Thứ Bảy, 12 tháng 9, 2015

CHƯ YANG SIN SỐ 276 - VĂN HỌC NƯỚC NGOÀI



    Chimamanda Ngozi Adichie 

Chimamanda Ngozi Adichie sinh ngày 15 tháng 9 năm 1977 ở Enugu, Nigeria. Năm 19 tuổi, Chimamanda nhập cư Hoa kỳ nhờ học bổng khoa truyền thông tại đại học Drexel ở Philadelphia trong hai năm, rồi tiếp tục học lấy văn bằng môn truyền thông và khoa học chính trị tại đại học Miền Đông bang Connecticut.
Tiểu thuyết đầu tay của chị  - Purple Hibiscus (Cây dâm bụt đỏ tía), được phát hành tháng 10 năm 2003. Cuốn sách này nhận được sự đánh giá cao của dư luận và sau đó lọt vào chung khảo giải thưởng Orange Fiction Prize (2004) và được giải thưởng Commonwealth Writers’ Prize dành cho Sách đầu tay hay nhất (2005).
Tiểu thuyết thứ hai của chị, Half of a Yellow Sun (Nửa mặt trời vàng) – lấy bối cảnh trước và trong cuộc chiến Biafran; được in tháng 8 năm 2006 ở United Kingdom và tháng 9 năm 2006 ở Hoa kỳ, cùng được phát hành ở Nigeria.
Tập truyện ngắn The Thing around Your Neck, (Vật chung quanh cổ mi), được in năm 2009.
Cho đến nay Chimamanda đã có trên 10 giải thưởng văn chương.


OLIKOYE


Trời mưa thật êm dịu vào buổi sáng thứ hai hôm ấy khi nước ối của tôi vỡ. Vì tôi đã quen với những cơn mưa rào trút nước ở Lagos, cơn mưa tí tách dịu êm này làm tôi cảm thấy êm ả, bình yên. Omoregie chồng tôi đi làm và vì vậy người hàng xóm của chúng tôi đưa tôi đến bệnh viện, áo váy của tôi bị ẩm một tí, tim tôi tràn đầy mong đợi đứa con đầu lòng của tôi. Người y tá phụ trách là chị Chioma, một người phụ nữ có khuôn mặt nghiêm nghị thích nói đùa. Trong lần kiểm tra chót của tôi, khi tôi than về chứng đau lưng do thai kỳ, chị đã bắt bẻ: “Cô có nghĩ về chứng đau lưng khi cô đang sinh hoạt với chồng không?”.
Chị kiểm tra cổ tử cung của tôi và nói còn sớm. Chị động viên tôi đi lại trong khu sản.
“Chắc là cô vui khi con đầu lòng là con trai”, chị nói.
Tôi nhún vai. “Chừng nào em bé khỏe mạnh”.
“Tôi biết là cô đợi khi sinh bé xong sẽ quyết định đặt tên, nhưng tôi chắc là cô đã có ý tưởng trong trí”, chị nói.
“Tôi sẽ đặt tên bé là Olikoye”.
“Ồ, tôi không biết chồng cô thuộc sắc tộc Yoruba”.
“Không phải đâu. Cả hai chúng tôi thuộc sắc tộc Bini”.
“Nhưng Olikoye là tên của sắc tộc Youruba”.
“Đúng vậy.”
“Vậy thì tại sao?”, chị hỏi.
Sự co thắt của tôi chậm chạp. Tôi mời chị Chioma ngồi và tôi sẽ kể chị nghe câu chuyện.
***
Con đầu lòng của cha tôi là con gái. Ông nói đó là một cô bé khóc to, đã nắm lấy ngón tay ông với một sức mạnh đáng ngạc nhiên, và ông biết điều đó có nghĩa là cô bé sẽ dữ dội. Nhưng bé đã chết khi được bốn tháng tuổi. Người con thứ hai, là con trai, chết khi chưa được bốn tháng tuổi. Một số người trong gia đình cha tôi nói mẹ tôi là một phù thủy chuyên ăn những đứa con của bà, đổi những trái tim trong sạch của chúng để lấy sự trường thọ cho bà. Nhưng vào lúc ấy, những đứa trẻ khác trong làng cũng chết. Chúng bị bệnh tiêu chảy và thị lực yếu. Một số người nói bệnh tiêu chảy là sự trừng phạt của Trời. Những người Công giáo cầu nguyện trong nhà thờ. Những người Hồi giáo cầu nguyện trong thánh đường. Những người già làm những lễ tế. Dù vậy, nhiều đứa trẻ chết, và việc chúng đã được sinh ra dường như vô nghĩa. Đó là năm 1985. Cha tôi làm lái xe ở Bộ Y tế. Vị trí thấp. Một hôm, ông đón một yếu nhân đến thăm từ phi trường, đưa ông này xuống tại khách sạn, rồi phát hiện ra ở băng sau của xe có một tập tiền dày rơi ra từ túi xách của vị khách này. Ông trả tập tiền lại ngay tức khắc. Người khách hài lòng – và ngạc nhiên – đã kể với ông Bộ trưởng mới của Bộ về chuyện này. Hai ngày sau, vị Bộ trưởng mới gọi cha tôi. “Tôi muốn anh làm tài xế cho tôi, tôi đánh giá cao sự trung thực”, vị bộ trưởng nói.
***
Tên của vị Bộ trưởng là Dr. Olikoye Ransome-Kuti. Ông có đôi mắt lớn có vẻ ngái ngủ và như là người thuộc một thời quá khứ khi mà sự liêm khiết kiểu cũ còn dễ dàng. Sự giản dị của ông làm cha tôi ngạc nhiên. Ông không thích những cuộc tiệc tùng của chính quyền, không thức khuya, không uống rượu và hò hẹn, và cha tôi không phải cảnh giới bí mật nào giúp ông. Ông ăn điểm tâm với gia đình mỗi buổi sáng, đi bộ với vợ vào buổi chiều tối, chơi quần vợt với các con vào những cuối tuần. Ông lắng nghe chăm chú, đôi mắt có vẻ ngái ngủ ấy chú ý đến nỗi cha tôi, mới đầu, cảm thấy khó chịu khi chúng nhìn ông.
Vị Bộ trưởng hỏi thăm cha tôi về gia đình tôi, và cha tôi nói với ông rằng mọi người đều ổn. Vị Bộ trưởng hỏi ông có bao nhiêu người con, cha tôi nói chưa có người nào, nhưng vợ ông đang mang thai và sẽ sinh trong vài tuần nữa (mẹ tôi đang mang thai tôi). Khi ấy vị Bộ trưởng hỏi một câu làm cha tôi giật mình. “Ông đã có bao nhiêu người con đã chết?”.
Cha tôi cà lăm cà lặp nói “Hai đứa thưa ông, nhưng chúng tôi đang cầu nguyện cho chuyện đó sẽ không xảy ra nữa”.
Ông Bộ trưởng nói cầu nguyện là tốt, nhưng có một chuyện khác mà ông phải làm.
“Trẻ con của chúng ta đang chết vì những chứng bệnh đơn giản và điều đó phải chấm dứt. Tôi muốn anh đưa tôi đến làng của anh. Tôi đã phát động một chương trình ở Lagos nhưng tôi muốn phát động nhiều chương trình khác trong nhiều nơi của đất nước. Tuần sau chúng ta sẽ đến làng của anh”.
Sự vụ này làm cha tôi nghẹn ngào một lúc mới nói được và ông nói, “Thưa ông vâng”.
***
Ở làng của cha tôi, vị Bộ trưởng đi lòng vòng cùng với các phụ tá của ông, gặp gỡ nhiều người, hỏi han họ và lắng nghe họ. Ông chỉ cho phụ nữ cách trộn đường và muối với nước sạch để cho các con bị tiêu chảy của họ uống, chỉ họ cách rửa tay với xà phòng, nói với họ về trung tâm Chăm sóc Sức khỏe Căn bản sẽ được mở trong vòng một tháng. Khi được mở, mọi em bé sẽ được tiêm vắc xin. Ông cho họ xem nhiều bức ảnh chụp các em bé mắt sáng ngời ở Lagos và nói với họ sự chủng ngừa cũng giống như những món quà nhỏ quý giá dành cho các bé. Ai mà biết được có một ngôi làng nhỏ như làng chúng tôi tồn tại? Tuy vậy cha tôi vẫn nói với dân làng rằng ông đã không làm gì cả, mà chính vị Bộ trưởng cứ đòi đến làng. Nhiều năm sau, khi cha tôi kể cho tôi câu chuyện này, tôi vẫn thấy được trong mắt ông đầy những điều tôi không thể gọi tên.
“Vị Bộ trưởng đối xử với chúng tôi như những con người”, ông nói, “Như những con người”.
** *
Chỉ mất chút thời gian. Chiếc miệng nhỏ mở ra của một em bé và một giọt chất lỏng. Một cánh tay ấm của một em bé và một mũi tiêm. Chỉ như thế mà cứu được mạng sống nhiều em bé sinh trong năm đó ở làng chúng tôi, ở những làng chung quanh làng tôi và xa cách làng tôi, ở Calabar, EnuguKaduna. Chỉ như thế mà cứu được mạng sống của tôi. Tôi sinh năm 1986. Tôi thường tự hình dung mình đang được miễn dịch, trong vòng tay mẹ tôi, trong dưỡng đường mới mà vị Bộ trưởng cho xây dựng. Phụ nữ đầy trên những lối đi. Sự điều trị miễn phí. Ở đầu kia của dưỡng đường là một cuộc hội nghị kế hoạch hóa gia đình, ở đó người nữ y tá thuyết trình với gian phòng đầy phụ nữ, thỉnh thoảng chêm vài câu nói đùa làm cho họ cười. Mẹ tôi tham gia cùng họ. Nhiều năm sau, mẹ tôi nói lý do làm cho tôi không chết chính nhờ mũi tiêm nhỏ vào tay tôi, nhưng lý do làm cho tôi có thể đi học là nhờ kế hoạch hóa gia đình. Em gái tôi sinh sau tôi hai năm, em trai tôi sinh sau nó hai năm, và mẹ tôi nhớ những lời về kế hoạch hóa gia đình người y tá nói với bà là “hãy có số con phù hợp để quý bạn có thể dạy dỗ tốt. Nếu không bạn sẽ không thể dạy được đứa nào trong số chúng tốt đẹp cả”.
***
Nhờ ông Bộ trưởng, cha tôi cũng được biết rõ Nigeria. Ông Bộ trưởng đã đến những làng, xã nằm sâu trong nội địa, và cha tôi lái xe đưa ông đi qua những con đường bằng phẳng ở phía Bắc và những con đường gập ghềnh ở phía Nam. Ông theo vị Bộ trưởng đến những bệnh viện, nhìn ông diễn thuyết, ra bộ, giải thích, cắt băng khánh thành cho nhiều trung tâm. Bất kỳ nơi nào họ đi, nhân dân theo sau ông Bộ trưởng. Một số người chỉ cần chạm vào ông, bắt tay ông. Nhiều người khác mang quà. “Không, không”, vị Bộ trưởng nói với cha tôi, khi ông thấy khoai lang, chuối và gà. “Gửi chúng lại cho họ. Bảo họ là cứ cất giùm tôi”.
***
Lần đầu tiên tôi gặp ông Bộ trưởng là năm tôi sáu tuổi. Tôi học lớp một. Cha tôi nói với ông rằng tôi đứng đầu lớp. Ông Bộ trưởng bảo cha tôi đưa tôi đến nhà ông. Tôi muốn đứng chờ trong nhà bếp, và cảm thấy khó khăn khi được gọi vào phòng khách, vào một nơi trải thảm, nhiều đồ vật mới và không khí sạch sẽ. Ông Bộ trưởng xuất hiện cùng với vợ, cả hai cùng cười. Họ cho tôi một quyển sách. Đó là quyển Sách Minh họa về Cơ thể Con người dành cho trẻ em.
“Cám ơn ông, cám ơn bà”, tôi nói và ôm quyển sách chặt hơn bất cứ thứ gì trong cuộc đời non trẻ của tôi.
***
Chị Chioma đang bóp bàn tay tôi.
“Vậy là cô đã gặp riêng ông ấy”, chị nói. “Tôi học xong trường điều dưỡng vào năm ông ấy được chỉ định làm Bộ trưởng”.
Giọng chị khang khác, ít nhạt nhẽo hơn, nhiều cảm xúc hơn. Đó là lúc tôi thấy chị Chioma, một chị Chioma không cười, nghiêm nghị, rớm lệ trong mắt.
“Chính là nhờ ông Olikoye Ransome-Kuti mà nhiều người ở Nigeria không chết”, chị nói dịu dàng, và tôi biết là chị cũng có câu chuyện về vị Bộ trưởng của chị. Có thể sau này chị sẽ kể tôi nghe câu chuyện, cũng có thể là không, nhưng tôi vui vì chúng tôi có chung câu chuyện.
“Ông ấy là vị Bộ trưởng y tế tốt nhất mà đất nước này có”, chị nói, đứng lên và nhanh tay lau mắt. Cơn co thắt của tôi bây giờ ngắn hơn và gắt hơn. Chị Chioma nói có thể đã tới lúc sinh, và chị đi gọi bác sĩ.
Bên ngoài mưa tiếp tục rơi nhẹ nhàng cho tới khi Olikoye được sinh. 

