chủ chiếc xe Vonga) đoàn ở lại thêm một ngày – tất nhiên mọi kinh phí do bên mời chi để đợi cái gật đầu của Lê Quang.
Được ở thủ đô công tác lại có nhà riêng thì quả thật có mơ, Lê Quang cũng chưa bao giờ nghĩ tới. Những ngày ấu thơ vừa học vừa làm kiếm sống nuôi thân, nuôi mẹ trong thời buổi chiến tranh loạn lạc, Lê Quang hiểu thế nào là đói rét, khổ nhục. Sinh ra trên đất Quảng Nam dưới tiếng gầm thét của đại bác và bom đạn, người cha chưa kịp biết mặt đã bị bom đạn cướp đi, người mẹ chỉ còn một tay bị xúc lên Cao Nguyên trong chiến dịch “tát nước, bắt cá” của gia đình họ Ngô. Mảnh đất Tây Nguyên chỉ có gió bụi và tiếng đại bác gầm thét hàng ngày là nhiều. Buổi đi học, buổi đi đánh giày thuê cho những kẻ đã xả bom đạn hủy diệt quê hương, gia đình mình, giết cha, hại mẹ… nhưng vì cuộc sống vẫn phải làm. Tuổi ấu thơ trôi qua trong bần cùng, nhưng từ trong sâu thẳm của trái tim, một niềm đam mê âm nhạc được hình thành. Lê Quang không thích sự ồn ào của vũ trường thâu đêm suốt sáng phục vụ lũ lính ngoại bang, nhưng lại đam mê tiếng đàn của các quán trà. Thấy có nhạc công biểu diễn ở quán nào thì Lê Quang tìm mọi cách đến gần xem người ta đánh và mắt như muốn uống lấy từng nốt nhạc. Quan sát và tự học đánh đàn bằng mắt và bằng cả trí tưởng tượng của mình. Đêm về, dưới ngọn đèn dầu leo lét, Lê Quang hình dung lại từng bản nhạc và các ngón tay của người nghệ sĩ lướt trên các phím như thế nào để tạo ra âm thanh rồi lấy than vẽ lên tấm ván hình cây đàn ghi ta với đầy đầy đủ: dây, phím… và say sưa tập đánh; cho dù những đêm “biểu diễn” ấy không thể có âm thanh.  Cứ như thế, cho đến một hôm được người nhạc công gọi lại đánh giày. Lẽ thường đánh giày để lấy tiền thì Lê Quang lại chỉ xin được cầm cây đàn ghi ta của người nhạc công một chút. Người nhạc công ngạc nhiên nhìn Lê Quang như nhìn một đứa trẻ ở thế giới khác; một cậu bé chỉ độ hơn chục tuổi đầu, nước da đen nhẻm, thân hình ốm nhách, mặt gãy, trán dô; song đôi mắt như có ngọn lửa nhìn cây đàn tha thiết quá đã làm anh ta mủi lòng và không thể cưỡng lại được nên bất đắc dĩ cũng đưa cây đàn và dặn:
-         Cẩn thận không hỏng cần câu cơm của tao.
-         Dạ!
Lần đầu tiên được ôm cây đàn mà qua bao năm tháng chỉ có mơ ước trong tuyệt vọng, nay được thỏa chí mong muốn rồi, bỗng nhiên các ngón tay như bị ma làm đã tự lướt trên các phím đàn một bản nhạc của họ Trịnh mà hàng ngày thường nghe ở các quán trà. Lê Quang say sưa chơi đàn như quên hết tất cả mọi vật xung quanh, quên người cho mượn đàn, quên cả chiếc bàn chải đánh giày phương tiện kiếm sống hàng ngày khét lẹt mùi xi - vật bất ly thân trong suốt chặng đường đời niên thiếu, quên đám đông những người đang uống cà phê xung quanh đã đứng hết cả dậy đi lại vây quanh chú bé đánh giày chơi đàn. Tiếng đàn dứt, mọi người xung quanh vỗ tay tán thưởng. Người nhạc công cho mượn đàn tròn mắt hỏi:
-         Ai dạy em chơi đàn vậy?
-         Dạ, thưa anh không ai cả ạ!
-         Không người nào dạy sao em chơi hay vậy?
-         Dạ, em có được ai dạy đâu, đây là lần đầu tiên em được cầm cây đàn đấy ạ.
-         Kỳ tài, kỳ tài!
Cuộc đời Lê Quang sang trang mới, cậu trở thành học trò của người nhạc công cho mượn đàn. Lần đầu tiên trong đời, Lê Quang mới biết các dấu ký hiệu của âm nhạc và cách thể hiện chúng. Vừa học vừa thực hành ngay tại các quán, cậu bé đánh giày trở thành nhạc công lúc nào không biết. Nhưng cuộc sống luôn có những bất ngờ, trong một lần biểu diễn ở quán nhậu cho bọn lính mới đi càn về; vì tranh giành gái bar, mấy tên lính Dù bắn lộn với bọn biệt kích, viên đạn vô tình đã cướp đi vị nhạc công – người thầy âm nhạc đầu tiên của Lê Quang chỉ sau hơn một tuần theo học. Người nhạc công mất, không ai biết tên thật của anh ta và quê quán ở đâu; thành ra Lê Quang là người thừa kế duy nhất tài sản anh ta để lại: một cây đàn ghi ta. Năm tháng trôi qua người nhạc công mảnh khảnh trở thành một hiện tượng đặc biệt của một thị xã heo hút thời chiến. Các quán cà phê lớn tranh nhau mời và thù lao cũng được nâng lên dần, cuộc sống vật chất của hai mẹ con đỡ phần vất vả.
Chiến tranh qua đi, đất nước thống nhất mọi người bắt tay xây dựng lại non sông trên đống đổ nát của chiến trường. Lúc này mọi người chỉ chú ý xây dựng kinh tế. Lương thực thiếu trầm trọng, ông Bí thư Tỉnh ủy – nguyên là một vị tướng của Quân đội chuyển sang, đề xuất một phương án táo bạo: biến cả tỉnh thành một nông trường! Tất cả các cơ quan ban ngành của tỉnh, các trường đại học, cao đẳng, trung học phổ thông phải đi phá rừng trồng lương thực. Những cánh rừng già không biết từ bao nhiêu đời được chặt đổ xuống và đốt thành tro lấy chỗ trồng khoai, bắp, lúa, đậu… giải pháp chống đói tạm thời. Các quán cà phê đóng cửa, Lê Quang cũng được huy động đi phá rừng trồng cây lương thực. Đêm đêm, bên đống lửa hừng hực cháy của các thân cây gỗ hai, ba người ôm không hết, người nhạc công ôm đàn chơi cho đỡ nhớ. Không ngờ tiếng đàn mang lại hiệu quả, đội thanh niên xung kích mời Lê Quang tham gia phối hợp biểu diễn cùng đoàn Văn công của tỉnh phục vụ chiến dịch. Ông Trưởng đoàn Văn công nghe đàn, biết ngay đây là viên ngọc thô quý giá nên vận động cấp trên chấp nhận tuyển Lê Quang vào làm nhạc công cho Đoàn, dù lý lịch không được rõ ràng cho lắm. Đôi bàn tay bỏng rộp vì dao, búa đốn chặt cây được may mắn trả lại cho cây đàn. Dưới sự chỉ dẫn tận tình của ông Trưởng đoàn - một người dân thủ đô Hà Nội chính hiệu, Lê Quang tập tọe sáng tác và phổ nhạc. Tài năng nghệ thuật không đợi tuổi cũng không phân biệt bằng cấp; người học chưa hết phổ thông nhưng có thể có những tác phẩm đứng được với công chúng, được dư luận chú ý, Lê Quang chính là một trong những hiện tượng ấy. Đoàn Văn công của tỉnh đi biểu diễn giao lưu với các tỉnh bạn được quần chúng nô nức chào đón vì có tiếng đàn ghi ta mê ly lôi kéo của Lê Quang, anh thành tài sản quý giá của Đoàn. Đoàn văn công đã trở thành một mái nhà mang lại hạnh phúc cho Lê Quang, vì thế anh không thể dứt tình ra đi. Ông trưởng đoàn hớn hở ra mặt, tuyên bố với mọi người: Thằng này khá, tao không nhìn nhầm người!
*
*    *
Nhưng đời không ai có thể biết trước điều gì, Đoàn vừa về đến tỉnh, xe công an ập đến còng tay Lê Quang đưa đi. Ông trưởng đoàn văn công chạy lên ty Công an hỏi mới được biết: hình như lính của ông là điệp ngầm cho chế độ cũ. Trong Đoàn, mọi người được dịp bàn tán: Cái thằng đó là quân do CIA đào tạo đấy! Mất cảnh giác quá, trong chế độ Ngụy, hắn  hơn hai mươi tuổi mà vẫn không bị bắt lính là có vấn đề rồi, thế mà không đoán ra! Cháy nhà ra mặt chuột, sao có thể để một tên phản động ở mãi trong cơ quan văn hóa – nghệ thuật như cơ quan chúng ta được. Có những người từng ghen với tài năng của Lê Quang còn mạnh miệng tuyên bố: Tuyển cả CIA vào làm việc chắc lãnh đạo Đoàn bị “mua” rồi! Nhưng cũng có người thương tình: Chắc có sự nhầm lẫn gì đây, hắn sống tình nghĩa như vậy không thể là thằng phản trắc. Mặc đồng nghiệp hay người yêu mến tiếng đàn có nói gì đi nữa thì vụ án của Lê Quang cũng không được xét xử, anh vẫn phải ở nhà tạm giam của cơ quan điều tra. Lâu dần người ta cũng đành chấp nhận quên dần tiếng đàn ghi ta của người nhạc sĩ còi.
     Trong khi ấy, Ở trại tạm giam, Lê Quang bị hỏi cung liên tục nhưng hình như vẫn chưa có gì rõ ràng. Chỉ vì một lẽ hồi chế độ cũ, vì mê tiếng đàn của người nhạc công nghèo, một tên bên An ninh đã gọi anh lên nói thẳng:
-         Mày đến tuổi đi Quân dịch rồi, nhưng ra đó thì một đi không trở lại nữa đâu, mẹ già ai nuôi! Mày ký vào giấy tờ này, tao bảo lãnh sẽ không ai quấy rầy mày nữa. Nếu không phải loạn lạc của chiến tranh với tài năng của mày chắc chắn đời sẽ khá đấy. Còn thời buổi này đành phải vậy thôi…! Mày đồng ý không?
-         Dạ!
Cũng từ đó không ai nhắc đến chuyện bắt Lê Quang đi lính cho tận đến ngày hòa bình. Không ngờ trong đống hồ sơ lưu trữ mà bên Công an có được lại vẫn lưu giữ tập hồ sơ đó. Dù có nói gì, khai gì đi nữa Cán bộ vẫn không tin, nên người nhạc công vẫn phải ở tù. 
*
*    *
     Cái tỉnh nghèo heo hút trên cao nguyên lại được dịp xôn xao, đường phố được chăng đầy cờ và biểu ngữ chào đón vị lãnh đạo cao cấp của Đảng và Nhà nước vào thăm. Lâu lắm mới có vị khách quý đến như vậy ghé vào nên tiếp đón chu đáo cũng phải. Đoàn Văn công của tỉnh được vinh dự biểu diễn chào mừng. Ông Vũ Cương bố trí tiết mục cuối cùng khép lại chương trình văn nghệ chào mừng là bản nhạc phổ thơ của chính vị lãnh đạo cao cấp vào thăm. Bản nhạc dứt, Lãnh đạo tỉnh xếp hàng ôm hoa tặng người có thơ được phổ nhạc hay quá; còn tác giả bài thơ lại đề nghị cho gặp Trưởng đoàn Văn công và người nhạc sĩ tài hoa phổ nhạc thơ mình. Ông Vũ Cương cứ thực lòng báo cáo về người nhạc công phổ nhạc bài thơ không biết vì lí do gì mà bên công an tạm giữ mãi không xét xử. Nghe xong báo cáo, vị khách hỏi Chủ tịch tỉnh, Chủ tịch gọi Trưởng ty Công an và… sáng hôm sau xe U - oat của bên An ninh chở Lê Quang trả về đoàn với lời xin lỗi vì… nhầm!
Hôm sau nữa, Lãnh đạo tỉnh mời Lê Quang đến nhận quyết định cấp nhà ngay tại trung tâm thị xã, thế là hai mẹ con có nơi ở mới; chấm dứt cảnh ở thuê căn hộ nghèo nàn, lụp xụp.