                                                                  VÕ HOÀNG MINH dịch
                                                                     











Thứ Sáu, 11 tháng 9, 2015

CHƯ YANG SIN SỐ 276 - tác giả LÊ THÀNH VĂN

Nhà thơ ĐẶNG BÁ TIẾN

VẾT BÙN TRONG KẼ MÓNG CHÂN MẸ TÔI
Kính dâng hương hồn Mẹ

 Tôi cắt móng tay móng chân cho Mẹ
trước khi tiễn Người về với Tổ tiên
tôi thấy vết bùn đồng chiêm
ăn sâu vào kẽ móng
ôi cái vết bùn làm sao xóa nổi
để Người được thanh thản gót tiên!

Bà tôi kể:
năm ấy đồng Biền
nước mênh mông trắng rợn
bụng vượt mặt Mẹ còn đi cấy mướn
khi chuyển sinh chúng bạn mới dìu về
chỉ kịp trườn lên chiếc chõng tre
rồi vỡ ối sinh tôi
hai chân Mẹ vẫn dính đầy bùn đất…

Cha tôi đi đánh giặc
đôi vai gầy Mẹ tôi gánh số phận cả nhà
năm cái miệng há chờ bàn tay Mẹ
bàn tay không hề phút giây được nghỉ
cả lúc đi nằm còn phải giữ trán suy tư

Năm hai vụ chiêm mùa
cây lúa lên từ bàn tay Mẹ
cây lúa lên theo dấu chân Người nứt nẻ
tiết hanh heo gió xiêu dạt dáng cò

Ai hài gấm, giày thêu, quần áo lượt là
Mẹ tôi suốt ngày chân dầm trong bùn đất
khi cày cấy khi mò cua bắt ốc
áo váy phong phanh mấy lớp vá chằm

Bao ngọn gió vui, buồn đã thổi qua mặt đồng chiêm
mà dáng Mẹ tôi trên đồng vẫn thế
mặt úp vào mặt ruộng
Mẹ chỉ ngẩng lên khi nhìn xuống con mình!

Chúng tôi lớn khôn
đất nước gọi lên đường
nào đã kịp làm gì giúp Mẹ
chỉ làm Mẹ thêm phần gian khổ
bao đêm nằm không ngủ nhớ con xa

Bưng bát cơm thơm chúng tôi lại thương Mẹ ở quê nhà
trong bát cơm này có hạt cơm đồng chiêm của Mẹ
Mẹ đã già mà hạt thóc về tay người chẳng dễ
phải giành giật với nắng mưa
với bao thứ chuột rầy

chúng tôi trở về sau cuộc chiến tranh
lại bươn bả với những công trình mùa vụ
Mẹ bảy mươi rồi biết bao vất vả
công ơn Mẹ chúng tôi chưa kịp đáp đền
nhưng phút lâm chung Mẹ gọi tên từng đứa
Mẹ dặn: đừng bao giờ phụ bạc cánh đồng chiêm!

Ôi cái vết bùn trong kẽ móng chân
tôi không muốn Mẹ phải mang theo về nơi tiên tổ
nhưng tôi biết xóa đi không dễ
vết bùn già hơn tuổi Mẹ tôi!
                                                                                    1988
                                                                            ĐẶNG BÁ TIẾN
                             
VẾT BÙN GIÀ HƠN TUỔI MẸ TÔI!

Lần đầu tiên tôi nghe bài thơ này trong một lớp học bồi dưỡng giáo viên Ngữ văn do một thầy giáo từ Hà Nội đọc. Thầy không thuộc hết bài thơ, đọc đâu chừng khoảng 20 câu đầu, cả lớp hơn trăm người im lặng rưng rưng. Khi thầy dừng lại thì nước mắt tôi đã rơi nhòe trang vở viết. Bừng tỉnh và ngại mọi người nhìn thấy, tôi đi ra ngoài lau nước mắt. Bài thơ từ đó ám ảnh tôi, tôi về sưu tầm trên mạng internet mới biết là của nhà thơ Đặng Bá Tiến. Anh Tiến thì tôi biết, vui mừng định gọi điện thoại cho anh, hóa ra anh đi nhận giải thưởng thơ tận ngoài Hà Nội. Hôm nay, một sớm đầu xuân 2015, chợt trĩu lòng nhớ mẹ, tôi đem bài thơ này ra đọc, góp mấy lời bình hầu mong gởi chút tâm tình chia sẻ với mọi người.
Viết về đề tài người mẹ, văn chương cổ kim khai thác quá nhiều. Mẹ sinh ra ta, yêu thương và chăm sóc ta hơn bất kỳ ai trên cõi đời này, ca dao gọi cái tình lớn lao ấy là "nước trong nguồn chảy ra". Vậy nên, viết về mẹ dễ tràn đầy cảm xúc nhưng lại rất dễ rơi vào đơn điệu, mòn sáo. Kinh nghiệm đọc thơ của tôi, tôi nhận thấy rằng: những đề tài đã cũ, nếu nhà thơ biết tìm được một tứ thơ mới, có thể đó chỉ là một ý tưởng độc đáo lóe lên kết hợp với một cảm xúc chân thành thì dễ găm vào lòng người đọc. Tứ thơ hay và độc đáo như ngôi nhà có nền móng chắc chắn, các trụ cột vững chãi, mưa gió bão bùng khó làm lay chuyển nên bền lâu với thời gian. Tôi nghĩ bài thơ Vết bùn trong kẽ chân mẹ tôi  của Đặng Bá Tiến là một điển hình như thế. Ở đây, tên bài thơ đã là một tứ thơ, một tứ thơ mà nhiều người cũng đã viết nhưng vẫn còn nằm ở dạng hình ảnh, hình tượng, nghĩa là chỉ điểm qua, kể qua kiểu như "bầm ra ruộng cấy bầm run, chân lội dưới bùn tay cấy mạ non" (Tố Hữu). Vết bùn trong kẽ móng chân của mẹ giờ đã bất động rồi, mẹ không tự mình lấy ra được nữa mà chính con đây - đứa con chuẩn bị tiễn mẹ về với ông bà tổ tiên phải bấm từng móng chân của mẹ để lấy ra. Từ hình ảnh, hình tượng quen thuộc, tác giả đã nâng lên thành một ám ảnh, một đau xót, một cảm thương về nỗi nhọc nhằn của đời mẹ, nhờ đó bài thơ thực sự có được một vị trí xứng đáng trong mảng thơ ca viết về đề tài người mẹ.
Bài thơ có kết cấu khá chặt chẽ, dạng đầu cuối tương ứng, nên cảm xúc có dào dạt bao nhiêu đi nữa vẫn không "vỡ bờ",  không xa rời tứ thơ xuất thần và đầy thảng thốt ấy. Mở đầu thi phẩm là một sự thật đau lòng, sự thật ấy đã đánh động trái tim người đọc. Hình ảnh người mẹ sau bao nhiêu năm tháng cơ cực trên cõi đời giờ  theo gót tổ tiên đi về cát bụi làm sao không khỏi xót xa với với người còn sống. Tôi nhớ một nhà thơ nước ngoài, hình như là của Trung Quốc, khi viết về người mẹ qua đời, tác giả đã gào gọi mẹ ba lần, nhưng mẹ vẫn không sao trả lời. Chính sự thật đau lòng đó đã giúp ông có một bài thơ hay về mẹ qua một tứ thơ rất lạ: xưa mẹ la rầy con, mẹ đánh đòn con mỗi lần con hư hỏng, lần nào mẹ cũng nói, cũng hỏi, sao giờ đây con gọi mẹ khan cả giọng mà mẹ vẫn lặng im. Cái ý tứ đại để là vậy, lời thơ thì tôi quên mất rồi. Đến Đặng Bá Tiến, tác giả đã biết chạm vào trái tim người đọc bằng một tình yêu lớn lao đối với mẹ trước khi tiễn người về chốn vĩnh hằng đó là cắt móng chân, móng tay cho mẹ: "Tôi cắt móng tay móng chân cho mẹ/ trước khi tiễn người về với tổ tiên/ tôi thấy vết bùn đồng chiêm/ ăn sâu vào kẽ móng/ ôi cái vết bùn làm sao xóa nổi/ để người được thanh thản gót tiên?" Mở đầu đã rất ấn tượng, nó chạm vào tâm khảm người đọc qua một chi tiết bình thường, quen thuộc nhưng dễ xúc động. Ở Việt Nam, có người mẹ nào mà bàn chân không dính bùn đất? Những năm đất nước chiến tranh gian khổ, hình tượng người mẹ của tác giả có khác gì với hàng triệu bà mẹ Việt khác trên đời. Có điều cái độc đáo ở đây là tác giả không muốn mẹ mình phải mang cái vết bùn khó nhọc, gian khổ cả một đời về bên kia thế giới, nhưng làm sao xóa nổi nó đây? Trong tâm trí đứa con mất mẹ, gan ruột quặn bào, hình ảnh người mẹ nghèo lam lũ vất vả cứ hiện dần lên,  bám riết cái vết bùn trong kẽ móng chân mãi mãi. Đó cũng chính là cơ sở để Đặng Bá Tiến sử dụng kỹ thuật điện ảnh trong thơ, đưa người đọc qua những không gian của miền quê nghèo khó xa xưa, qua những tao đoạn cuộc đời mà người mẹ phải cơ cực để nuôi đàn con bé nhỏ: "Bà tôi kể: năm ấy đồng Biền/ nước mênh mông trắng rợn/ bụng vượt mặt mẹ còn đi cấy mướn/ khi chuyển sinh chúng bạn mới dìu về/ chỉ kịp trườn lên chõng tre/ rồi vỡ ối sinh tôi/ hai chân mẹ vẫn dính đầy bùn đất..". Tội nghiệp quá, đọc khổ thơ này ai có thể cầm được nước mắt! Người phụ nữ Việt Nam bao đời tần tảo, đến cả ngày sinh cũng không chuẩn bị trước một thứ gì. Từ đó, giọng điệu trần thuật cảm thương đã đi suốt bài thơ. Hình ảnh người mẹ có vết bùn trong kẽ móng chân lần lượt được tái hiện. Một mình mẹ phải lo cả nhà với năm miệng ăn, người chồng thì đi chinh chiến phương xa biền biệt. Một năm hai vụ chiêm mùa, bàn chân mẹ nứt nẻ theo tiết trời hanh hao để cho cây lúa lớn lên hầu mong có được hạt gạo, củ khoai mà nuôi con ăn học. Mẹ lam lũ theo dáng cò xiêu dạt, chưa được một ngày sung sướng, quanh năm đầu tắt mặt tối, dãi nắng dầm sương. Lời kể của tác giả thấm đượm những dòng nước mắt xót xa: "Ai hài gấm, giày thêu quần áo lượt là/ mẹ tôi suốt ngày chân dầm trong bùn đất/ khi cày cấy khi mò cua bắt ốc/ áo phong phanh mấy lớp vá chằm". Mẹ chỉ được hạnh phúc khi mỗi ngày nhìn thấy con mình khôn lớn: "mẹ chỉ ngẩng lên khi nhìn thấy con mình". Mạch thơ tâm tình nhưng đầy day dứt, câu chuyện lòng đứt ruột về một người mẹ nhân hậu, đảm đang cứ theo từng lớp thời gian hiện lên sống động vô cùng. Giờ mẹ nằm đó, ngủ giấc ngàn thu, lặng lẽ như chưa từng được sinh ra mà sao đời mẹ nhiều gian nan, vất vả.
Hình ảnh người mẹ có vết bùn trong kẻ móng chân được Đặng Bá Tiến tiếp tục tái hiện qua một không gian và thời gian tuyến tính khi những đứa con lớn lên đánh giặc trăm miền và trở về sau cuộc chiến. Con lớn, tưởng mang lại cho mẹ niềm sung sương, nào ngờ chỉ làm cho mẹ khổ hơn: "Chúng tôi lớn khôn/ đất nước gọi lên đường/ nào đã kịp làm gì giúp mẹ". Mẹ thao thức, mỏi mòn ngóng đợi tin con trở lại. Mẹ khổ cực thân xác, hư hao về tinh thần khi mỗi đêm về "nằm không ngủ nhớ con xa". Thời chiến đã vậy, thời bình con lại "bươn bả với công trình, mùa vụ", mẹ bảy mươi rồi vẫn lặng lẽ nơi miền quê vất vả, thao thức đợi chờ con trẻ. Tác giả vừa kể về mẹ, vừa bộc bạch cảm xúc, tình thương yêu và ngưỡng mộ người mẹ một đời hết mực vì con. Bưng bát cơm trong hòa bình lại ngậm ngùi nhớ mẹ, cảm được cái ân đức cao dày từ người mẹ kính yêu: "Bưng bát cơm ăn chúng tôi thương mẹ ở quê nhà/ trong bát cơm này có hạt đồng chiêm của mẹ". Ơn nghĩa, ân tình, hiếu thảo và biết ơn người mẹ sinh thành đã giúp cho tác giả có những câu thơ hay và cảm động. Tuy đôi lúc, do sa vào bộc bạch cho hết nỗi lòng, hơi thơ vì thế cũng có phần loãng, song nhờ tứ thơ vững chãi nâng đỡ, vì vậy hình ảnh và lời thơ vẫn đủ sức  hâm nóng tâm tình người đọc.
Khổ kết bài thơ quay vòng lặp lại hình tượng vết bùn trong kẽ chân của mẹ, nhưng đã mở ra một chiều kích suy tưởng sâu sắc hơn. Nỗi lòng của người con đau khổ vì biết không thể nào xóa đi trong tâm tưởng mình cái vết bùn gian truân một đời của mẹ, nhưng lại muốn bàn chân mẹ mình sạch đẹp khi theo gót ông bà tiên tổ về với thế giới bên kia. Cái thực và cái ảo, nỗi đau hiện tại và khát vọng vĩnh hằng của nhà thơ cứ đan xen vào nhau, thấm đẫm một nỗi niềm hiếu nghĩa: "Ôi cái vết bùn trong kẽ móng chân/ tôi không muốn mẹ phải mang về nơi tiên tổ/ nhưng tôi biết xóa đi là không dễ/ vết bùn già hơn tuổi mẹ tôi".Vâng! Vết bùn già hơn tuổi mẹ, vì nó đã đi qua số phận và cuộc đời của biết bao bà mẹ trên đời; rồi sẽ còn bám vào kẽ móng chân những người mẹ nào tần tảo, gian lao trong cuộc sống mai này. Bài thơ khép lại mà nỗi quặn thắt cứ mãi lốc xoáy, thảng thốt trái tim người đọc.
Cảm ơn nhà thơ Đặng Bá Tiến, trong một khoảnh khắc đau đớn tột cùng, đã bật ra một bài thơ thật hay về mẹ. Bài thơ đã nói hộ cho tình cảm mỗi chúng ta về cuộc đời bao la sông biển của người mẹ nghèo giàu đức hi sinh, tình thương con vô bờ bến. Bất kì ai còn có phút giây tiễn biệt mẹ mình về cõi ngàn thu miên viễn, chừng ấy Vết bùn trong kẽ móng chân mẹ tôi vẫn còn thổn thức nỗi lòng, nghẹn trào thương nhớ mẹ không nguôi.