Mùa đông năm 2010

Chủ Nhật, 18 tháng 8, 2013

NỬA ĐƯỜNG NHÌN LẠI ghi chép của HỒNG CHIẾN - CHƯ YANG SIN SỐ: 240 tháng 8 năm 2012








Từ sau Đại hội V, Hội Văn Nghệ Đăk Lăk, nhiệm kỳ 2010 – 2015 đến nay đã gần tròn hai năm; trong hai năm ấy Ban chấp hành khóa V đã làm được những gì và những gì còn chưa làm được hay làm chưa xong. Chúng ta cùng nhìn lại chặng đường vừa qua để tìm ra phương thức hoạt động hiệu qủa hơn cho công tác Hội trong những năm cuối nhiệm kỳ.

Ngày 31 tháng 12 năm 2010, Ủy ban nhân dân tỉnh Đăk Lăk có Quyết định phê duyệt công nhận kết quả Đại hội V, Hội Văn học Nghệ thuật Đăk Lăk, nhiệm kỳ 2010 – 2015. Như vậy, Ban chấp hành mới chính thức bắt tay vào nhiệm vụ của mình – lãnh đạo Hội trên một chặng đường mới, 2010 - 2015. Ban chấp hành khóa V, được Đại hội V bầu ra có sự nhất trí cao, cả 13 Ủy viên ban chấp hành được bầu đúng như số lượng Đại hội đã nhất trí và chỉ bầu một lần đã đủ số lượng trúng cử; Ủy viên đạt số phiếu cao nhất trên 98 %, Ủy viên thấp phiếu nhất cũng đạt trên 70% phiếu bầu; điều đó chứng tỏ sự tin tưởng của 192 hội viên đối với tập thể lãnh đạo Hội mới.
Tuy nhiên bên cạnh niềm vui vẫn còn đó những trăn trở, băn khoăn: các khóa trước Thường trực Hội bao giờ cũng có từ 3 đến 5 người là Ủy viên Ban chấp hành; sau Đại hội V, nhìn lại chỉ còn 2. Ban chấp hành khóa V, họp phiên đầu tiên cũng chỉ bầu được 4 Ủy viên Ban thường vụ, trong khi đó theo số lượng Đại hội quyết định là 5, vẫn khuyết một. Lãnh đạo Hội theo Điều lệ là 03 người, nhưng tại phiên họp đầu tiên của Ban chấp hành chỉ bầu được một Chủ tịch và một Phó chủ tịch kiêm nhiệm, vì thế công tác ở Cơ quan Hội hết sức nặng nề, mỗi thành viên trong Thường trực Hội phải cố gắng trên cả mức bình thường để hoàn thành nhiệm vụ.
 Ban chấp hành khóa V, họp lần 2 vào ngày 25 tháng 2 năm 2011, đã bầu bổ sung thêm một Phó chủ tịch và một Ủy viên thường vụ; kiện toàn bộ máy lãnh đạo Hội đúng như Nghị quyết Đại hội V đã thông qua và sau đó được Thường vụ Tỉnh ủy cũng như Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh ra Quyết định chuẩn y. Bộ máy lãnh đạo Hội nhiệm kỳ V được kiện toàn, nhưng Thường trực Hội vẫn chỉ có 02 Ủy viên Ban chấp hành, (nhiệm kỳ IV là 04 người). Đây cũng là một thách thức không nhỏ trong công tác điều hành Cơ quan Hội. Nhưng với quyết tâm cao và được sự ủng hộ của đông đảo hội viên nên cuối năm 2011, Ban chấp hành Hội đã soạn thảo và ban hành 11 quy chế trong đó có điều chỉnh, bổ sung 4 quy chế các khóa trước đã ban hành, làm cơ sở cho các hoạt động của Hội đi vào nề nếp. Có thể khẳng định: việc ban hành một loạt các Quy chế của Ban chấp hành khóa V, là một bước tiến quan trọng, cụ thể hóa Điều lệ Hội; quy định cụ thể chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn... cho từng bộ phận trực thuộc để đi vào hoạt động chuyên sâu trong từng lĩnh vực. Cũng chính việc có Quy chế nên Thường trực Hội, tuy chỉ có 02 người trong Ban chấp hành vẫn điều hành bộ máy hoạt động có hiệu quả, từng bước đi vào chuyên môn hóa các bộ phận, giúp công tác Hội ngày một tổ chức tốt hơn, họat động hiệu quả hơn. Đã lâu rồi lại mới tổ chức một cuộc Hội thảo “Nâng cao chất lượng tạp chí Chư Yang Sin”, được đông đảo hội viên tham gia và dư luận cả nước đánh giá cao. Giải thưởng Văn học Nghệ thuật năm 2011 được trao cho những tác phẩm xuất sắc, tuy là giải thưởng hàng năm của Hội nhưng một số năm trước không được tổ chức, nay mới khôi phục lại. Ngoài ra một số chi hội cũng có hoạt động sôi nổi, gặt hái được nhiều giải thưởng trong và ngoài nước như: chi hội Mỹ thuật, chi hội Nhiếp ảnh, chi hội Văn Học...  Nổi bật nhất là chi hội Văn học không những duy trì sinh hoạt đều đặn theo quý mà còn tổ chức các buổi tọa đàm, gặp mặt nhân các ngày lễ lớn  trong năm. Chính những hoạt động ấy đã ngày một bám sát cuộc sống, góp phần quan trọng nâng cao chất lượng sáng tác của Hội viên. Từ việc ban hành Quy chế hoạt động của Hội đồng Nghệ thuật, đã có bước tiến quan trọng trong lĩnh vực thẩm định giá trị Nghệ thuật của từng  chuyên ngành; tạo điều kiện thuận tiện cho Ban chấp hành Hội xét tài trợ cho hội viên, kịp thời, công bằng, được đại đa số hội viên hoan nghênh.
Việc tổ chức cho hội viên đi thực tế sáng tác và dự trại cũng được duy trì thường xuyên, liên tục và huy động được nhiều anh chị em tham gia như: đi thực tế sáng tác biên giới của hai tỉnh Đăk Lăk, Đăk Nông hai đợt; đi thực tế sáng tác kết hợp với tỉnh Bình Phước; đi huyện Krông Năng tham dự lễ hội; đi thực tế sáng tác và tham gia triển lãm Mỹ thuật Khu vực Nam miền Trung và Tây Nguyên; đi sáng tác tại các tỉnh miền Trung, hai đợt v.v... Tổng cộng có  82 lượt văn nghệ tham gia. Có thể nói trong năm 2011, Thường trực hội đã tổ chức nhiều lượt người đi thực tế sáng tác hơn những năm trước đây và qua các đợt đi này văn nghệ sĩ hiểu rõ hơn công cuộc đổi mới đất nước do Đảng ta đề xướng và lãnh đạo trong thời kỳ hội nhập đã có những thành công nhất định; một số khó khăn, tiêu cực còn nảy sinh ở nơi này hay nơi kia nhưng đó chỉ là một hiện tượng nhất thời đang dần được khắc phục.
Có thể xem năm 2011, mới chỉ là khởi đầu kiện toàn bộ máy lãnh đạo Hội để tạo đà cho năm 2012 tăng tốc, gặt hái những thành công lớn. Trong tình hình kinh tế nước nhà còn nhiều khó khăn do ảnh hưởng suy thoái kinh tế thế giới, vì thế các hoạt động của Hội cũng gặp không ít khó khăn, thách thức. Nhưng được sự quan tâm đặc biệt của Đảng và Nhà nước, đối với Văn nghệ sĩ tỉnh nhà như: vào đầu xuân, Lãnh đạo tỉnh vẫn tổ chức gặp mặt đại diện Văn nghệ sĩ để lắng nghe tâm tư, nguyện vọng và cả những ý kiến đóng góp xây dựng... Tổ chức cho Văn nghệ sĩ học tập chuyên đề riêng về Nghị quyết trung ương IV - Quán triệt chủ trương, đường lối của Đảng trong chỉ đạo chung và Văn Nghệ nói riêng trong giai đoạn mới; điều đó đã động viên văn nghệ sĩ hăng say sáng tác, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Bên cạnh quan tâm về tinh thần, Ủy ban nhân dân tỉnh cũng đã cấp kinh phí bổ sung gần 700 triệu đồng cho thường trực Hội đại tu ô tô, sửa lại trụ sở Cơ quan Hội khang trang hơn.
 Tiếp nối thành công của năm trước và học tập kinh nghiệm các khóa trước, trong bảy tháng đầu năm nay Ban chấp hành Hội tiếp tục duy trì các hoạt động truyền thống hàng năm như: tổ chức Ngày thơ Việt Nam vào trung tuần tháng Giêng tại hai địa điểm thu hút hàng ngàn khán giả tham gia. Tổ chức cho anh chị em văn nghệ sĩ đi thực tế sáng tác trong và ngoài tỉnh được hợn 90 lượt người. Đến hẹn lại lên, Hè 2012 tổ chức thành công Trại Bồi dưỡng sáng tác Văn – Thơ “Hương Rừng 14” dành cho các em thanh thiếu nhi là người dân tộc thiểu số đã đạt giải thưởng môn Văn trong năm học 2011 – 2012 và là cộng tác viên tạp chí Chư Yang Sin; phối hợp với huyện Cư M’gar tổ chức trại “Bồi sưỡng sáng tác Nghệ Thuật Núi Hoa 17” cho hơn 30 cháu. Rút kinh nghiệm các chuyến đi thực tế sáng tác năm 2011, năm nay Thường trực Hội thí điểm tổ chức đi thực tế sáng tác tại một số điểm trong tỉnh với phương châm “ba cùng”, nhằm giúp văn nghệ sĩ bám sát “hơi thở cuộc sống” ngay tại địa phương, khai thác một phần tiềm năng phong phú cuộc sống mới ngay địa bàn tỉnh nhà để đưa vào tác phẩm và bước đầu đã thành công như chuyến đi thực tế sáng tác 7 ngày tại huyện Krông Năng tháng 5 vừa qua. Cũng chính từ những chuyến đi thực tế sáng tác và các trại “Hạ Xanh”, “Hương Rừng” được tổ chức thường xuyên, liên tục, chúng ta đã phát hiện, bồi dưỡng và kết nạp được 23 hội viên mới, đa số trong số họ tuổi đời dưới 35 và đặc biệt có tới 03 hội viên tuổi dưới 25 đang là sinh viên năm cuối của các trường đại học; đây chính là thành quả của Ban chấp hành các khóa trước đã “gieo” và đến hôm nay chúng ta “thu hoạch”.
 Nhằm nâng cao chất lượng sáng tác cũng như trao đổi thông tin về học thuật, Ban chấp hành Hội đã mời nhà văn Cao Duy Sơn, Phó chủ tịch Hội VHNT các DTTS Việt Nam – Tổng biên tập tạp chí Văn hóa các Dân tộc vào trao đổi với hội viên, được đa số văn nghệ sĩ hoan nghênh. Qua buổi tọa đàm không những anh chị em hội viên mà cả những thính giả đang giảng dạy ở các trường Đại học, Cao đẳng trên địa bàn thành phố Buôn Ma Thuột cũng hết sức hoan nghênh và mong Hội tiếp tục có nhiều những buổi tọa đàm như thế để mọi người có cái nhìn khách quan hơn trước sự phát triển đa dạng của văn hóa – văn nghệ trong thời kỳ hội nhập. Có thể khẳng định: thời gian qua, Ban chấp hành Hội khóa V, với gần một nửa là Ủy viên mới, tuổi đời cũng còn trẻ so với các khóa trước, nhưng đoàn kết cao, phát huy được trí tuệ của cả tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách; biết phát huy dân chủ trong lãnh đạo, đã chèo lái con thuyền Văn Nghệ tỉnh nhà đi đúng hướng, góp phần tích cực vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước do Đảng ta đề xướng và lãnh đạo.
Nói như thế không có nghĩa mọi việc đã viên mãn, không còn những tồn tại và thách thức cần phải vượt qua trong thời gia tới. Phải thẳng thắn thừa nhận một số công việc Ban chấp hành đề ra nhưng Thường trực Hội chưa thể hoàn thành đúng kế hoạch như: tách tạp chí Chư Yang Sin, xét Tài trợ sáng tạo Văn học Nghệ thuật, tổ chức đi thực tế các tỉnh phía Bắc học hỏi kinh nghiệm... Vì nhiều lý do khác nhau như: cơ chế, chính sách chưa hoàn thiện, ảnh hưởng của cuộc khủng khoảng kinh tế toàn cầu, biên chế nhân sự của cơ quan Hội chưa đầy đủ... nên còn nhiều việc đề ra mà chưa hoàn thành đúng kế hoạch.  Ngoài ra, một số hội viên vi phạm Điều lệ hội như: bỏ sinh hoạt, không đóng Hội phí trên 5 năm, được nhắc nhở nhiều lần nhưng không có kết quả nên Ban chấp hành đành phải quyết định xóa tên. Việc phải xóa tên những Hội viên vi phạm Điều lệ Hội là một việc làm bất đắc dĩ; song vì phong trào chung, vì sự phát triển của Hội, đành phải chấp nhận. Chúng ta tin và hy vọng trong thời gian tới, sẽ khắc phục những tồn tại, thiếu sót của thời gian vừa qua, đưa phong trào Hội ngày một phát triển, đáp ứng sự kỳ vọng của anh em hội viên nói riêng và mong đợi của quần chúng nhân dân nói chung. Đất nước có truyền thống hơn bốn ngàn năm dựng nước và giữ nước, Văn nghệ sĩ chúng ta phải chung tay đoàn kết giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, góp sức cùng Đảng và Nhà nước định hướng con đường phát triển, hướng tới dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.