  LÊ THÀNH VĂN


Thứ Tư, 9 tháng 9, 2015

CHƯ YANG SIN SỐ 276 - tác giả TRẦN BĂNG KHUÊ





MẮT CŨ
Truyện ngắn



Nỗi buồn lạ lẫm này lặp đi lặp lại rất nhiều lần. Chúng níu lấy nàng một cách tha thiết. Có khi chúng mãnh liệt đến mức bao vây tất thảy mọi không gian riêng biệt của nàng ở bất cứ chốn nào mà nàng trú ngụ, hoặc tạm thời dừng chân. Nàng cụp mắt lại, hé môi cười gắng tránh né và đánh lừa chúng bằng thứ hân hoan giả tạo, nhưng chẳng thể nào làm được. Chúng vẫn lì lợm như thế. Chúng vồ vập rồi lại bông đùa ba lơn trên màu mắt của nàng ngay lúc này. Trong một căn phòng tối. Trong một khu phố tối. Trong một vùng ánh sáng tối.
Chúng đánh lừa rất giỏi. Nàng đã hé mắt nhìn ra khe sắt. Nỗi buồn đọng lại trên ngọn cây dừa. Một ngọn cây dừa duy nhất ở bên ngoài khe sắt kia. Chẳng ai biết, tại sao chỉ có một cây dừa đứng chỏng chơ phía sau lưng nhà nàng. Cha nàng vẫn chưa về. Cha nàng của ngày xưa vẫn chưa về. Mẹ nàng mắt nhắm mắt mở, khêu ngọn đèn dầu cũ kĩ từ thời nghèo khổ. Mẹ bảo, phải giữ nó lại để nhớ. Mẹ còn lẩm bẩm, mỗi khi mất điện: "Phải khêu cái tim đèn cho nó nở hoa, cho nó bừng cháy và tràn ngập ánh sáng trong đêm sâu này". Mẹ nàng văn vẻ bóng bẩy quá chừng. Nàng giống mẹ. Từ thời lọt lòng. Nàng đã giống mẹ. Ở đôi mắt. Đôi mắt hoang hoải. Đôi mắt lọt lòng mở to nhìn thế giới bằng nỗi buồn không thể nào giải thích nổi.
Nàng nghe mẹ kể về đôi mắt sâu thăm thẳm của nàng ngày xưa. Nàng nghe các dì kể về đôi mắt màu vàng chanh của nàng ngày xưa. Bây giờ mắt nàng màu nâu. Trừ phi, nàng nhìn vào khe sắt để mời mọc thế giới bên ngoài kia lượn lờ vào phòng mình thì nó chuyển sang màu đen sẫm và hẳn nhiên rất tối. Nàng phát hiện ra rằng, sau khi ngắm nghía ngọn cây dừa bên ngoài khe sắt, nàng thường quay sang tấm gương treo ngay vách tường, chỉ để nhìn đôi mắt của mình. Nàng tìm kiếm đôi mắt sâu như vực thẳm, nàng tò mò về đôi mắt màu vàng chanh ngày xưa.
Đầu tuần hay cuối tuần, tất thảy những không gian nàng thấy đều như nhau. Chúng giống nhau đến hững hờ đầy nỗi nghi hoặc. Chúng nhàm chán và buồn tẻ như ngàn năm trước đến nay vẫn thế. Nàng luôn luôn bị thả rơi một cách tự do trong khối không gian này. Nàng chưa bao giờ chạm đáy. Đáy của không gian ở đâu, làm sao nàng biết được.
Đêm nay, nàng nhốt mình trong căn phòng và khóa kín cửa. Một vài âm thanh vang vọng từ đâu đó bên ngoài kia vẫn cố tình lọt vào tai nàng. Chúng bám vào màng nhĩ nàng, nhúc nhích như sợi dây chuông đồng hồ. Nhắc tới đồng hồ nàng mới nhớ ra, mẹ nàng còn giữ gìn nhiều thứ cũ kĩ lắm. Chúng vây xung quanh mẹ. Từ xó bếp, đến nhà kho. Từ góc phòng cho đến những cây kim cuộn chỉ nằm trong hộc tủ đã được mấy mươi năm gần bằng số tuổi của nàng bây giờ. Chiều qua, nàng thấy mẹ mang chiếc đồng hồ vặn dây cót Liên Xô của ông ngoại, để lên mặt bàn và ngắm nghía. Mẹ lau chùi cho nó hàng ngày, đến mức sáng bóng soi gương được. Ông ngoại nàng mất lâu lắm rồi. Nhưng, một vài vật dụng của ông, mẹ nàng vẫn gìn giữ cẩn thận lắm. Tất cả những vật dụng đó được mẹ xếp đặt ở các góc phòng ngủ. Chiếc tủ gỗ nhỏ. Chiếc đồng hồ vặn dây cót. Và kể cả sắc màu đã hoen ố từ cuốn nhật kí nhòe mực ngày xưa ông ngoại vẫn thường len lén giấu mình trong căn phòng kín để viết. Mẹ vẫn thường thì thào về màu vàng chanh nào đó mà nàng không thể biết được. Chúng mờ ảo, hoang hoải như nỗi buồn vây bủa nàng trong từng phút giây hoặc kể cả sau thời khắc này đi nữa.
Chiều thời gian đã được sắp xếp lại. Nàng bị ám ảnh bởi đôi mắt màu vàng chanh của mình trong quá khứ mà nàng không hề lưu nhớ. Phía sau căn nhà của nàng, ngọn cây dừa đong đưa giữa màu đen sâu hun hút. Nàng vẫn đóng kín cửa và nghĩ về khe cửa sắt. Mắt nàng mơ màng về màu vàng chanh trong một cốc rượu. Nàng cầm chiếc điện thoại màu đen của hãng Blackberry lên và nhắn đi vài dòng kí tự hững hờ cho ai đó: "Hay là uống rượu nhỉ?".
Nỗi buồn cực kì lạ lẫm nhưng cũng rất quen thuộc đang cố tình vùi nàng trong cõi hoang vắng đến rợn ngợp. Thỉnh thoảng, nàng cần và thèm được khóc. Người ta khóc bằng củ hành củ tỏi quá nhiều rồi. Dễ gì nàng tìm được giọt nước mắt thật sự trong vắt rơi ra từ những thăm thẳm của đêm sâu.

Tối nay, nàng vẫn bị nỗi buồn từ màu vàng chanh trong cốc rượu đó quyến rũ. Nàng quyết định uống rượu. Nàng chỉ uống hết cốc rượu này thôi, để mơ về đôi mắt màu vàng chanh của mình ngày xưa. Mẹ sẽ không cần phải kể về nó nữa. Mẹ nàng vẫn loay hoay trong phòng cùng với hộp kim chỉ bằng thiếc. Chúng cũng đã xỉn màu. Như thời gian vậy. Trên bức tường ở phòng nàng, có một đôi mắt. Hẳn là màu vàng chanh rồi. Nàng nghĩ thế. Có vẻ màu vàng chanh sẽ mãi mãi chơi trò quyến rũ đối với nàng trong căn phòng tối này.