Thứ Bảy, 17 tháng 8, 2013

SỰ TÍCH MỘT BÀI CA bút ký của HỒNG CHIẾN - CHƯ YANG SIN SỐ: 180 THÁNG 8 NĂM 2007






Cuối buổi chiều làm việc với lãnh đạo Huyện uỷ Ea Súp, tôi hỏi đồng chí Phạm Tấn Bê - Bí thư  huyện uỷ: Có thể khẳng định,  nhờ có nguồn nước lấy từ hai hồ Ea Súp Thượng và Hạ, mà đời sống đa số đồng bào các dân tộc trong huyện có những thay đổi cơ bản. Là một trong những người đầu tiên đến đây nhận công tác  chuẩn bị cơ sở vật chất thành lập huyện và gắn bó với phong trào của huyện từ đó đến nay, đồng chí có thể cho chúng tôi biết ai là người đầu tiên đề xuất phương án xây dựng đập Ea Súp?
- Bây giờ muộn rồi, ta nghỉ. Tối nay 19 giờ 30, mời anh đến làm việc, và sẽ gặp người trả lời cho các anh câu hỏi này!
     Mọi người cùng cười, đứng lên bắt tay tạm biệt nhau. Bước ra lan can, nhìn về hướng tây, tôi giật mình thấy mặt trời đã đi ngủ từ lâu. Một buổi chiều trôi qua thật nhanh làm cả chủ nhà lẫn khách quên mất thời gian đang vùn vụt trôi đi.
Đúng hẹn, tôi và nhà văn Khôi Nguyên, quyền Tổng biên tập tạp chí Chư Yang Sin đến phòng làm việc. Đón chúng tôi, ngoài Bí thư Huyện uỷ còn có một người đàn ông cao, gầy, tóc bạc trắng, bàn tay gân guốc nhưng giọng nói còn khoẻ khoắn lắm. Qua lời giới thiệu của Bí thư Huyện uỷ, chúng tôi được biết người đàn ông ở tuổi “thất thập cổ lai hy” ấy chính là ông Nguyễn Công Huân, nguyên Chủ tịch huyện Ea Súp. Sau khi yên vị, cùng thưởng thức li trà Thái Nguyên thơm ngát, ông Nguyễn Công Huân vào chuyện ngay:
            - Nhanh thật, mới đó đã hơn ba chục năm trôi qua. Đầu năm 1976 tôi được Huyện uỷ huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình cử dẫn quân vào Dak Lak xây dựng kinh tế mới. Khi ấy cả vùng đất này còn thuộc huyện Buôn Hồ, năm 1977 tỉnh có chủ trương tách vùng đất phía tây huyện thành lập huyện mới, đặt tên là huyện Ea Súp, thị trấn huyện đặt tại xã Quảng Phú (bây giời là thị trấn huyện Cư M’gar). Sau một thời gian tách huyện, tỉnh thấy thị trấn đặt tại Quảng Phú không phù hợp nên quyết định chuyển về đây. Theo tôi đó là một quyết định sáng suốt vì địa thế thị trấn hiện nay, không những thuận tiện chỉ đạo công tác hành chính cho cả huyện mà còn đảm bảo công tác an ninh quốc phòng, phát triển kinh tế về lâu về dài. Cái mới bao giờ cũng khó, khi ấy điều kiện vật chất còn thiếu thốn trăm bề, bọn phỉ fulrô thường xuyên phục kích cướp của, giết người, phá hoại cuộc sống bình yên của người dân; ấy là chưa kể bon Khơ Me Đỏ hàng ngày vượt biên quấy phá. Bên cạnh đó cái đói là nỗi lo thường nhật của mọi người. Cả vùng đất bằng phẳng, rộng mênh mông như thế này mà sao dân không đủ ăn? Làm cách gì và làm thế nào để dân không đói? Đó là nỗi trăn trở của tôi, cũng như  những nguời cán bộ đầu tiên đến nhận công tác nơi đây.
Ngừng lời nhấp một ngụm nước trà như muốn cho trôi đi cái kí ức không vui đã qua. Ông Phạm Tấn Bê đỡ lời.
            - Bác Huân đây học đại học nông nghiệp cùng khoá với ông Nguyễn An Vinh, Bí thư Tỉnh uỷ đấy! Khi huyện được thành lập, bác đang làm Trung đoàn trưởng Trung đoàn xây dựng kinh tế mới tại đây. Năng nổ với phong trào của huyện và cũng là người đầu tiên vạch ra phương án phải làm gì để xoá được đói, tiến lên có thể làm giàu cho người dân nơi đây.
Tôi giật mình trước thông tin vừa nhận được, chỉ có những ai từng sống ở Tây Nguyên sau 1975 mới thấy được giá trị của những người có tri thức khoa học lúc bấy giờ cần thiết cho công cuôïc tái thiết đất nước như thế nào! Sau khi giải phóng Miền nam, thống nhất Tổ quốc, chúng ta bắt tay xây dựng lại đất nước trên đống đổ nát của chiến tranh; thiếu thốn mọi bề nhưng có lẽ các chuyên gia trên liõnh vực khoa học, kỹ thuật là thiếu trầm trọng hơn cả. Thời ấy có một kỹ sư nông nghiệp ở Tây Nguyên còn quý hơn vàng. Càng quý giá hơn khi người kỹ sư đó lại là người đã kinh qua công tác nhiều năm, tích luỹ được nhiều kinh nghiệm quý báu trong công tác quản lí nông nghiệp. Với vốn liếng khoa học học trong nhà trường, tích luỹ qua thực tiễn cuộc sống thì không còn gì quý hơn khi mang kiến thức đó vào áp dụng cho đồng bào Dak Lak nói chung và nhân dân huyện Ea Súp nói riêng.
Qua lời tâm sự của ông Nguyễn Công Huân và thỉnh thoảng có sự góp lời của ông Bí thư Huyện uỷ, tôi dân dần hình dung ra cuộc sống của nhân dân các dân tộc tại chỗ lúc bấy giờ: Đói! Trình độ canh tác của người dân lạc hậu, chỉ dựa vào sức con người là chủ yếu, còn trâu bò chỉ dùng làm thực phẩm, cúng tế trong các ngày lễ, chứ không biết sử dụng làm sức kéo giúp đỡ con người trong lao động. Sản xuất nông nghiệp hoàn toàn phụ thuộc vào trời. Gió mưa thuận hoà còn có thể đắp đổi qua ngày, còn không là đói. Dân quê lúa Thái Bình vào đây cũng đói vì chỉ có thể làm một vụ lúa rẫy vào mùa mưa, còn mùa khô, hạt nước uống cũng hiếm chứ nói gì dùng cho các việc khác.
Để thoát đói chỉ còn cách phải trồng lúa nước. Nhưng bao đời nay người dân ở đây chỉ biết trỉa lúa trên rẫy, còn lúa nước họ cho rằng không thể trống trên vùng đất cằn cỗi này. Không bằng lòng với truyền thống lâu đời của người dân bản địa nơi đây, ông kỹ sư nông nghiệp trên cương vị trung đoàn trưởng đã tổ chức trồng thử bốn sào lúa ven suối trước sự không tin của mọi người, trong đó có cả một số vị lãnh đạo cũng cho là viển vông, không thực tế. Hạt giống Thái Bình quen với hương vị phù sa sông Hồng, không ngờ lại sinh sôi nảy nở tốt đến thế khi được gieo trồng trên mảnh Ea Súp có đủ nước. Ngày lúa chín, ông trung đoàn trưởng mời các vị lãnh đạo cấp trên về tận nơi kích mục sở thị. Cầm trên tay bông lúa vàng óng ánh, nặng trĩu, hạt xếp lên nhau dài hơn gang tay, mắt ai cũng rưng rưng xúc động. Chìa khoá xoá đói giảm nghèo đã được tìm ra. Vùng đất Ea Sup cũng có thể trồng được lúa nước. Câu chuyện cổ tích như nằm mơ giữa ban ngày đã thành sự thật. Việc còn lại là phải tìm cho ra nguồn nước. Nếu có nước, cả vùng bình nguyên Ea Súp rộng lớn mênh mông này sẽ là vựa lúa trù phú trên cao nguyên Tây Nguyên.
Từ thực tiễn đó đã nảy sinh ý tưởng đắp đập để cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp và phục vụ đời sống dân sinh. Dự án xây hồ chứa nước Ea Sup ra đời trong hoàn cảnh như vậy và được các cấp lãnh đạo ở trung ương cũng như địa phương chấp thuận. Để thực thi dự án đắp đập, cấp trên yêu cầu trung đoàn Ôâng phải khai hoang được 400 ha đất trước khi công trình khởi công. Lúc bấy giờ Trung đoàn đã được cấp máy móc phục vụ khai hoang, nhưng người sử dụng còn ít. Ôâng về đơn vị mời toàn thể anh em đại đội cơ giới về họp, đặt yêu cầu phải khai hoang gấp diện tích đất theo yêu cầu cấp trên giao. Đại đội trưởng cơ giới thay mặt anh em trong đơn vị hứa sẽ hoàn thành đúng tiến độ với một điều kiện: được ăn một bữa no. Ông đồng ý và còn ra lệnh đặc biệt, cung cấp cho anh em lái máy mỗi ngày một gói thuốc lá.
Kể đến đây, ông trung đoàn trưởng khi ấy, sau này là Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện Ea Sup không nén được xúc động, lấy khăn lau mặt. Ước mơ giản dị của người lao động làm công tác nặng nhọc lúc đó chỉ dám xin được  một bữa no thôi chứ không phải là hai, ta mới thấm thía cái đói khổ khi ấy. Để động viên anh em trong đơn vị lái máy, hàng ngày Ông lên ca bin xe cày, xe ủi ngồi cùng tài xế, không lái được, nhưng thấy ông ở bên cạnh động viên, anh em  cố gắng lao động tăng giờ, tăng ca. Vì thế không có gì ngạc nhiên khi ông Y Ngông chủ tịch UBND tỉnh xuống kiểm tra thực địa đã bắt tay chúc mừng ông ngay trên vùng đất vừa khai phá đúng tiến độ.
Cơ sở vật chất hạ tầng chuẩn bị xong, các đoàn đưa quân vào thi công và hồ chứa nước Ea Súp Thượng rồi Ea Súp Hạ đã ra đời như vậy đó. Hơn hai ngàn ha lúa nước hai vụ đã hình thành, đời sống nhân dân nơi đây thật sự đã lật qua một trang mới: ấm no - hạnh phúc. Nhưng chắc chắn không ít người hưởng thành quả hôm nay còn nhớ được cái buổi ban đầu sơ khai trăm sự vất vả của lớp cha anh đi trước! Họ đã đổ không chỉ mồ hôi, nước mắt mà còn đổ cả máu xương xuống vùng đất thanh bình này khi đất nước đã thống nhất để có ngày hôm nay: dân giàu - nước mạnh.
Vùng đất khô cằn đã trở thành miền đất hứa là như vậy đó! Những người ngồi trước mặt tôi tối hôm nay đã xây nên một câu chuyện cổ tích của thế kỉ, biến vùng đất hoang vu thành cánh đồng trù phú thẳng cánh cò bay. Thành quả hôm nay là sự kết tinh của sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và chính quyền các cấp với những cá nhân tiên tiến dám nghĩ dám làm, dám hi sinh lợi ích cá nhân vì công việc chung, vì lợi ích cộng đồng. Hai vị lãnh đạo của huyện Ea Súp thuộc hai thế hệ kế tiếp nhau cùng chúng tôi ôn lại kỉ niệm đã qua, không khỏi bùi ngùi, xúc động khi nhắc laị các vị lãnh đạo huyện thuở sơ khai ban đầu như các vị lãnh đạo huyện uỷ: A Ma Đam, Thu Nga, Y Sơn, hay các vị lãnh đạo UBND huyện: Y Li, Y Nga Kbua, Trần Biên… người còn, người mất, người ở Dak Lak, người chuyển đi xa; nhưng tất cả đã góp công sức của mình vào sự hưng thịnh của vùng đất  bình nguyên Ea Súp bao gồm không chỉ huyện Ea Sup hôm nay mà còn cả các huyện Cư M’gar, Buôn Đôn. 
Đêm về khuya, từng cơn gió mát ào đến. Phía tây thỉnh thoảng loé lên những ánh chớp ngoằn nghèo báo hiệu một cơn mưa sắp đến. Cả thị trấn sáng trưng dưới ánh đèn điện soi rõ những căn nhà cao tầng đứng uy nghi như tạc vào đường chân trời, tạo nên những đường nét xinh đẹp như một bức tranh. Nhìn về phía đông dãy đèn điện trên bờ hồ đập Ea Súp Thượng lung linh tỏa bóng xuống lòng hồ sáng cả góc trời, làm người ta có thể nhầm nơi đó, một thành phố mới mọc lên. Chia tay các anh, lòng tôi tràn ngập một niềm vui đang ùa tới. Với vùng đất giàu tiềm năng này, cán bộ lãnh đạo sâu sát nhân dân như các anh, tôi tin cuộc sống của người dân nơi đây sẽ không chỉ ấm no, hạnh phúc mà còn có thể làm giàu trên chính mảnh đất tưởng chừng như khô cằn này. Vùng đất ngủ quên bao đời nay đã được đánh thức. Một tương lai rực rỡ đang đón đợi phía trước.