Thứ Ba, 8 tháng 9, 2015

CHƯ YANG SIN SỐ 276 - tác giả NGUYỄN DUY XUÂN

Tác giả Nguyễn Duy Xuân



MỘT THOÁNG ĐẮK NÔNG
Ghi chép


Chuyến xe buýt đầu tiên trong ngày đưa tôi vượt chặng đường dài 120 km từ Ban Mê xuống Gia Nghĩa – tỉnh lị của Đắc Nông.
Xe chạy bon bon trên con đường thảm nhựa phẳng lì tạo cảm giác thoải mái cho du khách. Đường tốt, rộng rãi, khách dường như không còn phải chứng kiến cảnh thắng gấp vẫn thường thấy ở những chuyến xe buýt đường dài. Hay có lẽ vì tay lái lụa của bác tài mà tôi không còn được “thưởng thức” những màn xóc như đảo ruột mà cánh lái xe đôi khi muốn thử sức chịu đựng của hành khách mỗi khi có ổ gà hay dừng lại đón trả khách? Dù sao thì nỗi ám ảnh xe buýt chật chội, chen chúc, chạy ẩu đã tan biến trong tôi từ khi bước chân lên chiếc xe này.
Dự án nâng cấp, mở rộng đường Hồ Chí Minh (quốc lộ 14) đoạn đi qua các tỉnh Tây Nguyên đã bước sang giai đoạn hoàn thiện và chuẩn bị khánh thành trong nay mai. Dân tình dọc hai bên đường không còn phải hứng chịu cảnh bụi bặm, đất đá ngổn ngang đã từng hành hạ họ suốt một thời gian dài. Chỉ sau một năm tăng tốc, quốc lộ 14 đã thay hình đổi dạng, tôi không còn nhận ra con đường cũ bé nhỏ, đầy ổ trâu, ổ gà mà mỗi lần đi xe giường nằm từ Ban Mê xuống thành phố Hồ Chí Minh thăm con thăm cháu, người cứ như treo trên võng! Tuyến đường giờ đây được nâng cấp, mở rộng đạt tiêu chuẩn đường cấp III đồng bằng với 2 làn xe cơ giới trải thảm bê tông nhựa phẳng lì. Cảm giác không còn bị nghiêng xóc khi ngồi trên xe đã chứng minh cho chất lượng của con đường, ít nhất cũng là ở thời điểm hiện tại. Phải rào đón thế bởi vì, dường như không còn là chuyện lạ nữa, khi hầu như bất cứ công trình xây dựng nào ở xứ ta, sau khi đưa vào sử dụng, thậm chí chưa kịp khánh thành đã xuống cấp. Ví như “ruộng bậc thang” trên đại lộ nghìn tỷ Mai Chí Thọ (TP. Hồ Chí Minh) hay đường sống trâu trên quốc lộ 5, quốc lộ 51 đang gây bức xúc dư luận. Hi vọng quốc lộ 14 sẽ không xảy ra tình trạng như thế.
Gần ba tiếng đồng hồ xe mới tới Gia Nghĩa. Tốc độ như thế là nhanh đối với xe buýt vì phải luôn luôn dừng lại dọc đường để đón trả khách. Thời gian chậm cũng có cái hay của nó, tôi được dịp ngắm nhìn kĩ hơn phong cảnh hai bên đường. Cảm nhận đầu tiên vẫn là khung cảnh quang quẽ đến tận chân trời của núi đồi Tây Nguyên. Tôi không gọi là núi rừng nữa, vì rừng ngày nay đã thành cổ tích như nhà thơ Đặng Bá Tiến đã từng gọi thế trong một trường ca tâm huyết của mình. Gần ba mươi năm trước, khi quốc lộ 14 từ Ban Mê đi Sài Gòn chưa được khôi phục, tôi cũng đã vài ba lần đi qua đoạn đường này khi thì bằng xe đò, khi thì bằng xe U-oát của cơ quan. Những chuyến xe thời ấy đúng là những chuyến xe “bão táp” bởi khi bước chân ra khỏi xe, người nào người ấy phủ đầy bụi đỏ, chỉ mỗi đôi mắt còn trong veo.
Hồi đó, từ Ban Mê xuống Đắc Nông (lúc ấy đang còn là huyện “miền biên ải” của Đắk Lắk) quốc lộ 14 xuyên qua những cánh rừng già, có đoạn chạy dài như lẫn trong cái bạt ngàn của núi rừng cao nguyên. Trời đang nắng chang chang bỗng dưng tối lại như buổi hoàng hôn, nhiệt độ hạ xuống đột ngột khiến du khách thoáng rùng mình. Bây giờ cảm giác ấy đã gửi lại “miền cổ tích” của những ai ở lứa tuổi U50 trở lên đã từng đi qua nơi đây. Ngay cả “rừng lạnh” nổi tiếng ở ngã ba Đắk Song giờ cũng chỉ còn “vang bóng một thời”. Tất cả đã thành hoài niệm – hoài niệm về một thời thiên nhiên còn hoang dã trước khi bị hủy hoại bởi sức tàn phá ghê gớm của con người.
Mỗi lần xe qua Đắc Min, du khách mỏi mắt bởi những cánh rừng cao su xếp hàng ngang dọc tít tắp như bàn cờ khổng lồ. Con người đã không tiếc công sức, thời gian chăm chút cho thứ cây được gọi là “vàng trắng” của miền đất đỏ cao nguyên. Những năm trước, người làm cao su hể hả vì mủ cao su có giá, đời sống nhờ thế được nâng cao. Thế mà, đùng một cái, ba năm nay thứ vàng quí hiếm ấy bỗng dưng xuống dốc không phanh, từ chỗ 50.000 đồng một ki lô thì nay tụt đáy chỉ còn 5.000 đồng mà vẫn kén người mua. Người làm cao su chóng mặt, choáng váng. Vì đâu nên nỗi? Mấy ngày qua ở chỗ tôi, loa phường cứ chiều chiều, cuối bản tin lại phát đi lời cảnh báo người dân hãy cảnh giác với một số đối tượng thương lái đang thao túng thị trường, dùng mọi thủ đoạn ép giá, đẩy giá và cuối cùng là phá hoại sản xuất ở địa phương. Sau cao su, đến lượt hồ tiêu trong thời gian gần đây cũng đang hứng chịu hậu quả đê tiện đó. Làm sao những kẻ ngoại bang ấy lại có thể qua mặt những rào chắn an ninh, thuế quan để rồi mặc sức tung hoành trên xứ sở của chúng ta như chốn không người? Câu trả lời dường như còn bỏ ngỏ.
Bây giờ, những hàng cao su vẫn thẳng tắp nhưng trên thân cây không còn thấy chiếc bát sành nhẫn nại hứng từng giọt trắng như sữa chắt ra từ gan ruột của cây. Những vết cạo trên thân cây đã liền sẹo, bạc phếch. Đâu đấy du khách bắt gặp những vạt rừng trống hoác, còn trơ gốc cây bị cắt sát đất. Hình như người ta đang phá cao su để trồng mắc ca, thứ cây đang gây sốt trên mảnh đất này. Tôi cứ nghĩ vẩn vơ, liệu dăm bảy năm sau, mắc ca có cùng chung cảnh ngộ như cao su bây giờ?
Gần đến Gia Nghĩa, hình như xe đã sang đất Trường Xuân, xã giáp ranh Đắk Song và Gia Nghĩa. Nhìn ra hai bên đường, thỉnh thoảng bỗng gặp những tấm biển lạ: “Đoạn đường được bảo hành bởi tập đoàn…”. Lâu nay chỉ thấy có bảo hành sản phẩm hàng hóa. Giờ người ta bảo hành cả đường sá? Ờ nhỉ, đường sá suy cho cùng cũng là sản phẩm do con người làm ra, sao lại không bảo hành cơ chứ. Có lẽ lâu nay chúng ta không đặt ra yêu cầu này cho nên nhiều con đường vừa khánh thành xong đã xuống cấp, ngân sách lại phải chi ra và thế là giá thành đội lên gấp ba, gấp bốn. Hèn gì, suốt chặng đường đi từ sáng đến giờ, tôi chú ý quan sát dọc hai bên đường, hệ thống thoát nước, mương máng, ta luy… được xây dựng bài bản đâu ra đấy.
Đang thả hồn theo những ý nghĩ miên man thì bất chợt cậu thanh niên ngồi ghế sau nhắc: Tới cầu vượt rồi chú! Tôi bừng tỉnh, vội đứng dậy để xuống xe. Nhìn đồng hồ đúng 8 giờ rưỡi. Còn sớm chán.
Thế là tôi đã đặt chân lên đất Gia Nghĩa. Mười ba năm trước, khi tôi xuống đây dạy lớp chuẩn hóa giáo viên tiểu học đặt tại trường Võ Thị Sáu, Gia Nghĩa vẫn còn là thị trấn huyện lị của Đắk Nông. Thị trấn bé bằng bàn tay, đường sá toàn đèo dốc, chỉ xe máy mới “chơi” nổi. Những năm chín mươi thế kỉ trước, toàn thấy simson, minsk tung hoành trên đất này bởi máy khỏe cao.
Thấm thoắt mới đó mà đã mười ba năm trôi qua, hôm nay mới trở lại miền đất nhớ, nơi ghi dấu những kỉ niệm đẹp của cuộc đời. Đâu rồi “Phố nhỏ chập chờn em vội bước/ Cánh dù hoa tím gió chao nghiêng”? Đâu rồi những buổi “Chiều mưa! Chiều mưa! Ôi Đắk Nông/ Mà nghe xao xuyến dậy trong lòng/ Một chút tâm tình nơi đất nhớ/ Thả hồn phiêu đãng với mưa giăng”?
Từ khi Đắk Nông tách khỏi Đắk Lắk lập thành tỉnh mới năm 2004 và Gia Nghĩa được nâng cấp lên thị xã rồi trở thành đô thị loại 3, bộ mặt vùng đất “biên ải” một thời của tỉnh Đắk Lắk cũ thay đổi nhanh chóng. Tôi ngỡ ngàng, không còn nhận ra cái thị trấn bé nhỏ nghèo nàn năm xưa nữa. Với Gia Nghĩa bây giờ tôi như kẻ xa lạ. Để không bị “hớ” trước người “bạn” cố tri lâu ngày gặp lại ấy, tôi bèn lên mạng “sợt” tìm thông tin về Gia Nghĩa.
Thị xã đang trong quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống giao thông cùng nhiều dự án lớn về hạ tầng đô thị, du lịch sinh thái - nghỉ dưỡng và các dự án về thương mại, khách sạn - nhà hàng. Cùng với ưu thế của một nền văn hóa mang đậm bản sắc dân tộc Tây Nguyên, trong một tương lai gần, Gia Nghĩa sẽ là địa điểm du lịch thú vị và hấp dẫn du khách muôn phương.
Chiếc xe máy của cô cháu gái đưa tôi dạo một vòng quanh thị xã. Những con phố mới mở khang trang với nhiều nhà cao tầng, đường phố rộng rãi, thoáng đãng. Đấy là hai điểm nhấn nổi bật tạo nên gương mặt mới của Gia Nghĩa mà hơn mười năm trước chỉ có trong mơ. Địa hình Gia Nghĩa phức tạp, nhiều đồi núi mấp mô lại bị chia cắt bởi các khe suối tự nhiên. Trong con mắt nhà kinh tế, địa hình ấy quả là bất lợi cho sự phát triển hạ tầng kĩ thuật. Nhưng ở một góc nhìn khác, địa hình ấy lại đem đến cho Gia Nghĩa những lợi thế có lẽ chỉ sau Đà Lạt. Sự mấp mô của núi đồi cùng với nhiều khe suối tạo nên cảnh quan sinh động và thơ mộng khiến cho thị xã non trẻ này mang đậm nét đặc trưng của miền núi Tây Nguyên. Khai thác những lợi thế vô giá ấy đến đâu để đem lại hiệu quả tích cực cho sự phát triển của địa phương là tùy thuộc vào tầm nhìn và tâm huyết của các nhà quản lí. Được biết, Gia Nghĩa sẽ phát triển lên thành phố trước năm 2020, trở thành điểm kết nối giữa Tây Nguyên với vùng Đông Nam bộ và Duyên hải Nam Trung Bộ. Thời gian không còn nhiều nhưng với tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, những 20,05% năm, tôi tin Gia Nghĩa – Đắk Nông sẽ thành công.
Còn tôi, trở lại Gia Nghĩa lần này, lòng vẫn khôn nguôi nỗi ngỡ ngàng. Tôi thả hồn theo những con đường mượt mà như dải lụa, vắt ngang qua hết quả đồi này đến quả đồi khác, tạo nên những nét vẽ độc đáo trên bức tranh sống động sắc màu của một Gia Nghĩa thân thương đang chuyển mình cùng đất nước, để rồi chân bước lên xe mà vẫn “Nặng lòng bao nỗi vấn vương/ Hồn tôi lạc giữa phố phường phồn hoa”.