Thứ Ba, 13 tháng 8, 2013

GIỚI THIỆU TẠP CHÍ CHƯYANGSIN SỐ: 252 THÁNG 8 NĂM 2013








Tạp chí Văn Nghệ CHƯ YANG SIN
Xuất bản hàng tháng

Số: 252

Tháng 8/2013


                                   Tòa soạn:                    
172 Điện Biên Phủ - TP.Buôn Ma Thuột - Đắk Lắk
ĐT :  0500.3840 276
Email: cuyangsindaklak@gmail.com
                                              
Quyền Tổng biên tập:
KHÔI NGUYÊN

Phó Tổng biên tập thường trực:
 HỒNG CHIẾN

Phó Tổng biên tập:
 ĐẶNG BÁ TIẾN

Thư ký tòa soạn
AN QUỐC BÌNH

Ban biên tập:
NGUYỄN VĂN THIỆN
PHẠM HUỲNH
AN QUỐC BÌNH
HUỲNH NGỌC LA SƠN

Trình bày:

Y KUAN NY NIÊ


Thiết kế mỹ thuật:
AN QUỐC BÌNH

Trong số này


 VĂN:
      l Một cán bộ lão thành tiêu biểu (ghi chép) – TRẦN CHI
l      Ký ức mùa thu (tản văn) – HOÀNG BÍCH HÀ
l      Nụ tình khô trên những nhánh hao gầy (tản văn) PHẠM THỊ NGỌC THANH
l  Củ sắn quê tôi (tản văn) – NGUYỄN THỊ BÍCH THIÊM 
l      Góc trời thơ ấu (tản văn) – VŨ THỊ HUYỀN TRANG
l      Nhánh huệ nước trời (truyện ngắn) – MỘC ANH
l Bóng (truyện ngắn) HỒNG PHÚC
l Ký ức vườn xưa (truyện ngắn) TAM ANH
l Tha lỗi cho con (truyện ngắn) NGUYỄN THỊ HUỲNH OANH
l Me... eo (Truyện ngắn nước ngoài) VÕ HOÀNG MINH (dịch)




THƠ của các tác giả:
DU AN – CÔNG NAM – VŨ DY – NGUYỄN HƯNG HẢI – TRẦN SANG – ĐẶNG BÁ TIẾN – TỪ DẠ LINH – LÊ VĨNH TÀI – TIẾN THẢO – HUỆ NGUYÊN – PHẠM THỊ NGỌC THANH – ĐỖ TOÀN DIỆN – PHÚC TOẢN – NGUYỄN TRỌNG ĐỒNG – NGUYỄN VĂN CHINH – PHAN HOÀI THỦY – VÕ THỊ HỒNG TƠ – NGUYỄN VIẾT LỢI – DUY ĐẮC – H’XÍU HMOK – PHAN NGỌC HẢI – NGUYỄN LOAN – PHẠM ÁNH – LÊ THỊ MINH NGHIỆM – BÙI CÔNG TIẾN – VƯƠNG TRỌNG – HỒ HỒNG LĨNH – NGUYỄN QUỲNH THI – VƯƠNG VĂN BẠNG

Nghiên cứu giới thiệu – phê bình:

l                       Quê hương trong các bài thơ... -  PHẠM TUẤN VŨ
l                       Âm vang biển đảo...        INRASARA
l                       Vài suy nghĩ về truyện ngắn...   – HỒNG CHIẾN
l                       Cây hoa sữa xanh tươi     – BÙI MINH VŨ
                                     



NHẠC

Hướng về đảo xa  Nhạc và lời MẠNH TRÍ

Trăng soi cội nguồn    Nhạc và lời MẠNH TRÍ

Đêm Ban Mê   Nhạc và lời HỒ TUẤN


Thứ Bảy, 10 tháng 8, 2013

NGÀY NÀY 25 NĂM TRƯỚC VÀ...




Ngày này 25 năm trước (10/8/1987-10/8/2013), Hồng Chiến đã phải nhận một quyết định oan nghiệt của UBND huyện Ea Kar, tước đi quyền công dân chính đáng của mình. Và Trong suốt năm năm trời buồn tuổi - oan khuất ấy, Hồng Chiến đã nhận được sự giúp đỡ của đông đảo bạn bè, đồng nghiệp trên khắp mọi miền đất nước; đặc biệt là sự ủng hộ của các nhà báo: anh Bá Thành (TTXVN), anh Nguyễn Vĩnh (báo Người Giáo Viên Nhân dân), anh Hữu Thanh, Hồng Tuyến (báo Tiền Phong); anh Đặng Bá Tiến, Dương Thế Hoàn, Uông Ngọc Dậu (báo Dak Lak); anh Đỗ Trọng Phụng, Nguyễn Quyền (Đài Phát thanh - Truyền hình Dak Lak);  anh Huỳnh Nhất Linh (nguyên Phó trưởng huyện Công an Ea Kar), anh Uông Ngọc Hợi (Trưởng Công an thị trấn Ea Knốp), anh Đinh Hữu Trường (nguyên Phó trưởng phòng PX23 - Công an tỉnh Đắk Lắk)... để đứng vững, tồn tại đến khi được Tòa án Tối cao minh oan (tháng 8 năm 1992). Nhân kỷ niệm 25 năm sự kiện đau xót này, Hồng Chiến xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến tất cả các anh, các bạn đồng nghiệp đã vi sự thật, không sợ bị trù dập, cường quyền mà  đứng ra bảo vệ công lý để Hồng Chiến có được ngày hôm nay. 
Nhân dịp này Hồng Chiến xin mời các bạn điểm qua một số tít báo viết về vụ án này của các báo: Người giáo viên nhân dân, Tiền phong, Giáo dục và Thời đại... đã đăng trong năm năm ấy.







...Và hôm nay





 Cơ quan Hội văn học NGhệ thuật Đắk Lắk năm 2016




HÀ NỘI NĂM 2011



HÀ NỘI NĂM 2016

Thứ Năm, 8 tháng 8, 2013

TIN VĂN NGHỆ

 Sáng ngày 6 tháng 8 vừa qua, tại Văn phòng Hội VHNT Đắk Lak Thường trực Hội đã tổ chức công bố Quyết định kết nạp hội viên mới; nhà văn Hồng Chiến - Phó chủ tịch Thường trực Hội, trao Quyết định, Thẻ hội viên Hội Văn học Nghệ thuật Đắk Lắk cho Nghệ sĩ Nhiếp ảnh Nguyễn Văn Lộc (ảnh dưới)

Hội viên mới, Nghệ sĩ Nhiếp ảnh Nguyễn Văn Lộc (ảnh dưới)

Cũng trong buổi sáng ngày 6 tháng 8 vừa qua,  Thường trực Hội đã tổ chức trao Bằng khen của UBND tỉnh cho Chi hội Nhiếp Ảnh và các Nghệ sĩ Nhiếp ảnh có thành tích đặc biệt xuất sắc năm 2012



Bà Trần Thị Mùi - Chánh Văn phòng Hội công bố Quyết định tặng Bằng khen của UBND tỉnh (ảnh trên)
Nhà văn Khôi Nguyên - Bí thư Đảng Đoàn, chủ tịch Hội thừa ủy quyền của Chủ tịch tỉnh Đắk Lắk trao Bằng Khen của UBND tỉnh cho Chi hội Nhiếp ảnh (người thứ hai từ phải sang)


 Nhà Văn Khôi Nguyên - Chủ tịch Hội, nhà văn Hồng Chiến - Phó chủ tịch thường trực Hội và nhà thơ Đặng Bá Tiến - Phó tổng biên tập tạp chí Chư Yang Sin tặng hoa và trao Bằng khen của UBND tỉnh cho các nghệ sĩ Nhiếp ảnh có thành tích đặc biệt xuất sắc năm 2012; từ phải qua: Nhà thơ Đặng Bá Tiến, nhà văn Hồng Chiến, Nhệ sĩ Nhiếp ảnh Nam Phương, Nghệ sĩ Nhiếp ảnh Đào Thọ, NSNA Quang Khải, nhà văn Khôi Nguyên (ảnh dưới)