Gia Nghĩa, 24-5/ Buôn Ma Thuột, 1-6-2015

Thứ Bảy, 5 tháng 9, 2015

ĐI LÊN TỪ SỰ ĐỒNG THUẬN CỦA XÃ HỘI bút ký của HỒNG CHIẾN - CHƯ YANG SIN SỐ: 241 tháng 9 năm 2012





          Tháng 8 năm 1998, Trường Tiểu học Tô Hiệu được thành lập trên cơ sở tách ra từ trường Phổ thông cơ sở Tô Hiệu, đóng trên địa bàn xã Ea Tyh, huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk. Xã Ea Tyh nằm ở phía đông huyện Ea Kar, tiếp giáp với huyện M’Đrăk; đây là vùng đất trước kia chỉ có cỏ gianh mọc thành rừng, còn các loại cây khác không thể mọc được. Tháng 10 năm 1987, thực hiện chính sách di dân đi xây dựng kinh tế mới, vùng đất hoang vu này mới có người đến dựng nhà làm rẫy. Cùng với năm tháng, dân số ngày một tăng, đa phần là dân các nơi di cư tự do đến tìm cơ hội kiếm sống. Tuy diện tích đất hoang hóa còn nhiều vì ít người khai phá, nhưng do điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt, đất đai khô cằn nên đại đa số những người dân định cư nơi đây chỉ mới đủ ăn. Bước qua thế kỷ XXI do chính sách mở cửa của Đảng và Nhà nước ta, một số nhà máy được xây dựng trên địa phương như: nhà máy Đường 333, nhà máy Tinh bột sắn Ea Sô, nhà máy Chế biến hạt điều 722... đã góp phần nâng cao mức sống người dân, nhiều hộ nông dân chuyển đổi cơ cấu cây trồng nên đã giàu lên. Kinh tế phát triển kéo theo các mặt hoạt động văn hóa – giáo dục cũng có những chuyển biến tích cực. Từ một ngôi trường trước đây được báo chí địa phương nhắc đến như là một điển hình của sự tạm bợ, xuống cấp của cơ sở vật chất giáo dục, đến nay đã có những bước tiến vượt bậc.
Sự đi lên của phong trào giáo dục xã Ea Tyh nói chung và trường Tiểu học Tô Hiệu nói riêng có dấu ấn đậm nét của người hiệu trưởng mẫu mực, giàu nghị lực, cô giáo Phạm Thị Khang. Tháng 8 năm 2005 cô Phạm Thị Khang được điều về làm Hiệu trưởng trường Tiểu học Tô Hiệu. Vốn là một Hiệu trưởng lâu năm, có nhiều kinh nghiệm quản lý và cũng là một trong những hiệu trưởng đầu tiên xây dựng trường đạt chuẩn Quốc gia ở huyện Ea Kar. Khi về nhận công tác ở một trường khó khăn như trường Tiểu học Tô Hiệu, không ít người hoài nghi và cho rằng ở vùng đất “khỉ ho, cò gáy” này vận động được học sinh đến lớp đã khó chứ mong gì xây dựng được trường tiên tiến như các trường thị trấn! Trong “cái khó ló cái khôn”, Hiệu trưởng mới về biết dựa vào Chi bộ, Công đoàn, Đoàn thanh niên, Ban Nữ công nhà trường, động viên mọi người phát huy hết năng lực của mình trong các hoạt động. Điều quan trọng nhất mà nhiều năm qua tập thể nhà trường chưa làm được là xây dựng một tập thể đoàn kết, biết thương yêu giúp đỡ lẫn nhau trong công tác cũng như trong cuộc sống đời thường, thì nay đã làm được. Muốn đoàn kết phải thực sự dân chủ. Nghị quyết của Chi bộ đưa ra cùng bàn bạc, thảo luận tìm biện pháp thực hiện rồi mới triển khai đến nhà trường. Chính phương pháp làm việc mới này của Ban Giám hiệu làm mọi người xem công việc của trường cũng chính là công việc của mình nên phát huy mọi sáng kiến, làm thật tốt công việc được giao; vì thế tất cả các chỉ tiêu, định mức đề ra đều được hoàn thành vượt mức. Bên cạnh đó Ban Giám hiệu cùng với Hội đồng sư phạm nhà trường kết hợp với Công đoàn vận động công đoàn viên xây dựng quỹ Đồng nghiệp, hàng tháng tất cả cán bộ công nhân viên của trường trích một trăm nghìn đồng tiền lương góp vào quỹ. Ban chấp hành Công đoàn họp xét, ưu tiên cho những giáo viên có hoàn cảnh khó khăn mượn để ổn đinh cuộc sống hoặc mua sắm những tài sản có giá trị cao. Nhờ sáng kiến này mà nhiều gia đình giáo viên khắc phục khó khăn về kinh tế, an tâm công tác lâu dài ở trường và còn tự nguyện tham gia các khóa học nâng cao tay nghề (đến nay 100% cán bộ giáo viên đạt chuẩn, trong đó 88% trên chuẩn). Chi bộ Đảng trong trường được cũng cố và phát triển, những người đảng viên thật sự là hạt nhân trong mọi hoạt động của nhà trường; vì thế liên tục từ năm học 2005- 2006 đến nay năm nào trường cũng có giáo viên dạy giỏi cấp tỉnh, học sinh đạt học sinh giỏi cấp tỉnh và cấp quốc gia. Theo quy luật tất yếu, tay nghề giáo viên được nâng cao, chất lượng giáo dục cũng sẽ có những bước tiến vượt bậc. Các bậc phụ huynh là những người đánh giá chính xác nhất sự chuyển biến trong học tập và rèn luyện đạo đức của con em mình. Từ thực tế chất lượng học tập của con em, phụ huynh đã có cách nhìn thầy cô giáo khác hẳn với trước đây, mọi người quan tâm hơn đến việc học tập của con cái cũng như các công việc của nhà trường.
            Thực hiện phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm”, mọi công việc liên quan đến phụ huynh, Chi bộ và Ban Giám hiệu kết hợp với các đoàn thể trong nhà trường họp bàn bạc thống nhất rồi tổ chức họp phụ huynh xin ý kiến. Được các thầy cô giải thích thấu đáo đến từng phụ huynh, Ban Đại diện cha mẹ học sinh tự đứng ra thu tiền, tổ chức thi công các công trình phục vụ cho việc dạy và học, nhà trường làm chức năng tham mưu và giám sát. Vì vậy chỉ sau 2 năm vận động (2005 – 2006), được sự giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi của Ủy ban nhân dân huyện Ea Kar, Phòng Giáo dục huyện cũng như Đảng ủy - Ủy ban nhân dân xã Ea Tyh, trường Tiểu học Tô Hiệu đã xây dựng được hơn 400 m tường rào, đổ bê tông 1237 m2 sân trường, xây nhà công vụ có diện tích 45 m2, xây dựng công trình vệ sinh đạt chuẩn quy định của ngành, xây phòng học bộ môn, nhà hiệu bộ... Đầu năm học 2006 – 2007, trường Tiểu học Tô Hiệu huyện Ea Kar tỉnh Đắk Lắk vinh dự đón bằng công nhận “Trường tiểu học đạt chuẩn Quốc gia mức độ một” và con chim đầu đàn, người Hiệu trưởng nhiệt tình, năng động Phạm Thị Khang còn có vinh dự là người đầu tiên ở huyện EaKar trên cương vị hiệu trưởng đã góp phần xây dựng hai trường đạt chuẩn Quốc gia: trường Tiểu học Nguyễn Huệ và trường Tiểu học Tô Hiệu.
 Mục tiêu ban đầu đặt ra đã hoàn thành, công việc tiếp theo là phải làm thế nào giữ vững phong trào vì: “xây dựng phong trào đã khó, giữ được phong trào lại càng khó hơn”, xác định như vậy nên Chi bộ nhà trường hết sức chú trọng phát triển đảng viên, xem đó là ưu tiên hàng đầu để tiếp tục phát triển; đầu năm học 2007 – 2008 toàn trường có 16 đảng viên, đạt tỷ lệ 73%; đến cuối năm học 2010 – 2011 chi bộ nhà trường có số đảng viên là 20 người, đạt tỷ lệ 86% trên tổng số cán bộ công nhân viên toàn trường. Có thể thấy việc “đỏ” hóa đội ngũ, chú trọng phát triển đảng viên là bước đi đột phá của Chi bộ nhà trường. Chi bộ lãnh đạo bằng nghị quyết, Ban Giám hiệu và cán bộ công nhân viên hợp sức chung tay thực hiện, kết quả học sinh lên lớp năm học 2010-2011 đạt 100 % (trong đó khá giỏi chiếm 66,6%), hoàn thành chương trình tiểu học 100%. Riêng đối với đội ngũ giáo viên và tập thể Hội đồng sư phạm nhà trường cũng gặt hái được những kết quả đáng mừng; xếp loại thi đua cuối năm tập thể trường được công nhận tiên tiến xuất sắc, Chi bộ trường đạt trong sạch vững mạnh, Công đoàn vững mạnh, 2 giáo viên được công nhận Chiến sỹ thi đua, 2 giáo viên được công nhận Giáo viên dạy giỏi cấp tỉnh,10 giáo viên được công nhận dạy giỏi cấp huyện, còn lại là giáo viên dạy giỏi cấp trường; cuối năm 2010, trường được công nhận Cơ quan văn hóa xuất sắc của tỉnh.
            Năm học 2011 – 2012 trường Tiểu học Tô Hiệu có 13 lớp với 333 học sinh. Tất cả các em đều học hai buổi trên ngày, học sinh từ lớp 3 trở lên được học thêm môn Tin học, Ngoại ngữ. Trường Tiểu học Tô Hiệu đang tiếp tục thực hiện cuộc các vận động: “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ chí Minh” và  mỗi thầy cô giáo là  tấm gương sáng về đạo đức, tự học và sáng tạo”; đồng thời phát động phong trào thi đua: “trường học thân thiện, học sinh tích cực”; không những thầy trò nhà trường tích cực hưởng ứng, mà còn được cha mẹ học sinh và dư luận xã hội quan tâm, ủng hộ. Với sự cố gắng không ngừng vươn lên của tập thể cán bộ, giáo viên và công nhân viên trường Tiểu học Tô Hiệu, một vinh dự lớn lại đến với nhà trường: Ngày 03 tháng 9 năm 2012, trường vinh dự được đón bằng công nhận Trường đạt chuẩn Quốc gia mức độ II.
Vì sao một trường đóng trên địa bàn ở địa phương điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt, kinh tế xã hội còn nhiều khó khăn mà nhà trường lại thực hiện tốt công tác Xã hội hóa giáo dục như vậy? Trả lời câu hỏi này, cô Phạm Thị Khang – Bí thư chi bộ, Hiệu trưởng trường vui vẻ cho chúng tôi biết: Cái quan trọng nhất là phải xây dựng được một tập thể đoàn kết, vì đoàn kết đưa ta đến mọi thành công; từ đó tổ chức các đợt thi đua nhằm nâng cao tay nghề cho cán bộ giáo viên. Nói gì thì nói, đã làm nghề dạy học phải dạy giỏi, sống thật sự mẫu mực mới chiếm được lòng tin của phụ huynh học sinh. Đã được phụ huynh học sinh tin tưởng thì công việc có khó khăn đến mấy cũng khắc phục được. Bên cạnh đó chúng tôi còn có thuận lợi cơ bản là các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương từ huyện đến xã, cũng như Phòng Giáo dục rất quan tâm, thường xuyên góp ý để nhà trường kịp thời điều chỉnh kế hoạch phù hợp với tình hình thực tế. Kế hoạch nhà trường đề ra được Ban Đại diện cha mẹ học sinh đồng thuận thì mọi việc sẽ trôi chảy. Chúng tôi đã và đang thực hiện lời dạy của Bác: “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong”. Đó chính là bí quyết thành công của trường chúng tôi!
Bà Lâm Phúc Dung, Trưởng phòng Giáo dục & Đào tạo huyện Ea Kar nhận xét: Chị Phạm Thị Khang không những là người có thâm niên làm cán bộ quản lý lâu năm, đã từng xây dựng được hai trường đạt chuẩn Quốc gia và đây là lần thứ ba chị có vinh dự trên cương vị Hiệu trưởng được đón nhận danh hiệu Trường đạt chuẩn Quốc gia. Cái quý ở chị - luôn luôn mẫu mực trong công tác, gần gũi anh em, đồng nghiệp, bạn bè cũng như nhân dân nơi mình công tác,  khiêm tốn và ham học hỏi, biết tập hợp anh chị em trên tinh thần dân chủ, phê và và tự phê nghiêm túc từ đó xây dựng được khối đoàn kết nội bộ; chính đức tính tốt ấy giúp chị hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trên cương vị người hiệu trưởng dù ở bất cứ trường nào. Tháng ba vừa qua chị là một trong ba cán bộ quản lý xuất sắc của ngành Giáo dục và Đào tạo tỉnh nhà được cử đi tham gia giao lưu Cán bộ quản lý giỏi Quốc gia tại Hà Nội.
Với một tập thể đoàn kết lại có sự quan tâm, lãnh đạo sâu sát của Đảng và chính quyền các cấp cũng như sự đồng thuận của nhân dân, trường Tiểu học Tô Hiệu sẽ còn gặt hái được những thành công rực rỡ hơn nữa trong thời gian tới.