Thứ Ba, 6 tháng 8, 2013

KẾT QUẢ HƠN MONG ĐỢI ghi chép của HỒNG CHIẾN - CHƯ YANG SIN SỐ: 192 THÁNG 8 NĂM 2008








Ngày 03 tháng 7 năm 2008 tại Trường Quân sự địa phương tỉnh, Hội Văn học - Nghệ thuật Dak Lak đã tổ chức Trại sáng tác Thơ - Văn cho Thanh thiếu niên các Dân tộc thiểu số tỉnh Dak Lak lần thứ IV năm 2008. Đây là hoạt động thường niên của Hội. Cứ hai năm một lần - vào năm chẵn, Hội tổ chức trại sáng tác thơ văn dành cho các em thanh thiếu niên các dân tộc thiểu số và cũng hai năm một lần – vào năm lẻ, Hội kết hợp với nhà Văn hóa Thanh thiếu niên tỉnh –Tỉnh Đoàn thanh niên – Sở Giáo dục & Đào tạo mở trại sáng tác thơ văn cho các em học sinh phổ thông có năng khiếu văn thơ.
Về dự trại lần này có 24 em học sinh độ tuổi từ 13 đến 18 đang là học sinh phổ thông từ lớp 6 đến lớp 11 năm học 2007-2008, ở 11 huyện - thành phố có năng khiếu sáng tác thơ văn được các Phòng Giáo dục và các Trường Dân tộc nội trú giới thiệu. Trại năm nay, trong số 24 trại viên tham gia chỉ có 2 em nam giới còn lại  22 em  nữ, hội tụ ba dân tộc anh em đang sinh sống tại Dak Lak gồm dân tộc Ê Đê: 18 em, dân tộc Tày: 5 em, dân tộc M’ Nông: 01 em.
Khai mạc Trại có sự tham gia của lãnh đạo Ban Tuyên giáo tỉnh ủy, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh tỉnh, Sở Thông tin -Truyền thông, Sở Văn hóa-Thể thao & Du lịch, Ban giám hiệu trường Quân sự địa phương, Báo Dak Lak, Đài phát thanh - Truyền hình Dak Lak, Tạp chí Văn Hóa, Chuyên san Giáo dục tỉnh…
Trong thời gian dự trại, các em đã được NSƯT Vũ Lân giới thiệu khái quát về Văn hóa các dân tộc Tây Nguyên, đặc biệt là truyền thuyết xung quanh các loại chiêng truyền thống của người dân bản địa, cách gọi tên các loại chiêng như thế nào là đúng, bản nhạc nào dùng trong nghi lễ gì v.v... Nhà thơ Hữu Chỉnh hướng dẫn các em tìm hiểu về các thể loại thơ và bút pháp trữ tình trong thơ. Nhạc sĩ - nhà văn Linh Nga Niê Kđăm hướng dẫn cách sưu tầm truyện cổ tích của các dân tộc, một vốn quý văn học đang bị mai một; nhạc sỹ – nhà văn còn dành thêm buổi tối để trao đổi về những tác phẩm các em đã sưu tầm được. Nhà thơ Phạm Doanh không những đọc, góp ý các bài thơ các em đã sáng tác mà còn khích lệ các em sáng tác song ngữ và không ngờ gặt hái được những kết quả ngoài cả mong đợi. Nhà thơ Lê Vĩnh Tài trao đổi với các em về thơ trẻ và giới thiệu về một số hiện tượng thơ trong các trào lưu thơ mới gần đây. Nhà văn Niê Thanh Mai hướng dẫn các em phương pháp sáng tác truyện ngắn, cách xây dựng nhân vật, tính cách nhân vật, cấu trúc truyện ngắn v.v.. đây là kiến thức hết sức bổ ích cho người sáng tác văn xuôi. Nhà văn Hồng Chiến hướng dẫn các em tìm hiểu về thể loại ký văn học, một trong những thể loại các em thường viết nhưng lại hay nhầm lẫn với thể loại Báo chí. Nhà văn Khôi Nguyên dành trọn thời gian có được với trại để đọc, góp ý cho các em về các tác phẩm mới sáng tác. Chính những nhiệt tình của các bác, các anh, các chị là văn nghệ sĩ lớp trước đã giúp  cho các em không những nắm được kiến thức cơ bản về mặt lí thuyết, kinh nghiệm thực tiển, mà còn tự tin vào sáng tác thơ văn của mình. 
Sau năm ngày đêm trao đổi, học hỏi phần lý thuyết, các em được đi thực tế hai ngày tại Thành phố Nha Trang - tỉnh Khánh Hòa, thăm các danh lam thắng cảnh nổi tiếng của tỉnh bạn như: Tháp Bà, Làng Chài, Thủy Cung, Bãi Sạn, chợ Đầm… đã gặt hái được nhiều kiến thức bổ ích. Nhiều em khi thấy biển đã hét lên vì ngạc nhiên, có em còn nếm thử nước biển xem mặn bằng ngần nào. Hai đêm ở thành phố Nha Trang hầu như không ngủ, các em ngắm biển, ngắm trời đêm trên biển để so sánh với trời đêm quê mình; hay rủ nhau chạy trên bờ biển đuổi bắt những con còng bé nhỏ, cái gì đối với các em cũng mới mẻ và cần được khám phá. Khuya về khách sạn lại hì hục ngồi viết vì cảm hứng đang ùa đến. Rời Khánh Hòa, các em tiếp tục hành trình lên Đà Lạt, thăm các thắng cảnh nổi tiếng như: Suối Vàng, Thung Lũng Vàng, Hồ Tuyền Lâm, Trúc Lâm Thiền Viện, chợ Đà Lạt, chợ Đêm v.v… Trong hai ngày lưu lại Đà Lạt, các em trại viên còn được nhà văn Lê Công, Phó chủ tịch Hội VHNT Lâm Đồng – Tổng biên tập Tạp chí Lang Biang tiếp và tổ chức giao lưu với một số cây viết suất sắc của tỉnh bạn. Cuộc gặp mặt – giao lưu cảm động và bổ ích này giúp cho các em dự trại tích luỹ thêm nhiều kinh nghiệm quý báu làm hành trang trên con đường sáng tạo văn học – nghệ thuật về vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Tuy trong những ngày ở trại có em còn gặp nhiều khó khăn vất vả như em H Wiết lớp 11 trường THPT Bán công huyện Krông Pak, đến trại với vết thương bị tai nạn giao thông chưa lành, đi lại phải có người nâng đỡ nhưng vẫn say mê theo học đến hết phần lí thuyết; hay em Phạm Thị Ngọc Aùnh đến từ trường THCS Chu Văn An, huyện Ea Kar gần hết thời gian học lý thuyết phải vật lộn với vết đau trên mặt, không ăn được, đêm về vết đau nhức nhối, khóc lóc cả đêm nhưng được bạn bè động viên đã ở lại dự trại, không hề bỏ một buổi học nào. Còn nhiều nữa những tấm gương cá nhân vượt khó đi lên, cố gắng hòan thành suất sắc nhiệm vụ của mình như Trại Trưởng Ayun Aùnh Hồng, trại viên: H' Xĩu Hmok, H’ Siêu Byiá, H’ Rút Niê (cả bốn em đều là học sinh lớp 11-trường DTNT Nơ Trang Lơng), ngoài việc sáng tác còn dành nhiều thời gian tổ chức cho các bạn trong tổ, trong lớp những buổi sinh hoạt bổ ích, xứng đáng là những người chị của các bạn trại viên.
Có thể nói các em đến trại lần này ai cũng háo hức tìm tòi, học hỏi, chấp hành tốt nội quy của trại, hăng say sáng tác, nhờ vậy số lượng tác phẩm sáng tác được thật đáng mừng - Thơ: 68 bài, Văn xuôi: 27 bài, sưu tầm: 21 bài. Những con số thống kê nêu trên đã nói lên phần nào sự nghiêm túc trong sáng tạo thơ văn lần này của các em dự trại.
Sáng ngày 12 tháng 7 năm 2008, tại hội trường trường Quân sự địa phương tỉnh Dak Lak, Trại sáng tác thơ văn Thanh thiếu niên các Dân tộc thiểu số tỉnh Dak Lak lần thứ IV - Hè 2008 tổ chức lễ bế mạc. Tại buổi lễ tổng kết, ông Vũ Văn Tùng đại diện Phòng Văn - Xã của UBND tỉnh Dak Lak đã phát biểu và biểu dương Hội VHNT Dak Lak đã có sáng kiến tổ chức trại cho các cháu và xem đây là việc làm hết sức có ý nghĩa, cần được duy trì và phát huy trong thời gian tới.
Trại sáng tác thơ văn Thanh thiếu niên các Dân tộc thiểu số tỉnh Dak Lak lần thứ IV - Hè 2008 do Hội Văn học-Nghệ thuật Dak Lak tổ chức đã thành công hơn cả mong đợi. Ngoài số tác phẩm giao nộp cho lãnh đạo trại, các em còn để lại ấn tượng tốt đẹp trong lòng những người thế hệ trước, cũng như vùng đất mà các em đã đến, đi qua, hoặc giao lưu. Chúng ta hi vọng rằng, qua mười ngày ngắn ngủi ở trại là thời gian để ươm mầm, gieo hạt để ngày mai sẽ đơm hoa kết trái cho quả ngọt là những văn nghệ sĩ tài năng, xứng tầm với vùng đất Tây Nguyên huyền thoại.