Thứ Tư, 2 tháng 9, 2015

CHƯ YANG SIN SỐ 276 - tác giả TRẦN THỊ ÁNH NGUYỆT





HOA HƯỚNG DƯƠNG
Truyện ngắn



Kết thúc buổi bảo vệ luận văn với tiếng vỗ tay vang dội tán dương, Hân nhận được tin ông ngoại mất. Ông mất vì căn bệnh hiểm nghèo mà bấy lâu nay ông giấu vì sợ ảnh hưởng đến việc học tập của Hân nên âm thầm chịu đựng.  Những cơn đau quằn quại hành hạ tấm thân khô gầy của ông từng ngày. Hai chân Hân khuỵu xuống trong đám tang. Nỗi đau mất đi người thân duy nhất làm Hân thấy đau đớn và hụt hẫng .
Đón chuyến xe đêm để trở lại trường, Hân không về ký túc xá, cô tìm đến nơi nhà trọ của Sang. Gặp Sang cô sẽ dựa vào anh mà khóc để vơi phần nào nỗi mất mát. Vừa đến cửa phòng, Hân thấy Sang tay trong tay tình tứ với cô bạn thân của mình và đang nói với cô ta.
- Anh không thể đến với Hân, xuất thân của cô ấy quá phức tạp. Gia đình anh sẽ không chấp nhận cô ấy. Chỉ có em là…
Nghe đến đó, tai Hân ù đi. Cô lẳng lặng lê bước. Hân đã cố gắng quên nỗi đau của thời thơ ấu. Thế mà, những lời của người cô trao trọn trái tim lại tiếp tục làm tổn thương nặng nề. Toàn thân Hân như không có trọng lượng, trái tim như đang bị xâu xé, tương lai và quá khứ vỡ từng mảnh. Nỗi đau này chưa kịp lắng đọng thì nỗi đau khác ập đến khiến trái tim Hân tan nát.
Trong sự đau đớn chồng chất, Hân không còn chỗ bám víu, mất niềm tin vào cuộc sống. Hân muốn chôn vùi tất cả để chấm dứt những nỗi đau trần thế. Chân Hân bước về phía biển hi vọng những con sóng bình yên kia sẽ cuốn cô đi thật xa, nỗi đau sẽ hòa vào biển cả để tan biến. Hân chuẩn bị vào một thế giới không có nỗi đau, không có quá khứ. Sóng biển đang dập dờn trên đôi vai gầy của Hân.
Hân ơi…!
Tiếng gọi như mơ như thực ở đằng sau, càng lúc càng rõ. Tiếng gọi quen thuộc và thân thương đã níu giữ chân cô,  ngoảnh lại cô thấy hình ảnh khắc khổ của ông ngoại đang ẩn hiện trong màn đêm mờ ảo, đôi mắt đau đáu của ông đang chảy hai dòng nước mắt. Hân òa khóc.
- Ông ơi, bao nhiêu bất hạnh đổ lên đầu cháu, cháu không thể chịu nổi.
- Sau cơn mưa những đám mây u ám tan đi nhường chỗ cho ánh dương rực rỡ. Hãy dũng cảm lên, hạnh phúc sẽ mỉm cười với cháu. Đối với ông cháu là tất cả.
Hân lao đến ôm chầm lấy ông nhưng bóng ông đã biến mất khiến cô ngã nhoài trên bãi cát. Hân khóc tức tưởi. Quá khứ như một thước phim quay chậm hiện hữu trong tâm trí cô.
Ông trời khiến cô phải mang mệnh khổ. Mới ra đời đã nghe tiếng cãi vã triền miên của cha mẹ. Trong ký ức còn non nớt của Hân, cảnh tượng cha luôn đắm chìm triền miên trong những cơn say và mỗi lần say là thượng cẳng chân, hạ cẳng tay với mẹ. Chính vì thế, Hân luôn run sợ mỗi khi nghe tiếng bước chân thình thịch của cha. Lên 5 tuổi phải chúng kiến một cảnh tượng hãi hùng, ám ảnh suốt cuộc đời Hân. Nó như một vết thương hằn sâu không thể xóa nhòa trong tâm trí cô. Cha đã ngộ sát mẹ trong một lần say rượu. Mẹ nằm bất động trong vũng máu, cha treo cổ tự vẫn. Sau đó, bà ngoại mất vì không chịu được cảnh mất đi đứa con duy nhất của mình.
Hân lớn lên trong sự kỳ thị của những người xung quanh, trẻ con hàng xóm bị bố mẹ cấm không cho đến gần nên Hân lúc nào cũng lầm lũi chơi một mình. Hân chỉ dám len lén đứng ở một góc khuất nào đó thích thú nhìn các bạn chơi đùa với nhau. Nếu chúng phát hiện ra sự có mặt của Hân sẽ láo nháo điệp khúc mà mỗi lần thấy Hân chúng không bỏ qua.
- Ê, con của kẻ giết người kìa bây ơi. Rau nào sâu nấy, cây đắng không sinh trái ngọt...
Những lúc như thế, Hân chỉ biết chạy thật nhanh để thoát khỏi đám đông. Bởi mỗi lần nghe là những lần Hân như đang bị ai tra tấn. Hân xuất hiện đến đâu là ở đó có những lời thầm thì bàn tán nên cô luôn né tránh mọi người. Hân cô đơn, một nỗi cô đơn miên man đến từng ngày. Hân khát khao vòng tay ấm áp của mẹ trong những đêm đông giá buốt, thèm cái dắt tay vững chãi của cha đưa cô đi trên những con đường đầy nắng và hoa để bước chân của Hân reo vang theo những đốm nắng lung linh trên hoa lá. Những cảnh đó chỉ đến trong những giấc mơ, giấc mơ đẹp đẽ và ngọt ngào nhưng tiếc rằng Hân không thể nằm mơ mãi được.
Hàng ngày, sau tiếng trống tan học là Hân phải chạy như bay, tách nhanh ra khỏi các bạn về với ông ngoại. Bởi Hân biết trên khắp thế gian này vẫn còn một người thương cô đó là ông ngoại nhưng ông lại trao cho Hân một tình thương khắc kỷ và lập dị. Nhất nhất mọi việc bắt buộc Hân phải nghe theo ông, không được trái lời.
Một lần, Hân được một cậu bạn học cùng lớp cho hớp một hũ Yomost, vị ngọt thanh chưa bao giờ cô bé được thưởng thức. Hân nhất định mua một hộp để ông uống. Vừa đi, vừa nhảy chân sáo với tâm trạng như quả bóng căng tròn, một niềm vui đang dâng tràn trong tâm hồn Hân. Hân thầm nghĩ “Mình chuẩn bị làm một việc quan tâm đến ông nên mình rất vui”. Đến cổng, cô bé đã hí hửng gọi.
- Ông ơi! Cháu có cái này cho ông nè.
Cô bé chìa ra cho ông một hộp Yomost, Hân chắc mẩm rằng ông ngoại sẽ rất vui khi đón nhận nó. Nhưng trái lại, gương mặt lạnh băng, ông gằn giọng.
- À, mày tiểu tư sản thế đấy hả, đi trả ngay cho quán và mang tiền về đây. Mày tưởng kiếm đồng tiền dễ lắm hay sao mà hưởng thụ những thứ phù phiếm thế.
Đôi mắt tròn xoe như hai viên bi ve bỗng chùng xuống chảy ra hai dòng nước mắt.
Đi học phải về đúng giờ. Hân nhớ có một lần đến bữa ăn Hân chưa về kịp. Đến nhà, ông quắc mắt lên.
- Mày đi đâu mà bây giờ mới về, đến bữa cơm cũng không nhớ về mà ăn hả.
Nói xong, không chờ Hân giải thích ông đổ toẹt phần cơm cho chó rồi dặn:
- Lần sau rút kinh nghiệm nghe chưa nếu không muốn nhịn đói.
Cây xoài trước nhà trái lúc la lúc lỉu, Hân hái mấy quả để ăn, ông biết được mắng xa xả.
- Mày không biết phân biệt trái chín hay trái xanh hả. Tại sao chưa chín mà đã hái ăn nếu mà bị đau bụng lại đày ai ?
Nói xong, ông liền đưa cái rựa sắc lẹm ra phang lấy phang để đến khi cây xoài chỉ còn trơ lại cái gốc. Những lúc như thế, Hân tìm một góc nào đó để khóc cho đỡ tủi. Hân biết từ trong sâu thẳm, ông luôn yêu thương đứa cháu bé bỏng nhưng tình thương của ông chỉ hơi khác người một chút. Hân không bao giờ dám trách hay giận ông ngoại, một người ông khắc khổ. Mới hơn 50 tuổi mà tóc đã trắng bạc đầu, lưng còng như con tôm khô, suốt ngày dầm mưa dãi nắng với mấy sào ruộng cằn cỗi nên da ông nhuộm màu bùn đen. Tâm hồn ông như một khu rừng thâm u và lạnh lẽo. Một ngày đi qua là lưng ông lại còng thêm bởi nỗi cực nhọc, vất vả và hằn thêm nỗi đau mất vợ, mất con năm xưa. Hân biết điều đó nên nhất nhất nghe theo lời ông cố gắng học thật giỏi cho ông vui. 
Lần đầu tiên, Hân thấy ông nở nụ cười tươi và mắt ông sáng rực lên như ánh sao trong đêm đen, đó là lúc cô cầm giấy báo trúng tuyển vào Khoa Sư phạm Ngữ văn của một trường Đại học Sư phạm danh tiếng thuộc miền Trung. Ông rơm rớm nước mắt và bảo:
- Khá lắm. Bao nhiêu vất vả của ông đã được cháu đền đáp xứng đáng. Chặng đường phía trước của ông cháu ta còn nhiều gian lao. Cháu thì cố gắng học, ông thì cố gắng làm để lo cho cháu.
Hân xúc động quá!
- Ông ơi, ông già rồi. Sau khi nhập học, cháu sẽ tìm việc đi làm thêm để đỡ gánh nặng cho ông.
- Không được, ông cấm. Phải tập trung vào học tập để tránh vết xe đổ của mẹ. Ông còn lo được cho cháu.
- Nhưng…
- Không nhưng gì cả. Ông đã quyết rồi.
- Ông quyết là trời quyết mà.
Biết cháu đang dỗi, ông đăm chiêu nhìn Hân và nói:
- Chắc trong lòng cháu luôn giận bởi sự hà khắc của ông phải không? Cháu thử nghĩ nếu không rèn luyện cho cháu một bản lĩnh sống thì sau này ông mất đi cháu phải đối mặt như thế nào trước cuộc sống.
- Vâng, cháu hiểu nên cháu luôn yêu thương ông vô hạn.
Năm đó, Hân vừa tròn mười tám tuổi, cô thanh nữ tuổi mấp mé đôi mươi có một đôi mắt buồn sâu thẳm bảng lảng áng sương sa đã hút hồn bao chàng trai. Nhưng trái tim nguyên trinh của cô chỉ thổn thức và rung lên từng nhịp đập khi ở bên Sang, một sinh viên khoa Toán. Tình yêu của Sang đã sưởi ấm trái tim Hân, làm cho cô thấy tình yêu thật ngọt ngào, con tim Hân như hồ nước mùa xuân gợn lên con sóng lấp lánh ánh vàng. Từ nhỏ Hân luôn phải sống thiếu thốn tình cảm, Sang như là cơn mưa xóa tan cơn hạn khát khao trong tâm hồn Hân. Trong những lần hai đứa ở bên nhau, Sang luôn nói về tương lai, nơi đó có một ngôi nhà ấm áp và những đứa trẻ làm cô chất ngất trong hạnh phúc
Thế mà giờ đây sự thật phũ phàng quá. Sang đã gạt bỏ đi tình yêu sâu nặng của Hân dành cho anh ta. Không, Hân không thể vì sự bội bạc của anh ta mà hủy hoại cuộc sống của mình. Cuộc sống của cô là một sự hi sinh, vất vả cả cuộc đời của ông ngoại. Dù cuộc đời có nghiệt ngã thì Hân cũng phải như cây phong ba trước giông bão. Cơn mưa có dài bao nhiêu rồi cũng đến lúc tạnh. Cô sẽ giống như đóa hoa hướng dương luôn hướng về phía mặt trời. Hân quyết định sẽ đem tất cả con tim và khối óc của mình để dâng cho đời. Trên thiên đường ông ngoại sẽ nở một nụ cười mãn nguyện.
Hân đứng dậy và bước đi, những bước chân vững chãi hơn khi đã bước qua những mất mát, buồn đau.